We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 30 March 2009

Tiếng Kẻng trại tù

Tờ Tuổi Trẻ ngày thứ Hai 23 tháng Ba đăng ý kiến của dân biểu Dương Trung Quốc cho là “phải hướng mối quan tâm và tầm nhìn của người dân ra biển Đông”. Báo điện tử Vietnamnet thuộc Bộ Thông tin trích dẫn ý kiến của một chuyên gia nói “không thể giữ chủ quyền chỉ bằng cảm tính”, và BBC đăng bài “Việt Nam 'coi trọng' thông tin lãnh hải”.

Nói cách khác Việt Cộng bật đèn xanh cho hoạt động thông tin về tranh chấp lãnh hải, vấn đề trước kia bị coi là “nhậy cảm”, không “báo đài” nào dám đụng vào.
Nhiều thân chủ cũ của trại cải tạo nghe câu chuyện Việt Cộng cho phép truyền thông loan tin về Biển Ðông ngao ngán lắc đầu, “Y như trại tù ngày xưa, mọi người làm theo hiệu lệnh của tiếng kẻng: kẻng bảo thức dậy thì thức, bảo đi ngủ thì ngủ; kẻng còn bảo đi lao động, bảo trở về, bảo ăn cơm” … Và giờ này kẻng bảo mọi người Việt Nam chống Trung Cộng, và ngay lập tức mọi người thi đua xỉ vả “Chung Cuốc”.
Trong cuộc thi đua chửi Tầu, báo điện tử Vietnamnet còn đề cập tới “cuộc chiến không cân sức giữa học giả Việt Nam và Trung Quốc” ý nói học giả Việt Nam không nhiều phương tiện tra cứu nên lép vế hơn trong quá trình tìm kiếm tài liệu để xác lập chủ quyền lãnh hải ở biển Đông.

Thật ra trong cuộc chạy đua gọi là “không cân sức” đó, chỉ có phía Trung Cộng chạy, trong lúc “cua rơ” Việt Nam bị Việt Cộng trói gô lại không cho họ tìm kiếm, viết lách sợ đụng chạm với Trung Cộng.
Giờ này, có tiếng kẻng cho phép, BBC còn phỏng vấn giáo sư Carlyle Thayer, học viện Quốc phòng Úc, và viết lên quan điểm của ông cho rằng đã đến lúc Việt Nam “cần phải thay đổi chiến lược thông tin để phù hợp với những diễn biến mới”.

Ông giáo sư người Anh, dạy đại học Úc về những vấn đề Việt Nam nhận xét, “Từ trước tới nay, Việt Nam khá thận trọng về chuyện có thể sẽ gây ra xung đột lợi ích với Trung Quốc quanh vấn đề biển Đông. Nhưng giờ vấn đề Nam Hải đã leo thang lên tầm chiến lược”.

Ý ông Thayer nói tầm chiến lược quốc tế, vì có bàn tay Hoa Kỳ nhúng vào để vẽ lại bản đồ Biển Ðông. Mỹ không chấp nhận toàn thể phần biển nằm về phía Ðông Việt Nam lại có thể là của Tầu.
Bàn tay Hoa Kỳ rất dài, nên ngoài Việt Nam, còn có Phi Luật Tân và Mã Lai cũng đòi vẽ lại phần biển mà Trung Cộng gọi là Nam Hải.

Hăng tiết vịt sau cuộc thăm viếng của Ðô Ðốc Robert Willard, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Việt Cộng ra mặt chống báng Trung Cộng; chúng thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cơ quan được giao "tham gia xây dựng chiến lược, chính sách về quốc phòng, an ninh, ngoại giao liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên biển và hải đảo".
Hôm 17/3, một hội thảo đầu tiên về tranh chấp chủ quyền trên biển Đông đã được tổ chức ở Hà Nội. Một học giả tại hội nghị này nói rằng việc nghiên cứu mà "cứ như giấu diếm, như bất hợp pháp, trong khi Trung Quốc công bố tài liệu và rao giảng khắp nơi".

Người quốc nội vui mừng vì chính sách của Việt Cộng cúi đầu bái phục thiên triều trong lúc thẳng tay đàn áp người Việt Nam có thể đã chấm dứt, nhờ những lời hứa hẹn yểm trợ của Đô đốc Williard; nhưng sau một vài tháng vui với cái thế ngửng đầu lên đối phó với tham vọng của Trung Cộng, chúng ta có khỏi chạnh lòng nhớ đến tình trạng chỉ yêu nước, chống ngoại xâm khi được phép của nhà cầm quyền không?
Quốc nội chỉ là một trại giam lớn, trong đó mọi việc đi đứng, việc được xuống đường, được viết báo cũng đều tùy thuộc vào hiệu lệnh.
Chỉ riêng việc Biển Ðông của Việt Nam hay Nam Hải của Tầu cũng đã chứng minh một sai lầm của Việt Cộng; nhưng dù sai hay đúng chúng vẫn không có quyền cấm người Việt Nam bầy tỏ lòng yêu nước trong những cuộc xuống đường trước sứ quán Trung Cộng.

Tiếng kẻng mới nhất vừa ra lệnh cho chúng ta yêu nước, chống Trung Cộng, và rất có thể sắp có một tiếng kẻng khác ra lệnh cho chúng ta ngừng yêu nước, hoan hô Trung Cộng vào Việt Nam.

Nguyễn Ðạt Thịnh

SAU BỨC MÀN NHUNG HẠ NGHỊ VIỆN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1)

* GS TRẦN ĐÌNH NGỌC
Cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng hòa

LỜI NÓI ĐẦU



Thưa Quí Bạn đọc,

Ba mươi hai năm đã qua đi như một cái chớp mắt. Đời người ngắn lại vì thời gian đi quá mau. Ngồi suy tưởng lại 21 năm thiên đàng Cộng hòa miền Nam, tôi phải thành thực nhận rằng từ vài trăm năm vừa qua ở nước ta, không có chế độ chính trị nào tương đối tốt đẹp bằng chế độ Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam kể từ 20-7-1954 cho đến 30-4-1975.

Tại sao tôi dám khẳng định như thế? Có lẽ không phải riêng tôi mà nhiều người cùng nhận xét như vậy dù miền Nam có quá nhiều cuộc đảo chính, chỉnh lý; rất nhiều phá hoại của Việt Cộng, rất nhiều trận long trời lở đất như Tết Mậu Thân, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Bình Long, An Lộc v.v...do Việt Cộng gây ra.

Từ nhận định nào tôi dám nói như thế? Đó chính là vì Miền Nam có chế độ Dân Chủ, Tự Do, tôn trọng Nhân quyền và Dân quyền. Nhờ lá “bùa hộ mạng” này, nhiều nước Dân Chủ Tây Phương: Anh, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, các nước ở Âu Châu, Nhật bản, Đài Loan, Hàn quốc, Thái Lan v.v... đã ăn nên làm ra, kinh tế tiến vượt bực, nhân tài nhan nhản để phát minh ra nhiều máy móc, thuốc men, dụng cụ, kĩ thuật tô điểm cho đời sống nhân loại thêm tươi đẹp, từ đó mọi người trên trái đất, không phân biệt mầu da, sắc tộc và quốc gia đã được thụ hưởng những hoa trái của Văn minh mà trước kia chưa từng bao giờ có. Lâý một thí dụ: thuốc trụ sinh, thuốc chủng ngừa bệnh đậu mùa, thuốc cầm ngay bệnh thổ tả v.v....Nếu những bộ óc siêu việt chưa phát minh, tìm tòi ra những thứ thuốc này thì ngay chính chúng ta, có khi chúng ta đã bị “lôi thôi” (có khi chết) với những căn bệnh đó rồi.

Những phát minh này trong thế kỉ vừa qua đa phần là do các nhà Bác học Tây Phương trong khi Liên Xô, từ 1917 chỉ chuyên lo về sản xuất vũ khí để khống chế thế giới, các nước Cộng Sản Đông Âu cũng thế và CS cũng chỉ tìm tòi mọi phương cách để kìm kẹp, đàn áp, toàn trị con người mà ngày nay, hãy còn 4 nước theo chủ nghĩa Mác Lê, tình trạng người dân trong các nước ấy mất hết quyền Tự do, Dân chủ như thế nào thì quí bạn đọc đều đã biết.

Trung cộng mới nổi lên đây về kinh tế nhưng Trung cộng cũng được hưởng biết bao thành quả do chất xám của Nhân loại mang đến. Các kĩ thuật, máy móc, điện tử, không gian, vũ khí chiến lược, ngay cả thuốc men của Tây Phương giúp người Trung hoa không chết yểu như xưa như thời Trung hoa vẫn còn dùng “thuốc bắc” là những thứ rễ, lá để chữa trị. Rễ, lá có chất bổ, điều trị những bệnh nhẹ nhưng không thể diệt vi trùng như thuốc Tây.

Tất cả những phát minh đó có được là nhờ ở một phương thuốc rất hiệu nghiệm, lá bùa rất quí báu, đó là chế độ Dân Chủ, Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền đích thực, không lừa mị, giả dối. Dân Chủ Tự Do tôn trọng quyền tư hữu, khuyến khích con người làm việc hăng say vì người được hưởng những thành quả của công việc mình làm một cách xứng đáng không như chế độ tập quyền, tập trung của cải của Cộng sản chỉ cốt phục vụ một đẳng cấp ăn trên ngồi trốc của đảng, đảng phán ra một lời là khuôn vàng thước ngọc cho toàn dân trong khi chính những kẻ lèo lái đảng đó vô tài, bất đức, bất xứng, tham ô, nhũng lạm nhưng chỉ vì lưu manh, luồn lọt quan thầy Nga-Tàu chiếm được chỗ ngồi quan trọng trong đảng, được quan thầy dùng súng AK, còng số 8, và các trại tù đói khổ kinh hoàng để bảo vệ, chống lưng cho những kẻ đó không bị sự trả thù của nhân dân, cứ sống ngang nhiên mà phục vụ cho quan thầy đô hộ nước ta.

Những cái gọi là khuôn vàng thước ngọc, 95% đã sai ngay từ căn bản lý luận (thí dụ: năm 1945 và năm 1975, đốt hết sách vở không phải của CS, bỏ học Pháp, Anh ngữ v.v...) . Vì thế, dò dẫm hơn nửa thế kỉ mà những chóp bu Việt Cộng ở Bắc bộ phủ vẫn như người lòa đi trong sa mạc, không biết cái gì đúng, cái gì sai, cái gì hay, cái gì dở. Đảng phán ra, nếu kẻ nào bạo phổi dám phê bình thì không bị tru di tam tộc cũng tù chung thân! Đó là cái tuyệt chiêu của thiên đường xã nghĩa làm cho dân nước VN ngày nay khổ sở, lầm than, đói nghèo hơn bất cứ dân tộc nghèo khổ nào trên hành tinh này. Lấy thí dụ một nước nhỏ xíu như Singapore với dăm triệu dân, diện tích 225 dặm vuông (chỉ bằng một tỉnh nhỏ của ta, hình vuông mỗi cạnh 15 miles), dưới quyền lãnh đạo của Thủ tướng Lý quang Diệu, chỉ trong mấy chục năm nay họ tiến vượt bực, lợi tức đầu người một năm là 32,000 đôla Mỹ trong khi người dân ta lợi tức bình quân chỉ 600 đô/năm (thăm dò của IMF); nếu Việt Nam muốn tiến bằng họ phải cần 197 năm trong khi họ cứ đứng tại chỗ chờ còn nếu họ vẫn cứ tiến thì chưa biết đến bao giờ.

Ngày nay, thế kỉ 21, con người đã lên tới Sao Hỏa, đang khám phá hàng trăm thiên hà khác, trí óc con người đã vượt ra khỏi cái tầm thường để tìm hiểu vũ trụ, trái đất; con người khác xa khi xưa, ở ngay thế kỉ trước. Những chế độ chính trị nào thực hành Dân Chủ, Tự Do, con đường duy nhất để đi đến tiến bộ, an hòa và hạnh phúc của Nhân loại thì chế độ đó tồn tại, vững vàng. Ngược lại, những chế độ kìm kẹp con người, coi con người như đàn súc vật cần phải chăn dắt hàng ngày, hàng giờ, tước bỏ hết quyền tự do Dân chủ của con người, những chế độ đó phải sụp đổ, sớm hoặc muộn.



Điển hình là chế độ Xã hội chủ nghĩa Mác Xít khởi xướng từ Lênin, Stalin kìm kẹp con người trong Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, chế độ đó đã sụp đổ tan tành đầu thập niên 90. Bức tường Ô Nhục Bá Linh đã bị dân chúng nổ mìn, mang búa tạ ra đập bể để dân Đông Đức khỏi chết ngạt trong cái nhà tù Xã nghĩa thối tha toàn xác chết, AK và lựu đạn. Đông Đức, Liên Xô, Ba Lan, Lỗ ma ni, Bungari và nhiều nước Cộng sản Đông Âu đã đối diện với tử thần, với đói rét, phải mau mau vượt thoát ra khỏi Xã Nghĩa để cầu cứu các người anh em trong thế giới Tự Do cứu giúp. Tây Đức đã tốn hàng tỉ Mã giúp cho Đông Đức sống còn là một bằng chứng cụ thể và đảng Cộng Sản Đông Đức đã tự động giải thể, tôn trọng cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc, chọn người có tài trí, có tâm huyết vào Quốc Hội nước Đức thống nhất để viết ra một Bản Hiên Pháp làm giềng mối, căn bản cho mọi Luật pháp sau này. Bản Hiến Pháp của nước Đức đã lựa chọn chế độ Dân Chủ Tự Do chính là thể hiện lòng mong ước của toàn dân Cộng Hòa Liên Bang Đức vậy.



Trong 21 năm sống tại miền Nam, tôi thiển nghĩ người miền Nam nói riêng, người Việt Nam nói chung tức là có cả miền Bắc, chúng ta đã làm không biết cơ man nào là những sai lầm nên kết cục, ngày nay, nước Việt Nam của chúng ta tan tành ra như thế này.



Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày cùng quí bạn những gì tôi đã thấy, đã nghĩ, đã sống trong 4 năm sau cùng của miền Nam, từ 1971-1975.

Sự việc tôi trình bày là có thật, do nhiều nhân chứng và cả chính tôi chứng kiến, không thêm, không bớt, e làm sai lạc lịch sử của nước nhà. Lịch sử dân tộc nào cũng rất cần tôn trọng sự thật để cháu con sau này nhìn vào đó làm một tấm gương, làm tốt, tránh xấu, giữ nước và xây dựng nước.



Cũng có những sự việc liên hệ đến một hay nhiều cá nhân, đoàn thể, tôn giáo, những nhà tu hành hoặc không phải tu hành mà chỉ mặc cái áo đen hay áo vàng mập mờ đánh lận con đen, làm ung thối cả một chế độ, tiếp tay cho kẻ thù, hoặc làm ung thối cả một tôn giáo hay đoàn thể. Khi đọc xong bài chót, quí bạn đọc có thể công khai lên tiếng trên các Diễn Đàn nếu những sự việc chúng tôi trình bày (theo quí bạn) là không đúng sự thực. Chúng tôi xin nhận lỗi nếu chúng tôi có lỗi sơ sót hay viết sai nhưng với tôi, tấm lòng thành luôn luôn tôn trọng Sự thật và Lẽ phải là phương châm của tôi, nếu đó là những sự thật không thể chối cãi thì tôi xin quí bạn vui lòng chấp nhận.



SƠ LƯỢC VỀ CUỘC BẦU CỬ HẠ NGHị VIỆN NĂM 1971



Cho phép tôi có đôi dòng về cuộc bầu cử Hạ Nghị Viện năm 1971.

Năm 1966, toàn dân miền Nam đã đi bầu Quốc Hội Lập Hiến. Quốc Hội này kéo dài một năm, đã thảo xong Hiến Pháp cho nước Việt Nam Cộng Hòa, với thể chế Dân chủ, tôn trọng các quyền Tự do, tài sản, tính mệnh của mọi công dân. Bản Hiến Pháp này nói lên tính cách độc lập của QG và nền văn minh văn hóa của miền Nam không thua bất cứ một quốc gia dân chủ văn minh nào trên thế giới.

Thi hành Hiến Pháp, năm 1967 toàn dân bầu Hạ Nghị Viện Pháp nhiệm I, sau dó 4 năm HNV này mãn nhiệm, toàn dân lại đi bầu HNV pháp nhiệm II, ngày 29-8 năm 1971 và chính là pháp nhiệm tôi đắc cử.

Cá nhân tôi, nguyên là Giáo Sư Toán Lý Hóa Trung học Đệ Nhất cấp từ năm 1959 tại nhiều trường Trung học ở Sàigòn. Từ 1965, tôi chuyển sang dạy Triết Học, Quốc văn và Anh văn các lớp thi Tú Tài II và Tú Tài I tại nhiều Trung học tại Sàigòn-Gia Định, tôi đã được đồng bào thương mến dồn phiếu cho, đắc cử Dân Biểu pháp nhiệm II, đơn vị 1 Gia định. Trước đó tôi cũng đã là một Nhà văn, một Nhà Thơ, một nhà báo viết cho nhiều tờ báo ở Sàigòn và là Chủ bút Bán Nguyệt san Tinh Thần Nha Tuyên Úy Công giáo QLVNCH tại Sàigòn.

Đầu tháng 9-1971, khi tôi vào Hạ Nghị Viện nhậm chức thì gặp Luật sư Trần văn Tuyên, cũng đắc cử Dân Biểu (DB) khóa đó tại Sàigòn. LS Trần văn Tuyên chính là nhân vật trong câu chuyện của tôi với bạn đọc hôm nay.


LUẬT SƯ TRẦN VĂN TUYÊN



Tôi không biết nhiều về LS Trần văn Tuyên, tôi giao du với ông cũng không nhiều vì ở trong Hạ Nghị Viện (HNV), chúng tôi phải họp hành tối ngày, thảo luận và biểu quyết các Dự luật do Hành pháp đệ qua hoặc làm các Luật mới theo nhu cầu của thời cuộc.

LS Trần văn Tuyên khi xưa đã là Thủ lãnh Luật sư đoàn, một lãnh tụ của Việt quốc (VNQDĐ), tính tình ông cởi mở, dễ chịu và là một khuôn mặt trí thức miền Nam lúc đó.

Khởi đầu, khi thành lập các Khối, ông Tuyên được bầu làm Trưởng Khối Dân tộc Xã Hội (Đối lập với Hành pháp, TT Nguyễn văn Thiệu, ngay cái tên đã ló mòi Cộng sản).

Sau này khi sinh hoạt, chúng tôi mới biết ra những người đứng đàng sau giật giây Khối Đối lập là một Nhóm Dân biểu Cộng sản nằm vùng (một số do Ấn Quang đưa vào bằng bầu cử) hoặc chưa phải là CS nhưng là thân Cộng, hoặc một đôi người không thích CS nhưng cũng không ưa ông Thiệu, không bỏ phiếu ủng hộ ông ta trong những Dự luật.

Khối đối lập này gồm rất đông, tôi chỉ nhớ tên một số như Phan xuân Huy, Kiều mộng Thu, Nguyễn ngọc Nghĩa, Hồ văn Minh, Hồ ngọc Nhuận, Đinh văn Đệ (không vào Khối này nhưng bỏ phiếu y như Khối này), Lý trường Trân, Trần văn Thung, Nguyễn công Hoan, Hồ ngọc Cứ, (Dương văn Ba, Ngô công Đức đều CS nằm vùng, từ khóa I, thất cử khóa II), Nguyễn văn Phước (2 người trùng tên), Lý quý Chung, Nguyễn hữu Chung, Trần cảnh Chung, Đoàn Mại, Nguyễn hữu Thời, Phan Thiệp, Võ long Triều v.v...

Đứng bên cạnh, bỏ phiếu hầu hết giống như Khối Đối lập này là Nhóm Dân biểu Quốc Gia Hạ Viện (DBQGHNV), đứng đầu là đại Việt gian CS (người Công Giáo, anh rể Ngô công Đức) Nguyễn văn Binh, cựu Quận trưởng Gò Vấp (đi đâu y cũng tự xưng là cháu Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, ông TGM này bây giờ lòi đuôi chồn ra là CS chính gốc nằm vùng! tôi không ngờ, hay là ông bị CS dùng ma thuật khống chế bởi đã vào tròng?)

Trưởng Nhóm Nguyễn văn Binh có các thành viên: Đỗ sinh Tứ (quá cố), Nguyễn văn Kim (Quảng Trị, quá cố), Nguyễn đức Cung, Nguyễn trọng Nho, Dương minh Kính, Trần văn Ân, Nguyễn minh Đăng, Đặng văn Tiếp (quá cố), Nguyễn văn Cử (phi công đã bỏ bom dinh Độc lập vì tư thù), Nguyễn tuấn Anh (bác sĩ).

Ba Khối khác là Khối Cộng Hòa, đặc biệt chống Cộng yểm trợ Hành pháp.

Khối Dân Quyền, Trưởng Khối cựu Đại Tá Nhan minh Trang, đứng lưng chừng ở giữa, lửng lơ con cá vàng, một thái độ khó chấp nhận với người QG, một thái độ chỉ chờ sung rụng.

Khối Độc lập, cá nhân người viết ở trong Khối này, khi Hành pháp đúng thì ủng hộ, khi Hành Pháp sai thì chống thí dụ Sắc luật từ ông Thiệu đưa qua HNV về sửa Luật để ông ta ra nhiệm kì 3. Tuy nhiên, Khối này có tự do bỏ phiếu, Khối viên không nhất thiết phải bỏ phiếu theo Khối.

Còn một số DB khác tuy không vào Khối Đối lập vì muốn giữ bí mật hành tung là chính CS nằm vùng, giết người như ngoé, thí dụ như DB cựu Trung tá tỉnh trưởng Bình Thuận rồi Thị trưởng Đà lạt Đinh văn Đệ. Xảo thuật của y quá giỏi, y qua mặt tình báo của ông Thiệu cái vù đến nỗi khi y được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng HNV, vào lúc dầu sôi lửa bỏng tháng 3-1975, y được Chủ tịch HNV Nguyễn bá Cẩn và Dinh Độc lập cử làm Trưởng phái đoàn sang Hoa kỳ xin cấp viện trợ quân sự 300 triệu đô la để cứu nguy miền Nam. Giao trứng cho ác, ác đớp mất trứng là lẽ đương nhiên!



Một tay Đinh văn Đệ sát hại chiến sĩ QG và dân lành quá nhiều, nguyên một trận y lừa để giết Nghĩa quân và Địa phương quân đi cứu đồn đã mấy chục người. Sau 30-4-75, cái mặt chuột cống dã man của y mới lòi ra. Nhưng rồi y và tất cả những bọn “ăn cơm QG thờ ma CS” ngay cả Trí Quang, Dương quỳnh Hoa, Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát và Mặt trận DTGP miền Nam VN; những tên trí thức mù Vũ văn Mẫu, Ngô công Đức, Nguyễn văn Binh, Trịnh công Sơn, Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Hoàng phủ Ngọc Phan, Hoàng phủ Ngọc Tường, Nguyễn đắc Xuân, Lý quý Chung, Nguyễn công Hoan, Trần văn Thung, Nguyễn ngọc Nghĩa (hỗn danh là DB tượng Chàm vì có lần y ăn cắp tượng Chàm), Hồ văn Minh v.v... đều chung số phận với Nguyễn Hộ, Nguyễn đình Thi, Nguyễn văn Trấn, Nguyễn hữu Đang, Nguyễn mạnh Tường, Hồ ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Kiều mộng Thu v.v.....nghĩa là hầu hết trí thức miền Bắc và một số miền Nam bị Hồ cho vào xiếc, Hồ lừa gạt trắng trợn.



Vắt chanh bỏ vỏ, CS muôn đời chỉ xài rồi giết, không bao giờ dùng. Phải nhớ rất rõ điều đó. Nông thị Xuân đầu ấp tay gối thế nào với Hồ, được Hồ yêu quí vì có nhan sắc từ khi còn là con bé Tày 14 tuổi bưng cơm ở hang Pắc Bó cho Hồ, Hồ đã để ý Nông thị Xuân từ hồi đó, rồi làm vợ Hồ, đẻ con cho Hồ (Nguyễn tất Trung (1956), xin đừng lộn với Nông thị Ngát, cũng vợ Hồ, đẻ ra Nông đức Mạnh năm 1940) mà Hồ còn giết thảm thì còn ai y nương tay? Những tên như Đinh văn Đệ, Lý quý Chung, Hồ ngọc Nhuận, Kiều mộng Thu, ni sư Huỳnh Liên, Ngô bá Thành, Huỳnh tấn Mẫm, Ngô công Đức, Trịnh công Sơn, Dương văn Ba v.v... đã mất trắng cả cuộc đời vì Hồ!

Trước khi chết, DBCS Nằm Vùng Lý quý Chung có viết cuốn Hồi Ký nói rõ việc y theo Việt Cộng và ân hận ra sao, cha y khuyên y thế nào đã nói lên sự ân hận một đời. Nguyễn văn Trấn, Xứ bộ Nam Kỳ khi xưa, một đảng viên cao cấp CS, đi sát với Hồ nhiều trường hợp, phải than thở những lời sau đây:

“Đảng Cộng sản Việt Nam còn tàn ác hơn Tần thủy Hoàng và dã man hơn Hitler.”

LS Nguyễn hữu Thọ, trên giường bệnh sắp chết, dặn con rằng:

“Hãy coi gương cha, chớ đi theo bọn Việt Cộng mà mất cả cuộc đời!”

Ấy là những người được Việt gian CS đặc biệt ưu đãi, trong đó có bác sĩ Dương quỳnh Hoa, bộ trưởng Y tế của Mặt trận DTGP miền Nam VN, gia nhập đảng CS Pháp từ 1956 ở Paris, trước khi đậu bác sĩ.



Ngay từ đầu, tôi lấy làm lạ rằng ông Trần văn Tuyên, một người Quốc gia chân chính, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng (VNQDĐ) tại sao lại chịu làm bung xung cho bọn Dân biểu Cộng sản (DBCS) nằm vùng (như đã kể trên) để đánh phá QLVNCH và chính phủ của TT Nguyễn văn Thiệu, dù sao đang là một chính phủ hợp hiến, hợp pháp và (tạm) hợp lòng dân để chiến đấu một mất một còn với CS?

Có một lần rất hãn hữu, một lần duy nhất trong 4 năm làm việc tại HNV với nhau, bữa đó Dân biểu Ngô trọng Hiếu (Biên Hoà) và tôi (lúc đó là Chủ tịch Ủy Ban Phát triển Nông thôn HNV) cùng ngồi đàm đạo với LS Trần văn Tuyên. Sau vài câu thăm hỏi, tôi đi ngay vào đề. Tôi nói:

“Thưa anh Tuyên, tôi và anh Hiếu đây và một số anh em khác biết rằng cá nhân anh là một người QG chân chính đã hoạt động chính trị nhiều năm, những chỉ trích Hành pháp và Quân đội về trường hợp một số tướng tá, tỉnh, quận trưởng tham nhũng, lạm quyền là đúng, là giúp ích cho Hành pháp sửa đổi, chấn chỉnh, thay thế, nhưng tôi e rằng đang lúc Cộng quân ngày càng tăng cường sức ép, bồ câu Mỹ đòi rút hết quân Mỹ, chính phủ Mỹ đe rút hết quân viện, trăm phần nguy khốn mà Quốc hội, do những tay sai CS nằm vùng chúng ta nhìn rõ thấy họ hàng ngày, với ba tờ nhật báo tay sai của CS là các tờ Đại dân tộc, Điện Tín và Tin Sáng làm công cụ tuyên truyền cho CS, lại ra sức đánh phá Hành pháp và Quân đội, người QG mù quáng cũng hùa theo ( như các LM Trần hữu Thanh, Đinh bình Định, Chân Tín, ông Nguyễn ngọc Lan và một số DB Nhóm QGHNV, và mấy NS theo đuôi CS) thế thì Hành pháp và QĐ còn tinh thần đâu mà chống chõi với Việt cộng, bảo vệ dân chúng? “



LS Tuyên hỏi anh Hiếu:

“Thế anh Hiếu có câu hỏi gì dành cho tôi không?”

DB Hiếu trả lời:

“Câu hỏi của tôi cũng tương tự như câu hỏi của anh Trần đình Ngọc. Chỉ thêm một chút là trước khi nhận chức Trưởng Khối Dân tộc Xã hội (tức Đối lập), anh có tiên liệu được những gì anh phải làm vừa lòng những anh em trong Khối đó đòi hỏi? Và anh có biết một số trong bọn họ là CS nằm vùng không? Có lẽ anh không biết và anh cũng không ngờ?”

Thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, LS Tuyên, mặt rầu rầu, đáp:

“Làm thế nào để các anh hiểu tâm tư của tôi với chỉ vài phút ngắn ngủi gặp nhau ở đây? Tôi đã suy nghĩ nhiều nhưng chẳng tìm ra một giải pháp để gỡ rối cái vị thế dầu sôi lửa bỏng của tôi hiện tại. Để có dịp thuận tiện, tôi sẽ nói với các anh nhiều hơn”.



Nói xong anh đứng lên bắt tay tôi, anh Hiếu và ra xe. Tôi nghĩ anh tránh né câu hỏi, một câu hỏi đi thẳng vào những gì anh đang trăn trở vì một người làm chính trị lâu năm, một LS kinh nghiệm như anh sao không nhận ra những gì một chiến sĩ QG không thể và không nên làm tay sai (dù là lầm lẫn lúc đầu) cho giặc. Nhưng có lẽ anh đã đi quá xa và lúc đó anh không còn kiểm soát được Khối viên (là những con cáo già CS) nữa! Ba tờ báo Đại dân tộc (của Võ long Triều), Tin Sáng (của Ngô công Đức) và Điện Tín do Lý quý Chung đã rất hữu hiệu yểm trợ Khối Đối lập và Nhóm Dân biểu QG HNV trong việc cho những DB này đi tầu bay giấy và tìm cách mạt sát các DB có lập trường QG là tay sai cho Nguyễn văn Thiệu. Anh Trần văn Tuyên có lẽ cũng đã “rét” với những tờ báo này!



Dân trí quá thấp, những người bình dân đâu có hiểu gì CS cho đến sau 30-4-1975, rất nhiều người miền Nam mới bật ngửa thì sự đã rồi. Những người này trước kia chứa chấp cán binh CS, nuôi ăn, tiếp tế, nhận làm mẹ nuôi, chị nuôi chiến sĩ v.v...Cũng chính những người này, sau khi CS đổi tiền hai lần, đánh tư sản mại bản công thương nghiệp tư bản tư doanh, đuổi đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, chiếm đất, chiếm xe cộ, tài sản, trương mục ngân hàng, chính họ là những người chửi rủa CS nhiều nhất, căm thù CS hơn ai hết.



Người dân miền Nam quả thực quá ít kinh nghiệm với CS nên dễ bị lừa. Nói gì bình dân, những trí thức như Dương quỳnh Hoa, Lâm văn Tết, Nguyễn văn Trấn, Xuân Vũ Bùi minh Triết (tác giả Đường đi không đến), Nguyễn thị Bình, LS Nguyễn hữu Thọ, Nguyễn ngọc Lan, Chân Tín, Lý chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Lý quý Chung, cả sư hổ mang Trí Quang và ông Thích Nhất Hạnh, cả Dương thu Hương, Nguyễn mạnh Tường, Hoàng xuân Hãn, Trần đức Thảo, Nguyễn đình Thi và hàng đống trí thức miền Bắc đó, hằng hà sa số bị lừa đau đớn, thế thì người dân miền Nam chữ nghĩa ít, học hỏi nông, xưa nay chân chất thật thà thì bị lừa đến táng gia bại sản cũng là phải thôi! Hãy cứ hỏi nhà văn Dương thu Hương, ngày 30-4-1975 ngồi khóc ở vệ đường Sàigòn vì nhận ra được là cả thế hệ của chị đã bị lừa, cái dã man mọi rợ (ý chỉ chế độ CS miền Bắc) lại thắng cái văn minh (ý chỉ miền Nam) là đủ thấy sự đau đớn và sự thật.



Tôi xin mở một dấu ngoặc với chị Dương Thu Hương. Không phải chị chỉ khóc có một lần ngày 30-4 đâu mà có lẽ chị còn khóc dài dài, chị Thu Hương ạ. Cái gian dối, lừa gạt, hung ác, vô văn hóa từ Hồ tặc truyền vào dân VN y như bệnh Aids, tệ hơn bệnh Aids như dân Ba Lan nói, nó sẽ còn kéo dài hàng thế kỉ, vài thế kỉ là ít sau khi CS giẫy chết chứ thuốc trụ sinh Dân Chủ dù mạnh mấy không đủ làm cho cái ung bướu quái ác CS đó biến đi ngay trong con người VN được đâu.



Trở lại với anh Trần văn Tuyên, một thời gian sau, anh từ nhiệm chức vị Trưởng Khối Dân tộc Xã hội tức Đối lập HNV, người thay anh là DB Lê đình Duyên, một DBCS nằm vùng.


ĐI TÙ CẢI TẠO



Sau 30-4-1975, cũng như nhiều anh em DB/HNV khác, LS Trần văn Tuyên đi trình diện và vào tù cải tạo.

Câu chuyện sau đây về cuộc đời “ba chìm bảy nổi” của anh Tuyên do chính anh tâm sự với một bạn tù cùng buồng với anh, anh này kể lại cho Bút Xuân nghe nhưng xin giữ kín danh tánh, câu chuyện “có thế nào nói lại vậy” không thêm, không bớt như sau:



Sau ngày 19-8-1945, do một mối giây liên hệ nào đó như bạn học, bạn đồng chí v.v... anh Trần văn Tuyên lúc đó được tướng Võ nguyên Giáp (CS miền Bắc) cử làm Chánh văn phòng cho ông ta. Giáp bảo với anh Tuyên là để rồi Giáp sẽ thưa với cụ (Hồ) chấp thuận để anh Tuyên có chức vụ và làm việc với Giáp.



Có một bữa, ông Hồ, Giáp và một số đông đồng chí, có cả anh Tuyên được mời đi dự một bữa cơm với nông dân, anh Tuyên kể lại như thế ở trong tù. Cơm dọn ra toàn là dưa cà mắm mặn, rau muống luộc, một bữa cơm hoàn toàn đạm bạc của nông dân. Trong lúc chộn rộn người ngồi kẻ đứng, ông Hồ ghé tai Giáp nói nhỏ:

“Cỗ bàn ngon lành ở phía sau, các chú xuống đó mà ăn chứ cơm này ăn gì được.”

Giáp bảo anh Tuyên loan báo cho anh em.

Thành ra, ngồi ăn cơm với nông dân chỉ là ngồi lấy lệ, biểu diễn, ăn qua quýt, xong lỉnh ra đàng sau để hưởng sơn hào hải vị đã làm sẵn để phục vụ.



Sau ngày Việt Cộng tự động giải tán CP Liên hiệp và Quốc Hội số 1, dân quân du kích Việt Cộng, theo lệnh từ ông Hồ và ban tham mưu VC, từ 1946, đã giết hại các người QG, các đảng phái phi CS, và cả người Công Giáo hay bất cứ ai bị nghi ngờ là không đồng chính kiến. Những người này bị ghép vào một tội chung: “Việt gian phản động làm tay sai cho Pháp” . Chỉ chín chữ đó đủ để ăn vài viên đạn vào đầu hoặc như nhà văn Khái Hưng, bỏ vào bao bố trôi sông (Khái Hưng bị giết ở sông Ninh Cơ). Mời đọc thêm: vnfa.com Góp ý với ông Bùi Tín Bài 1-8 Thảo luận với ông Võ văn Kiệt Bài 1-17 cùng tác giả.



Báo cáo từ các nơi gửi tới tấp về cho Chính Phủ Viêt cộng để giải quyết các khiếu oan cho dân. Anh Trần Văn Tuyên, với chức vụ Chánh Văn phòng, các công văn đều qua tay anh, anh phân loại rồi mới trình lên cho tướng Giáp để giải quyết. Anh Tuyên đã trình lên tướng Giáp nhiều lần xin tướng Giáp trình “Cụ Hồ” giải quyết ngăn chặn những sự giết chóc bừa bãi ở các xã nhưng anh Tuyên trình đã nhiều lần hồ sơ chất đầy bàn mà không được tướng Giáp lý tới. Lần trình sau cùng, tướng Giáp gọi anh Tuyên vào văn phòng, bảo:

“ Mang tiếng làm chính trị mà sao chú mày còn chậm hiểu quá. Việc gì mà phải giải quyết những vụ việc ấy. Đó là chính sách của trên, chú mày hiểu chưa?”



Từ đó, ông Tuyên đâm ra sợ và kị Việt Cộng, càng ngày ông càng rõ tâm địa thâm độc gian ác của ông Hồ chí Minh và bọn thủ hạ. Ông ghê tởm những hành động sát nhân mà những người bị giết chỉ là những người QG yêu nước, yêu đồng bào, những người dân hiền lành bị nghi ngờ đối nghịch với chủ nghĩa CS của ông Hồ và đồng bọn.



Và cũng chính vì vậy, ông Tuyên đã vượt thoát vào Nam tìm Tự Do sau tháng 7-1954, bỏ lại hai đứa con trai, một anh sau này đậu Kĩ sư canh nông chế độ Việt Cộng.

Sau 30-4-1975, như các DB và NS khác kẹt lại, LS Trần văn Tuyên vào trại tù cải tạo. Khi ông còn ở trong tù, hai anh con trai đã lặn lội đi thăm bố, mang theo quà của tướng Giáp là một cân đường và một cân mứt hạt sen.

(còn tiếp)

GS Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Cựu Dân Biểu HNV/VNCH

Cựu Sĩ Quan QLVNCH (Khóa 13 Thủ đức)
Hình ảnh cầu nguyện chiều 29-03-2009 tại DDCT Saigon







Bài Xem Nhiều