We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 25 May 2009

Truyện Thằng Lớn



Có người đông con, có kẻ hiếm muộn, xã hội ta hay bất cứ xã hội nào trên thế giới cũng đều vậy, dù sinh nhiều, mắn đẻ như Phi châu hay phụ nữ Mễ. Nhiều cặp chỉ muốn có hai đứa con là đủ nhưng đã tuôn ra cả tá, nuôi không xuể. Các cụ ta xưa quan niệm:”con, của bằng nhau” nghĩa là giầu con cũng quí như giầu của, ai cũng ham, mấy ai nghĩ đến câu:”Con là nợ, vợ oan gia, cửa nhà nghiệp báo!” Cửa nhà nghiệp báo ít thấy chứ con là nợ, vợ oan gia từng thấy nhiều, rất nhiều!



Ông bà cựu đại sứ Trần văn Chương, nhạc gia ông Ngô đình Nhu, tức cha mẹ bà Trần Lệ Xuân, sau này ở Hoa Kỳ bị thằng con trai (em bà Nhu) giết cả hai bố mẹ. Chưa ai biết lý do tại sao? Có người nói do ông Trần văn Chương phản bội nhà Ngô, đi theo bọn giặc núp bóng tôn giáo và tướng tá phản loạn mà ra cớ sự nhưng giả thuyết này chưa minh chứng được là chính xác. (Cái loạn 63 sinh ra cái loạn 75, và nay là mất nước, một ngàn năm nô lệ giặc Tàu nữa hay chưa biết đến bao giờ!)



Trong Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt từ 1949-1956, nhiều đứa con đã giết bố, ngay cả con gái, Đặng xuân Khu (Trường Chinh) ở làng Hành Thiện (gấn quê tôi) là một. Những đứa con này không nghĩ đến tình cha con mà chỉ nghĩ sao cho chúng được lên lương lên chức, có nhiều ruộng đất, tiền bạc là được! Có thời nào và ở đâu trong lịch sử dân tộc, ta thấy những đứa con gái chỉ mặt cha, mắng:

“Này thằng kia, mày có biết tao là ai không? Mày địa chủ gian ác bóc lột nông dân đến tận xương tuỷ, mày làm giầu trên xương máu nhân dân. Mày có nhớ mày đã hiếp dâm tao bao nhiêu lần không?”



Động cơ là những đứa con ấy được hứa chia ruộng đất nhiều (cũng của cha nó), được “quả thực” nhiều, được lên làm thôn uỷ, xã uỷ, trưởng đồn công an và có khi cả huyện uỷ, tỉnh uỷ. Tiền bạc và chức tước đã làm mờ mắt chúng! Tôi sẽ trở lại đề tài này khi thuận tiện. (vietnamexodus.org trang Văn học)



Lại nói con, của bằng nhau? Thời đại nguyên tử này không phải vậy, nhất là ở Hoa Kỳ. Có những đứa con là điều hạnh phúc nhưng nuôi một đứa con cho nên người, có học hành giáo dục tử tế, có công ăn việc làm, biết suy nghĩ, thành người ích dụng cho gia đình và xã hội, thực không dễ. Thời giờ, công sức, tiền bạc phải đổ vào cho nó, khi nó khôn lớn nên người ấy là mới bớt lo. Nuôi con ai cũng trông mong về sau nó hiếu thảo với mình bởi đó là cái nghĩa nhân luân, cái giềng đạo cả. “Trẻ cậy cha, già cậy con” ai không vậy? Chính những đứa con bây giờ, sau này già cũng ở hoàn cảnh đó, nó cũng mong những đứa con của nó hiếu thảo với nó y như cha mẹ nó mong ở nó bây giờ.



Thường những người đàn ông gặp trở ngại nhiều hơn đàn bà nên xin nhấn mạnh về người cha. Cha với con như đầu óc với thân thể, nương tựa vào nhau mà sống hai đời sống tinh thần và thể chất. Vả lại, mình là nó, nó là mình, nó đau mình đau, nó hạnh phúc mình sung sướng. Nghĩa cha con nặng tựa non Thái bởi thế nếu con người đã bỏ chữ hiếu thì chẳng còn cái tệ tồi nào nó không dám làm. “Hiếu vi tiên” hiếu đứng đầu trong nhân đạo (đạo làm người) vậy!



Máu loãng hơn nước lã, huống hồ dòng máu đang luân lưu trong cơ thể đứa con bây giờ là từ cha nó; không có ông bà thì không có cha mẹ nó; không có cha mẹ ắt không có nó. Nào mấy đứa đã nghĩ như thế dù chúng học ra bác sĩ, nha sĩ này, luật sư, kỹ sư kia? Có một anh hiện đang làm chức tước rất lớn trong Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, khi y còn ở Sàigòn, y cũng đã có chức tước dân cử. Có người hỏi y, có phải ông thợ mộc kia là cha anh, y lắc đầu phủ nhận mặc dù người đó đúng là cha y, chỉ bởi nghề nghiệp người cha tầm thường quá, không xứng với y nhưng tới chùa, đọc diễn văn học sinh ra trường, y khuyên giới trẻ về chữ Hiếu hùng hồn vô cùng!



Khi cha mẹ còn khoẻ mạnh, như ở Hoa kỳ, còn lái được xe đi chợ đi búa, đi lấy tiền ngân hàng, đi đám cưới đám hỏi, đi vui chơi bè bạn, chẳng ai muốn phiền đến con làm chi! Nhưng một ngày nào đó, sức lực bỗng yếu hẳn, mắt mờ, chân chậm, nhất là lại bị một cơn truỵ tim, tai biến động mạch não, hay thống phong sưng u đầu gối, tự nhiên nảy ra chứng tiểu đường, cao máu, cao mỡ v.v...thì xe chẳng những không lái được nữa mà nhiều ông bà già chỉ ngồi mà khóc vì cơn đau lên nó đau quá!



Những lúc đó là cần cái cách đứa con đối xử với mình. Nhiều đứa rất có hiếu, đi làm về chúng bỏ giờ ra săn sóc cha mẹ, thương mẹ thế nào thì thương cha như thế; nó hỏi han xem cha mẹ cần chi, cần đi bác sĩ hay mua thuốc, cần nấu bát cháo hay chút dầu gió thoa lên vai. Có phúc bảy mươi đời mới có những đứa con biết suy nghĩ đó.



Nhưng nhiều đứa tệ bạc, đi làm về chỉ biết vợ, biết chồng và con nó, đố hề nó nghĩ đến cha mẹ trong khi cha mẹ càng ngày càng trở nên già yếu, sức lực kém dần cho đến khi đi không nổi, ăn không được, ngủ không được, cậy vào con thì con bỏ thí. Họ hàng xóm giềng mè nheo quá thì nó chở vào viện dưỡng lão. Thế là xong nợ xong nần!

Ở câu chuyện khác, tôi sẽ cống hiến bạn đọc nhiều trang buồn thảm của tuổi già.





Trở lại với con nuôi. Trước khi về Việt Nam chuyến đó, ông bà Bào đã bàn thảo với ông Tú về chuyện này.

Nuôi con nuôi từ lúc nó mới ra đời, còn bế ngửa thì vẫn thích hơn vì sau này nó ngỡ mình là cha mẹ ruột của nó. Ở Việt Nam không có luật nhưng ở Hoa Kỳ khi con nuôi lớn phải bảo cho nó biết nó chỉ là con nuôi không được chập chí chập ngầu, rồi tuỳ nó đối xử.

Nhưng nuôi lúc còn nhỏ cũng có cái phiền; hai vợ chồng ông Bào cùng đi làm full time, không lẽ bà vợ xin thôi để ở nhà coi đứa nhỏ? Nợ nhà, nợ xe đầm đìa, sao có thể quit job?



Nếu vẫn đi làm, rồi mướn một vú em lo chăm sóc đứa nhỏ, cho nó ăn, uống, tắm, chơi với nó, cho nó ngủ v.v...khi xưa tháng 1 ngàn cộng thêm một phòng ngủ có TV, cơm ba bữa, nay phải ngàn rưởi thì có đi làm tháng vài ngàn cũng không bõ, thà ở nhà coi con còn hơn vì nhiều chị vú rất lơ đãng, đã bỏ đói, hành hạ nó hoặc làm con chủ chết.



Babysitter Mỹ nhiều đứa mới vài chục tuổi chẳng hiểu biết nuôi nấng con nít ra sao. Con người ta đã bệnh, đã cảm, nó cứ bế ra đường chơi, nắng gió quá về sưng phổi chết. Thiếu gì trường hợp đó. Con mình chết thì nó mất chỗ làm, đi kiếm chỗ khác. Còn mình đau xót đứa con bao giờ quên được? (vienxumagazine1.com trang Thơ)



Bàn đi tính lại, ông bà Bào bằng lòng nuôi đứa đã lớn. Tuy nhiên, nhiều đứa có trí khôn, thà cha mẹ nghèo thì chịu vậy, nó không đi ở với ai hết, dù là làm con nuôi. Nó bằng lòng với cái nghèo của cha mẹ nó, không phàn nàn. Với những đứa này thì chịu nhưng còn một số khác, bằng lòng đi xa với cha mẹ nuôi miễn được học hành, cho ăn ở tử tế.



Trong số những đứa trẻ này có con Ti, em thằng Lớn mà ba cha con ông Tú đã gặp ở bến xe Bình Tây. Trẻ con nhà nghèo ở Việt Nam thích đi làm con nuôi vì cha mẹ chúng muốn cho chúng đi, cứ được ra ngoại quốc là thế nào cũng hơn ở Việt Nam. Bà Thặng, dì ông Tú, nghe cháu nói kiếm con nuôi cho bạn, cũng giới thiệu cháu một người bạn thân, thằng con trai 11 tuổi.

Ông Tú muốn gặp nó trước khi quyết định giới thiệu cho anh chị Bào một đứa, ông bảo bà Thặng:

“Con muốn coi thằng bé này ra sao. Dì bảo bố mẹ nó đưa nó đến đây con coi mặt mày, lời ăn tiếng nói nó xem ra sao kẻo sau này được đứa tốt thì không sao, phải đứa làm biếng, khó dạy ấy là con cũng có trách nhiệm với anh chị bạn vì họ đã tin cậy, uỷ thác cho mình thăm dò hộ.”

Bà Thặng bảo:

“Cái thằng bé này anh thấy là anh ưng. Nó bẻm mép, lanh lợi và thông minh lắm, mặt mày nó cũng được trai, hơn rất nhiều đứa con nhà người ta mà dì biết. Nhưng anh muốn gặp cho chắc ăn thì để dì nhắn bà bạn bảo cha mẹ nó đưa nó đến đây cho anh gặp.”

Chiều hôm đó, cha thằng bé chở mẹ nó và nó đến nhà bà Thặng. Chào hỏi xong xuôi, mọi người ngồi ở phòng khách chuyện vãn, ông Tú nói mục đích xin con nuôi của anh chị Bào. Ông ngắm thằng bé thấy nó khá tinh nhanh nhưng phải cái mắt nó đảo liên hồi. Ông Tú hỏi:

“Tên cháu là gì?”

“Thưa bác, tên cháu là Kiệu.”

“Cháu học lớp mấy?”

“Cháu đang học lớp Bốn”

Cha thằng bé thấy 11 tuổi mà học lớp Bốn thì hơi xệ nên nói ngay:

“Thưa ông, hồi cháu đang học lớp Hai bị một trận ốm nặng phải nghỉ học hơn một năm. Cháu học thế là giỏi lắm đấy; các thầy, cô giáo cho bằng khen hoài. Thưa ông xin ông coi.”

Người đàn ông trao hai tờ giấy cho ông Tú, đó là hai giấy khen, nhiều học sinh thường có. Để thử trí thông minh thằng bé, ông Tú bảo nó viết vài dòng chữ tiếng Việt, bất cứ câu gì. Nó cắn bút hoài viết không ra. Cha nó bảo thì con viết cái gì mà không được như hôm nay cháu đi học cháu được điểm cao v.v...

Nó nghe bố nó nói, nó viết y câu đó vào, không nghĩ thêm được gì. Ông Tú lại hỏi:

“Bây giờ bác hỏi cháu nhé: cháu đi học về đến ngã tư. Đường xe đông nườm nượp. Đèn xanh cho người đi bộ qua đường chỉ dài một phút. Tại chỗ chờ có cháu, một ông già mù dắt con chó và một người đàn bà có chửa. Hai người này đều muốn cháu dắt qua đường vì họ thấy xe cộ đông quá, nguy hiểm. Cháu sẽ dắt người nào trước, ông già mù với con chó hay bà có chửa?”

Thằng bé suy nghĩ mấy phút xong nói:

“Thưa bác, cháu dắt ông già mù trước.”

“Vì sao phải dắt ông già mù trước?”

“Vì ông tàn tật, ông đi chậm, sợ ông về nhà tối quá!”

“Đúng. Cháu giỏi lắm! Thế có dắt con chó ông già mù không?”

Thằng bé nghĩ một lát rồi nói:

“Thưa bác nếu con chó cũng mù thì cháu dắt luôn! Còn nó sáng thì để chuyến sau!”

Cả nhà cười ồ. Ông Tú lại hỏi:

“Nếu khi đang đi, ông già mù lỡ đánh rơi cái gói tiền ông đi xin được. Cháu có cúi xuống nhặt không?”

Thằng bé nghĩ một tí rồi nói:

“Cháu đ. nhặt!”

Cả nhà lại cười sặc sụa. Cha mẹ thằng bé có vẻ mắc cở với bà Thặng và ông Tú. Ông Tú bảo:

“Cám ơn ông bà đã chở cháu tới. Để tôi suy nghĩ, sẽ trả lời ông bà sau.”

Cha mẹ thằng bé dẫn con ra về nhưng họ chứng kiến cuộc phỏng vấn, họ nghĩ con họ ít hi vọng.

Chị người làm cho bà Thặng có đứa con, chị ta cũng muốn cho con đi nhưng con bé mới hơn 3 tuổi, chắc gì xa mẹ nó được mà không nhớ, khóc ầm ĩ. Thế là rút lại còn con Ti, em thằng Lớn.



Ba hôm sau, ba cha con ông Tú lại tới nghĩa trang Đồng sạn. Ông Tú đã có định kiến xin con Ti cho vợ chồng ông Bào.

Ngay lần đầu gặp con Ti rồi cho nó vào quán ăn trưa, ông Tú đã để ý xem cách ăn nói, cử chỉ của nó ra sao. Nếu thằng Lớn còn sống, ông sẽ hỏi Lớn trước nhưng Lớn chết rồi, nay là em nó thì cũng được miễn nó ngoan ngoãn và có đầu óc một chút.





Ông Tú cũng nghĩ, dù sao ông cũng là nguyên nhân đưa đến cái chết của thằng Lớn dù ông không gây ra mà chỉ bởi nó quá hấp tấp nên bị xe tông. Ông lẩn thẩn nghĩ nếu bữa đó ba cha con ông không lai vãng đến cái bến xe Bình Tây thì biết đâu hôm đó nó không bị chết?



Mọi chuyện đã qua, nuối tiếc không ích gì, cũng có thể là do số mạng hẩm hiu của nó xui khiến ra. Nhân dịp đi kiếm đứa con nuôi cho bạn, ông Tú nghĩ, thôi giúp cha mẹ thằng Lớn có đứa con sang Mỹ, cũng là một cách giúp lại Lớn. (vietnamexodus.org trang Văn học)



Ba cha con ông Tú vào đến ngôi mộ quét vôi trắng, nơi trú ngụ của vợ chồng chú thím Cải. Ông Tú nhìn hoàn cảnh mà muốn rơi lệ. Chưa bao giờ ông thấy người sống phải ở lẫn với người chết như thế này.

Khi thân phụ ông Tú còn sống, cụ có kể cho ông Tú nghe thời của bố cụ và cụ, cha chết người con trai trưởng phải làm lều bên mộ cha canh giữ mồ cho đến khi mãn tang tức ba năm. Ba năm đó chỉ mặc quần áo tang, không được dự đám cưới, hội Xuân. Ban ngày có thể đi làm đồng áng kiếm sống nhưng đêm đến phải ra lều ngủ. Chữ Hiếu thời xưa giữ kỹ đến thế! Chẳng bù cho thời nay có những đứa con ngỗ nghịch chửi cha mắng mẹ hoặc đuổi cha mẹ ra khỏi nhà!



Chú Cải đang nằm trên cái võng máng qua hai ngôi mộ còn thím Cải đi làm, con Ti đi bán vé số chưa về, con Tí đã đi Bình Dương, ở coi cháu cho ông bà bác họ kiếm miếng cơm từ dăm tháng nay.

Chú Cải thấy ba cha con ông Tú tới thì lật đật đứng lên đón khách.

Ông Tú nói mục đích ông đến đây hôm nay:

“Vợ chồng người bạn thân của tôi hiếm muộn, muốn nuôi đứa con nuôi cho vui cửa vui nhà. Tôi gặp cháu Ti bữa trước, hôm nay hỏi cháu, nếu nó bằng lòng và anh chị bằng lòng, tôi sẽ nói anh bạn tôi về làm giấy tờ xin nó làm con nuôi cho nó sang Mỹ. Tất nhiên nó được đi học và được hưởng những gì trẻ con Mỹ (con nhà trung bình) được hưởng.”



Chú Cải vừa nghe tới đó chú mừng rỡ vô cùng:

“Thưa anh, vợ chồng con cái tôi hết lòng đội ơn anh. Tôi chắc là cháu bằng lòng. Xin mời anh và hai cháu ngồi tạm trên cái băng này. Nhà tôi và cháu Ti sắp về bây giờ.”

Khoảng mười phút sau thím Cải và Ti về một lượt. Hôm nay Ti bán hết vé số sớm nên lò dò đi đón mẹ cùng về.

Thím Cải và Ti chào ông Tú và hai đứa con ông. Chú Cải bảo vợ, con:

“Vừa nãy má xấp nhỏ chưa về, ông Tú có cho tui hay là ông muốn xin con Ti làm con nuôi cho người bạn thân của ông ở Hoa Kỳ. Má xấp nhỏ và Ti nghĩ sao?”

Con Ti nghe ba nó nói, mắt nó sáng rỡ. Ông Tú nói:



“Để tôi nhắc lại những lời tôi đã nói với anh Cải. Việc xin con nuôi này là chính thức và công khai theo luật lệ hiện hành của nước Việt Nam. Vợ chồng người bạn thân của tôi đang ở Hoa Kỳ, vì hiếm muộn nên muốn xin con nuôi. Nếu anh chị và cháu Ti đồng ý thì anh chị ấy sẽ về đây làm giấy tờ và cho cháu Ti đi theo sang Hoa Kỳ. Cháu sẽ được đi học và săn sóc như con ruột anh chỉ. Đáp lại, cháu Ti cũng phải coi bố mẹ nuôi như bố mẹ ruột bằng cái lòng hiếu thảo của đứa con. Anh chị và cháu cứ suy nghĩ, chưa phải trả lời bây giờ. Khoảng đầu tuần sau, trước khi về Mỹ, tôi sẽ lại đây một lần nữa, lúc đó anh chị và cháu trả lời tôi cũng được.



Sang chuyện khác. Tôi thấy anh chị bị mất căn nhà để ở với số tiền nhỏ chứ không lớn lao bao nhiêu. Anh chị thu thập giấy tờ, mốt tôi sẽ trở lại đây, anh dẫn tôi đến chủ nợ coi xem họ tính cả vốn lẫn lời bao nhiêu. Nếu có thể, tôi sẽ giúp anh chuộc lại căn nhà chứ ở nơi tha ma mộ địa này khổ sở quá!”



Chú thím Cải nghe xong quá cảm động. Chú bảo đời chú chưa bao giờ thấy một người tốt như ông Tú. Nhân tiện, chú hỏi ông Tú:

“Thưa anh, anh đã cho phép tôi gọi như thế. Tôi không dám tò mò nhưng xin hỏi anh là chị đang ở đâu để cho chúng tôi gặp và cám ơn chị luôn là cái lòng thành thật của vợ chồng, con cái tôi.”

“Nhà tôi mất ở Hoa Kỳ hơn 5 năm rồi anh chị à, khi hai cháu này còn bé. Tôi có công việc làm ở Hoa Kỳ để lo cho hai cháu này vào Đại học. Tôi về lần trước là vì bà ngoại Jennifer và John qua đời. Cũng đã hơn 2 năm rồi. Chuyến này về vì dì ruột của tôi bị bệnh nhưng nay đã đỡ, hơn nữa đi kiếm đứa con nuôi cho người bạn như tôi đã nói. May là tôi gặp cháu Ti, biết nó là em cháu Lớn, tôi càng thương hơn. Thôi mọi sự cũng là Bề trên sắp đặt.”



Thím Cải lấy ở trong cái bị xách ra cỗ tràng hạt của thằng Lớn khi xưa, nói với ông Tú:

“Thưa ông, cỗ tràng hạt này là của cháu Lớn khi xưa lúc cháu còn sống cháu đi nhà thờ bên Công giáo người ta cho cháu. Hôm đi chôn cháu, lúc hạ huyệt, tôi tiếc bỏ vào túi đem về, giữ cho đến nay.”

Ông Tú bảo:

“Chị cứ giữ đó làm kỷ niệm. Sau này nếu gặp anh chị Bào là cha mẹ nuôi cháu Ti thì kể lai lịch cỗ tràng hạt cho anh chị ấy nghe.”



Ba cha con ông Tú đứng lên cáo từ. Ông Tú dặn lại chú Cải về giấy tờ ngôi nhà. Ba cha con ra khỏi nghĩa trang.



o0o



Từ hôm về Sàigòn, ông Tú chỉ ngủ ở nhà bà Thặng, dì ruột ông, ba đêm. Nhờ được săn sóc thuốc men bằng tiền của bốn người con ở Na Uy gửi gấp về, ông Tú cũng biếu dì dăm trăm đôla, bà Thặng đã khá nhiều, ông Tú cũng yên tâm. Nghe bà Thặng nói Tony đã về sáu tháng nay nhưng chưa một lần ông Tú gặp người em đôi con dì ấy. Khi ông Tú hỏi thì bà Thặng chỉ nói bà chẳng hiểu Tony (tên Việt là Tôn) sinh hoạt ra sao và về lâu như thế thì lấy tiền bạc đâu mà tiêu pha. Tony không hề nói cho mẹ nghe những dự định của mình như sẽ trở lại Na Uy để làm việc vì tấm bằng Kỹ sư của anh chỉ thích hợp với một nước đã có những đội thương thuyền vĩ đại, vận chuyển hàng hoá cho Âu châu đi khắp thế giới như Na Uy. Ở Việt Nam, dù anh có vác đơn đi xin việc mỏi chân cũng không có việc, vả lại lương trả rất thấp.



Từ ngày về, gặp lại Thanh Hà, Tony đã đi chơi với Thanh Hà nhiều lần. Dù Thanh Hà muốn “bao” anh, tức anh không phải trả tiền nhưng không được vì Thanh Hà đã “bán độ” cho tú bà Chín Sặc, thời giờ và con người của Thanh Hà không còn là của Thanh Hà nữa. Thanh Hà đi đâu, làm gì, với ai đều phải báo cáo đầy đủ và dưới sự quyết định của tú bà. Nếu Thanh Hà tìm cách dối trá thì bọn tay chân của chị Chín Sặc cũng sẽ tìm ra và Thanh Hà sẽ bị phạt tiền, bị kỷ luật nặng nề tức mất tự do hơn nữa.



Nếu Tony muốn độc quyền Thanh Hà cũng được. Tony phải đóng tiền cho Chín Sặc mỗi ngày là bao nhiêu, thí dụ 24 giờ là 300 đôla, cứ thế mà tính ra, tiền trao cháo múc, kể từ lúc đó, Tony tức kẻ đã mua đứt Thanh Hà từ ngày, giờ nào đến ngày, giờ nào mới có quyền dắt Thanh Hà đi đâu thì đi như ý muốn.



Tony làm gì có tiền để làm chuyện đó. Tay khứa lão ở bên Anh khá nhiều tiền mà cũng chỉ dám “bao” Thanh Hà 3 tuần; ông này đã chi tiêu một số tiền xấp xỉ 20,000 đô mới đi tour cùng Thanh Hà ra Hà Nội, đi nhiều nơi khác rồi đi vịnh Hạ Long! Tony đau khổ vì nhìn người yêu đi chơi với hết người đàn ông này đến người đàn ông kia mà không làm gì được. Nếu Tony muốn cho Thanh Hà cùng sang Na Uy dưới một tấm giấy giá thú (nay anh đã li dị) anh phải có tiền để đóng cho Chín Sặc những món Thanh Hà còn nợ Chín Sặc, sau đó mới chạy giấy tờ hôn thú và xuất ngoại, nghĩa là anh phải có nhiều tiền để tung tẩy mới xong.



Nhưng hiện nay anh không có tiền. Số tiền đem về từ Na Uy đã tiêu hết trong những cuộc du hí, những quà tặng Thanh Hà, tiền khách sạn, ăn uống, di chuyển, mẹ bệnh mà Tony mới trao mẹ được 300 đôla.



Tony đã gọi điện thoại sang cho hai cô em gái, nói vay 10,000 đô nhưng hai người này chỉ gửi cho Tony 3,000 nói họ cũng đang kẹt tiền. Số tiền này nếu chỉ tiêu vào việc ăn, ở cho Tony thì cũng được khá lâu nhưng vì phải trả cho chị Chín để Thanh Hà được tự do đi chơi, Tony hết tiền sớm. Thanh Hà là cô gái đắt giá nhất của Chín Sặc nên ong bướm dập dìu, chẳng những “Việt kiều” hải ngoại về nghe tiếng tìm chơi mà con các đại gia hay chính đại gia cũng tìm đến Chín Sặc nên Thanh Hà không lúc nào rảnh.



o0o



Giữ đúng lời hứa, hai hôm sau ông Tú ghé Đồng Sạn rồi cùng chú Cải cầm giấy tờ xuống nghĩa trang Bình hưng Hoà. Chú Cải và ông Tú vào văn phòng gặp nhân viên tên Tào, anh này hai năm trước đã làm giấy tờ để chú Cải cầm thế căn nhà trong hẻm với giá tiền 800,000 tiền Sàigòn là tiền mua huyệt chôn cất thằng Lớn.

Mới đầu anh Tào nói vì để lâu quá không chuộc, không trả lời, nên nay không chuộc được nữa. Ông Tú hỏi điều khoản này có trong giấy tờ cầm thế không, thời hạn là bao nhiêu? Anh này không trả lời được. Anh ta xin khất đến trưa hôm sau để ông chủ tịch công ti Đồng hoà về giải quyết. Trước khi ra về, ông Tú nói cho anh ta rõ, mọi việc trao đổi, mua bán, cầm thế, vay vỏ của các công dân với nhau đều căn cứ trên luật pháp. Nhà cầm đồ hay cầm thế khi con nợ có tiền chuộc phải cho chuộc nếu không con nợ có quyền mướn luật sư đưa vụ kiện ra toà án, chiếu theo luật dân sự để xử. Chủ nợ thua sẽ phải trả án phí và tiền luật sư.



Có lẽ nghĩa trang Đồng hoà thấy khó ăn ông “Việt kiều” Tú nên trưa hôm sau, khi ông Tú và chú Cải lại đến văn phòng, ông chủ tịch là Tiển tỏ ra rất lịch sự. Ông ta đưa cho chú Cải và ông Tú một mảnh giấy tính tiền lời từ món nợ 800,000 với 1 phân rưỡi lời mỗi tháng. Chú Cải nói hôm làm giấy chỉ có 1 phân lời/tháng sao bây giờ lại tăng lên nửa phân? Ông Tiển nói anh nhân viên tên Tào làm sai, lời 2 phân/tháng chứ không phải 1 phân tháng. Vì chuyện sai ấy, nay ông ta cho chú Cải hưởng giá đặc biệt là 1 phân rưỡi, tốt quá rồi, còn kêu ca gì nữa.(dunglac.org Văn học Nghệ Thuật, click vào tên tác giả)

Ông Tú liếc chú Cải và bảo, không sao đâu, cứ đồng ý cho lẹ. Số tiền tính tổng cộng cả vốn lẫn lời là 3.680.000 đồng. Tiền đôla lúc đó là 1.600.000; ông Tú bỏ ra 230 đôla. Ông Tiển trả giấy nhà cho chú Cải. Ông Tú lại hỏi:

“Thế bao giờ trả lại nhà?”

Ông Tiển đáp:

“Phải một tuần!”

“Lâu quá, xin ông rút ngắn thời hạn!”

Ông Tiển tính toán một lúc xong nói, sớm lắm cũng phải 5 ngày. Ông Tú bằng lòng, nói ông chủ tịch viết xuống miếng giấy là sau 5 ngày, kể từ ngày mai, nhà đã dọn trống để giao lại cho sở hữu chủ. Ông Tiển bằng lòng.

May là một tuần sau cha con ông Tú mới trở lại Mỹ. Chiều ngày thứ 5, ông Tú cùng chú Cải trở về cái xóm ngập nước khi xưa, những người đang ở trong đó đã dọn đi.

Chú Cải được anh Vầng cho mượn cái xe ba gác, chú gom đồ lại chở từ nghĩa trang Đồng Sạn về nhà. Thím Cải đứng trong hiên căn nhà xưa yêu dấu, thím cảm động quá đứng khóc. Con Ti lăng xăng thu nhặt những thứ lặt vặt như bát đĩa, quần áo cho lên xe ba gác để ba nó chở về. Ngưới lối xóm như vợ chồng bác Cư, chú cô Giỏi, chú thím Rạt, anh chị Tuỳ và nhiều người khác thấy chú thím Cải đã chuộc lại được căn nhà, họ vui mừng đến hỏi thăm và chúc mừng. Người tặng thùng mì gói, người cho trái dưa hấu, người cho vài chai nước mắm hay một cái nồi nhôm cũ để nấu ăn.

Chú thím Cải luôn miệng cám ơn; nhân dịp có đông lối xóm, chú nói với mọi người sau khi đã giới thiệu ông Tú:

“Vị ân nhân của vợ chồng con cái tôi chính là ông đây. Ông đã giúp chúng tôi rất nhiều, nhờ ông mà vợ chồng con cái tôi lại được về sống nơi căn nhà này. Ông là người đã biết cháu Lớn ngày cháu bị tai nạn cách đây hai năm.”



Ông Tú có hỏi về chiếc xe chú Cải đem cầm 200 đôla. Đã hơn hai năm không có tiền chuộc, lại cũng không liên lạc, nay chú Cải lại đó thì lối xóm nói anh ta đã dọn đi đâu mất tiêu cả năm nay rồi. Có thể anh ta đã đi kiếm chú Cải nhưng không biết chú đã dọn vào nghĩa trang Đồng Sạn.



Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

(tiếp theo- 5)

VÌ SAO TÔI VIẾT HỒI KÝ?

Khi người ta bắt tay vào viết hồi ký, ấy là lúc mọi khát vọng sáng tạo đã cạn, mọi ham mê, hoài bão đã tắt, và thần chết đã cầm lưỡi hái hiện trước cửa sổ... ”

Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand ([1]) mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt!

Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong “tội ác diệt văn hóa” của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian dài trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu được ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là “vì Đảng vì dân” trong suốt đời mình.

Hãy nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc Việt Nam mà xem.

Một lỗ hổng lớn!

Đúng vậy!

Hậu thế sẽ thắc mắc: làm sao mà từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, nhân tài đất Việt ở miền Bắc Việt Nam —một thứ Đàng Ngoài của lịch sử lặp lại — ít ỏi đến thế?

Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan ([2]), Trần Dần ([3]), Phùng Quán ([4])...? Chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các trường từ tiểu, trung đến đại học hay sao? Vậy mà trong suốt thời kỳ đất nước ta nằm dưới “sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn” của những tên “xuất thân thành phần cơ bản”, trình độ học thức ở mức “đánh vần được chữ quốc ngữ”, các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng “Giải thưởng Nhà Nước”, “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và đủ thứ bằng khen giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách! Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy giờ đâu rồi?

Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó.

Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa khen hàng loạt nọ trong thực tế còn là những kẻ bán rẻ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng; hô hào kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau; ra sức ngợi ca những tên sát nhân khét tiếng như Stalin ([5]), Mao Trạch Đông ([6])… thậm chí, còn quỳ gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là “Đảng đã cho ta một mùa xuân”([7]), dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói: “tiếng đầu lòng con gọi Stalin!”([8]) Nhục nhã thay cho những kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn kẻ giết cha mình!

Vậy mà cho tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các “tác phẩm” tuyên truyền cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm!

Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, kiện cáo nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy.

Không thể nín nhịn mãi, nhân dịp người ta tổ chức mừng sinh nhật 70 tuổi của tôi để ghi công những năm làm nô bộc của tôi, tôi đã công khai phủ nhận tuốt tuột những gì tôi gọi là “tranh cổ động bằng âm thanh” trên Tivi Sài Gòn. Tôi kiên quyết không cho phát lại những gì tôi được nhà cầm quyền ngợi khen suốt quá trình sáng tác. Để nhắc đến những tác phẩm của tôi, tôi chỉ đồng ý lên một chương trình do chính tôi soạn thảo và đặt tên. Nó gồm những tiếng nói của trái tim bị cấm đoán, bị lên án, thậm chí bị trù dập suốt nửa thế kỷ.([9])

Sau hết, dựa vào thời cơ “Đổi Mới”, nhờ những bạn bè đồng tình với tôi và còn giữ được một số quyền hành cuối cùng trước khi về hưu, chương trình Nửa Trái Tim Tôi của Tô Hải đã ra mắt trọn một tiếng đồng hồ với toàn những “tác phẩm bỏ tủ lạnh”, với những lời tuyên bố gây “sốc” mạnh trong giới làm nhạc ăn lương.

Những đồng nghiệp thực sự có tài và có tâm sự giống tôi thì hài lòng. Số này, khi trả lời phỏng vấn, cũng chỉ dám nhận một cách khiêm tốn con số ít ỏi những gì mình làm ra xứng đáng được gọi là tác phẩm.

Còn số khác, những “nhạc sĩ” bám chặt thành tích 500, 1000 bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác, động viên con em ra chiến trường hiện còn tiếp tục lải nhải kể công với Đảng để xin “tí tiền còm” nhân danh giải này giải nọ thì tự ái, nổi khùng,

Họ gọi tôi là “tên phản động”.

Trả lời những câu hỏi của báo chí hoặc truyền thanh, truyền hình tôi luôn nhắc lại nguyên lý bất diệt của nghệ thuật: “Chỉ những gì từ trái tim mới đến được trái tim”! Nhưng trái tim của tôi, hỡi ôi, gần một thế kỷ qua lại không đập vì...tôi! Nó bị trói buộc, bị cưỡng bức phải đập vì những cái xa lạ với tôi: vì Đảng, vì hai cuộc chiến, vì những tín điều nhập khẩu từ các nước cộng sản Nga, Tầu.

May thay, thời thế rồi cũng đổi thay.

Liên Xô, “quê hương của cách mạng vô sản toàn thế giới”, “ngọn đuốc soi đường cho nhân loại” sụp đổ cái rụp. Thần tượng Marx, Lénine, Stalin gần 70 năm được tôn thờ hơn cả Chúa Trời bị đập tan!

Đọc hồi ký, di bút của các văn nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại như Beethoven, Modigliani, Rubinstein, Stravinsky, Liszt ([10])... hay của các nhà chính trị như De Gaulle, Khrutchev, Nixon ([11]) ... càng thấy cái cao thượng của họ bao nhiêu càng thấy cái bẩn thỉu, thấp hèn của các nhà “chính chọe” (politicaillerie) bấy nhiêu.

Biết bao tên tuổi lớn đã chịu sự hắt hủi, lên án, thậm chí săn đuổi, cách ly của một thể chế, của tập đoàn nắm quyền lực, kể cả bị lên án là “phản bội” đã để lại cho chúng ta các tác phẩm ghi lại những gì họ suy ngẫm qua những trải nghiệm trong cuộc đời, những buồn đau, khổ cực, những chịu đựng ghê gớm cả về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại, để tìm tòi và sáng tạo.

Trong khi đó, hồi ký của các “lãnh tụ cách mạng” chỉ là những cuốn sách nhăng cuội, viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, để đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm.

Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết đến ở cái thời “âm nhạc phục vụ công nông binh”, ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của Đảng là lập tức bị bọn “quan văn nghệ” lên án là “mất lập trường”, là “cá nhân tiểu tư sản”, thậm chí là “âm nhạc phản động”, có gì để mà hồi với chẳng ký?

Bánh xe lịch sử quay với tốc độ kinh hoàng đã cuốn phăng những “tác phẩm”, và cả những tác giả của chúng từng đoạt giải thưởng này huân chương nọ — lại than ôi, có cả tôi trong đó!

Lẽ công bằng chậm chạp cho đến nay đã phục hồi một cách rụt rè (không cần một quyết định hành chính nào hết) những tác phẩm và những tác giả một thời bị đoạ đầy, bị cấm đoán. Cuộc Đổi Mới, thực tế là trở lại như cũ, những quan niệm về cái đẹp đã cho những “tên tuổi lớn” một thời trong mọi lãnh vực quân sự, chính trị, văn học, nghệ thuật những cái tát tỉnh người!

Trong “cơn đau cuối đời”, một số cựu uỷ viên trung ương đảng không còn chỗ ngồi ghé trong các ban chấp hành mới, mấy ông tướng bị cho ra rìa, ngồi chơi xơi nước hoặc bị khai trừ khỏi đảng vì bất tuân thượng lệnh, đã tỉnh ngộ. Kinh nghiệm một đời theo Đảng đã cho họ cái để viết nên những trang “sám hối” có phần nào giá trị. Họ phải trả giá cho sự dám nhìn lại cuộc đời bằng con mắt khách quan và tỉnh táo bằng sự trừng trị tương đối nhẹ nhàng so với người đối kháng khác: bị giam lỏng tại nhà, bị cắt điện thoại, tịch thu computer...

Trong khi đó — tôi xin nhắc lại — mấy anh văn nghệ sĩ mơ ngủ vẫn còn xúm đông xúm đỏ chen lấn nhau để giành bằng được mấy cái giải thưởng cho những tác phẩm mà con cháu ngày nay chẳng còn coi là cái giống gì. Ấy là chưa kể những kẻ chẳng bao giờ góp mặt trong nền văn nghệ, kể cả văn nghệ “phục vụ cách mạng”, nhân dịp này dịp khác cũng được nhà nước vô sản hào phóng ban thưởng về “sáng tác”!

Một bức tranh cười ra nước mắt.

Riêng tôi, khi chẳng còn lao động nghệ thuật được nữa (đúng hơn là không còn muốn lao động nghệ thuật nữa) bỗng dưng lại được cái Nhà Nước công nông binh tặng cho cái “Huân Chương Lao Động Hạng Nhất”.

Và khi không còn sáng tác nữa (đúng ra là không muốn sáng tác nữa) thì lại được người ta treo lên cổ cái mề-đay “Giải thưởng Nhà Nước”! Sướng chưa?

Tội nghiệp cho mấy anh Văn Chung ([12]), Nguyễn Đình Phúc ([13]), Lê Yên ([14]), Vũ Trọng Hối ([15]), Trần Ngọc Xương ([16])... chẳng còn sống ở trên đời để mà hưởng cái Giải thưởng Nhà Nước nọ. Nói thêm chút cho vui: cái giải thưởng này quy ra tiền thì cũng được gần bằng một phần mười giải thưởng tặng cho hoa hậu đấy. Mà để làm hoa hậu thì cần quái gì phải có học.

Bi kịch hay hài kịch đây?

Dù sao thì cái giải thưởng đáng giá hai năm lương hưu của tôi cũng là món tiền thêm vào cho hai năm tôi ngồi viết những trang tiếc nuối cuộc đời mà các bạn đang cầm trong tay. Không có nó tôi đành ôm cả núi ân hận mà về với đất.

Không có nó thì biết lấy gì ăn để mà viết? Cho nên tôi cũng thấy cần phải ghi lại ở đây “lời tri ân” đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi viết nên những dòng hồi ký này

Thế là, với sức tàn còn lại, tôi bắt đầu...

Những hình ảnh đầu tiên đến với tôi rõ nét nhất chính là những thời gian, không gian, sự kiện và những con người đã mang lại cho tôi những cảm xúc, những niềm vui và nỗi buồn.

Trong đầu tôi tràn ngập hồi ức đòi được thoát ra. Vì thế trong khi viết, tôi luôn phải cố gắng sao cho khỏi lạc “chủ đề tư tưởng” (cách nói méo mó trong ngôn từ văn nghệ cộng sản). Và trước hết, tôi phải đè bẹp được sự “hèn nhát” trong tôi, là cái đã bén rễ sâu chặt trong một thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do.

Tôi sẽ viết để bạn bè, con cháu hiểu và thông cảm với nỗi đau của những người cả cuộc đời phải sống và làm việc với cái đầu và trái tim của tên nô lệ.

Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài năng vào hố sâu quên lãng.

Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch... ) ngay từ khi chúng mới được phác hoạ, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp uỷ, lãnh đạo chỉ đạo nghệ thuật.

Để bảo vệ chỗ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ “phản động”, mẹ tôi là “Việt gian”, họ hàng nhà tôi là “tay sai đế quốc”!

Vậy thì làm sao tôi dám bảo vệ cho một Đoàn Phú Tứ là không phản bội, một Phạm Duy ([17]) là không phải “dinh tê” chỉ vì không chịu được gian khổ”?

Tôi đã chọn con đường cúi đầu nín lặng mặc dù tôi biết rõ nguyên nhân vì sao ông cậu Đoàn Phú Tứ ([18]) của tôi phải về Thành, biết rõ không ai không sợ chết mà lại dám một mình vác đàn, nhịn đói vượt U Bò, Ba Rền vào chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt nhất để viết nên Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung như Phạm Duy.

Tôi đã là thế đấy.

Những âm mưu hạ tiện đó, tôi không phải không biết. Trái lại, tôi hiểu ra ngay từ lúc chúng mới được bàn bạc trong “nội bộ”. Lòng tôi chống lại thủ đoạn hại người, nhưng miệng tôi lại không dám nói ra.

Nỗi bất bình bị dồn nén ám ảnh tôi suốt mấy chục năm trời. Dần dà, nó biến tôi thành một núi mâu thuẫn. Mặc dầu tôi tự nguyện dồn nén, miệng núi lửa kia thỉnh thoảng lại bục ra. Những phản ứng không kìm được xảy ra ngày một nhiều. Thế là chúng được các công bộc mẫn cán của Đảng ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lý lịch đảng viên của tôi, kèm theo nhận xét “không có ý thức bảo vệ Đảng”, hay “phát ngôn vô trách nhiệm”. Tôi mang tội “không có ý thức bảo vệ Đảng” chẳng qua vì tôi không chịu bảo vệ Đảng và những đảng viên có chức có quyền làm những điều sai trái.

Ngay cả với trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ ([19]) quyền sinh quyền sát là thế mà tôi cũng dám nói thẳng mặt: “Tại sao khi những người nhân danh Đảng làm bậy, chúng tôi phê phán họ thì lại bị ghép vào tội chống Đảng, chống chủ nghĩa cộng sản? Tại sao lẽ phải bao giờ cũng thuộc về họ, mặc dầu họ không có một xu kiến thức để đối thoại với chúng tôi?”

Đó chỉ là một trong những “cú liều” đem lại cho tôi nhiều thiệt thòi, cay đắng.

Với những “cú liều” này, bạn bè bảo: “Tô Hải là thằng “có bản lãnh”. Những người cũng nghĩ như tôi nhưng biết giữ mồm giữ miệng thì khoái lắm, vì đã có Tô Hải nói thay mình! Số còn chức còn quyền nhưng không đến nỗi tồi tệ quá thì cố tìm cách “hãm phanh” tôi lại để các “anh trên” đỡ vì đau đầu mà phạng lung tung.

Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của số lớn bạn bè, tôi cứ “nổ” khi có điều kiện.

Cũng có người cho rằng tôi “dại” có cỡ, có kẻ nhắc là “cẩn thận kẻo vào tù!”

Nhưng tôi đã quyết: 55 năm miệng bị lắp khoá kéo, giờ đây đã già, đã về hưu, có muốn chia sẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng còn phải e ngại những lời ong tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì.

Còn về Đảng ư? Tôi đã cóc cần nó từ khuya rồi và hết sức vinh dự được trở lại hàng ngũ nhân dân đang bị một nhóm người bắt sống cuộc sống trại lính, ăn gì, mặc gì, xem gì, đọc gì, thậm chí chết kiểu gì cũng đều do họ quy định và cho phép!

Tôi đã nói và sẽ nói, nói tất, nói với bạn bè, với người thân, với con cháu, chắt, chút, chít những gì mà bộ não ông già 70 còn ghi nhớ được về cái thời tưởng mình là một cánh đại bàng bay bổng giữa trời.

Nhưng, than ôi! Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là “con đại bàng... cánh cụt”, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông.

Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức.

Biết đâu chẳng có ngày đất nước này hoàn toàn “đổi mới” thật sự, hồi ký này sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và, may ra, lạy trời, những “đại bàng cánh cụt” chúng tôi sẽ được nhắc tới, như những chứng nhân lịch sử.

Nhưng, “vừa là tội đồ vừa là tòng phạm” làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa?

Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny ([20]), con bói cá của Musset ([21]) tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác.

Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer.

Tôi bắt đầu...



[1] George Sand, tên thật Amantine Lucile Aurore Dupin (1804-1876), nhà văn Pháp.

[2] Hữu Loan (1914), nhà thơ, nổi tiếng với bài Màu Tím Hoa Sim.

[3] Trần Dần (1926-1997), nhà thơ, nhà văn, một trong số người đứng đầu phong trào văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác Nhân Văn Giai Phẩm.

[4] Phùng Quán (1932-1995), nhà văn trong Nhân Văn Giai Phẩm.

[5] Iosif Vissarionovich Stalin (1878-1953), tổng bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô từ 1922 đến 1953, kiêm chủ tịch hội đồng bộ trưởng, đại nguyên soái tổng tư lệnh quân đội Liên Xô.

[6] Mao Trạch Đông (1893-1976), chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ 1943 cho đến khi qua đời.

[7] Phạm Tuyên (1930), con ruột nhà văn hoá lớn Phạm Quỳnh bị Việt Minh sát hại năm 1945.

[8] Thơ của Tố Hữu (1920-2002), nhà thơ cộng sản, người nắm vai trò lãnh đạo nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

[9] Xem VCD “To Hai – Grandeur et servitude” –– Tác giả chú thích.

[10] Ludwig van Beethoven, nhạc sĩ vĩ đại, người Đức (1771-1827); Amedeo Modigliani (1884-1929) nhạc sĩ người Do Thái, ra đời ở Ý; Arthur Rubinstein (1887-1082) nhạc sĩ dương cầm lừng danh mọi thời đại; Igor Stravinsky, người Nga (1882-1971) nhạc sĩ, được coi như nhà cách mạng trong âm nhạc; Franz Liszt, người Hungary (1811-1886), nhạc sĩ dương cầm tài danh, đồng thời sáng tác nhạc tôn giáo nổi tiếng.

[11] Chính khách Pháp, Nga, Mỹ thời cận đại.

[12] Nhạc sĩ Văn Chung, tên thật Mai Văn Chung (1914-1984) thuộc thế hệ đầu của nền tân nhạc Việt Nam, tác giả của những nhạc phẩm nổi tiếng Bóng ai qua thềm, Trên thuyền hoa...

[13] Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) là một nhạc sĩ, hoạ sĩ và nhà thơ, nổi tiếng với những ca khúc Cô lái đò, Lời du tử (trước 1945), Chiến sĩ Sông Lô, Quân tiên phong, Bình ca, Tiếng đàn bầu...

[14] Lê Yên (1917-1998), nhạc sĩ thời kỳ tiền chiến, nổi tiếng với các ca khúc Bẽ Bàng, Xuân Nghệ Sĩ Hành Khúc, Ngựa Phi Đường Xa

[15] Vũ Trọng Hối, nhạc sĩ, hoạt động âm nhạc từ những năm Kháng chiến chống Pháp tại Liên Khu III, hàm đại tá.

[16] Nhạc sĩ, sáng tác trong kháng chiến chống Pháp tại Liên khu 3.

[17] Phạm Duy, tên thật Phạm Duy Cẩn (1919), nhạc sĩ nổi tiếng với rất nhiều tác phẩm được thính giả mến mộ.

[18] Đoàn Phú Tứ ( ?-1989), nhà văn, dịch giả.

[19] Lê Đức Thọ (1911-1990), biệt hiệu Sáu Búa, từng giữ nhiều chức vụ lớn nhất trong bộ máy cầm quyền của ĐCSVN, nổi tiếng là người có bàn tay sắt trong sự cai trị.

[20] Alfred Victor de Vigny (1797-1863), nhà văn, nhà soạn kịch Pháp.

[21] Alfred Louis Charles de Musset-Pathay (1810-1857), nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Pháp.

Chương kế tiếp: Tuổi ấu thơ


Bài Xem Nhiều