We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 14 May 2009

Từ Tuyên Ngôn nhân quyền Toàn thế giới nhìn đến giáo dân

Thái Hà Bản tuyên ngôn Nhân quyền toàn thế giới của Liên hợp quốc được nhìn nhận là những giá trị phổ quát về những quyền cơ bản của con người mà xã hội loài người phải tuân theo. Văn bản đó được thông qua đến nay đã 61 năm. Bản Tuyên ngôn nhân quyền Toàn Thế giới và Việt Nam Việt Nam xin gia nhập và ký kết bản Tuyên ngôn này từ 20 năm nay. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận: “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là văn kiện quan trọng có ý nghĩa tiến bộ lịch sử và giá trị to lớn về mặt đạo đức, chính trị và pháp lý” và “Tuyên ngôn khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá và các quyền", "Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do... không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, mầu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nòi giống hay các tình trạng khác". Tuyên ngôn nhấn mạnh tính bất di bất dịch và không thể bị xâm phạm của tất cả các quyền con người, vì đó là "nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới". (Trích báo Nhân Dân ngày 9-12-2008). Bản Tuyên ngôn có 30 điều, trong đó: “Điều 30: Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này” Như vậy, theo thông lệ quốc tế hiện hành, tất cả những văn bản luật pháp ở tất cả những nước đã tham gia không được phép chống lại bất cứ điều nào của bản Tuyên ngôn này. Điều này không loại trừ bất cứ đất nước nào, điều kiện nào và ở đâu. Có nghĩa là không loại trừ Việt Nam. Những văn bản luật pháp trong nước trái ngược hoặc có nội dung không đúng với bản Tuyên Ngôn nói trên, bất kể cấp nào thông qua, đều không có giá trị. Bởi khi xem xét về luật pháp phải chiếu với các văn bản của quốc tế mà Việt Nam tham gia, cụ thể là bản Tuyên Ngôn Toàn thế giới để ưu tiên. Báo cáo nhân quyền tại Liên Hợp quốc. Ngày 8/5 tại Geneva - Thụy Sỹ, Việt Nam báo cáo nhân quyền trước Liên Hợp Quốc Trước đó, bản báo cáo nhân quyền của Việt Nam đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra, báo chí Việt Nam đăng tải, trong đó nêu những thành tích đạt được của Việt Nam về nhân quyền. Đọc bản báo cáo, người ta thấy những thành công, những bài học rút ra và những khó khăn, thách thức… cuối cùng là cam kết của Việt Nam. Sau ngày 8/5/2009 khi Việt Nam báo cáo trước Liên Hợp quốc, báo chí nước ngoài đã đưa tin nhiều về việc này. Tuy nhiên, cho đến thời điểm một vài ngày sau đó báo chí Việt Nam đưa tin hết sức ít ỏi về sự kiện này. Trên báo VietnamNet của Việt Nam, nổi bật thông tin: “Các nước đánh giá cao báo cáo nhân quyền của Việt Nam”. Trong đó, nêu lên một đánh giá của số nước như Cu Ba, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… chủ yếu là nói đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Còn Indonesia “mong muốn Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc bảo vệ thúc đẩy quyền con người trong khu vực”. Tuyệt nhiên, trên báo chí Việt Nam không thấy những thông tin phản hồi từ các nước khác vốn rất quan tâm đến vấn đề nhân quyền Việt Nam và thế giới. Báo chí nước ngoài, cụ thể là Hãng tin BBC đưa tin như sau: “Báo cáo của Việt Nam nói chất lượng của việc thực hiện pháp luật còn thấp nhưng hứa rằng việc thực hiện các tiêu chí nhân quyền quốc tế là ưu tiên của chính quyền… chính quyền Việt Nam thừa nhận trong các quan chức nhà nước còn có hiện tượng "nhận thức về nhân quyền "ở một số người còn "hạn chế". Theo dõi việc trình bày báo cáo thì không có điểm nào nói lên sự khác biệt giữa quan điểm nhân quyền của chính quyền Việt Nam và Công ước Nhân quyền Quốc tế... …đại biểu nhiều quốc gia đã bày tỏ ý kiến của họ. Các nước phương Tây như Canada, Hà Lan và Úc nhấn mạnh Việt Nam cần cởi mở hơn về tự do báo chí. Đại diện Canada đề nghị Việt Nam cho phép báo chí tư nhân (một ý mà Hà Lan cũng đề cập), có luật bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Luật Việt Nam đôi khi được dùng để hình sự hóa việc bày tỏ quan điểm chính trị hòa bình và hạn chế tự do lập hội. Người của đoàn Canada nói: "Có vẻ luật Việt Nam đôi khi được dùng để hình sự hóa việc bày tỏ quan điểm chính trị hòa bình và hạn chế tự do lập hội." Canada đề nghị Việt Nam "giảm bớt việc dùng luật an ninh để hạn chế công chúng thảo luận dân chủ đa đảng”. … Đại diện Úc đề nghị Việt Nam tăng cường bảo vệ tự do báo chí, và hoan nghênh Việt Nam đang cân nhắc gia nhập Công ước LHQ chống tra tấn. Trung Quốc cũng phát biểu, kêu gọi Việt Nam "khép bớt khoảng cách giàu nghèo". Đại diện nước này đề nghị Việt Nam "giúp các nhóm thiểu số nhận thức tốt hơn quyền và trách nhiệm để họ có cuộc sống tốt hơn". Về phần mình, Nhật Bản nhấn mạnh "tầm quan trọng của tự do ngôn luận, và vai trò của truyền thông độc lập và tự do". Nhật đề nghị Việt Nam "thúc đẩy nhân quyền cho những nhóm dễ tổn thương" và cải thiện hệ thống luật pháp trong nước. Giáo dân Hà Nội và Thái Hà với bản Tuyên ngôn - những dẫn chứng cụ thể Tuyên Ngôn nhân quyền ghi rõ: “Điều 6: Mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi”. Cho đến nay, chưa có bất cứ một văn bản pháp luật nào có hiệu lực chỉ ra rằng những giáo dân và tu sĩ ở Thái Hà nói riêng và những tín hữu Công giáo Việt Nam không còn là công dân Việt Nam. Những quyền lợi được đảm bảo cho công dân, nghiễm nhiên giáo dân Thái Hà phải được hưởng, những nghĩa vụ của công dân, Giáo dân Thái Hà phải thực hiện. Bản Tuyên ngôn nhân quyền viết: “Điều 17: 1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hay chung với những người khác. 2. Không ai bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán. Tài sản của Giáo xứ Thái Hà và Tòa Khâm sứ đã bị chiếm đoạt không phù hợp ngay cả với pháp luật của nhà nước ban hành trong thời kỳ bị chiếm đoạt. Những tài sản đó bị chiếm đoạt không có văn bản, quyết định hợp hiến và hợp pháp, không đúng đối tượng của các chính sách nhà nước đã ban hành qua các thời kỳ. Trong khi Hiến pháp và pháp luật đã quy định rõ ràng: “Đất đai tôn giáo, nơi thờ tự được được bảo hộ”. Nhà thờ Thái Hà và Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã có đơn từ đề nghị được xem xét và trả lại quyền sử dụng đất đai, quyền sở hữu tài sản của mình kể từ năm 1996. Nhưng đơn từ đã qua cả chục năm gửi đi không được hồi đáp, đến khi hồi đáp không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về luật pháp, bỏ qua các chứng cứ cụ thể nhà thờ đã đưa ra về tài sản, đất đai của tổ chức tôn giáo. Khi đang trong quá trình đối thoại, Nhà nước đã dùng vũ lực khống chế để đoạt bằng được làm vườn hoa công cộng. Nhà cầm quyền Hà Nội đã căn cứ vào một Nghị quyết của Quốc Hội Việt Nam năm 2003, không xem xét trả lại tài sản đất đai bị chiếm đoạt trước năm 1991? Việt Nam đã tham gia ký Tuyên ngôn nhân quyền Toàn thế giới năm 1988. Như vậy, văn bản này có đi ngược lại điều 17 trong bản “Tuyên ngôn nhân quyền toàn Thế giới” mà Việt Nam đã long trọng ký kết trước đó hay không? Nếu văn bản này đi ngược lại bản tuyên ngôn nói trên, thì hiển nhiên không có giá trị pháp lý để thực hiện, bởi nguyên tắc cơ bản là phải ưu tiên tham chiếu các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Thậm chí, ngay cả áp dụng văn bản nói trên, thì đất đai của Nhà thờ Thái Hà, Tòa Khâm sứ cũng không nằm trong diện phải bị chiếm đoạt. Nhưng các khiếu nại đã không được giải quyết thỏa đáng. “Điều 3: Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân Điều 12: Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”. Sự kiện những người dân và tu sĩ Thái Hà, Tòa Tổng Giám mục bị cô lập trong bốn bức tường của Nhà thờ, bên ngoài là hàng loạt người bao vây, có sự chứng kiến của cán bộ, công an và nhiều thành phần khác. Chúng hò hét bên cạnh dòng tu, bệnh viện, khu dân cư đòi giết người… và sau đó là đập phá, kéo sập cửa và phá phách đền Thánh Giêrađô của Giáo xứ Thái Hà lúc nửa đêm. Những người này được nhà nước giải thích là “quần chúng tự phát”? Phụ nữ và trẻ em đang cầu nguyện trên linh địa Đức Bà đã bị xịt hơi cay vào mặt trong khi có đầy đủ nhiều lực lượng công an, cảnh sát và cán bộ chính quyền, đã có biên bản được lập, có đơn từ, hình ảnh chứng cứ… Nhưng, cho đến nay không hề có một cuộc điều tra nào để chỉ ra ai đứng chủ mưu, ai phải chịu trách nhiệm về những tội ác đó. Vậy những điều nói trên của bản Tuyên ngôn này có ý nghĩa gì ở đây không? Những dòng trong báo cáo của Việt Nam về nhân quyền phải hiểu như thế nào ở đây như thế nào về quyền lợi của phụ nữ và trẻ em? Trong khi đó, 8 giáo dân phá một đoạn tường rào giá trị chưa đầy 3 triệu 500 ngàn đồng trên một tài sản mà đến nay họ vẫn xác định là của họ đã bị bắt bớ, giam cầm, xét xử hết sức quy mô và khẩn trương như đã thấy. Và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa đã bị kết án là “gây rối trật tự công cộng”(?). Giữa các sự việc đó, ai là kẻ gây rối? Vậy trong các trường hợp này giáo dân và tu sĩ Thái Hà có được đối xử bình đẳng không? Họ có được bảo vệ không? Nếu không, thì quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền tự quyết vận mệnh của mình đối với giáo dân, tu sĩ Thái Hà có được công nhận không? Nếu có, thì quyền đó của họ hiện ai đang thụ hưởng? Bản Tuyên ngôn nhân quyền ghi rõ: “Điều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất cứ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản tuyên ngôn này cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy”. Báo cáo của Việt Nam viết: “Mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm việc thụ hưởng ngày càng toàn diện và đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền dân sự, chính trị”… Qua những sự việc và cách xử lý trên đối với các giáo dân, tu sĩ Công giáo, nên hiểu chữ “bình đẳng” được nhà nước luôn ghi rõ và ký kết, tuyên truyền ở đây có nghĩa như thế nào? Phải chăng, phải hiểu chữ “bình đẳng” này theo cách giải thích của nhà cầm quyền? Sau những vụ xịt hơi cay, bao vây nhà thờ nửa đêm… Nhà thờ đã đều có đơn nhưng không được cứu xét, không trả lời… Vậy điều mà bản báo cáo của Việt Nam đã viết: “Quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân được tôn trọng và bảo vệ” đã thể hiện như thế nào trong trường hợp này? Ai tôn trọng quyền đó, Giáo dân và tu sĩ Thái Hà có được quyền đó không? Bản Tuyên ngôn viết: “Điều 11: 1. Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.” Vậy, việc UBND TP Hà Nội bỗng dưng đưa công văn cảnh cáo TGM Giuse Ngô Quang Kiệt và các linh mục Dòng Chúa Cứu thế Hà Nội hết lần này rồi lần khác. Những vị này là được coi phạm vào tội gì? Căn cứ nào để kết tội? Tòa án nào cho phép hay căn cứ luật pháp nào để cho một công dân cảnh cáo một công dân hoặc một quan chức kết tội một công dân mà không qua tòa án, không căn cứ một cơ sở nào để kết tội? Giáo dân Thái Hà ra tòa, luật sư chính của họ, ông Lê Trần Luật đã bị gây khó dễ trong quá trình tiến hành bảo vệ cho họ và cuối cùng vẫn bị ngăn chặn trắng trợn, không thể có mặt tại phiên tòa phúc thẩm xét xử 8 giáo dân Thái Hà, có đúng với tinh thần của bản tuyên ngôn nói trên không? Những việc làm đó có đúng với là “Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản tuyên ngôn này cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy”. Trong quá trình vụ việc Thái Hà xảy ra, một đội ngũ các cơ quan truyền thông đã không tiếc lời vu cáo các giáo sĩ, giáo dân Thái Hà và Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, kết tội họ ngang nhiên. Dù đã có những văn bản phản đối, những đơn khiếu nại gửi đi, nhưng hầu như không có tác dụng. Thậm chí, khi những giáo dân Thái Hà cùng nhau cầu nguyện cho những mục đích tốt đẹp của quê hương, của đất nước, cho các nhà lãnh đạo đất nước được sáng suốt… đã bị guồng máy truyền thông báo chí áp đặt và quy kết đủ mọi thứ tội. Kể cả việc họ ngang nhiên phân biệt đổi xử trắng trợn trên mặt báo đối với các công dân là giáo dân, linh mục, tu sĩ: Rằng đã vượt qua giới hạn của nhà tu hành, rằng là can thiệp chính trị, rằng là đi ngược lợi ích dân tộc? Vậy “điều 29: 1. Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ” này có được áp dụng ở Việt Nam không? Nói riêng với giáo dân và tu sĩ Công giáo? Tất cả những ý kiến của giáo dân, giáo sĩ Thái Hà gửi đến đều không được đăng tải một cách minh bạch hoặc bị xuyên tạc ác ý. Những tiếng nói để nói lên sự thật thì bị quy kết, làm khó dễ, bị điều tra… ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cá nhân. Tôi cảm nhận sâu sắc điều này, cá nhân tôi đã nhiều lần bị triệu tập để làm việc “về nội dung một số bài viết trên mạng internet” mà những bài viết của tôi đơn giản chỉ là những sự thật được nói ra đúng bản chất của nó. Kể cả linh mục Nguyễn Văn Khải đã nhiều lần nhận giấy mời, giấy triệu tập đến cơ quan điều tra về nội dung bài các bài viết trên internet… Trong một đất nước mà khi nói lên những sự thật thì bị điều tra, kết tội, còn những kẻ ngang nhiên dựng chuyện, dối trá và bóp méo, xuyên tạc sự thật lại chẳng hề bị hề hấn gì và còn được khuyến khích, khen thưởng… Điều này có ý nghĩa gì? Phải chăng, sự thật phải được lên án, sự dối trá phải được coi là mẫu mực trong hành xử và điều hành xã hội? Thủ tướng chính phủ Việt Nam nói: “Tôi xin nói suy nghĩ riêng của mình. Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực, ghét nhất, giận nhất là sự giả dối”. Điều này đã gây cho nhiều người những thắc mắc: Hệ thống báo chí Việt Nam là độc quyền của nhà nước, chính ông Thủ tướng là người đã khẳng định cấm báo chí tư nhân. Vậy Thủ tướng có suy nghĩ gì về sự dối trá của báo chí được nêu quá nhiều lần, nhất là qua sự việc Tòa Khâm sứ và Thái Hà hay không khi ông “ghét sự giả dối”? Ông nghĩ gì khi những người nói lên sự thật, nói lên những ý nghĩ tìm cách xây dựng tốt đẹp cho đất nước, đã bị làm khó dễ, bị hăm dọa và điều tra khi ông “yêu nhất, quý nhất là sự trung thực”? Phải chăng điều này được giải thích: Đây chỉ là “suy nghĩ riêng” của Thủ tướng mà thôi? “Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới” Vậy nhà cầm quyền Việt Nam có loại điều này ra khỏi bản tuyên bố mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết hay không? Nếu không, những việc như trên thể hiện điều gì nếu không là sự phân biệt đối xử và vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân được pháp luật minh nhiên công nhận? Những ngày gần đây, nhiều đoàn khách hành hương về Thái Hà đã bị ngăn chặn một cách bất hợp pháp mà không có lý do chính đáng. Đây là những cuộc hành hương hoàn toàn mang tính chất tôn giáo thuần túy. Tuy nhiên công an đã hành động bất chấp ngay cả luật pháp Việt Nam về quyền đi lại của con người. Giám mục Nguyễn Văn Sang giáo phận Thái Bình đã công khai tố cáo điều này cũng như đã có đơn phản đối. Các hình ảnh, âm thanh trên mạng internet đã chứng minh điều đó. Các linh mục, giáo dân đã nói lên những hiện tượng và sự việc có thật đó không chỉ xảy ra với giáo dân Thái Bình, mà còn nhiều nơi, nhiều chỗ khác. Tuy nhiên, đến nay các cơ quan pháp luật Việt Nam vẫn làm ngơ những hành động này. Khi sự vi phạm pháp luật rõ ràng được làm ngơ, điều đó đồng nghĩa với sự dung túng cho các những hành động vi phạm pháp luật đối với một bộ phận giáo dân là công dân Việt Nam. Vậy “điều 13.1 1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãng thổ của mỗi quốc gia” đã được thực sự tôn trọng? Những câu hỏi với những sự việc trên, đang là một sự thật hiển nhiên, nhức nhối và luôn là những vấn đề làm ảnh hưởng nặng nề đến khối đại đoàn kết dân tộc, làm cho đất nước mất đi sức mạnh cần thiết bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Vài điều cần suy nghĩ Nhà nước Việt Nam đã long trọng ký vào bản Tuyên ngôn nhân quyền, những điều khoản của bản tuyên ngôn này mọi cá nhân, tổ chức và nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ. Không có một lý do nào có thể biện minh cho việc vi phạm. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Thực tế cho thấy, những vấn đề cụ thể, những vụ việc được dẫn chứng ở trên đã cho thấy con nhiều nơi, nhiều chỗ vẫn ngang nhiên vi phạm. Đó có phải là khoảng cách giữa lời nói và việc làm của những người cộng sản khi tiến hành các sự việc trên? Hay bởi nó là hậu quả của sự dung túng cho những hành động vi phạm pháp luật ngang nhiên mà không bị trừng trị? Hay đó chỉ là một trong những biểu hiện của sự kỳ thị đối với người Công giáo - những công dân hạng hai? Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam đã trải qua một thời kỳ lịch sử rất dài kể từ ngày dựng nước. Những người con đất Việt vốn được ca ngợi là thông minh, cần cù chịu khó và rất anh dũng. Thiên nhiên Việt Nam được coi là giàu có về tài nguyên và tươi đẹp, ưu đãi con người. Tuy nhiên, sau bốn ngàn năm nhìn lại hiện tại, chúng ta thấy gì? Vài chục năm gần đây là thời kỳ Việt Nam từ bỏ thói tự mãn, tự coi mình là tiến bộ hơn phần còn lại của thế giới, là lương tâm nhân loại… để hội nhập vào thế giới, đất nước đã có những biến đổi về kinh tế. Đó là máu xương, công sức của toàn dân tộc Việt Nam. Nhưng đất nước này vẫn là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu nguy cơ tụt hậu khỏi thế giới văn minh là điều đã được cảnh báo. Chiều hướng suy đồi đạo đức xã hội đang không ngừng gia tăng. Những giá trị truyền thống bị đảo lộn, những giá trị con người bị coi nhẹ, tệ nạn xã hội lan tràn. Tệ nạn tham nhũng trong guồng máy công chức, lãnh đạo ngày càng nghiêm trọng từ vấn nạn chuyển thành quốc nạn. Người dân dần dần bị mất đất đai, tư liệu lao động chính của họ đang dần dần bị thâu tóm vào tay một số chủ đầu tư, một số kẻ giàu có. Câu chuyện “người cày có ruộng” thời kỳ đầu của nhà nước đang được diễn ngược, đất đai đang dần dần đươc thâu tóm vào các nhà đầu tư, các cá nhân lắm của nhiều tiền, người dân cày lại hoàn toàn trở về tay trắng. Điều này tạo ra biết bao cảnh khó khăn của nhân dân, những người đã đóng góp xương máu xây dựng nên đất nước này, chế độ này. Những dự án như bauxit Tây Nguyên, đã và đang tạo ra những nguy cơ mới đối với đồng bào sinh sống tại chỗ, với truyền thống văn hóa Tây Nguyên lâu đời và môi trường của cả miền Nam đã gây nhiều lo ngại. Nhưng trên hết, vấn đề an nguy của dân tộc, của Tổ quốc đã được báo động mạnh mẽ khi những đội quân của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, kẻ đã từ bao đời nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính và xâm lược Việt Nam được đưa vào mái nhà Tây Nguyên. Việc ngoại bang xâm chiếm lãnh thổ của đất nước, của cha ông để lại ngàn đời nay đã là hiển nhiên và thực tế, không còn chỉ là một nguy cơ. Đó là những sự thật hiện nay. Trước tình hình đó, mọi người con dân Việt cần phải làm gì để đưa đất nước ra khỏi những những nguy cơ đó? Cũng như mọi dân tộc, mọi đất nước trên hành tinh này, Việt Nam cần phải vượt qua những khó khăn thử thách trên bước đường phát triển. Một dân tộc, một đất nước hùng mạnh là điều mà mọi công dân đều mơ ước. Khi tiếp xúc với những người nước ngoài, không ai không cảm thấy hổ thẹn bởi ánh mắt nhìn, bởi sự không thân thiện khi biết mình là người Việt Nam. Câu nói của Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt dù bị cắt xén đi nữa thì không lâu sau đó đã được những người nổi tiếng như Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh đã nói rõ ràng trên báo chí nhà nước. Nhưng tất cả đã im lặng. Đó là nỗi đau, nỗi nhục mà mọi công dân còn có lòng yêu nước còn phải trăn trở, nghĩ suy. Để vượt qua điều đó, không thể bằng sự dối trá, lừa lọc và đàn áp bằng vũ lực. Tất cả cần sự đoàn kết nhất trí từ trong lòng mỗi người dân. Để có sự đoàn kết, nhất trí vững bền trong mọi người dân, điều cơ bản phải vẫn là sự thật. Không có một đất nước, một thể chế nào vững bền khi dựa vào sự dối trá và xảo quyệt hoặc dựa trên sức mạnh súng đạn. Để đất nước vượt qua khó khăn, không còn con đường nào khác là phải đối diện với thực tế để sửa mình. Ngay cả bản thân chính phủ, nhà nước cũng hết sức cần thiết nhìn nhận lại chính mình nếu muốn trở thành một nhà nước chân chính. Một Nhà nước chân chính, là một nhà nước phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu chính phủ nào không phục vụ nhân dân thì nhân dân có quyền đuổi chính phủ”. Hãy để lòng dân được yên, đó mới là kế “sâu rễ, bền gốc” của một nhà nước mà cha ông ta đã ngàn đời đúc kết. Vì chèo thuyền là dân nhưng lật thuyền cũng chính là dân. Đọc lại bản Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền, nhìn lại vài sự kiện đã xảy ra với Giáo dân Công giáo vừa qua để thấy rằng con đường đi lên còn ở phía trước và để đi trên con đường đó Sự thật – Công lý – Hòa bình càng cần được nêu cao. Đó cũng là con đường để mọi tín hữu Công giáo đồng hành với dân tộc, với đất nước.
Hà Nội,
Ngày 15/5/2009
·
J.B Nguyễn Hữu Vinh
KHÔNG TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN
SẼ MẤT LUÔN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

Một chế độ độc đảng, độc tài, độc ác toàn trị cộng sản mà phải trình diện trước diễn đàn quốc tế để biện giải về những thành tích “tôn trọng nhân quyền” của mình thì đúng là “bắt khỉ diễn trò” cho thiên hạ diễu chơi. Việtnam hiện nay đang sống dưới chế độ độc đảng toàn trị, cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, tôn giáo, truyền thông và các đoàn thể xã hội đều bị đặt dưới sự lãnh đạo độc đoán và chế độ “xin cho” của một đảng Cộngsản độc quyền tài phán. Toàn dân bị kiểm soát nghiêm ngặt bằng biện pháp “hộ khẩu” và hệ thống “công an trị” do đảng điều khiển khít khao. Mọi quyết sách nội trị, ngoại giao của nhà nước đều do 15 ủy viên Bộ Chính Trị đơn phương định đoạt. Mà chính họ lại không được dân lựa chọn bầu lên. Kể cả cái Điều 4 của bản Hiến Pháp 1992 dành cho cộng đảng toàn quyền lãnh đạo quốc gia, thì công dân cũng không được có ý kiến. Ngay việc bầu người đại diện của mình vào Quốc Hội cũng phải do đảng tuyển lựa trước mới để cho dân bầu sau. Như vậy ở Việtnam không có Dân Quyền.




Một chế độ được thành lập mà Quyền Lực Quốc Gia không dựa trên Ý Chí của Toàn Dân thì đó chỉ là chế độ Quân Chủ Phong Kiến lạc hậu. Hầu hết các nước Dân Chủ Tự Do trên Thế Giới đều đã phải kinh qua giai đoạn ấy. Bởi thế không thể cho rằng bản chất nhân quyền ở mỗi nước mỗi khác, vì vấn đề văn hóa, hay nếp sống khác nhau, mà phải nói chỉ vì bị sống trong chế độ còn lạc hậu, nên ở đó chính quyền mới không biết tôn trọng nhân quyền mà thôi. Còn bất cứ chế độ nào đã tiến lên mức Tự Do Dân Chủ đều phải tuyệt đối tôn trọng Nhân Quyền. Vì không có Con Người thì không có Quốc Gia Dân Tộc, không có Xã Hội của Con Người. Một chế độ không tôn trọng Nhân Quyền là chế độ không có Dân Quyền, xã hội không thể có tự do, con người bị biến thành công cụ của nhà nước do một người, hay một đảng độc quyền cai trị. Bởi vậy các nước Dân Chủ trong Hội Đồng Nhân Quyền mới đồng thanh kết án chế độ Cộngsản Việtnam là vi phạm nhân quyền. Riêng các nước Độc Tài, Phong Kiến lạc hậu mới ủng hộ bản báo cáo của chính phủ Hànội.

Khiến cho thứ trưởng ngoại giao Việtcộng, Phạm Bình Minh, trưởng đoàn Việtnam, tại phiên họp 08/05/09 của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ phải ú ớ, đành tự thú nhận: “Việtnam hiện nay vẫn còn những bất cập, khó khăn tồn tại cần giải quyết, trong hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, có chỗ chồng chéo mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn, thậm chí hiểu sai, làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính hợp hiến, tính khả thi và minh bạch trong quá trình đảm bảo quyền con người của một số người điều hành tại địa phương, hoặc chưa quen thuộc với các điều luật trong các công ước quốc tế mà Việtnam đã ký kết, cũng như thiếu hiểu biết về chính sách luật pháp của nhà nước đưa tới việc làm sai trái”. Tuy đã nhận khuyết điểm, rồi đổ thừa cho địa phương làm lỗi, nhưng trưởng đoàn Việtcộng cũng cố gân cổ lên để bác bỏ những lời tố cáo cho rằng, Việtnam đàn áp những người bất đồng chính kiến, ngược đãi các sắc tộc dân thiểu số, không tôn trọng tự do tôn giáo, và bóp nghẹt các quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ tư tưởng, và tự do nghiệp đoàn…

Thông cáo báo chí của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ ngày 08/05/09 đã đưa ra các khuyến nghị, Việtnam nên giảm bớt sử dụng luật lệ về an ninh quốc gia để hạn chế quyền thảo luận của công chúng về Dân Chủ Đa Đảng và chỉ trích chính phủ. “…khuyến khích Việtnam tiếp tục nỗ lực bảo đảm quyền tự do tôn giáo, thừa nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và để cho giáo hội này được hoạt động độc lập với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh), để cho dân chúng được bày tỏ ý kiến về hệ thống chính trị, và trả tự do cho các tù nhân lương tâm như linh mục Nguyễn Văn Lý, và hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân…”. Thực ra về mặt tuyên truyền và uy tín quốc tế, thì nhà cầm quyền Hànội dịp này đã bị mất mặt thê thảm. Nhưng rồi đây chứng nào tật ấy, Việtcộng vẫn cứ cố duy trì chế độ Độc Tài Tham Nhũng, không dựa vào dân, mà dựa vào các thế lực quốc tế để tồn tại, như từ trước tới nay.

Chính vì chế độ độc tài cộng sản không dựa vào dân, mà chỉ dựa vào ngoại bang, nên trước đây đã ngoan ngoãn nằm trong hệ thống cộng sản của đàn anh Liênxô, Trungcộng, nay thì bị Đế Quốc Đại Hán khống chế triệt để. Khởi đi từ năm 1991 do nhóm lãnh đạo Hànội: Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, thân hành sang Tầu thần phục nhóm bành trướng Bắckinh: Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân. Lý Bằng. Tiếp theo là Lê Khả Phiêu phải theo lệnh Bắckinh từ chối ký Hiệp Ước Thương Mai với Mỹ năm 1999. Cùng năm đó, Phiêu phải hứa cắt đất, và năm 2000 dâng biển cho Tầu. Từ đấy Tầu ngang nhiên nhận 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa là của chúng. Đến tháng 12/2007, nơi đó Tầu đặt là thành phố Tamsa thuộc tỉnh Hảinam. Tháng 05/2008, Bắckinh kêu Nông Đức Mạnh sang, bắt ký cam kết hợp tác toàn diện giữa 2 đảng, 2 nước. Tháng 10/2008, Nguyễn Tấn Dũng được gọi sang Tầu để ký kết cho Trungcộng vào khai thác tài nguyên của Việtnam. Chính vì vậy mà Trungcộng được độc quyền đem dân, quân sang khai thác bauxite ở vùng Tây Nguyên Việtnam. Tổng giám đốc nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ, tỉnh Đắcnông thừa nhận: “Chính phủ đã cho không nhà thầu Trungquốc dự án khai thác bauxite Tây Nguyên chứ không có đấu thầu”. Cho nên, dù phong trào chống việc khai thác bauxite của toàn quốc lên rất cao, mà nhóm cầm đầu Hànội cũng không dám trái ý quan thầy của chúng, để chấm dứt. Vì đây là kế hoạch “tàm thực” Việtnam của chính sách Đế Quốc Đại Hán, mà bước chính là chiếm lấy vùng chiến lược cao nguyên của Việtnam. Vì chỉ có chiếm được nơi đây, Trung cộng mới làm chủ được Đôngdương và toàn vùng Đông Nam Á, để hy vọng ngang tầm siêu cường với Hoakỳ.

Để tránh bị lịch sử gọi là những con “Chó Bắc Kinh” CBK, nhóm cầm đầu Hànội đã phải liên kết với Malaysia, để ngày 06/05/09 trình hồ sơ thềm lục điạ chung của 2 nước với LHQ. Rồi ngày 07/05/09 một mình Việtnam nộp hồ sơ để xác định thềm lục điạ Việtnam, bao gồm 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa thuộc chủ quyền Việtnam. Lẽ đương nhiên đều bị Trungcộng quyết liệt phản đối. Theo quy định về thủ tục của CLCS, trong trường hợp có tranh chấp về lãnh hải, thì ủy ban sẽ không xét và phê chuẩn hồ sơ của bất cứ bên liên quan nào trong vụ tranh chấp. Nghĩa là vấn đề Biển Đông vẫn giữ nguyên trạng, vừa là hải phận quốc tế, vừa là phần mỗi nước tự nhận. Kẻ nào có thực lực hải quân thì có thế mạnh trong vùng. Cho nên Trungcộng tăng cường hải quân, các nước trong vùng phải chạy theo. Hoakỳ là “chúa đại dương” cũng phải tăng cường hiện diện, khiến nơi đây luôn luôn là vùng nguy biến rình rập. Riêng với Việtnam thì chừng nào chế độ chưa phải là của dân. Chính quyền chưa do dân bầu chọn, chưa lấy dân làm gốc, chưa nhận dân làm chủ, chưa tôn trọng nhân quyền, chưa dân chủ hóa chế độ thì chủ quyền quốc gia vẫn còn nằm trong tay ngoại bang chi phối.

Little Saigon ngày 12/05/2009.

Bài Xem Nhiều