We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 29 September 2009

Người bị VC bần cùng đến tận cùng !

9 giờ sáng, tôi nghe điện thoại, nhấc máy lên là giọng một người đàn ông trầm ấm, phát âm rõ nét tiếng miền Nam...Bản thân ông cũng tự giới thiệu ông gốc người Long An, lập nghiệp sinh sống ở Tây Ninh (nhà 848, ấp Trường Huệ, xã Trường tây, huyện Hoà Thành), vì thế biết về vụ án Phan văn Sào ( người đã đứng ra đấu tranh với chính quyền địa phương lấy lại mảnh đất 1.800 m2 để xây dựng trường mẫu giáo cho các cháu ở xã Long Thành Bắc, huyện Bình Hoà, tỉnh Tây Ninh và bị cộng sản ghép tội "nhục mạ và vu không lãnh đạo", xử hai năm tù giam (luật sư Lê Trần Luật bào chữa) nhờ địa chỉ chị Nguyễn thị Tâm- vợ Sào cho, mà ông biết gia đình tôi để từ Tây Ninh bay ra Hà Nội, gặp mẹ đẻ và em trai tôi, trong lúc tôi vắng nhà.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh.
Khác với mọi dân oan khác, ông không có vẻ so súi, túng kiết, hoặc những nét nhàu nhĩ trên gương mặt do sự thiếu thốn, khổ ải, hằn dấu tích trên mặt, trên người. Trái lại, ông cao khoảng 1,m8, đứng gần ngang khung cửa nhà tôi. Mặt vuông vức, hai vai bằng phẳng, đôi mắt và cặp mày cùng cái miệng là những đường kẻ ngang cân bằng. Đặc biệt là sống mũi trường và thẳng, hai cánh mũi to, rộng. Xét về mặt tướng học, ông không đẹp nhưng thuộc diện hào hoa, phong lưu, rộng rãi, chính nhân quân tử... Không hiểu biến cố nào trong cuộc đời đã xô ông đến cửa nhà tôi, chỉ bằng một dòng địa chỉ như vậy?
Rút ra tập văn bản hồ sơ, ông lập cập nói:
Cô à, đến 15-9 này họ ủi nhà tôi rồi. Tôi biết lấy chỗ chi để tá túc đây, đã 3 năm nay tôi sống bằng lòng từ thiện của anh em trong hội Cao Đài rồi.
Thì ra ông là người theo đạo.
Liếc qua hồ sơ của ông, tôi đề nghị:
Bác cứ kể vắn tắt đi, tại sao họ lấy nhà của bác, bác đã từng này tuổi rồi , con cái đâu, sao lại để bác trong cảnh bần cùng hoá như vậy?
Ông ngồi lặng đi rồi ông kể:
Tôi sinh năm 1941 cô à. Như mọi thanh niên Miền Nam khác, năm 1967, vừa sang tuổi 17, tôi tự nguyện tham gia quân đội, dù chẳng ai bắt buộc tôi cả. Hồi đó tôi là cảnh sát của quân đội Việt Nam cộng hoà. Trong một lần trực đêm ở Đà Lạt, buồn tình, nhớ nhà, tôi uống rượu say la đà rồi vừa gác, vừa ca vọng cổ, một lát sau thì ngủ gật, đầu gục xuống vai, súng trượt khỏi người văng trên nền gạch, chân đạp phải báng súng, bất ngờ một viên đạn vụt ra, sượt qua mang tai, đốt cháy một mảng tóc và cắt đứt một đốt ngón tay tôi.

Trở dạy, tôi thấy mình được anh em đưa đi viện, khi trở về phải nhận án kỷ luật giam giữ 15 ngày. May không mất mạng, nhưng hội đồng giám định y khoa kết luận tôi không đủ sức khoẻ để tiếp tục phục vụ quân đội .Khi đó là năm 1974, tôi giữ chức vụ trung sĩ, trung đội trưởng, trung đội cảnh sát dã chiến quận Hoóc Môn, tỉnh Gia Định. Đang theo học tại trung tâm huấn luyện ở Đà Lạt để nâng cao trình độ cho các cấp chỉ huy Tháng 4 năm 1975, tôi bị gọi đi học tập cải tạo vì tội "cầm súng theo địch bắn vào đồng bào". Ra trại, tôi đăng ký tị nạn theo diện HR nhưng thời gian cải taọ qúa ngắn nên không được chính phủ Mỹ xét duyệt, đành phải ở lại. Trong suốt khoảng thời gian 15 năm đầu sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, tôi còn trụ được vì gia đình nội ngoại vốn là đại địa chủ, đất đai bạt ngàn nên có của ăn, của để, tôi lại có nghề xây dựng, chuyên đấu thầu các công trình thuỷ lợi, cầu đường, nên nhanh chóng trở thành đại gia trong vùng.
Có tiền, theo thói quen của ông bà truyền lại, tôi làm từ thiện...Tôi nhớ hồi đó bao cấp nghèo lắm, anh em phóng viên báo Tây Ninh còn phải đạp xe đến tận nhà tôi, hễ có địa chỉ nào khó khăn cần giúp là tôi đánh xe con chở anh đó đến liền để làm từ thiện, từ chăn màn, đồ dùng áo quần đến gạo muối, củi đuốc v.v
Năm 1990 tôi bắt đầu bước vào con đường mạt vận, phá sản vì hầu hết các công trình xây dựng mà tôi đấu thầu của huyện Hiệp Hoà đều mắc nợ tôi , chỉ riêng con đường nhựa từ chợ Long Hoa đi Văn Tân, gíap quốc lộ 22B, đã là 43 triệu 902 nghìn đồng, không kể các xã như Trà Vong, Mỏ Công, Tân Hưng ... thuộc huyện Tân Biên, mỗi xã cả chục triệu luôn.
Một phép tính vụt qua óc, tôi kêu lên:
Trời đất -Vào thời điểm năm 1989, 44 triệu to lắm, nếu tính cả lãi lẫn gốc trong suốt 20 năm trời qua thì bằng cả 5, 7 tỷ bây giờ.
Đúng thế, ông âm thầm xác nhận, cặp mắt e dè buồn như bóng tối Để chứng minh cho lời nói của mình tôi đưa ra con số xác thực nhất:
Năm ấy cháu đang gõ đầu trẻ, mức lương 290 đồng, một chỉ vàng sau khi đổi tiền năm 1985 là 15 nghìn. Năm 1989, khoảng 20 nghìn, bằng 1/100 bây giờ. Vì vậy tính theo giá vàng là tròm trèm 4 tỷ, không kể tiền lãi ... còn tính theo giá nhà chỉ 5 nghìn đồng là mua được một căn nhà tử tế
Chính vì thế mà tôi phá sản đó cô, giọng ông run run, mắt tối sầm như soi tỏ vào nội tâm
Sao bác không kiện ?
Trời- ông kêu lên, giọng như cao thêm một cung bậc mới - Kiện riết, kiện hoài mà họ không trả cô ạ. Đấy là những nơi có bút tích đàng hoàng đấy, còn những chỗ 5,7 trăm ngàn hoặc vài triệu, ghi nhận bằng miệng thì tôi đâu có nhớ mà nhắc.
Không thể thế được, luật pháp sinh ra để làm gì, tôi cố kiết bảo vệ ý mình theo hướng sách vở mà không hề nghĩ rằng thương trường là chiến trường, người ta sẵn sàng dẫm đạp, bắn giết nhau vì tiền... Một người có cánh mũi rộng đến mức "con trâu đi lọt" như ông thì quả là "bán giời không văn tự"
Nhưng ai là người phải chịu trách nhiệm trả 44 triệu này ? Tôi gặng.
Ông Dương Hồng Thắng, trưởng phòng giao thông vận tải huyện Hoà Thành, người ký văn bản quyết toán ngày 16-5-1990 đó cô. Trong văn bản, ông ta cam kết 15 ngày sau sẽ giả toàn bộ số tiền cho chủ công trình là tôi, vậy mà bây giờ bao nhiêu lần 15 ngày qua rồi, hắn đâu có trả.
Bác kiện một lần không được thì phải kiện lần hai, kiện trong nước không được thì kiện ra quốc tế, kiện vung giời lên chứ, máu chảy ruột mềm, của đau con xót, một đống tiền chứ ít đâu? Quá xót xa cho bước đường hoạn nạn của ông trong ngôi nhà xã hội chủ nghĩa, tôi gắt.
Ông cười ủ ê, cay đắng:

Luật của nước mình , tôi đâu có rành, cứ nghĩ mình làm phải thì phải được bảo vệ, tôn trọng chớ, ai dè...đi lại, kiện tụng riết không được, tôi bỏ cuộc, lúc ấy toà án huyện lại gọi tôi ra yêu cầu tôi phải nộp án phí 2.2000.000( hai triệu hai trăm nghìn đồng) để giải quyết. Khi ấy tôi khánh kiệt rồi, một đồng xu cắc bạc cũng không có, đào đâu ra 2 triệu 2 để nộp án phí mà rồi có thắng kiện không, hay họ ăn giơ với nhau rồi án phí lại thành ngu phí ?
Thì ra tử lộ của ông bắt đầu từ đây, từ thói lừa đảo ăn bẩn của lãnh đạo ngành giao thông, kể từ cấp trưởng phòng trở lên cũng như lãnh đạo các xã mà ông vừa nhắc. Tất cả chỉ là phường ăn hại, đái nát, với thương nhân thì ăn cướp, với dân đen thì bố thí, cố tình dồn ông vào bước đường cùng, như đã từng dồn nhân dân vào cái máng lợn khổng lồ.Trong khi bọn chúng thì mâm cao cỗ đầy, mâm vàng chén ngọc, nói dối như cuội, lưà đảo thành thần, thăng quan trên những nỗi đau ngút trời.
Lặng đi một chút, bàn tay có một ngón cụt đặt ngâp ngừng trên tập hồ sơ, ông nói tiếp.
Bẵng đi 5,7 năm trời không đòi được nợ, mất hết vốn làm ăn, trong khi thói quen tâm lý không thể từ bỏ. Năm 1996, tôi bất chấp lời khuyên can của cả nhà, thế chấp giấy tờ sổ đỏ quyền sử dụng 7700 m2 đất cho ngân hàng đầu tư phát triển Tây Ninh để vay 100 triệu, dự định đầu tư vào một số hạng mục công trình rồi sau một năm có tiền trả ngân hàng cả gốc lẫn laĩ sẽ rút đất ra, ai dè...
Đang ngồi nghe ông tâm sự, bất thần tôi kêu lên:
Sao bác dại thế, tấc đất tấc vàng, chỉ vay 100 triệu mà thể chấp cả 7000 m2 đất.
Giọng ông buồn như trấu cắn, nghe như một lời than:
Thì mình vẫn tin vào chính sách của đảng và nhà nước mà cô, hơn nữa đất ấy chỉ có một sổ đỏ, làm sao thế chấp một nửa hay 1/3 như cô nói được? Ai ngờ... nợ đọng lớn hơn lãi xuất, tôi không còn cách nào đành phải để ngân hàng phát mãi mảnh đất của mình, với yêu cầu bán đáu giá theo giá hiện hành. Sau khi trừ cả gốc lẫn lãi rồi thì phải trả lại phần tiền thừa cho tôi. Không ngờ cả tôi và vợ con không hề có quyền lợi hợp pháp trong đó, kể cả có mặt, ký tên, chứng kiến, dù mảnh đất đứng tên tôi và gia đình từ đầu năm 1995.
Lần đầu tiên phát giá 305 triệu, người mua , khi biết tôi gặp cảnh sa cơ lỡ bước liền bỏ đi , với lý do: "Em mà mua thì anh khổ, em không muốn dồn anh vào bước đường cùng"
Người thứ hai cũng vậy, dù giá đất lúc này đã nhích lên 350 triệu, nhưng so với giá thị trường vẫn chỉ bằng một nửa. Cùng là đồng sự, biết rõ hoàn cảnh , địa vị của tôi trước đó, nên cũng lặng lẽ bỏ lại cả tiền đặt cọc( trị giá 5% số đất) hy vọng tôi sớm đòi được nợ cũ của phòng giao thông vận tải huyện để trả ngân hàng, rút sổ đỏ về giữ đất Ai ngờ tên Dương Hồng Thắng mặt nạc, đóm dày, mo nang trôi sấp, nên sau 51 tháng, món nợ cũ không đòi được còn phát sinh thêm bao khoản tiền khác. Đất bị mất trắng vào tay bà Ngô Thị Vân- giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Long Vân - nhà cung cấp nhiên liệu khu vực phía Nam khi ấy- với giá bèo bọt 385 triệu
Chỉ vào bài viết của tác giả Hồng Lam in ở báo Tây Ninh: "7 năm tranh chấp tài sản đấu giá", ông bảo;
Điều đau xót là sau 4 năm 3 tháng, giá đất đã lên gấp 4,5 lần, nghĩa là hơn 1 tỷ, song do bà Vân "đi đêm" với ngân hàng, với đội thi hành án mà mua chưa đầy 50.000 đồng 1 m2 đất, quy thành gạo được 7,8 ký, còn quy ra thịt được từ 1 ký 2, tới ký rưỡi
Con tài sản hoa màu trên mặt đất thì sao hả bác? Tôi băn khoăn trước nỗi đau có thực của ông- đau không phải vì cái giá qúa bèo như báo Tây Ninh phản ánh, mà đau vì đây là bước thảm bại trong cuộc đời làm doanh nghiệp của ông. Từ một đại gia, giữa một vùng đất nghèo khó do được đảng" giải phóng " khỏi kiếp sống đàng hoàng, nhung lụa của chế độ Mỹ Nguỵ, vi la của ông xây hết 970 bao xi măng, 12 tấn thép. Trong nhà, ngoài ô tô con để ông đi giao dịch đấu thấu , làm từ thiện còn một xe tải chuyên sử dụng vào việc xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường trạm v.v vậy mà ...chỉ vì lòng tốt mà đẩy ông đến bước này ư?
Không để tôi phải tò mò lâu, ông nói tiếp:
Mất trắng, cả nhà cửa, cây cối, hàng rào, nhà tắm xây trên đất đó cô ạ!
Hơn nữa, ông ngập ngừng bày tỏ: - Cho dù phải bán với cái giá bằng 1/3 giá thị trường như thế thì trừ 100 triệu tiền gốc, hơn 100 triệu tiền lãi, ngân hàng phải trả lại cho tôi 145 triệu...Vậy mà gần chục năm rồi mất tiêu.
Nhìn lom lom vào tấm ảnh ông chụp với người chị già và ngôi nhà tường gạch, lợp tranh tre, phủ nilon, lở loét , tôi băn khoăn:
Sau khi đất bị bán rồi thì gia đình bác ở đâu?
Tôi còn một miếng đất 1067 m2 nằm ngoài diện tích đó, nhưng khi kinh tế sa sút, tình cảm vợ chồng cũng sa sút theo.Vợ tôi kéo sắp nhỏ bỏ đi luôn, tôi ở lại trông nom bà chị ruột, mắc bệnh tâm thần từ nhỏ, không chồng con...Đến năm 2003, khi ra toà ly dị, tôi nhường lại cho bà xã 943 m2, chỉ giữ lại cho mình khoảng 100 m2, nơi có căn nhà tạm cho hai chị em tôi ở..Bà xã cũng nhượng lại cho công ty Đức Thành lấy 320 triệu nuôi con, thấm thoát đã được mười năm rồi.
Tội nghiệp- tôi thở dài cay đắng, vì kịp nhận ra một điều oan uổng, cũng là cái trớ trêu của cuộc đời này...Một người đàn ông hoàn hảo như ông- chắc chắn là thương vợ, quý con hết lòng, chỉ vì không biết bảo vệ túi tiền cũng là cái tâm, cái tài, cái đức của mình, để cả hệ thống quan chức lãnh đạo tỉnh từ ngành giao thông vận tải đến hệ thống ngân hàng huyện lừa đảo, dồn ép vào bước đường cùng mà bỗng chốc thành tay trắng. Mất cả vốn lẫn lãi, cả chì lẫn chài cả vợ lẫn con Chỉ còn bà chị ruột không nơi nương tựa, ngớ ngẩn tâm thần là của ông thôi. Ngay cả một chút hạnh phúc lứa đôi trong cuộc đời ô trọc, khốn khổ này ông cũng không vớt vát được cho mình ư? Mà nào ông có phải loại người tạp nhạp như đám chúng sinh nhan nhản, vật vờ, vô ảnh, vô hình, không bản sắc, diện mạo, cá thể, cùng chìm nghỉm vào bối cảnh cõi đời nhợt nhạt, tù mù này? Hàng chục công trình xây dựng của ông trên mảnh đất Hoà Thành, hàng chục đoạn đường bằng tiền của, mồ hôi, công sức, tâm huyết ông bỏ ra cho dân đi, dân ở trong suốt bao nhiêu năm trời. Hàng trăm triệu đồng từ thiện của ông rót vào từng gia đình người dân trên rải đất Tây Ninh- khiến tên tuổi ông một thời vang bóng ...vẫn còn kia, sao để ông phải chấp nhận số phận tủi buồn này? Đã không vợ không con, không tiền nong, sinh kế, còn cái nhà nhỏ để hai chị em lấy chỗ chui ra chui vào, ngày 15 tây này cũng sẽ bị san ủi vì bị coi là đất nằm trong quy hoạch trục đường 22 B. Trớ trêu thay, phần tiền đền bù nhà chỉ vẻn vẹn 21 triệu. Còn tiền đền bù 100 ,2 m2 đất này lại được trả cho bà Ngô thị Vân, một người đàn bà giàu nứt đố, đổ vách, đã ăn không, ăn hỏng của ông 7700 m2 đất với cái giá rẻ mạt, lại còn không chịu nhả số tiền đền bù đất của ông nữa. Không hiểu sau hai ngày nữa( 15-9-2009) Ông và bà chị già cả ,gần đất, xa trời của ông sẽ đi về đâu?

Nhận ra sự cảm thương sâu sắc trên nét mặt tôi, ông bần thần kể:
- Nhiều người biết rõ cảnh sống của hai chị em tôi, khuyên tôi đưa bà chị tôi vào chùa, còn tôi thì thuê chỗ khác ở, chính quyền xã sẽ chịu tiền nhà 6 tháng nhưng tôi không chịu cô à. Chị tôi già rồi, có được minh mẫn như người ta đâu mà bảo vào giúp việc trong chùa để hưởng lộc rơi lộc vãi của các tín chủ mười Phương? Làm vậy phải tội chết, gia đình tôi ba đời làm từ thiện, lẽ nào với máu mủ của mình mà mình lại coi như giọt máu thừa? Hạt cơm rơi...Tiếng thế nhưng chị tôi tình cảm lắm đó, tôi chỉ ra đây có mấy ngày, phải nhờ người chăm sóc mà chị tôi cứ mếu máo nhắc suốt, người trông nhà giùm, liên tục gọi điện thoại ra nhắc tôi về.
Nhìn ông, tôi trầm ngâm hỏi:
Thế con cái bác như thế nào? Có thành đạt, phương trưởng không? Như chạm phải nỗi đau, ông đáp một cách khó khăn, giọng nghẹn ứ:
Tôi ngã ngựa sớm, tình cảm vợ chồng sớm nhạt phai khi các cháu còn bé qúa. Từ năm 1990 mà cô, nên cả 6 cháu, bốn trai, hai gái đều thất học cô ạ!
Cũng vì mâu thuẫn trong việc bán đất đấu giá không được giải toả mà từ năm 2003 đến nay ông đã viết 1200 lá đơn gửi các cấp từ chính quyền xã, tỉnh , huyện đến trung ương để đòi hỏi quyền lợi. Trả lại ông 7128 m2 trong số 7700 m2 đất đã thế chấp, vì thực tế số đất mà ông cần để vay 100 triệu chỉ tương đương với 502 m2 đất thôi. Vì vậy riêng với việc khiếu kiện lên giám đốc thẩm đã là 400 lá, 400 lần...
Có thể coi ông như người kiện chuyên nghiệp, bởi công việc của ông hàng ngày ngoài việc chăm sóc bà chị ruột, lo việc sinh hoạt, ăn uống cho hai chị em, cứu chữa người bệnh bằng thuốc nam( không lấy tiền) là ông lăn ra viết đơn, rồi lại đi tới đi lui để gửi, bận bịu đến nỗi - nhiều hôm 1 giờ đêm , hai chị em ông mới được ăn cơm chiều.
Chứng kiến cảnh sống của ông - nghèo kiết xác, trong nhà không có bóng dáng ti vi, tủ lạnh, đài đóm, phải sống bằng lòng từ thiện của hội Cao Đài mà vẫn cưu mang những người cùng khổ bằng cách đi vay thuốc để cứu người, nhiều người ái ngại, cho rằng viên đạn bắn sượt mang tai, làm cháy cả một mảng đầu ông năm nào đã phát huy tác dụng, khiến ông bị "chập mạch, man mát"...Nhưng không , ông mắc bệnh từ thiện từ dòng họ 3 đời, từ ông nội, bố đẻ, nên ông bảo: "Việc kiện của tôi, nếu lấy lại số tiền chênh lệnh của việc bán đấu giá, tôi sẽ lo trả nợ , giữ lại cho mình chút đỉnh, rồi lại làm từ thiện"...Đời ông 68 tuổi, sống qua hai chế độ, ngọt ,bùi ,cay đắng nếm trải đủ rồi, không ước vọng gì cho riêng mình cả.
Nhắc đến số nợ, tôi đắn đo hỏi:
Hiện giờ bác nợ nhiều không?
Ông bảo, giọng nặng như đeo đá
Khoảng 300 triệu cô à
Khiếp, sao nhiều thế? Tôi ngac nhiên- nếu không thắng kiện, bác lấy gì mà trả?
Nỗi đau giằng xé gương mặt ông thành hai nửa, nửa buồn ràu, nửa suy tư, ông bảo:
Tôi còn mảnh đất khoảng 3 mẫu( hơn 3000 m2) do ông nội để lại ở xã Mỹ Quý tây, huyện Đức Huệ tỉnh Long An. Năm 2002, tôi đã thế chấp để vay 50 triệu, phải đều đặn trả lãi từ năm 2002 đến nay, với mức giá 1,75% ...Đã hơn một năm nay không trả lãi rồi , tôi đang lo sợ tháng 9 này, ngân hàng lại đến thu nốt
Trời đất, tôi không tin vào tai mình, tôi hực lên: - Vấp ngã dập mặt phải nhận ra mình, sao bác vay 50 triệu mà lại đem cả 3000 mét đất ra thế chấp, chưa sợ à?
Thì vay để trả mà cô, đâu có phải cậy có đất mà vay tràn cung mây, vay tương đương với gía trị của mảnh đất
Ngoài trời mưa lâm thâm ròng rã, cơn mưa không có khoá, nhưng biết giữ chân khách, tôi tranh thủ hỏi ông vài điều liên quan tới cuộc sống:
Chính quyền đối xử với bác ra sao?
À, ông trầm tĩnh: - Trái ngược lắm, người tốt, kẻ xấu, nhưng số kẻ xấu vẫn lớn hơn...Ví như hai ông Ba Hát, Hai trại, đều là bí thư của ấp hai khoá đối xử với tôi rất tốt, thường xuyên cấp gạo cho bà chị tôi đấy. Riêng trưởng công an của ấp tên là ôn thanh Đạm thì nghiệt súc lắm, cả chục năm trời hắn không bao giờ chịu ký bất cứ một loại giấy tờ nào cho tôi, còn theo dõi, bám sát tôi từng bước, hễ ai đến gặp tôi còn bị kích động, nói xấu, để chia rẽ , vô hiệu hoá việc làm của tôi
Ngoài tên Ôn Thanh Đạm ra, còn gì liên quan nữa không?
Ôi, ông chồm người lên như điện giật: - Cô cứ nhìn cái nhà của tôi thì biết, họ làm đủ mọi cách để cô lập tôi. Nào ném đất đá vào nhà, nào tông xe vào tường làm vỡ cả tường, rồi gãy trụ điện, nào phá ống nước ...cốt để tôi chán ngán mà phải bỏ đi, không kiện tụng gì Nếu 15-9 này họ ủi nhà lấy đất của bác, sẽ phải đền bù bao nhiêu?
Lấy không thôi cô à, vì ngay từ khi có quyết định thu hồi lần 1, họ đã trả tiền nhà là 21 triệu rồi còn 26 triệu tiền đền bù đất thì trả cho bà Vân đó . trên thực tế, đất mặt tiền lộ giới phải được hơn 2 triệu một mét.
Trời đất, chuyện của ông -một cuộc đời trôi nổi thăng trầm, một người đàn ông trong sự hoàn hảo của đàn ông - cứ đưa tôi đi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, quên cả thời gian đang trôi và mưa rơi tí tách bên ngoài, ngòi bút tôi viết không kịp theo mạch chuyện buồn bã của ông.
Chia tay ông rồi , tôi tự hỏi: Từ một người thành đạt, dám bỏ cả số tiền lãi 27 triệu của một công trình để làm từ thiện cho chính quyền địa phương và muôn dân bá tánh...Người có địa vị cao sang" vợ đẹp, con ngoan, nhà cao, cửa rộng , xe đưa xe đón, giờ ngồi bệt xuống đất rồi ông phải đổ lỗi cho ai đây? Cho số phận hẩm hiu, cho cuộc đời khốn nạn hay cho chính bản thân ông?
Người phương Tây nói: "Nếu ta gặp nhiều bất hạnh, người có lỗi là ta. " Cái lỗi duy nhất của ông là đã không biết chọn thời thế, chế độ, lịch sử mà ra đời...Giữa xã hội chủ nghĩa, sự lừa lọc dối trá là bản chất, người đan lồng thì ít, kẻ sập bẫy thì nhiều mà ông lại đề cao nhân tính, mầm thiện, coi thật thà là phương châm sống, coi trung thực là động lực phát triển của xã hội nên đã bị cả một bè lũ lãnh đạo đểu cáng hèn nhát, tham lam, hút máu, từ chủ tịch huyện Nguyễn văn Lỹ đến trưởng công an ấp Ôn Thanh Đạm và người đàn bà bằng tuổi con lớn của ông chèn ép , hút máu.
Xin gửi bài viết này như một thông điệp khẩn đến bà con, cô bác, người Việt trong và ngoài nước, đặc biệt là những người anh em một thời đồng ngũ của ông trong ngôi nhà Việt Nam Cộng Hoà. Hãy chìa bàn tay nhân ái đón ông trong tình thương mến, xẻ chia, bởi ở mảnh đất độc tài này, người thật thà như ông không còn đất sống.
Khâm Thiên- Đêm 13-9-2009
Trần Khải Thanh Thủy

Lễ Đặt Viên Đá đầu tiên xây dựng Tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại thành phố Wichita, Kansas

Wichita, ngày 27tháng 9 năm 2009 .

Hôm nay là một ngày đẹp trời, đã chớm vào Thu nên nắng không còn gay gắt như trước đó một vài tháng nữa.

Những thảm cỏ non xanh rờn đón chào bước chân nhWichita, ngày 27tháng 9 năm 2009 .

Hôm nay là một ngày đẹp trời, đã chớm vào Thu nên nắng không còn gay gắt như trước đó một vài tháng nữa.

Những thảm cỏ non xanh rờn đón chào bước chân những người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản, đổ dồn về bên giòng sông Arkansas êm đềm, để chuẩn bị cho lễ đặt viên đá đầu tiên Xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Thành Phố nhà.

Trải qua một thời gian dài Vận Động, đầy khó khăn thử thách và với nhiệt tâm của chúng ta, những người luôn ăn trái nhớ kẻ trồng cây…

Cuối cùng, thì thành phố đã bằng lòng cấp cho Cộng Đồng người Việt tại Wichita một mảnh đất khang trang, trong khuôn viên Memorial Park, nằm ngay bên bên bờ sông để chúng ta thực hiện ước mơ Ơn Đền Nghĩa Trả !

Ba giờ chiều, gần hai trăm đồng hương hiện diện đã hân hoan chào mừng Ông Thị Trưởng và phái đoàn Thành Phố.

Tiếng trống Múa Lân rộn ràng như thôi thúc nhịp tim những người trai trẻ ngày nào. Hôm nay cũng với bộ chiến y ấy, nhưng mái tóc đã ngả màu sương gió, đang đếm nhịp trong toán rước Quốc Quân Kỳ để làm lễ chào cờ.

Sau đó là phần phát biểu cảm tưởng của một số quan khách, các hội đoàn.

Bài diễn văn của ông Thị Trưởng đã nói lên những cảm tình ưu ái ông dành cho Cộng Đồng người Việt tại thành phố nhà, trước việc làm đầy ý nghĩa của chúng ta.

Sau đó, cũng chính ông là người xắn nhát xẻng đầu tiên nơi mà Biểu Tượng của sự hy sinh cao cả sẽ được long trọng xây dựng.

Viên gạch đầu tiên được ông và vị chủ tịch Cộng Đồng, ông Đoàn Thanh Sung cùng đặt xuống trong tiếng vỗ tay reo mừng của tất cả quý đồng hương và trước ống kính của nhiều đài Truyền Hình, Truyền Thanh giòng chính và của người Việt.

Buổi lễ hoàn tất tốt đẹp, sau đó là phần ẫm thực nhẹ của quý đồng hương đóng góp.

Xin cám ơn những con người đã hiện diện hôm nay, xin cám ơn những tấm lòng, đã đóng góp để xây dựng một công trình quý giá . Quý về tính chất lịch sử bởi nó sẽ là chứng tích cho một cuộc chiến vô cùng gian khổ của người Việt Quốc Gia, chống lại chủ nghĩa vô thần. Quý vì nó nói nên truyền thống đạo đức ngàn đời của người dân Việt :

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN.
MŨ NÂU 11.



Banner chào mừng



Toán Quốc Quân kỳ hành lễ



Chủ tịch Cộng Đồng đọc diễn văn



Thị Trưởng Thành Phố phát biểu.



Thế hệ thứ hai góp tiếng



Trước giờ ra quân.


Những nhát xẻng đâu tiên.


http://www.lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=1539:1539&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58



Subject: Vietnam memorial to honor veterans - Music, dance mark Vietnamese American Community Memorial groundbreaking

Music, dance mark Vietnamese American Community Memorial groundbreaking

Photos

BY DEB GRUVER

The Wichita Eagle


»

The Vietnam War divided many people. Supporters of the Vietnamese American Community Memorial — a controversial project because some didn't want it in Veterans Memorial Park — hope their monument will bring people together.

At the groundbreaking ceremony for the memorial, on city-owned land separated by a berm from the park —Mayor Carl Brewer said it will "remind us of a time when our country was divided" over the Vietnam War.

"Some of those wounds have healed, and some remain with us today," he said. "The scars of war are never easily covered. But this memorial represents an opportunity to look ahead.... It will remind us that our freedoms cannot be taken for granted."

The memorial, expected to be completed in early 2011, will honor the sacrifices of Americans and South Vietnamese who fought the communist North Vietnamese.

Sung Thanh Doan, president of the Vietnamese American Community of Wichita, told veterans in the crowd that "you (were) side-by-side with us in the war."

He also thanked Wichita for welcoming Vietnamese-American residents "arm in arm" in the community.

The groundbreaking ceremony was mostly in Vietnamese and featured traditional dragon dances and music. Veterans wore their uniforms, and some women wore traditional long Vietnamese dresses.

When Veterans Memorial Park was dedicated in the 1970s, there were no stipulations about who could be memorialized there.

In 2006, the city's park board approved the Vietnamese Community of Wichita's proposed memorial, but it quickly drew opponents who thought the park should only honor U.S. soldiers.

In April, the Wichita City Council approved the location of the Vietnamese memorial by a 7-0 vote negotiated by City Manager Robert Layton.

It will be separated from the park by an earthen berm at least 6 feet tall, and no sidewalk will link the two areas.

Van Nguyen, president of the Vietnamese Student Association, attended the groundbreaking with several other students who will help care for the memorial.

Nguyen said the memorial is exciting for those of her generation.

"We don't get to experience a lot of this," she said of events highlighting the Vietnamese culture.

"We tend to forget about our own culture," she said.


http://www.kansas.com/news/story/989329.html


---

ững người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản, đổ dồn về bên giòng sông Arkansas êm đềm, để chuẩn bị cho lễ đặt viên đá đầu tiên Xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Thành Phố nhà.

Trải qua một thời gian dài Vận Động, đầy khó khăn thử thách và với nhiệt tâm của chúng ta, những người luôn ăn trái nhớ kẻ trồng cây…

Cuối cùng, thì thành phố đã bằng lòng cấp cho Cộng Đồng người Việt tại Wichita một mảnh đất khang trang, trong khuôn viên Memorial Park, nằm ngay bên bên bờ sông để chúng ta thực hiện ước mơ Ơn Đền Nghĩa Trả !

Ba giờ chiều, gần hai trăm đồng hương hiện diện đã hân hoan chào mừng Ông Thị Trưởng và phái đoàn Thành Phố.

Tiếng trống Múa Lân rộn ràng như thôi thúc nhịp tim những người trai trẻ ngày nào. Hôm nay cũng với bộ chiến y ấy, nhưng mái tóc đã ngả màu sương gió, đang đếm nhịp trong toán rước Quốc Quân Kỳ để làm lễ chào cờ.

Sau đó là phần phát biểu cảm tưởng của một số quan khách, các hội đoàn.

Bài diễn văn của ông Thị Trưởng đã nói lên những cảm tình ưu ái ông dành cho Cộng Đồng người Việt tại thành phố nhà, trước việc làm đầy ý nghĩa của chúng ta.

Sau đó, cũng chính ông là người xắn nhát xẻng đầu tiên nơi mà Biểu Tượng của sự hy sinh cao cả sẽ được long trọng xây dựng.

Viên gạch đầu tiên được ông và vị chủ tịch Cộng Đồng, ông Đoàn Thanh Sung cùng đặt xuống trong tiếng vỗ tay reo mừng của tất cả quý đồng hương và trước ống kính của nhiều đài Truyền Hình, Truyền Thanh giòng chính và của người Việt.

Buổi lễ hoàn tất tốt đẹp, sau đó là phần ẫm thực nhẹ của quý đồng hương đóng góp.

Xin cám ơn những con người đã hiện diện hôm nay, xin cám ơn những tấm lòng, đã đóng góp để xây dựng một công trình quý giá . Quý về tính chất lịch sử bởi nó sẽ là chứng tích cho một cuộc chiến vô cùng gian khổ của người Việt Quốc Gia, chống lại chủ nghĩa vô thần. Quý vì nó nói nên truyền thống đạo đức ngàn đời của người dân Việt :

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN.
MŨ NÂU 11.



Banner chào mừng



Toán Quốc Quân kỳ hành lễ



Chủ tịch Cộng Đồng đọc diễn văn



Thị Trưởng Thành Phố phát biểu.



Thế hệ thứ hai góp tiếng



Trước giờ ra quân.


Những nhát xẻng đâu tiên.


http://www.lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=1539:1539&catid=39:sinhhoatcongdong&Itemid=58



Subject: Vietnam memorial to honor veterans - Music, dance mark Vietnamese American Community Memorial groundbreaking

Music, dance mark Vietnamese American Community Memorial groundbreaking

Photos

BY DEB GRUVER

The Wichita Eagle


»

The Vietnam War divided many people. Supporters of the Vietnamese American Community Memorial — a controversial project because some didn't want it in Veterans Memorial Park — hope their monument will bring people together.

At the groundbreaking ceremony for the memorial, on city-owned land separated by a berm from the park —Mayor Carl Brewer said it will "remind us of a time when our country was divided" over the Vietnam War.

"Some of those wounds have healed, and some remain with us today," he said. "The scars of war are never easily covered. But this memorial represents an opportunity to look ahead.... It will remind us that our freedoms cannot be taken for granted."

The memorial, expected to be completed in early 2011, will honor the sacrifices of Americans and South Vietnamese who fought the communist North Vietnamese.

Sung Thanh Doan, president of the Vietnamese American Community of Wichita, told veterans in the crowd that "you (were) side-by-side with us in the war."

He also thanked Wichita for welcoming Vietnamese-American residents "arm in arm" in the community.

The groundbreaking ceremony was mostly in Vietnamese and featured traditional dragon dances and music. Veterans wore their uniforms, and some women wore traditional long Vietnamese dresses.

When Veterans Memorial Park was dedicated in the 1970s, there were no stipulations about who could be memorialized there.

In 2006, the city's park board approved the Vietnamese Community of Wichita's proposed memorial, but it quickly drew opponents who thought the park should only honor U.S. soldiers.

In April, the Wichita City Council approved the location of the Vietnamese memorial by a 7-0 vote negotiated by City Manager Robert Layton.

It will be separated from the park by an earthen berm at least 6 feet tall, and no sidewalk will link the two areas.

Van Nguyen, president of the Vietnamese Student Association, attended the groundbreaking with several other students who will help care for the memorial.

Nguyen said the memorial is exciting for those of her generation.

"We don't get to experience a lot of this," she said of events highlighting the Vietnamese culture.

"We tend to forget about our own culture," she said.


http://www.kansas.com/news/story/989329.html


---

CNN phỏng vấn Ông Nguyễn Minh Triết: Những dị biệt và những thêm bớt...


VietCatholic News (07 Jul 2007 16:51)
Những dị biệt khác thường và không trung thực trong bài phỏng vấn tiếng Anh của CNN với ông Nguyễn Minh Triết ngày 24/6/2007 khác với bài của báo Nhân Dân, báo Tuổi Trẻ và đài BBC đưa ra ngày 6/7/2007 liên quan tới bài phỏng vấn về LM Nguyễn Văn Lý, về Nhân Quyền, về Tự do Tôn giáo tại Việt Nam
ÔNG WOLF BLITZER CỦA ĐÀI CNNBẢN DỊCH CỦA VIETCATHOLICBÀI BÁO: NHÂN DÂN,TUỔI TRẺ,VÀ BBC
BLITZER: Did the president of the United States raise specific cases with you, individuals, names of people the United States feels are -- their human rights are being violated in Vietnam ? Tổng thống Hoa Kỳ có nêu những trường hợp đặc biệt nào, như các cá nhân, những tên tuổi mà Hoa Kỳ cảm thấy – nhân quyền của họ đã bị vi phạm tại Việt Nam hay không? LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH: Tổng thống Mỹ đã có đưa ra những trường hợp cụ thể những ai bị xúc phạm nhân quyền không? (người dịch không đúng hẳn ý câu hỏi)
TRIET (QUA NGƯỜI THÔNG DỊCH): We have agreed that this is a matter that we would exchange views between us, not to divulge to the outside.Chúng tôi đã đồng ý rằng về việc này chỉ trao đổi các quan điểm giữa chúng tôi thôi, chứ không muốn phát tán ra ngoài.NGƯỜI THÔNG DỊCH ÔNG TRIẾT: Tổng thống thống nhất rằng chúng tôi chỉ bàn với nhau, không nên nói những vấn đề cụ thể.
BLITZER: Because I ask that specific question, because the president at June 5th conference on democracy and security, a conference that he had in Prague, he did mention one specific name, Father Nguyen Van Ly of Vietnam, someone that he said -- he included within a group of others around the world whose human rights were being violated. Tôi muốn đặt ra câu hỏi cụ thể này, bời vì Tổng thống (Bush) trong Hôị nghị về dân chủ và an ninh vào ngày 5 tháng 6 được tổ chức tại Prague, đã có nhắc đến một người cụ thể là LM Nguyễn Văn Lý của Việt Nam, người mà tổng thống nói – ông cho vào số nhóm những người trên thế giới mà nhân quyền của họ bị vi phạm. LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH: Tôi đưa vấn đề này ra vì trong hội nghị tháng năm, tháng sáu ở Pháp, Tổng thống Bush có đưa ra việc Nguyễn Văn Lý bị vi phạm nhân quyền? (người dịch cũng không sát ý với câu hỏi)
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Reverend Nguyen Van Ly was brought to court because of these violations of the law. It absolutely is not a matter of religionLinh mục Nguyễn văn Lý được đưa ra tòa bởi vì các vi phạm luật pháp. Nhất định là không phải vì vấn đề tôn giáo. (chữ đỏ bên phải không có trong phỏng vấn)LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH LỜI ÔNG TRIẾT: Ông ta vi phạm pháp luật VN. Ðây hoàn toàn là vấn đề pháp luật, không phải là vấn đề tôn giáo. Việc xét xử ông ta được Hội đồng giám mục VN và Tòa thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi.
BLITZER: I'm going to show you a picture that was seen around the world, and it caused a lot of concern, especially here in the United States. You're probably familiar with this picture.Tôi đưa ông xem tấm hình đã được khắp thế giới nhìn thấy, và tấm hình này gây rất nhiều quan tâm, đặc biệt ợ tại Hoa Kỳ đây. Có lẽ ông cũng quen với tấm hình này chứ. LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH: Tôi không biết trong lúc xử ông Lý có lời lẽ thô bạo hay không (PV vừa hỏi vừa đưa tấm ảnh Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng tại tòa và hỏi Chủ tịch nước có biết tấm ảnh này hay không)?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): -- Yes, I do know this picture. During the trial, Reverend Ly also uttered violent and bad words at his trial. And that is why you have seen on the picture what happened. I can assure that to cover somebody's mouth like that is not good. It would take a good measure in order to take care of this matter. And this is a mistake make staff right there. It's not the government policy of doing such a thingtd>Vâng, tôi biết tấm hình này. Trong phiên xử, LM Lý cũng đã thốt ra những lời bạo động và xấu xa. Và đó là lý do tại sao ông thấy sự gì đã xẩy ra như trên tấm hình. – Tôi bảo đảm với ông rằng việc bịt miệng một người nào đó như vậy là không tốt. Có thể cần phải có nhiều thời gian và cách thế tốt nào đó hầu đối phó với sự kiện này. Và lỗi lầm này là do nhân viên gây ra ngay tại đó. Đó không phải là chính sách chính phủ thi hành việc như vậy. NGƯỜI THÔNG DỊCH LỜI ÔNG TRIẾT: Tôi biết, trong lúc xét xử ông Lý có những lời lẽ thô bạo, chửi bới chánh tòa nên đã xảy ra chuyện bịt miệng. Chúng tôi khẳng định việc này là không tốt, không đúng... Những việc này sẽ bị xử lý, đây là một sai sót của một nhân viên bình thường, không phải chủ trương của Nhà nước VN. Bất cứ ở đâu cán bộ thừa hành cũng có thể để xảy ra sai sót, nhưng không đồng nghĩa với chủ trương của Nhà nước
(Câu này không có trong câu hỏi của ông Blitzer!)Có báo cáo nói rằng Nguyễn Văn Lý la lên tại tòa?
(Và dĩ nhiên câu trả lời là do các báo nêu trên bịa đặt ra!!!)Ông ta không chỉ la lên mà ông ta còn đạp bàn, đạp ghế kèm với những lời lẽ thô tục. Nhưng tôi khẳng định dù bất cứ lý do nào, hành động bịt miệng vẫn là không đúng và tôi mong các ông không nên khai thác quá nhiều vào chi tiết này
BLITZER: -- I want to move on to some other subjects, but one final question on the dissidents, the human rights part. On the eve of your visit here, you released two prisoners, two political prisoners, as they are described. There are at least another half a dozen, if not more, who are being held. Do you think others will be released anytime soon, including Father Nguyen Van Ly?Tôi muốn chuyển sang vài đề tài khác, nhưng còn câu hỏi cuối cùng về những người bất đồng chính kiến, về phần nhân quyền. Ngày trước khi ông lên đường thăm đây (Hoa Kỳ), ông đã thả 2 tù nhân, hai tù nhân chính trị, như họ được mô tả. Còn ít nhất là nửa tá người như vậy, nếu không muốn nói là số người nhiều hơn nữa, những người còn đang bị giam giữ. Ông có nghĩ là những người khác đó sẽ sớm được thả ra không, gồm cả Cha Nguyễn văn Lý? LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH: Chúng ta hãy nói qua vấn đề khác, về nhân quyền? Khi Ngài sắp đi thì có hai người tù được thả. Vậy còn một số người nữa có được thả không? (không dịch đúng câu hỏi của ông Blitzer!)
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Those violators of the law, they were put away because of their violations. And whether they are released depending on the attitude and the perceptions of what wrong they have done. I would like to tell you that Vietnam has experienced long years of war, and during that period, Vietnamese people did not enjoy full human rights. Many of us were arrested, were put into prison, tortured, without recourse to the court. We conducted the liberation war in order to regain our human rights. And therefore, more than anybody else, we love human rights, and we respect them. Perhaps you cannot truly understand or sense how much we hold in high regard human rightsĐó những những người vi phạm luật pháp, họ bị đưa đi chỗ khác là vì họ có những vi phạm. Họ có được thả hay không thì tùy vào thái độ và những nhận thức của họ về những việc họ đã làm có biết là sai hay không. Tôi muốn nói cho ông biết rằng Việt Nam đã có kinh nghiệm nhiều năm chiến tranh, trong trong thời gian chiến tranh đó, dân Việt Nam đã không được hưởng những nhân quyền đầy đủ. Nhiều người trong chúng tôi bị bắt, bị bỏ tù, bị tra tấn, mà không chạy tới tòa nào kêu cứu được. Chúng tôi đã lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng hầu láy lại các nhân quyền của chúng tôi. Và hơn thế. hơn bất kỳ ai khác, chúng tôi yêu nhân quyền, và chúng tôi trọng nhân quyền. Có lẽ ông không thể hiểu thực sự hay là cảm được chúng tôi coi trọng nhân quyền cao qúy đến mức nào. (chử đỏ không có trong phỏng vấn!)NGƯỜI THÔNG DỊCH LỜI ÔNG TRIẾT: Vi phạm pháp luật thì bị xử lý theo pháp luật, còn có thả hay không tùy thuộc vào người ta có thành khẩn nhận lỗi đến đâu. Nhân đây tôi muốn nói với ông rằng VN trải qua nhiều năm chiến tranh. Trong thời kỳ đó người dân VN không có đầy đủ quyền con người. Người ta bắt bớ, giam cầm, tra tấn không cần ra tòa. Chúng tôi đã đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại quyền con người đã mất. Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi rất yêu nhân quyền. Ông không thể hiểu nổi tình yêu đó. Bây giờ đất nước VN có luật pháp của VN. VN cần an ninh và ổn định để phát triển, vì vậy ai vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý.
BLITZER: I don't know if you're aware that, outside of the White House, when you were there with the president, there were some demonstrations, Vietnamese-Americans who are concerned. I wonder if you have any message to the Vietnamese- American community who remain very fiercely proud of their Vietnamese heritage, but also would like to see the situation in Vietnam improve, and that's why many of them were demonstrating here outside the White House.Tôi không biết là ông có biết hay không, ở ngoài Nhà Trắng, khi ông đang gặp Tổng thống, đã có vài cuộc biểu tình, những người Mỹ gốc Việt là những người quan tâm. Tôi không biết là Ông có thông điệp nào muốn gửi tới công đồng Mỹ Việt, là những người còn rất mãnh liệt tự hào về di sản gốc Việt Nam của họ, nhưng họ cũng muốn nhìn thấy tình trạng tại Việt Nam được cải tiến. và đó là lý do tại sao có nhiều người họ biểu tình khi đó bên ngoài Nhà Trắng như vậy.LỜI NGƯỜI THÔNG DỊCH: Trong cuộc gặp tổng thống có một số người Mỹ gốc Việt biểu tình ở phía ngoài. Thông điệp của Ngài đối với Việt kiều như thế nào? (không dịch đúng câu hỏi của ông Blitzer!)
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Our message is that the Vietnamese living abroad, in general, and in the United States in particular, is part and parcel of the Vietnamese nation. The blood they have is the blood of the Vietnamese. The flesh they have is the flesh of the Vietnamese.The government of Vietnam wants to see them succeed in the United States, and we also would like to see them to serve as a bridge between the United States and Vietnam. As far as our differences in views and opinion, we should exchange dialogues in order to solve those differences. We invite them to come back to visit Vietnam in order to see with their own eyes our changes, our improvements.Thông điệp của chúng tôi là người Việt nam sống ở hải ngoại nói chung, và đặc biệt tại Hoa Kỳ nói riêng, là thành phần, là một mảng của quốc gia Việt nam. Dòng máu của họ là dòng máu người Việt nam. Thịt của họ là thịt Việt nam. Chính phủ Việt nam muốn thấy họ thành đạt tại Hoa Kỳ, và cũng muốn họ trở thành chiếc cầu nối giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Còn về các cái nhìn và ý kiến của chúng ta có khác nhau, chúng ta nên trao đổi trong các cuộc đối thoại ngõ hầu giải quyết các khác biệt đó. Chúng tôi mời qúi vị đó về thăm Việt nam ngõ hầu thấy tận mắt những thay đôỉ của chúng tôi, những tiến triển của chúng tôi. (Chữ đỏ phịa ra không có trong cuộc phỏng vấn!) NGƯỜI THÔNG DỊCH LỜI ÔNG TRIẾT: Cộng đồng người Việt ở nước ngoài không thể tách rời với dân tộc VN. Họ là máu của máu VN và là thịt của thịt VN. Nhà nước VN mong họ thành đạt ở Hoa Kỳ và củng cố quan hệ hai dân tộc VN-Hoa Kỳ. Còn các khác biệt, bất đồng thì nên cùng nhau trao đổi tìm cách giải quyết. Chúng tôi mời họ về quê hương để họ thấy được những đổi mới tiến bộ của đất nước. Các ông hẳn biết ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu phó tổng thống Sài Gòn trước đây, đã về nước, thấy những đổi thay của đất nước và ông ta đã chúc mừng những đổi thay đó.
Lm Trần Công Nghị

VĂN CHƯƠNG ĐỐI KHÁNG, TRƯỜNG HỢP NHÂN VĂN-GIAI PHẨM

VĂN CHƯƠNG ĐỐI KHÁNG,
TRƯỜNG HỢP NHÂN VĂN-GIAI PHẨM

Trần Gia Phụng

(Bài 1)

NVGP_200_090509

Nhân Văn – Giai Phẩm là tên của hai đặc san xuất bản vào đầu năm 1956 tại Hà Nội, đã đăng những bài báo bị chế độ cộng sản kết án là đối kháng và không chấp nhận sự “lãnh đạo văn nghệ” của đảng. Chẳng những hai đặc san nầy bị đóng cửa mà các tác giả bị đấu tố, kết án và có người không chịu khuất phục nên bị trù giập suốt đời. Để hiểu rõ câu chuyện, hãy thử bắt đầu từ tổng quan hoàn cảnh nẩy sinh ra vụ án văn chương đối kháng nầy.

I.- TỔNG QUAN

1.- CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chế độ cộng sản Việt Nam là chế độ độc tài toàn trị, theo mẫu mực của chế độ cộng sản Liên Xô và cộng sản Trung Hoa, tức độc tài về mọi mặt, mọi sinh hoạt, như chính trị, kinh tế, tài chánh, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tư tưởng, thông tin, báo chí…

Về giáo dục, chính sách giáo dục của Việt Minh (VM) do Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993) đưa về từ Liên Xô. Nguyễn Khánh Toàn là thứ trưởng bộ Giáo dục trong chính phủ VM ngày 3-11-1946. Tuy chỉ là thứ trưởng, nhưng Nguyễn Khánh Toàn nắm thực quyền trong bộ Giáo dục, còn bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chỉ làm bù nhìn mà thôi. Nguyễn Khánh Toàn, có tên Nga là Minin, đã tòng học tại Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des Travailleurs d’Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.

Nguyễn Khánh Toàn ứng dụng triết lý giáo dục của Liên Xô, gọi là “giáo dục phục vụ nhân dân” hay “giáo dục phục vụ chính trị”. Đó là nền giáo dục nhằm mục đích trên lý thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lãnh đạo.(1)

Giáo dục học đường nhắm mục đích phục vụ chính trị, phục vụ chế độ, thì chính sách văn hóa cũng không ngoài mục đích nầy. Khi chiến tranh xảy ra vào cuối năm 1946, dựa vào lý do phục vụ công cuộc kháng chiến chống Pháp, VM kiểm soát chặt chẽ tất cả các sinh hoạt văn hóa. Sách báo, thơ nhạc, kịch nghệ ở vùng VM rất hạn chế, chỉ xoay quanh chủ đề kháng Pháp, chiến thắng giặc “Tây”, và chủ đề nông nghiệp. Những nội dung lãng mạn bị hạn chế, bị kiểm điểm và dần dần hầu như bị cấm đoán.

Sau hiệp định Genève (20-7-1954), đất nước bị chia hai ở sông Bến Hải, ngang qua vĩ tuyến 17. Đảng Lao Động (LĐ) và Hồ Chí Minh cai trị phía Bắc (Bắc Việt). Hồ Chí Minh tiếp tục chính sách kiểm soát văn hóa, giới hạn các sinh hoạt văn hóa trong đường lối đảng.

Cần chú ý là cộng sản chỉ xem hiệp định Genève (20-7-1954) là cơ hội tạm thời hưu chiến, nghỉ dưỡng sức, và cài người ở lại miền Nam, “trường kỳ mai phục”, chuẩn bị tiếp tục chiến tranh chống miền Nam. (2) Sau năm 1954, để chuẩn bị gởi quân xâm lăng miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt tìm cách ổn định tuyệt đối hậu cứ ở miền Bắc.

Lúc cộng sản mới tiếp thu miền Bắc, về phương diện chính trị, Hồ Chí Minh và đảng LĐ quyết áp đặt trên toàn miền Bắc chế độ độc tài đảng trị theo chủ thuyết Mác-Lê, khác hẳn với truyền thống văn hóa và chính trị của người Việt từ trước đến nay. Đảng LĐ đã đưa ra kế hoạch chiến lược dài hạn: quản lý chặt chẽ dân số toàn quốc, áp đặt nền kinh tế chỉ huy, và quản lý văn hóa tư tưởng theo đường lối cộng sản.

Về trị an xã hội, tháng 9-1955, nhà nước cộng sản ra lệnh “quản lý hộ khẩu”, theo bài bản của Liên Xô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH). Tất cả công dân đều phải có sổ hộ khẩu [sổ gia đình] do công an địa phương cấp. Sổ hộ khẩu buộc chặt người dân ở yên một chỗ, rất khó xin chuyển đổi nơi cư trú. Nhà cầm quyền cộng sản dùng sổ hộ khẩu kiểm soát dân chúng, bắt lính dễ dàng. Không một thanh niên nào dám trốn tránh “nghĩa vụ quân sự”, vì nếu không thi hành chính sách của nhà nước, sổ hộ khẩu sẽ bị tịch thu, thì gia đình sẽ không còn cách gì làm ăn sinh sống được nữa.

Về kinh tế, đảng LĐ theo con đường kinh tế chỉ huy của Liên Xô và CHNDTH. Trước hết, CSVN nhắm ngay đến thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam là nông dân. Cộng Sản tiếp tục thi hành Cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt 5 từ tháng 6-1955 cho đến tháng 7-1956, một cách gay gắt sắt máu hơn các cuộc cải cách trước, tổ chức đấu tố rùng rợn, hủy hoại cấu trúc hạ tầng cơ sở, triệt hạ toàn bộ các hào mục lãnh đạo xã thôn cũ để thay bằng lớp cán bộ cộng sản mới. Cuộc CCRĐ lần nầy giết hại 172,008 người.(3)

Tại thành phố, đối với các ngành sản xuất và thương mại, nhà nước cộng sản cho thi hành kế hoạch công tư hợp doanh. Dưới chế độ cộng sản, công tư hợp doanh có nghĩa là tư nhân đưa tài sản riêng của mình, tức là cơ sở riêng mình đang đầu tư, vào hợp doanh với nhà nước. Tất cả mọi doanh gia đều phải vào công tư hợp doanh. Ngày 24-11-1955, ban bí thư Trung ương đảng LĐ ra lệnh thiết lập hợp tác xã mua bán ở nông thôn và hợp tác xã tiêu thụ ở các thành phố,(4) nắm toàn bộ việc lưu thông và phân phối hàng hóa trong cả nước.

Về phương diện thông tin và văn hóa, ngay khi vừa về Hà Nội ngày 15-10-1954, Hồ Chí Minh và nhà cầm quyền cộng sản đưa ra một số quy định nghiêm cấm báo chí trong tháng 10-1954, đại để là: “Không được chống chính phủ và chế độ; không được xúi giục nhân dân và bộ đội làm loạn; không được nói xấu các nước bạn; không được tiết lộ các bí mật quân sự; không được đăng bài vở có phương hại đến thuần phong mỹ tục”.(5) Đây là bước đầu quản lý văn hóa tư tưởng giới trí thức văn nghệ sĩ thành phố.

2.- TÂM TÌNH GIỚI TRÍ THỨC VÀ VĂN NGHỆ SĨ BẮC VIỆT SAU 1954

Giới trí thức và văn nghệ sĩ chân chính là những người nhạy bén trước những hiện tượng xã hội và chính trị, nhất là vấn đề tự do dân chủ. Trong thời gian chiến tranh, giới trí thức và văn nghệ sĩ miền Bắc sống phân tán khắp nơi. Vì tinh thần đoàn kết, vì lý tưởng dân tộc, trong thời gian chiến tranh, các trí thức, văn nghệ sĩ đều nhẫn nhục, chấp nhận đặt mình vào kỷ luật, để cùng nhau đoàn kết chống Pháp. Cần chú ý, trước khi theo Việt Minh (VM), họ là những người đã từng sinh sống ở các thành phố và hấp thụ tinh thần tự do dân chủ của nền văn hóa Pháp.

Sau khi hòa bình được tái lập, giới trí thức và văn nghệ sĩ tập trung về Hà Nội, nên có cơ hội gặp nhau để bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm, và so sánh những hứa hẹn của Hồ Chí Minh và đảng LĐ trước kháng chiến với thực tại xã hội mới sau năm 1954. Dưới chế độ mới của cộng sản Hà Nội, người nghệ sĩ chẳng những cảm thấy cay đắng vì bất công xã hội, mà còn bị mất tự do, nhất là tự do tư tưởng và sáng tác. Họ bị bắt buộc phải theo sát giáo điều Mác xít và đường lối chính sách của nhà nước, đến nỗi có người đã phát biểu: “Hai năm hòa bình, chúng ta thấy nhiều nhà văn (trước kia) có tài, (ngày nay) bị buộc chặt vào địa vị, bằng những sợi lụa có tẩm độc. Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo…” (6)

Chính lối viết văn như thông cáo, làm thơ theo chỉ thị, đã gây dị ứng nơi những văn nghệ sĩ chân chính, nhất là khi đọc những bài thơ đại loại như:

“…Sta-lin! Sta-lin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Sta-lin! …”

(Tố Hữu, “Đời đời nhớ ông”, viết năm 1953) (HVC, sđd.200)

Hoặc:
“…Mẹ xưa chăm cháo, chăm cơm,
Đảng nay nuôi nấng còn hơn mẹ hiền.
Bệnh từ đời cũ liên miên,
Đảng trong thức ngủ chăm liền sớm hôm…”

(Xuân Diệu, “Trước đây bốn tháng”, viết năm 1953) (7)

Trước tình hình như vậy, thi sĩ Hữu Loan nhận xét:

“…Một điều đau xót,
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ “Dân chủ Cộng hòa”
Những thằng nịnh hót còn thênh thang đất sống…”

(”Cùng những thằng nịnh hót”) (8)

Trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trên Giai Phẩm Mùa Thu, tập 1 (Hà Nội, 1956), Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ lúc đó ở Bắc Việt thành hai giai cấp rõ rệt: đó là “lãnh đạo văn nghệ” và “quần chúng văn nghệ”.(9) “Lãnh đạo văn nghệ” còn được gọi là những “ông quan văn nghệ” gồm những người viết văn theo lệnh đảng LĐ, được đảng tin cậy và giao phó nhiệm vụ chỉ huy nền văn nghệ cộng sản.

Đứng đầu những “ông quan văn nghệ” là Tố Hữu, uỷ viên Trung ương đảng, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương. Thứ đến là những người đã giác ngộ sâu sắc sau phong trào chỉnh huấn, ngoan ngoản vâng lệnh đảng LĐ, và được lãnh đạo đảng tin dùng, như Hoàng Xuân Nhị, Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên), Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Chương, Hồng Chương, Hà Xuân Trường, Chính Hữu, Như Phong (NMC, sđd. 83). Ngoài ra, phải kể thêm Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thế Lữ. Nguyễn Tuân đã có lần can đảm tuyên bố một cách chua chát: “Tao còn sống đến bây giờ là còn biết sợ! ” (10)

“Quần chúng văn nghệ” là những thành phần còn lại, yêu nước và yêu tự do dân chủ, không muốn bị gò bó trong khuôn khổ giáo điều và sự quản lý chỉ đạo của “lãnh đạo văn nghệ”. Thành phần quần chúng văn nghệ đông đảo hơn và hăng say tranh đấu cho tự do sáng tác. Họ không thể viết thẳng ra, nên chỉ nói bóng gió như Văn Cao trong bài thơ dài “Những người trên cửa biển”, đăng trên Giai Phẩm Mùa Thu tập 2, Hà Nội, tháng 10-1956:

“… Những con bạch tuộc
Bao nhiêu tay chân gìm chết một con người
Đất nước đang lên da lên thịt
Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày
Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
Đã thấy loài sâu nằm trong cuống
Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng
Mòn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang
Làm rỗng những con người, lùi dần niềm hy vọng
Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người….”

(HVC, sđd. 225.)

3.- NHỮNG NHÀ VẬN ĐỘNG

Trước khi những văn nghệ sĩ Hà Nội thực sự cùng nhau bắt tay vào việc tranh đấu đòi hỏi tự do văn nghệ năm 1956, đã có nhiều nhà hoạt động văn hóa vận động, yểm trợ và thúc đẩy các văn nghệ sĩ trong việc đưa ra tiếng nói trung thực của mình để phản kháng chế độ cộng sản can thiệp thô bạo vào nền tự do tư tưởng. Đó là Nguyễn Hữu Đang, Thụy An Lưu Thị Yến, Trần Thiếu Bảo, Hoàng Cầm và Trần Dần.

Nguyễn Hữu Đang quê ở Thái Bình, tham gia những phong trào ái quốc rất sớm. Trước năm 1942, ông hoạt động trong phong trào “Truyền bá Quốc ngữ”. Có thể trong thời gian nầy, ông đã tiếp xúc với VM nên được VM phân công tham gia “Hội Văn hóa Cứu quốc” năm 1942. Khi VM cướp chính quyền năm 1945, tại Hà Nội, ông rất có uy tín trong giới trí thức, văn nghệ sĩ Hà Nội. Ông là trưởng ban tổ chức ngày lễ 2-9-1945 của VM tại Hà Nội, (11) và sau đó đã giữ chức thứ trưởng một bộ trong chính phủ Hồ Chí Minh. (NMC, sđd. 77).

Nguyễn Hữu Đang gia nhập đảng Cộng Sản năm 1947, lúc đó đảng nầy hoạt động trong vòng bí mật, nhưng ông lại ra khỏi đảng năm 1951, và bắt đầu lên tiếng đả kích những sai trái của đảng.(12) Trong thời gian ở Thanh Hóa khoảng 1952-1953, Nguyễn Hữu Đang làm tổng thanh tra Bình dân học vụ. Sau năm 1954, Trung ương đảng LĐ cho xe vào Thanh Hóa mời Nguyễn Hữu Đang ra Hà Nội, muốn nhận chức bộ trưởng nào thì nhận, mời sinh hoạt đảng trở lại, nhưng ông Đang đều khước từ.(13)

Nguyễn Hữu Đang là người đứng ra tập họp anh em, vận động ra báo. Trong vụ Nhân Văn, Nguyễn Hữu Đang lo việc quyên góp tài chánh, chạy mua giấy in, sắp đặt chuyện ấn hành, lại còn viết nhiều bài ký tên khác. Cách gây quỹ của ông rất khéo léo nên được nhiều người ủng hộ. Trong đợt học tập của các trí thức và văn nghệ sĩ từ ngày 1-8 đến 18-8-1956 ở Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang đọc một bài tham luận mạnh mẽ, đả kích đường lối lãnh đạo văn nghệ của đảng LĐ.

Trần Thiếu Bảo: Nguyễn Hữu Đang quen thân với Trần Thiếu Bảo từ trước 1945. Trần Thiếu Bảo thuộc một gia đình giàu có ở Thái Bình. Ông mở nhà sách Minh Đức, vì vậy người ta còn gọi là ông Minh Đức. Sau nhà sách biến thành nhà xuất bản. Nhà xuất bản nầy cùng chủ lên chiến khu cho đến năm 1954 mới trở về Hà Nội.

Trong năm 1956, nhà xuất bản Minh Đức của Trần Thiếu Bảo đã đứng ra ấn hành các giai phẩm gồm có Giai Phẩm 1956 (sau nầy gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân) Giai Phẩm Mùa Thu 1, 2 và 3, Giai Phẩm Mùa Đông, báo Nhân Văn từ số 1 đến số 6 (bị đóng cửa khi còn đang in), và giai phẩm Đất Mới (của sinh viên đại học Hà Nội, ra một số thì bị đình bản).

Thụy An Lưu Thị Yến là một nữ văn sĩ kỳ cựu, đã từng cộng tác với báo Phụ Nữ Tân Văn, (14) và là tác giả của tiểu thuyết Một linh hồn, mà theo nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong sách Nhà văn hiện đại: “Một linh hồn đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước cho đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, lại xây dựng một cách vững vàng chắc chắn.”(15)

Thụy An thường đến sinh hoạt ở Hội Nhà văn, gặp gỡ nhiều văn nghệ sĩ. Bà là một nữ văn sĩ lớn tuổi kỳ cựu, trải qua nhiều trào lưu chính trị, có nhiều kinh nghiệm sống thực tế, lại rất hào phóng giúp đỡ anh em trong lúc khó khăn, nên bà được nhiều người quý mến. Bà phản đối chế độ cộng sản đã bần cùng hóa nhân dân, và bà khuyến khích giới văn nghệ nói lên tiếng nói lương tâm. Sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, trong bản tự kiểm, Lê Đạt viết về Thụy An như sau: “Mỗi lần ở nhà Thụy An ra là mỗi lần tôi thấy mình tài giỏi thêm và chán nản thêm, lòng tin tưởng của tôi mất dần khi Thụy An nói đến những con người không đất đứng và tôi cũng tự hỏi đất đứng của mình ở đâu?”(Thụy Khê, bđd.).

Hoàng Cầm: Người đầu tiên vận động đòi hỏi tự do văn nghệ ngay từ lúc còn ở trong chiến khu có lẽ là Hoàng Cầm. Năm 1950, trong một hội nghị văn công tổ chức ở Việt Bắc, Hoàng Cầm, lúc đó phụ trách đoàn Văn công quân đội khu Việt Bắc, đã phát biểu: “Đảng không nên nhúng tay vào chuyên môn của nghệ thuật”. Về Hà Nội sau khi hòa bình tái lập năm 1954, tuy được cử làm đoàn trưởng Đoàn kịch Tổng cục chính trị trong quân đội, Hoàng Cầm vẫn tiếp tục đòi hỏi tự do cho giới văn nghệ. Ông cùng với Trần Dần quyết tranh đấu cho việc cởi trói văn nghệ, nhưng thất bại nên ông xin ra khỏi quân đội và từ nhiệm.(16)

Trần Dần (1926-1997): Trần Dần sinh năm 1924 tại Nam Định, theo kháng chiến chống Pháp, vào bộ đội rồi vào đảng LĐ. Ông phụ trách tuyên truyền, điều khiển đoàn văn công. Năm 1951, ông đổi qua viết báo Cứu Quốc và giảng dạy về văn nghệ nhân dân và chính sách lãnh đạo văn nghệ của đảng trong các lớp đào tạo văn công.

Ông bị cấp trên phê bình giảng sai đường lối. Ông lại ra tiền tuyến, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Cảm xúc trước sự hy sinh lớn lao của những đồng đội trong trận Điện Biên Phủ, Trần Dần sáng tác quyển ký sự Người người lớp lớp. Nhờ sách nầy, sau khi hòa bình được tái lập năm 1954, Trần Dần được cử sang CHNDTH để viết lời dẫn truyện bằng tiếng Việt cho phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, do cộng sản Việt Nam diễn lại, cán bộ CHNDTH thu hình, và mang về CHNDTH thu âm. (HVC, sđd. 98-99).

Trong chuyến công tác nầy, một viên cán bộ chính trị được đảng LĐ gởi theo kèm Trần Dần. Đáng lẽ chỉ làm công việc cố vấn cho đúng đường lối đảng, y chỉnh lại bài viết của Trần Dần từng lời, từng chữ, đôi khi còn đọc cho Trần Dần viết. Trần Dần đưa vấn đề lên cấp trên xin giải quyết, nhưng lãnh đạo trả lời rằng cán bộ chính trị có quyền quyết định mọi việc. Điều nầy khiến Trần Dần rất bất mãn, và xin ngưng viết thuyết minh cho phim.

Trước khi trở về Việt Nam, Trần Dần đọc được lá thư của nhà văn Trung Quốc là Hồ Phong gởi Uỷ ban Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) vào tháng 7-1954.(17) Hồ Phong phản đối “năm nhát dao” mà đảng găm vào não trạng những nhà văn cách mạng. Đó là: “Ý hệ cộng sản cưỡng bách, cảm hứng chỉ rút ra từ đời sống công nhân và nông dân, giáo dục lại và cải tạo ý hệ, hình thức do đảng áp đặt, và đề tài do đảng quy định.”(18) Từ đó, Trần Dần luôn luôn bị ám ảnh bởi vấn đề tương quan giữa nghệ thuật và chính trị, nên khi trở về Việt Nam, Trần Dần tích cực vận động đòi hỏi nền tự do văn nghệ ở đất Bắc thời bấy giờ.

Chính do những vận động và hỗ trợ của các nhân vật trên đây, từ Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, đến Thụy An Lưu Thị Yến, và nhất là Trần Dần trong giới văn nghệ sĩ, đã đưa đến sự bùng nổ của vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)

CHÚ THÍCH

1. Phỏng vấn các giáo sư lớn tuổi đã tham gia công việc giáo dục thời Việt Minh vào năm 1945. Bản thân người viết đã nói chuyện với các cán bộ giáo dục cộng sản sau năm 1975 tại Đà Nẵng, và được nghe kể rằng chủ thuyết giáo dục nầy do bộ trưởng Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra.
2. Trước khi hiệp định Gènève được ký kết ngày 20-7-1954, Châu Ân Lai đã mời (gọi) Hồ Chí Minh qua Liễu Châu họp từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, để truyền đạt quyết định của CHNDTH. Ngoài việc yêu cầu Việt Minh (VM) nên giải quyết riêng biệt chuyện Việt, Lào và Cambodia, chấp nhận chia hai nước Việt Nam, Châu Ân Lai còn bàn thêm rằng, sau khi chia hai Việt Nam, VM rút quân về phía bắc, nhưng không có nghĩa là VM rút hết võ khí mà võ khí nào cất giấu được thì phân tán mà cất, để tránh bị phát hiện. Về phía phái đoàn VM, Võ Nguyên Giáp, cho biết, nếu phải rút đi, thì chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện, phần còn lại thì ở lại chờ thời cơ, có thể từ 5,000 đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”, và chương 28 “Lãnh tụ đã quyết thì vũ trụ cũng chẳng là cái gì”. Nguồn: diendan@.... (trích 1-2-2009).
3. Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt nam 1945-2000, tập 2, Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 2005, tr. 85.
4. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hóa, 2000, tr. 79. (Viết tắt: CĐ, I-C, sđd. tr.)
5. Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, 1959, tr. 31. (Viết tắt: HVC, sđd. tr.)
6. Phát biểu của thi sĩ Hoàng Huế gởi Đại hội Văn nghệ Toàn quốc, đăng trên Giai Phẩm Mùa Xuân, Hà Nội, 1956. (HVC, sđd. tt. 11, 12.)
7. Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, California: Xuân Thu, tái bản 1989, tr. 430. (Viết tắt: NKT, sđd. tr.)
8. Giai Phẩm Mùa Thu tập 2, Hà Nội 1956. (HVC, sđd. tr. 245.)
9. Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”. (HVC đăng lại, sđd. tt. 59-72.)
10. Tuyển tập Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, California: Nxb. Lê Trần, 1990, tr. 20, bài của Thân Trọng Mẫn: “Từ phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đến Cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989″.
11. Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi, California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 57. (Viết tắt: NMC, sđd. tr.)
12. Thụy Khuê, “Hồ sơ Nhân Văn Giai Phẩm”, http://members.aol.com/vnbook6/lib54.htm
13. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, California Nxb. Văn Nghệ, 1995, tr. 278. (Viết tắt: NVT, sđd. tr.)
14. Phụ Nữ Tân Văn: Thành lập tại Sài Gòn năm 1929 do Phan Khôi làm chủ bút. Năm 1932, báo tạm đình bản vì lý do tài chánh. Năm 1935 báo tục bản cho đến 1939.
15. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại [gồm 5 tập, đánh số trang từng tập], Nxb. Tân Dân, Hà Nội, 1942, quyển 4, tập hạ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1987, in lại thành 2 tập, đánh số trang liên tục, tr. 1119.
16. Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản, California: Nxb. Văn Nghệ, 1991, tr. 148. (Viết tắt: NHQ, sđd. tr.)
17. Hồ Phong (Hu Feng, 1903-1985), người Trung Hoa, là nhà phê bình văn học, nhà thơ, nhà luận văn, dường như không gia nhập đảng Cộng Sản. Ông là một người Mác xít độc lập và có nhiều ảnh hưởng, thường dự vào những cuộc tranh luận tư tưởng lớn với giới cộng sản chính thống trong suốt hai thập niên 30 và 40. Ông tin rằng giá trị văn học đứng trên ý hệ và chính trị, những nhân vật văn học có tính cách phổ quát, không khuôn sáo, và văn chương có thể mô tả mọi người chứ không nhất thiết một giai cấp nào đó. Năm 1949, khi cộng sản nắm quyền ở Trung Hoa, dầu ông giữ nhiều chức vụ trong ngành văn hóa, ông không bao giờ chịu uốn theo đường lối chính thống. Ông bị tố cáo phản cách mạnh và bị cầm tù từ 1955 đến 1981 mới được thả ra và được phục hồi danh dự.
18. Georges Boudarel, Cent fleurs écloses dans la nuit du Viet Nam, communisme et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa đua nở trong đêm Việt Nam, cộng sản và ly khai 1954-1956], Éditions Jacques Bertoin, Paris, 1991, tr. 58. Nguyên văn: “Hu Feng y critique les “cinq poignards” plongés dans le cerveau des écrivains révolutionaires: “Idéologie communiste obligatoire, inspiration uniquement tirée de la vie des ouvriers et des paysans, rééducation et réforme idéologique, formes imposées par le parti, sujets fixés par le parti.” (Viết tắt: GB sđd. tr.)

Nhân Ngày Giỗ Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu 29-9


Nước Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại được hai mươi năm, trải qua hai nền Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của bốn đời tổng thống: Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Một đất nước nhỏ bé chỉ có mười tám triệu dân đã anh dũng chiến đấu chống lại một đại khối cộng sản mười ba nước với số dân hơn một tỉ người, với đạo quân tiền kích hiếu chiến hiếu sát của chúng là quân đội cộng sản Bắc Việt. Dẫu Bắc Việt đã nhận được sự viện trợ gần như vô giới hạn của khối cộng, đặc biệt Liên Sô và Trung Cộng từ sau ngày Hiệp Ðịnh Ba Lê 27.1.1973 , dẫu Việt Nam Cộng Hòa đã bị cái gọi là “đồng minh, bạn” bỏ rơi một cách tàn nhẫn, quân đội Bắc Việt vẫn phải rất khó khăn khi tiến vào ngưỡng cửa Sài Gòn ngày 30.4.1975, và sẽ không hy vọng thắng bằng quân sự, nếu Ðại Tướng Dương Văn Minh quyết định đánh tới cùng. Hai chiến thắng ở Thủ Thừa, Long An, của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh với người hào kiệt Ðại Tá Ðặng Phương Thành, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 12 Bộ Binh và người dũng tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh ở Xuân Lộc, đã khẳng định rằng, khi mặt đối mặt trên chiến trường, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn chiến thắng.

Quân dân Việt Nam Cộng Hòa trong thế tứ bề thọ địch, phía trước là quân giặc hung hãng, bên cạnh là một người bạn phản trắc, từng nhiều lần giở trò đâm sau lưng, đâm ngang hông và thậm chí ngổ ngáo đâm ngay trước mặt, vẫn ngẩng cao đầu hiên ngang chiến đấu đến giờ thứ hai mươi lăm, thậm chí sang đến những ngày kế tiếp khi cuộc chiến đã tàn. Sau hơn ba mươi năm, sự thật lịch sử được phơi bày qua những hồ sơ đã được giải mật của từ mọi phía tham chiến, bức màn che giấu cái chết bi thảm của QLVNCH và Việt Nam Cộng Hòa đã được vén lên. Cộng sản Hà Nội sẽ hoàn toàn không thắng được quân dân Việt Nam Cộng Hòa, nếu không có sự trực tiếp hỗ trợ vô hạn của khối cộng, sự khiếp nhược và tiếp tay tích cực của điều gọi là “đồng minh”, và sự hèn nhát, thờ ơ và lãnh đạm của cái gọi là “thế giới tự do”. Ðiều gì chờ đón các binh đoàn cộng sản, một khi hàng trăm ngàn tay súng dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn giữ vững từng vị trí và thề tử sinh với giặc.

Ba mươi năm dài đã trôi qua mà niềm uất nhục của từng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn như những vết thương hãy còn sưng tấy và nưng mủ, khi mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc quá khứ người ta buộc các anh phải buông súng. Cộng sản Hà Nội nên nhớ rõ rằng, Người Lính QLVNCH chỉ buông súng theo lệnh của hàng tướng Minh, chứ không phải chiến bại trên chiến trường. Lịch sử đã ghi nhận rõ ràng điều đó, các thế hệ sau cũng sẽ rõ được uẩn khúc đó. Ngày nay, Trung Cộng đã công khai công bố bản văn bán nước của cộng sản Hà Nội thông qua việc Hồ Chí Minh lệnh cho Phạm Văn Ðồng gởi công hàm ngày 14.9.1958 công nhận lãnh thổ lãnh hải của Trung Cộng, trong đó bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản công bố này chắc chắn sẽ được bộ máy tuyên truyền của Trung Cộng phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam và toàn thế giới, để người dân biết được bộ mặt bán nước của cộng sản Hà Nội, và để hợp thức hóa chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên trên những quần đảo này của Trung Cộng. Thế giới sẽ đương nhiên được an toàn khi ký kết những công trình khai thác dầu và khí ở đó. Nhân dân Việt Nam sẽ quăng vào mặt cộng sản Hà Nội kèm theo những bãi nước bọt bản văn bán nước nhục nhã này, chúng còn gì để rêu rao và để bào chữa nữa.

Ðất nước và nhân dân Việt Nam bất hạnh, Miền Nam dũng cảm kiêu hùng cũng bất hạnh. Bất hạnh không phải vì không đánh đuổi được giặc cộng, mà là vì chiến đấu trong nỗi cơ đơn cay đắng và cơ cực. Những người lãnh đạo của hai nền Cộng Hòa đã gồng gánh trên vai sức nặng của cuộc chiến đối đầu với quân địch đã đành, mà còn còng lưng dưới sức nặng phi lý và không cần thiết của những sự thiếu hiểu biết, kiêu ngạo với đồng minh nhưng khiếp nhược trước kẻ thù của người Mỹ. Chính những tướng lãnh và sử gia Hoa Kỳ đã khẳng định sự thật đó. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết chết, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị buộc phải từ chức, đều phản ảnh nỗi bất hạnh của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lần tưởng niệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân ngày Giỗ Thứ Bảy của ông, chúng ta cùng ngậm ngùi lật lại vài trang sử cũ có liên quan đến đời binh nghiệp và những năm lãnh đạo đất nước của ông. Một người lãnh đạo trong tư thế đối đầu với mọi thế lực bạn lẫn thù, một cá nhân nhỏ bé mà phải đương cự với hầu hết những tay lãnh đạo sừng sỏ nhất của thế giới, một con phượng hoàng ở giữa bầy hổ lang: Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Lê Ðức Thọ, Breznev, Kossygyn, Nixon, Kissinger. Và còn nhiều nữa, chưa kể đến nội thù mang đủ mọi màu áo tôn giáo và chính kiến. Thế mà ông đứng vững được đến tám năm, mà có lúc đã đem đến cho Miền Nam một nền kinh tế thịnh vượng trong bối cảnh tàn phá của chiến tranh. Tưởng công nghiệp ấy không phải người lãnh đạo nào cũng có thể làm được. Trong thời gian qua, chúng tôi may mắn tìm thấy được một vài tài liệu về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đặc biệt phần lược sử chính thức về ông do Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa biên soạn và phát hành năm 1971. Chúng tôi xin lược dịch toàn bộ văn bản này. Ðồng thời chúng tôi cố gắng sắp xếp và bổ sung thêm một ít hình ảnh theo thứ tự những năm chấp chánh của Tổng Thống Thiệu, cùng chia sẻ với độc giả, huynh trưởng quân đội và chiến hữu, để gọi là thay thế cho những nén hương hoài niệm về những cống hiến của ông cho dân tộc và tổ quốc.

“Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng Thống thứ hai của Việt Nam Cộng Hòa và cũng là vị Tổng Thống thứ nhứt của của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa sau Hiến Pháp ngày 1.4.1967.

Ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5.4.1923 tại làng Trị Thủy, tỉnh Ninh Thuận, thuộc phía Nam miền Trung. Ông Thiệu xuất thân từ một gia đình nông dân có một cuộc sống trung lưu nhờ vào sự cần mẫn trong công việc đồng áng. Ông bà thân sinh của ông Thiệu luôn chăm chỉ làm lụng để nuôi dưỡng đàn con năm người, ba trai và hai gái. Nhưng người anh chị em này cũng đã luôn giúp đỡ lẫn nhau trong sự sinh sống. Những năm niên thiếu, ngoài việc cắp sách đến trường cho đến khi vào trung học, ông Thiệu đã giúp hai người chị gái trong công việc buôn bán.

Trong những năm cuối của Ðệ Nhị Thế Chiến, từ 1945-1946, như hầu hết những người trai trẻ trong thời chiến, chàng thanh niên Nguyễn Văn Thiệu tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi đất nước, tham gia vào những nhóm thanh niên yêu nước trong phong trào có danh xưng là Tái Kiến Thiết Quốc Gia (National Reconstruction), một tổ chức trá hình của Việt Minh. Tuy nhiên, chàng thanh niên Thiệu đã sớm nhận ra rằng trong thời hỗn mang ấy, cộng sản đã lợi dụng lòng yêu nước của những người Quốc Gia để áp đặt lên nhân dân Việt Nam một chủ nghĩa xa lạ, ngoại lai. Ông Thiệu quyết định từ bỏ hàng ngũ Việt Minh để theo đuổi lý tưởng của riêng ông. Ðó là lý tưởng Quốc gia chân chính.

Năm 1948, Trường Võ Bị Quốc Gia được thành lập. Khóa học thứ nhứt của Trường Võ Bị được khai giảng tại Huế để đào tạo sĩ quan chỉ huy cho Quân Ðội Quốc Gia. Trước khi vào Trường Võ Bị, ông Thiệu cũng đã tốt nghiệp Trường Hàng Hải Thương Thuyền, nhưng ông đã nhận thức rằng chỉ là ở Quân Ðội ông mới có cơ hội thực sự chiến đấu chống giặc cộng sản. Năm 1949, chàng sĩ quan trẻ Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp Khóa I Võ Bị Quốc Gia với cấp bậc Thiếu Úy.

Suốt cuộc chiến tranh 1949-1954, từ chức vụ Trung Ðội Trưởng lên đến Trung Tá Trung Ðoàn Trưởng, rồi Tiểu Khu Trưởng, bước chân của ông Thiệu đã từng đặt lên mọi miền đất nước từ Nam, Trung và Bắc. Từ đồng bằng Miền Tây đến Hưng Yên, Phủ Lý ở Miền Bắc, trở vào Miền Trung trong chiến dịch năm 1954. Trong khoảng thời gian chỉ huy trên nhiều mặt trận đó, là một người lính chiến đúng nghĩa nhất, ông Thiệu đã góp vào những trang chiến sử những chiến thắng lừng lẫy. Ông được chiến sĩ và quân đội biết đến như là một người lính dũng cảm và chân chính, với tài lãnh đạo đơn vị và chỉ huy trên chiến trường. Ông còn chứng tỏ tài năng trong lãnh vực tham mưu quân đội.

Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu được đề cử đi tham dự nhiều khóa học ở ngoại quốc, như ở Trường Bộ Binh tại Coetquidan, Pháp quốc năm 1949. Tám năm sau, ông được củ đi học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu cao cấp ở Hoa Kỳ tại Trường Leavenworth, rồi năm 1960 tại trường Forth Bliss. Ngoài ra, Trung Tá Thiệu đã tham dự một khóa học ở Okinawa năm 1959.
Với những kinh nghiệm già dặn ở cả hai lãnh vực quân sự và lãnh đạo chỉ huy trong chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Khu II và Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Trung Tá Thiệu được cất nhắc làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Ðà Lạt năm 1956. Trung Tá Thiệu đã góp công đào tạo hàng ngàn cấp chỉ huy hiện dịch ưu tú cho Quân Ðội trong bốn năm trách nhiệm. Với những thành quả to tát đó, ông xứng đáng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vinh thăng lên Ðại Tá, rồi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Phó Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Liên Quân trong năm 1960. Sang năm 1961, Ðại Tá Thiệu được đề cử trông coi Sư Ðoàn 1 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 11 Chiến Thuật, chịu trách nhiệm giữ yên bình cho toàn khu vực gọi là Khu Phi Quân Sự (Demilitarized Zone) bao gồm luôn phần lãnh thổ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Tháng 12.1962. Ðại Tá Thiệu từ giã Sư Ðoàn 1 Bộ Binh trở về Miền Nam trông coi Sư Ðoàn 5 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 32 Chiến Thuật bao gồm phần lãnh thổ của 9 tỉnh thuộc khu vực Miền Ðông.

Sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu được Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng tín nhiệm trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, kiêm Tổng Thư Ký Hội Ðồng Quân Lực (The Armed Forces Council). Cuộc đời binh nghiệp của Thiếu Tướng Thiệu vẫn xoay chuyển không ngừng, với chiều hướng đi lên, khi ông được đề bạt lên làm Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật. Khi từ giã Miền Tây, ông lại được đề cử làm Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tháng 6.1965, khi chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước cho Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Lực với 10 ủy viên đã bỏ phiếu kín bầu Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, một chức vụ hành xử như Quốc Trưởng của Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp nối truyền thống dân chủ của nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Trung Tướng Thiệu đã đắc cử Tổng Thống trong lần bầu cử ngày 3.9.1967, với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu tuyên thệ nhậm chức, tuyên thệ trung thành với dân tộc và tổ quốc ngày 31.10.1967, mở đầu cho một trang sử mới và là bước đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Là một vị tướng chiến trường xuất sắc, Trung Tướng Thiệu đã được trao gắn rất nhiều huy chương Quân Ðội như sau:

- Ðệ Nhị Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Lục Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Không Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Hải Quân Huân Chương
- 11 huy chương các loại
- Lãnh Ðạo Bội Tinh, v.v..

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng bà Ðệ Nhứt phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh, người sinh quán ở Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường, có hai người con (ở thời điểm 1971) là Nguyễn Thị Tuấn Anh, 17 tuổi và Nguyễn Quang Lộc, 10 tuổi. Bà Thiệu là đương kim Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Ðình Binh Sĩ QLVNCH (National Association for the Protection of Military Dependents). Bà còn là Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội Việt Nam (Vietnamese Women-In Service to the Society Association), đã khởi công xây dựng Bệnh Viện Vì Dân, là bệnh viện tân tiến nhất của Việt Nam”.

Từ năm 1971-1975, Tổng Thống Thiệu tiếp tục cương vị Tổng Thống nhiệm kỳ 2 với cụ Trần Văn Hương làm Phó Tổng Thống. Sau chiến thắng ngoại biên Kampuchea của cả ba Quân Ðoàn II, III và IV từ tháng 4.1970, quân cộng chạy trối chết ẩn náu sâu trong nội địa đất Miên, Tổng Thống Thiệu và nội các chánh phủ đã có được chút thời gian để phát triển kinh tế quốc gia. Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa được hồi sinh, doanh gia bắt đầu mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, nền kinh tế sáng sủa và có nhiều thành quả lớn. Hãng Citreon Pháp thiết lập lập cơ xưởng ráp xe ở Sài Gòn, Quân Ðội xúc tiến việc thiết kế sản xuất xe “Jeep Citreon” thay thế cho lại xe Jeep chính cống của Mỹ. Những cơ xưởng kỹ nghệ điện tử, truyền thanh truyền hình phát triển mạnh. Nền tài chánh Việt Nam gặt hái nhiều tiến bộ đáng kể với việc thành lập nhiều ngân hàng tư thu hút tiền vốn từ quần chúng. Nhưng đặc biệt và nhiều ý nghĩa hơn hết phải là việc ban hành Luật Người Cày Có Ruộng (Land for Tillers) được Tổng Thống Thiệu long trọng ban hành ngày 26.3.1970 tại Cần Thơ, thủ phủ Miền Tây, trong đó mỗi nông dân chưa có ruộng riêng được cấp phát 3 mẫu ruộng (mỗi mẫu rộng 10.000 thước vuông, 100mx100m) miễn phí. Thuế viên trạch hàng năm chỉ đóng vài trăm đồng Việt Nam tượng trưng, tất cả số huê lợi từ ruộng rẫy, nông dân hoàn toàn sử dụng, không phải giao nộp chánh phủ một hột lúa hay một củ khoai nào. Các cửa hàng doanh thương mua bán nhỏ, thí dụ như những tiệm chạp phô, tiệm may, quán ăn, v.v... cũng chỉ đóng thuế môn bài vài trăm đồng cho một năm. Chúng ta cũng nhớ lại rằng, lương tháng một công chức hay một giáo sư trung học lúc đó trong khoảng 20 đến 25 ngàn đồng, hoặc lương một anh binh nhì khoảng 18.000 đồng, thiếu úy chừng 21.000 đồng, thì thuế nông nghiệp và doanh nghiệp hằng niên chỉ có khoảng 200 ố 300 đồng, là một con số thật nhỏ bé.

Với sự giúp đỡ tích cực của đoàn chuyên gia nông nghiệp Ðài Loan, Viện Lúa Gạo IRRI ở Phi Luật Tân phổ biến các loại lúa mới Thần Nông 5, Thần Nông 8, sản lượng lúa của VNCH tăng vùn vụt. Các kinh tế gia thế giới và Việt Nam đã nhìn thấy triển vọng gần, rằng Việt Nam không còn nhập cảng gạo nữa, chẳng những thế mà trong tương lai còn có thể xuất cảng ra nước ngoài để lấy ngoại tệ về. Tổng Thống Thiệu và nội các của ông đã đưa đất nước lên mức phồn thịnh trong vòng hai năm 1970 và 1971, các chuyên gia đã thiết kế những kế hoạch ngũ niên phát triển nông, công, thương, khai hoang. Giáo sư Vũ Quốc Thúc được mời cầm đầu một nhóm chuyên gia nghiên cứu kế hoạch tái thiết và phát triển quốc gia.


Có thể nói rằng, hình ảnh những vị nguyên thủ quốc gia Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu bận rộn đi khắp mọi miền đất nước thường rất được thường xuyên nhìn thấy trên báo chí, truyền hình và phim thời sự. Hai vị Tổng Thống siêng năng đi thăm viếng những nơi chốn hẻo lánh nhất. Có khi là một chiếc cầu nhỏ của một toán tiền đồn Nghĩa Quân, một cái đồn lẻ loi giữa ruộng đồng của các anh Ðịa Phương Quân. Có lúc Tổng Thống Thiệu đến ăn Tết cùng các chiến sĩ ở trên một vùng cao nguyên đèo heo hút gió, hay ra tận miền hỏa tuyến để chia sẻ nắng bụi mưa bùn với những người lính ngày đêm trực diện với quân thù ở biên thùy, hoặc về những vùng sình lầy Cà Mau, Chương Thiện trao gắn huy chương cho những chiến sĩ lập kỳ công. Tổng Thống Thiệu còn là một người lính can đảm phi thường. Mặt trận Kontum tháng 6.1972 hãy còn nghi ngút khói than chưa tàn lụi mấy, mà ông đã cùng Trung Tướng Toàn đáp trực thăng xuống vinh thăng cấp bậc cho những chiến sĩ Kontum Kiêu Hùng, trong lúc pháo địch còn nổ ùng oàng chỉ cách mấy trăm thước.

Cũng trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm đó, khó ai có thể tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra, khi ngày 7.7.1972, chiếc trực thăng của Tổng Thống Thiệu bất ngờ đáp xuống giữa lòng thành phố An Lộc đổ nát, trong lúc pháo địch nhểu xuống cách ông có 400 thước. Ông còn gọi điện về bảo bà Thiệu: “Bà ăn cơm trước đi, đừng chờ tôi. Tôi ở đây với chiến sĩ An Lộc”. Những người lính Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, mà ký ức về vị Tư Lệnh thân mến của các anh còn chưa phai mờ mấy, đã hân hoan công kênh Trung Tướng Thiệu lên trong những tiếng reo hò chiến thắng vang dội. Tổng Thống Thiệu đã vinh danh tất cả những người lính, bất kể quân binh chủng nào đã đóng góp vào cuộc vinh quang, là Những Người Lính Của Bình Long Anh Dũng.

Ngày 28.6.1972, đại quân Việt Nam Cộng Hòa, với Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Kỵ Binh, Pháo Binh, Công Binh, Không Quân, Hải Quân, cùng tất cả các binh chủng yểm trợ tiếp vận xuất phát từ chiến tuyến Mỹ Chánh, dưới quyền tổng chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I & Quân Khu I ngồi trên một chiếc thiết vận xa M113 đốc thúc và quan sát, hùng hậu xuất phát. Mấy ngày sau, Tổng Thống Thiệu cùng nhiều yếu nhân quân đội, chánh quyền, quốc hội, ngoại giao đoàn đã ra đến tận bờ sông Mỹ Chánh khích lệ tinh thần binh sĩ. Là một vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Trung Tướng Thiệu không cần thiết và không nên lặn lội ra đến chỗ đầu sóng ngọn gió, nơi lửa đạn hiểm nghèo. Nhưng là một người lính từng dầm sương trải gió ngoài chiến trường, và cái cá tính can đảm, năng động, Trung Tướng Thiệu biết rằng sự hiện diện của ông bên chiến hào, ở tận tiền tuyến, là một việc phải làm, thế nào cũng phải làm. Nó nói lên được rất nhiều điều rất ý nghĩa hơn muôn vạn lần những lời động viên suông ở hậu phương. Ông cũng không quên đến Huế lần thứ nhì thăm đồng bào và xem người ta tái thiết chợ Ðông Ba như thế nào sau cơn hỏa hoạn đầu tháng 5.1972 (Chợ Ðông Ba cháy là do Việt cộng mặc quân phục VNCH phóng hỏa, rồi chúng la làng lên, rằng người lính của chúng ta làm chuyện ấy. Ðó là sự vu cáo bỉ ổi của bầy âm binh ngạ quỷ, với những tội ác kinh thiên mà chỉ có những loài quỷ cộng mới có thể làm được. Trong tác phẩm Biến Ðộng Miền Trung của ông Liên Thành, nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, kể lại lời khai của tên Trung Tá Việt cộng Hoàng Kim Loan khi ông thẩm vấn nó. Hoàng Kim Loan xác nhận hỏa hoạn tại chợ Ðông Ba là do Việt cộng nằm vùng ở Huế đốt, rồi vu cáo người lính VNCH). Ðồng thời, người Tư Lệnh ngày xưa cũng dành thì giờ đến thăm Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, mà giờ đây ông rất yên tâm phú thác sư đoàn cho vị dũng tướng Phạm Văn Phú.

Sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, đồng minh Hoa Kỳ đã có kế hoạch rút bỏ khỏi Miền Nam, điều khoản quy định về việc tiếp tục yểm trợ chiến cụ cho QLVNCH đã dần dần bị quên lãng. Việc Một Ðổi Một những vũ khí và dụng cụ chiến đấu hư cũ hay mất mát không còn được thực hiện, đi dần đến cắt giảm hoàn toàn. Hai trăm ngàn binh đội miền Bắc được văn kiện Hiệp Ðịnh hầu như hợp thức hóa sự hiện diện ở Miền Nam, cộng thêm người và chiến cụ bổ sung rùng tuôn vào Nam theo con đường Hồ Chí Minh, giờ đã được rộng mở thênh thang mà không bị một sự trừng phạt nào từ phía Hoa Kỳ, thể theo quy định của Hiệp Ðịnh Ba Lê. Sự thất thủ Phước Long tháng 1.1975, rồi đến Ban Mê Thuột tháng 3.1975, cuộc trắc nghiệm thái độ của Hoa Kỳ đã được xác định: người Mỹ đã thực sự bỏ rơi đồng minh. Cộng sản Hà Nội khởi động cuộc tổng tấn công quyết định chiếm toàn bộ Miền Nam, đưa đến quyết định rút bỏ các Quân Khu II và Quân Khu I trong tháng 3.1975 của Tổng Thống Thiệu. Hai Quân Ðoàn II và I bị thiệt hại nặng, quân số sụt giảm nghiêm trọng, nhiều sư đoàn và đơn vị chiến đấu bị tan rã một cách bi thảm. Những yếu tố đó buộc người ta phải nghĩ đến giải pháp thay thế Tổng Thống Thiệu, bởi ngại ông vẫn cứ lệnh cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu. Ông Thiệu phải ra đi để nhường sân khấu chính trị lại cho một nhân vật nào đó mà phía cộng sản có thể “chấp nhận” nói chuyện được. Cái ảo tưởng đó đến ngày 30.4.1975, Hà Nội sẽ chứng minh nó hoàn toàn là điên rồ, vì chúng chỉ muốn chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 21.4.1975, Tổng Thống Thiệu lên đài truyền hình quốc gia đọc diễn văn từ giã dân chúng và Quân Ðội. Ông cay đắng nói nhiều lời trách cứ Hoa Kỳ tàn nhẫn bỏ rơi đồng minh. Chức vụ Tổng Thống được trao lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tổng Thống Hương làm việc chỉ được một tuần lễ, ông là một chiến sĩ quốc gia có tinh thần chống cộng cứng rắn. Người ta lại phải áp lực cụ trao quyền Tổng Thống cho một nhân vật mềm dẻo và biết điều hơn. Trước mọi sức ép, Tổng Thống Hương đành bàn giao Dinh Ðộc Lập cho Ðại Tướng Dương Văn Minh ngày 28.4.1975. Ba ngày sau, vị Tổng Thống thứ tư của Việt Nam Cộng Hòa đọc lời đầu hàng trên hệ thống truyền thanh quốc gia buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng ngừng chiến đấu. Lúc đó là 10 giờ sáng ngày 30.4.1975.

Sống đời lưu vong ở xứ người, thoạt tiên Tổng Thống Thiệu tạm cư ở Ðài Loan, thời gian sau ông sang cư trú ở Anh quốc, rồi cuối cùng sang định cư hẳn ở Hoa Kỳ, thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. Mang mển trong lòng nhiều uẩn khúc và bí mật quốc gia, ông Thiệu lặng thinh cam chịu sự trách cứ của đồng bào và chiến hữu, về những thất bại và hậu quả ông đã gây ra cho đất nước. Thời gian dần trôi, ba mươi năm hơn, nhiều bí mật đã được phơi bày cho thấy còn rất nhiều yếu tố đóng góp vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều mà chúng ta có thể thấy được là, trong cương vị Tổng Thống của một nước nhược tiểu, Tổng Thống Thiệu đã làm tất cả những gì có thể để cứu vãn đại cuộc. Ông đã từng từ chối thẳng vào mặt Kissinger không chịu ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 31.10.1972, bất chấp sự bực tức điên người của ông Nixon, lúc đó đã sắp vào ngày bầu cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai của ông. Tổng Thống Thiệu còn quyết tâm không ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, tỏ rõ chủ quyền quốc gia. Nixon buộc phải gởi một bức thư với lời lẽ rất cứng rắn và hằn học: “Nếu chánh phủ ngài không chịu ký vào văn bản ngừng bắn, thì chúng tôi buộc phải tiến hành ký đơn phương. Ngoài ra, chúng tôi sẽ thông báo với thế giới rằng chánh phủ của ngài ngăn trở hòa bình. Vì lý do đó, chúng tôi buộc phải cắt đứt viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam Việt Nam ngay tức khắc”.

Bức thư của Tổng Thống Nixon đã có thể trả lời cho những trách cứ đổ lên sự câm nín của Tổng Thống Thiệu. Dù ông Nixon có cắt hay không viện trợ, thì số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được quốc hội Hoa Kỳ với đảng Dân Chủ chiếm đa số quyết định trong những tháng cuối cùng: “Không một xu nào nữa cho chánh phủ ông Thiệu”. Ngày nay, cũng đảng Dân Chủ đang rục rịch muốn bỏ chạy ra khỏi vũng lầy Iraq và có thể cả Afghnistan, nếu họ thắng được cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11.2008 tới đây. Lịch sử như một chiếc bánh xe luôn lăn tiến về trước, nhưng có lúc nó cũng trở về khởi điểm ban đầu. Một cường quốc giàu có như thế, một quân đội hùng mạnh nhất thế giới như thế, chỉ đáng tiếc không có được những vị tổng tư lệnh đúng nghĩa, có tài thao lược bình định thiên hạ, có hùng tâm tráng chí đạt đến vinh quang, mà chỉ luôn nghĩ đến việc bỏ chạy trước địch quân. Một lần bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là đã đủ. Nếu chạy nữa, không khéo thiên hạ sẽ đặt cho quân đội ấy, tổng tư lệnh ấy cái biệt danh “tướng chạy và quân đội chạy bậc nhất thế giới”.

Tổng Thống Thiệu mang những nỗi niềm u ẩn và nhiều bí mật ấy vào thế giới bên kia ngày 29.9.2001. Nhưng hẳn rằng, thời gian càng trôi qua thêm, thì các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng như cuộc đời của Tổng Thống Thiệu sẽ còn khám phá ra được nhiều điều còn chưa sáng tỏ nữa.

Phạm Phong Dinh

Bài Xem Nhiều