We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 4 April 2009

Chủ Đề 30.4:TỘI ÁC VIỆT CỘNG, 30-4

Hằng năm cứ vào ngày 30- 4, người Việt khắp nơi ở hải ngoại biểu tình, hay làm lễ tưởng niệm ngày Quốc hận. Bầu trời mờ đục che khuất dưới vòm mây xám. Năm nay trời mưa buồn lê thê như chia xẻ niềm ưu tư, và thông cảm nỗi xót xa của dân Việt trên toàn thế giới, có cả người trong nước đang bị gông xiềng dưới chế độ cộng sản.
Ngày 30-4-75 miền Nam tự do sụp đổ, đã đưa dân tộc Việt ở cả hai miền Nam Bắc đến tận cùng nỗi khổ. Nước Việt Nam đã biến thành địa ngục của trần gian. Lòng tôi bùi ngùi xúc động, nhớ lại những gì đã xãy ra trên quê hương tôi ngày ấy, 30- 4 -1975.
Bây giờ là tháng 4, tôi xin kể về những nỗi thống khổ của người miền Nam sau 1975, để chúng ta có dịp ôn cố tri tân. Sau tháng tư năm 1975, con dân nước Việt trên toàn cõi Việt nam đều ngậm ngùi rơi lệ, vì chúng ta đã mất tất cả. Một Việt nam Tự do không còn nữa, dù bạn là người miền Nam hay miền Bắc. Cho đến ngày nay, sau ba mươi bốn năm hoà bình, Việt Nam vẫn đang mãi quằn quại trong gông cùm nô lệ, đói nghèo, đàn áp, và xiềng xích của bọn cộng sản.
Bây giờ sống ở Mỹ, nhưng tôi cũng không biết tại sao tôi nhớ Việt nam? Nhiều lúc tôi hỏi chính mình, tôi nhớ qúa, nhớ con đường làng, nhớ chợ quê, nhớ ngày Tết, nhớ dòng sông! Ở đó có quá nhiều kỷ niệm, dù nhiều kỷ niệm đau thương đến với gia đình tôi. Hơn 20 năm xa xứ, tôi chưa về thăm lại một lần. Việt nam là quê hương tôi, là mồ mả cha ông, là bà con thân tộc, còn đối với người Mỹ, Việt nam vẫn mãi mãi là vết thương không bao giờ lành. Dù 30 năm sau, tất cả các cuộc chiến xãy ra, người Mỹ đã đem cuộc chiến Việtnam ra mổ xẻ, phân tích và nghiên cứu.
Tôi không phải là nhà văn, nhà báo, cũng không làm chính trị, không là cán bộ hay làm lính trước năm 1975. Tôi là một giáo viên. Nhiệm vụ của tôi là dạy dỗ con em yêu gia đình, yêu tổ quốc Việt nam, và giảng giải đời sống khoa học thực dụng chung quanh các em. Tôi chỉ mong làm tròn bổn phận một công dân trong xã hội, phục vụ nhân quần tròn trách nhiệm của mình. Tôi không tham gia chính trị, tôi cũng không cần phải liên hệ với chính trị đảng phái. Tôi sinh ra trước khi hiệp định Geneve ký kết và lớn lên ở Miền Nam; tôi được thừa hưởng mọi điều tự do tự nhiên không phân vân, hay thắc mắc. Từ sau ngày Cộng sản giết cha, cha tôi làm thầy thuốc bắc, nào có tội tình chi. Hai bác tôi là nông dân, cũng bị bắt lên núi rồi mất tích, lúc ấy tôi nhìn cộng sản như một loại khủng bố hung tàn, khi còn hai miền Nam Bắc đối nghịch nhau.
Sau 29-3-1975, tôi trở về sống ở làng quê với Cộng sản, tôi thấy rõ bộ mặt thật của cộng sản là khủng bố, độc tài và gian ác. Con người dưới chế độ cộng sản luôn luôn sợ hãi, đói nghèo, và nô lệ. Đảng cộng sản Việtnam là hiện thân của lừa bịp, láo khoét và tàn ác. Họ có khoảng chừng hai triệu người nhưng đã thống trị và đô hộ cả 80 triệu người khác dưới một chính sách ác nghiệt. Cộng sản là lủ qủy hay là loài thú dã man đội lốt người.Bây giờ nhiều người nói rằng chuyện đã xưa rồi, hảy quên, nhớ làm gì, nhưng tôi vẫn cứ nhớ. Tôi muốn được kể cho con cháu tôi biết rằng tại sao chúng ta phải tha phương cầu thực. Tại sao các con là người Việt nam phải sống rải rác các nơi trên thế giới từ nước này đến nước khác sau ngày 30-4-75. Nhìn lại được nhau là nhờ mớ tóc đen, da vàng mũi tẹt. Gặp nhau hỏi thăm rằng anh là người Á châu? Thậm chí có người không còn muốn nhìn mình là người Việt nam. Vậy thì tôi xin viết ra đây những gì có thật bằng mắt thấy tai nghe, để con cháu tôi hãnh diện được làm người Việt nam mà không quay mặt phủ nhận gốc gác của mình.
Người Việt nam ra đi là người Việt nam đã hứng chịu chồng chất tai ương do cộng sản đổ lên đầu, sau ngày chế độ tự do miền Nam sụp đổ. Đến bây giờ sau 34 năm, Việt nam vẫn chưa có Tự do, không có quyền làm người, và dân chúng vẫn mãi đói nghèo, ngoại trừ hai triệu đảng viên. Có hàng trăm tên đảng viên cộng sản gởi tiền ở ngân hàng Thụy sĩ, mỗi người có đến từ 2-3 tỉ đô la? Tại sao chúng có nhiều tiền đến thế, mà trong khi dân chúng lại cơ hàn. Thế giới còn phải lên tiếng vì tình trạng đói nghèo của dân Việt Nam. Đàn bà, con gái, con nít, là sản phẩm để chế độ đem bán qua các gian thương cho ngoại quốc để lấy ngoiại tệ!! Một dân tộc đang chìm đắm trong mọi hoàng cảnh nô lệ.
Tôi đã chứng kiến sự bạo tàn, áp chế của một chế độ đầy quyền lực sắt máu, và độc tài để cai trị nhân dân. Mạng sống của con người rẻ mạt như cỏ rác, họ muốn giết, nửa đêm gọi cửa, dẫn ra bải cát, hay triền núi bắn bỏ. Năm ba hôm sau có ai thấy được, thân nhân lượm xác về chôn. Đang đêm du kích dẫn cả bầy đến nhà, ùa vào đánh người mà có ai thèm điều tra, hay bảo vệ đâu. Ai kêu oan ta thán, chưởi bới là bị ghép phản động đưa đi tù. Nhiều danh từ mới mà người Nam chúng tôi chưa nghe thấy bao giờ như ,“Bọn ác ôn, bọn phản động hiện hành, giải phóng, cách mạng, thành phần bóc lột, tư sản mại bản, ngụy quân, ngụy quyền, hồ hởi phấn khởi, cải tạo tư tưởng, cải tạo lao động, cách mạng văn hóa, cách mạng nông nghiệp v.v...”Tất cả những từ ngữ thật kêu này dùng để che lấp sự ngược đãi, đói nghèo, tù tội, và cướp bóc. Nhiều từ ngữ được đảo ngược lại, cũng như chính sách cai trị của họ với chính sách tự do ngày trước.
Quê tôi giải phóng bao người đóiCả vạn khối người bị cùm gôngBỏ tù được gọi là cải tạoKinh tế mới, đón người khắp phố đông
Trời Nam tan tóc loài quỹ lộng
Tiếng khóc lời than ngập non sông

Liền sau ngày 30-3-75 khi Cộng sản tiếp thu Đà Nẳng, việc đầu tiên vô nhân đạo là vào bệnh viện Duy Tân, quân du kích, và bộ đội đuổi hết những thương binh, phế binh của miền Nam ra khỏi bệnh viện. Những thương bệnh binh còn đau, vết thương chưa lành. Những chiếc xe lăn của họ bị cướp đoạt, những người lính mù lòa cỏng trên vai người lính cụt chân. Những thương bệnh binh còn mang bọc ruột bên ngoài được đồng đội què quặt dìu dắt. Họ vất vưởng trên đường phố, tôi đứng nhìn theo, mắt rơi lệ, lòng ngậm ngùi. Một cuộc giải phóng của bọn cướp của giết người đã đưa mấy chục triệu người dân Nam Việt nam đến tận cùng nỗi khổ, và đói rét khốn cùng. Cộng sản biến miền Nam nước Việt thành địa ngục của trần gian, một nơi chốn đen tối nhất của xã hội loài người trên thế giới. Thế giới của cộng sản, một thế giới chết chóc, đói nghèo và tù tội.

Khoảng 200 ngàn người thanh niên, đàn ông vì tham gia bảo vệ miền Nam nay trở thành tội phạm. Họ trở nên những tên tù. Một thứ tù được bắt đi bằng những lời lưà bịp từ chính thể gọi là Việt nam Dân Chủ Cộng hoà, Độc lập Tự do Hạnh phúc của cộng sản Việt nam. Họ gọi là hoà giải hoà hợp và đưa những người của chính quyền cũ đi học tập chính sách 10-15 ngày tùy theo cấp bực. Một sự lưà bịp trắng trợn có cần gì chứng minh không vì nó rõ ràng trước mặt, họ thành những tên tù, đúng hơn là nô dịch không có án. Nhà tù mọc lên như nấm dọc theo Trường sơn. Có người làm nô dịch đến chết vì đói vì bịnh hay lao khổ. Con người không còn là con người mà là con vật người.

Người tù ở trong một nhà tù nhỏ, và người dân ở trong nhà tù lớn hơn, nhà tù cộng sản. Mọi người sống trong bóng tối cộng sản, không có được nguồn tin tức nào từ thế giới bên ngoài. Phố xá xác xơ, nghèo đói chết chóc vất vưởng chung quanh. Mọi người hoảng sợ lẫn nhau, vì mạng lưới công an khủng bố, tổ chức cài đặt khắp nơi có hệ thống để theo dõi mọi người, từ trẻ con đến đàn bà đàn ông, anh hàng xóm tới anh bộ đội. Mạng lưới khủng bố đe dọa kinh hoàng.

Kinh tế hoàn toàn bế tắc, mọi người không có việc làm, ngoại trừ làm ruộng. Lao động là vinh quang, là chủ thuyết làm cho dân nghèo đi để trị của cộng sản hay bọn cộng sản ngu?. Người dân ăn “sắn hay củ mì”, khoai, bo bo, chút ít gạo, có khi nhiều năm trường, con người trở nên xanh xao, bịnh hoạn. Nhiều thương gia, chính khách trước đây từng ủng hộ, họ âm thầm tiếp tế cho cộng sản, giờ hoảng hốt sợ hải, chờ tới phiên mình lên đoạn đầu đài, ân hận thì đã muộn màng. Đó là trường hợp của những người có học ở miền Nam tham gia Mặt Trận giải phóng miền Nam sau tháng 4-75 chỉ tồn tại ba tháng là bị đạp đổ. Trương như Tảng bỏ chạy, Nguyễn Hửu Thọ, Đoàn văn Toại, Kiều Mộng Thu, Trịnh Ðình Thảo, Phạm văn Thảo vv...bị đá văng ra khỏi cái chính quyền cộng sản một cách thê thảm. Một số bị tù? Người Mỹ như bà Jean Fonda mặc áo bà ba đen, ôm súng AK ủng hộ Hồ chí Minh, ủng hộ cộng sản vì người Mỹ chưa từng sống dưới sự cai trị tàn bạo của Cộng sản bao giờ.
Hơn mười năm sống với cộng sản, tôi thấy bằng chính mắt, nghe bằng chính tai tôi những tội ác của chế độ cộng sản phi nhân này gây ra. Những điều kinh hoàng về chế độ mà ngày trước 75, tôi sinh ra ở miền Nam, hay bây giờ con tôi lớn lên ở Mỹ, không thể tưởng tượng là có thật.

Trước năm 75 hằng ngày tôi chứng kiến cảnh chết chóc của những người lính từ hai miền Nam Bắc trên xóm làng quê hương tôi, tuy đau khổ nhưng không khổ bằng sau 75. Sau năm 75, số người chết tương đương với những năm chinh chiến: người tự tử hàng ngày từ miền quê đến thị thành vì áp bức, vì đói nghèo, vì khủng bố. Những người thanh niên, thanh nữ bị chết bởi bắt đi khai hoang vào những bải mìn, bải cỏ bỏ hoang từ bao lâu nay. Hể hở ra một tiếng thở dài ta thán, cũng bị theo dỏi là có tư tưởng phản động.
Người đói chết trong tù, người đói chết bên đường. Người chết ngoài biển khơi, người chết trên rừng già. Người chết vì bị giết, hay bị lao dịch. Người chết vì vượt biên bị người Miên giết, bị cộng sản bắt được giết, hay bị Thái giết. Người thất chí nói chống đối bị bắt đánh tới chết, người khác bị bỏ tù, nhà tù mở ra như nấm từ thành phố đến Trường sơn.

Miền Nam Việt nam trở thành nhà tù hay địa ngục đầy kinh dị, mà tôi, người miền Nam chưa hề tưởng tượng hay nghe nói đến, trong lịch sử loài người. Nhớ những năm 78 người vượt biên bị bắt được gọi “Phản quốc, ” bị bắn tại chỗ, thế rồi bây giờ đổi thành “Việt Kiều Yêu Nước.” Đừng nghe những gì Việt cộng nói mà hãy nhìn những gì Việt cộng làm.Người cộng sản dùng những chiêu bài như “ Nước Việt nam là một, người Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” Hay “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.” Mục đích là muốn chiếm trọn miền Nam để cướp bóc dã man từ tài sản đến nhân mạng bằng nhiều cách, nhiều chiến thuật, chính sách ấy thực hiện liên tục móc nối nhau: Thứ nhất đưa đàn ông đi tù làm nô dịch, rồi dân ở thành phố bị cô lập đến đói, thực phẩm không được chuyển vào thành phố. Giá cả thực phẩm ở thành phố tăng vọt hàng ngày hàng giờ. Trong khi những gia đình Ngụy, nhất là những người đàn bà trước kia là công chức, nay không có việc làm, họ đem bán tất cả đồ đạc có được như đồ trang sức, áo quần, bàn ghế, tất cả những gì có thể được để đổi lấy miếng ăn.
Ai đi buôn thì bị đón bắt tịch thu dọc đường, vì người đi buôn là có tội, tội lười biếng không lao động. Chiến dịch “ Ngăn sông, cấm chợ, và lao động là vinh quang,” một chính sách dã man, ăn cướp cạn, không luật pháp. Cộng sản là bọn thú đội lốt người. Luật trên đầu súng, luật của cộng sản là luật rừng của bọn cướp.

Dần dà người thành phố vì đói nghèo, đành bỏ phố mà ra đi theo áp lực của chính quyền cộng sản phải đi vào những miền mà Cộng sản đặt tên “Kinh tế mới,” để lao động. Một số đàn bà bị họ dụ dỗ, lừa đảo là đi Kinh Tế Mới để chồng con được tha về, cùng nhau lên núi tạo đời sống mới. Nhưng khi người vợ đi rồi, nhà cửa bị họ lấy bằng cách thu mua rẻ mạt, còn chồng con vẫn mãi ở trong tù. Núi non trùng điệp, rừng thiêng nước độc, những người đàn bà tay yếu chân mềm từ trước đến nay, đến đây ít tháng con cái bị bệnh sốt rét hoành hành, đói khát, chết dở sống dở, đành chạy về lại thành phố sống la lết ở rầm cầu, xó chợ qua ngày. Rồi thì công an bắt được đưa đi tù, bỏ đàn con đói khát, khốn khổ bơ vơ. Trẻ con làm đủ thứ nghề để sống, con gái làm điếm, con trai ma cô, trộm cướp du đảng. Tai họa đến thì phải đi tù. Có khi một gia đình cha bị tù vì làm việc trước 75, mẹ tù vì cư ngụ bất hợp pháp hay chống đối, còn con cái vì làm điếm, hay trộm cướp đi tù. Ai thấu cho nỗi niềm đau của dân chúng miền Nam sau thời 75.Số đàn bà nào ù lì ở lại thành phố thì sa ngay vào chiến dịch “HOA HỒNG,” tức là những nhà đàn bà có chồng đi cải tạo, được chính quyền gởi cán bộ, bộ đội tới ở trong nhà. Họ dùng bằng được mọi thủ đoạn nhặt khoan để họ cướp vợ. Làm sao họ cướp được của rồi, họ phải cướp vợ của người miền Nam. Làm sao để người miền Nam tan tóc, đổ nát, thì họ mới vui. Biết bao người đàn bà lấy cán bộ. Bọn cộng sản đã tài chủ hóa, sở hửu hoá những nhà này, vợ này thành của họ. Những người lính hay cán bộ chính quyền cũ trình diện học tập 10 ngày, nay trở thành nô dịch vô hạn định. Làm nô dịch không án tù, không ai biết được số phận của mình. Những đứa con của họ không được tiếp tục theo học tiếp sau trung học.

Cộng sản bài trừ triệt để những người của thế hệ sau, liên hệ với người chính quyền cũ đến ba đời. Những đứa con có cha làm cho chính quyền Quốc gia chỉ còn cách cắt đá, làm đường sắt, làm công nhân, và không bao giờ có cơ hội ngóc đầu nỗi. Một nạn kỳ thị khủng khiếp phủ lên đầu con dân miền Nam bằng cái “Hộ Khẩu” mà có người nói lái là hậu khổ, chưa từng có trên thế gian này, ngoại trừ người Việt nam.

Những chiến dịch khủng bố tinh thần xãy ra liên tục từ 1-5-1975, cộng sản quyét sạch văn hoá tự do bằng cách tịch thu sách báo, tạp chí, đặc san của người miền Nam, mà họ gọi là sách báo đồi trụy. Bắt đầu, họ tổ chức những đội thanh niên xung phong đi tịch thu ở từng nhà một, tất cả các lọai sách báo miền Nam. Cấm hát tất cả loại nhạc miền Nam, cộng gọi là nhạc vàng, làm con người yếu hèn. Ai cất dấu bắt được, bị bắt, bị tù.

Nhà tù nhan nhản trên miền núi, vì ở đó họ đang cần công nhân nô lệ làm nô dịch để sản xuất phụng sự cho 2 triệu cán bộ và quân đội. Những bản nhạc chém giết như “Giải phóng miền Nam, Tiếng chày trên sóc Mâm bô, Tiếng đàn ta lư, Ai yêu bác Hồ...” toàn là lời nhạc chém giết như ,“Cầm gươm ôm súng xông tới...” hát theo kiểu Tàu éo éo chói tai. Chiến dịch bài trừ này kéo dài theo thời gian từ 1-5-75 cho đến năm 1982 thì nhẹ bớt, và nỗ lực ráo riết nhất là 1981 cho đến khi thật sự không còn sách báo nữa mới thôi.

Những sách báo miền Nam được chia làm năm loại: được đăng tải trên các báo cộng sản như Tạp chí Cộng sản, Tin sáng, Quân đội nhân dân, Sài gòn giải phóng vv...Loại A là loại sách chống cộng và ca tụng chính thể tự do của Mỹ như sách cuả Nguyễn mạnh Côn, Duyên Anh, Nhất Linh..vv... sách dịch gồm những tác giả André Gide, Pearl Buck, Pasternak v.v..Loại B là loại sách khêu gợi, đầu độc, cộng sản gọi là văn hóa đồi trụy như của Miller, Kazan, Francoise Sagan, Trần thanh Hiệp, Thanh tâm Tuyền vv...Loại C là loại sách tình cảm, nhạc vàng, gồm những tác giả như Bàng bá Lân, Mộng Tuyết, Tuệ Nga, Eric Sagan, S. Maugham, R. Nathan, A. Dumas, Lamartine vv..Loại D là loại sách về tôn giáo và triết học. Trong loại này được chấp nhận một số ít vì có vài loại sách chống Mỹ. Loại E loại phản chiến và khoa học kỹ thuật. Loại sách này nếu bắt được tạm thời tha.Loại F là loại gồm sách đấu tranh, sáng tạo hay nghệ thuật.

Số sách tịch thu được nhiều nhất là 1981, thành phố Sài gòn khoảng 60 tấn, ba tỉnh Bình Trị Thiên khoảng 50 tấn, tỉnh Quảng Nam 10 tấn. Cùng năm này, công an lùng bắt và nhiều người còn giữ sách đã bị ra toà án nhân dân và bị đi lao dịch.
Trên mặt trận kinh tế, họ đổi tiền ba lần để bần cùng hoá người dân miền Nam. Lần thứ nhất ngày 22-9-75 với tỉ lệ là 1 đồng mới bằng 500 đồng tiền cũ giới hạn 200 đồng cho mỗi hộ. Trong đợt này họ phát hành 8 loại giấy bạc: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 50 đồng. Rất khó khăn nhất cho người dân miền Nam là đồng bạc 50 đồng, vì không có tiền thối lại.
Lần thứ hai ngày 3-5-78 đổi tiền cả hai miền Nam Bắc. Miền Bắc 1 đồng đổi 1 đồng thống nhất, nhưng 1 đồng miền Nam bằng 8 hào thống nhất. Đợt này họ phát hành thêm 5xu, 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, và 100 đồng.
Lần thứ ba đổi tiền ngày 14-9-85. Một lần nữa họ đổi tiền theo tỷ giá 10 đồng tiền cũ được 1 đồng tiền mới. Họ phát hành tiền loại 2 đồng, 10 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Năm 1978 là năm mà kinh tế miền Nam khủng hoảng nhất, dân miền Nam đói rét khủng khiếp nhất. Người miền Nam từ thiên đường rơi tỏm xuống địa ngục. Khi đói nghèo thì ta thán, bỏ chạy, còn nhân dân miền Bắc thì chịu đựng những cơn đói hành hạ từng bao nhiêu chục năm trường trước đây, họ trở nên lì hơn.Mục đích những lần đổi tiền là làm nhỏ đi đồng tiền miền Nam Việt Nam, nghĩa là bần cùng hóa nhân dân miền Nam để cai trị. Ba lần như vậy, người miền Nam không còn gì hết, từ nghèo đến đói và tóc tang. Đồng thời cùng một lúc với các chiến dịch đổi tiền, tịch thu sách báo, họ đánh tư sản mại bản nhiều lần. Họ kiểm kê tài sản hàng hóa những thương gia miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, rồi đưa nhóm người này vào tù. Họ lấy tất cả nhà cửa, hàng hóa, vàng bạc, đưa thương gia đi lao dịch, và vợ con đi vào kinh tế mới để sản xuất. Núi rừng thâm sơn gió chướng, bệnh hoạn giết chết bao người!

Đầu năm 1978, chiến dịch đuổi người Tàu ra khỏi nước, bằng cách thu nộp mỗi người 10-20 lượng vàng để đóng tàu bè ra đi. Người muốn đi ngoại quốc phải ký giao nhà cửa cho cán bộ quản lý hay đúng ra là hình thức ăn cướp hay hối lộ. Họ làm hỏng máy và cho những chiếc tàu ra khơi không an toàn vào ngày gió bão để giết người hàng loạt trên biển Đông. Có những tàu quá trọng tải nên vừa ra khơi là chìm, miễn sao cán bộ cộng sản lấy được tiền, vàng bạc, nhà của. Số cán bộ làm giàu rất mau lẹ trên xương máu người đồng chủng không thương tiếc, không còn có chút cảm giác của con người. Đó là loại người cộng sản, loại người lạnh máu, loại người vô nhân đạo nhất thế gian này. Ở nông thôn, họ tịch thu ruộng đất của dân chúng, thành lập hợp tác xã. Của cải tài sản của dân nay biến thành của nhà nước hay cán bộ, và dân chúng đi làm thuê, cán bộ tính công hàng ngày. Cộng sản cấm buôn thúng bán bưng, mọi dịch vụ thương mại đi vào hợp tác xã mua bán, và dẹp chợ, vì mọi người phải đi lao động hàng ngày. Mỗi ngày làm 8 tiếng có được từ 6 đến 10 điểm đến khi chúng tính chia chỉ có hai ký lúa, khoảng 1 ký gạo? Làm sao đủ sống? Hàng năm mỗi người còn phải đóng thuế thân là 360 điểm cho xã hội chủ nghĩa. “Lao động là Vinh quang,” câu khẩu hiệu, câu châm ngôn đầu môi mép miệng của bọn cộng sản. Mọi người dân từ thành thị đến thôn quê kêu trời không thấu, ngữa mặt thấy máu rơi, tội tù và đói khổ.

Cộng sản giết người bằng những thủ đoạn âm thầm, thâm độc mà người ngoại quốc mới nhìn vào cứ tưởng là khoan hồng. Thật ra, những người miền Nam có tội tình gì? Tội bảo vệ tự do, tội chống lại sự xâm lăng của miền Bắc, tội bảo vệ tài sản mình ư? Dưới chế độ cộng sản, con người không còn quyền làm người, ra khỏi thôn là phải xin phép công an, đám giổ đám cúng phải xin phép vì luật không tụ họp quá hai người. Nếu chính quyền địa phương không cho phép thì sẽ bị bắt đi tù. Ban đêm tụi công an mật vụ đi rình từng nhà nghe thử có ai nói lời bất mãn không. Hằng ngày có ai đến nhà, họ nói gì, ai ăn ngon mặc đẹp mà khai nghèo, thì sẽ phải đi tù vì khai baó không thật thà? Không được đi lại, không được nói, không được ăn, không được đi chùa đi nhà thờ, tất cả là không. Không còn gì nữa cả dưới chế độ cộng sản. Vô sản, vô quyền, vô thần mới đúng nghĩa của chính sách của cộng sản Việt nam. Tất cả đời sống con người bị kiểm sóat, kiềm kẹp chặt chẽ bằng mọi cáh. Đi đến đâu là có mật vụ theo dỏi, ngay cả con nít cũng bị đầu độc trong việc này.

Con người dưới chế độ cộng sản là sống trong một nhà tù khổng lồ, vô cùng khiếp sợ. Việt nam, nơi tôi sinh ra, lớn lên và tôi đã tìm đường bỏ chạy. Không những riêng gì tôi, mà hàng triệu người, ai chạy được thì chạy, tìm sự sống trong cái chết. Có người nói rằng, cột đèn miền Nam nếu chạy được cũng muốn chạy, huống hồ chi con người. Ra đi để các con chúng tôi có đời sống tự do, có chút không khí tự do để hít thở, để sống và để làm lại con người. Hàng triệu người bỏ trốn, từ bỏ cái xã hội chủ nghĩa, từ bỏ cái thiên đường cộng sản, dù phải chết trên biển cả hay trong rừng già. Thiên đường cộng sản là thiên đường mù, hay thiên đường lót đầy máu của dân chúng Việt Nam.
Trên chuyến hải hành đầy gian khổ, lênh đênh trên biển khơi, đói khát với giông bão hãi hùng, cái giá của tự do quá đắt với người Việt chúng tôi. Một phần ba số người ra đi chết trên biển cả. Đến bến bờ tự do, gia đình tôi có được tự do, thì chúng tôi phải đương đầu với những khó khăn về ngôn ngữ, thời tiết, và văn hóa. Dù gì đi nữa, thì con cái chúng tôi còn có được chút không khí tự do để thở và hy vọng ngày mai. Hy vọng ngày tự do sẽ đến với dân tộc Việt nam chúng tôi sớm hơn.

Thế giới bây giờ đã thấy được bộ mặt thật của cộng sản Việt nam, ông Hồ chí Minh không còn là thần tượng của bà Jean Fonda, và những người phản chiến nước ngoài nữa. Dù cộng sản Việt nam bưng bít thế nào đi nữa, láo khoét mãi với thế giới loài người bên ngoài, để đày đọa người dân trong nước, thì bây giờ cũng không còn dấu diếm được nữa.

Thế giới của những nhà độc tài đã lần lần bị thoái hóa, và bị tiêu diệt bơỉ ánh sáng văn minh tiến bộ bên ngoài. Phải chăng tôi đang hy vọng ảo, là ánh sáng sẽ có ở cuối đường hầm, nhưng dù gì thì tôi vẫn tin và hy vọng ở ngày mai. Tất cả những nhà độc tài đã từ từ triệt tiêu vì lạc hậu và vô nhân đạo, và ngày ấy Tự do sẽ đến với Việt Nam tôi. Tự do sẽ đến để cho những người bà con tôi, thân nhân tôi, dù là con cái của đời sau, họ cũng có được chút không khí tự do, ánh sáng tự do, để hít thở, và để có được quyền sống, quyền làm người như bao người khác trên thế giới. /-

Phạm Ðào Nguyên

Mặt trơ trán bóng!

Miếng thịt cũng là miếng nhục.
(Dân nhậu)

Mấy năm sau 75, “nhờ ơn” Bác Hồ đem cái “thiên đường Xã Nghĩa” của Chủ Nghĩa Cộng Sản vào Nam, với chủ truơng cào bằng, để toàn dân hai miền Nam Bắc được bình đẳng sống chung hạnh phúc trong “Thế giới đại đồng”, miền Nam, một nơi từng được mệnh danh là vựa lúa gạo của vùng Đông Nam Á bỗng dưng đói rạc.

Đói khạc ra tro. Đói ho ra máu.

Lúc chưa có đôi dép râu, nón tai bèo của Bác vượt Trường Sơn dẫm lên phần đất bên này vĩ tuyến, thóc lúa, cá tôm của miền Nam đầy sông, đầy đồng, chỉ cần với tay ra là có ăn.

Tha hồ ăn. Ăn mệt nghỉ.

Rất nhiều năm, người dân miền Nam sống trong cảnh mà Bác ngày đêm “thương xót” gọi là sống trong cảnh “phồn vinh giả tạo”.

Họ cứ ngày ngày tà tà vui sống. Hủ gạo trong nhà không bao giờ vơi.

Ở miền quê, hàng ngày, ngoài thời gian dành cho việc đồng án, dân nhà nông cứ chiều chiều là bắt đầu “gầy sòng nhậu”.

Nhậu mát trời ông Địa.

Một cuộc nhậu thật dễ dàng. Một con cá lóc vừa câu được, một chai đế Gò Đen cũng đủ “gầy” môt sòng cho ba bốn dân nhậu hả hê.

Ấy vậy mà, từ ngày “giải phóng vô đây” một con cá trê nhỏ bằng ba ngón tay cũng kiếm không ra. Một xị đế loại hạng năm, lạt nhách như nước lã cũng khó tìm.

Lẽ nào tôm cá, lúa gạo cũng biết sợ Bác mà trốn mất tiêu, khiến cho toàn dân phải sống khổ, sống sở với bo bo, sắn lát và muối hột?

Thật không hiểu nổi với những “đỉnh cao trí tuệ” của Bác Đảng trong óc chứa chất gì mà có thể nghĩ ra được mấy “quái chiêu” ngăn-sông-cấm-chợ-đóng-cửa-rút-cầu để trị quốc an dân khiến cho xã hội thụt lùi trở về thời trung cổ. Thời săn bắn hái lượm.

Bắt đầu từ đó, dân nhậu “gặp nhiều khó khăn”. Mồi ít, đế hiếm mà dân nhậu thì không chịu vắng một ai.

Ngày xưa, mỗi lần nhậu là từ lít đến can. Nhậu ngã, nhậu nghiêng. Bây giờ nhậu chỉ còn vài “xị” và phải nhậu “canh”.

Canh chớ không phải can.

Can là loại thùng nhựa dung tích thường là năm lít. Loại can lớn dung tích 20 lít.

Canh là canh chừng. Không phải canh chừng mấy cu cậu “bò vàng” (công an nhân dân) mà là canh chừng “phe ta” không mời mà đến bất tử.

Trong giai đoạn “hoàng kim” của thời kỳ Xã hội Chủ nghĩa (cũng còn gọi là Xuống hố cả nước) đói rạc gáo này, trong làng nhậu nãy sinh ra những anh “mặt lỳ”. Những anh “mặt lỳ” này lỳ hết chổ nói.

Hể đánh hơi ở đâu có động dao, động thớt là anh ta đảo qua, đảo lại như chuồn chuồn để nghe ngóng. Lúc thì nhón cẳng ngó qua hàng rào. Lúc thì đứng xuôi chiều gió đánh hơi mùi rượu.

Khi độ chừng “sòng nhậu đã gầy” xong xuôi đâu đó, anh mặt lỳ giả bộ tằng hắng lên tiếng:

- Ai kêu tui đó? Có tui đây!

Tự mình hỏi, tự mình trả lời ên. Rồi cứ “tự nhiên như người Hà Lội” anh ta xông vào bàn nhậu, tự nhiên cầm chai đế vừa rót vào ly, vừa ca bài “độc ẩm”:

- Xin lỗi quí anh nghen! Tui đến trễ xin chịu phạt ba ly!

Nói xong anh “mặt lỳ” làm ba ly liền, trước những cặp mắt đầy bất mãn của “phe ta”.

Làm ba ly xong, không thấy ai trong sòng “tế nhị” lịch sự lên tiếng mời xã giao một câu, anh mặt lỳ (cũng rất tự nhiên) bèn ca tiếp bài “vào ba, ra bảy”:

- Xin lỗi quí anh nghen! Hôm nay bận quá, không ngồi lâu cùng quí anh được, tui xin tự phạt mình bảy ly cho đúng luật giang hồ, trước khi rút lui có trật tự.

Thế là, vừa rót vừa uống, chưa kịp đủ bảy ly thì cái chai xị đã cạn không còn một giọt. Anh ta đưa tay lên quẹt mỏ, bên trái một cái, bên phải một cái rồi cắp đít đi thẳng. Mấy tay nhậu còn ngồi lại đưa mắt nhìn nhau, nhìn cái chai trống không, đồng thanh cất lời “ca tụng”:

- Quả đúng là cái thằng mặt lỳ! Lỳ hết chổ nói!

Đó là kể chuyện thời “bao cấp” của Nhà nước ta đang còn trong giai đoạn “ra ngõ gặp anh hùng” với chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.

Bây giờ thì cái chủ nghĩa Mác Lê “cà chớn chống xâm lăng” này đã đi té re một chuyến tàu suốt rồi. Đi lặng lẽ không trống, không kèn. Không thấy Nhà nước ta làm đám ma đưa tiễn với điếu văn ai oán của ông Tố Hữu, đại thi nô :

Thương cha thương mẹ thương chồng,

Thương mình thương môt thương ông thương mười.

Bây giờ thì Nhà nước ta trương ra cái gọi là “Tư tưởng Hồ” để thay thế bóng ma Mác Lê để tiếp tục đưa dân tộc tiến lên…chủ nghĩa tư bản, bằng cách làm ăn theo “kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Hồi “Bác” còn sống nhăn chưa “chuyển sang từ trần”, Bác đã từng nói:

- Bác có tư tưởng gì đâu! Mọi tư tưởng đã có Bác Mao, Bác Xít nói cả rồi.

Bây giờ Bác đã nằm khô queo trong hòm kính mấy chục năm nay, bỗng nhiên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản lại moi được trong cái xác khô ấy ra cái gọi là “tư tưởng Hồ chí Minh”, bắt toàn dân phải học tập ngày đêm, ròng rã một năm trời, để thấm nhuần ý ngọc, lời vàng của Bác.

Thiệt là phép lạ thần kỳ!

Té ra “tư tưởng của Bác” được viết bí mật trong miếng da dê dấu sau gáy của Bác gồm bốn chữ: “Mã qui-Qui mã”. Bộ chính trị diễn Nôm ra là phải bắt tay với Mỹ, kẻ thù bất cộng đái thiên, để “hòa hợp hòa giải” với tên đế quốc đầu sỏ, tên xâm lược, tên sen đầm quốc tế, tránh họa “sắp giãy chết” của chủ nghĩa Cộng Sản.

Uổng công ba mươi năm, cả triệu cán binh miền Bắc phơi xương trắng dãy Trường Sơn để đánh đuổi giặc Mỹ. Giờ lại trãi thảm đỏ rước giặc Mỹ vào tận dinh Ba Đình.

Nực cười!

Cái chuyện “tư tưởng Hồ chí Minh” e còn phải tán… láo dài dài.

Bài này đang luận về chuyện của mấy anh dân nhậu có liên quan đến “miếng thịt là miếng nhục” của một anh “đón gió trở cờ” có hỗn danh là “mặt trơ trán bóng”.

Còn “tư tưởng của Bác” xin gát qua một bên cho rộng chổ.

Nay xin nói tiếp về “quí anh mặt lỳ trong làng nhậu” “Ai kêu tui đó?”

Tưởng đâu qua cái xứ Cờ Huê này, cái ăn, cái mặc dư thừa, ăn không hết, mặc không hết, phải kiếm chổ đi đổ, đi cho, thì làm gì có chuyện “lăn xê sẹt xê măng dzê” (nhào dô kiếm ăn) dành chổ cho quí anh mặt lỳ!

Ấy vậy mà có đấy quí vị ạ!

Ít ra thì cũng đã có một anh “mặt lỳ”. Anh này lỳ đến nổi “mo phú” hết thảy lời nguyền rủa của đồng hương, đồng hội, đồng thuyền, đồng… nát để “Ai kêu tui đó! Có tui đây!” để “mặt trơ trán bóng” nhào dzô kiếm ăn trong những sòng nhậu mà chẳng có ai mời. Dẫu biết rõ mười mươi rằng những kẻ đang ngồi trong sòng đã từng là kẻ cướp, đã cướp sạch sành sanh gia tài tổ tiên anh ta để lại. Và anh ta đã phải cong đuôi bỏ chạy sang xứ khác lánh thân.

Anh lỳ “mặt trơ trán bóng” này không cần hài tên ra đây, ba quân thiên hạ cũng đều biết rõ tỏng tòng tong hắn là ai!

Cuộc đời và binh nghiệp của hắn ta, coi đi coi lại chẳng thấy có gì nổi trội, vậy mà có lúc mã phát sao ấy, đã làm tới chức phó vương.

Nhớ lại cái thuở xa xưa, lúc tông tông Thiệu ra tranh cử vào Phủ đầu rồng, muốn hốt phiếu nông dân nên giương cao khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Anh mặt lỳ này cũng lăn xăng ra tranh ăn, muốn độc chiếm ngai vàng, cũng phất cao ngọn cờ “Thương phế binh có nhà” để quơ mớ phiếu của anh em quân nhân và thương phế binh.

Cái chuyện đảo chánh, chỉnh lý, tranh cử, tranh ăn xãy ra xoành xoạch rối như nồi canh hẹ. (Việt cộng lúc ấy dở như hạch, nếu không thì đã cướp được miền Nam từ khuya rồi)

Cũng vì lá cờ “Thương phế binh có nhà” của anh mặt lỳ trương lên mà dân chúng môt thời khổ sở, tá hỏa tam tinh vì nạn “kiêu binh” của mấy anh thương phế binh “phe ta”.

Riêng ở Nha Trang, hai tên Nguyễn thành Trung (Trung úy) và Lương Lãng (Trung sĩ) cậy mình là thương binh, kéo theo một đám què cụt (bọn lưu manh, không phải là TPB), đi chiếm đất, chiếm nhà của dân chúng để làm tiền. Chúng thấy nhà nào có sân trước nhà rộng rãi là đem kẽm gai đến rào rồi cho một hai anh quặt quẹo nằm ăn vạ ở đó. Chủ nhà phải mếu máo, vừa khóc vừa đưa tiền, cúng lạy chúng như cúng cô hồn các đản rằm tháng bảy để chúng buông tha cho.

Kỹ cương phép nước, kỹ luật quân đội chúng coi như “nơ pa”. Có anh cả mặt lỳ bảo kê mà! Quân cảnh, cảnh sát bó tay đứng ngó!

Nha Trang một thời náo loạn, kéo dài đến mấy tháng.

Đến khi, chuyện tranh ăn đến hồi kết cục, tông tông Thiệu lọt được vô Phủ đầu rồng, việc đầu tiên là ra lệnh cho Quân cảnh thẳng tay hốt hết đám rác rưởi ấy cho vô nhà đá ăn cơm hẩm. Dân chúng bấy giờ mới thở phào nhẹ nhõm như mổ được cái ung nhọt trên lưng.

Các thành thích của “đứa con cầu tự” này nhiều lắm, cứ na ná như chuyện vừa kể.

Đó là chuyện cá nhân của hắn ta. Mặc xác hắn. Không ai hơi đâu mà lý tới.

Nhưng khổ cái là hắn ta đi đâu, làm gì cũng nhơn nhơn cái mặt trơ, cái trán bóng ra xưng là đại diện cho tập thể này, cộng đồng nọ, tuyên bố, phát biểu vung tí mẹt chẳng ra cái thống chế gì cả khiến cho người Việt tị nạn lắm lúc bực mình, xấu hổ đỏ mặt.

Như mới vừa rồi đây, khi khổng khi không, chẳng có ma nào mời, hắn ta cũng lật đật hối hả từ Việt Nam, chạy nước rút qua Mỹ cho kịp bữa nhậu ở Dana Point để “Ai kêu tui đó! Có tui đây” chường mặt, bắt tay cho được mấy anh Sáu, anh Ba.

Coi tấm hình chụp ké đứng cạnh anh Sáu, mới thấy rõ hắn ta quả thật là “mặt trơ trán bóng” đúng với nghĩa đen của thành ngữ.

Chưa hết, để cho đúng luật giang hồ “vào ba ra bảy”, sau khi anh Sáu ca xong sáu câu vọng cổ cải lương mùi mẫn chiêu dụ “khúc ruột thừa ngàn dặm” ôm tiền về quê hương để chung sức trồng cây khế ngọt, hắn ta đã khom lưng, hạ mình, nịnh anh Sáu quá cỡ thợ mộc, làm người Việt tị nạn phải xấu hổ đến chết được. Thẹn thùng, mắc cỡ đến nỗi tay nổi da gà.

Bài ca của anh Sáu:

“Chúng ta là người Việt Nam, bây giờ hãy thương yêu nhau, hãy đoàn kết bởi vì chúng ta cùng một mẹ hiền VN. Đảng và Nhà nước VN không bao giờ thành kiến với những người còn có ý kiến khác biệt, trái lại luôn mong tất cả bà con người VN ở ngoài nước đều có nhiệt tình, thiện ý xây dựng một nước VN hòa bình, vững mạnh”. (Không thành kiến nhưng thẳng tay đàn áp và tống vào tù ngay tút xụyt. NV) Đến đây, tôi thực sự xúc động được gặp bà con trong không khí cởi mở, thân mật như thế này. Anh NCK đang ở VN nhưng khi nghe chuyến thăm của Đoàn có cuộc gặp gỡ ở đây (bữa nhậu) đã bay về Mỹ và có mặt ở đây hôm nay. Điều đó nói lên cái gì? Điều đó nói lên rằng chúng ta là người VN, dù quá khứ thế nào đi nữa, bây giờ hãy thương yêu nhau, đoàn kết với nhau vì chúng ta cùng chung một mẹ hiền cùng hướng về VN. Có phải như vậy không? (Rõ ràng là anh Sáu xác nhận không có ai mời mà hắn ta ngữi thấy mùi…thịt đã vội vàng: Ai kêu tui đó! Có tui đây!)

Hắn ta được anh Sáu chiếu cố xoa đầu, nhắc đến tên giữa sòng nhậu, lấy làm khoái chí, sướng rên lên, hai con mắt cứ híp lại như hai cái vỏ sò úp. Và theo đúng luật giang hồ trong sòng nhậu, hắn ta vòng tay đáp lể cho phải phép, một cách trơn tru, ngon lành một bài “đít cua” rất ư là trơ trẽn. Da mặt cứ bóng lên, trơ ra, không biểu lộ môt chút gì gọi là “ngượng ngùng”:

“Bài nói của anh Sáu gây xúc động lớn đối với tôi.Tôi trước đây đã từng đứng bên kia đấu trường với anh Sáu. Những gì tôi nghe được hôm nay được xuất phát từ tình cảm, trái tim của một người dân Việt.

Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên và có thể nói rất cảm động. Anh Sáu đã nói về dân tộc, về đất nước. Tôi nghĩ, tôi không thể nói thêm gì hơn là tôi hoàn toàn chấp nhận tiếng nói của một dân tộc, của một người Việt Nam.

Dù muốn dù không, đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt đối với người Mỹ, tôi là một thứ biểu tượng của một bộ phận khác bên này của người Việt. Vì vậy sự hiện diện của tôi ngày hôm nay, sau khi trở về VN, tôi muốn nói với đồng bào VN, đặc biệt những người từng dưới sự chỉ huy của tôi là: Ngày hôm nay, mọi bất hòa đã chấm dứt. Ở đây không có vấn đề Quốc - Cộng. Ở đây chỉ có vấn đề VN và dân tộc Việt.

Tôi muốn nhắn lời cám ơn chân thành đến anh em trong nước 3 năm nay đã đón tiếp tôi. Tôi biết ơn những lời nói từ tâm hồn một người lãnh đạo của đất nướcVN, một sự nâng niu gắn bó dân tộc. Xin cám ơn mọi người và xin cám anh Sáu, một người yêu nước.”

Xin miễn bàn về cái sự tự xưng là “biểu tượng của bộ phận người Việt và lời nhắn nhe với những người từng dưới sự chỉ huy”, nội những lời hạ mình, bợ đỡ của hắn ta, không biết mấy trăm nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước hôm đó (trước kia bị miệt thị là dân phe phẩy) trong bữa nhậu ấy có thấy kỳ… cục và trẽn không? Chứ riêng mấy ngàn người Việt hải ngoại đang đứng biểu tình bên ngoài quán nhậu, phản đối Đoàn của anh Sáu thì vừa tức ói máu vừa mắc cỡ muốn độn thổ để che cái mặt.

Xem ra “cái anh mặt lỳ” ở chốn thôn dã vì thiếu đói, ghiền nhậu đành phải giơ mặt lỳ ra để kiếm chác chút rượu còm còn ngon lành, tư cách hơn cái anh chàng “mặt trơ trán bóng” này nhiều lắm lắm.

Thế mới biết già đầu chưa chắc đã là khôn khi cái mồi danh lợi nó ám cả lương tri và danh dự.

Ngẫm mà coi! Dù gì đi nữa mình cũng một thời mang hia đội mão, vẽ mặt bôi vôi, y uông trên sân khấu miền Nam một thuở thì lẽ nào vì “miếng thịt làng” mà đành muối mặt chạy theo xun xoe, bợ đỡ nói lời tâng bốc kẻ cùng hung cực ác, kẻ đã đang tay tàn sát cả miền Nam mà không ngượng miệng.

Tiếng Hán Việt, thịt có nghĩa là nhục. Cốt nhục là xương thịt. Nhưng dân nhậu nhà quê lại thích hay chơi chữ, nên dùng chữ “nhục” trong chữ nhục nhã, đồng âm dị nghĩa này để chỉ mấy anh mặt lỳ “Ai kêu tui đó!”.

Quả nhiên câu “miếng thịt là miếng nhục” rất hay này dùng để tặng cho anh chàng “mặt trơ trán bóng” ở quán nhậu Dana Point làm món đưa cay cũng đáng đồng tiền bát gạo lắm.

Tin giờ chót, nghe lõm được ngoài quán cà phê rằng thì là, có một Ủy ban gì đó ở Thủ đô tị nạn Bolsa đang làm “đơn xin” Đảng của anh Sáu cho phép được sửa sang lại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và đang thả quả bóng thăm dò dư luận về việc gây quĩ 500.000 đô la cho việc trùng tu. Nhưng Đảng Cộng sản VN chơi khăm, gài độ, buộc phải để cái anh “mặt trơ trán bóng” này ngồi cao làm cố vấn cho Ủy ban trùng tu thì mới chịu “say Yes”, khiến cho mấy anh trong Ủy ban Trùng tu mắc nghẹn trong họng khúc xương gà.

Không chịu nhận hắn làm cố vấn thì Đảng ta không Yes. Nhận hắn vào thì ăn nói làm sao với cộng đồng? Nhất là khó có ai chịu móc hầu bao khi thấy tên “mặt trơ trán bóng” chễm chệ nằm trên đầu danh sách BTC?

Thiệt là tiến thối lưỡng nan.

Có mấy anh bạn già bàn nhau kế sách “Nín thở qua sông” cho được việc cái đã, nếu không, cơ hội ngàn năm một thuở vuột qua rất uổng!

Còn cái tên kia, hãy đợi đấy. Hạ hồi phân giải.

Người viết bài này không nghĩ như vậy. Nếu Bác và Đảng ta thật sự có lòng hòa giải hòa hợp dân tộc thì sá gì năm trăm ngàn đô la bỏ ra làm một nghĩa cử cao thượng, đẹp lòng, đẹp mặt cho cả hai bên. Trong khi môt tên thứ trưởng của Đảng ta dám chơi bảnh quăng ra cửa sổ một triệu rưỡi đô để đánh cá một ván đỏ đen?

Hai tấm bia nhỏ nhoi xa tít tắp ngoài đảo khơi hoang vắng được dựng lên để tưởng niệm những người đã vì hai chữ tự do mà bỏ mình trên biển cả, Đảng còn thò tay đến tận nơi đập nát thì chuyện “muốn” lấy lại Nghĩa trang Biên Hòa để trùng tu thành Nghĩa trang Quân đội VNCH danh chánh ngôn thuận trên mãnh đất có cờ đỏ sao vàng, búa liềm thì e rằng còn khó hơn hái sao trên trời.

Đừng có nằm mơ!

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi an nghĩ của hơn mười sáu ngàn anh hùng tử sĩ miền Nam cũng đã bị giam cầm suốt 32 năm rồi đâu có gì mà phải gấp gáp, quýnh lên như gà mắc đẻ, để phải buộc lòng chấp nhận một tên không ra gì làm cố vấn cho Ủy ban, để đến lúc có miệng mà không ăn nói gì được với cộng đồng hải ngoại!

Theo ngu ý cứ “bất chiến tự nhiên thành”.

Chuyện phải đến, sớm muộn gì cũng sẽ phải đến.

Nguyễn thanh Ty

Bài Xem Nhiều