We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 13 April 2009

Tưởng Niệm Quốc Hận

Vuợt Biển, Một Chuyến Đi… !


Portland Oregon 3/ 2009.

Nguyễn Hà Tịnh

Khẽ đến rồi đi một kiếp phù
Chỉ còn lưu lại dấu chân du
Truợng phu, cơm áo đời xem đủ !
Dân tộc thiên thu sống ngục tù.

Ngày 30 tháng 4 nầy nữa là 28 năm kể từ ngày tôi rời khỏi “ thiên đuờng” Việt cộng.

Theo thông lệ hàng năm, những ngày nầy bọn Việt cộng tổ chức thi đua treo băng–rôn và bảng đỏ ngoài đường phố đánh dấu cái gọi là kỷ niệm mừng ngày “giải phóng” miền nam. Những lời của Mác của Hồ: “Chủ nghia Mác Lê anh hùng vô địch - Ta nhất định thắng địch nhất định thua- Không có gì quí hơn độc lập tự do - Làm theo bác Hồ dạy … Tất cả hầm bà lằng được dịp đem ra xài xả láng. Và thời gian nầy chúng tôi cũng chuẩn bị tàu ghe chờ bọn chúng nhập tiệc là vọt liền. Đúng đêm 30 tháng 4 pháo bông được bắn lên. Chúng tôi 41 nguời trên chiếc ghe chín mét cung âm thầm lặng lẽ ra đi từ giã “ thiên đuờng của bác” đến một phương trời vô định ( đúng là phương trời vô định vì chúng tôi chẳng có la bàn ). Biển yên, sóng lặn không có một chút gió. Sao Nam Thập là điểm chúng tôi dùng để định huớng đưa tay vẫy gọi, bầu trời hàng ngàn vì sao khác chớp chớp lấp láy nhu vẫy chào đưa tiễn chúng tôi.

Rạng sáng hôm sau mặt trời lên tuyệt đẹp, vàng rực một phuong, dãy đất mủi Cà Mâu mờ mờ ảo ảo, bên phải Hòn Chuối, bên trái Hòn Khoai chỉ nhận thấy mờ mờ. Lòng buồn xót xa nghi ngợi. Nhu vậy là mình đi thật rồi không biết ngày nào trở lại ! Quê hương, cha mẹ, anh em làng xóm, nguời yêu “dễ dụ “ luôn cả “con mẹ“ bán quán nhậu chủ nợ của tôi ơi ! Thế là hết. Hết rồi không còn gì nữa cả. Tất cả phủi tay một cái … rột !. Biết bao giờ gặp lại, có gặp, chỉ trong giấc mơ, trong ký ức, trong nổi nhớ …mà thôi ! Chào tạm biệt. Xin chào tất cả !Đang đê mê bồi hồi suy tưởng chợt anh Hồng ( thiếu tá Trần Cao Hồng phục vụ tại trung tâm huấn luyện Đồng Tâm ) nguời lớn tuổi nhất trên tàu nói lớn: “ Tất cả bà con chú ý! Chúng ta sắp ra khỏi hải phận, xin bà con quay mặt về Việt Nam cúi đầu chào quê hương lần cuối. Mọi người quay lại cúi đầu chào vĩnh biệt. Không ai bảo ai mọi nguời đều khóc. Riêng tôi khóc như đứa trẻ bị mất quà. Chúng tôi uớc tính biển êm như thế nầy 2 hay 3 ngày tàu sẽ đến đuợc Thailand hay Malaysia gì đó nếu có trôi dạt.

Mọi nguời cuời nói huyên thuyên. Phần tôi thì tính toán trong đầu, nào là đến trại tị nạn sẽ gởi thư và mấy tấm hình màu về, nếu có qua tới Mỹ hay Úc gì đó thì cố gắng đi làm rồi mua một chiếc xe, đứng cạnh chiếc xe chụp một tấm hình gởi về cho mấy thằng bạn còn ở lại cho bọn nó “lé” mắt chơi. Đang tiếp tục “dệt mộng” thì nghe súng nổ đùng đùng, đạn bay chéo chéo, ngó lại, thấy hai chiếc tàu từ xa xịt khói đuổi theo. Như thế là chết rồi, công an bắt rồi , còn hình màu, hình mè gì nữa. Tôi than ! Túng quá, tôi cởi cái áo trắng mà tôi đang mặc, cột vô cây sào nằm xuống hươ hươ ra dấu đầu hàng. (Là dân vùng biển tôi từng chứng kiến nếu không đầu hàng cố tình bỏ chạy khi chúng bắt đuợc thì một tàu nguời ít nhất cung chứa nửa tàu máu ) Thấy “cờ “ bọn chúng không bắn ngay vào tàu nữa mà chỉ bắn trên đầu để dọa. Việc đầu tiên chúng đến là thẩy dây qua và bảo cột tàu tôi vào tàu của chúng. Sau đó chỉa súng la hét, bắn dọa mọi nguời cởi hết quần áo ra. Nhiều cô nhiều bà sợ quá, tuột hết.

Thấy thế tôi bảo : “ mặc vô đi, chúng chỉ bắt đàn ông con trai tuột thôi, mấy bà “tuột” nhu vậy kì lắm. “ Thấy tôi nói chuyện, một thằng bắn ngay qua đầu nạt lớn. Ê, thằng kia ! Tôi hỏi, Anh kêu tôi hả ?

- Ừ… Nhảy xuống. Tôi liền nhảy tỏm xuống biển. Hắn bảo. Lội qua đây.

Tôi lội qua, tới tàu hắn kéo đầu lên, chưởi liền: Đ…mẹ vuợt biên hả, tài công hả ? Tôi trả lời: ” không, không phải anh ơi, chúng tôi bị gạt không có tài công, nên tôi cầm lái, lái đại đi thôi “ Hắn vố tôi một bộp tai và nói:

- Ai là anh của mầy. Tao nhìn ống dòm thấy mầy ngồi cầm lái còn chối nữa hả !

- Nếu ông không tin thì hỏi mấy nguời khác trên tàu ! Tôi trả lời.

Hắn nện thêm một cú nữa: - Ai là ông của mầy. Đồ phản quốc!.

Nghe đến ba tiếng “ đồ phản quốc” nuớc mắt tôi rưng rưng. Không phải hắn đánh tôi đau nhưng lòng tôi thấy đau xót. Tôi muốn cải lại hắn là tôi đâu có phản quốc. Tôi chỉ vuợt biên. Dù sao đi nữa là thằng có gốc gác quê hương Nghệ- Tỉnh, quê ông Hồ gốc cứng đầu … đâu dễ để ai đổ oan. Nhưng nghĩ đến mấy bộp tai vừa rồi tôi đứng lặng thinh mặc cho nuớc mắt lăn tròn. Sau đó bọn chúng ra lệnh cho từng nguời nhảy tuốt xuống biển lội qua tàu chúng. Chúng trói lại hai nguời một xâu. đàn bà con nít để ngồi trên boong, còn đàn ông con trai thẩy hết xuống hầm muối cá nhốt lại. Mình trần như nhộng, mồ hôi đổ ra như tắm, giòi con nào con nấy to bằng đầu đủa đua nhau ve vuốt trên mình chúng tôi.

Ngày xưa chuồng cọp “ đế quốc“ nhốt mấy ông “tù cách mạng “ như thế nào tôi không biết. Chớ mấy ông “công an nhân dân” nhốt chúng tôi trong cái hầm giòi như thế nầy thì họ chiếm vô địch quán quân về đầu óc sáng tạo và thấm nhuyễn nhừ “tư tuởng vĩ đại” của bác rồi không ai có thể qua mặt nổi.

Bớ. Ông cha Phan Khắc Từ, ông linh mục “ áo đỏ“ ơi ! Công an nhân dân đang chơi chiêu độc trên mình chúng tôi! Tụi tui chỉ là những thằng vuợt biên, những thằng sau nầy các ông gọi là “ khúc ruột xa ngàn dậm “. Xin mở nấp hầm ra, cho tôi miếng nước, cho tôi miếng gió. Trời ơi, cộng sản đang hấp muối chúng tôi nè !.

Nghĩ, chỉ dám nghĩ thôi chớ đâu dám la, la bọn chúng nổi quạu xách đầu lên bắn mỗi thằng một phát thẩy tuốt xuống biển thì bỏ mẹ, bỏ cha lập tức.

Ai . Chớ ! Cái thằng nói giọng “bắc kỳ “ có gương mặt xấu xí nhu quỷ dạ xoa với hàm răng mã tấu. Mở miệng ra là: “Đi…mẹ chúng ông bắn… bỏ mẹ chúng mầy“ cái thằng vố tôi mấy bộp tai dám làm thiệt lắm chớ chẳng chơi ! Cho nên, chúng tôi ngồi im thin thít, chẳng dám hó hé. Mặc cho số phận !

Nhiệt độ trong hầm càng lúc càng tăng theo ánh nắng mặt trời, thời gian càng lúc càng dài ra. Trong bọn tôi có nguời vì sức yếu ngã lăn ra xỉu. Như cái cớ chúng tôi đồng thanh la lớn; “ có nguời bị xỉu rồi có nguời chết rồi, mở nấp hầm ra. Cứu nguời ! Cứu nguời ! Nghe chúng tôi la một thằng đi tới hỏi: Tụi bây muốn chết hả ?

Chúng tôi trả lời: - Có nguời xỉu rồi mang nó lên.. Không thôi nó chết !

- Đưa nó lên đây.

- Chúng tôi bị trói rồi làm sao đưa nó lên đuợc ? Hắn ta đưa xuống một cái thang chỉ nguời leo cho hắn cởi trói, xong leo xuống đem nguời bị xỉu đưa lên khỏi hầm. Hắn toan đậy nấp hầm lại, chúng tôi năn nỉ hắn đừng đậy. Chúng tôi cần không khí, ngộp thở lắm đậy lại chúng tôi chết ngộp mất. Những lời cầu xin chân thành của tụi tôi làm rúng động lòng “từ bi “ của hắn, hơn nữa ở duới nầy làm sao leo lên được nếu không có cái thang ? Suy nghi một hồi hắn bỏ đi mà không đậy nấp hầm lại. Cảm ơn Bồ Tát. Cảm ơn anh công an nhân dân tốt bụng!

Có lẽ quá trưa, mặt trời qua khỏi đỉnh đầu khá lâu. Một chị trong tàu chúng tôi đến bên miệng hầm nói khẽ: Mấy ổng muốn nói chuyện với ai là tài công kìa! Mọi nguời đưa mắt nhìn tôi, buột miệng tôi nói: “ Nhìn, nhìn cái gì, mấy cha cũng biết tàu mình bị bọn tổ chức gạt, lúc đó không có tài công tôi nhận cầm lái đưa mấy cha đi chớ tôi đâu phải tài công tài kiết gì mà nhìn tôi như vậy”? lúc đó tôi nghĩ, nếu nhận mình là tài công, leo lên nó “giậm” cho một trận mềm nhu trái chuối chớ chẳng phải chơi.

Thấy tôi không nhận chị ta nói tiếp:

- Mấy ổng muốn thả mình đi… nhưng phải có đại diện tàu đễ họ nói chuyện. Đại diện. ở đây ai đâu là đại diện, thôi thì thế nầy.

Tôi nói: - Tôi đi nhưng phải có anh Hồng cùng đi với tôi vì anh Hồng là nguời lớn tuổi . Mọi nguời đồng ý. Anh Hồng, tôi hai nguời cùng leo lên khỏi hầm. Gió ùa thổi tát vào mặt. Tôi có cảm giác như mình vừa thoát chết, hay ít ra khỏi chết trong cái hầm giòi ngột ngạt. Còn đang đê mê huởng thụ hít thở khí trời thì nghe có tiếng nói khẽ bên tai. Hai anh hãy lấy quần áo mặc vào ! Quay đầu lại. Giật mình ! Hắn, thằng có guong mặt xấu xí với hàm răng mã tấu, đặc biệt với giọng nói bắc kỳ. Giọng nói nầy tại sao lại khác hẳn với buổi sáng khi chúng mới bắt tôi vậy kìa? Có phải tôi lầm chăng ? Nhìn mặt hắn, nhìn xuống “hạ bộ“ mình, không kịp suy nghi nữa tôi buớc tới đống quần áo mà bọn chúng lấy từ tàu của chúng tôi qua chọn đại một bộ mặc vào. Xong đâu đó tôi hỏi hắn; Anh có thể cho tôi xin miếng nuớc đuợc không ? Đuợc chớ! Hắn bỏ đi một hồi trở lại trên tay xách một xô nuớc và nói: ” Nè. Uống đi uống xong đua xuống cho mấy nguời kia với.”

Làm theo lời hắn tôi nốc một hoi chuyền tay cho anh Hồng, xong tôi xách xuống bên hầm nói lớn.

Ê. Nuớc cam lồ đây uống đi, uống xong để khỏi chết mà đi tiếp. Mọi nguời lao xao hỏi.

- Mấy ổng cho đi hả ?

Tôi trả lời: Không biết nữa, có thể, chưa nghe nói gì hết!

Quay trở lại chỗ củ ngồi xuống kế bên anh Hồng. Hắn hỏi:
- Hai anh là đại diện tàu phải không? Tôi đưa mắt nhìn anh Hồng, anh Hồng nhìn tôi và trả lời.

- Vâng. Anh em cử tôi là đại diện.Vậy quý anh quyết định nhu thế nào tôi sẽ nói lại cho mấy anh em ấy biết.

Đúng ra, bắt các anh chúng tôi sẽ giải giao các anh về công an tỉnh Minh Hải. Chúng tôi không muốn các anh bị tù, ( nhân đạo gớm ! ) chúng tôi sẽ thả các anh đi. Nhưng với điều kiện là lấy lại tất cả những gì mà các anh đã mang theo. Mẹ kiếp ! Như vậy là ăn cuớp rồi chớ còn gì nữa ?! Tôi nói thầm trong bụng.

Sau khi hắn dứt lời anh Hồng quay qua hỏi tôi: - Sao. Ý mấy ổng như thế em nghĩ thế nào ?

- Nghĩ với ngợi gì nữa, mấy ổng thả thì mình đi chẳng lẻ kêu mấy ổng bắt bỏ tù mình ? Anh Hồng nói với hắn:” Anh quyết định như vậy anh em chúng tôi vô cùng cảm ơn. Còn những gì của chúng tôi các anh cứ tùy nghi sử dụng.”

Nếu các anh đồng ý như thế thì tôi đem mấy nguời kia lên và thả các anh đi.

Lần luợt từng nguời được đưa lên khỏi hầm tuy tay vẫn còn bị trói. Sau đó hắn ra lệnh mọi người ngồi xuống để cho thủ hạ hắn xịt nuớc biển tắm cho sạch giòi bọ. Lúc đó tôi chợt khám phá ra một điều. À…! Thì ra, con nguời, nguời nào nguời nấy đều giống nhau. Có khác nhau chăng chỉ là bộ quần áo, cách ăn mặc, họ trang điểm cho mình khác hơn nguời để nguời khác nhìn vào thấy mình cao quý, đẹp đẽ, sang trọng, ngoài các thứ ấy ra mọi nguời đều xấu, xấu hơn tất cả những con thú, vì con thú khi sinh ra tự nó có những bộ lông để che đậy những chỗ mà nó không muốn cho ai nhìn thấy. Còn con nguời.. .Và nguời.. . “cộng sản“, những nguời tự cao tự đại tự cho mình là “ đỉnh cao trí tuệ loài nguời”… họ nhân danh công lý, bình đẳng là “ đầy tớ của dân “ là công an đuợc huấn luyện với “tư tuởng vĩ đại“, chỉ vì muốn cuớp đi hành trang của chúng tôi, những người chạy nạn, họ mạt sát, hành hạ chúng tôi nhu môt con vật. Thử nhìn lại xem, họ với chúng tôi có khác nhau chăng? Cũng họ Trần, họ Lê, họ Nguyễn, cùng là dòng máu Việt Nam chung một mẹ Âu Cơ. Chủ Nghia nào, tư tuởng nào đã làm cho họ mù mắt để rồi họ đối xử với chúng tôi, những nguời Việt Nam như vậy ?

Tắm cho mọi nguời xong hắn ra lệnh ngồi xuống để nghe hắn đọc quyết định. Mọi nguời lắng nghe, hắn liền lên giọng: “ Theo chỉ thị của Công An Nhân Dân ( lại muợn danh nhân dân ) tỉnh Minh Hải, tất cả tài sản của nhân dân các anh lấy mang đi chúng tôi phát hiện được nên có phải lệnh thu hồi. Còn riêng các anh vì không muốn ở lại để xây dựng đất nuớc, trốn đi, bắt được, lý ra cần phải cải tạo. Nhưng vì tánh nhân đạo của đảng, Thay mặt đảng ủy chúng tôi thả các anh đi vì giữ lại, các anh sẽ không thể nào trở thành nguời công dân tốt được!

Trời đất ơi, Ngó xuống mà coi, bọn chúng vừa ăn cuớp vừa chửi cha làng nuớc kìa! Thì ra… trong thâm tâm bọn nguời cộng sản họ xem chúng ta: Nguời dân miền Nam là công dân hạng bét, bởi vì ở miềm Nam nầy cây cột đèn mà có cánh nó cũng bay tuốt khỏi thiên đường của chúng!

Xin quý vị đùng thắc mắc tại sao báo chí và đài phát thanh của Việt cộng những năm 75- 80… ngày đêm ra rã, sỉ vã chúng ta : Những người vượt biển là “bọn liếm gót giầy đế quốc“, “bọn đỉ điếm, lười lao động”…

Chúng ta chỉ trả lời được với bọn cộng sản khi nào chúng ta, nguời vuợt biển tị nạn cộng sản vung tay lên hành động, chống lại cái ác, cái phi nhân mà bọn CS đặt đè trên đầu trên cổ nhân dân Việt nam. Còn bằng không, sự im lặng, thụ động của chúng ta, là mặc nhiên chấp nhận sự mạ lỵ phỉ nhổ mà bọn CS chúng trơ trẻn gán ép.

Khẩu lệnh đọc xong, từng nguời được cởi trói đi đến đống quần áo của mình chọn một bộ, mặc vào. Sau đó, lập tức bị đuổi về tàu của mình. Buớc về , cảnh tuợng đầu tiên mà tôi nhìn thấy là hai miếng ván kèm thêm hai bên “be” cho tàu cao để nhảy sóng đã bị bể lìa, quật lên quật xuống nhu cái vòi con voi. Còn cái mui ghe đóng hai lớp chứa thực phẩm để qua mắt công an biên phòng cửa biển, bị bổ bung ra. Com khô, gạo thức ăn đem theo họ quăng đổ tứ tung, trộn lộn cùng nuớc biển. Nhiên liệu bọn họ chỉ chừa lại bốn mươi lít.

Bốn mươi lít dầu để vuợt qua 350 Km đuờng biển để đến được bờ biển Thailand !? Có phải chăng họ muốn muợn giông tố biển cả để giết chúng tôi ? Câu hỏi nầy được đặt ra chỉ có những tên công an trên hai chiếc tàu mang bản số Tiền Giang 901- 903, chúng mới có thể trả lời được.(?)

Mãi đến mặt trời sắp lặn họ mới tháo dây ra, bắn một loạt súng và bảo chúng tôi được phép ra đi.

Biển đêm, dầu thiếu, không lương thực. Một số đoi quay trở lại, một số nhất quyết ra đi tiếp tục, mọi nguời còn đang giằng co quyết định chua ngã ngũ thì đột nhiên cái máy ngưng chạy vì quên châm dầu. Đổ thêm dầu mới, chúng tôi thay phiên nhau quay, quay mãi cái máy vẫn êm ru. Như thế là xong! Khỏi bàn, khỏi cải, khỏi đi và cũng khỏi về. Mọi sự do trời quyết định!

Trôi lênh đênh bốn ngày bốn đêm với một ít nuớc và thực phẩm, mọi nguời rã ruợi vì sóng biển, chỉ còn lại một số ít nguời đủ sức ngồi cầm lái, nương theo sức gió để đi. Đến ngày thứ năm, một nguời bỗng nhiên la lớn. Có tàu, có tàu rồi. Nhìn lại từ xa có một chấm đen giữa biển. Đốt lửa ! Đốt lửa lên ! Tôi liền cởi cái áo duy nhất mặc trên mình nhúng vô dầu đốt lên. Thấy khói, chấm đen càng lúc càng gần, từ từ hiện rõ đó là một chiếc tàu đánh cá Thailand. Mọi nguời kêu cứu. Họ cho cập tàu vào. Vị thuyền truởng buớc ra hỏi bằng tiếng Việt. Tiếng nghe đuợc, tiếng không nhưng chúng tôi cững hiểu. Chúng tôi trả lời rằng đi đã bốn năm ngày rồi và bị công an CSVN bắt. Ông ta cho biết rằng đã từng ở tù CSVN nên ông rất hiểu và thông cảm, nhưng vì mới khởi hành nên không thể kéo tàu chúng tôi vào Thailand được, có yêu cầu gì thì sẽ giúp cho. Chúng tôi cho biết tàu không chạy được, hết lương thực và thiếu dầu. Ông ta nói. Được! Ông ta sẽ giúp. Sau đó ông kêu mọi nguời lên tàu và nấu cơm cho ăn. Trong khi mọi nguời chờ cơm thì thợ máy của họ xuống tàu chúng tôi sửa hộ. Cuối cùng thì cái máy ù lì cũng chửa được. Mọi nguời vỗ tay hoan hô nguời thợ máy. Niềm vui chưa dứt, vị thuyền truởng cho biết rằng bọn họ phải đi. Gương mặt mọi nguời bí xị, một số nguời bật khóc vì không muốn rời trở về tàu của mình. Truớc khi chia tay họ còn cho thêm một bao cơm và một trăm lít dầu, vị thuyền truởng còn đưa chúng tôi vào phòng lái, chỉ huớng và cho biết đi tiếp tục hai ngày nữa là sẽ đến bờ. Xin cảm ơn những nguời bạn Thailand, xin cảm on sự giúp đỡ đày ấp tình nguời mà các bạn đã dành cho chúng tôi. Những nguời tị nạn cộng sản bơ vơ trên biển ngày 5/5/1981.

Biển yên sóng lặn đuợc một ngày một đêm, đến ngày hôm sau sóng gió tự nhiên kéo đến ùn ùn, mưa nuớc như cầm hũ mà đổ. Sóng quăng tàu chúng tôi qua bên nầy, thẩy bên kia. Cái máy “đuôi tôm” xơ cua ( không chạy được vì bị bọn chúng lấy hết xăng ) rơi tuốt xuống biển làm tặng vật cho hà bá. Nuớc, nuớc, mọi nguời thi nhau tát nuớc, tiếng la tiếng khóc tiếng gọi cha, gọi mẹ, gọi Trời, gọi Phật. Nguời công giáo thì đọc kinh Đức Mẹ, người đạo Phật thì khấn Đức Quan Thế Âm, kẻ khấn tới bờ ăn chay ba tháng, nguời nguyện tới nơi cạo đầu ăn chay truờng vĩnh viễn. Riêng tôi, vì không phải Đạo Chúa, cũng chẳng có “quy y “ chỉ biết ở nhà có bàn thờ, thờ cúng Ông Bà Tổ Tiên cho nên tôi khấn; “Ông bà ông vãi, tổ tiên thần thánh, những nguời chết bụi, chết bờ, chết sông, chết núi, những chiến si trận vong những nguời chết trận, chết ở đầu gành, chết oan giữa biển có linh thiêng phù hộ cho chúng tôi qua khỏi con giông nầy đưa tàu đến bờ được bình yên thì tôi cúng một con heo. Không biết vì tôi khấn cúng con heo hay vì “ hoảng” quá mà kêu gọi nhiều nguời nên con giông từ từ nhẹ gió, chỉ còn lại những con sóng luợn đưa tàu chúng tôi đi. Chúng tôi nhắm huớng mặt trời lặn nếu là ban ngày, còn ban đêm nhìn Sao Nam Thập định huớng để đi. Đi như thế, một ngày một đêm rạng sáng hôm sau mắt nguời nhìn thấy bờ biển đã hiện ra truớc mắt. Mọi nguời như được hồi sinh! Tôi cầm lái đâm thẳng vào bờ, mọi nguời ù chạy lên bờ như bị ma đuổi. Riêng tôi, anh Hồng, hai nguời vẫn loay hoay đi tìm cây búa. Tìm được chúng tôi thay phiên nhau bửa một lổ lớn cho ghe vô nuớc. Chiếc ghe từ từ chìm xuống. Quăng cây búa xuống biển, anh em chúng tôi tà tà lội lên bờ. Lên bờ, tôi buớc đi và có cảm giác như mình đang say ruợu. Chúng tôi đã bảy ngày bảy đêm lênh đênh trên biển.

Như nguuời tị nạn nhập trại. Tôi cũng đưọc cấp số”S” số”T” ( Song khla Thailand ) Thực phẩm tuy không đủ ăn cho một nguời nhung năm bảy anh em “con bà phuớc” như nhau ăn chung nên cung tạm đủ. Ở tạm thôi mà ! Có ăn đời ở kiếp đây luôn đâu mà lo, mà bận tâm cho mệt!. Nghĩ thế cho nên tôi cố đi học tiếng Anh để mai mốt định cư có một chút “vốn” mà xài. Tính là tính như vậy nhưng thực tế khi học tiếng Anh thì còn khó hơn lên trời. Mỗi lần phát âm thì phải bẻ mồm, bẻ miệng, học có mấy chữ mà học hoài chẳng nhớ, nhớ chuyện đâu đâu. Thôi thì, đi ra bờ biển ôm đầu để …nhớ. Nhớ mấy công ruộng, mấy công vuờn, nhớ tháng nầy năm ngoái cùng với mấy thằng bạn “ vần công” lấy thân cây chuối đống thành cây bừa kéo bừa thay trâu đễ bừa đám mạ. Ông già hiện giờ đang bệnh rề rề, rồi ai “lòi” mạ cho nguời ta cấy, nhớ mấy đứa em còn nhỏ có ông anh đi vuợt biên học hành có bị ảnh huởng gì không ? Còn cái thằng công an thuờng ngồi ngay cái quán ngang nhà nhìn vào nhà như mèo rình chuột, cái thằng mỗi kỳ lễ lạc của tụi Việt cọng đều mời tôi đi học tập “chính sách” vì bọn chúng cho rằng tôi là một trong những thành phần ”cản bánh xe lịch sữ“ ( nguyên nhân tôi cùng một số bạn cạo đầu ngày bọn chúng vô “tiếp thu” và thuờng hay đánh nhau với bọn du kích 30/4 ) còn rình rập nữa không ? À…Còn nguời yêu của tôi nữa chứ! Không biết bây giờ cô nàng ra sao, có nhảy xuống sông Trèm Trẹm trầm mình hay đang hú hí với tên “bị dịch” nào cho đỡ nhớ tôi? Nhớ, nổi nhớ cứ tuần tự kéo tới, cứ dầy xéo tâm tư cho mãi đến …hôm nay.

Cuối cùng thì ngày định cư cũng đến. Và tôi được đưa về tiểu bang Texas, thành phố Austin. Austin là một thành phố nhỏ, nguời Việt cư ngụ lúc đó khoảng hơn ba ngàn, tập trung phần đông ở hai vùng, Bắc và Nam của thành phố. Vì là thành phố nhỏ cho nên mọi nguời đều biết mặt nhau nên dễ thông cảm và giúp đỡ những nguời mới đến. được sự giúp đỡ, tôi cũng có việc làm, lương không cao, nhưng đủ sống, có dư chút đỉnh thì dành dụm gởi về giúp gia đình còn kẹt tại Việt Nam. Cuộc sống ảm đạm ngày hai buổi đi, về. Năm ngày một tuần hai ngày cuối tuần còn lại kéo năm ba thằng bạn cùng nhau… “nhậu” ! Nhậu để kể chuyện Việt Nam, chuyện vượt biên, chuyện trai gái tào lao, bá láp…. Chấm hết ! Chẳng giúp gì cho ai mà cũng chẳng giúp gì được cho mình.

Mãi tới đầu năm 1983. Cộng đồng tị nạn tại đây tổ chức mừng tết Nguyên Đán. Đây là lần đầu tiên tôi đi tham dự. Dịp nầy có một số đoàn viên của một tổ chức kháng chiến về đây phụ giúp chưong trình văn nghệ. Truớc khi mở màn chương trình văn nghệ và bài diễn văn của ông chủ tịch cộng đồng là phần nghi lễ chào quốc kỳ. Lần đầu tiên chào lá quốc kỳ sau bao năm vắng bóng, nhìn lá quốc kỳ tôi bật khóc, khóc cho lá cờ, khóc cho quê huong, khóc cho nguời ở lại và cũng khóc cho chính bản thân tôi. Nguời bị mất quê hương!

Sau màn văn nghệ rực lửa đấu tranh. Kết thúc buổi lễ, những đoàn viên kháng chiến ngỏ lời mời những ai còn còn quan tâm với đất nuớc, còn trăn trở với quê hương hãy ở lại để cùng nhau bàn bạc, tìm giải pháp giải cứu quê hương cho một ngày về, về lại quê cha sống cùng đất tổ. ( nghe dễ sợ ! ).

Vừa nghe xong mấy bản hùng ca, giờ lại nghe mấy anh đoàn viên mời ở lại xăn tay áo lên đánh tụi Việt cộng. Máu nóng trong tim ùn ùn sôi sục… tôi ghi danh liền ! Nhiệm vụ đầu tiên tôi được giao là bán báo Kháng Chiến, mỗi tháng 50 tờ mỗi tờ 1 đồng, nhưng cái thằng cha Lê văn N. của tổng vụ tài chánh “ chơi đểu”, mỗi lần gởi tôi tới 100 tờ, bán nài, bán ép cho những nguời quen được chừng 3/40 tờ gì đó, còn bao nhiêu bán không hết thì “ ôm luôn”. Nhịn ăn, nhịn nhậu để có tiền lo cho mấy anh chiến sĩ ở biên thùy cũng là điều tốt ! Công việc đang ngon ơ.. . ! Thanh niên sinh viên kéo tới nuờm nuợp. Kháng chiến nổi danh như… cồn.! Bụng bảo dạ… “ phen nầy tụi Việt cộng hết đường chạy rồi. khà… khà !!! Chẳng những chúng ông có muời ngàn tay súng, mà rồi sẽ có tới trăm ngàn. Tụi tao sẽ chiếm Tây Ninh, Châu Đốc làm bàn đạp tiến về Sài gòn. Tụi Việt cộng chúng bây hết đường chạy rồi…. chuẩn bị tàu ghe vượt biên qua Nga Sô là vừa! Đùng !…một cái. Điện thoại gọi đến bảo: “ Không họp hành, bán báo, gây quỹ cống lon gì hết ! Kháng chiến bể, bể làm hai rồi !” Trời ơi! Thế nầy là thế nào? Tôi than, tôi khóc, khóc thật sự. (không hiểu sao tôi dễ khóc nhu thế) khóc nhu thằng bé được nguời ta cho chiếc bong bóng trong ngày sinh nhật bị thằng láu cá đâm xì. Tôi xẹp xuống, tôi nằm luôn, không đi đâu cả. Vắt tay lên trán suy nghi: Tại sao họ cuớp đi hy vọng, chẳng những của tôi, mà còn của bao nhiêu nguời khác nữa !? Tôi biết có một cụ bà, trong ngày lễ thuợng thọ tám mươi, con cháu gom góp cho cụ, cộng với số tiền già cụ dành dụm được cả thảy hai ngàn (2000 Đôla) Cụ dùng số tiền hai ngàn đô la đó góp cho kháng chiến, mong sau nầy kháng chiến thành công để được chôn cốt xương của mình trên mảnh đất quê hương. Cụ bà: Huỳnh Thị lý, tôi luôn luôn nghi đến cụ trong nổi xót xa và lòng sục sôi truớc những tên lừa đảo.

Hy vọng vào tổ chức đã tan, nhưng niềm tin vào tương lai dân tộc vẫn còn. Tôi tin tuởng chắc chắn rằng, chế độ cộng sản bất nhân rồi sẽ sụp đổ, quyền sống con nguời sẽ được dựng lên và tôi sẽ là chứng nhân của lịch sữ !

Chuyện cũ nầy xin đuợc kể ra như là một bài học của một kẽ đã “trao duyên lầm tuớng cuớp”.Mong rằng những ai muốn dấn thân vào con đường phục vụ hãy quan sát kỷ “tổ chức” “ hội đoàn” mà mình muốn tham gia. Nghị quyết 36 của Việt cộng với kinh phí lên đến hàng chục triệu Mỹ kim mục đích cho việc xâm nhập cộng đồng nguời Việt hải ngoại. Mục tiêu của chúng là các cơ sở văn hóa, các lớp học Việt ngữ, hội đoàn, tổ chức từ thiện. Không minh định rõ ràng lập truờng quốc gia dân tộc. Những cơ sở nầy Vc dễ “ lồng” vào lôi kéo, lèo lái xa rời lý tuởng ban đầu, cuối cùng tạo thành những cơ sở trực tiếp hay gián tiếp cho bạo quyền Việt cộng hầu phá nát cộng đồng nguời Việt quốc gia. Chúng ta phải thật cẩn thận, nếu không, sẽ làm vẩn đục ý nghia hai chữ tị nạn mà ta đã, đánh đổi bằng cả mạng sống của mình!

Lịch sử dân tộc khi thăng khi trầm, lúc huy hoàng tự chủ, khi phải sống duới sự thống trị của bắc phương, thời thì bị thực dân đô hộ. Nhung ! Chưa thời đại nào nguời dân Việt cực kỳ thống khổ như thời đại nầy! Thời đại Hồ Chí Minh: Phẩm giá con nguời bị đem ra bán rẻ. Trai thì bị đày đi nô lệ xứ nguời, gái bị bán làm thú mua vui nơi đất khách. Đất nuớc thì cắt dâng cho kẻ thù truyền kiếp ! Nổi nhục nầy làm sao xóa đưọc !? Xã hội thì tội ác tràn lan, đạo đức suy đồi. Kẻ có quyền tha hồ tráo trở bóc lột.

Chốn thờ tự tôn nghiêm như đền chùa miếu mạo thì được bán “ on sale” qua hình thức lễ hội để lấy tiền bỏ túi. Hồ chí Minh - tên tội đồ của dân tộc thì được “tạc tuợng” mang lên thờ cúng ( tại một ngôi chùa ở Bình Duong ) ngồi cùng chư Phật. Tôn giáo chỉ được xem như là công cụ phục vụ tà quyền. Nguời còn lương tri can ngăn thì bị khủng bố, trù dập, bỏ tù một cách vô tội vạ.!

Thành ngữ Việt Nam ta có câu: “ Tức nuớc vỡ bờ“. Các Mác tên tổ sư của cộng sản cũng từng nói: “ Noi nào có áp bức thì nơi đó có đấu tranh”

Sau ngày 30/4/ 1975. Khi đoàn quân cộng sản với xe tăng và đại pháo ủi sập dinh Độc Lập, nơi biểu tuợng cho nền tự do “ non nớt “ của chúng ta, thì nguời dân miền Nam không bao giờ ngưng nghỉ đứng lên giành lại quyền tự do mà mình đã mất. Khát vọng tự do giờ đây đã không còn nằm trong phạm vi của nguời dân miền Nam. Khát vọng thiêng liêng đó đã lan rộng và hội tụ trong tâm não của từng con nguời Việt Nam hàng ngày hàng giờ. Tự do dân chủ và quyền sống là khát vọng của hon 86 triệu đồng bào trong cả nuớc, kể cả những nguời một thời lầm lỡ đa nghe và tin theo cộng sản. Những tiếng nói lương tri đã đồng loạt cất lên: Phật Giáo, Phật Giáo Hòa hảo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài…hòa cùng tiếng nói và hành động của mọi tầng lớp nhân dân: Nông dân, công nhân, sinh viên học sinh, văn nghệ si trí thức, cựu cán bộ cộng sản. Đặc biệt hành động cho tự do dân chủ nhân quyền cho đất nuớc chúng ta có hai truờng hợp được xem là “ tiêu biểu” cho hai thế hệ của hai miền Nam, Bắc đáng để cho chúng ta, những nguời tị nạn cộng sản cần suy gẫm.

1 - Trương Văn Sương. Cựu Trung Úy quân lực VNCH, quê tại Sóc Trăng bị bắt về “ tội” phục quốc từ năm 1977. Sau nhiều năm bị CS giam giữ, cộng sản mời lên bắt ký giấy “nhận tội” thì chúng sẽ thả, Anh đã cương quyết không nhận tội ( nếu ký nhận tội thì được thả cách đây gần 20 năm) Hiện nay anh bị giam giữ tại trại tù K 1 Xã Ba Sao, Huyện Kim Bảng. Hà Nam. Việt Nam. Bất khuất thay!

2- Lê Thị Công Nhân. Nữ Luật Sư, trí thức trẻ sinh ra lớn lên tại miền Bắc, trong chế độ cộng sản, ( sinh ngày 20/7/1979 ) Tương lai của chị thật sáng lạng nếu chị cúi đầu thuần phục cuờng quyền. Không ! Là luật sư, chị không thể nhắm mắt truớc bất công của cả một dân tộc đang sống duới sự chà đạp nhân phẩm, nhân quyền của lủ cầm quyền gian ác.
Là một trí thức, chị không thể nào cúi mặt làm ngơ truớc tương lai đất nuớc đang bị hủy diệt trong tay bọn nguời cộng sản. Chị đã lên tiếng…và chị vào tù. Truớc khi vào tù chị tuyên bố và nhắn gửi với chúng ta là chị không bao giờ khuất phục truớc cuờng quyền CS . Hiện nay chị bị giam giữ tại trại giam: Phân trại 4, Trại giam số 5. Yên Định, Thanh Hóa. Việt Nam.

Ngày Ba mươi tháng Tư lại về với chúng ta ! Thêm một ngày. Quê hương Việt Nam thêm một ngày rỉ máu ! . Nhìn lại, Anh, Tôi chúng ta đã làm gì cho đất nuớc?

Khoan !!! Xin đừng “đổ thừa” cho rằng nguời Việt hải ngoại “không đoàn kết” để rồi thụ động ngồi chờ “lãnh tụ“ xuất hiện và rồi sẽ bị “lợi dụng” khi tham gia vào công việc giải trừ quốc nạn.

Kỷ nguyên nầy là kỷ nguyên tin học. Với “vũ khí” internet chúng ta có thể tấn công bạo quyền Việt cộng bằng mọi mặt, từ văn hóa, kinh tế, ngoại giao, chính trị, truyền thông báo chí v.v…và.vv… Và chỉ cần mỗi nguời trong chúng ta mỗi ngày mỗi tuần mỗi tháng một lần gửi về quê hương một bài báo, bài viết bình luận, tin tức, tài liệu về tự do dân chủ nhân quyền đến nguời dân trong nuớc hoặc vận động các vị dân cử nơi mình sinh sống, yêu cầu họ quan tâm hơn nữa đến tình trạng nhân quyền tại Việt Nam qua hình thức trực hay gián tiếp như thư từ hoặc e-mail. E-mail chúng ta có thể dùng “ vũ khí” nầy để phá thủng bức tuờng bưng bít của Vc. Đưa những tin tức về tự do dân chủ nhân quyền của thế giới văn minh đến đồng bào trong nuớc. Và từ đó đồng bào chúng ta hiểu rỏ hơn về bản chất dối trá, gian manh của Vc mà quên đi sợ hãi, đứng lên cùng với những lực lượng dân chủ tiến bộ trong nước giải trừ chế độ độc tài cộng sản đã đè nặng hằng hơn nữa thế kỷ qua trên quê hương khốn khổ của chúng ta.

Xin Thưa ! Với việc làm chủ động nầy chính chúng ta đã là “ lãnh tụ “. Và chúng ta cũng đã thực hiện sự đoàn kết trong đấu tranh mà không phải “ đoàn kết sau lưng chúng tôi” hơn nữa chúng ta cũng chẳng phải sợ ai lợi dụng.Với tấm lòng đau xót vì dân tộc. Vô số cách làm chúng ta có thể hành động. Vì muôn đời con cháu chúng ta, vì tương lai của đất nước. Bằng mọi cách chúng ta đoàn kết, tuy nhiên chúng ta không thể đoàn kết được với những tổ chức “cuội“ chuyên sống bằng nghề luờng gạt thiên hạ.

Câu hỏi đầu tiên chúng ta cần đặt ra với tổ chức cuội đó là: Tiền đâu ? Có nghia là, tổ chức đó phải minh bạch về tiền bạc, ít ra với tất cả thành viên trong tổ chức, khi nói về tổ chức có sự đóng góp của thành viên. Còn về những tổ chức Từ Thiện hay Cộng Đồng, có tiền đóng góp của “bá tánh”, nếu họ không công khai hóa được tài chánh truớc đồng hương… thì y như rằng: Đồng hương nơi đó bị luờng gạt và “tổ chức từ thiện” đó chỉ là tổ chức “dỏm”, không lương thiện và đồng hương nơi đó đã bị lợi dụng, ít ra trên danh nghĩa và bị cầm đầu bởi một đám… lưu manh .

Học hỏi những kinh nghiệm từ những bài học đau thương còn hằn sâu trên thân thể. Chúng ta. Nguời Việt hải ngoại có thừa kinh nghiệm, sáng suốt để đưa dân tộc thoát khỏi đường hầm tối tăm của chủ nghia cộng sản.

Vậy chúng ta còn chần chờ gì ??? Hãy hành động, Xin hành động , đừng nên thụ động ngồi chờ, mà nguyền rủa bóng tối ! Khởi đầu bằng những việc làm nhỏ bé, dần dần sẽ thấy được tình yêu quê hương của chúng ta vô cùng cao quý. đừng vì so đo ích kỷ mà quên đi 86 triệu nguời dân Việt Nam đang sống duới bàn tay của bọn cộng sản vong nô.

Một ngày chúng ta “chờ đợi” là một ngày nguy cơ mất nuớc. Biên giới, hải đảo máu xương của ông cha bao đời tạo dựng đã rơi vào tay Trung Cộng. Tây Nguyên “ xương sống” của Việt Nam, quân đội Trung cộng trá hình hiện giờ đang chiếm đóng và khai thác tài nguyên… Và rồi đây, đất nuớc chúng ta sẽ trở thành quận, huyện của dân tộc đại hán. Vậy thử hỏi. Còn chỗ nào cho chúng ta đắp chiếu trùm chăn ???

- Nguời vượt biển tị nạn Cộng Sản năm nào giờ ở nơi đâu ?!

Dân tộc Việt khổ đau và bất hạnh vì ách nạn Cộng sản ngày đêm đang mong chờ chúng ta

Tưởng Niệm Quốc Hận

BI HÙNG CA Ở CÀ MAU SAU NĂM 1975


“CÀ MAU thế đất chẳng CAO MÀ.
ĐẤY MUỖI, đĩa nhiều, ĐUỔI MẤY ra.
HƯƠNG TRÀM thơm ngát, HAM TRƯỜNG cũ.
LÁ ĐỘ tàn thu LỘ ĐÁ tà.
ĐẦY LÒNG thương mến, ĐỒNG LẤY nhớ.
CỔNG XƯA liền với, CỬA SÔNG nhà.
AI GÌN tổ quốc, IN GIÀY trận?
ĐUỔI MẤT Cộng bình, ĐẤT MŨI ta.”

Một chính trị gia người Nhật có câu nói thật chí lý: “Một đất nước hùng mạnh, nơi đó có nhiều anh hùng vô danh”; theo câu đó, thì người ta có quyền dùng theo lối “định lý đảo” thường được áp dụng trong toán học là: nơi nào có quá nhiều anh hùng tự phong hay được một bè đảng bất lương vinh danh như: anh hùng đánh Tây, anh hùng chống Mỹ, anh hùng lao động… thì nơi ấy trở nên tàn mạt. Trong bất cứ quốc gia nào cũng có những anh hùng vô danh, không tên tuổi… đã đóng góp mồ hôi, xương máu, dâng hiến cả mạng sống của mình cho đất nước, không đòi hỏi được đền bù, họ trở thành hồn thiêng sống mãi cùng núi sông.

Trong cuộc chiến Việt Nam, biết bao anh hùng vô danh đã hy sinh vì đại nghĩa, họ chấp nhận cái chết để cho hàng triệu người được sống an bình, ơn của họ không thể trả được bằng vật chất, tiền bạc hay bất cứ thứ gì trên đời; ngay cả lời tri ơn cũng không thể nói hết sự hy sinh cao cả của họ, tổ quốc đời đời nhớ ơn và ghi công. Kính dâng hương hồn những chiến sĩ đã hy sinh trong trận chiến vì lý tưởng tự do, những người bị giặc sát hại trong các trại tù Cộng Sản, những chiến sĩ phục quốc kiên cường như những nghĩa binh ngàn năm chống giặc Tàu, trăm năm chống thực dân Pháp. Ngày nay những người còn sống sót sau cuộc chiến, sau khi bị bức tử một cách uất hận phải giả từ vũ khí vào ngày 30-4-1975, dù không còn cầm súng trên chiến trường, nhưng nghĩa vụ đấu tranh vẫn còn, trong tinh thần “tổ quốc-danh dự-trách nhiệm” luôn canh cánh trong lòng.

“Sống nguyện sắc son cùng tổ quốc.
Chết tròn đạo nghĩa với non song”

Bài nầy, người viết kính xin vong linh của những người chết, là những chiến sĩ vô danh hãy tha thứ, khi tên tuổi của họ được nhắc đến trong niền kính trọng, tiếc thương, dù những người chết không bao giờ đề nghị hay gia đình họ yêu cầu, đây là điều mà người viết cảm thấy có bổn phận làm, xuất phát từ lòng tự nguyện tự giác. Thân nhân những anh hùng ấy hãy tha thứ cho tôi, người bới đống tro tàn, khơi lại chút lửa lòng vẫn âm thầm cháy trong suốt hơn 33 năm qua, mà hàng năm vào ngày quốc hận 30-4-1975, toàn dân miền Nam nói chung và những gia đình có người bị giặc Cộng sát hại, coi đó là ngày giỗ chung và riêng của từng trường hợp và đó cũng là tâm sự người viết.

Cà Mau là địa danh lịch sử cuối cùng của đất nước Việt Nam, gắng liền với Ải Nam Quan như hình với bóng, như “chim liền cánh, như cây liền cành”; ngày nay Ải Nam Quan đã bị tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam cắt dâng cho Trung Cộng, nên chỉ còn cái tên Cà Mau đơn côi; sự kiện nầy chẳng khác nào đôi vợ chồng đang chung sống hạnh phúc, bỗng bị tách rời, kẻ ở bên đất Tàu, người còn bên đất Việt, như chuyện tình đầy cảm động trong huyền thoại Ngưu Lang-Chức Nữ, nhưng bi đát hơn là nàng Cà Mau không bao giờ gặp lại chàng Nam Quan, nếu những kẻ bất lương Cộng Sản vẫn còn nắm quyền ở Việt Nam. Thời Pháp thuộc, là quận lỵ của tỉnh Bạc Liêu, sau khi đất nước chia đôi do đảng Cộng Sản cấu kết với thực dân Pháp, hai quan thầy Nga-Tàu qua hiệp định Geneve 1954, Cà Mau trở thành tỉnh lỵ với tên gọi hành chánh là tỉnh An Xuyên. Từ năm 1954 đến 1975, trải qua các thời tỉnh trưởng, xin được cặp nhật tin tức từ các thân hữu khắp nơi:

- Thiếu tá Trần Thanh Bền, tỉnh trưởng đầu tiên, sau lên đại tá, có thời giữ chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, hiện còn sinh sống tại Việt Nam trong hoàn cảnh già yếu.
- Thiếu tá Lê Tích Thiểu.
- Trung tá Phạm Văn Út, sau nầy lên chuẩn tướng, có nguồn tin cho biết là định cư tại Hoa Kỳ.
- Trung Tá Ngô Xuân Nghị.
- Trung tá Châu Văn Tiên, định cư tại Anh Quốc.
- Trung tá Nguyễn Thanh Hoàng, sau lên chuẩn tướng.
- Đại tá Lê Chí Cường.
- Đại tá Lê Hữu Đức, hiện định cư tại Hoa Kỳ.
- Đại tá Nguyễn Văn Thọ, hiện định cư tại Hoa Kỳ.
- Đại tá Nhan Nhựt Chương, là người sau cùng, định cư tại Hoa Kỳ.

Cà Mau nắng bụi, mưa bùn, phố nhỏ, nước mặn đồng chua, nơi nầy nổi tiếng là vùng đất ảnh hưởng nhiều chủ nghĩa Cộng Sản, trong 9 năm kháng chiến, rừng U Minh Hạ từng được tên đánh xe Bù Ẹt ở Bến Thủy là Lê Duẫn chọn làm bản doanh của Trung Ương Cục Miền Nam, là nơi từng ghi dấu chân của lãnh tụ kháng chiến Lâm Quang Phòng, về sau trở thành đại tá, lực lượng đặc biệt trong quân lực VNCH, lập trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Tân Phú, thiếu tá Nguyễn Mâu, người có công bình định rừng U Minh Hạ, từng đột nhập mật khu U Minh, tịch thu cây tràm, dây choại về cất trường trung học hướng nghiệp cho dân, Việt Cộng thù, nên có hai câu ca dao trong vùng sôi đậu (sau ông Mâu lên đại tá, phụ tá đặc biệt tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia):

“Chiều chiều bắt nhái cắm câu.
Bắt nhái không có, bắt ông MÂU làm mồi”

Trong suốt 20 năm cuộc chiến tàn khốc, những người lính Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, sư đoàn 21… đã giữ yên vùng đất cuối cùng của đất nước, đập tan tất cả những cuộc tấn kích của Việt Cộng; năm Mậu Thân dưới thời trung tá Ngô Xuân Nghị, thuộc binh chủng Dù, người hùng Bình Giả với mặt đầy những vết thẹo, cụt nhiều ngón tay, ông đã chỉ huy lực lượng cơ hữu địa phương, cảnh sát, đánh bật 3 đợt tấn kích của Việt Cộng; người dân Cà Mau không quên cảnh hàng hơn 200 xác Việt Cộng được kéo về, đổ tại ngả ba Ty ThôngTin, dẫn ra công trường Bạch Đằng và sau đó quân đội cùng với dân chúng đi dở từng miếng xi măng đường cống để tóm cổ hết những tên Việt Cộng bị thất bại, chém vè, đói khát. Sau ba ngày xuân năm 1968, cảnh sát gác cầu quây cũ nào quên những ghe chở bánh tét từ vùng trong ra tiếp tế cho cái gọi là “đoàn quân cách mạng”, dân miền trong được những tên cán bộ, du kích Việt Cộng chạy thoát về, tuyên truyền là đã giải phóng xong Cà Mau, nên dân phải chở bánh tét ra tiếp tế, ăn mùng chiến thắng. Thế mới biết thế nào là:

“Năm xưa thắng lợi vẻ vang.
Năm nay tiền tuyến, ta càng thắng to.”

Cà Mau có các quận: Đầm Dơi (Vơi), Sông Ông Đốc, Năm Căn, Hải Yến, Thời Bình và quận châu thành Quản Long (quận độc nhất có đường xe, còn tất cả là sông ngòi, nhiều khi tình hình căng thẳng, phải dùng trực thăng). Vào những ngày cuối cùng, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa gồm: Nghĩa Quân đóng đồn khắp các quận lỵ, Địa Phương Quân có: tiểu đoàn 412, tức Cá Hóa Long (thành lập đầu tiên do đại úy Vũ Ngọc Hồ Paul, người tiểu đoàn trưởng cuối cùng là đại úy Vân, biệt hiệu “Đông Tà Hoàng Dược Sư” khi lên máy truyền tin điều động hành quân, xưng là Đông Tà, hiện định cư tại Hoa Kỳ) tiểu đoàn Thần Hổ 446 (tức BỒN BỒN XÀO trên truyền tin), tiểu đoàn Thần Điểu 492, tiểu đoàn Mãnh Hổ 490, tiểu đoàn Mãnh Sư 491, tiểu đoàn Hắc Báo 536, tiểu đoàn Bạch Phụng 537. Ngoài ra còn có các đại đội biệt lập: trinh sát tỉnh 924, đại đội an ninh phi trường 282, đại đội yểm trợ công binh 444…v..v.. đại đội tuần giang, giang đoàn 72 thủy bộ (vị chỉ huy là thiếu tá Khai, hiện định cư ở Úc Châu); phòng thủ dinh tỉnh trưởng có đại đội cơ giới, trang bị loại xe V 100 của Pháp để lại, do đại úy Mã Hoàng Long làm chi đội trưởng (dường như ông cũng định cư ở Hoa Kỳ). Đơn vị pháo binh thuộc tiểu đoàn 211 thuộc sư đoàn 21, pháo binh diện địa do thiếu tá Ơn chỉ huy (ông định cư ở Úc Châu). Đơn vị coi như tổng trừ bị tiểu khu có trung đoàn 32, thuộc sư đoàn 21, lừng danh “Sét Miền Tây”, Cà Mau nổi tiếng với những trận đánh ở U Minh, Khai Hoang… được hát trong bài sư đoàn 21 hành khúc; chiến dịch Sóng Tính Thương do Thủy Quân Lục Chiến phối hợp với Hải Quân ở vùng biển, với căn cứ nổi là bộ tư lịnh vùng 5 Duyên Hải.

Phía Việt Cộng có nhiều đơn vị du kích xã, huyện…có 12 tiểu đoàn U Minh, mang danh số từ U Minh 1 đến U Minh 12, đơn vị cơ động tỉnh, chủ lực miền, và đặc biệt có một sư đoàn chính qui Bắc Việt, được dân địa phương gọi là “mã tấu răng đen” mang số công trường 75. Do đó trong chiến dịch “Nhổ Cỏ U Minh” lúc tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm tư lịnh sư đoàn 21, ông có kế hoạch bình định rừng U Minh, sau đó thành lập hệ thống căn cứ hỏa lực để ngăn chận những đường chuyển quân, tiếp tế của các đơn vị Việt Cộng lẫn Cộng Sản trên toàn lãnh thổ, các căn cứ ấy vẫn duy trì đến ngày 30-4-1975. Khi đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố lịnh đầu hàng, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhảy ra lịnh bàn giao, đại tá tỉnh trưởng Nhan Nhựt Chương cùng với linh mục Phước, đi một chiếc phi cơ loại thám thính do đại úy phi công tên Cử lái, trước khi ra đi, ông tỉnh trưởng quỳ xuống hôn mặt đất phi trường lần cuối. Sau khi bàn giao, trung tá tiểu khu phó Trương Đình Niệm là người chỉ huy cao cấp nhất trong tỉnh, bị giặc dẫn đi về vùng quê liền sau đó, chúng toan giết chết cùng với tất cả sĩ quan tiểu khu như họ thảm sát tết Mậu Thân; may là bọn Việt Cộng vừa nhận được lịnh trên bảo ngưng vì sợ áp lực của Hoa Kỳ các nước Tây Phương khi nhìn biết được cảnh tắm máu ở Miên do Khmer Đỏ gây ra, chính quyền của tướng Lonol sụp đổ trước Việt Nam 13 ngày, bằng không thì dân chúng ở Cà Mau cũng có “vành khăn sô mùa xuân 75″ như ở Huế vậy. Trung tá Niệm khi bị giải ra tỉnh, tại Hội Đồng Xã Tân Xuyên, ông quay mặt vào cách để tránh những chiếc mày ảnh chụp hình đăng báo của kẻ thù, ông dặn các sĩ quan các cấp với câu nói để đời: “dù mình thua, nhưng các anh phải giữ tư cách”, ngày nay dù thời gian đã đi qua, nhưng những sĩ quan bị bắt ở Cà Mau vẫn còn nhớ đến câu nói đó của một cấp chỉ huy vẫn hiên ngang lúc sa cơ “anh không chết đâu anh”. Cà Mau là nơi bắt bớ sớm nhất, chỉ một ngày sau là họ lập ra ban quân quản, truy lùng từ ngày 1-5-1975, Việt Cộng muốn tắm máu tất cả để trả thù, vì trong suốt cuộc chiến, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã gây biết bao tổn thất nặng nề cho giặc. Dù ngưng hành quyết tập thể, nhưng Việt Cộng cũng ra tay hành quyết trả thù một số sĩ quan xuất sắc, từng làm thất điên bát đảo bọn thổ phỉ tại địa phương. Đó là cái chết bi hùng của trung tá Huỳnh Túy Viên, thiếu tá Phan Thanh Hứa, trung tá cảnh sát Lê Phó…

Trong bài nầy, xin được viết những gì được biết, chắc chắn là còn nhiều điều chưa đầy đủ, nhưng người viết bài nầy cảm thấy có bổn phận phải nêu ra, xin những người biết thêm góp ý, bổ túc để có được những chi tiết, như những trang tài liệu lịch sử bi hùng của quân dân miền Nam sau cuộc chiến. Do đó phần trung tá Lê Phó, chỉ biết ông xuất thân từ một tu sĩ Công Giáo, học ở nhà dòng, làm trưởng ty cảnh sát tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bị Việt Cộng hành quyết, nghe nói vợ ông bị điên vì đau buồn. Riêng 2 vị khác, xin được ghi lại vài dòng, chắc chắn chưa đầy đủ:

1- Trung tá HUỲNH TÚY VIÊN: tốt nghiệp khóa 20, trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, về Cà Mau phục vụ, kết hôn với một thiếu nữ địa phương tên Lài, con gái của một cảnh sát viên người Việt gốc Miên, dân gọi là Ông Thổ Tư. Là một sĩ quan thanh liêm, tận tụy với đất nước, yêu dân, nên dù quận Đầm Dơi hắc ám, thường bị bao vây, không có đường bộ, nhưng quận vẫn giữ vững trong suốt thời gian ông làm quận trưởng. Ngày 30-4-1975, sau khi nghe lịnh đầu hàng, ông ra lịnh phá hủy chi khu, đoạn kéo quân về tỉnh với hy vọng nơi nầy chưa đầu hàng, hợp lực để tử chiến, vì từ khi ấy, mọi liên lạc bị cắt đứt. Trên đường hành quân, đơn vị bắn hạ nhiều tên Việt Cộng đang “hồ hởi phấn khởi” trên đường ra tỉnh tiếp thu và bắt sống một số tù binh mang theo. Khi đến vòng đai tỉnh, nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng và cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt Trận Giải Phóng, biết không thể thay đổi tình hình, nên ông tập hợp các chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân thuộc cấp, ban lịnh giải tán, bảo trọng, đây là buổi họp cuối cùng nhiều cảm động của một đoàn quân thiện chiến nhưng bị bức tử thua trận. Trung tá Viên bỏ đi về nhà ở Saigon tạm ẩn thân, chờ thời cơ sẽ tính sau, khi Việt Cộng làm chủ đất nước, chúng truy lùng trung tá Viên để trả thù. Theo nguồn tin của một người bạn, quê ở Đầm Dơi cho biết: thời còn làm quận trưởng, trung tá Viên có làm con nuôi của một ông già trong quận, tình nghĩa đậm đà; Việt Cộng tìm mãi không được nên đến gặp ông già nuôi, thuyết phục chỉ nơi ở, chúng hứa là: “chỉ mời đi học tập vài tháng là tha về sống với gia đình, theo chính sách khoan hồng”. Ông già tưởng thiệt, nên dẫn Việt Cộng lên tận nhà ở Saigon, dẫn độ về Cà Mau để giết trả thù. Nghe nói sau khi trung tá Viên bị hành quyết, ông gia nuôi hối hận phát điên cuồng, chuyện nầy bên lề, chỉ ghi nhận nhưng chưa kiểm chứng được. Nghe nói gia đình trung tá Viên, bà Lài hiện còn ở Cà Mau, nếu quí vị thuộc các CÙI của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, các hội quân nhân, tổ chức Cứu Nguy Người Vượt Biển… xin tìm cách giúp đỡ để đi H.O, vì gia đình nầy quả rất xứng đáng được đền bù phần nào những đau khổ trong suốt mấy mươi năm qua. Trong khi Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, các nước tự do đã nhận lầm những tên Việt Cộng sang định cư với công tác nằm vùng, những thành phần tay sai đã ló mặt, lợi dụng tự do, sử dụng các cơ quan truyền thông để ủng hộ cho Việt Cộng, ca tụng tên Việt gian Hồ Chí Minh, bôi lọ quân lực VNCH, đăng hình chậu rửa chân bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ, hạ nhục biểu tượng hồn thiêng sông núi….

2- Thiếu tá PHAN THANH HỨA: quê ở quận Thới Bình, bên dòng sông Trẹm, ở rạch Ông Bường, là một nông dân cần cù, nhưng vì thấy Việt Cộng tàn ác, giết người dã man, nên ông bỏ cày đi lính làng, vừa bảo vệ quê hương, vừa tạo an bình cho làng xóm, trong đó có gia đình mình. Từ một Dân Vệ viên thời đệ nhất Cộng Hòa, đánh giặc gan dạ, lên làm trưởng đồn. Trong một đêm mưa gió âm u ở đồn Cái Tàu, mấy chiếc ghe khả nghi di chuyển trên sông, lính bắn chỉ thiên, thì các ghe nầy bỏ chạy. Cuối cùng nổ súng và bắt được toàn bộ ghe chở vũ khí, gồm hàng trăm khẩu AK 47, CKC, đại liên, thượng liên, đạn dược. Chiến công nầy được tỉnh ghi nhận, nên sau khi có lịnh từ trung ương để cho các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo chiêu mộ lính để giữ gìn lãnh thổ, thời Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, trưởng đồn Hứa được nâng đỡ học khoá sĩ quan hoàn hảo ở Thủ Đức, ra trường mang cấp thiếu úy, làm đại đội trưởng 974, đồn trú tại vàm Tắc Thủ, ngả ba từ quận Thời Bình vào Sông Ông Đốc (quận nầy sau 1975, thay bằng tên của một cán bộ Cộng Sản, gọi là huyện Trần Văn Thời, tên nầy chết từ lâu, nghe nguồn tin là hắn có hai đứa con gái của bà vợ thứ ba, tên Hồng Phượng, Hồng Phi, hiện đang sống ở hải ngoại. Riêng Hồng Phượng hiện đang làm phó đài phát thanh sắc tộc tiếng Việt, có nhiều bài đọc đáng nghi ngờ binh vực cho Hồ Chí Minh? Thiếu tá Hứa thăng chức khá nhanh với những chiến công, sau làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 446 địa phương quân, danh hiệu Thần Hổ, là tiểu đoàn đánh giặc khét tiếng ở Cà Mau, như tiểu đoàn Thần Xà 411 do thiếu tá Mã Thành Nghĩa chỉ huy ở tiểu khu Bạc Lạc (ông nầy tự sát). Thiếu tá Hứa đánh giặc gan lì, dũng cảm, mưu lược, am hiểu địa hình địa phương, nên dần dần nơi nào ông đóng quân đều an ninh, dân chúng sống an cư lạc nghiệp. Nhà ông già thiếu tá Hứa ở vùng nông thôn, nhưng ông không sợ, ông thách rằng: “đố cha thằng Việt Cộng nào dám đụng tới ông già tao”, vì ông biết rõ từng gia đình có người đi theo Việt Cộng. Thiếu tá Hứa ngoài tài đánh giặc, ông còn gan dạ, tuyển chọn vài anh lính chịu chơi, mở những cuộc phục kích trong vùng sâu, khi nhận được tin tình báo chính xác; những tên du kích, cán bộ ở lâu trong rừng, lâu lâu mò về kiếm cơm và gần gũi với vợ, toán của ông nằm chờ, khi tên Việt Cộng làm việc xong với vợ, vừa bước xuống khỏi giường là ông kêu tên, nếu đầu hàng thì bắt mang về, còn chống cự là nổ súng. Những chiến công ấy khiến Việt Cộng thù ông, nên sau ngày 30-4-1975, chúng bắt và tử hình.

Sau những đợt ra Bắc của hầu hết sĩ quan từ cấp đại úy trở lên, Việt Cộng mang những người anh hùng ấy ra giết tại sân bay. Chúng tập trung dân lại để xem, với mục đích dằn mặt, có nhiều người kể là: hình như Việt Cộng cho uống thứ thuốc gì mà tất cả đều không thể nói, nhưng ánh mắt nhìn căm hờn vào những tên cán bộ đọc bản án. Phần đọc bản án trung tá Viên, bỗng nhiên trời tối sầm lại và một trận cuồng phong thổi, cát bay mịt mù, bay cả tờ giấy của tên cán bộ chấp pháp đang cầm đọc. Sau đó chúng bắn từng người, đoạn mang đi chôn, không cho thân nhân lấy xác. Riêng trung tá Viên, nghe nguồn tin cho là: sau khi giết chết, Việt Cộng mang về Đầm Dơi, bắn thêm lần nữa để thị uy với dân chúng. Tuy nhiên, theo sự tin tưởng của dân chúng ở quận Đầm Dơi, thì trung tá Viên đã thành thần, rất linh hiển. Thiếu tá Hứa cũng linh hiển, nhà của ông bị Việt Cộng tịch thu, chủ mới bị ông đuổi, khiêng quăng xuống đất, tin nầy đồn lan rộng cả tỉnh. Người viết bài nầy sau khi đi tù về, năm 1981, trong thời gian quản chế, bị gom lần nữa do vụ kháng chiến quân của Trần Văn Bá đánh ở Hòn Đá Bạc, tất cả sĩ quan đi tù về đều bị nhốt hơn 1 tháng ở Cầu Sắt (nhà máy của ông Ba Thông bị tịch thu làm nhà tạm giam), gặp đại úy Công (làm lượng giá ở quận Quản Long), là bạn thân của thiếu tá Hứa, anh Công cho biết Hứa linh lắm, thường nằm mộng thấy, mách số đề, trúng đều đều, nên đỡ khổ. Ông Sáu Bổn, trưởng ty Chấp Pháp tỉnh, có đứa cháu ruột là thiếu úy Việt Cộng, bị tử thương trong trận đụng độ với kháng chiến quân do Trần Văn Bá lãnh đạo, ông Sáu cho biết: người bắn ông thiếu tá Hứa tên là Hoàng Thọ, có ba đứa con trai nhỏ, một hôm đang ngồi chơi ở bộ chỉ huy cảnh sát của, gần Chùa Bà Mã Châu, không biết lý do gì mà cả ba đứa té vô hàng rào kẽm gai, bị đuôi mắt cả.

Ngày 30-4-1974, ngoài những chiến sĩ bị hành quyết, không rõ có bao nhiêu người tuẩn tiếc, nhưng ở tại thị xã có binh nhì tên là Hồ Chí Tâm ( con trai của ông thợ hớt tóc Hồ Chí Nghĩa), lính địa phương quân, khi nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, anh đứng trước bộ chỉ huy tiển đoàn 491 ở Đầm Cùn, dùng khẩu sung cá nhân M16, tự vận, thật là oai hùng, cái chết của anh được một số đồng đội kể lại, sau đó bạn bè mang xác về nhà an táng. Ngoài những cái chết bi hùng ấy, ở Cà Mau chứng kiến những tên gián điệp Việt Cộng xuất đầu lộ diện, nhảy múa, ăn mừng chiến thắng, tiếp tay Việt Cộng truy lùng những chiến sĩ quân lực VNCH:

- Đại úy KIỆT, phó ty An Ninh Quân Đội tiểu khu An Xuyên, phụ tá đắc lực cho trung tá trưởng ty Ngô Văn. Không ngờ Kiệt là một tên Việt Cộng nằm vùng, quê quán ở xã Tân Lộc (cùng sanh quán với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). Kiệt tiếp thu ty An ninh Quân Đội, sau đó thấy hắn xuất hiện tại Băn Quân Quản lớn nhất đặt tại Hội Đồng xã Tân Xuyên (thuộc trung tâm thị xã Cà Mau), hắn đeo súng ngắn K 54, làm việc nơi nầy để nhận dạng, bắt bớ các chiến hữu cũ, sau đó nghe nói làm việc tại ty vật tư. Năm 1978, hắn đi xuất ngoại theo diện đăng ký với người Hoa, có nguồn tin cho biết là hiện đang sống tại Úc, ở nơi gọi là Concord West (Sydney); nghe nhiều người đồn là hắn rất giàu, tung tin là qua Úc trúng lotto Jack pot. Nhưng đây cũng có thể là hỏa mù do hắn tung ra để hợp thức hóa số tiền, vàng vơ vét trong thời gian làm việc cho Việt Cộng sau 1975, hay đây là tiền do Cục Tình Báo cung cấp để tiếp tục hoạt động? Xin đề nghị hội quân nhân ở Úc Châu nên theo sát, nhất là đừng để cho hắn trà trộn vào, ngay cả chuyện lãnh tiền hưu dưỡng của bộ Cựu Chiến Binh Úc.

- Trung sĩ THÂN, nhân viên chi an ninh quân đội quận Quản Long, không rỏ ở đâu.

- Ông HUÊ HÙNG, tục danh là HUÊ LỒN, vì hắn hay chơi bời trác táng, là cán bộ kinh tài Việt Cộng, mở khách sạn Bồng Lai để làm cơ sở, kiêm luôn tình báo. Năm Mậu Thân, hắn cất dấu một cán bộ cao cấp Việt Cộng bị thương trong nhà, lén lúc điều trị và sau đó đưa về vùng trong. Sau năm 1975, hắn được trung tá Việt Cộng tên là Tống Kỳ Hiệp, tỉnh đội trưởng gắng huy chương, tuyên dương công trạng tại sân Bạch Đằng. Huê Hùng cũng đi đăng ký, nghe nói hiện định cư ở Hoa Kỳ.

- Thiếu tá TẠ TẤN THÀNH, hậu cứ trưởng trung đoàn 33, thuộc sư đoàn 21, là con nuôi của đại tá Biết, trung đoàn trưởng. Theo lời của một quân nhân trung đoàn là Quách C.T cho biết: Thành tiếp thu trung đoàn, sau đó mang quân hàm thiếu tá Cộng Sản, làm việc một thời gian, đi đăng ký với người Hoa, có người nói hắn sống ở Úc, có người nói ở Hoa Kỳ?

Hàng năm, cứ gần ngày 30-4 lòng miên man, vết thương lòng vẫn rỉ máu, như vận mệnh đất nước vùi dập, tang thương do bọn giặc vô thần Cộng Sản gây ra. Dù thời gian đã đi qua hơn 3 thập niên, nhưng những người từng “trải qua những cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng” tưởng như mới xảy ra hôm qua. Viết đến đây, bỗng cảm giác cái kiếng đeo mắt bị mờ, mới hay là mình đã khóc, những giọt nước mắt ứa ra mỗi độ tháng tư về, là tháng tư đen của đất nước, trong đó có cả cuộc đời mình. Xin được dùng lại mấy câu thơ của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, vị khai sáng Phật Giáo Hòa Hảo để tự nhắc mình phải làm cái gì, dù rất nhỏ cũng là một bàn tay đóng góp để cho đất nước được tự do.

“Nay chẳng lẽ ngồi đàn những bản.
Vong quốc ca cho bạn bè nghe.
Chi bằng ta hảy hợp quần.
Cùng nhau đoàn kết đặng khoe sức hùng”.

TRƯƠNG MINH HÒA

Nguyễn Văn Khậy

ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN




Để giúp quý độc giả và quý chiến hữu có thêm tài liệu đánh giá những chiến sỹ VNCH đã chiến đấu thế nào trong công cuộc chống Cộng bảo vệ tự do đến giờ phút cuối cùng... như trường hợp Đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Bài do chính tác giả Nguyễn văn Khậy, viết và phục vụ dưới quyền Đại tá Hồ Ngọc Cẩn trong lãnh vực chuyên môn tỉnh Chương Thiện trước năm 1975.

(Bài viết được đăng trong Đặc San VÕ KHOA THỦ ĐỨC số 7 năm 2000).
  • ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN

Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện.


Tôi, Nguyễn văn Khậy được lệnh thuyên chuyển từ Sở Điện cơ Cấp phát Ruộng đất (Land Distribution Computing Service chief) trực thuộc Bộ Cải Cách Điền Địa và Phát Triển Nông Ngư Nghiệp Sàigòn đến bàn giao chức vụ Trưởng Ty Điền Địa tỉnh Chương Thiện (Land Reform Service Chief in Province).

Ngày 23-6-1973, một tuần sau khi tôi nhận nhiệm sở, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn từ Trung đoàn 15 Sư đoàn 9 Bộ Binh chuyển về thay Trung Tá Trần Duy Khang về hưu trí tại Saigòn (Phú Nhuận). Tỉnh Chương Thiện (thị xã Vị Thanh) nằm trong quân khu IV, của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Quân đoàn IV.
Suốt hai năm phục vụ dưới quyền Đại tá Hồ Ngọc Cẩn gồm các Ty sở chuyên môn và Hành chánh cũng như Quân sự, tôi còn nhớ mãi ghi ra đây như dòng tâm tư của người tỵ nạn còn âm hưởng những vươn rải đau thương, ẩn tàng tâm trí ngày đêm.

Ngưỡng mộ Anh Hồ Ngọc Cẩn như người anh cả trong quân sự và hành chánh.

Hồ Ngọc Cẩn sanh ngày 24 tháng 3 năm 1938 tại Cần Thơ. Tánh tình hiền hậu, giản dị, trầm tĩnh, ít nói. Anh xuất thân là Thiếu sinh quân (Đệ Nhất Quân Khu Gia Định).

Năm 1962, anh tốt nghiệp khóa Sĩ quan Đặc biệt với cấp bậc Chuẩn úy. Sau khi ra trường, Hồ Ngọc Cẩn theo học khóa huấn luyện Biệt Động Quân (BĐQ), rồi thuyên chuyên về phục vụ khu 42 Chiến thuật với chức vụ khiêm tốn: Trung đội trưởng. Lãnh thổ nầy gồm có các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương-Thiện (Vị Thanh), Ba-Xuyên (Sóc Trăng), Bạc-Liêu và Cà-Mau (An Xuyên).Năm 1966, Đại úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1/33 SĐ 21 Bộ Binh, nổi tiếng qua bài :”Ngũ Hổ U Minh Thượng” của tác giả Yên -Tử cư sỹ Trần Đại Sỹ. (Viết và đăng trong Tự Do Dân Bản số 77 ngày 15-3-2000)

Ngũ hổ là:


Đại úy Hồ Ngọc Cẩn: Tiểu đoàn Trưởng 1/33
Thiếu tá Lư Trọng Kiệt: Tiểu đoàn Trưởng TĐ 42
Thiếu tá Nguyễn văn Huy: TĐT - TĐ 44 BĐQ.
Thiếu tá Lê văn Hưng: Tiểu đoàn trưởng TĐ 2/31
Đại úy Dương văn Trổ: Tiểu đoàn Trưởng TĐ 3/33.


Trong ngũ hổ nầy thì Thiếu tá Kiệt kém may mắn, tuẫn quốc năm 1967. Ngày 30-4-74 Thiếu Tướng Lê văn Hưng Tư lệnh Phó Quân khu IV tự tử, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn. Duy còn Đại tá Dương văn Trổ làm Tỉnh Trưởng tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá), hiện định cư tại Houston Texas Hoa kỳ. Còn anh Nguyễn văn Huy ghi nhận chưa được.

Là sĩ quan gan dạ binh chủng BĐQ, anh Hồ Ngọc Cẩn tham gia hầu hết các trận đánh lớn nhỏ tại miền Tây. Đơn vị anh tìm và diệt địch trong mọi tình huống, một thời gây biết bao khiếp đảm cho giặc. Uy danh Đại úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn 42 BĐQ, “Cọp Ba Đầu Rằng” vang lừng một thuở. Sau đó, anh nắm chức Tiểu đoàn Trưởng đánh trận để đời là tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 514 cơ động Việt cộng tại Mỹ Tho (Tiền Giang), bắn chết 320 tên, bắt sống 176 tên, chính chiến công nầy anh được Tổng thống Johnson tưởng thưởng huy chương và Thống tướng Wesmoreland thay mặt Tổng thống Mỹ trao tặng.

Năm 1972, nhờ lập chiến công tại chiến trường An Lộc anh là Trung Đoàn trưởng Trung Đoàn 15, SĐ 9 BB.

6/1973: vinh thăng Đại tá, làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng tỉnh Chương Thiện cho đến ngày mất nước.
  • Về địa lý tỉnh Chương Thiện gồm: 4 quận với 32 xã.
Xã Vị Thanh hay thị xã Vị Thanh, quận Đức Long là trung tâm Thị trấn tỉnh Chương Thiện thời bấy giơ, thuộc quân khu IV. Đây là khu trù mật thành công và hoàn chỉnh nhất thời Đệ I Cộng hòa của miền Nam Việt Nam. Nó cũng là “cái ổ’ của Việt cộng nằm vùng. Người ta thường nói Vị Thanh-Hỏa Lựu đi đôi với nhau, vì sự bình định phát triển nông thôn, đời sống dân chúng sung túc ruộng vườn của 200.000 nông dân, quân cán chính trú đóng phát triển đủ mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa v..v.

Trên bản đồ quân sự 1/25.000 thì tỉnh Chương Thiện nằm giữa trung tâm 3 tỉnh Cần Thơ, Ba Xuyên và Rạch Giá cách nhau 60 km đường chim bay từ mỗi tỉnh lỵ. Một con đường Liên tỉnh lộ 32 nối liền thành phố Cần Thơ - Vị Thanh dài 60 km, dẫn dọc theo Kinh xáng Xà-No vào thị xã Vị Thanh.

Dưới quyền Đại tá Hồ Ngọc Cẩn gồm nhiều sĩ quan cấp Tá, tôi nhớ xin ghi ra đây, sau 25 năm xa vắng cố hương, kẻ mất người còn !.

Thiếu tá Trịnh Tấn Tiếp: Quận trưởng quận Kiến Thiện.
Thiếu tá Nguyễn văn Bình: Quận trưởng quận Đức Long (Long Mỹ).
Thiếu tá Võ văn Phúc: Quận Trưởng quận Kiến Bình.
Thiếu tá (không nhớ rõ): Quận Trưởng quận Kiên Hưng.
Vị Tham Mưu Phó là Thiếu tá Võ văn Thời, anh cũng là người trực tiếp chỉ huy mặt trận tại ngã ba Vĩnh Tường đến 10 giờ sáng ngày 02-5-75, mới buông súng.

Xã Vĩnh Tường nằm trên Liên tỉnh lộ Cần Thơ-Vị Thanh, ngã ba tẻ vào Long Mỹ và ngả về Thị xã Vị Thanh. Áp lực địch rất mạnh quyết sống chết để cắt đứt tiếp viện từ Cần Thơ vô và từ Chương Thiện ra. Được biết chắc Thiếu tá Thời bị thương ở chân, nhưng nghe chạy được về Cần Thơ, nay không rõ tông tích ra sao?.

Hai vị Thiếu tá Tiếp và Phúc mỗi khi đi công tác tỉnh, Sư đoàn là kéo tôi theo vì trước Ty Điền Địa, dọc Kinh xáng Xà No là bãi đáp trực thăng. Ân tình thâm sâu khi hai anh còn phục vụ tại Tiểu khu và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ Binh. Được biết ngày 30-4-75 cả hai anh về tỉnh bằng tác ráng bị B 40 Việt cộng phục kích trên sông rạch. Địa điểm ghi không được. Riêng Thiếu tá Nguyễn văn Bình còn độc thân, xuất thân từ Võ bị Đalạt, sau trận chiến ngày 02-5 thoát chạy về gia đình ở Cần Thơ. Và cũng vô âm bặt tín cho đến nay.

Riêng tại các xã, các vị xã trưởng bị xử tử tại địa phương. Tôi nhớ Xã trưởng Nguyễn văn Mây, xã Hỏa lựu (quận Đức Long), xã Ninh Bình (quận Kiến Thiện), Xã trưởng Vĩnh Tường anh Huỳnh văn Bon, xã Vĩnh Tường là đường huyết mạch, lối 3 giờ chiều Việt cộng thường phục kích công xa và quân xa, nên anh Bon rơi vào số phận hẫm hiu chung không ai lấy làm lạ. Đặc biệt Xã trưởng Vị Thanh, Ông Khưu văn Kỉnh thì an nhiên tự tại chỉ bị bắt giam tại ty Cảnh sát Chương Thiện như đa số khác. Cùng rất nhiều vị xã trưởng khác tôi không ghi ra hết được. Họ là những thành phần Hạ sĩ quan phục vụ tại địa phương xã nhà, hy sinh vì chánh nghĩa quốc gia đến ngày chót. Ghi nhận để lịch sử vinh danh họ.

Đó là những ghi nhận đến 23-6-1975 khi chuyển trại tập trung tại xã Hỏa lựu.

a. Về phần hành chánh chuyên môn:


Phó Tỉnh trưởng Hành chánh: Đốc sự
Nguyễn Khắc Linh thuyên chuyển về Bộ Nội Vụ, Đốc sự Diệp Bửu Long, lên thay vào áp chót 30-4-75, đi cải tạo miền Bắc. Hiện tỵ nạn ở Mỹ.


b. Các Ty sở nội chánh:


Ty Hành chánh: Đốc sự Huỳnh Thông.
Ty Ngân khố: Đốc sự Khương Phục Hưng,
Ty Kinh tế: Đốc sự Lê Thanh Đào, sau về Ba Xuyên,
Ty Công vụ: Đốc sự Huỳnh văn Xuân (chuẩn úy đi cải tạo chung với tôi qua nhiều trại ở miền Nam).


Nhưng vào tháng 4/75 rất nhiều Đốc sự thuyên chuyển về phục vụ tại Vị Thanh ghi ra đây không được và không quan trọng lắm.


- Hội đồng Phát triển Bình Định Nông Thôn: Đại úy Trần Minh Hồng (Trưởng), Đại úy Phan Kim Mỹ, em vợ Đại úy Lê Ngọc Sơn ở Úc châu (khóa 14, chết) làm Phó và nhiều sĩ quan, nhân viên dân chính dưới quyền.

- Hội đồng Tỉnh: Y sĩ Thiếu tá Lâm văn Hai làm Chủ tịch. Quách Toàn Thiện (Cựu Trưởng Ty Kiến Thiết), HĐ Minh (quên họ), Trần văn Bạc (cựu Đại úy), Lý Thanh Mẩn làm Tổng thư ký v.v...

Một Tòa án thiết lập bên hông Ty Điền Địa, cạnh Hội đồng Tỉnh đã hình thành nhưng chưa có vị Chánh án đáo sở nhậm chức vụ.


c. Các Ty sở ngoại thuộc.


Ty Điền Địa: Trung úy Nguyễn văn Khậy (hiện tỵ nạn Úc châu).
Ty Công Chánh: Kỹ sư Trương Minh Trung (tỵ nạn ở Mỹ).
Ty Kiến Thiết: Quách Toàn Thiện, ra ứng cử Hội đồng tỉnh chưa có người thay thế. Sau 1975 bạo bệnh chết tại xã Tân Túc, Tỉnh Long An, quê vợ.
Ty Miên vụ: Trung úy Danh Thọ.
Ty Chiêu Hồi: Đại úy Nguyễn Hiếu Nghĩa, đi "cải tạo" miền Bắc, vô âm bặt tín.
Ty Học Chánh: Không nhớ tên
Ty Thông Tin: Không nhớ tên
Ty Xã hội: Đốc sự Nguyễn Đình Vũ.
Ty Canh Nông: Kỹ sư Nguyễn văn Chúng.
Ty Thuế Vụ: Tham sự Đặng Ngọc Tợ.
Ty Cảnh Sát: Trung tá Võ văn Đường bị xử bắn.
Ty Điện lực: Trung úy Phan thế Hòa.


Tất cả Trưởng Ty sở tại sau ngày 02-5-75 dứt tiếng súng, lịnh qua loa kêu gọi trình diện, nhốt vô Ty Cảnh sát Chương Thiện, để sau đó phân bố đi cải tạo trong Nam hay ngoài Bắc. Riêng Ty Công chánh Nguyễn Tăng Hà thay Trung và Phan Thế Hòa, Điện lực được lưu nhiệm. Trương Minh Trung về Cần Thơ, hiện nay tỵ nạn ở Hoa kỳ. Còn Hà sau nầy bị đụng xe gắn máy chết 1987 tại cầu Bắc Cần thơ. Những Ty sở chuyên môn trong tỉnh sau năm 1975, kẻ vượt thoát, kẻ chết không ghi ra được hết!.

Nói đến cái chết vinh danh của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện, tôi xin được bổ túc thêm: đứng đầu là các vị Quận trưởng, bắn hoặc bị giết tại địa phương; kế Trưởng Ty Cảnh Sát Chương Thiện: Trung tá Võ văn Đường; Đại úy Phạm văn Bé, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát tỉnh, cùng bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975.

Các vị xã trưởng từng địa phương, họ là những anh hùng không chịu khuất phục trước uy vũ kẻ thù. Tổ quốc và quân sử mãi ghi danh họ.Còn một Đại đội Giang Thuyền của Đại úy Nguyễn văn Đầy, Đại đội trưởng; Đại úy Trần hữu Dinh, Đại đội phó đóng tại xã Vị Đức bên kia phi trường Chương Thiện. Hiện cả hai vị nầy ra sao?

d. Về lực lượng quân sư và Sư đoàn 21 Bộ Binh cận 30-4-75:

Các Trung đoàn 31-33 thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh, Quân khu IV rút ra bảo vệ phi trường Trà Nóc, Cần Thơ.

Một Đại Đội tân binh quân dịch tăng phái về đóng tại ICS (Ủy ban Kiểm soát Đình chiến Bốn bên) cạnh sân Tennis tỉnh, trên đường Gia Long đối diện Kinh xáng Xà-No. Lực lượng nầy bắn trả Việt cộng vào ngày 30-4 không cho tên Việt cộng nào vượt được sang cầu xi măng Lữ quán.
Trung đoàn 32 SĐ 21 Bộ Binh, còn trú đóng tại Bạc Liêu.

Trung đội bảo vệ dinh Tỉnh trưởng, những con gà cồ 60 ly trên lô cốt, gáy dữ dội từ 30-4 đến 10 giờ sáng ngày 02-5-75 mới chịu tắt tiếng.

Trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21, tôi quen biết Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, Tư lệnh phó Sư đoàn, vì ông hay ra đánh tennis với quí thương gia ngoài phố. Đại tá Lâm Chánh Ngôn Tham Mưu trưởng Sư đoàn. Khi Thiếu tướng Lê văn Hưng về nhậm chức Tư lệnh phó Quân khu IV dưới quyền Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Chuẩn tướng Mạch văn Trường về nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ Binh. Sự kiện nầy gây bất bình cho hai vị Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm và Đại Tá Lâm Chánh Ngôn, vì cả hai thâm niên quân vụ hơn tướng Trường sao đó...?. Hai vị rục rịch di chuyển đi thì cận 30-4 đen. Trước đó 2 tháng, Đại tá Lê Viết Điều trưởng phòng 4 Sư đoàn về hưu ở tỉnh Ba xuyên. Riêng Thiếu tá Phước (không rõ họ), “cận vệ” cho Đại tá Kiểm thường lui tới Ty Điền Địa chúng tôi, sau 30-4 cũng không ghi nhận tin tức các vị Tá trên.

Về phòng 3 Tiểu khu Chương Thiện, tôi quen Đại úy Trương Công Hạnh (phó), vị Trưởng ban Thiếu tá Tiệp đi nhậm chức Quận Trưởng. Đại úy Hưng (quên họ) chồng cô Nguyễn Thị Kim Yến làm tại Ty Điền Địa v.v...

Thiết đoàn 4 Chiến xa do Trung tá Trần Hữu Thành, Thiết đoàn trưởng Kỵ Binh đóng tại đầu cầu sắt, ngã ba vô Tòa Hành chánh, và nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy khác của Thiết đoàn cũng chung vận nước mà tôi chưa kịp ghi ra đây về lý lịch và sống còn của họ.

Mặc dù Tổng thống Dương văn Minh ban lệnh buông súng đầu hàng từ 10 giờ sáng 30-4-75, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Lê văn Hưng vẫn tiếp tục chiến đấu đến giờ phút chót và khi thấy thế cùng lực cạn đành rút súng tự sát, để bảo tồn khí tiết cấp chỉ huy.

Quân khu IV không còn. Khu chiến thuật mất liên lạc. Một tiểu khu và một số đơn vị vẫn tiếp tục chống trả VC quyết liệt đến sáng ngày 02-5-75. Đáng kể nhất tiểu khu Chương Thiện kềm địch mọi mặt tấn công vô tỉnh. Rồi đúng 10 giờ sáng mới buông súng.

Khi thế nước lâm nguy mới rõ mặt anh hùng. Và quân sử Quân lực VNCH hơn 50 năm sản sinh biết bao vị anh hùng Quân đội. Bên cạnh biết bao kẻ khiếp nhược trốn chạy ôm theo vợ con của cải, gia sản; thì tại miền Tây nước Việt bỗng: vươn lên những bậc anh hào lưu danh muôn thu. Đó là cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, cố Trung Tá Võ văn Đường, cố Đại úy Phạm văn Bé thà chết chớ không chịu sa vào tay giặc, bỏ đồn, bỏ lính, bỏ đơn vị đào nhiệm.

Xin một nến hương cho những chiến sỹ, đấng anh linh đã nằm xuống và mãi mãi cho những người đang chiến đấu vì lý tưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trên quê hương đau khổ Việt Nam được sớm vãng sanh.

Và cũng một lần nữa, tưởng nhớ AET Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Tiểu khu trưởng đã nằm xuống. Amen!

Riêng cầu chúc chị Cẩn và cháu trai sống hạnh phúc trong niềm tự hào tại Anaheim- California, Hoa kỳ.


Nguyễn Văn Khậy

  • Hồ Ngọc Cẩn
Quyết chiến, cùng dân giữ tỉnh nhà
Trả thù, giặc cộng bắt ông ra
Cần Thơ bịt mắt đem hành quyết
"Cứ giết nhưng đừng bịt mắt ta
Để ta nhìn nước, dân lần cuối"
Anh hùng muôn thuở sử hùng ca!

Ngô Minh Hằng

ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN,
TỈNH TRƯỞNG CHƯƠNG THIỆN
VỊ QUỐC VONG THÂN


Không đội trời chung với sói lang
Một còn một mất, chẳng đầu hàng
Mắt trừng họng súng, lời danh thép!
Miệng thét quân thù, dạ sắt gang!
"Cộng Sản độc tài, quân cướp nước!"
"Tự do dân chủ ... vẫn hiên ngang!"
Pháp trường nhỏ lệ ngùi thương tiếc
Một tấm trung can tỏ đá vàng !


Hồ Công Tâm

Phạm phong Dinh

Tưởng Niệm 30-04-75:
Chuyện Những Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Đất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại.
Giở lại những trang sử chiến đấudũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ba mươi sáu năm ngày 30.4, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế:
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam,
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú,
Thiếu Tướng Lê Văn Hưng,
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai,
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ.
o0o



Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. Được hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương.
Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.4.1975. Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ.
Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Sài Gòn.



Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV & Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972.
Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV.
Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.4.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ “đầu hàng” từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu: “Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có”. Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.4.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.


Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II & Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 5.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.7.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao.
Định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 7.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II & Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông.
Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.3.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.4.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.



Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch.
Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh.
Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu: “Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”. Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh.
Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.
Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại. sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng”. Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.


Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung Úy thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó.
Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II & Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về
Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng. Trước ngày 30.4.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ.
Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác.
Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình. Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.

PHẠM PHONG DINH

Bài Xem Nhiều