We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 24 May 2009

Truyện Thằng Lớn


Mùa hè hai năm sau, một buổi trưa, người đàn ông Việt tên Tú và hai đứa con ông ta từ Hoa Kỳ về, lại có dịp đến bến xe Bình Tây.

Ngổn ngang là xe, đậu chẳng có thứ tự gì, mạnh ai nấy đậu. Xe đò chạy diesel xả khói mịt trời. Có xe khá đông khách nhưng vẫn chưa đi, lơ xe còn đi bắt thêm mối, tài xế ngồi sau tay lái uống la-de tỉnh bơ. Có cái mới mươi người khách thì lơ xe la bài hải như có cháy nhà:”Gò đen, Bến lức đi ngay đây. Lên xe, lên xe mau. Ông cụ kia, đi không?” Vài câu chửi thề tục tĩu vì hụt khách của mấy lơ xe khác.



Hàng quán bán rong nườm nượp. “Ai mía ghim đây.” Ai nước trà đường” “Phở bò viên đây.” “Bò bía tôm thịt lạp xưởng” thêm tiếng lách cách của cái kéo lớn anh hàng thịt bò khô vang lên mời khách và cái chuông reng reng của anh bán kem cây. Mấy chị hàng bún, hàng cháo huyết, cháo lòng, mì thập cẩm, bánh canh, xôi vò chè đường ...ngồi hếch mắt nhìn người qua kẻ lại luôn miệng mời khách, tay cầm cái que dài có buộc ở đầu một chùm lá tre để đuổi ruồi nhặng bay như ong từ bãi rác to như cái nhà ba tầng gần đó, mùi rác thối sau cơn mưa đêm qua, nắng hong lên tạt vào mũi kẻ qua người lại phải nín thở đi cho mau. Vài con bé gầy gò khoảng 12, 13 quần áo lếch thếch, cái khăn lau vắt vai, đang rửa tô rửa muỗng cho mẹ chúng bán cháo lòng, bánh canh sau khi người khách ăn xong, cứ một xô nước đó chúng rửa từ sáng đến lúc hết gánh cháo, gánh bún.



Hàng chục lời rao khác quyện vào nhau cùng với tiếng động cơ xe đò, xe nhỏ, xích lô máy, tiếng cưa máy một nhà máy cưa ở ngay cạnh, khói bụi mịt mù, tiếng còi xe, không có chuyện gì cũng bóp còi, tất cả làm thành một bản nhạc tả pí lù liên tu bất tận nghe mệt tim, điếc tai, mờ mắt. Ông Tú thầm nghĩ sao ô nhiễm quá thế và lắm người nghèo quá thế? Người nghèo nhiều, xã hội khó yên vui. Tệ trạng xã hội phát sinh cũng từ nghèo mà ra!



Ông Tú trông vẫn như trước nhưng hai đứa con thì lớn hẳn lên, khác xa lần về trước cách một năm. Cô con gái tên Jennifer nay đã là một thiếu nữ đôi tám xinh xắn, má đỏ, môi hồng. Jen không trang diện nhiều nhưng với nước da trắng bóc, đôi mắt to đen như mắt cô siêu mẫu Cindy Crawford, mái tóc dài đen mượt thả xuống ngực và khuôn mặt thật xinh, cái quần jean và cái sweater mầu hồng nhạt duyên dáng, Jen làm cho bất cứ ai nhìn Jen cũng phải ngắm nghía ghi nhớ hình ảnh. Cậu em trai là John, trắng trẻo, thông minh, cao lớn gần bằng cha tuy bé ngang hơn.



Khi ba cha con đang đứng nghểu nghến bàn tính chuyện nên đi ngay hay nên dùng bữa, ông Tú lấy cell phone ra bấm thì hai anh lơ xe nhào tới, một anh giật cái xách tay John đang cầm, anh kia giật cái xách tay ông Tú cầm:

“Dạ thưa chú, chú đi đâu?”

“Chú lên xe con!”

Ông Tú phải tắt tạm cái cell, tay ông nắm quai cái túi xách vừa bị giật:

“Để cha con tôi suy nghĩ một chút, chưa đi ngay đâu!”

John cũng nắm lấy quai cái túi xách. Hai anh lơ phải buông tay.

“Chú cần đợi ai thì chú lên xe con ngồi cho đỡ mỏi chưn!”

Ông Tú ôn tồn:

“Để chú suy nghĩ chút mà!”



Hai anh lơ tiu nghỉu bỏ ra đứng xa xa nhìn lại. Làm cái nghề này thật khổ, chủ xe giao cho ngày phải chèo kéo được bao nhiêu khách, không đủ số bị trừ lương. Vì vậy hễ thấy khách xách vali, xách cặp tới là ra tranh giành cho bằng được. Có khi vì tranh khách mà đánh nhau làm Cảnh sát bến xe lại phải can thiệp.



Vừa lúc đó có một đứa con gái bán vé số nhào tới. Mặt mày nó dễ coi nhưng quần áo tồi tàn quá. Cái quần đen đã bạc, vài chỗ vá. Cái áo ngắn cũn cỡn không phải của nó mà có lẽ của một đứa nhỏ hơn, nhìn thấy cả lưng. Đôi mắt tinh nhanh và nụ cười tươi làm cho người đối diện có cảm tình nhưng trông con bé thật bệ rạc. Nó chìa xấp vé ra trước mặt ông Tú:

“Thưa bác, mua dùm con mấy tấm vé số, vé sắp xổ!”

Ông Tú nhìn con bé. Ủa nó có cái nét hao hao một đứa bé nào mà ông đã gặp nhưng chẳng nhớ ra? Những đứa trẻ ông gặp thiếu gì! Nào sứt môi, lé mắt, bại xuội, què tay, cụt chân ông đã vào hai, ba Viện mồ côi ở Sàigòn và Huế, nhìn thấy rất nhiều, làm sao nhớ được?

“Cháu bán vé số ở đây lâu chưa?”

“Dạ, thưa bác cháu bán ở đây khoảng hơn một năm rồi.”

Ủa, lại giọng nói! Nó giống giọng nói một đứa nào ông nghĩ mãi không ra. Con gái ông, Jennifer, nhìn con bé và nói với ông Tú cái gì làm ông chợt nhớ lần về hai năm trước, ba cha con ông cũng đứng ở bến xe này mua vé số cho một thằng bé cũng cỡ tuổi con bé này. Ông đã quên tên nó, hôm đó nó bị xe đụng chẳng biết nay nó khỏi chưa? Ông nghĩ hỏi con bé này may ra nó biết.

“Cháu có biết một thằng bé cũng khoảng tuổi cháu, cũng bán vé số ở bến xe này , cách đây hai năm bác đã mua vé số cho nó, giọng nói của nó giống cháu lắm...”

Con bé đáp mau:

“Thưa bác, có phải tên là Lớn không?”

Ông Tú nghe nhắc nhớ ngay:

“Phải, phải, đúng tên nó là Lớn. Cháu biết nó hả?”

“Thưa bác, Lớn là anh cháu!”

“Bây giờ nó ở đâu? Nó đi làm nghề khác rồi sao?”

Con bé rầu rầu:

“Anh Lớn của cháu chết rồi bác à!”

Ông Tú giật mình, cả hai người con ông Tú nãy giờ vẫn theo dõi câu chuyện giữa cha với con bé bán vé số nghe Lớn chết đều giật mình.

“Ủa, vì sao Lớn chết hả cháu?”

Con bé rụt rè:

“Thưa bác, có phải bác là bác Tú không?”

“Ừ, sao cháu biết tên bác?”

“Anh Lớn trước khi chết nói với ba má cháu là bữa đó bác mua vé số cho ảnh, lại cho ăn phở và uống cà-phê. Anh về nhà được một lát thì bất tỉnh, đưa vào bệnh viện người ta bảo ảnh bị nứt sọ...”

Ông Tú thấy câu chuyện có vẻ dài:

“Vào quán nước kia bác mua nước cho uống rồi kể cho bác nghe!”

Ông Tú đi trước, con bé bán vé số và hai đứa con ông Tú theo sau. Ông kiếm một hàng ăn trông khá sạch sẽ hơn cả. Giờ này khách cũng thưa. Ông bảo con bé ngồi cùng ba cha con ông vào một cái bàn nhỏ. Cô hầu bàn nhanh nhẹn đưa Menu ra.

Cô chỉ khoảng ngoài đôi mươi, trẻ măng như cô nữ sinh mới xong trung học. Quần jean, áo sơ mi trắng hở cả bụng, môi bôi son đỏ lòm. Cô hỏi ông Tú:

“Thưa anh, anh dùng gì?”

Ông Tú thấy cô hầu bàn gọi mình bằng anh thì hơi lạ và ngượng. Chỉ có con Ti là thấy điều đó còn hai đứa con ông Tú nghe tiếng Việt không thạo nên không có phản ứng chi. Ông Tú bảo cô hầu bàn:

“Cho 5 phút rồi trở lại nhé!”

Cô hầu bàn qua bàn khác. Ông Tú hỏi con bé bán vé số:

“Tên con là gì?”

“Tên con là Ti, thưa bác.”

“Con ăn gì kêu đi, bác đãi con.”

Ông Tú nói tiếng Anh với hai con. Jennifer và John cũng cầm Menu lựa thức ăn.

Cô hầu bàn bưng ra bốn ly nước đá lạnh. Cô cầm cuốn sổ với cây bút trong tay:

“Anh dùng gì?”

Lần này ông Tú không im lặng nữa. Ông bảo cô hầu bàn:

“Cháu nhìn chú bao nhiêu tuổi mà dám gọi là anh? Biết chú bao nhiêu không?”

Cô hầu bàn hơi ngượng:

“Thưa..., chủ dặn em hễ đàn ông ai cũng phải gọi là anh xưng em cho khách vui lòng, cho “boa” nhiều vì...vì nhiều ông cụ Việt kiều già khú đế bảy tám mươi vẫn còn thích được gọi là anh với em. Em không gọi thế em bị đuổi! Thông cảm cho em!”

Ông Tú hiểu ra:

“Ừ thì chú thông cảm cho cháu. Nhưng với chú thì nói trống không thôi chứ đừng anh anh em em, nghe không?”

“Thưa, thưa vâng. Thưa,...gọi món gì ạ?””

Ông Tú bảo:

“Cho chú chả giò rau sống với bún.”

Cô hầu bàn nhìn Jennifer. Jennifer nói:

“Give me also egg roll and noodle, please!”

Cô hầu bàn không hiểu. Ông Tú phải nói:

“Cho Jennifer chả giò giống như của chú!”Quay qua đứa con trai, “How about you, John?”

“Me too, Dad!”

Con bé Ti thấy đến phiên mình, nó nhìn lên:

“Chị cho em tô bún bò giò heo!”

“Tô lớn, tô nhỏ?”

Con bé Ti chưa kịp nói thì ông Tú bảo nó:

“Tô lớn nhé, ăn không hết để lại.”

“Có huyết hay không có huyết?

“Có, chị.”

Cô hầu bàn đi rồi, ông Tú gợi chuyện:

“Thôi, sắp bữa ăn, bác không cần con kể cho bác nghe về Lớn. Thế gia đình con ở đâu?”

“Ở hơi xa, thưa bác.”

“Lát nữa con đưa bác về thăm gia đình con nhá!”

“Thưa bác vâng.”

Cô hầu bàn bưng thức ăn lên. Ông Tú bảo Ti:

“Ăn đi con, ăn tự nhiên đi.”

Ông cũng bảo Jennifer và John cầm đũa. Ông gọi cho mình một ly cà phê sữa, ba ly sữa đậu nành cho hai đứa con và con Ti.



Suốt bữa ăn, ông Tú chỉ nói tiếng Anh với hai con. Ông để Ti ăn cho ngon miệng. Con bé nghĩ là nó đã lên thiên đường như người ta hay nói. Bún bò giò heo nó được ăn đã lâu lắm rồi; nó nhớ và thèm nhưng ở đâu ra 18,000 để nó ăn một tô cho sướng miệng? Tô bún bò năm xưa là do ba nó bữa đó đi khiêng tủ lạnh cho một người Việt mới ở ngoại quốc về. Ba nó đã nhanh trí không thì cái tủ lạnh rớt từ xe ba gác xuống, méo mó hết. Vì thế mà ông Việt kiều thưởng cho ba nó 10 đô-la. Ba bèn chở cả nhà đi ăn bún bò giò heo một bữa. Vì thế bây giờ nó còn nhớ.



Bữa ăn đã xong, bốn ly nước để trước mặt. Ông Tú hỏi Ti:

“Con còn bao nhiêu vé số?”

“Thưa bác, con mới bán được 15 vé, còn lại 185 vé.”

“Đưa bác coi.”

Nó dùng cả hai tay trao 4 xấp vé số cho ông Tú. Ông Tú nhìn số tiền 1,000$ trên mỗi tấm vé, ông làm tính nhẩm rồi trao cho Ti 50 đôla:

“Tiền vé của con là 185,000; 50 đô của bác theo thời giá là 800,000. Số còn lại, bác cho con. Cẩn thận kẻo mất nhé.”

Con Ti đỡ lấy tờ 50 đô, tay nó run run bỏ vào túi xong cài kim băng cẩn thận. Cả đời nó chưa trông thấy tờ 50 đô Mỹ bao giờ mà cũng chưa cầm món tiền Việt nào lớn như thế!

Ông Tú lại két thanh toán tiền ăn, ông bỏ tiền “boa” hậu hĩ trên mặt bàn rồi bảo ba đứa trẻ:

“Thôi ta đi!”

Đứng ở hàng hiên cửa tiệm, ông Tú hỏi Ti:

“Bây giờ con có muốn dẫn bác về cho biết nhà con không?”

“Dạ được thưa bác.”

Ông Tú kêu chiếc taxi. Xe ép sát bờ lề.

“Về đâu con?” ông Tú hỏi.

Ti đáp cho cả ông tài xế nghe.

“Thưa bác, nhà con ở ngay nghĩa địa “Đồng Sạn”!



Ông Tú hơi ngạc nhiên nhưng không muốn hỏi, ông để người tài xế lo lái. Khoảng chục km thì xe ngừng, ông Tú móc ví lấy tiền trả taxi và cho “boa”. Con Ti dẫn ba cha con ông Tú đi cái cổng nhỏ vào trong nghĩa địa. Đi vòng hẳn ra phía sau nhà xác, Ti chui qua một lùm cây rậm rạp, qua vài chục cái mả xây rồi luồn vào một ngôi mộ xây hơi lớn hơn những cái khác. Ông Tú và hai đứa con cũng theo chân Ti. Ông Tú không sao nhưng hai đứa con ông thì có vẻ ngại ngùng thấy rõ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ chúng chưa đi luồn vào hang hốc mồ mả như thế này bao giờ.



Nghĩa trang ở Mỹ không có những ngôi mộ xây. Mộ nào cũng có một khoảng đất trồng cỏ xanh mướt bằng cái chiếu, phía đầu người quá cố dựng một cây thập tự trắng trên ghi tên họ, ngày tháng năm sinh và năm mất là xong. Ngày lễ tưởng niệm mỗi năm, hoặc những lúc muốn thăm viếng, con cháu mang hoa ra phần mộ đọc kinh, thắp hương tưởng nhớ. Giầu hoặc nghèo, quyền chức hoặc dân thường nằm chung với nhau, bề ngoài như nhau không làm ai cảm thấy tủi. (Mời vào: vietnamexodus.org trang Văn học)



Dăm, bảy đứa trẻ đang nô đùa với nhau trong vòng rào một ngôi mộ khác; chúng thấy Ti thì vời Ti vào chơi với chúng nhưng Ti lờ. Rồi Ti luồn vào phía hông một ngôi mộ trắng. Vài tấm bạt căng tựa vào thành mộ, ba hòn gạch làm đầu rau trên có một cái nồi đen thui, củi tạ ở dưới đang ngún cháy, những mảnh khói ẻo lả bốc lên.

Ti vào gọi cha. Người đàn ông nghe con nói thì nhỏm dậy.



Đó chính là chú Cải, ba thằng Lớn. Chú Cải nhìn ba cha con ông Tú đứng dưới cái bạt xanh, vừa mừng vừa ngại ngùng, chẳng có chỗ nào tiếp khách. Ông Tú mau mắn:

“Chào anh, tôi là Tú. Phải anh là ba cháu Ti?”

“Dạ thưa phải, tôi chẳng có chỗ nào để ông ngồi.”

“Tôi còn trẻ như anh. Xin cứ kêu tôi là anh. Tôi gặp cháu Ti ở bến xe Bình Tây mới biết cháu Lớn đã mất. Tôi đến thăm anh chị và các cháu. Thế cháu Lớn vì sao mà mất?”



Chú Cải thuật sơ lại từ lúc Lớn về nhà bữa hôm đó, đem 50 đô la về, nói lại cho tía má nó biết nó đã gặp một ông Việt kiều tên Tú; ông đã cho ăn phở và uống sữa đậu nành. Rồi Lớn bất tỉnh phải đưa đi nhà thương cho đến khi an táng.

“Thế nhà anh đâu mà phải ra ở nghĩa địa này?”

“Thưa anh, tôi không có tiền chuộc cái xe để làm phương tiện nuôi sống gia đình và mỗi tháng phải trả tiền lời 80,000 về số tiền an táng cho cháu. Sau 6 tháng tôi không trả được đồng lời nào nên họ áp lực phải ra khỏi nhà để họ lấy nhà.”

“Ủa, cái nhà ấy nhiều tiền hơn số nợ chứ? Họ phải trả thêm cho anh chứ?”

“Họ nói rằng khi nào họ bán được nhà họ sẽ khấu trừ hết mọi khoản, còn thì họ mới trả cho mình! Giớ này họ cho người nhà họ vào ở, biết bao giờ họ bán được? Giả sử họ bán được thì số tiền lời sinh ra quá cả tiền vốn. Làm gì còn để họ trả lại cho mình, thưa anh?”

“Đúng là những quân ăn cướp!”

“Thưa anh, nhưng họ có...thế lực....”

Thấy trời đã hơi muộn muộn, ông Tú cáo lỗi:

“Tôi đã biết nhà anh ở đây. Vài ngày nữa xong vài công việc, tôi sẽ trở lại thăm anh và gia đình.”





o0o



Ba cha con ông Tú ra khỏi nghĩa địa vừa lúc trời chạng vạng tối. Ông kêu taxi để ba cha con trở về khu Lăng cha cả là nơi có nhà bà dì ruột. Dì ruột ông Tú có hai con trai và ba cô con gái di tản sang Na Uy từ năm 1982 trong đợt vượt biên chui. Tất cả 5 người này đều đã có vợ chồng con cái.



Bốn người không thích về Việt Nam chơi nhưng người con trai thứ hai, hình như khi xưa (trước khi vượt biên) có quen và yêu một cô gái lúc đó là nữ sinh viên trường Đại học Tổng hợp Saigon. Vì không có cách gì đưa người yêu đi, vả lại không chắc cha mẹ cô gái bằng lòng, anh Tony ra đi mà lòng bồi hồi nhớ nhung cô gái đến quên ăn quên ngủ. Sau 7 năm ở Na Uy, anh đã học xong bằng Kỹ sư cơ khí có việc làm trong một công ty chuyển vận quốc tế của Na Uy. Nghe theo lời cha mẹ và anh chị em, anh đã cưới một cô gái Na Uy gia đình giầu có và thế gia vọng tộc.



Nhưng anh càng có người vợ bên cạnh, anh càng nhớ người yêu năm xưa tha thiết. Anh giữ được một tấm ảnh của người yêu, ngày nào trước khi ngủ, anh cũng mang ra hôn, ngắm chê chán không thôi.

Điều này làm cô vợ người Na Uy điên tiết. Cô ta gây gổ mỗi ngày khi hai vợ chồng dùng bữa tối với thằng con nhỏ mới lẫm chẫm biết đi.

Một bữa khi anh Tony đi làm, cô vợ cậy được cái ngăn kéo, cô thấy ngay tấm ảnh cô gái mà chồng mình ngày nào cũng mang ra ngắm nghía. Cô xé tan tấm hình vứt vào sọt rác, khóc một hồi rồi bế con về nhà mẹ đẻ chơi.



Khi Tony đi làm về, anh thấy ngăn kéo bị phá; anh coi tấm hình không thấy đâu, anh nhìn trong sọt rác thì thấy hình đã bị xé nhỏ. Anh tức điên lên, chửi mắng con vợ một hồi. Anh gọi lại nhà bà nhạc. Anh xin gặp Velina, tên cô vợ. Anh giả vờ giã lả cho vợ tin là anh không buồn giận, yêu cầu nàng về.



Velina về tới nhà, anh đóng cửa lại rồi trói vợ vào thành giường. Anh không đánh nhưng bắt vợ ngồi suốt đêm với hai tay hai chân cột lại, mồm bị nhét giẻ không kêu la được.

Thằng con thấy mẹ thế thì nó khóc quá, hàng xóm gọi Cảnh sát. Cảnh sát đập cửa đòi phải mở. Họ giải thoát chị Velina và đem Tony đi nhốt. Qua 12 tiếng đồng hồ, Tony được thả cho về nhưng phải đóng tiền tại ngoại là 10,000 đôla.



Người vợ đâm đơn ra toà xin li dị, đòi chia gia tài và xin giữ con. Tony quá đau khổ vì đã mất hết. Anh ta trả tiền luật sư, mọi chi phí bằng nửa gia sản, mọi việc xong xuôi anh ta chỉ còn được một món tiền nhỏ trong túi.

Không còn con đường nào khả dĩ, Tony mua vé máy bay về Việt Nam.



Việc đầu tiên là anh ta đi kiếm người yêu khi xưa, Đỗ thị Thanh Hà. Sau khi nhờ người dò hỏi, Tony gặp lại người yêu. Thanh Hà vẫn còn khá đẹp nhưng chưng diện loè loẹt và hở hang như gái gọi. Trong một bữa đi chơi với mấy người bạn cũ khi xưa, những người này đều biết Thanh Hà và ngay đêm đó họ gọi Thanh Hà đến cho Tony gặp.



Tony gặp lại người xưa yêu dấu thì mừng khôn tả, nhưng cách cư xử của nàng khác xa khi xưa. Nàng có vẻ gì hơi là lạ, ăn nói sống sượng, chửi thề, nói tục khi bực mình, cô nữ sinh viên ngây thơ trong trắng khi xưa không còn nữa mà là một cô gái gọi từng trải kinh nghiệm với đủ loại đàn ông. Cô gái e dè hay mắc cở khi xưa thì nay là một phụ nữ dạn dĩ lì lợm, làm cái gì cũng mà cả trước, tiền trước đụng sau, bao nhiêu? đưa ngay! không tiền chớ đụng mà gẫy xương bởi vốn liếng buôn bán chỉ có vậy!



Tony cảm thấy quá thất vọng nhưng không lẽ cất công từ Na Uy về đây, đã gặp lại nàng lại bỏ đi ngay? Vả lại những gì còn trên thân thể Thanh Hà vẫn là những gì Tony mơ ước đến se sắt cả lòng từ gần chục năm nay. Đôi mắt buồn vời vợi ấy, đôi môi cong cong lúc nào cũng như hờn dỗi, hàm răng đều với một cái răng khểnh thật duyên, người tròn lẳn, bộ ngực nổi cộm đầy hứa hẹn những đêm ân ái vỡ bờ, nước da trắng mát và nhất là giọng nói, Tony si mê giọng nói sang cả và đầy truyền cảm của Thanh Hà. Tony mê Thanh Hà, chết cả cõi lòng vì nàng không phải là vô lý!



Hai đêm sau, Tony bao luôn một đêm, ân ái với nàng cho thoả tình mơ ước. Nàng cũng đồng ý dành cho chàng luôn một đêm trọn.



Sau bữa ăn tiệm thật sang tại nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, bến cảng Saigon, taxi đưa cặp nhân tình về khách sạn Mỹ Kim ở đường Hồng thập tự, một khách sạn 3 sao mới xây, sạch và đẹp nhất nhì Saigon.



Trong căn phòng sang trọng đèn mờ, nệm gối trắng tinh, giường mua từ Đại Hàn, trên chiếc bàn nhỏ có chai Moet Chandon ướp lạnh và hai cái ly, một đĩa nho, cam, táo...Ngà ngà say, Tony nằm trên sofa gối đầu lên đùi Thanh Hà, bảo Thanh Hà kể lại cho nghe quãng đời truân chuyên từ khi chàng rời Saigon. Thanh Hà giọng buồn buồn kể:



“Khi anh đi rồi, em như người mất hồn. Em trách anh tệ bạc không thông báo cho em sớm để em xoay xở cùng đi với anh vì em không muốn sống nơi em đã quá nhờm gớm. Có lúc buồn, em muốn mua vài chục viên thuốc gì thật mạnh, uống rồi ngủ đi luôn cho xong một kiếp người khốn khổ. Rồi em nhận được thư anh từ người bạn của anh nhờ trao.



Mỗi lần muốn quyên sinh, em lại nhìn thấy mẹ em, mẹ em gầy guộc, đau bệnh, lo nghĩ vài năm mà tóc bạc trắng, khi xưa còn bố em, gia đình em đến nỗi nào. Vì lý lịch của bố em, Sĩ quan khi xưa, mẹ đi nhiều trường xin dạy tiểu học, nghề nghiệp mẹ đã làm nhiều năm nhưng thảy đều bị từ chối. Đối đế quá, mẹ phải đi bán chợ trời.



Em là đứa chị lớn nhất trong 6 đứa, em phải có trách nhiệm cùng mẹ em lo cho các em của em. Vì cuộc mưu sinh, em phải xăng xái ra đời làm việc kiếm miếng cơm manh áo, phụ mẹ em nuôi đàn em dại vì bố em mất sau khi anh đi được ba tháng. Lo xong cái đám ma cho bố em, mấy mẹ con em tay trắng.



Em đi xin việc nhưng nơi nào cũng từ chối. Người ta bảo để lại đơn và số phôn, hễ có chỗ, họ gọi cho đi phỏng vấn nhưng em đã để cả trăm lá đơn khắp nơi, cả tư nhân và nhà nước mà không thấy nơi nào gọi sau một năm trời.



Trường Đại học cho em tiếp tục học lên nhưng anh coi, sách vở, tiền ăn, tiền xe cộ, tiền quà sáng, ngay vé xe buýt cũng tăng chóng mặt và với tâm trạng khốn đốn ấy, em có thể nhồi nhét bài vở nhà trường được không? Em đành bỏ học, hai ba con bạn em cũng bỏ học. Chúng em giữ liên lạc với nhau. Rồi một bữa, chúng em gặp nhau, con Liên , anh không biết nó đâu, bảo hai đứa tụi em có muốn có tiền không, mà nhiều là đàng khác. Em hỏi nó:

“Mày nói giỡn hay nói chơi?”

Nó bảo:

“Chơi cái gì. Tao nói thiệt đó, nếu không làm được bà lớn của ông lớn thì làm bà bé ông lớn cũng sướng chán.”

Con kia, Đoan Trinh, bảo:

“Mày nói rõ hơn đi. Tao ghét những đứa nói lấp lửng!”

Con Liên bảo:

“Chúng mày nên nhớ, dù chúng mày có đẹp chim sa cá lặn mà không ai biết đến thì cũng chết già, đói khổ. Thời này cái gì cũng cần phải có cò, tức là môi giới, nên có câu thành ngữ:”Không cò đố mày làm nên”. Chịu cho cò ăn phần trăm không?”

Em và Đoan Trinh, chưa hiểu lắm nhưng cũng nói “chịu” cho con Liên vui lòng.

Con Liên lại nói:

“Bây giờ cò bỏ tiền ra cho chúng mày bồi dưỡng vài tháng cho người tỉnh táo, đẹp đẽ lên, lại đưa tiền để chưng diện quần áo, cho tiền đến Đại học ghi danh lại hay làm sao kiếm cái thẻ Sinh viên niên khoá này. Xong mấy chuyện đó là bắt đầu có lợi nhuận. Khi lợi nhuận bắt đầu, cứ tứ lục mà chia. Mình được sáu, cò bốn, không sai suyển tí nào. Phải nhớ một điều này, chớ có ý nghĩ phản bội cò, dù chúng mày ba đầu sáu tay, dù lúc đó chúng mày có ông chồng làm rất lớn nhưng ổng không bảo vệ chúng mày được đâu. Chúng mày phản bội không sòng phẳng tiền bạc là mất mạng như chơi, nghe kịp không?”



Em và Đoan Trinh trả lời: “Nghe kịp.”

Liên lại nói tiếp:

“Chắc chúng mày đang muốn biết ai là cò của chúng mày? Tạm thời, tao là cò và tao cũng sẽ lấy một ông lớn, có nghĩa tao vừa là cò vừa là gái. Về nhà suy nghĩ kỹ, không ai bắt buộc chúng mày hết. Nếu đồng ý thì phone cho tao. Tao sẽ gặp riêng từng đứa để làm việc. Chúng mày sẽ có tiền để sắm sửa chưng diện ngay. Cần nhất là người ngợm phải cho tươi trẻ, thơm tho, xinh gái, đôi môi, khoé mắt cho hấp dẫn, ăn mặc cho bắt mắt, hở hang một chút, không ai ăn cắp đâu mà sợ, tập thêm thể dục cho cái bụng thực bé càng tốt. Tóm lại món hàng càng cao giá thì tiền càng nhiều. Cơ hội không có nhiều, bỏ qua là sẽ mất luôn.”



Kể từ đó, em bước chân vào một cuộc đời làm gái bao cho một ông lớn, khá lớn, ông không cho biết tuổi nhưng em nghĩ không thua gì tuổi bố em.

Em ở được với ông gần ba năm, ông yêu chiều em như viên ngọc quý, em muốn cái gì được nấy vì ông có rất nhiều tiền. Nhưng rồi do một đứa xấu bụng ghen ghét hay thù em, bà vợ cả biết, cho gia nhân đến tận nơi tổ ấm của em và ông già, bảo em phải dứt ông già không thì hoặc mất mạng hoặc cụt tay hay cụt chân. Điều kiện là bỏ ra đi không cho ông già biết đi đâu!



Em thấy bọn người này dữ quá em đành lẳng lặng bỏ đi không một lời từ biệt.

Sau đó, túng thế quá, em phải làm gái gọi cho đến nay.”

Thanh Hà nói nay nàng không có tự do nữa vì cuộc đời đã bán cho một tú bà. Giao kèo đã ký, lương bao hàng tháng đã thuận (dù ế dù đắt vẫn có), con người của Thanh Hà nay không phải là của nàng nữa mà là của mụ Chín Sặc. Tiền những tay chơi góp mua tháng, mua đêm, mua ngày, mua giờ là góp cho Chín Sặc. Chỉ tiền “boa”, các cô gái mới được hưởng. Nếu làm sai hợp đồng, mụ Chín có quyền sai đàn em mụ tát sưng mặt, đánh què giò những cô gái gian trá và phạt lương tức bị trừ lương không có quyền khiếu nại.

















Tony nghe xong câu chuyện bảo:

“Chuyện của em làm anh cảm động lắm và thương em lắm. Nếu anh xoay được giấy tờ đem em sang Na Uy với anh, làm vợ anh, ở với anh suốt đời thì em bằng lòng không?”



“Thôi hãy coi nhau như bạn, hãy giữ những kỷ niệm đẹp nơi nhau, như thế quý hơn. Bây giờ em đâu còn là Thanh Hà của anh khi xưa. Em đã xuống đống bùn nhơ đáy của xã hội. Em không còn xứng đáng với anh nữa. Ở lại Việt Nam thì nghèo túng cả đời nhưng theo anh đi, rồi anh khinh em, em không chịu được!”



Tony rót rượu Champagne ra hai cái ly, trao cho Thanh Hà một:

“Thương em không hết sao lại khinh em? Vì hoàn cảnh chứ có phải tự em muốn đâu?”

“Đành là vì hoàn cảnh anh ạ. Nhưng tại sao em không đi làm những nghề tầm thường như buôn bán lăng nhăng ở chợ, bán xôi, bán chè, bán bún riêu rong ngoài đường chờ anh mà lại lao đầu vào cái nghề tồi tệ này?”



Tony nắm hai bàn tay Thanh Hà:

“Thôi em đừng tự trách em nữa. Cũng tự anh một phần. Lúc đi vượt biên, anh đã ích kỷ không lo cho em cùng đi với anh. Sang đến Na Uy, anh viết thư cho em, cho bạn quen để tìm dùm em nhưng thảy đều thất bại.Vì thế mà em lận đận. Ngoài ra gia đình bắt anh phải lấy vợ. Hiện anh đã có một cháu trai.”

“Thế vợ con anh đâu hả anh?”

“Vì gây gổ, tụi anh li dị rồi. Cô ấy bắt đứa con. Cô ấy là người địa phương.”



Có ly rượu, Tony hứng khởi hết sức còn mặt Thanh Hà cũng hồng lên. Tony ôm thật chặt Thanh Hà, môi chàng tìm môi nàng. Hai người hôn nhau say đắm. Tony bồng Thanh Hà đặt nhẹ Thanh Hà trên tấm nệm trắng tinh. Chàng lần giở từng cái cúc áo của nàng nhưng Thanh Hà đưa tay chận lại:

“Không, em không tiếc gì anh nhưng em không còn gì để cho anh nữa. Chúng ta chỉ đến thế này mà thôi. Tiền anh cho em, lát về em gửi lại anh!”



Tony hơi ngạc nhiên:

“Sao vậy Thanh Hà? Em có biết vì em mà bao nhiêu năm nay anh mất ăn mất ngủ không? Vì em mà gia đình anh tan nát? Vì em mà hai vợ chồng anh li dị, anh mất cả sản nghiệp và cả thằng con mới lẫm chẫm biết đi? Vì em mà anh lận đận về đây đi kiếm em! Hãy tận hưởng niềm vui với anh!”

“Em van anh,” Thanh Hà năn nỉ,”em không tiếc anh đâu nhưng con người em đã quá ô uế, dơ dáy, hoàn toàn không xứng đáng với tình anh. Buông em ra, chúng ta ra sofa ngồi nói chuyện. Em không thể ...cho anh được!”



Nhưng lửa tình nơi Tony hừng hực như hoả diệm sơn, Tony háo hức hưởng thụ thân xác người yêu, anh hôn khắp người Thanh Hà như mưa bấc khiến Thanh Hà bị kéo vào cuộc vui hồi nào không hay. Một lúc lâu sau, hai người mới buông nhau ra. Thanh Hà vào nhà tắm xong ra thì thấy Tony đã ngủ li bì rồi!





Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

(tiếp theo) 3

Bài Xem Nhiều