We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 31 March 2009

Cuộc chiến đấu bi hùng của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu

Bài ca biệt ly của quân lực VNCH được diễn tả bằng những hành động, những trận đánh ngoạn mục của người lính VNCH trong trận thư hùng với các binh đoàn Cộng Sản lần cuối vào những giờ phút hấp hối của miền Nam. Đó là những trận đánh cực cùng dũng cảm, bi thương, hùng tráng và tuyệt vọng, trước sự chứng kiến của cả trăm ký giả, phóng viên ngoại quốc, những nhà ngoại giao, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu quân sử ...

Đó là Thiên Anh Hùng Ca bất khuất của một quân lực trong suốt hơn hai mươi năm chống giữ và bảo vệ cái tiền đồn của thế giới tự do trước làn sóng xâm lăng cộng sản. Thiên anh hùng ca bất hủ đã được nhiều nhân chứng tôn vinh và ngưỡng phục. Sau cuộc tan hoang, miền Nam Viêt Nam bị mất về tay CS, nhiều người đã công khai nói lên lòng cảm phục cùng sự thương tiếc cho một quân lực hùng mạnh và quả cảm đã gánh chịu một kết thúc đau thương, ngập tràn uất hận.

Ký giả Peter Kahn của đại nhật báo The Wall Street Journal, dưới cái tựa "Truy Điệu Nam Việt Nam" ngày 2-5-75, nghĩa là hai ngày sau khi Sài Gòn sụp đổ đã ngậm ngùi kết luận: "Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm và không phải họ luôn luôn được người Mỹ giúp đỡ. Tôi nghĩ không có quốc gia nào có thể chịu đựng được một cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc đến như vậy .... Rốt cuộc quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của mọi người.

David Halberstam, một ký giả Mỹ đầy thiên lệch khi nhận định về chiến tranh Việt Nam, nhưng khi chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam thì cũng phải phẫn nộ thú nhận trên tờ Newsweek, " Tất cả những sự thất bại lịch sử và những sự hèn nhát tồi tệ của biết bao nhà lãnh đạo Tây phương đều chồng chất lên lưng những người lính Nam Việt Nam ... Thật là bất lương và bất công ! Sự nhục nhã là của chúng ta chứ KHÔNG PHẢI LÀ CỦA QUÂN ĐỘI VNCH !"

Hầu hết các phóng viên báo chí, các ký giả ngoại quốc trước đây từng công khai bênh vực và nghiêng hẳn về phe VC, đã phản tỉnh đã xám hối khi chứng kiến cuộc kháng cự dũng mãnh, hào hùng và bi thảm của những đơn vị quân đội ở lại chiến đấu cho đến người lính cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng. Piere Darcourt đã nồng nhiệt ca tụng lòng dũng cảm của quân lực VNCH ở Xuân Lộc, của một đơn vị Nhảy Dù ở Lăng Cha Cả, của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu và dành sẵn một đoạn dài mô tả cuộc chống trả hiên ngang của các Sinh Viên trường Võ Bị Đà Lạt trên các đường phố Sài Gòn. Người ta đã nói rất nhiều đến những tấm gương tuẫn tiết của các vị Tướng anh hùng, những cuộc tự sát tập thể của những người lính vô danh VNCH không chịu đầu hàng kẻ thù, nói đến những kỳ tích chiến đấu của những đơn vị Quân Lực miền Nam.
Một trong những trận đánh anh hùng ấy đã làm mủi lòng biết bao nhiêu người, đã gây xúc động biết bao nhiêu con tim. Những giòng nước mắt đã dàn dụa đổ xuống khi chứng kiến cuộc chống trả tuyệt vời và ngoạn mục có thể nói trên thế giới, không một quân sử nước nào có thể có được.

Đó là cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xã.Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13 .... đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sỹ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường.

Địch đã tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đã gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng. Cộng sản đã coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời hăm doạ ... Tiếng loa vừa dứt, Viêt Cộng nhận ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn VC bên ngoài, phẫn nộ lảy cò. Vài tên Bộ Đội bị đốn ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên. Bọn Viêt Cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử cuả 700 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không giám tấn công ngay vì các em quá nhỏ và vì có sự hiện diện của đồng bào.

Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9:30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư.

Mặc VC kêu gọi và đe doạ, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hoả .... Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dậy ở quân trường.

Đúng 9:30 sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sỹ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn.

VC nổi cơn khát máu. Chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mãnh liệt và hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những bia sống, những cái bia người "SINH BẮC TỬ NAM". Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả căm thù, mong dành lại những gì sắp bị cướp mất.

Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội VC lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và hốt hoảng.

VC đã bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sỹ nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và KỶ LUẬT như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề.

Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn đang giở khoá học. Trận đánh QUYẾT TỬ đã đi vào lịch sử.

Các Thiếu Sinh Quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong.

Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của VC đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy .... Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực của tuổi trẻ hăng say hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn.

Cuộc chống cự kéo dài đến 3:00 chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho VC thương thảo. Họ đòi hỏi VC chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng ...

Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ KHÔNG ĐỂ CHO BỌN CS làm nhục lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đã thề nguyền PHẢI THƯƠNG YÊU và BẢO VỆ.

thieusinhquan035b15d.jpg Có chừng hơn một Trung Đội TSQ đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá Quốc Kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai TSQ lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đìa

Tất cả TSQ từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà...., không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca.

Gần 700 giọng hát hùng tráng cát lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đình.......... .. Mọi người dân Vũng Tàu đã đều nghe và rung động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát.

Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội VNCH, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.

Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng và bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt đó.

Cho đến bây giờ, 22 năm sau, nhiều người vẫn nghe văng vẳng trong sâu kín của buồng tim đã thắt nghẹn, tiếng bi thương hung tráng của các Thiếu Sinh Quân hát bài Quốc Ca trên đất nước, trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen, ngày oan khiên định mệnh cho dân tộc Việt .

Đào Vũ Anh Hùng

Đảng Bảo Đi Là Đi! Đảng Bảo Cướp Là Cướp !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 72 (01-04-2009)

Bài thơ một thời của thi nô Tố Hữu : “Đảng bảo đi là đi! Đảng bảo đánh là đánh! Đảng bảo thắng là thắng!...”, một bài thơ từng góp phần lường gạt và đẩy hàng triệu thanh niên Việt Nam vào chỗ chết để xây nên ngai vàng bạo chúa cho tập đoàn lãnh đạo CSVN hiện thời, bài thơ ấy nay được nhân dân cải biên rất chí lý thành: “Đảng bảo đi là đi! Đảng bảo đánh là đánh! Đảng bảo cướp là cướp!...”.

1- Quả thế, sau khi “cướp chính quyền” (họ vỗ ngực tự hào thế), đảng CSVN đã lộ nguyên hình một đảng mafia và đào tạo ra cả một bọn cướp đông đảo trên đất Việt Nam. Đây là thành quả chủ yếu và có thể nói là “vĩ đại” nhất trong “sự nghiệp trồng người” của Hồ Chí Minh, “sự nghiệp giáo dục” của “cách mạng VN”. Với nhiều kỹ thuật: đầu độc nhồi sọ, o bế dụ khị, hăm dọa trấn áp, hứa suông hẹn hão, đảng CS đã biến vô số người Việt hiền lương thành một bầy lâu la, chẳng còn biết thế nào là lương tâm và luật pháp (dù là luật pháp CS), một chỉ nhắm mắt tuân theo mệnh lệnh mà đi tàn hại đất nước và dân lành, góp phần củng cố sự thống trị bất công của đảng, của thiểu số lãnh đạo cao cấp trong đảng. Đám lâu la, bầy tiểu yêu, lũ tay chân này không chỉ là hạng tứ chiếng giang hồ, đâm thuê chém mướn, mặt mày bặm trợn, thuộc thành phần “xã hội đen” (nay được đảng rất trọng dụng trong các cuộc đàn áp) mà còn là những kẻ ít nhiều có học, nhà cửa đàng hoàng, sắc phục nghiêm chỉnh, đi đứng ăn nói chững chạc, có địa vị danh tước trong xã hội… Chúng không chỉ theo lệnh đảng đi đánh thân thể người, cướp đất đai nhà cửa thiên hạ mà còn đánh nhiều thứ khác, cướp nhiều thứ khác của nhân dân. Xin đan cử vài ví dụ rất thời sự.

Trước hết, đám tay chân này đang ngồi trong một nơi lẽ ra rất đáng trọng vọng là Bộ Giáo dục và Đào tạo CSVN. Qua cái gọi là “Chương trình giáo dục mầm non từ 3 tháng đến 6 tuổi” do Bộ này đưa ra hôm 11-02-2009, trong Phần III (Chương trình giáo dục mẫu giáo), mục 4 (Giáo dục phát triển tình cảm-xã hội), cả hai lứa tuổi từ 3 đến 4, 5 đến 6 đều được đúc khuôn uốn nắn theo tôn chỉ “kính yêu Bác Hồ và những người có công với quê hương đất nước” (chủ yếu là các công thần đảng CS) (trang 53). Đi vào chi tiết thì cả độ tuổi 3-6 đều được yêu cầu “nhận ra Bác Hồ, đầu tiên qua tranh ảnh, băng hình, đoạn qua lăng Bác (nhà trường tổ chức đi thăm), rồi qua chỗ Bác ở, nơi Bác làm việc…” Chưa đủ, bên cạnh việc nhận ra, thầy cô còn phải dạy các em thích nghe chuyện, nghe hát, đọc thơ, xem ảnh “Bác Hồ”, đoạn thích và thuộc một số bài hát, bài thơ về “Bác”, rồi thì biết một số bài hát, bài thơ, câu chuyện về “Bác” nữa (trang 68)!?! Đưa ra cho các tâm hồn thơ bé mẫu gương của một con người mà khi còn sống đã phạm tội ác với thân thuộc bạn bè, đã giở đủ mọi thủ đoạn lừa gạt nhân dân, đưa họ đi theo con đường chém giết, cướp giật, khi chết còn nằm ăn vạ 80 triệu người Việt Nam, từ đứa trẻ lọt lòng mẹ đến cụ già gần đất xa trời, làm điêu linh cuộc sống trăm họ, khiến đất nước khốn khổ tang thương, suy đồi đốn mạt như hôm nay, đó là một việc đầu độc hết sức đáng tởm, một sự cướp đoạt lương thức con người không thể chấp nhận.

Thứ đến, đám lâu la này cũng có mặt những nơi mà người ta nghĩ là phải phục vụ công lý và sự thật. Dưới danh xưng “sở tư pháp”, “luật sư đoàn”, “phòng thuế vụ”, “cơ quan công an”, “ban thi hành án”, bằng đủ cách như “xử phạt hành chánh”, “đòi giải trình thuế”, “khám xét hành lý”, “kê biên tài sản”, “mời đi làm việc” đầy thủ đoạn mờ ám, phi lý, vô luật, vừa qua chúng đã đánh hội đồng những con người đang bảo vệ công lý cho giáo dân Thái Hà bị án oan và cho các nhà dân chủ bị tù oan là luật sư Lê Trần Luật và các cộng sự. Chiếm đoạt máy móc, tước quyền hoạt động, chặn đường đi lại, quấy nhiễu gia đình, mạ lỵ xuyên tạc trên báo đài, nhắn tin hăm dọa chửi bới trên điện thoại, cưỡng bức xúi giục khách hàng thân chủ vu khống, gởi giấy mời đến tòa biện hộ sau phiên xét xử… những việc đánh phá ấy đối với Văn phòng Luật sư pháp quyền có phải được thực hiện bởi các tay du thủ du thực, những kẻ cướp đêm cướp đường, giai tầng cặn bã của xã hội đâu!

Cùng chịu những trò như Luật sư Luật là 8 giáo dân và cả vị cai quản giáo xứ Thái Hà là linh mục Vũ Khởi Phụng. Trên tờ Hà Nội Mới, ở trang nhất, liên tiếp hai ngày 26-27/03, tức trước phiên tòa phúc thẩm, bài viết đầy sát khí "Phải vạch mặt và xử lý nghiêm những kẻ chủ mưu" đã cho ai nấy thấy “trận đánh” nhắm vào Thái Hà của nhà cầm quyền CS đã chính thức chuyển hướng. Tám giáo dân bây giờ được gạt sang một bên và kẻ đang bị đưa vào “tầm ngắm” để thế chỗ không còn ai khác hơn linh mục chánh xứ Vũ Khởi Phụng, với những luận điệu "Thực chất họ [giáo dân] đang là nạn nhân của những kẻ xấu đứng đằng sau, muốn thông qua họ để gây khiếu kiện, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc". Và quả nhiên thông tin từ trong tòa án ra bên ngoài lúc 11g sáng ngày phúc thẩm (27-03-2009) cho thấy phiên xử đã được công tố cũng như quan tòa lái theo hướng : "Nếu các giáo dân chấp nhận cúi đầu nhận tội và khai ai là người cầm đầu thì được tha bổng hết". Trước đó một ngày, các viên chức chính quyền tại Hà Đông đã đi nhắc nhở dân địa phương nên đóng các cửa hàng quán lại, đề phòng “bọn giáo dân” gây bạo loạn, với lời nhắc nhở: “Ngày mai sẽ xử “bọn giáo dân” phá nhà. Bọn này ghê lắm…”, khiến người dân phải kháo láo với nhau: “Chúng nó phá bao nhiêu nhà dân ngoài Hà Nội. Giờ kéo vào đây, công an nhắc nhở chúng tôi không cẩn thận chúng phá cả cửa hàng. Ngày mai học sinh các trường quanh tòa án đều phải nghỉ học cả đấy!” Rồi trong ngày phúc thẩm, đang lúc bên ngoài hàng trăm công an chìm nổi trang bị tận răng, mặt đằng đằng sát khí, thì bên trong tòa án, dưới bộ áo “thẩm phán uy nghiêm”, hội đồng xét xử vẫn ngang nhiên cắt lời, chặn họng các luật sư bào chữa, và cuối cùng, vẫn cứ theo chỉ đạo ở trên mà tuyên phán y án cho các bị can vô tội. Rõ ràng những kẻ núp dưới danh nghĩa bảo vệ công lý và phục vụ sự thật đã hành xử như bọn cướp, vâng lệnh đánh thanh danh, cướp danh dự của nhiều công dân lương thiện. Đấy là chưa kể kế hoạch tước đoạt phương tiện, vu khống thóa mạ các cá nhân và tổ chức đấu tranh cho nhân quyền như Khối Dân chủ 8406, như trang blog Người Buôn Gió, như nhà đối kháng Đỗ Nam Hải (bị cướp máy móc đến lần thứ 8)…

Chuyện đảng viên cán bộ địa phương cướp đất đai tài sản của nhân dân, với sự bao che của trung ương (vốn đã nhận tiền “đút lót, lại quả”) là bộ phim dài nhiều tập. Ta hãy nghe một đoạn trong ký sự “Thị trấn Bô-xít tại Lâm Đồng” của Lý Nam Bình: “Người dân Lộc Thắng thì đi đâu cũng bàn tán xôn xao về mỏ Bô-xít. Họ kể về những gia đình được nhận trên 1 tỷ đồng tiền đền bù giải tỏa để giao mặt bằng, nhưng ra thị trấn hay xuống thị xã mua nhà vẫn không đủ. Có người không chịu đi bị cưỡng chế, sau đó tiền đền bù mất hơn 400 triệu trừ vào chi phí cưỡng chế. Có người tiếc vườn chè, vườn cà phê, quyết ôm cột nhà không đi, bị xe múc vào múc bể đầu chết ngay tại chỗ mà còn bị kết tội là chống người thi hành công vụ…” Hay trong ký sự “Đại loạn tại Trường Yên” của Trần Khải Thanh Thủy: “Đất ở đây có giá 5 triệu/m2. Chính quyền xã đồng ý trả lại cho các gia đình bị thu hồi đất mỗi nhà 10% đất dịch vụ, với giá 2 triệu một m2. Nghĩa là bị cưỡng ép bán ruộng với giá rẻ, vẻn vẹn 220.000 một mét, song lại "được" xã ưu tiên nhượng lại với giá gấp 9-10 lần, với lý do nhà chật, đông anh em trai, thiếu đất ở và đất sản xuất... Bán cả sào đất, được 80 triệu thì mua lại đất xã bán… người nông dân chỉ còn vẻn vẹn 8 triệu, còn mất đi 9/10 số đất đã có. Quả là một dạng ăn cướp tinh vi, cướp trên cơ sở luật pháp của nhà nước XHCN. Lực lượng cưỡng chế cậy lệnh, cậy đông, khinh nhờn quyền dân nên hung hăng như giữa chốn không người, trong lúc chủ tịch xã cầm loa oang oang kích động, ra sức tuyên truyền đường lối và chủ trương "đúng đắn" của đảng và nhà nước: “Đất đai là sở hữu của nhà nước! Khi cần, nhà nước ra lệnh trưng thu, đề nghị bà con thôn ta tự nguyện chấp hành”.

2- Sở dĩ có cảnh “Đảng bảo đi là đi! Đảng bảo đánh là đánh! Đảng bảo cướp là cướp!...” như thế, đó là vì chính CSVN đang là tên đầy tớ chịu lệnh của CS Trung Quốc. Cái đảng Đại Hán này đã và đang ra lệnh cho tay chân, đàn em phải đi, phải đánh, phải cướp cơ đồ nước Việt mà dâng cho họ. Đầu tiên là qua công hàm ô nhục năm 1958, tiếp đến qua 2 hiệp định lãnh thổ và lãnh hải đầy khiếp nhược năm 1999 rồi 2000, đoạn qua việc câm lặng để cho Trung Cộng tống cổ hai công ty dầu khí Mỹ và Anh khỏi thềm lục địa VN năm rồi. Mới đây nhất, nguy hiểm nhất, quân cướp Việt Cộng lại đánh đuổi cư dân khỏi Tây nguyên, đánh bạt tiếng dân khắp cả nước, để cho tướng cướp Trung Cộng đem nhân công và máy móc của mình vào yếu huyệt sinh tử, tiền đồn quan trọng đó của Quốc gia (chưa kể cho Trung Cộng thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất). Rồi giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, thậm chí giữa xung đột quốc tế trên biển Đông, bộ Chính trị CSVN vẫn liên tục tiếp các đại diện Bắc triều để nhận lệnh: Uỷ viên Quốc vụ viện Trung Cộng là Đới Bỉnh Quốc được cả ba lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Cộng tiếp trong hai ngày 19 và 20-03-2009. Rồi Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cùng Tham mưu trưởng quân đội Nguyễn Khắc Nghiên, và sau đó là Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, lại tiếp Trần Bỉnh Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng hôm 23-03… Cùng ngày, Đới Bỉnh Quốc và Phạm Gia Khiêm, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao VC, chứng kiến lễ ký giao ước thiết lập đường dây điện thoại nóng giữa lãnh đạo cao cấp hai nước.

Đứng trước nạn cướp bóc Nhân dân và Dân tộc này, có những con người anh dũng đã lên tiếng, nổi bật nhất trong đó là Khối 8406 (sắp kỷ niệm 3 năm ngày thành lập) và Hòa thượng Quảng Độ, người vừa ra lời kêu gọi Đồng bào các giới trong nước bất tuân dân sự, biểu tình tại gia suốt tháng 5 để yêu sách bãi bỏ khai thác quặng bô-xít Tây Nguyên gây đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng (30-3-2009). Toàn dân còn đợi gì mà không cùng đứng lên với họ?


BAN BIÊN TẬP

HỒ CHÍ MINH, CON NGƯỜI BẤT DŨNG VÀ BẤT NHÂN, BẤT TRÍ VÀ BẤT TÍN

Hoang Van

Trong khi giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam không ngừng ca tụng Hồ chí Minh, thì có rất nhiều người Việt Nam cho rằng họ Hồ là người vừa bất dũng và bất nhân, vừa bất trí và bất tín. Có phải như vậy hay không ?

Người tây phương có câu : « Xét một cái cây, người ta chỉ cần xét cái quả của nó. » Nếu quả ngon ngọt, lợi cho sức khỏe con người, thì người ta nói cái cây đó tốt ; nếu quả đó không những đắng mà còn độc hại cho sức khỏe , thì người ta nói cái cây đó xấu.

Con người là tổng số kết quả những việc làm và suy nghĩ của nó. Nếu kết quả những việc làm và suy nghĩ có lợi cho gia đình nó, có lợi cho quốc gia, dân tộc, thì người ta nói con người đó tốt ; nếu kết quả những việc làm, suy nghĩ mà có hại cho gia đình và quốc gia dân tộc, thì người ta nói con người đó xấu.

Xét kết quả những việc làm, những suy nghĩ của Hồ chí Minh, chúng ta thấy con người này là một con người xấu, tai hại không những cho gia đình, vợ con, mà còn tai hại cho quốc gia, dân tộc; vì con người này vừa bất dũng và bất nhân, vừa bất trí và bất tín.

I ) Hồ chí minh bất dũng và bất nhân

Sau hiệp định Genève 1954, Hồ chí Minh về sống ở Hà nội, có ý lấy vợ ; nhưng bị Bộ chính trị đảng Lao Động tức đảng Cộng sản Việt Nam phản đối, viện lẽ rằng vì bác là « cha già của dân tộc », « một đời hy sinh cho dân tộc », nên không thể lấy vợ. Họ Hồ đã nghĩ lấy vợ người Tàu, cho người nói với Chu ân Lai kiếm cho một người vợ Tàu. Nhưng Chu ân Lai biết nhóm Lê Duẫn, Lê đức Thọ, Trần quốc Hoàn không chịu, nên làm ngơ. Tuy nhiên nhóm người này có tìm cho « bác « một cán bộ hộ lý, người vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, nơi « bác « rất quen thuộc, ẩn náu xưa kia. Đó là cô Nông thị Xuân. Mấy năm đầu thì mọi việc êm xuôi. Cô Xuân có con với « bác « và còn đang mang dạ chửa. Người con hiện nay còn sống tên là Nguyễn tất Trung, lúc đầu do ông tướng Chu văn Tấn nuôi, sau do ông Vũ Kỳ. Thế rồi không hiểu làm sao, cô Xuân bị Bộ Chính trị vu cáo cho là làm gián điệp, phải chăng Trần quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công An lúc bấy giờ, thấy cô Xuân, vợ bán chính thức của « bác « , gái một con, trông mòn con mắt, động lòng trắc ẩn, muốn ngủ với cô ta, nhưng bị từ chối, nên vu cáo.. Trước lời tố cáo của Trần quốc Hoàn, « bác « không có một tý gì là Dũng, để bênh vực cô ta, hay làm sáng tỏ vấn đề. Trần quốc Hoàn được thế, làm tới, thường lui tới hiếp cô ta, trước mặt ngay cả người em gái, tên Nông thị Vàng ; sau đó, vì hiếp chán rồi, lại sợ vụ việc bại lộ nên Trần quốc Hoàn đã cho người đập đầu chết cô Xuân, rồi vất ra một ngã tư ở ngay Hà nội, định che dấu sự thật là cô bị đụng xe. Sau đó cô em thì phải trở về Cao bằng, nhưng Trần quốc Hoàn còn sợ, sai người giết chết Nông thi Vàng, rồi ném xuống sông. Không dè cô này có một người yêu đi lính, cô đã kể hết sự việc cho người yêu mình nghe. Sau đó anh này đã viết một bức thư cho Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch quốc hội lúc bấy giớ. Ông này giữ kín bức thư lúc ban đầu, sau đó thì công bố. Thêm vào đó, nhà văn Vũ thư Hiên, con của ông Vũ đình Huỳnh, có thời cũng làm thư ký riêng cho « bác « , có viết quyển Đêm Giữa Ban Ngày, nói về vụ này.

Qua sự việc trên, chúng ta thấy họ Hồ vừa bất dũng, vừa bất nhân, bất dũng vì, bề ngoài thì chúng tâng bốc lên, bề trong thì chúng coi thường, coi khinh, mà « bác « ngậm căm như hến ». Họ Hồ còn bất nhân ở chỗ là bình thản thấy người mà mình muốn lấy làm vợ, có những 2 con với mình, một con đã sinh và một con đang mang dạ chửa, bị tay em mình hiếp dâm, đánh đập, rồi giết.

I I ) Hồ chí minh bất trí vì đã đi theo Đệ Tam Quốc tế Cộng sản mà chưa phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam là gì, thêm vào đó còn tuyên bố : “ Tôi không có tư tưởng gì cả, tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ.”

Thật vậy, trong quyển sách « Những mẫu chuyện về đời họat động của Hồ chủ tịch « , nhà xuất bản Sự thật, Hà nội, 1975, tác giả là Trần dân Tiên, chính là Hồ chí Minh. Ở đây chúng ta không nói đến một con người quá vô liêm sỉ, tự lấy tên người khác, rồi tự viết sách, tự khen mình ; chúng ta chỉ nói đến một sự kiện trong quyển sách, đó là khi dự hội nghị Tours ở Pháp năm 1920, họ Hồ thú nhận nghe chữ Pháp chữ được chữ chăng, thế mà có một số trí thức và tay em Hồ cho rằng ông viết và nói thông thạo nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Pháp, đến mức độ mà ngày cả « Bản án thực dân « , viết bằng tiếng Pháp, khi họ Hồ đưa cho Ban Thư ký hội nghị Versailles họp trước đó một năm, năm 1919, cũng là của Hồ. Cũng chính trong hội nghị Tours, họ Hồ thú nhận không hiểu Đệ Nhị và Đệ Tam quốc tế Cộng sản là gì ; thế mà ông vẫn lao đầu đi theo Đệ Tam. Đó là bất trí. Trong khi đó thì cụ Phan bội Châu đã hiểu rõ nếu đi theo Đệ Tam thì có nghĩa là từ bỏ chủ quyền quốc gia, vì tổ chức này chủ trương kỷ luật sắt từ trên xuống dưới, chính như Lénine nhiều lần tuyên bố, cũng như đã được ghi rõ trong điều 16 và 17 của nội qui tổ chức này..

Họ Hồ còn bất trí ở chỗ không ý thức nổi sự nguy hiểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi nội chiến triền miên, đưa đến cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau, biến xã hội thành một xã hội thú vật, cấu xé lẫn nhau.

Ngoài nội chiến, họ Hồ và con cháu còn đưa đất nước chúng ta vào cảnh ngoại chiến, biến nước Việt thành bãi chiến trường cho cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản ; dân Việt là nạn nhân.

Người xưa có nói : « Việc binh là việc nguy hiểm ; nên dùng tạm chớ nên dùng lâu !

« Việc binh như lửa. Dùng lửa lâu ngày có hại vào thân . »

Chúng ta thấy trong lịch sử cận đại vừa qua, ba quốc gia bị chia đôi : Đức, Hàn và Việt Nam. Giới lãnh đạo Bắc Hàn và Đông Đức là những người có trí, hiểu sự tàn hại của chiến tranh, nên không gửi quân qua đánh Tây Đức và Nam Hàn. Trong khi đó Hồ chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam là những kẻ bất trí, không những gửi quân đánh vào miền Nam, mà còn gửi quân đánh Căm Bốt, rồi hăm he đánh cả Thái Lan vào những năm của thập niêm 80. Họ là những kẻ không nghĩ đến dân, đến nước, và còn hãnh diện đi làm tay sai ngoại bang ; như họ Hồ bất trí tuyên bố : « Tôi không có tư tưởng gì cả, tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ . » Còn Lê Duẫn thì trâng tráo nói : « Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên Sô và Trung Cộng. »

I I I ) Hồ chí Minh bất tín

Khi cướp được chính quyền, họ Hồ đã hứa với dân là sẽ mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân, với tiêu đề: “ Việt Nam dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc “. Suốt trong thời kỳ họ Hồ nắm chính quyền và cho tới ngày hôm nay, chúng ta thấy gì ? Việt Nam có dân chủ, tự do không ? – Không. Việt Nam có độc lập không ? – Không. Dân Việt có ấm no, hạnh phúc không ? – Không.

Việt Nam hiện nay không những không độc lập chính trị, mà còn bị lệ thuộc Trung Cộng về kinh tế và văn hóa, hàng hóa, phim ảnh Trung Cộng bày bán khắp nẻo đường Việt Nam.

Việt Nam hiện nay để theo kịp Nam dương phải mất 51 năm, theo kịp Thái lan, phải mất 95 năm, theo kịp Tân gia ba , phải mất 158 năm.

Dân Việt hạnh phúc cái gì, khi 70 đến 80% dân trong nước khi bệnh thì không có thuốc uống, hay không dám đi bác sĩ, nhất là đi nhà thương, đây là do chính Bộ Y tế Cộng sản Việt Nam thông báo. Hạnh phúc gì khi mà dân Việt phải tha hương cầu thực, phải bán thân nuôi miệng ở Căm bốt, đi làm nô lệ ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Ông Đặng Dung, một nhà chí sĩ, có làm một bài thơ, trong đó có 2 câu: “ Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hung ẩm hận đa.” Có nghĩa: Gặp thời thì những kẻ hèn mạt, chỉ đáng sách dép, bưng điếu cho người khác cũng dễ thành công. Nếu thời cơ qua, thì anh hung nhiều khi phải ôm hận. Hồ chí minh con người bất dũng, bất nhân, bất trí, bất tín, con người trên thì đội ngoại bang, gọi K. Marx và Lénine bằng cụ, trong khi đó thì gọi đức Thánh Trần bằng bác, mặc dầu đức Trần hưng Đạo sống cách Marx và Lénine cả sáu bảy trăm năm. Con người hèn mạt, bất dũng, bất nhân, bất trí, bất tín này cũng như những tay em của nó như kẻ giết người Phạm Hùng, anh hoạn heo Đỗ Mười, cai phu đồn điền Lê đức Anh, tên bất nhân Lê đức Thọ, đã trở thành quỉ. Nói như ông Lê xuân Tá, cựu Phó Trưởng ban Khoa học và Kỹ thuật Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam:

“ Sự ngu dốt và thấp hèn tự nó không đáng trách và không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được trao quyền lực và được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỷ nhập tràng.

“ Và con quỉ này, nó ý thức rất rõ và mau lẹ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó, chính là sự hiểu biết, trí thức, văn hóa và văn minh; nên nó đã đánh những thứ này một cách dã man, tàn bạo, không thương tiếc. Nhân Văn giai phẩm ở Việt Nam là vậy; Cách mạng Hồng vệ binh ở bên Tàu là thế. Nhưng những ngu dốt và thấp hèn đã trở thành sỏi thận, sỏi mật, sơ gan, cổ trướng trong lục phủ ngũ tạng của chế độ cộng sản, khiến cho chế độ này không ai đánh mà tự chết. “


Đất nước Việt, dân Việt đang bị những quỉ lãnh đạo, thì làm sao khá đuợc. Để khá đuợc, chỉ còn con đuờng duy nhất, đó là làm thế nào để bọn quỉ không còn nữa, để nhường chỗ cho những người có tài, có đức, qua những cuộc bầu cử dân chủ thực sự, chứ không phải là những cuộc bầu cử giả dối: “Đảng cử dân bầu

KÍNH GỞI CÁC BẠN CÔNG GIÁO

NGƯỜI GỜI: Phật Tử: Ni Sư CAO THIỆN NHÂN

KÍNH GỞI CÁC BẠN CÔNG GIÁO
Các bạn Công Giáo thân mến,
Tôi thú thật với các bạn tôi là một người không cùng Tôn Giáo với các bạn, nhưng tôi đã tò mò đi xem Phiên Toà Phúc Thẩm đòi lại SỰ THẬT của các bạn, tôi tưởng đi chỉ để biết thôi nhưng tôi đâu có ngờ tôi đã học được bao bài học từ các bạn. Tôi thực sự kính phục các bạn, vì tinh thần đoàn kết của các bạn.
Tôi đã hòa cùng đoàn người Công Giáo từ lúc 5h40’ ngày 27 tháng 03 năm 2009. Tôi tới nhà thờ Hà Đông, tôi được nghe bà con tíu ta tíu tít kể cho nhau nghe về chuyến đi đến đây thật là vất vả. Có Cô kể chính quyền dàn thành hàng ngang ra đường không cho đi đến đây, bà con lại vòng đường ruộng để đi, tôi nhìn thấy bà con bẩn hết quần áo. Còn hai bạn trẻ đi bộ thì gặp cảnh sát giao thông, họ hỏi: Hai đứa mày đi đâu đấy? Hai bạn trẻ này trả lời là chúng cháu đi chơi, và còn rất nhiều chuyện khác nữa mà tôi không kể hết được. Qua đó tôi mới hiểu được Chính Quyền VN đang chia rẽ các bạn, đang cướp đi quyền con người của các bạn .
Các bạn ơi? Trong Thánh Lễ của các bạn, Lời Chúa dậy rất là hay, mà bầu khí rất trang nghiêm sốt sắng, bỗng dưng Đài Phát Thanh của Hà Đông mở to hết công suất hướng loa sang bên nhà thờ của các bạn để phá đi bầu khí cầu nguyện của các bạn. Không phải chỉ một Thánh Lễ mà cả ba Thánh Lễ tôi tham dự thì tôi thấy hai Thánh Lễ các bạn bị quấy nhiễu bằng đài phóng thanh, còn Thánh Lễ thứ ba thì các bạn bị cắt điện. Tôi mới hiểu ra một Thành Phố Thủ Đô văn minh của nước Việt Nam, những người làm Truyền Hình mà không được đào tạo về kiến thức cũng như về nhân bản, không biết tôn trọng Thựơng Đế của các bạn, đã cướp đi của các bạn những gì mà tôn nghiêm nhất, những gì mà linh thiêng nhất.
Các bạn ơi? Tôi còn nhìn thấy hình ảnh các bạn mời anh cảnh sát cơ động ăn bánh Mỳ, anh cảnh sát nói lại với các bạn: ném xuống đất. Tôi nghĩ rằng một người được nhà nước đào tạo khoác trên mình bộ quần áo CSCĐ “police” mà mở miệng ra nói với đồng bào ruột thịt của mình những lời lẽ vô lễ đó thì các bạn còn phục gì họ nữa đến như bản thân tôi thì tôi cũng không phục tí nào.
Các bạn ơi? Thánh Lễ của các bạn xong mỗi người đeo Đức Mẹ Hoà Bình trên cổ rồi cầm một cành lá xanh mơn mởn đi đón các Giáo Oan và các bạn Công Giáo ở Thái Hà.
Tôi nhìn thấy hai bên các bạn đi ngược chiều nhau mà khi nhìn thấy nhau đã giơ cao cành lá cho biểu tượng vẫy gọi chào nhau. Hình ảnh này đã làm tôi cảm động nhất, lúc đó lệ tôi không rơi nhưng cứ vòng quanh trên mắt. Vì tôi nhận ra tình huynh đệ của Công Giáo rất cao. Nhưng bên cạnh các bạn thì dày đặc cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, cảnh sát khu vực và cảnh sát ngoài khu vực đang vây quanh các bạn mà khuôn mặt của các bạn vẫn vui tươi. Nhất là 8 Giáo Oan đại diện cho các bạn, họ ăn mặc đẹp như đi dự Đại Hội, họ ra trước vành móng ngựa mà họ vui như ngày Tết. Có một điều tôi nhìn thấy rất rõ là công an giao thông không thi hành đúng nhiệm vụ của họ là không dẹp đường cho các Giáo Oan của các bạn, khi họ sang đường thì công an giao thông thổi còi và vẫy tay cho xe cộ đi đi lại lại còn các Giáo Oan của các bạn thì họ mặc kệ mạnh ai người ấy sống. Nhưng tôi nhìn rất rõ tôi thấy các bác bên Tôn Giáo của các bạn cổ đeo hình Đức Mẹ Công Lý đã làm nhiệm vụ đứng chặn đầu xe con để các Giáo Oan đi qua. Các bạn đã để lại trong tôi hình ảnh thật anh hùng của các bạn.
Các bạn ơi? Trong khi chờ đợi phiên toà xét xử, tôi được nghe bà con nói: mấy người thường xuyên đem báo đến từng nhà bán cho bà con, mỗi ngày bà con lấy mấy tờ, mà sao giờ không thấy lấy nữa, các bác trả lời tin đưa lên báo không đúng sự thật nên không mua nữa, cũng không đọc nữa, cả tin tức thời sự cũng không xem nữa. Tôi lại nhận ra điều nữa là cái gì xấu xa ở trong cái bọc thì lâu ngày cũng bị lòi ra ngoài.
Các bạn ơi? Hình ảnh cảnh sát cầm tay Linh Mục của các bạn mà các bạn dám nói với cảnh sát bỏ ngay tay Cha ra, và công an gọi Linh Mục bằng anh, các bạn nói với công an là không được gọi bằng anh mà phải gọi là ChạCác bạn đã bảo vệ Linh Mục của các bạn trong tầm tay của các bạn. Tôi nhìn thấy các bạn đang rất là bức xúc về Sự Thật mà nhà nước VN đang đối xử rất bất công với các bạn. Các bạn cũng là một công dân bình thường như bao công dân khác thì các bạn cũng phải được hưởng quyền lợi của một công dân chứ.
Các bạn thân mến, thời đại xã hội hôm nay tôi thấy mọi người chỉ biết lo cho bản thân mình mà không biết quan tâm lo lắng cho người khác. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu các bạn, các bạn là một khối đại đoàn kết, các bạn là một đại gia đình, ở đâu có nhà thờ thì ở nơi đó là nhà của các bạn, ở đâu có đất nhà thờ thì ở đó là đất của các bạn, các bạn có quyền giữ nhà thờ, giữ đất nhà thờ mà không ai có quyền cấm các bạn, kể cả nhà nước VN không có lý do và quyền hành gì để cấm các bạn, vì các bạn đã làm một việc rất đúng. Tôi thấy bản án của các bạn là bản án bất công. Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo của VN họ cũng phải suy nghĩ lại nhũng việc làm sai trái của họ. Nếu họ làm đúng thì Bà Sư mặc bộ quần áo màu Nâu kia và những người khác nữa cũng như tôi đây không cùng Tôn Giáo với các bạn mà đã nhập vào đoàn với các bạn để cùng nhau lên đường tìm lại Sự Thật, cùng nhau lên đường để đòi lại Nhân Quyền mà Tiếng Anh gọi là “Human Right”. Các bạn đi như thế không được một đồng nào mà ngược lại các bạn còn bỏ rất nhiều tiền vào giỏ Nhà Thờ bằng chứng tôi đã nhìn thấy trong ba lần Lễ chẳng ai bảo ai mà thấy ai cũng bỏ tiền vào giỏ.
Tôi nhớ lại thời tôi đi học đại học các Giáo Sư của tôi không đồng quan điểm với Cộng Sản VN, nhưng các Giáo Sư không dám lên tiếng chỉ dám nói trên giảng đường và dặn sinh viên ra ngoài không được nói gì không có là bị bắt cả Thầy lẫn Trò. Tôi biết còn bao nhiêu người khác vẫn biết Cộng Sản làm sai nhưng không dám lên tiếng mà các bạn đã dám thay mặt bao nhiêu con người để lên tiếng, một xã hội bất công. Các bạn quả là những con người yêu nước, yêu đồng bào thực sự. Tôi nghĩ rằng các bạn mới chính là những người con ngoan của Nước VNDCCH, các bạn là những con chiên hiền lành của Chúa, các bạn rất có khả năng giữ Nước nhà.
Các bạn ơi? Cac bạn hãy cố gắng lên nhé! Vì các bạn có giữ được Nhà mình thì các bạn mới giữ được Nước mình.
Đó là những bài học mà tôi học được từ nơi các bạn, tôi xin chân thành cám ơn các bạn. Còn tôi cũng đang cố gắng sống đúng ý nghĩa với cái tên mà cha mẹ tôi đã đặt cho tôi.

Phật Tử: Ni Sư CAO THIỆN NHÂN

Monday, 30 March 2009

Tiếng Kẻng trại tù

Tờ Tuổi Trẻ ngày thứ Hai 23 tháng Ba đăng ý kiến của dân biểu Dương Trung Quốc cho là “phải hướng mối quan tâm và tầm nhìn của người dân ra biển Đông”. Báo điện tử Vietnamnet thuộc Bộ Thông tin trích dẫn ý kiến của một chuyên gia nói “không thể giữ chủ quyền chỉ bằng cảm tính”, và BBC đăng bài “Việt Nam 'coi trọng' thông tin lãnh hải”.

Nói cách khác Việt Cộng bật đèn xanh cho hoạt động thông tin về tranh chấp lãnh hải, vấn đề trước kia bị coi là “nhậy cảm”, không “báo đài” nào dám đụng vào.
Nhiều thân chủ cũ của trại cải tạo nghe câu chuyện Việt Cộng cho phép truyền thông loan tin về Biển Ðông ngao ngán lắc đầu, “Y như trại tù ngày xưa, mọi người làm theo hiệu lệnh của tiếng kẻng: kẻng bảo thức dậy thì thức, bảo đi ngủ thì ngủ; kẻng còn bảo đi lao động, bảo trở về, bảo ăn cơm” … Và giờ này kẻng bảo mọi người Việt Nam chống Trung Cộng, và ngay lập tức mọi người thi đua xỉ vả “Chung Cuốc”.
Trong cuộc thi đua chửi Tầu, báo điện tử Vietnamnet còn đề cập tới “cuộc chiến không cân sức giữa học giả Việt Nam và Trung Quốc” ý nói học giả Việt Nam không nhiều phương tiện tra cứu nên lép vế hơn trong quá trình tìm kiếm tài liệu để xác lập chủ quyền lãnh hải ở biển Đông.

Thật ra trong cuộc chạy đua gọi là “không cân sức” đó, chỉ có phía Trung Cộng chạy, trong lúc “cua rơ” Việt Nam bị Việt Cộng trói gô lại không cho họ tìm kiếm, viết lách sợ đụng chạm với Trung Cộng.
Giờ này, có tiếng kẻng cho phép, BBC còn phỏng vấn giáo sư Carlyle Thayer, học viện Quốc phòng Úc, và viết lên quan điểm của ông cho rằng đã đến lúc Việt Nam “cần phải thay đổi chiến lược thông tin để phù hợp với những diễn biến mới”.

Ông giáo sư người Anh, dạy đại học Úc về những vấn đề Việt Nam nhận xét, “Từ trước tới nay, Việt Nam khá thận trọng về chuyện có thể sẽ gây ra xung đột lợi ích với Trung Quốc quanh vấn đề biển Đông. Nhưng giờ vấn đề Nam Hải đã leo thang lên tầm chiến lược”.

Ý ông Thayer nói tầm chiến lược quốc tế, vì có bàn tay Hoa Kỳ nhúng vào để vẽ lại bản đồ Biển Ðông. Mỹ không chấp nhận toàn thể phần biển nằm về phía Ðông Việt Nam lại có thể là của Tầu.
Bàn tay Hoa Kỳ rất dài, nên ngoài Việt Nam, còn có Phi Luật Tân và Mã Lai cũng đòi vẽ lại phần biển mà Trung Cộng gọi là Nam Hải.

Hăng tiết vịt sau cuộc thăm viếng của Ðô Ðốc Robert Willard, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Việt Cộng ra mặt chống báng Trung Cộng; chúng thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cơ quan được giao "tham gia xây dựng chiến lược, chính sách về quốc phòng, an ninh, ngoại giao liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên biển và hải đảo".
Hôm 17/3, một hội thảo đầu tiên về tranh chấp chủ quyền trên biển Đông đã được tổ chức ở Hà Nội. Một học giả tại hội nghị này nói rằng việc nghiên cứu mà "cứ như giấu diếm, như bất hợp pháp, trong khi Trung Quốc công bố tài liệu và rao giảng khắp nơi".

Người quốc nội vui mừng vì chính sách của Việt Cộng cúi đầu bái phục thiên triều trong lúc thẳng tay đàn áp người Việt Nam có thể đã chấm dứt, nhờ những lời hứa hẹn yểm trợ của Đô đốc Williard; nhưng sau một vài tháng vui với cái thế ngửng đầu lên đối phó với tham vọng của Trung Cộng, chúng ta có khỏi chạnh lòng nhớ đến tình trạng chỉ yêu nước, chống ngoại xâm khi được phép của nhà cầm quyền không?
Quốc nội chỉ là một trại giam lớn, trong đó mọi việc đi đứng, việc được xuống đường, được viết báo cũng đều tùy thuộc vào hiệu lệnh.
Chỉ riêng việc Biển Ðông của Việt Nam hay Nam Hải của Tầu cũng đã chứng minh một sai lầm của Việt Cộng; nhưng dù sai hay đúng chúng vẫn không có quyền cấm người Việt Nam bầy tỏ lòng yêu nước trong những cuộc xuống đường trước sứ quán Trung Cộng.

Tiếng kẻng mới nhất vừa ra lệnh cho chúng ta yêu nước, chống Trung Cộng, và rất có thể sắp có một tiếng kẻng khác ra lệnh cho chúng ta ngừng yêu nước, hoan hô Trung Cộng vào Việt Nam.

Nguyễn Ðạt Thịnh

SAU BỨC MÀN NHUNG HẠ NGHỊ VIỆN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1)

* GS TRẦN ĐÌNH NGỌC
Cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng hòa

LỜI NÓI ĐẦU



Thưa Quí Bạn đọc,

Ba mươi hai năm đã qua đi như một cái chớp mắt. Đời người ngắn lại vì thời gian đi quá mau. Ngồi suy tưởng lại 21 năm thiên đàng Cộng hòa miền Nam, tôi phải thành thực nhận rằng từ vài trăm năm vừa qua ở nước ta, không có chế độ chính trị nào tương đối tốt đẹp bằng chế độ Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam kể từ 20-7-1954 cho đến 30-4-1975.

Tại sao tôi dám khẳng định như thế? Có lẽ không phải riêng tôi mà nhiều người cùng nhận xét như vậy dù miền Nam có quá nhiều cuộc đảo chính, chỉnh lý; rất nhiều phá hoại của Việt Cộng, rất nhiều trận long trời lở đất như Tết Mậu Thân, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Bình Long, An Lộc v.v...do Việt Cộng gây ra.

Từ nhận định nào tôi dám nói như thế? Đó chính là vì Miền Nam có chế độ Dân Chủ, Tự Do, tôn trọng Nhân quyền và Dân quyền. Nhờ lá “bùa hộ mạng” này, nhiều nước Dân Chủ Tây Phương: Anh, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, các nước ở Âu Châu, Nhật bản, Đài Loan, Hàn quốc, Thái Lan v.v... đã ăn nên làm ra, kinh tế tiến vượt bực, nhân tài nhan nhản để phát minh ra nhiều máy móc, thuốc men, dụng cụ, kĩ thuật tô điểm cho đời sống nhân loại thêm tươi đẹp, từ đó mọi người trên trái đất, không phân biệt mầu da, sắc tộc và quốc gia đã được thụ hưởng những hoa trái của Văn minh mà trước kia chưa từng bao giờ có. Lâý một thí dụ: thuốc trụ sinh, thuốc chủng ngừa bệnh đậu mùa, thuốc cầm ngay bệnh thổ tả v.v....Nếu những bộ óc siêu việt chưa phát minh, tìm tòi ra những thứ thuốc này thì ngay chính chúng ta, có khi chúng ta đã bị “lôi thôi” (có khi chết) với những căn bệnh đó rồi.

Những phát minh này trong thế kỉ vừa qua đa phần là do các nhà Bác học Tây Phương trong khi Liên Xô, từ 1917 chỉ chuyên lo về sản xuất vũ khí để khống chế thế giới, các nước Cộng Sản Đông Âu cũng thế và CS cũng chỉ tìm tòi mọi phương cách để kìm kẹp, đàn áp, toàn trị con người mà ngày nay, hãy còn 4 nước theo chủ nghĩa Mác Lê, tình trạng người dân trong các nước ấy mất hết quyền Tự do, Dân chủ như thế nào thì quí bạn đọc đều đã biết.

Trung cộng mới nổi lên đây về kinh tế nhưng Trung cộng cũng được hưởng biết bao thành quả do chất xám của Nhân loại mang đến. Các kĩ thuật, máy móc, điện tử, không gian, vũ khí chiến lược, ngay cả thuốc men của Tây Phương giúp người Trung hoa không chết yểu như xưa như thời Trung hoa vẫn còn dùng “thuốc bắc” là những thứ rễ, lá để chữa trị. Rễ, lá có chất bổ, điều trị những bệnh nhẹ nhưng không thể diệt vi trùng như thuốc Tây.

Tất cả những phát minh đó có được là nhờ ở một phương thuốc rất hiệu nghiệm, lá bùa rất quí báu, đó là chế độ Dân Chủ, Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền đích thực, không lừa mị, giả dối. Dân Chủ Tự Do tôn trọng quyền tư hữu, khuyến khích con người làm việc hăng say vì người được hưởng những thành quả của công việc mình làm một cách xứng đáng không như chế độ tập quyền, tập trung của cải của Cộng sản chỉ cốt phục vụ một đẳng cấp ăn trên ngồi trốc của đảng, đảng phán ra một lời là khuôn vàng thước ngọc cho toàn dân trong khi chính những kẻ lèo lái đảng đó vô tài, bất đức, bất xứng, tham ô, nhũng lạm nhưng chỉ vì lưu manh, luồn lọt quan thầy Nga-Tàu chiếm được chỗ ngồi quan trọng trong đảng, được quan thầy dùng súng AK, còng số 8, và các trại tù đói khổ kinh hoàng để bảo vệ, chống lưng cho những kẻ đó không bị sự trả thù của nhân dân, cứ sống ngang nhiên mà phục vụ cho quan thầy đô hộ nước ta.

Những cái gọi là khuôn vàng thước ngọc, 95% đã sai ngay từ căn bản lý luận (thí dụ: năm 1945 và năm 1975, đốt hết sách vở không phải của CS, bỏ học Pháp, Anh ngữ v.v...) . Vì thế, dò dẫm hơn nửa thế kỉ mà những chóp bu Việt Cộng ở Bắc bộ phủ vẫn như người lòa đi trong sa mạc, không biết cái gì đúng, cái gì sai, cái gì hay, cái gì dở. Đảng phán ra, nếu kẻ nào bạo phổi dám phê bình thì không bị tru di tam tộc cũng tù chung thân! Đó là cái tuyệt chiêu của thiên đường xã nghĩa làm cho dân nước VN ngày nay khổ sở, lầm than, đói nghèo hơn bất cứ dân tộc nghèo khổ nào trên hành tinh này. Lấy thí dụ một nước nhỏ xíu như Singapore với dăm triệu dân, diện tích 225 dặm vuông (chỉ bằng một tỉnh nhỏ của ta, hình vuông mỗi cạnh 15 miles), dưới quyền lãnh đạo của Thủ tướng Lý quang Diệu, chỉ trong mấy chục năm nay họ tiến vượt bực, lợi tức đầu người một năm là 32,000 đôla Mỹ trong khi người dân ta lợi tức bình quân chỉ 600 đô/năm (thăm dò của IMF); nếu Việt Nam muốn tiến bằng họ phải cần 197 năm trong khi họ cứ đứng tại chỗ chờ còn nếu họ vẫn cứ tiến thì chưa biết đến bao giờ.

Ngày nay, thế kỉ 21, con người đã lên tới Sao Hỏa, đang khám phá hàng trăm thiên hà khác, trí óc con người đã vượt ra khỏi cái tầm thường để tìm hiểu vũ trụ, trái đất; con người khác xa khi xưa, ở ngay thế kỉ trước. Những chế độ chính trị nào thực hành Dân Chủ, Tự Do, con đường duy nhất để đi đến tiến bộ, an hòa và hạnh phúc của Nhân loại thì chế độ đó tồn tại, vững vàng. Ngược lại, những chế độ kìm kẹp con người, coi con người như đàn súc vật cần phải chăn dắt hàng ngày, hàng giờ, tước bỏ hết quyền tự do Dân chủ của con người, những chế độ đó phải sụp đổ, sớm hoặc muộn.



Điển hình là chế độ Xã hội chủ nghĩa Mác Xít khởi xướng từ Lênin, Stalin kìm kẹp con người trong Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, chế độ đó đã sụp đổ tan tành đầu thập niên 90. Bức tường Ô Nhục Bá Linh đã bị dân chúng nổ mìn, mang búa tạ ra đập bể để dân Đông Đức khỏi chết ngạt trong cái nhà tù Xã nghĩa thối tha toàn xác chết, AK và lựu đạn. Đông Đức, Liên Xô, Ba Lan, Lỗ ma ni, Bungari và nhiều nước Cộng sản Đông Âu đã đối diện với tử thần, với đói rét, phải mau mau vượt thoát ra khỏi Xã Nghĩa để cầu cứu các người anh em trong thế giới Tự Do cứu giúp. Tây Đức đã tốn hàng tỉ Mã giúp cho Đông Đức sống còn là một bằng chứng cụ thể và đảng Cộng Sản Đông Đức đã tự động giải thể, tôn trọng cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc, chọn người có tài trí, có tâm huyết vào Quốc Hội nước Đức thống nhất để viết ra một Bản Hiên Pháp làm giềng mối, căn bản cho mọi Luật pháp sau này. Bản Hiến Pháp của nước Đức đã lựa chọn chế độ Dân Chủ Tự Do chính là thể hiện lòng mong ước của toàn dân Cộng Hòa Liên Bang Đức vậy.



Trong 21 năm sống tại miền Nam, tôi thiển nghĩ người miền Nam nói riêng, người Việt Nam nói chung tức là có cả miền Bắc, chúng ta đã làm không biết cơ man nào là những sai lầm nên kết cục, ngày nay, nước Việt Nam của chúng ta tan tành ra như thế này.



Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày cùng quí bạn những gì tôi đã thấy, đã nghĩ, đã sống trong 4 năm sau cùng của miền Nam, từ 1971-1975.

Sự việc tôi trình bày là có thật, do nhiều nhân chứng và cả chính tôi chứng kiến, không thêm, không bớt, e làm sai lạc lịch sử của nước nhà. Lịch sử dân tộc nào cũng rất cần tôn trọng sự thật để cháu con sau này nhìn vào đó làm một tấm gương, làm tốt, tránh xấu, giữ nước và xây dựng nước.



Cũng có những sự việc liên hệ đến một hay nhiều cá nhân, đoàn thể, tôn giáo, những nhà tu hành hoặc không phải tu hành mà chỉ mặc cái áo đen hay áo vàng mập mờ đánh lận con đen, làm ung thối cả một chế độ, tiếp tay cho kẻ thù, hoặc làm ung thối cả một tôn giáo hay đoàn thể. Khi đọc xong bài chót, quí bạn đọc có thể công khai lên tiếng trên các Diễn Đàn nếu những sự việc chúng tôi trình bày (theo quí bạn) là không đúng sự thực. Chúng tôi xin nhận lỗi nếu chúng tôi có lỗi sơ sót hay viết sai nhưng với tôi, tấm lòng thành luôn luôn tôn trọng Sự thật và Lẽ phải là phương châm của tôi, nếu đó là những sự thật không thể chối cãi thì tôi xin quí bạn vui lòng chấp nhận.



SƠ LƯỢC VỀ CUỘC BẦU CỬ HẠ NGHị VIỆN NĂM 1971



Cho phép tôi có đôi dòng về cuộc bầu cử Hạ Nghị Viện năm 1971.

Năm 1966, toàn dân miền Nam đã đi bầu Quốc Hội Lập Hiến. Quốc Hội này kéo dài một năm, đã thảo xong Hiến Pháp cho nước Việt Nam Cộng Hòa, với thể chế Dân chủ, tôn trọng các quyền Tự do, tài sản, tính mệnh của mọi công dân. Bản Hiến Pháp này nói lên tính cách độc lập của QG và nền văn minh văn hóa của miền Nam không thua bất cứ một quốc gia dân chủ văn minh nào trên thế giới.

Thi hành Hiến Pháp, năm 1967 toàn dân bầu Hạ Nghị Viện Pháp nhiệm I, sau dó 4 năm HNV này mãn nhiệm, toàn dân lại đi bầu HNV pháp nhiệm II, ngày 29-8 năm 1971 và chính là pháp nhiệm tôi đắc cử.

Cá nhân tôi, nguyên là Giáo Sư Toán Lý Hóa Trung học Đệ Nhất cấp từ năm 1959 tại nhiều trường Trung học ở Sàigòn. Từ 1965, tôi chuyển sang dạy Triết Học, Quốc văn và Anh văn các lớp thi Tú Tài II và Tú Tài I tại nhiều Trung học tại Sàigòn-Gia Định, tôi đã được đồng bào thương mến dồn phiếu cho, đắc cử Dân Biểu pháp nhiệm II, đơn vị 1 Gia định. Trước đó tôi cũng đã là một Nhà văn, một Nhà Thơ, một nhà báo viết cho nhiều tờ báo ở Sàigòn và là Chủ bút Bán Nguyệt san Tinh Thần Nha Tuyên Úy Công giáo QLVNCH tại Sàigòn.

Đầu tháng 9-1971, khi tôi vào Hạ Nghị Viện nhậm chức thì gặp Luật sư Trần văn Tuyên, cũng đắc cử Dân Biểu (DB) khóa đó tại Sàigòn. LS Trần văn Tuyên chính là nhân vật trong câu chuyện của tôi với bạn đọc hôm nay.


LUẬT SƯ TRẦN VĂN TUYÊN



Tôi không biết nhiều về LS Trần văn Tuyên, tôi giao du với ông cũng không nhiều vì ở trong Hạ Nghị Viện (HNV), chúng tôi phải họp hành tối ngày, thảo luận và biểu quyết các Dự luật do Hành pháp đệ qua hoặc làm các Luật mới theo nhu cầu của thời cuộc.

LS Trần văn Tuyên khi xưa đã là Thủ lãnh Luật sư đoàn, một lãnh tụ của Việt quốc (VNQDĐ), tính tình ông cởi mở, dễ chịu và là một khuôn mặt trí thức miền Nam lúc đó.

Khởi đầu, khi thành lập các Khối, ông Tuyên được bầu làm Trưởng Khối Dân tộc Xã Hội (Đối lập với Hành pháp, TT Nguyễn văn Thiệu, ngay cái tên đã ló mòi Cộng sản).

Sau này khi sinh hoạt, chúng tôi mới biết ra những người đứng đàng sau giật giây Khối Đối lập là một Nhóm Dân biểu Cộng sản nằm vùng (một số do Ấn Quang đưa vào bằng bầu cử) hoặc chưa phải là CS nhưng là thân Cộng, hoặc một đôi người không thích CS nhưng cũng không ưa ông Thiệu, không bỏ phiếu ủng hộ ông ta trong những Dự luật.

Khối đối lập này gồm rất đông, tôi chỉ nhớ tên một số như Phan xuân Huy, Kiều mộng Thu, Nguyễn ngọc Nghĩa, Hồ văn Minh, Hồ ngọc Nhuận, Đinh văn Đệ (không vào Khối này nhưng bỏ phiếu y như Khối này), Lý trường Trân, Trần văn Thung, Nguyễn công Hoan, Hồ ngọc Cứ, (Dương văn Ba, Ngô công Đức đều CS nằm vùng, từ khóa I, thất cử khóa II), Nguyễn văn Phước (2 người trùng tên), Lý quý Chung, Nguyễn hữu Chung, Trần cảnh Chung, Đoàn Mại, Nguyễn hữu Thời, Phan Thiệp, Võ long Triều v.v...

Đứng bên cạnh, bỏ phiếu hầu hết giống như Khối Đối lập này là Nhóm Dân biểu Quốc Gia Hạ Viện (DBQGHNV), đứng đầu là đại Việt gian CS (người Công Giáo, anh rể Ngô công Đức) Nguyễn văn Binh, cựu Quận trưởng Gò Vấp (đi đâu y cũng tự xưng là cháu Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, ông TGM này bây giờ lòi đuôi chồn ra là CS chính gốc nằm vùng! tôi không ngờ, hay là ông bị CS dùng ma thuật khống chế bởi đã vào tròng?)

Trưởng Nhóm Nguyễn văn Binh có các thành viên: Đỗ sinh Tứ (quá cố), Nguyễn văn Kim (Quảng Trị, quá cố), Nguyễn đức Cung, Nguyễn trọng Nho, Dương minh Kính, Trần văn Ân, Nguyễn minh Đăng, Đặng văn Tiếp (quá cố), Nguyễn văn Cử (phi công đã bỏ bom dinh Độc lập vì tư thù), Nguyễn tuấn Anh (bác sĩ).

Ba Khối khác là Khối Cộng Hòa, đặc biệt chống Cộng yểm trợ Hành pháp.

Khối Dân Quyền, Trưởng Khối cựu Đại Tá Nhan minh Trang, đứng lưng chừng ở giữa, lửng lơ con cá vàng, một thái độ khó chấp nhận với người QG, một thái độ chỉ chờ sung rụng.

Khối Độc lập, cá nhân người viết ở trong Khối này, khi Hành pháp đúng thì ủng hộ, khi Hành Pháp sai thì chống thí dụ Sắc luật từ ông Thiệu đưa qua HNV về sửa Luật để ông ta ra nhiệm kì 3. Tuy nhiên, Khối này có tự do bỏ phiếu, Khối viên không nhất thiết phải bỏ phiếu theo Khối.

Còn một số DB khác tuy không vào Khối Đối lập vì muốn giữ bí mật hành tung là chính CS nằm vùng, giết người như ngoé, thí dụ như DB cựu Trung tá tỉnh trưởng Bình Thuận rồi Thị trưởng Đà lạt Đinh văn Đệ. Xảo thuật của y quá giỏi, y qua mặt tình báo của ông Thiệu cái vù đến nỗi khi y được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng HNV, vào lúc dầu sôi lửa bỏng tháng 3-1975, y được Chủ tịch HNV Nguyễn bá Cẩn và Dinh Độc lập cử làm Trưởng phái đoàn sang Hoa kỳ xin cấp viện trợ quân sự 300 triệu đô la để cứu nguy miền Nam. Giao trứng cho ác, ác đớp mất trứng là lẽ đương nhiên!



Một tay Đinh văn Đệ sát hại chiến sĩ QG và dân lành quá nhiều, nguyên một trận y lừa để giết Nghĩa quân và Địa phương quân đi cứu đồn đã mấy chục người. Sau 30-4-75, cái mặt chuột cống dã man của y mới lòi ra. Nhưng rồi y và tất cả những bọn “ăn cơm QG thờ ma CS” ngay cả Trí Quang, Dương quỳnh Hoa, Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát và Mặt trận DTGP miền Nam VN; những tên trí thức mù Vũ văn Mẫu, Ngô công Đức, Nguyễn văn Binh, Trịnh công Sơn, Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Hoàng phủ Ngọc Phan, Hoàng phủ Ngọc Tường, Nguyễn đắc Xuân, Lý quý Chung, Nguyễn công Hoan, Trần văn Thung, Nguyễn ngọc Nghĩa (hỗn danh là DB tượng Chàm vì có lần y ăn cắp tượng Chàm), Hồ văn Minh v.v... đều chung số phận với Nguyễn Hộ, Nguyễn đình Thi, Nguyễn văn Trấn, Nguyễn hữu Đang, Nguyễn mạnh Tường, Hồ ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Kiều mộng Thu v.v.....nghĩa là hầu hết trí thức miền Bắc và một số miền Nam bị Hồ cho vào xiếc, Hồ lừa gạt trắng trợn.



Vắt chanh bỏ vỏ, CS muôn đời chỉ xài rồi giết, không bao giờ dùng. Phải nhớ rất rõ điều đó. Nông thị Xuân đầu ấp tay gối thế nào với Hồ, được Hồ yêu quí vì có nhan sắc từ khi còn là con bé Tày 14 tuổi bưng cơm ở hang Pắc Bó cho Hồ, Hồ đã để ý Nông thị Xuân từ hồi đó, rồi làm vợ Hồ, đẻ con cho Hồ (Nguyễn tất Trung (1956), xin đừng lộn với Nông thị Ngát, cũng vợ Hồ, đẻ ra Nông đức Mạnh năm 1940) mà Hồ còn giết thảm thì còn ai y nương tay? Những tên như Đinh văn Đệ, Lý quý Chung, Hồ ngọc Nhuận, Kiều mộng Thu, ni sư Huỳnh Liên, Ngô bá Thành, Huỳnh tấn Mẫm, Ngô công Đức, Trịnh công Sơn, Dương văn Ba v.v... đã mất trắng cả cuộc đời vì Hồ!

Trước khi chết, DBCS Nằm Vùng Lý quý Chung có viết cuốn Hồi Ký nói rõ việc y theo Việt Cộng và ân hận ra sao, cha y khuyên y thế nào đã nói lên sự ân hận một đời. Nguyễn văn Trấn, Xứ bộ Nam Kỳ khi xưa, một đảng viên cao cấp CS, đi sát với Hồ nhiều trường hợp, phải than thở những lời sau đây:

“Đảng Cộng sản Việt Nam còn tàn ác hơn Tần thủy Hoàng và dã man hơn Hitler.”

LS Nguyễn hữu Thọ, trên giường bệnh sắp chết, dặn con rằng:

“Hãy coi gương cha, chớ đi theo bọn Việt Cộng mà mất cả cuộc đời!”

Ấy là những người được Việt gian CS đặc biệt ưu đãi, trong đó có bác sĩ Dương quỳnh Hoa, bộ trưởng Y tế của Mặt trận DTGP miền Nam VN, gia nhập đảng CS Pháp từ 1956 ở Paris, trước khi đậu bác sĩ.



Ngay từ đầu, tôi lấy làm lạ rằng ông Trần văn Tuyên, một người Quốc gia chân chính, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng (VNQDĐ) tại sao lại chịu làm bung xung cho bọn Dân biểu Cộng sản (DBCS) nằm vùng (như đã kể trên) để đánh phá QLVNCH và chính phủ của TT Nguyễn văn Thiệu, dù sao đang là một chính phủ hợp hiến, hợp pháp và (tạm) hợp lòng dân để chiến đấu một mất một còn với CS?

Có một lần rất hãn hữu, một lần duy nhất trong 4 năm làm việc tại HNV với nhau, bữa đó Dân biểu Ngô trọng Hiếu (Biên Hoà) và tôi (lúc đó là Chủ tịch Ủy Ban Phát triển Nông thôn HNV) cùng ngồi đàm đạo với LS Trần văn Tuyên. Sau vài câu thăm hỏi, tôi đi ngay vào đề. Tôi nói:

“Thưa anh Tuyên, tôi và anh Hiếu đây và một số anh em khác biết rằng cá nhân anh là một người QG chân chính đã hoạt động chính trị nhiều năm, những chỉ trích Hành pháp và Quân đội về trường hợp một số tướng tá, tỉnh, quận trưởng tham nhũng, lạm quyền là đúng, là giúp ích cho Hành pháp sửa đổi, chấn chỉnh, thay thế, nhưng tôi e rằng đang lúc Cộng quân ngày càng tăng cường sức ép, bồ câu Mỹ đòi rút hết quân Mỹ, chính phủ Mỹ đe rút hết quân viện, trăm phần nguy khốn mà Quốc hội, do những tay sai CS nằm vùng chúng ta nhìn rõ thấy họ hàng ngày, với ba tờ nhật báo tay sai của CS là các tờ Đại dân tộc, Điện Tín và Tin Sáng làm công cụ tuyên truyền cho CS, lại ra sức đánh phá Hành pháp và Quân đội, người QG mù quáng cũng hùa theo ( như các LM Trần hữu Thanh, Đinh bình Định, Chân Tín, ông Nguyễn ngọc Lan và một số DB Nhóm QGHNV, và mấy NS theo đuôi CS) thế thì Hành pháp và QĐ còn tinh thần đâu mà chống chõi với Việt cộng, bảo vệ dân chúng? “



LS Tuyên hỏi anh Hiếu:

“Thế anh Hiếu có câu hỏi gì dành cho tôi không?”

DB Hiếu trả lời:

“Câu hỏi của tôi cũng tương tự như câu hỏi của anh Trần đình Ngọc. Chỉ thêm một chút là trước khi nhận chức Trưởng Khối Dân tộc Xã hội (tức Đối lập), anh có tiên liệu được những gì anh phải làm vừa lòng những anh em trong Khối đó đòi hỏi? Và anh có biết một số trong bọn họ là CS nằm vùng không? Có lẽ anh không biết và anh cũng không ngờ?”

Thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, LS Tuyên, mặt rầu rầu, đáp:

“Làm thế nào để các anh hiểu tâm tư của tôi với chỉ vài phút ngắn ngủi gặp nhau ở đây? Tôi đã suy nghĩ nhiều nhưng chẳng tìm ra một giải pháp để gỡ rối cái vị thế dầu sôi lửa bỏng của tôi hiện tại. Để có dịp thuận tiện, tôi sẽ nói với các anh nhiều hơn”.



Nói xong anh đứng lên bắt tay tôi, anh Hiếu và ra xe. Tôi nghĩ anh tránh né câu hỏi, một câu hỏi đi thẳng vào những gì anh đang trăn trở vì một người làm chính trị lâu năm, một LS kinh nghiệm như anh sao không nhận ra những gì một chiến sĩ QG không thể và không nên làm tay sai (dù là lầm lẫn lúc đầu) cho giặc. Nhưng có lẽ anh đã đi quá xa và lúc đó anh không còn kiểm soát được Khối viên (là những con cáo già CS) nữa! Ba tờ báo Đại dân tộc (của Võ long Triều), Tin Sáng (của Ngô công Đức) và Điện Tín do Lý quý Chung đã rất hữu hiệu yểm trợ Khối Đối lập và Nhóm Dân biểu QG HNV trong việc cho những DB này đi tầu bay giấy và tìm cách mạt sát các DB có lập trường QG là tay sai cho Nguyễn văn Thiệu. Anh Trần văn Tuyên có lẽ cũng đã “rét” với những tờ báo này!



Dân trí quá thấp, những người bình dân đâu có hiểu gì CS cho đến sau 30-4-1975, rất nhiều người miền Nam mới bật ngửa thì sự đã rồi. Những người này trước kia chứa chấp cán binh CS, nuôi ăn, tiếp tế, nhận làm mẹ nuôi, chị nuôi chiến sĩ v.v...Cũng chính những người này, sau khi CS đổi tiền hai lần, đánh tư sản mại bản công thương nghiệp tư bản tư doanh, đuổi đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, chiếm đất, chiếm xe cộ, tài sản, trương mục ngân hàng, chính họ là những người chửi rủa CS nhiều nhất, căm thù CS hơn ai hết.



Người dân miền Nam quả thực quá ít kinh nghiệm với CS nên dễ bị lừa. Nói gì bình dân, những trí thức như Dương quỳnh Hoa, Lâm văn Tết, Nguyễn văn Trấn, Xuân Vũ Bùi minh Triết (tác giả Đường đi không đến), Nguyễn thị Bình, LS Nguyễn hữu Thọ, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Lý quý Chung, cả sư hổ mang Trí Quang và ông Thích Nhất Hạnh, cả Dương thu Hương, Nguyễn mạnh Tường, Hoàng xuân Hãn, Trần đức Thảo, Nguyễn đình Thi và hàng đống trí thức miền Bắc đó, hằng hà sa số bị lừa đau đớn, thế thì người dân miền Nam chữ nghĩa ít, học hỏi nông, xưa nay chân chất thật thà thì bị lừa đến táng gia bại sản cũng là phải thôi! Hãy cứ hỏi nhà văn Dương thu Hương, ngày 30-4-1975 ngồi khóc ở vệ đường Sàigòn vì nhận ra được là cả thế hệ của chị đã bị lừa, cái dã man mọi rợ (ý chỉ chế độ CS miền Bắc) lại thắng cái văn minh (ý chỉ miền Nam) là đủ thấy sự đau đớn và sự thật.



Tôi xin mở một dấu ngoặc với chị Dương Thu Hương. Không phải chị chỉ khóc có một lần ngày 30-4 đâu mà có lẽ chị còn khóc dài dài, chị Thu Hương ạ. Cái gian dối, lừa gạt, hung ác, vô văn hóa từ Hồ tặc truyền vào dân VN y như bệnh Aids, tệ hơn bệnh Aids như dân Ba Lan nói, nó sẽ còn kéo dài hàng thế kỉ, vài thế kỉ là ít sau khi CS giẫy chết chứ thuốc trụ sinh Dân Chủ dù mạnh mấy không đủ làm cho cái ung bướu quái ác CS đó biến đi ngay trong con người VN được đâu.



Trở lại với anh Trần văn Tuyên, một thời gian sau, anh từ nhiệm chức vị Trưởng Khối Dân tộc Xã hội tức Đối lập HNV, người thay anh là DB Lê đình Duyên, một DBCS nằm vùng.


ĐI TÙ CẢI TẠO



Sau 30-4-1975, cũng như nhiều anh em DB/HNV khác, LS Trần văn Tuyên đi trình diện và vào tù cải tạo.

Câu chuyện sau đây về cuộc đời “ba chìm bảy nổi” của anh Tuyên do chính anh tâm sự với một bạn tù cùng buồng với anh, anh này kể lại cho Bút Xuân nghe nhưng xin giữ kín danh tánh, câu chuyện “có thế nào nói lại vậy” không thêm, không bớt như sau:



Sau ngày 19-8-1945, do một mối giây liên hệ nào đó như bạn học, bạn đồng chí v.v... anh Trần văn Tuyên lúc đó được tướng Võ nguyên Giáp (CS miền Bắc) cử làm Chánh văn phòng cho ông ta. Giáp bảo với anh Tuyên là để rồi Giáp sẽ thưa với cụ (Hồ) chấp thuận để anh Tuyên có chức vụ và làm việc với Giáp.



Có một bữa, ông Hồ, Giáp và một số đông đồng chí, có cả anh Tuyên được mời đi dự một bữa cơm với nông dân, anh Tuyên kể lại như thế ở trong tù. Cơm dọn ra toàn là dưa cà mắm mặn, rau muống luộc, một bữa cơm hoàn toàn đạm bạc của nông dân. Trong lúc chộn rộn người ngồi kẻ đứng, ông Hồ ghé tai Giáp nói nhỏ:

“Cỗ bàn ngon lành ở phía sau, các chú xuống đó mà ăn chứ cơm này ăn gì được.”

Giáp bảo anh Tuyên loan báo cho anh em.

Thành ra, ngồi ăn cơm với nông dân chỉ là ngồi lấy lệ, biểu diễn, ăn qua quýt, xong lỉnh ra đàng sau để hưởng sơn hào hải vị đã làm sẵn để phục vụ.



Sau ngày Việt Cộng tự động giải tán CP Liên hiệp và Quốc Hội số 1, dân quân du kích Việt Cộng, theo lệnh từ ông Hồ và ban tham mưu VC, từ 1946, đã giết hại các người QG, các đảng phái phi CS, và cả người Công Giáo hay bất cứ ai bị nghi ngờ là không đồng chính kiến. Những người này bị ghép vào một tội chung: “Việt gian phản động làm tay sai cho Pháp” . Chỉ chín chữ đó đủ để ăn vài viên đạn vào đầu hoặc như nhà văn Khái Hưng, bỏ vào bao bố trôi sông (Khái Hưng bị giết ở sông Ninh Cơ). Mời đọc thêm: vnfa.com Góp ý với ông Bùi Tín Bài 1-8 Thảo luận với ông Võ văn Kiệt Bài 1-17 cùng tác giả.



Báo cáo từ các nơi gửi tới tấp về cho Chính Phủ Viêt cộng để giải quyết các khiếu oan cho dân. Anh Trần Văn Tuyên, với chức vụ Chánh Văn phòng, các công văn đều qua tay anh, anh phân loại rồi mới trình lên cho tướng Giáp để giải quyết. Anh Tuyên đã trình lên tướng Giáp nhiều lần xin tướng Giáp trình “Cụ Hồ” giải quyết ngăn chặn những sự giết chóc bừa bãi ở các xã nhưng anh Tuyên trình đã nhiều lần hồ sơ chất đầy bàn mà không được tướng Giáp lý tới. Lần trình sau cùng, tướng Giáp gọi anh Tuyên vào văn phòng, bảo:

“ Mang tiếng làm chính trị mà sao chú mày còn chậm hiểu quá. Việc gì mà phải giải quyết những vụ việc ấy. Đó là chính sách của trên, chú mày hiểu chưa?”



Từ đó, ông Tuyên đâm ra sợ và kị Việt Cộng, càng ngày ông càng rõ tâm địa thâm độc gian ác của ông Hồ chí Minh và bọn thủ hạ. Ông ghê tởm những hành động sát nhân mà những người bị giết chỉ là những người QG yêu nước, yêu đồng bào, những người dân hiền lành bị nghi ngờ đối nghịch với chủ nghĩa CS của ông Hồ và đồng bọn.



Và cũng chính vì vậy, ông Tuyên đã vượt thoát vào Nam tìm Tự Do sau tháng 7-1954, bỏ lại hai đứa con trai, một anh sau này đậu Kĩ sư canh nông chế độ Việt Cộng.

Sau 30-4-1975, như các DB và NS khác kẹt lại, LS Trần văn Tuyên vào trại tù cải tạo. Khi ông còn ở trong tù, hai anh con trai đã lặn lội đi thăm bố, mang theo quà của tướng Giáp là một cân đường và một cân mứt hạt sen.

(còn tiếp)

GS Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Cựu Dân Biểu HNV/VNCH

Cựu Sĩ Quan QLVNCH (Khóa 13 Thủ đức)
Hình ảnh cầu nguyện chiều 29-03-2009 tại DDCT Saigon







Sunday, 29 March 2009

30 Tháng 4

– Viết Cho Những Quân Nhân Không Đầu Hàng Giặc.

Trong kỳ hội ngộ 30 năm của Trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng Tham Mưu tại Thủ đô Hoa Thịnh đốn, Trung tướng Đồng Văn Khuyên tóc bạc phơ đã đi đến chào bàn và chắp tay xá từng chiến hữu. Gặp anh em cựu tù cải tạo trên 10 năm nhắc chuyện các tướng lãnh tự vẫn, vị Tham mưu trưởng Liên quân 30 năm về trước chợt nói ra cả gan ruột của mình.
Và như vậy là ông đã thực tâm nói hộ cho tất cả anh em. Các nhà lãnh đạo dù đảm lược can trường qua bao năm chinh chiến, nhưng dễ gì mà làm được người hùng tuẫn quốc như tiền nhân Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.
Và cũng tại Thủ đô Hoa Kỳ, tướng Ngô Quang Trưởng suốt bao năm không lên tiếng, nhưng trong chỗ riêng tư cũng đã nói rằng được nếu được làm lại thì năm 75 ông sẽ không thi hành lệnh rút quân ở Huế.
Các niên trưởng của tôi một thời tuổi trẻ như ông Khiêm, ông Thiệu, ông Viên. Lúc đó còn là Trung úy Cao Văn Viên, Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và đại úy Trần Thiện Khiêm gặp nhau ở Secteur Hưng Yên vào đầu thập niên 50. Quý vị không biết rằng sau này sẽ làm tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Nếu bây giờ được sống lại tuổi hoa niên, ta sẽ làm lại từ đầu với bao nhiêu điều tốt đẹp hơn, cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước. Kể cả các hành động anh hùng lẫm liệt.
Và biết bao nhiêu tướng lãnh tư lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nay còn sống đều có chung một kỷ niệm đau thương.
Chiêm nghiệm lại, việc rút quân đau thương hoảng loạn tại Quân khu I và Quân khu II đã trở thành một thảm kịch ghê gớm như một bệnh dịch, như ngọn sóng thần, như cơn hồng thủy vượt qua mọi sức đề kháng của con người. Vào cái thời điểm đó, trong một sáng một chiều, chúng ta không phải là những chiến sĩ anh hùng mà đã trở thành những con người khác.
Không cần địch tấn công, các đơn vị cứ tan ra như một dung dịch hóa học được thử nghiệm.
Vì vậy các tư lệnh chiến trường của miền Cao nguyên, Hỏa tuyến, Duyên hải khi về được miền Nam thì đa số đều tìm đường di tản. Tư lệnh và Tư lệnh phó Quân đoàn. Các Tư lệnh Tổng trừ bị và các Sư đoàn. Tất cả hoàn toàn mất hết sức đề kháng kể cả Lục quân, Không quân, và Hải quân. Tất cả đều tin rằng Mỹ bỏ Việt Nam và mọi thứ coi như cáo chung. Không thể tiếp tục cuộc chiến.
Riêng mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và khi cộng sản đi vòng qua phòng tuyến Sư đoàn 5 tại Lai Khê để tiến về Sài Gòn thì coi như một phần của miền đông vẫn bình yên.
Và chính ở các vùng đất hoàn toàn chưa nổi sóng đó đã sản xuất ra các vị lãnh đạo sẵn sàng vị quốc vong thân.
Trong suốt 55 ngày cuối cùng của miền Nam năm 75 đã có biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh và gồm cả quân nhân các cấp đã tự sát.
Một số đã tự vẫn tại mặt trận hoặc tại nhà. Có các trường hợp tự tử chết cả gia đình. Chúng tôi ghi nhận rằng có nhiều anh em binh sĩ đã tự tử tập thể bằng lựu đạn tại chiến trường. Sau đây là một số trường hợp điển hình thường được nhắc nhở trong các năm qua.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú : Sau cuộc rút quân tại Cao Nguyễn hỗn loạn trở thành thảm họa, tướng Phú, Tư Lệnh Quân Khu II đã uống thuốc độc tự tử tại Sài Gòn. đó là vào ngày 29 tháng 4-1975. Thân nhân đưa vào nhà thương Grall để cấp cứu nhưng không kịp. Ông đã qua đời tại đây.
Trung sĩ I Quân Cảnh Trần Minh : Thuộc đại đội I Quân Cảnh đảm trách khu vực cổng chính Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc 10 giờ sáng 30 tháng 4-1975, sau khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, Trung sĩ Trần Minh đã dùng súng lục tự tử dưới chân cột cờ Bộ Tổng Tham Mưu.
Trung Tá Long, Cảnh Sát Quốc Gia : Sau khi nghe tin đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975, Trung Tá Long, Cảnh Sát Quốc Gia đã đến đứng chào tượng Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Quốc Hội ở Sài Gòn rồi rút súng tự sát. Báo chí ngoại quốc đã đăng hình của ông nằm ngay trước pho tượng. Hình chụp vào khoảng 12 giờ trưa 30 tháng 4-1975.
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ : Khoảng 1 giờ trưa 30 tháng 4-1975, khi nghe lệnh đầu hàng, ông đã họp các sĩ quan tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh tại Lai Khê. Sau khi dùng cơm với anh em, ông lui vào phòng riêng dùng súng lục tự vẫn. Vợ và 4 con nhỏ của ông di tản qua Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4-1975 đến hai tháng sau mới biết tin.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai : Chiều 30 tháng 4-1975 vị Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh đã uống thuốc độc tự tử tại căn cứ Đồng Tâm – Mỹ Tho. Bà mẹ của tướng Hai đã đem xác con về chôn cất tại Nghĩa Trang Gò Vấp. Căn cứ Đồng Tâm là nơi đặt bản doanh của Sư đoàn 7 Bộ Binh.
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng : Tư Lệnh Phó Quân đoàn 4 đã dùng súng tự sát tại Cần Thơ tối ngày 30 tháng 4-1975. Lúc đó vợ và các con cũng có mặt cùng với các sĩ quan cận vệ thân tín. Tướng Hưng là vị tư lệnh nổi tiếng đã tử thủ tại trận An Lộc tỉnh Bình Long năm 1972.
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam : Tư Lệnh Quân đoàn 4 đã dùng súng lục tự sát vào lúc 7 giờ sáng ngày 1 tháng 5-1975. Ông là người đã sống một ngày dài nhất từ lúc Tổng thống Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975 cho đến sáng 1 tháng 5-1975.
Ngay sau khi có lệnh đầu hàng ông đã gặp các đại diện phía cộng sản hai lần khi họ vào Dinh Tư Lệnh tại Cần Thơ tiếp xúc nhưng cả hai lần đại diện phía cộng sản đều ra đi. Cũng trong chiều 30 tháng 4, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đi thăm Quân Y Viện Phan Thanh Giản lần cuối cùng. Ông cử Đại Tá Thiên vào chức vụ Tỉnh Trưởng Cần Thơ thay cho người đã ra đi. Ông ra lệnh không được phá cầu Long An và chấm dứt giao tranh để bảo toàn tính mạng các binh sĩ và dân chúng.
Trước khi quay vào phòng tự vẫn, sĩ quan tùy viên kể lại tướng Nam đã thắp nhang trên bàn thờ Phật, thỉnh chuông rồi đứng lên lan can tòa lầu nhìn xuống thành phố Cần Thơ lúc đó vắng lặng. Lúc đó vào sáng sớm ngày 1 tháng 5-1975. Vùng 4 chiến thuật gồm toàn thể miền Tây Nam Phần với 3 sư đoàn, Sư đoàn 21 (Bạc Liêu), Sư đoàn 9 (Sa đéc) và Sư đoàn 7 (Mỹ Tho) cùng với 16 tiểu khu. Cho đến ngày 30 tháng 4-1975 miền Tây vẫn còn gần như nguyên vẹn. Vị Tư Lệnh Quân đoàn vẫn liên lạc hàng ngày với các đơn vị gồm cả Hải Lục Không Quân thuộc Vùng 4. Toàn thể quân số chính quy và địa phương trên 200 ngàn quân đã tan hàng trong trật tự. Một số lớn hiện đã có mặt tại hải ngoại.
Nếu tướng Nguyễn Khoa Nam tiếp tục chiến đấu có thể sẽ nhiều trận đẫm máu kéo dài thêm từ 3 đến 6 tháng. Cộng sản với quân số 20 sư đoàn cùng với kho vũ khí của miền Nam để lại sẽ trở thành một lực lượng quân sự mãnh liệt nhất Đông Nam Á.
Toàn thể miền Tây sẽ trở thành cuộc chiến đau thương nhất trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Dứt khoát là Hoa Kỳ và thế giới tiếp tục quay mặt đi. Bao nhiêu người kể cả quân và dân hai phía sẽ chết thêm cho cuộc chiến bi thảm này. Với ba tiếng chuông thỉnh Phật. Vị tư lệnh vùng 4 đã theo gương tiền nhân Phan Thanh Giản dọn mình tự vẫn để chết thay cho hàng vạn sinh linh của sông Tiền sông Hậu vào giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.
Trong buổi sáng cuối cùng 1 tháng 5-1975, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đứng trên lan can của Dinh Tư Lệnh cùng với hai sĩ quan tùy viên cấp úy. Con đường Phan Thanh Giản trước mắt trong buổi bình minh vắng lặng của thị xã Cần Thơ. Vị Tư lệnh vùng 4 trở thành cấp chỉ huy cuối cùng của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đứng khóc. Nước mắt chan hòa làm hai sĩ quan tùy viên trung thành với ông thầy cũng khóc theo. Cái khung cảnh bi tráng tại Dinh Tư Lệnh vắng vẻ vào ngày đầu tháng 5-1975 của ba thầy trò Tư lệnh mới xúc động dường nào. Sau đó ông quay vào phòng tự sát bằng súng lục.
Hành động vừa can trường vừa nhân đạo của tướng Nguyễn Khoa Nam đã nêu cao gương trách nhiệm uy dũng đồng thời cũng đã cứu cho sinh mạng của dân chúng và binh sĩ tại miền Tây không bị chết đau thương hỗn loạn như đã diễn ra tại Quân Khu I và Quân Khu II.
Ngày 30 tháng 4-2005 ba mươi năm sau, trên bàn viết của tôi có một cái gạt tàn thuốc là bằng đồng vốn là đầu đạn đại bác được gò lại. đây là quà tặng của Pháo binh Quân đoàn 4 tặng cho vị Tư lệnh. Khi ông chết, đại úy Lê Quang Nghĩa thu dọn di vật đem về Sài Gòn. Ba mươi năm sau nhờ người đem tặng cho Viện Bảo Tàng tại San Jose.
Đặt tay lên cái gạt tàn thuốc giá lạnh 30 năm không còn hơi ấm. Nghe như có tiếng chuông thỉnh Phật năm xưa. Cuộc chiến đã tàn từ lâu rồi mà sao lòng người vẫn còn lạnh giá. *
Như đã ghi lại ở phần trên, khi chiến tranh chấm dứt, tại khắp nơi có nhiều anh hùng Việt Nam Cộng Hòa đã tự quyết định đời mình không chịu sa vào tay giặc. Tuy nhiên chúng tôi không thể ghi lại được đầy đủ.
Nhân ngày 30 tháng 4 - xin thắp một nén hương lòng gửi về cho tất cả các anh hùng liệt sĩ.
Chúng ta còn sống đến ngày nay, hãy sống sao cho xứng đáng với những đồng đội đã chết vì 30 tháng 4.

Giao Chỉ – San Jose

Bài Xem Nhiều