We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 26 May 2009

Hồ Chí Minh, Thiên Thần Hay Ác Quỷ?

Ghi Chú: 6 "đức tính vĩ đại" của Hồ Chủ Tịt



+ BETRAYER : Kẻ bán nước
+ LUSTFUL : Dâm tặc
+ PLAGIARIZER : Đạo văn
+ DEFRAUDER : Xảo quyệt
+ INSOLENT : Hỗn láo với Tổ tiên (Vô giáo dục)
+ MURDERER : Sát nhân


Từ khi Quốc tế Cộng Sản sụp đổ đến nay, những bộ mặt thật về các lãnh tụ Cộng Sản lần lần bị phơi bày trước dư luận quốc tế, trong đó có Hồ Chí Minh. Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn tạo cho dư luận trong nước lầm tưởng Hồ Chí Minh là một thiên thần, một cha già dân tộc và là một gương mẫu cho thanh niên noi theo. Đối với dư luận quốc tế, Cộng Sản Việt Nam lại càng cố gắng hơn, để dư luận cho rằng Hồ Chí Minh có công lớn đối với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là người thắng hai cuộc chiến với Pháp và Mỹ để dành độc lập và thống nhất cho Việt Nam.

Năm 1990, Cộng Sản Hà Nội đã vận động cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc vinh danh Hồ Chí Minh như là một nhà văn hóa quốc tế, vì những tác phẩm văn chương của họ Hồ. Tuy nhiên, cũng từ ngày đó, người Việt hải ngoại cũng như những nhà văn hóa và sử học ngoại quốc đã chú ý đến những gì Hồ Chí Minh đã làm cho dân tộc Việt Nam cũng như đời tư của Hồ Chí Minh có đúng như Cộng Sản Việt Nam đã rêu rao hay không? UNESCO đã hủy bỏ việc vinh danh Hồ Chí Minh và cấm không được đả động đến tên Hồ Chí Minh trong kỳ họp đó.

Đây là kết quả việc làm của người Việt Hải Ngoại chống Cộng mà người có công nhiều nhất là giáo sư Lê Hữu Mục. Giáo sư Lê Hữu Mục đã thu thập tài liệu và phát hành cuốn sách nhan đề "Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký", trong đó, giáo sư Lê Hữu Mục đã chứng minh rõ ràng, Ngục Trung Nhật Ký, một tác phẩm bằng Hán Văn của một người Tàu họ Lý, chứ không phải của Hồ Chí Minh.

Với những chứng cớ hiển nhiên như, tác giả Ngục Trung Nhật Ký đã cho rằng mình bị vu oan là Hán Gian, nếu đã là Hán gian thì phải là người Hán, Hồ Chí Minh là người Việt Nam thì không thể gọi là Hán Gian được, về thời gian đề cập đến trong Ngục Trung Nhật Ký không phù hợp với thời gian và nơi chốn ở tù tại Trung Hoa của Hồ Chí Minh.

Điểm đặc biệt trong tập sách này, giáo sư Lê Hữu Mục đã dùng tài liệu của Ban Văn Hóa Cộng Sản để chứng minh cho độc giả thấy rằng chính những người này đã dùng lối lý luận nghĩa đôi để nói lên sự thật. Ví dụ câu : "Bác Hồ không có ý làm thơ mà có thơ", hoặc Đặng Thái Mai viết : "Không thể không lấy làm lạ khi biết rằng Bác làm thơ chữ Hán". Bác không làm thơ mà có thơ thì Bác có thơ do ăn cắp thơ của người khác mà thôi. Nguyên việc Hồ Chí Minh mạo nhận mình là tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Ký đã là một hành vi đê tiện, làm sao Liên Hiệp Quốc chấp nhận vinh danh được.

Nhưng hành vi bỉ ổi của Hồ Chí Minh không dừng lại ở đây, Hồ Chí Minh còn lấy tên giả là T. Lan và Trần Dân Tiên để lần lượt viết hai cuốn sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện" và "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" là hai cuốn hồi ký ca ngợi Hồ Chí Minh hết mình lại do Hồ Chí Minh lấy tên giả để viết. Khi người Việt hải ngoại nêu lên hai bằng cớ này trước dư luận ngoại quốc thì ai cũng coi Hồ Chủ Tịch của bọn Bắc Bộ Phủ là kẻ lưu manh, hợm mình chứ không phải lãnh tụ. Thế nhưng, Hồ Chí Minh lại viết trong cuốn gọi là Hồi Ký này "có người hỏi sao Bác không viết, Bác liền xua tay mà nói : thôi thôi, Bác không viết đâu, để lo cho nước nhà được độc lập đã". Bác không viết ca tụng người, Bác chỉ viết để ca tụng chính Bác mà thôi.

Những anh bộ đội theo Hồ Chí Minh kháng chiến từ 1945 đến năm 1954, đều được nghe hoặc được nghe kể lại lời nói của Hồ Chí Minh "Các thanh niên chúng cháu đừng học Bác hai điều, một là hút thuốc, hai là không cưới vợ". Hồ Chí Minh hút thuốc rất nhiều thì đúng, dù là chỉ hút thuốc ngoại quốc, còn vấn đế cưới vợ thì phải xét lại, Hồ Chí Minh đã có một cô vợ người Nga, một cô vợ người Tàu cũng như bà Nguyễn Thị Minh Khai, tiếng là vợ của Lê Hồng Phong, nhưng chính Hồ Chí Minh đã ăn ở như vợ chồng với người đàn bà này.

Lúc ở hang Pak Pok, Hồ Chí Minh cũng đã dùng một nữ đồng chí người thiểu số làm người chăn gối, cô này đã có một người con với Hồ Chí Minh là Nông Đức Mạnh, nhưng tội ác nặng nề và đáng kinh tởm nhất của Hồ Chí Minh là đã cho Trần Quốc Hoàn, Bộ Trưởng Nội Vụ lập một ban chuyên kiếm người đẹp cho họ Hồ giải khuây. Ban này đã bắt cô Nguyễn Thị Xuân, lúc đó khoảng 20 tuổi, người tỉnh Cao Bằng đem về hầu họ Hồ.

Để qua mặt dân chúng, cô Xuân được Trần Quốc Hoàn cấp cho một căn gác ở ngoài Hà Nội, chỉ vào với Hồ Chí Minh ban ngày, thỉnh thoảng ở lại qua đêm, cô Xuân xin với Hồ Chí Minh và Trần Quốc Hoàn cho người em họ từ Cao Bằng lên Hà Nội ở với cô cho có chị có em, nhất là khi cô Xuân đã có thai với Hồ Chí Minh, người em đó là cô Nguyễn thị Vàng, cô này đã có chồng chưa cưới, lúc đó còn đi nghĩa vụ quân sự.

Hồ Chí Minh mê cô Xuân nhất. Khi cô Xuân đã có một con trai với Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đặt tên cho cậu con trai là Hồ Đức Trung, cô Xuân yêu cầu Hồ Chí Minh "cho ra công khai", nghĩa là Hồ Chí Minh nên công khai cưới cô ta làm vợ. Không ngờ lời yêu cầu này là bản án tử hình cho cô và người em họ của cô. Hồ Chí Minh đã hứa sẽ đưa ra Ban Thường Vụ Trung Ương Đảng thảo luận và định ngày ra công khai.

Mấy ngày sau, Trần Quốc Hoàn đánh cô Xuân vỡ sọ chết rồi cho xe công an cán lên người. Cô Vàng bỏ trốn cũng bị lùng bắt và đập chết thả trôi sông. Sự vụ này được chồng chưa cưới của cô Vàng nạp đơn kiện tại Quốc Hội Cộng Sản nhưng, hai mươi mấy năm qua rồi, hồ sơ vẫn còn ở trong tủ của Quốc Hội Cộng Sản.

Nếu đem vụ này ra xử thì còn gì là Hồ Chí Minh, còn gì là thần tượng Cộng Sản? Có nhiều người trách cô Xuân, đã ăn ở với Hồ Chí Minh, đã sống với Cộng Sản mà còn nằm mơ nên bị chết là phải, tuy nhiên, một cô gái hai mươi tuổi với tất cả mộng mơ của cuộc đời, được Hồ Chí Minh sủng ái cho đến có con, cáo già Hồ Chí Minh lại là một tay đại bịp, đóng trò rất giỏi thì làm sao mà một cô gái ngây thơ như cô Xuân không lầm cho được? Điều đáng nói ở đây là còn biết bao nhiêu cô Xuân trong đời Hồ Chí Minh? Còn bao nhiêu nạn nhân tuổi xuân mơn mởn, cứ tưởng Bác là thiên thần, là cha già dân tộc, là kẻ đạo đức nhất trên đời nhưng khi vào hầu Hồ Chí Minh, giúp con quỷ già thỏa mãn dục tính rồi thì đã phải chết để bảo vệ thanh danh cho Bác, để che dấu đạo đức cách mạng của Bác. Nếu nói rằng sau cô Xuân còn nhiều nạn nhân khác của Hồ Chí Minh có nhiều nghi ngờ, cho rằng có thể chỉ có một Nguyễn Thị Xuân là nạn nhân của Hồ Chí Minh.

Nhưng nếu những ai biết được rằng vợ của Vũ Đình Huỳnh, tay chân bộ hạ của Hồ Chí Minh, thời gian ở chung với Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch cũng bị họ Hồ bắt ngủ với y. Thời gian gần đây, khi Phạm Văn Đồng mù lòa, không còn thế lực, vây cánh bỏ đi rồi thì Cộng Sản Hà Nội cũng tiết lộ tin tức cho biết từ ngày được về Hà Nội, vợ của Phạm Văn Đồng gần như một người điên, phải nhốt lại một chỗ và không ai được bà ta cho phép gặp mặt, kể cả Phạm Văn Đồng, nhưng riêng Hồ Chí Minh thì vẫn thường xuyên tiếp xúc với y thị, khiến có lời đồn đãi Phạm Văn Đồng nhường vợ để được làm thủ tướng lâu nhất thế giới.

Với một con người hoang dâm vô độ như vậy, với địa vị nhất nước và lòng tham danh vọng đến cuồng điên như Hồ Chí Minh làm sao mà chỉ có một cô Nguyễn Thị Xuân là nạn nhân được? Tôi nói Hồ Chí Minh háo danh đến cuồng điên vì ở địa vị họ Hồ, đã có biết bao nhiêu sách báo ca ngợi y, đã có biết bao nhiêu tên bồi bút nịnh bợ y, thế mà Hồ Chí Minh còn tự mình lấy tên giả để viết hồi ký tự ca tụng mình thì còn từ ngữ nào có thể thay thế mấy chữ "háo danh đến điên cuồng" để nói về Hồ Chí Minh cho xứng.

Sau khi Hồ Chí Minh chết, một người đàn bà tên Nguyễn Thị Thi xuất hiện và tự cho mình là vợ chính thức của họ Hồ. Điều này chứng tỏ đời sống sinh lý của Hồ Chí Minh là một cuộc sống thác loạn và có thể nói là bệnh hoạn. Một lần Hồ Chí Minh ra mặt trận thăm các chiến sĩ, Hồ Chí Minh thấy một tù binh chỉ bận một chiếc áo cánh, rét run cầm cập, họ Hồ liền cởi áo ngự hàn khoác lên mình tên tù binh, ai cũng khen ngợi họ Hồ, nhưng chỉ mấy giờ sau, chiếc áo được bộ hạ y thu lại và người tù binh bị thủ tiêu.

Tất cả những sự thiệt thòi, oan trái của các nạn nhân nói trên sẽ có ý nghĩa nếu Hồ Chí Minh thực sự là người tranh đấu cho dân tộc!!! Nhưng, một cái nhưng tai hại, Hồ Chí Minh chỉ là một tên làm đầy tớ đắc lực cho ngoại bang mà thôi. Cuộc chiến 1945-1954, với danh nghĩa là chống thực dân Pháp dành độc lập để người dân có tự do hạnh phúc, nhưng thực chất chỉ là cuộc chiến mở rộng bờ cõi cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Vì chính Hồ Chí Minh đã ký hiệp ước với Pháp cho phép Pháp được đổ bộ lên Hải Phòng và tiến về Hà Nội, để Hồ Chí Minh có cơ hội hô hào chiến tranh giải phóng, gieo rắc chủ nghĩa Cộng Sản, trong khi đó, Hồ Chí Minh giả vờ liên hiệp với các đảng phái quốc gia chống Pháp rồi tỉa dần, thủ tiêu cán bộ của họ để độc quyền lãnh đạo cuộc chiến.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, Pháp rút khỏi Hải Phòng, người dân chưa được hưởng độc lập, mùi thuốc súng và tử khí còn lảng vảng trên đất Bắc thì Hồ Chí Minh đã theo lệnh của Trung Cộng, phát động kế hoạch Cải Cách Ruộng Đất, giết hại mấy trăm ngàn người dân đã đóng góp công của và tính mạng cho cuộc chiến, họ chỉ có một cái tội là địa chủ, làm chủ vài mẫu ruộng, nuôi được một vài con trâu con bò.

Độc lập mà dân đi ra khỏi xã phải xin phép, còn ngặt nghèo hơn sống dưới ách thực dân, tự do mà nhà thờ và chùa chiền bị phá, dân bị cấm cử hành nghi thức tôn giáo. Dành được độc lập mà người dân luôn sống trong phập phồng lo sợ tù tội. Toàn miền Bắc trở nên điêu tàn, tan tác. Như vậy, tốn máu xương để dành độc lập từ tay Pháp để rồi bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản chụp lên đầu một ách thống trị tàn bạo và đói khổ gấp trăm ngàn lần, thử hỏi Hồ Chí Minh có công hay có tội? Thiên thần hay ác quỷ?

Chưa hết, mấy năm sau Hồ Chí Minh không để cho miền Nam yên ổn, lại phát động cuộc chiến tàn khốc gấp mấy lần cuộc chiến trước, giết hại mấy triệu dân Việt Nam, phá hủy biết bao nhiêu công trình xây dựng của quân dân Miền Nam để ngày hôm nay, cả nước Việt Nam chìm đắm trong lạc hậu, đói nghèo nhất thế giới.

Ai dám cao giọng cho Hồ Chí Minh là anh hùng dành lại độc lập thống nhất cho đất nước hãy nhìn kỹ những gì Hồ Chí Minh và đồng bọn Cộng Sản đã làm cho đất nước để có một sự phán đoán khách quan, chính xác và công bình hơn.

Đồng bào cả nước hãy dành ra một vài phút, nhìn kỹ, nhớ kỹ những gì Hồ Chí Minh và đồng bọn đã gieo rắc, đã phá hoại đất nước để nhận định có nên tiếp tục để cho bọn nửa người nửa khỉ này cai trị toàn dân hay không?

Hỡi các bạn thanh niên, sinh viên, học sinh! Các bạn hãy đứng lên hô hào đồng bào cùng kéo đến các cơ quan hỏi tội những tên Cộng Sản, buộc chúng phải trả lại quyền tự quyết cho dân tộc!!!

Hỡi các binh sĩ trong quân đội Cộng Sản, các bạn hãy dùng súng đạn Cộng Sản dồn chúng vào một chỗ buộc chúng trao trả tự do cho các tôn giáo, tự do dân chủ và nhân quyền cho toàn dân!!!

Hỡi các bạn công an cảnh sát Cộng Sản, Cộng Sản không còn sống bao lâu nữa, các bạn hãy đứng về phía toàn dân, đừng ngụp lặn trong tội ác đàn áp dân chúng để phải trả lời trước tòa án mà hãy giúp đồng bào lật đổ chế độ Cộng Sản.

Mọi người hãy đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản để các thế hệ mai hậu có một đời sống đáng sống, ít nhất cũng như những quốc gia lân cận như Thái Lan, Mã Lai v.v... Xóa bỏ những tàn tích tội ác của ác quỷ Hồ Chí Minh và đồng bọn. Mọi người nên nhớ rằng, dân tộc Việt Nam đã có thành tích một ngàn năm chống lại quân Tàu, một trăm năm đánh đuổi thực dân Pháp, chúng ta phải đứng lên làm lịch sử để xứng đáng là con cháu của Rồng Tiên, để xứng đáng là người Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng ta sẽ thắng.


Kiêm Ái

Truyện Thằng Lớn




Chiếc xe Jaguar Sport Anh quốc mui trần, mới tinh loại trên nửa triệu đôla, sản xuất rất ít, thắng kêu két két quẹo vào con đường nhỏ, kế đường bà Lê Chân rồi đi lòng vòng hai, ba con đường nhỏ nữa. Ngồi sau tay bánh là một thanh niên ăn mặc rất chải chuốt và hào nhoáng nhưng vẫn không giấu được cái vẻ quê mùa cố hữu nhất là khi anh ta phát ngôn, giọng nói nặng chịch. Chiếc xe đi chậm chậm lại, người thanh niên và anh bảo vệ ngồi băng sau nhướng mắt tìm số nhà rồi đậu xịch trước cửa nhà bà Thặng.



Thanh niên lái xe mở cửa nhảy xuống, trông anh ta có dáng một anh canh điền chứ không phải cậu ấm con quan. Anh ta với chiếc xe là một sự mâu thuẫn kịch liệt. Tên bảo vệ, lớn tuổi hơn cả chục, cũng mở cửa xuống theo. Trông dáng điệu của y là biết y tuân phục chủ y thế nào.

“Mày vào hỏi xem có ai là cô Gien-phơ Đàm ở đây không?”

“Thưa cậu, nếu có thì sao?”

Thanh niên gắt lên:

“Mày ngu như bò. Thì ra mời cậu vào chứ sao nữa?”

Tên bảo vệ vào bấm chuông. Người trong nhà ra mở.

“Bác cho hỏi thăm, có ai là cô Gien-phơ Đàm ở trong nhà này không?”

Bà Thặng điếc lác nghe không ra lại nghĩ hắn hỏi có bán phở không? Bà lắc đầu quầy quậy:

“Không, nhà này đâu có bán phở!”

Tên bảo vệ sốt ruột với bà già điếc, quát lớn lên:

“Tôi không hỏi phở. Tôi hỏi Gien-phơ?”

Bà Thặng vẫn nghe không ra cái gì phơ phơ. Bà gọi người cháu mới đến chơi:

“Bách ơi, mày ra trả lời dùm cô. Người ta hỏi cái gì này!”

Người đàn ông là cháu bà Thặng bước ra:

“Xin lỗi, anh hỏi cái chi?”

Tên bảo vệ mặt vẫn kên kên:

“Tôi muốn hỏi trong nhà này có ai tên là Gien-phơ Đàm không?”

Anh Bách nhớ ngay ra cha con ông Tú họ Đàm, Gien-phơ chắc là tên đứa con gái.

“Có ở đây nhưng đi chơi cả rồi. Có việc chi không anh?”

“Anh chờ tôi một chút.”

Nói xong tên bảo vệ chạy vội trở lại xe. Người thanh niên đang ngồi chờ sau tay lái.

“Thưa cậu, Gien-phơ Đàm có trong căn hộ này nhưng đi chơi rồi.”

“Đi chơi đâu?”

“Em quên hỏi.”

“Trời đất! Mày ngu quá. Mày làm mất hết thì giờ của tao. Đ. mẹ mầy, tao sẽ tống mày về Bộ chỉ huy của ông Đới, bảo ổng cho tao thằng thông minh một chút chứ mày đần quá.”

Anh bảo vệ bị la mặt nghệt ra:

“Để em vào hỏi lại!”

“Thôi, còn hỏi gì nữa. Người ta đóng cửa lại rồi kìa.”

“Đóng thì đập cửa hay phá cửa chứ sao cậu? Ai dám đụng đến cậu ấm số 1 thành phố này?”

Nghe tên bảo vệ nịnh, anh thanh niên có vẻ khoái nhưng bảo:

“Để tao viết cái danh thiếp, mày cầm vào nói với người nhà hễ cô Gien-phơ về thì trao cho cô ta, nghen!”

“Dạ.”

Thanh niên rút bút máy ở miệng túi, lấy tấm danh thiếp to bằng góc tư trang giấy một mặt viết đủ thứ chức vụ. y lật mặt sau viết mấy hàng, chữ như con giun con dế, kiểu này học chắc chưa hết lớp Ba trường làng:

Mến gởi em rất yêu quý Gien-phơ,

Anh đến rủ em đi New Century nghe nhạc và khiêu vũ khi nào em về, điện ngay cho anh để anh đến đón em đi chơi. Chỗ này sang trọng lắm, mỗi đêm bọn anh chi 5-7 ngàn đô là giá chót. Có đủ thứ để phục vụ em, ếch-ta-sy, cần, hê-rô-in, côkên.... Em là bà hoàng của anh, anh sẽ chiều em hết mình.

Em sẽ thấy chúng nó nể nang em lắm vì em sắp là vợ anh, cậu ấm số 1. Hài lòng chưa? Nhớ gọi anh! Mong tin em! Cậu ấm số 1.(ký tên không rõ)



Thanh niên đưa tấm danh thiếp loè loẹt cho tên bảo vệ bảo đưa vào gửi người nhà cho cô Gien-phơ. Hắn vừa vào đập cửa thì thanh niên lại gọi giật giọng:

“Sển, ra đây bảo đã!”

Bảo vệ tên Sển bỏ ông Bách vừa mở cửa đó chạy trở lại xe:

“Dạ, thưa cậu...”

“Đưa tao viết thêm!”

Tên bảo vệ hai tay đưa tấm danh thiếp ra. Thanh niên rút bút ngần ngừ không biết viết cái gì. Y hỏi tên bảo vệ:

“Tao nên viết cái gì thêm hả mậy?”

Tên bảo vệ quýnh quáng vì hắn đâu biết phía trên đã viết cái gì, nhưng hắn đoán chỉ chuyện trai gái vì chủ hắn tối ngày chỉ rong chơi, cần sa, thuốc lắc, nhảy đầm với trai gái. Cô Gien-phơ này là cô gái đã gặp ở bữa sinh nhật người bạn với cậu chiều hôm kia, cô đẹp ác. Từ lúc gặp là cậu mê mẩn luôn nhưng hai người coi bộ có hiểu nhau đâu? Cô Gien-phơ ở Mỹ về chỉ nói tiếng Anh, nói như bắp rang, như đầm Mỹ vậy. Cô hiểu tiếng Việt chút chút những cái dễ còn cậu thì chỉ tiếng Việt, một xu tiếng Anh không biết, may là có chị thông dịch viên. Thơ này phải là thơ hẹn hò trai gái nên hắn đáp liều:

“Thì cậu cứ viết nhớ em lắm, hôn em vài ngàn cái, tối nay...”

Anh thanh niên vỗ vào đùi đánh đét:

“Ừ phải, tao chưa viết hôn, mày nhắc rất hay.”

Y tựa tấm danh thiếp lên tay vô-lăng, viết thêm:

TB. Hôn em ba nghìn cái. Nhớ em lắm! Tối nay nhá em!

Xong y trao cho tên bảo vệ.

Tên bảo vệ lại chạy vào bấm chuông. Ông Bách lại ra:

“Cậu tôi là cậu ấm số 1, muốn trao tấm danh thiếp của cậu cho cô Gien-phơ. Anh vui lòng trao lại.”

Hắn không thấy ông Bách vào tuổi cha chú của hắn nhưng bắt chước nhau, ông linh mục, ông hoà thượng cũng vậy, chúng cứ gọi anh tuốt luốt.

Nói xong hắn trao danh thiếp cho ông Bách xong đi trở ra xe. Ông Bách đóng cửa lại.

Bà Thặng hỏi ông Bách:

“Ai hỏi gì đấy cháu?”

Ông Bách trao cái danh thiếp cho bà cô:

“Có người thanh niên xưng là cậu ấm số 1 hỏi Gien-phơ Đàm, cháu nghĩ là con gái anh Tú. Người bảo vệ cho anh này nhờ trao dùm cái danh thiếp khi Gien-phơ về.”

Hai cô cháu ngồi phòng khách nói chuyện. Ông Bách hỏi:

“Thưa cô, Tony nọ nay có về nhà không?”

“Nó có về một lần mà bệnh quá, than đi bác sĩ ở Sàigòn này đắt, thuốc men không hiệu quả. Thuốc trụ sinh hầu hết giả, uống trơ trơ bệnh không chuyển. Có người mách là phải nói riêng với bác sĩ cho toa, ổng bán thứ trụ sinh thiệt mua từ Mỹ hay từ Pháp về, giá đắt lắm nhưng chắc chắn có kết quả. Các thứ thuốc khác cũng giống thế, trông y thiệt nhưng đều là thuốc làm ở Chợ lớn hoặc Vân Nam. Nó định chữa khỏi bệnh rồi trở sang Na Uy đi làm lại kẻo phí cái bằng, vả tiền đâu mà sinh sống.

Ông Bách tiếp:

“Cháu có người bạn gặp Tony đi chơi. Tony gặp lại cô bồ khi xưa lúc Tony chưa vượt biên nhưng bây giờ cô ta là gái gọi chưa dễ gì đã ra khỏi cái nghề bạc bẽo ấy. Cháu thấy thương Tony mà cô thì già yếu rồi, đâu còn lo cho con cái như ngày xưa được. Cháu nghĩ cô nên khuyên nhủ Tony đừng theo đuổi những cô gái gọi kẻo hậu quả xấu khó lường.”

Bà Thặng gật đầu:

“Cám ơn anh đã thương em mà khuyên nhủ nhưng cô có thấy mặt mày nó đâu. Cô khuyên nó bỏ người tình cũ của nó đi, chưa chắc nó đã nghe. Nó bảo nó từ Na Uy về là vì muốn tìm cô này làm hôn thú rồi đưa sang Na Uy. Người con gái Na Uy con nhà gia thế, xinh gái, học thức, có công ăn việc làm, lại đã sinh cho nó một thằng con trai kháu khỉnh lắm nhưng rồi hai đứa gây gổ vì cô gái gọi này mà li dị, hai em Lam và Hoàng ở Na Uy gọi điện thoại báo cáo với cô thế. Vịnh, anh nó và hai em nó thì cô yên tâm. Bây giờ cô chẳng biết tính sao, nếu anh gặp em thì cho nó mấy lời khuyên, may ra nó nghe. Anh Tú cũng muốn gặp nó nhưng nó đi suốt, không ăn không ngủ ở nhà này.”



Hai cô cháu vừa nói chuyện về Tony đến đó thì ba cha con ông Tú về.

“Ba cha con đi chơi đâu có vui không?” Bà Thặng hỏi.

Ông Tú bắt tay ông Bách rồi ngồi xuống ghế:

“Thưa dì, có gì vui đâu dì, hai đứa con con lâu lâu chúng mới về thì cho chúng đi đây đi đó một tí để biết đây là toà Đô chính, bến Bạch đằng, sở thú, trường Đại học Văn khoa, Luật khoa v.v...ngày xưa, nhất là những nơi con và nhà con đã học và làm việc hay đi chơi. Sàigòn bây giờ quá bụi bậm, không khí và nước thì ô nhiễm, tai nạn giao thông nhiều, đường xá xe cộ ngổn ngang, hàng rong, ăn mày chỗ nào cũng có, trẻ con, ông bà già đi bán vé số, bán dầu cù là, bán đồ chơi, bán đủ thứ nườm nượp. Thật là một thành phố ô hợp đã mất hết vẻ đẹp khi xưa.”

Jennifer và John đã thay quần áo mặc nhà. Hai đứa trở ra phòng khách. Bà Thặng trao cái danh thiếp lúc nãy cho Jennifer:

“Có một người xưng là cậu ấm số 1 nhờ bà trao cho con. Ủa, mà cái đồng hồ đeo tay của con đâu?”

Jennifer chưa kịp trả lời thì ông Tú nói:

“Vừa nãy ba cha con leo lên xe bus, con quên không dặn cháu, có đứa tháo mất lúc nào không hay.”

“Thôi, uổng quá, cái đồng hồ thật đẹp. Mất bạc ngàn chứ chơi à?”

“Vâng, con mua cho cháu ngàn hai nhưng nó cũng đeo hơn năm rồi.”

Ông Bách góp chuyện:

“Thế nào cũng có một thằng xếp sòng quanh quẩn ở đâu đó. Nếu biết, đến nói với nó xin chuộc, có khi chỉ trăm đô vì chúng cho là đồ cũ, có khi là đồ giả tức hàng nhái của Chợ lớn hay Quảng đông, Phúc kiến thì rẻ mạt. Dăm chục đô cũng chuộc lại được.”

“Mình chân ướt chân ráo vả chẳng có thì giờ đi dò la kiếm thằng đầu đảng. Cùng chuyến xe bus đi với ba cha con tôi có hai ông già mới là tức cười. Hai ông này đi mua kiếng lão rồi leo lên xe bus. Ông ở tại Sàigòn, tôi đoán chừng thế thì bỏ cái kiếng vào trong hộp kiếng, bỏ túi ngực rồi khoanh hai tay giữ chặt lấy cái hộp kiếng. Ông kia, coi dáng ăn mặc thì ở hải ngoại về, không biết người nhà có dặn không mà bỏ hộp kiếng vào túi ngực rồi đứng nói chuyện. Lúc sắp xuống tại trạm dừng, ông Việt kiều phát giác cái hộp kiếng không cánh mà bay. Ông hỏi ông kia, ông kia vẫn còn. Ông hỏi mấy đứa lau nhau đứng xung quanh:

“Cái kiếng của bác rất ít tiền, chưa đến hai chục đô, đứa nào lấy của bác thì cho bác xin để bác đọc báo.”

Ông quay nhìn chúng, ba bốn đứa đứng xung quanh ông, mười, mười lăm, mười bảy, hai mươi, chúng nhìn lại ông hóm hỉnh nhe răng cười, không nói gì cả. Ông lão đành chịu mất cái kiếng. Ông lão kia bấy giờ mới nói:

“Tui đã biểu anh mà anh hổng nghe.”

Ông Việt kiều ẩn nhẫn:

“Thôi, thử một lần cho biết. Nhiều người bảo tôi trước khi về mà tôi không tin. Mất cái kiếng lão hai chục chưa đến nỗi nào! Mà sao chúng nhanh thế, tôi đã để ý mà vẫn mất”

Ông Tú kể xong quay nhìn Jennifer đang đọc tấm danh thiếp. Jen đọc báo được nhưng chữ của cậu ấm số 1 tệ hơn gà bới nên Jen đọc hoài không ra. Ông Tú bảo con:

“Đưa ba coi.”

Ông đọc to cho cả nhà nghe. Ai nấy cười sằng sặc. Vì Jen đã kể cho ông Tú nghe chuyện đi chơi với Phong Linh nên ông Tú kể lại cho cả nhà nghe.



Phong Linh là con một người cháu có họ xa với bà Thặng, Jen đã gặp Phong Linh từ lần về trước cũng tại nhà bà Thặng. Vì Phong Linh nằn nì với ông Tú cho Jen đi chơi với mình một buổi tối cho biết bạn biết bè Sàigòn, ông Tú bằng lòng. Ông nghĩ con mình không hư là nó không hư còn cứ giam nhốt nó cả ngày không cho đi đến đâu, mẹ nó mất rồi, mai mốt nó hư thì nó vẫn hư. Chẳng thà cho nó biết để mà tránh vì vậy ông mới bằng lòng cho Phong Linh chở Jen đi.



Jen kể lại, ngoài Phong Linh còn có hai cô gái khác cũng con nhà cán bộ cao cấp. Hai đứa kia đi xe hơi có tài xế lái chứ không phải lái xe Dream như Phong Linh. Nơi đến là một biệt thự sang trọng, đèn đuốc sáng trưng, trên đường nào Jen không rõ nhưng chắc chắn là trong thành phố, khu sang trọng gần hồ con rùa.



Khoảng hơn ba chục trai thanh gái lịch ngồi trong cái phòng khách rộng rinh và trang hoàng bằng toàn thứ đắt tiền từ salon, Grand piano đến tranh treo tường. Gia nhân là bốn người, hai đàn ông, hai đàn bà ăn mặc sạch sẽ bưng rượu, juice, bánh mặn, bánh ngọt, chả quế, giò, nem chua Thủ đức, chả giò, gà quay, chim quay, trứng cút, mì xào thập cẩm v.v...không thiếu thứ gì để phục vụ các cô các cậu. Cậu ấm số 1, cậu ấm số 2, số 3 cùng các cô quận chúa 1, 2, 3 v.v... là những cái đinh của buổi họp mặt. Tất cả thư dãn tối đa, cười nói, chí véo, ngay cả hôn hít, ôm nhau tự nhiên. Uống rượu mạnh, champagne, rượu khai vị Martini, ai thích thứ gì tự động, ăn các thức ăn ngon sau đó nhạc đĩa trổi lên thì từng cặp, từng cặp ôm nhau nhảy đầm ngay trên sàn đá hoa bóng loáng.



Cậu ấm số 1 nhìn thấy Jennifer, cậu mê liền, cậu ngồi bên cạnh Jen hỏi han này kia nhưng Jen nghe cậu nói không hiểu. Jen trả lời cậu bằng tiếng Anh, cậu cũng không hiểu. Cậu bảo bồi đi kiếm chị thông ngôn ở phía sau. Tên chị là Vượng. Vượng là tên chồng. Chồng chị mất tháng 4-75, anh vốn là sĩ quan Thiết giáp chế độ cũ. Khi xưa chị Vượng đi dạy Anh ngữ cho các lớp Trung học, nay chị phải vào làm thông dịch viên và kèm trẻ cho gia đình này để kiếm tiền nuôi ba đứa con ăn học. Chị Vượng nghe Jen nói rồi thông dịch lại cho cậu ấm số 1 nghe. Cậu hỏi Jen:

“Cô làm gì ở bên Mỹ?”

“Tôi còn đi học, tôi mới xong High school, sẽ lên Đại học mùa Thu này.”

“Cô định học gì khi lên Đại học?”

“Tôi đã nộp đơn ở nhiều trường, có trường mời tôi đi phỏng vấn để nhận tôi vào học. Tôi thích ra bác sĩ Y khoa nên tôi đã xin vào các trường Y.”

“Cha mẹ cô còn không?”

“Ba tôi còn, má tôi mất rồi. Tôi từ Mỹ về Sài gòn với ba và em trai tôi.”

“Tôi mới gặp cô nhưng thích cô lắm. Cô có cần gì sự giúp đỡ của tôi không, cô muốn gì tôi cũng chiều cô được vì tôi là cậu ấm số 1, ai cũng phải sợ tôi.”

“Tôi không cần gì cả. Xin cám ơn.”

“Tôi muốn cưới cô làm vợ, cô nghĩ sao?”

“Tôi còn phải học. Tôi chưa dám nghĩ đến chuyện đó, vả lại còn phải tuỳ ý ba tôi nữa.”

“Thời nay cách mạng không cổ hủ như trước kia. Thích nhau thì lấy nhau, cần gì cha mẹ, các ông bà ấy đã già, biết gì về người trẻ như tụi mình.”

Jen trả lời cô không có ý kiến về câu hỏi này. Jen định cho cậu ấm một bài học, rằng không phải ai già cũng lẩm cẩm. Già lẩm cẩm như bố Jen nhiều người mong không được nhưng chị Vượng bảo Jen nói với cái quân này thừa hơi mà nói. Chúng đã chẳng hiểu mà còn thêm thù oán. Cứ im lặng là hơn. Chúng đang nắm quyền nên tưởng là muốn làm gì cũng được!



Cậu ấm hơi ngà ngà bảo Jen ra sàn nhảy nhưng Jen nói Jen không biết nhảy, cậu bảo điệu sì-lô ai mà chả biết, cứ nhịp nhịp chân theo điệu nhạc nhưng Jen nói không quen. Cậu hứng chí nắm tay Jen nhưng Jen hất ra, đòi Phong Linh đưa về nhưng Phong Linh đang khiêu vũ với một anh con trai. Dứt bản nhạc, Phong Linh chạy lại chỗ Jen với một ly nhỏ Martini trên tay, trao cho Jen:

“Uống một tí cho vui. Ra nhảy cho dạn, cho mình nhảy vài bản nữa rồi mình đưa về. Gái Hoa Kỳ về nước thua gái Sègòn sao?”

Jen biết phải chiều Phong Linh chứ không thể về ngay, nên bảo Phong Linh:

“Ừ, thôi được. Nửa tiếng nữa nhé!”

Để chữa thẹn vì cú hất tay vừa rồi, cậu ấm số 1 dắt Phong Linh ra sàn vì bản nhạc Cha cha cha vừa bắt đầu. Những cô con gái trong phòng này, bất biết bồ của ai, hễ cậu muốn nhảy là nhảy, muốn ôm là ôm, những anh bồ cũng như những cô gái không ai dám trái ý. Năm ngoái một anh kéo tay bồ lại không cho ra sàn nhảy với cậu, cậu bắn trọng thương xuýt chết. Tự đó, anh nào chị ấy như rắn mồng năm, thấy cậu là cứ len lét.

Chị Vượng ruột đánh sóng vì mấy đứa con ở nhà không biết giờ này đang làm gì nhưng cậu ấm chưa cho xuống nhà dưới nên chị Vượng phải ngồi lại ngó người ta nhảy để lỡ cậu lại sai thông dịch nữa. Tiếng nhạc thật lớn điếc cả tai. Các cô gái váy mini thật ngắn hoặc quần jean cạp trễ bó sát hở lưng, hở rốn. Phần trên thì áo hai giây, có cô chỉ mặc nịt ngực khoe hai trái tuyết lê mới đi mỹ viện “nâng cấp.” Hai, ba cặp đứng trong góc tối ôm nhau chứ không nhảy, thỉnh thoảng tiếng đứa con gái lại cười ré lên. Chỉ còn hai người ngồi với nhau, Jen hỏi chị Vượng:

“Anh chàng vừa nói chuyện với em là ai thế?”

“Là con một cấp rất cao, quyền thế lớn lắm và giầu lắm!”

“Chị có thể cho em biết?”

“Em không cần biết hơn, biết hơn chỉ có hại. Cũng đừng nói chị bảo em.”

Jennifer thấy người phụ nữ khá xinh, dễ mến, tuổi mới khoảng bốn mươi, tiếng Anh nói rất khá nên có cảm tình ngay:

“Cho em địa chỉ, bữa nào em lại thăm chị.”

“Nhà chị nghèo lắm, em đến không có chỗ cho em ngồi.”

“Không sao. Giá trị con người không phải do tiền bạc, giầu có mà do tư cách, tài năng và đạo đức.”

“Ai dạy em mà em đã biết những điều đó?”

“Daddy, daddy told me a lot of things!”

“You’ve terrific dad!”

“Yes, I do.”

“How about your mom?”

“My mom has passed away!”

“Sorry. I shouldn’t ask you that question!”

“It’s OK.”

Chị Vượng kiếm mảnh giấy ghi ra đưa Jen:

“Đừng cho ai hay ngoại trừ gia đình em. Chị không muốn ai biết nhà chị.”

Cậu ấm số 1 dứt bản nhạc với Phong Linh. Cậu trở lại với Jen. Chị Vượng và Jen biết ý ngồi im không nói gì với nhau nữa. Cậu cầm một ly Martini trao cho Jen nhưng Jen cám ơn, giơ ly lúc nãy Phong Linh trao cho:

“Thanks. I still have one.”







o0o









Ba cô nữ sinh viên hẹn nhau ở một tiệm mì bên Dakao. Hà đến trước nên giữ cái bàn phía trong có 4 ghế. Chỉ 5 phút, Liên và Đoan Trinh tới. Liên chở Đoan Trinh trên chiếc xe Wave của mình.

Liên và Đoan Trinh nhìn thấy Hà ngay. Hai cô bảo anh hầu bàn rồi vào thẳng chỗ Hà. Liên nói:

“Ta tưởng phải chờ mi chứ. Hôm nay ngoan thế?”

Hà đáp:

“Ta lấy taxi cho nhanh. Đi xe bus đỡ một tí nhưng hết ngày.”

Liên hỏi hai bạn:

“Ăn gì?”

Anh hầu bàn tới. Hà bảo:

“Tô mì khô, chim rán và trứng cút.”

Anh hầu bàn ghi vào sổ, lại quay qua Liên và Đoan Trinh. Liên nói:

“Mì vịt tiềm, cải bắc thảo, bánh tôm.”

Đoan Trinh:

“Cũng vậy.”

Anh hầu bàn đi rồi, Liên bảo hai bạn:

“Như vậy là tao đã sắp xếp xong cho hai đứa tụi bay rồi nhé. Còn riêng tao thì phải chờ vài tuần. Bà cô tao đã gọi điện, bà ấy vào rồi bà sẽ lo cho tao.”

“Bao giờ bà ấy vào?”

“Tao đang mong đây. Chắc không lâu đâu.”

Hầu bàn bưng ba tô mì tới. Ba cô sinh viên lấy đũa, muỗng cắm trong ống, bắt đầu ăn. Liên bảo:

“Ta nhắc lại cho tụi bay nhớ, khi có tiền một cái là phải nhớ ngay đến phần của cò, gọi cho tao để tao đến lấy hoặc tao sai người của tao đi. Chúng mày cũng đừng quên báo cáo cho tao biết tình hình, nếu vợ lớn nó có làm quá thì biết đường mà đối phó. Cứ câm ngâm ngẩm đến lúc có chuyện gì thì ráng lo một mình.”

Hà nói:

“Tụi tao phải báo cáo cho nhà ngươi chứ. Làm việc gì cũng phải có bạn, có phe cánh mới êm xuôi được.”

“Mi nói rất đúng. Ráng mọi chuyện cho êm thấm.”

Bữa ăn đã xong, ba cô sinh viên đứng lên, Liên ra két trả tiền, để lại “boa” khá khá.



o0o









Người cô họ của Liên là bà Đượm. Bà Đượm gọi bố Liên là anh con ông bác, tức anh em thúc bá. Bà Đượm khi xưa đã hoạt động nhiều năm tại vùng Việt Bắc và cả Lào Kay, Cẩm phả, Móng cáy giáp biên giới với Tàu. Nhờ nhanh nhẹn, tháo vát và biết đi đúng lề phải, có thời gian bà Đượm được cử làm Cục Phó Quân Nhu ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng. Bà không đẹp gái nên đường chồng con muộn màng. Sau ngày miền Nam sụp đổ, mãi gần cuối năm 1976 bà mới vào Sàigòn bằng con tầu Thống Nhất, không với tư cách Cục Phó vì bà đã mất chức nhưng vẫn là một cán bộ cấp cao còn một số quyền lợi được ăn theo.



Người anh bà Đượm, ông Dường nguyên là bộ đội phục viên, đã vào Sàigòn từ tháng 6 năm 1975 vì ông hối hả muốn vào xem Sàigòn ra sao sau 21 năm dưới chế độ khác hẳn ngoài Bắc. Trước năm 1954, vì có nghề lái xe hơi, ông Dường đã vào Sài gòn kiếm việc làm, được ít lâu ông lại trở ra Bắc và xung vào bộ đội. Chính vì đi bộ đội mà ông Dường không di cư vào Nam được mặc dù ông muốn đi vì nghe nhiều người nói chế độ trong Nam tự do dân chủ, làm ăn dễ dàng chứ không khó khăn và nghèo mạt như miền Bắc. Giá như đơn vị của ông được về Hà Nội sau 20-7-1954 như nhiều đơn vị quân đội khác thì có lẽ ông đã liều đảo ngũ rồi xuống tầu vào Nam vì lúc đó ông chưa lấy vợ, độc thân đi đâu cũng dễ. Nhưng đơn vị của ông lúc đó lại được lệnh lên đóng ở Cao bằng chịu trách nhiệm ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng nên ông không cách gì tìm đường ra Hải Phòng vì chỉ Hải Phòng mới có tầu há mồm chuyển người ra quân vận hạm đưa người di cư vào Nam.



Nghe người ta đồn trong Nam đói kém, ăn toàn thức ăn của ngựa là bobo, ông Dường bỏ vào cái bao tải (dùng đựng gạo) ba lon sữa bò gạo để mang vào cho ông anh thúc bá là Đại Uý VNCH Bùi ân Nhân. Người ta còn nói trong Nam không có cái bát mẻ mà ăn, phải dùng vỏ dừa khô cưa đôi làm bát nên ông Dường hừng chí bỏ vào bao thêm ba cái bát đàn do Bát tràng làm. Ông nghĩ ông Nhân nhìn thấy gạo và bát sẽ sáng rỡ mắt vì miền Bắc sung túc quá, sẽ hối hận đã vào Nam di cư năm 1954 mất cả một cuộc đời.



Sau 30-4, ông Nhân cũng phải đi trình diện học tập trong nhà tù cải tạo nhưng ông được ra sớm sau 16 tháng vì ông bị bệnh, tuổi lớn, vả lại ông đã giải ngũ gần chục năm rồi.



Ông Nhân gia nhập quân đội Quốc gia ở Hà Nội từ thời Quốc trưởng Bảo Đại nhận nước Việt Nam độc lập từ tay Tổng thống Pháp Vincent Auriole năm 1949. Nhận chức Cố vấn cho chính phủ Liên Hiệp từ sau ngày 19-8-1945, vua Bảo Đại để lại câu nói bất hủ: “Thà làm công dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”

Sau đó vua Bảo Đại đi công tác ở Hồng Kông rồi tự ý ở lại, không về. Ông đã nhìn thấy những gì khác lạ nơi chính phủ Liên hiệp do ông Hồ chí Minh làm chủ tịch. Quả thế, chính phủ Liên hiệp (các đảng phái) và cả Quốc hội cũng giải tán sớm để thành lập một chính phủ và Quốc Hội hoàn toàn của Cộng sản. Vua Bảo Đại, do lời mời của Tổng Thống Pháp, đứng trong Khối Liên Hiệp Pháp, lập chính phủ và Quân đội cho phe Quốc Gia để chống với phe kia.



Ông Dường đi tầu thuỷ từ quê lên Hà nội, rồi từ Hà Nội ông đáp tầu Thống Nhất vào Nam. Tiền bạc không sẵn lại vốn tính dè sẻn, ông Dường lấy vé hạng tư là hạng chót dành cho hành khách.

Khi bước lên xe lửa vào toa xe, mắt ông tối sầm vì chẳng nhìn thấy gì, có lẽ do vừa từ ngoài ánh nắng chói chang vào. Đứng một lát cho mắt quen, ông mở mắt nhìn thấy toa xe ngổn ngang người là người. Đa số ngồi, chỉ có dăm người nằm, mắt nhắm nhưng không biết phải ngủ hay thức vì nóng và ngộp hơi thế này dễ gì ngủ được? Người ngồi trên ghế, trên sàn tầu, trong góc kẹt. Một anh mặc quần áo xanh bộ đội nằm trên cái võng ngáy như kéo gỗ, mồm anh ta há hốc, từng dòng rãi từ mép chảy xuống lưng một bà già nằm dưới. Góc kia, một ông già cũng nằm trên võng, vái khăn mặt đen đúa che từ trán xuống qua cằm. Hai chị có con nhỏ đang dỗ dành con vì chúng khóc mãi, kế bên là hai anh chồng mở thao láo mắt nhìn vợ con, một anh thỉnh thoảng lại chửi thề bâng quơ:”Đ. mẹ ló, ló nhét ông vào cái toa người ngồi lứt da ra thế lày thì chắc gì ông vào tới Sègòn.”



“Ló” đây có lẽ là anh xếp chỗ. Xếp chỗ cứ nhìn vé mà xếp chứ xếp khác sao được. Vé hạng tư chỉ có vậy. Không đi thì lên cho được việc.

Ông Dường đứng nhìn chán rồi cũng phải kiếm chỗ. Ông bước qua một người đàn bà đang nằm, không may dẵm phải tay mụ ta, mụ la chói lói:

“Sư bộ đựa nào dặm lên tay bà đau thậu xương, mặt mù hay sao? Còn dặm nựa là bà tệ mồ tổ mi cho đện khi vào Sègòn!”

Ông Dường có chạm chứ không dẵm lên, ông nhớ thế mà sao mụ đanh ác vu oan giá hoạ vậy. Ông rán bước qua một đứa nhỏ và mẹ nó để vào trong giữa. Ông chỉ sợ lọng ngọng té xuống đè vào đứa nhỏ thì nó gẫy xương nhưng may ông bước qua được. À, kia còn một chỗ. Ông len tới, ngồi xuống thở vì dùng sức không mấy nhưng dùng trí óc nhiều. Khi ông ngồi xong mới nhận ra mình ngồi ngay dưới cái võng của anh lính mình đã nhìn thấy cơ nãy. Thôi kệ, kiếm được chỗ này đã là tốt chán. Ông có mua mấy cái bánh nếp ở ga Hàng cỏ, ngồi đàng hoàng rồi, thấy đói, ông bóc một cái bánh, cắn ăn, cảm thấy rất thoải mái.

Hành khách vẫn tấn lên ào ào. Cả vài ba chục người đứng ở chỗ lúc nãy ông Dường đứng. Họ đứng lâu hơn ông để nhìn vào bên trong toa tầu, kiếm chỗ. Chẳng còn chỗ nào hở. Một anh cậy ta là bộ đội bước bừa vào kiếm chỗ vì đứng đã quá lâu. Không may cho anh ta dẵm lên tay (hay đụng nhẹ) vào mụ đàn bà ông Dường đụng lúc nãy. Chị ra ré lên ngay như quả mìn Claymor bị kích hoả:

“Tộ sư cha mi. Tay bà chự cọ phải cại lội đi của mi đâu mà mi cự tay bà mi dặm. Tộ sư cha thằng lợn con bẹ không biệt trạnh tay bà ra...”

Mụ cứ thế mụ đào cha bới ông đứa đã dẵm lên tay mụ. Anh lính bộ đội đã vào đến bên trong, anh ta quay người lại:

“Lè con mụ khốn lạn kia. Tao là bộ đội biên phòng, dù tao có lỡ đụng vào tay mụ một chút, mụ không được phép chửi hỗn như thế. Xuống đến ga có công an sắc phục, mụ sẽ biết thân!”

Ý chừng mụ sợ bộ đội và công an, mụ im thin thít.



Tầu Thống nhất vào đến Sàigòn khoảng 8 giờ sáng. Ông Dường hân hoan khoác cái bao tải lên vai, kiếm lối xuống. Nhà ga rộng rãi và đẹp quá, ông khen thầm. Vừa ra đến lề đường, hai, ba anh lơ xe bu lại:

“Chú đi đâu? Chú lên xe cháu?”

Ông Dường gạt hai ba anh này ra rồi tìm cách băng qua đường. Ông không có nhiều tiền nên không dám gọi xe nào hết, ông định hỏi thăm rồi cuốc bộ.Vào một cửa tiệm bán quần áo trẻ con phía bên kia, ông hỏi thăm đường về khu Bàn Cờ. Người đàn bà chủ tiệm nói ông không quen đường có chỉ cũng không đi tới, có khi bị lạc còn mệt hơn, ông nên thuê một chiếc xích lô hay taxi.

Ông Dường kiếm một bác xích lô đạp, mà cả về khu Bàn cờ. Ông bấm bụng lên xe vì e cuốc bộ kiếm không thấy như lời chị chủ tiệm bán quần áo.

Bác phu xích lô rướn người đạp trong khi ông Dường ngắm phố xá. Nhà hai, ba, bốn tầng đâu mà nhiều thế! Đường xá rộng rãi, sạch sẽ, xe hơi và xe gắn máy nhiều chứ không như Hà Nội, toàn xe đạp. Người đi đuờng ăn mặc cũng đẹp hơn Hà Nội, ông Dường chợt nhớ lời bác và đảng bảo người trong Nam đàn ông đàn bà đều có một cái đuôi vì họ đói quá phải giết thịt trẻ con ăn, ăn lắm trẻ con nên mọc đuôi ra. Ông nhìn kỹ sau lưng họ, ông lẩm bẩm chắc họ giấu trong quần! Ông muốn hỏi chuyện bác xích lô nhưng ngại không biết có nên không?

Xe xích lô thắng lại, bác xích lô nói:”Tới rồi.”

Ông Dường mở gói giấy báo lận trong lưng quần lấy tiền trả bác xích lô xong lật đật vác cái bao bố đi vào ngõ hẻm, ngoài có biển: Hẻm 156 Bàn Cờ. Đúng đây rồi, tên con hẻm này ông đã thuộc từ lúc lên tầu Thống Nhất. Đi sâu ,ãi vào trong hẻm rồi ông cũng kiếm được số nhà. Cái số nhà này chính là nó. Ông Dường đứng nhìn căn nhà ba tầng, ông nghi hoặc có lẽ đâu anh Nhân có cái nhà lớn lao như thế này sao? Nghe nói anh ấy nghèo lăm cơ mà. Có đứa nhỏ khoảng 15, 16 tuổi đi ngang qua, ông Dường chận nó lại hỏi:

“Này cháu, cho bác hỏi thăm, có phải nhà này là nhà của ông Bùi ân Nhân không?”

Con bé đáp:

“Cháu chỉ biết là nhà của Đại Úy Nhân, còn họ cháu không biết.”

“Thôi đúng rồi,” ông Dường lẩm bẩm, quên cả cám ơn con bé, “nhà anh ấy đây rồi!”

Ông hồi hộp đứng trước cửa, gõ cửa. Một người đàn bà ra mở.

“Xin lỗi bà, đây có phải là nhà ông Bùi ân Nhân?”

Người đàn bà trân trối nhìn ông Dường rồi la lên:

“Có phải chú Dường?”

Ông Dường bấy giờ cũng nhận ra giọng người chị dâu đã từng nói chuyện với ông trên điện thoại.

“Thưa chị, em đây. Anh đâu chị?”

“Nhà tôi đi công chuyện, sẽ về giờ. Mời chú vào trong nhà!”

Ông Dường thấy nhà sang quá, nhìn lại bộ quần áo của mình tồi tàn, ba hôm đi tầu chưa thay, hôi hám quá.

“Mời chú ngồi. Để tôi lấy nước chú uống kẻo khát.”

Ông Dường không dám ngồi mạnh trên cái ghế sa-lông gỗ trắc nâu khảm xà cừ. Ông đảo mắt nhìn xung quanh phòng khách. Tủ trưng bày đồ quý, đôn, ghế, cái quạt điện đứng cao đến ngực người đang chạy vù vù. Một bức hoạ lớn treo tường ngay chính giữa vẽ cảnh xuân với hoa đào, chim, bướm. Ngắm chõ nào o6ngh Dường cũng thấy đẹp mắt mà cả đời ông chưa hề thấy.

“Chú dùng ly nước cam vắt cho mát.” bà Nhân bảo.

Ông Dường đang uống ly nước thì ông Nhân cùng cô con gái về.

“Chào anh Nhân. Em là Dường vào thăm anh chị, các cháu.”

Ông Nhân tiến đến ôm lấy người em họ.

“Cảm ơn chú còn nghĩ đến chúng tôi. Tôi đề nghị thế này, chúng ta còn nhiều thì giờ trò chuyện. Chú đi từ Bắc vào đây ngồi tầu cũng mệt, chú lên lầu tắm rửa cho mát, sau đó xuống ăn cơm rồi chúng ta rỉ rả nói chuyện.”

Từ lúc vào, ông Dường thấy mang ba lon gạo với ba cái bát sành cho anh là sai rồi. Họ khá giả lắm chứ có đói khổ như ngoài Bắc tuyên truyền đâu. Giờ sao đây với hai món đó.

Ông Nhân quay qua thấy cái bao tải, hỏi:

“Cái bao gì của chú đây?”

Ông Dường ngượng ngập:

“Có một bộ quần áo của em với....với mấy lon gạo và ba cái bát đàn em định đem biếu anh chị vì ngoài Bắc nói trong Nam không có gạo, toàn ăn bobo, cũng không có cái bát mẻ, toàn cưa gáo dừa làm bát!”

Vợ chồng ông Nhân cười ngất:

“Chú không nhớ miền Nam là vựa lúa của Đông Nam Á à? Tụi tôi đói phải ăn bobo thì nhiều nơi khác phải ăn củ chuối hay ăn thịt người.”

Ông Dường chợt nhớ ra:

“Thưa anh chị, tha lỗi cho em. Họ nói trong Nam người nào cũng có một cái đuôi vì đói quá ăn thịt trẻ con mà mọc đuôi. Có thật không anh chị?”

Ông bà Nhân lại cười sặc sụa:

“Làm gì có chuyện đó! Chú chớ nghe đồn nhảm!”

Ông Dường tính nói không phải đồn nhảm đâu mà có trong tài liệu học tập đàng hoàng nhưng lại ngại nên im luôn.

“Để cháu dẫn chú lên lầu tắm rửa cho mát đã.”

Ông quay gọi thằng con:

“Nhượng đâu, dẫn chú lên lầu chỉ phòng tắm cho chú. Lấy cái khăn bông mới trong tủ đưa chú.”

Ông Dường mở bao tải lấy bộ quần áo đẹp nhất mang đi từ nhà. Bộ quần áo giở ra, một mùi khai nhức mũi bay lên làm ông chun mũi lại. Chẳng biết đứa phải gió nào trên xe lửa đái vào bộ quần áo, ướt lan cả sang gạo. Có lẽ hai người đàn bà có hai đứa nhỏ khóc ra rả nằm gần ông. Ông Nhân cũng ngửi thấy mùi khai. Ông nhanh trí:

“Quần áo đi tầu dễ hôi hám lắm vì đi ba ngày đường. Để chị bỏ máy giặt, cháu lấy pyjama của tôi, chú mặc đỡ.”

Khi ông Dường từ nhà tắm xuống với bộ pyjama mới và đôi dép Nhật, trông ông đẹp hẳn ra và trẻ trung dăm bảy tuổi. Ông bảo ông Nhân:

“Anh có làm cái hồ nuôi cá trê nhưng hơi bé một chút. Bằng đó chỉ thả được dăm con, anh làm to gấp ba thì thả được 15 con tha hồ ăn. Nhà em ở Bắc cũng có ao thả cá trê ăn quanh năm.”

Bà Nhân ngạc nhiên:

“Nhà tôi làm gì có hồ thả cá đâu chú?”

“Giữa phòng tắm đấy thôi, men sứ trắng và cao cỡ này này.” Ông Dường giang tay làm cỡ.

Ông Nhân bảo:

“Cái bàn cầu đấy chú, không phải để nuôi cá trê đâu!”

Ông Dường thẹn đỏ mặt, ông chữa thẹn:

“Trời ơi, trong Nam phí của quá. Cái bồn men sứ trắng tinh vậy lại làm bàn cầu. Phân Bắc, nước tiểu, người ngoài Bắc không phí đi đâu tí nào, đem bón rau, bón lúa, tốt như thổi. Đây lại chôn đi thế thì lấy gì mà bón lúa?”

“Người ta có phân hoá học đấy chú. Thôi, chú ngồi đây dùng cơm!”

Những cái bát Giang tây men trắng tươi, những cái dĩa Pháp, dĩa Nhật thật đẹp làm ông Dường lại nhớ đến ba cái bát đàn của mình, ông đã cố ôm theo giờ nghĩ lại còn thấy mặt nóng bừng!



Xuân Vũ Trần Đình Ngọc


(tiếp theo- 6)

TUỔI ẤU THƠ

Người ta thường nói: “Mở mắt chào đời” hoặc “Cất ba tiếng khóc chào đời”. Trường hợp tôi ra đời thì ngược lại! Tôi đã...“nhắm mắt chào đời” và...cười sằng sặc khi ra khỏi bụng mẹ!

Chuyện bịa?

Không! Thật trăm phần trăm.

Mẹ tôi kể lại tôi ra đời không bình thường. Con “đường ra” đúng là “ra...khỏi bụng”! Tôi vì to con quá (gần 4 kí-lô), mà lại là con đầu lòng, nên người ta phải mổ để “bứng” ra sau cơn trở dạ của mẹ tôi kéo dài hơn mười tiếng đồng hồ! Tôi ra đời “mắt nhắm nghiền, miệng phát ra tiếng sằng sặc như tiếng cười”, có lẽ do bị nghẹt thở, chứ không phải tiếng khóc!

Hơn thế nữa, miệng tôi lại có sẵn hai cái răng cửa!

Tiếng cười ở cái miệng có sẵn răng cửa của một thai nhi trở thành công dân Anamít ngày 24 Septembre 1927 sau này được họ nhà Tô bảo rằng tôi đã cất tiếng “cười ngạo nghễ chào đời!” Hai cái răng này mãi 4 năm sau mới chịu rụng để tôi bị mang hai tiếng “Hải sún”! Khi răng mọc hai cái mới, vừa to vừa dài khác thường thì tôi lại bị đổi tên thành “Hải hô”, “Hải mỡ” vì tôi to béo cũng quá khổ. Những năm sau này, người nào yêu tôi thì gọi là “răng duyên”, người ghét tôi thì gọi là “răng nhai”, “răng đớp”.

Tôi được cứu sống nhờ những cú phát thật mạnh vào mông mới chịu cất tiếng khóc. Phải chăng đó là điềm gở vì kể từ lúc trở thành “công dân của xứ bảo hộ Bắc Kỳ” cho tới sau này, tôi luôn bị “ăn đòn” mới sáng mắt, mới chịu khóc! Thằng quỷ sứ là tôi ra đời đúng 5 giờ 10 phút tại nhà thương hàng Đồng, Hà Nội và ra đời như vậy đó!

Tờ khai sinh bằng tiếng Tây gọi là Acte de naissance với các mục ngày sinh, tháng đẻ, tên cha, tên mẹ, tuốt tuột đều bằng tiếng Pháp, tôi còn giữ một bản trong ba lô mãi những năm đã thành anh Vệ Quốc Quân. Chính cái tờ khai sinh nửa Tây, nửa ta này một lần đã làm tôi suýt mất mạng vì mang nó trong ba lô và bị những người có tinh thần cảnh giác cách mạng cao phát hiện, tưởng là truyền đơn tiếng Pháp. Cũng may là trong đám kiểm tra hành trang của tôi trước lúc vượt đường số 5 lại có một ông chỉ huy nguyên là đội khố xanh biết nó là loại giấy gì. Nếu không, tôi đã bị mấy ông nông dân răng đen cho đi “tầu suốt” như những cô gái, những ông già bị chết oan uổng vì chạy tản cư ngày đầu kháng chiến lại mang theo cả “livret scolaire”- học bạ, mặc áo, đi tất có ba màu xanh-trắng-đỏ: cờ Pháp!

Tôi nhớ rõ tham mưu trưởng chiến khu III Vũ Hiển lúc ấy đã nói “Thà giết lầm 10 người còn hơn để lọt một tên Việt gian”! Tất nhiên, ông tham mưu trưởng của tôi không phải là người sáng tạo ra cái khẩu hiệu ghê rợn đó. Ông chỉ nhắc lại lời các lãnh tụ của ông mà thôi. Đó là cái rùng mình đầu tiên trong ngàn vạn cái rùng mình sau này suốt quá trình tôi đi theo cách mạng!

Trở lại chuyện tôi ra đời, to như Tây, khai sinh nửa Tây nửa ta, và nghe kể lại, khi đón tôi về nhà có cả kèn bú-dích ([1]), vì nhà tôi ở phố Bảo Khánh đang inh ỏi tiếng kèn đón ông vua con Bảo Đại ([2]) ra Bắc Kỳ du hành quanh hồ Hoàn Kiếm!

Bản nhạc đầu đời tôi được nghe, như thế, là một bản kèn Tây do lính ta thổi, có mặt cụ Đinh Ngọc Liên ([3]) nổi tiếng sau này và ông Tây Camille Parmentier chỉ huy!

Chẳng hiểu bố tôi có quá đề cao thằng quí tử không khi đã hơn một lần khoe với bạn bè: “Thằng Hải nhà tôi nó có “bông-gu” ([4]) âm nhạc từ lúc mới đẻ! Cứ nghe nhạc bên nhà kèn nổi lên là nó khóc ré đòi bế đi nghe!”

Môi trường âm nhạc đầu đời này còn ảnh hưởng mãi trong tôi từ lúc nằm nôi cho tới khi biết ê a tiếng hát. Đó là nhờ bên phải nhà tôi có Nhà Thờ Lớn, bên trái có ki-ốt hoà nhạc hàng tuần của dàn nhạc harmonique quân đội, đằng sau là phố hàng Trống với tiếng bung, bung, cắc, cắc ... của những bác thợ sản xuất trống, cứ gõ đều đều không nghỉ từ sớm tinh mơ đến tận chiều tối.

Sự ra đời của tôi không được bà nội tôi (ông nội đã mất trước khi có cháu) và họ hàng hoan nghênh. Ít người thăm hỏi. Tất cả chỉ do lời dèm pha: “Thằng Hoàn, con Nhung (tên bố mẹ tôi) sinh ra quái thai”

Chả là bố tôi đã có vợ và một con trai ở quê, kết quả của một vụ tảo hôn nghe đâu kéo dài hơn 10 năm, từ khi bố tôi mới lên 8. Rồi bố tôi trốn khỏi thôn Thượng Phúc, xã Đại Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình để làm con nuôi một ông cậu ruột, bố đẻ của ông Nguyễn Hữu Trí, tổng trấn Bắc phần Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1945-1954. Gia đình ông cậu “thối không chịu được”, theo cách nhìn của bố tôi. Chính vì vậy, bố tôi đã mang trong đầu tư tưởng ghét Pháp từ rất sớm, nhất là ghét những người vào làng Tây!

Mãi sau này, lúc bà nội tôi qua đời, tôi mới được chứng kiến cái “thối” ấy nó ra sao. Đưa ma bà có đủ Tây trắng, Tây đen, Tây lai và rất đông con cháu...Tầu nữa. Thì ra ông cậu ruột của bố tôi, khi làm tham tá đầu toà đã lấy một bà vợ Tây. Bà này có con với một ông thống sứ chết trận cát-tó đít-duýt! (I914-I918) nên ông nuôi luôn con ông thống sứ (tôi phải gọi là chú Albert), thêm cả đứa con của ông thống sứ “nhặt” được ở Marốc mà tôi chỉ gặp một lần nhưng vẫn nhớ tên là Mahomed. Ông tham và bà vợ cũng như mấy người con đều giữ tên ta nhưng vào làng Tây, hàng ngày nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Tây. Còn họ hàng người Tầu là do bà nội tôi có bà em ruột lấy một ông xì thẩu chính gốc Quảng Đông. Bố tôi hay chửi cái thói nô lệ Tây nhưng ông cũng tự thấy sở dĩ ông nói được tiếng Tây như Tây chính là nhờ những năm tháng nửa làm cháu, nửa làm gia sư, nửa làm đầy tớ ở nhà ông cậu ruột “đờ-mi Tây” này. Tuy nhiên, về tình cảm họ hàng rõ ràng ông yêu cái phía họ hàng Tầu hơn họ hàng Tây rất nhiều.

Với cái nhìn hôm nay, bố tôi đúng là sản phẩm của một nền văn hoá tả pí lù. Đỗ đíp-lôm xong, được bổ nhiệm tại nhà Dây Thép ([5]) Hà Nội là ông làm ngay cuộc cách mạng đầu tiên: Không báo cáo gì với bà nội tôi, ông lẳng lặng làm lễ thành hôn với mẹ tôi, một cô đỡ Đông Dương (sage femme Indochinoise) khoá đầu tiên. Hậu quả của hành động vượt ra ngoài khuôn phép là ông phải chịu sự ruồng bỏ của họ hàng, của mẹ đẻ.

Khi tôi lên mười, bà nội tôi mới chịu ra thăm con, thăm cháu và đúng dịp hoà thuận với con cháu ấy, cụ đã từ trần ngay tại nhà đứa con trai độc nhất là bố tôi.

Tôi rất ít được sự săn sóc của cha mẹ vì cả hai đều là công chức, đi làm suốt ngày. Tối, mẹ tôi còn phải “gác”, chưa kể những ca đẻ khó, “bà đốc” bị gọi bất kể giờ nào. Bố tôi thì là một tín đồ của chủ nghĩa yêu nước, yêu dân tộc... không định hướng! Ông rất coi trọng các giá trị văn hoá dân tộc, coi trọng mọi lễ nghi truyền thống. Do được học và đọc khá nhiều, ông rất hiểu cái nhục mất nước. Tuy nhiên, ông không tin bất cứ tổ chức chính trị nào. Tôi còn nhớ khi biết ông bác ruột, Tô Đình Hoè, “làm cộng sản”, viết báo Le Travail ([6]), ông đã tiên đoán: “Cộng sản là cái mà thằng Tây ghét nhất! Rồi đi Côn Lôn cho mà coi!” Quả như thế! Bác Hoè tôi bị bắt và bị đưa đi đâu không biết! Tới ngày Cách Mạng Tháng Tám, bác trở về thành người mất trí sau nhiều năm nằm cát-xô ([7]) ở các nhà lao Sơn La, Côn Đảo. Và bố tôi, cho tới mãi sau này vẫn phàn nàn: “Chẳng có đảng nào xứng đáng để đi theo cả!” Ông là cả một khối mâu thuẫn lớn. Buổi trưa, ông mặc áo the thâm, đầu đội khăn xếp, xì xụp một bước tiến hai bước lùi trước bàn thờ tổ, dạy tôi cách khấn vái, thắp nhang. Buổi tối, ông mặc bộ đồ Tây do Charles Mau’s - Chu Mậu cắt, đeo cà vạt Nicky, xức nước hoa Lanthéric đi nhảy đầm!

Ông cũng là một “nhạc công toàn diện” về nhạc cụ dân tộc. Trên tường phòng khách nhà tôi là cả một bộ sưu tập về đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tứ, sáo, tiêu, nhị, hồ... cái nào cũng khảm sà cừ, lủng lẳng cái tua đỏ. Ông có thể ngồi rung đùi chơi tất cả mọi nhạc cụ đó. Có lẽ tôi mê nhất là cây đàn một dây mà ông chỉ gảy một tiếng rồi nắn ra không biết bao nhiêu nốt. Những lúc ấy, ngồi bên ông, tôi trố mắt ngạc nhiên rồi cười thích thú, thỉnh thoảng lại đưa tay bịt ngay dây đàn để ông nổi cáu mắng yêu: “Yên nào, để bố đánh cho mà nghe”!

Khiếu âm nhạc của tôi thực sự phát triển khi một hôm, bố tôi thuê xe kéo, chở về một máy hát quay tay cùng một đống đĩa nhựa, to, nhỏ. Tôi chỉ mong chóng đến tối vì cơm nước xong là bố tôi thường vặn máy hát.

Ôi, cái tiếng hát qua diagphrame nheo nhéo tiếng kim sắt lúc bấy giờ, hấp dẫn tôi làm sao! Có điều bố tôi mua quá nhiều đĩa cải lương, một món hoàn toàn không hợp khẩu vị tôi tí nào. Đã thế, vở nào cũng dài năm sáu đĩa! Nào là Tội Của Ai, Xử Án Bàng Quí Phi, Huyền Châu Nữ ... với các giọng ca Năm Phỉ, Tư Chơi, Tư Út, Tư Anh, Năm Sang, Bảy Nhiêu... mà tôi rất ngán. Tôi chỉ mong nó chóng hết cho rồi, để bố tôi cho “ăn xen” mấy món “Dè-đơ-dà-múa” (J’ai deux amours), “Actuya” (Arthur), “Cằng-tông” (Quand on est matelot)([8])... Những lúc ấy, có ai rủ đi chơi, tôi cũng không thể rời cái máy Bê Ka (Béka) tuyệt vời đó.

Cho đến một hôm, trong một bưu kiện từ Pháp gửi đến –– bố tôi thường đặt mua theo các cuốn mẫu hàng ––có một chồng đĩa hát thật to, loại 78 vòng/phút. Một thế giới âm nhạc hoàn toàn mới lạ đã mở ra trước mắt tôi. Đó là các bài hát tiếng Pháp của Rina Ketty, của Joséphine Barker, Tino Rossi ([9]), các bản độc tấu, hòa tấu của các nhạc sĩ lừng danh Schubert, Beethoven, Chopin, Liszt, Strauss ([10])... Khả năng của cái máy quay tay lúc ấy chỉ có thể đọc những đĩa 78 và tôi được làm quen ngay từ tuổi lên 5, lên 7 các tiểu phẩm ngắn hoặc trích đoạn ouverture, rhapsodie của các tác giả cổ điển mà tôi sớm thuộc lòng. Một tác phẩm lớn duy nhất thu trong hai đĩa 78 có đến gần 50cm đường kính cũng về với chuyến hàng này. Đó là bản “giao hưởng chưa hoàn thành” của Franz Schubert. Tôi chỉ thấy bố tôi đặt lên máy một lần duy nhất. Tôi giương tròn mắt lắng tai nghe, nhưng sao thấy nó dài quá, khó nghe quá và...chán quá! Thời ấy, bố tôi có lẽ cũng “nghe nói” người ta đã thu thanh Symphonie Inachevée ([11]) vào đĩa nên ông đặt luôn để tỏ ra mình trí thức hay để cố tìm hiểu một tác phẩm mà ông đã nghe nói, đã đọc đâu đó mà chưa có dịp tìm hiểu, tôi không rõ.

Tuy nhiên, điều rõ ràng là dù trân trọng nó như thế, sau khi lau chùi bằng tấm vải flanelle màu vàng, ông đã xếp nó vào tủ sách, cạnh những Horace, Les Misérables, Comédie Humaine, Polyeucte, Le Cid ([12])... để chẳng nghe thêm lần nào nữa.

Tôi cũng chẳng thích thú gì những thứ khó hiểu đó. Đỉnh cao âm nhạc của tôi lúc ấy là Rêve d’Amour của Litz, Sérénata của Toselli, Menuet của Boccherini, Sérénade của Schubert, Tristesse của Chopin ...

Tôi thuộc lòng những giai điệu tuyệt vời này ngay từ khi chưa biết chữ. Tôi bắt đầu thấy ớn những “bài ta theo điệu Tây” cũng như những đĩa hát của Năm Châu, Phùng Há ([13])…Những rung động do âm nhạc tạo ra cho tôi chính là những vốn cổ nước ngoài! Còn lại, tôi chỉ mong sao bố tôi sớm chán mà xếp nó vào tủ cho đỡ khổ tai. Nhưng ông thì không. Ông vẫn say mê vốn cổ dân tộc cũng như tỏ ra thời thượng bằng những tác phẩm ngắn của các tác giả cổ điển, những bài hát đang thịnh hành ở Châu Âu.

Ông còn làm tôi ngượng chín người với những lần mời các danh ca vọng cổ Phùng Há, Tư Chơi, Bảy Nhiêu về nhà tổ chức các buổi ca hát thính phòng, trong đó ông cũng là một cây đàn hoà tấu. Với hình ảnh nhếch nhác của các đoàn cải lương mà tôi chứng kiến từ trên gác nhà tôi (lúc ấy dọn về Khâm Thiên nhìn ngay sang rạp hát Phúc Thắng), tôi không chịu nổi chuyện bố tôi giao du với loại “xướng ca vô loài”, ăn chung ở đụng, thuốc xái, cờ bạc, văng tục ngay dưới chân tôi. Mẹ tôi không bao giờ có mặt ở các buổi liên hoan văn nghệ kiểu ấy. Bà có ấn tượng về “bọn con hát” còn nặng nề hơn tôi. Bà thường nói xa nói gần: “Cẩn thận kẻo rồi bán nhà, bán cửa, bỏ vợ, bỏ con đi theo chúng nó cho mà xem!”. Mâu thuẫn về cái “Hay” cái “Đẹp” nảy sinh ngay trong tập thể nhỏ bé là gia đình tôi để sau này ở các cuộc tranh luận về nghệ thuật tôi luôn khẳng định: “Áp đặt một cái Hay chung cho mọi người là điều không tưởng!”, “Bắt cả nước chỉ được sáng tác và thưởng thức một kiểu, ăn một món, là ngu xuẩn!”

Tôi sẽ kể về những bi hài kịch “văn nghệ phục vụ công nông binh” sau này mà trong đó, tôi là một “tội phạm, đồng phạm kiêm nạn nhân” ở các chương sau...

Trở lại với gia đình tôi.

Bố tôi, dù gì đi nữa đã là người khai tâm cho tôi về thẩm mỹ. Nhưng tôi đã không tiếp thu tất cả vốn hiểu biết của ông. Ông là người mê âm nhạc, nhưng âm nhạc cổ truyền với ông là chủ yếu. Âm nhạc thế giới với ông chỉ là thời thượng (snobisme). Sau này, tôi còn tiếc mãi giá mà biết say mê tiếng đàn bầu, tìm được cái hay cái đẹp trong những điệu hò Huế, điệu lý..., học ở ông cách “kim cổ giao duyên” từ sớm thì tốt biết mấy. Tôi chỉ mê nhạc cổ điển phương Tây, những bài hát bằng tiếng Tây, dù chẳng hiểu nội dung. Những giai điệu đẹp vô cùng của nó đã rung động tâm hồn nhỏ bé của tôi tới mức tôi như mê mẩn.

Tôi vui, tôi buồn và không ít lần, tôi khóc. Khóc khi tự tay mình vẽ những câu nhạc “si, đô, rê, đô, rê, đô, rê, đô, rê”...trong bản Menuet của Beethoven trên cây mandoline. Ôi! Chỉ có hai nốt “đô, rê” nhắc đi nhắc lại rồi đổ xuống cái kết nửa “la son son fa fa la son mi rề”...đã gợi trong tôi biết bao nỗi buồn, cho tôi biết bao tưởng tượng. Một chiều mưa rả rích?...Những bước chân lê trên đường?...Một nỗi cô đơn, lạnh lùng đến vô tận?...

Sao mà âm nhạc có sức truyền cảm mãnh liệt, thần kỳ đến thế! Chẳng cần có lời! Chẳng biết nó ra đời ở đâu! Chẳng biết do ai sáng tác! Lúc ấy làm sao tôi đọc nổi tên các nhạc sĩ Đức, Pháp, Ý. Và sau này, tôi càng khẳng định: Âm nhạc chỉ có Hay và Dở. Chẳng có âm nhạc địch, âm nhạc ta, âm nhạc có lập trường, âm nhạc mất lập trường nào hết. Tất cả nhận thức đầu đời này té ra vẫn là chân lý!

Những gì tôi tiếp thu được từ tấm bé trong gia đình về âm nhạc còn phải kể đến cái tập thể nho nhỏ ở “nhà dưới”. Nó gồm anh bếp Tý, anh xe ([14]) Lạc, vú Hải, vú Hiền, vú Bích và sau này đến vú Nga thì... nông dân không còn ở “nhà dưới” của gia đình tôi nữa! Lý do: Cách mạng đã nổ ra và kiếp đi ở chấm dứt.

Do bố mẹ tôi quanh năm ngày đi làm, tối tiệc tùng, và sau này bố tôi còn rơi vào con đường “xoa” thín cẩu ([15]), mẹ tôi rời nhà thương lại vui hội tổ tôm nên mọi việc trong nhà đều do một nửa tiểu đội người ở đảm nhiệm. Chính các bà vú già, anh bếp, anh xe, vú Hiền, vú Bích (mẹ tôi cứ đẻ xòn xòn vì đẻ xong đã có người nuôi) là những người gần gũi nhất đối với anh em tôi. Nhiều người trong số họ đã để lại cho tôi những ấn tượng khó quên, tạo cho tôi những rung động đầu đời trong lãnh vực “văn nghệ bình dân”. Người tôi nhớ nhất là anh bếp Tý, chủ nhiệm “câu lạc bộ âm nhạc bình dân” mà trụ sở là cái bếp nhà tôi, rộng độ 20 mét vuông, có tường và nền lát gạch men trắng toát. Ở đấy, cứ tối đến, khi bố mẹ tôi vắng nhà, cả đám người ở từ quê ra lại họp nhau trao đổi tâm tình. Tôi không thể quên những chuyện tiếu lâm “tục mà thanh” của anh bếp Tý. Nó gây cười cho cử toạ đến sặc sụa và người kể đôi khi bị mấy bà vú thưởng cho một cái phát nhẹ kèm theo câu: “Khỉ gió cái anh này!”

Anh chỉ cười, nhe đôi hàm răng vẩu và dặn tôi lúc ấy đã 6, 7 tuổi: “Đừng có kể cho ông bà nghe nhé!” Tôi phục nhất cái tài bắt chước mèo đực, mèo cái đánh tiếng gọi nhau, gặp nhau rồi gào lên như sắp phát điên. Từ cổ họng anh, phát ra các tần số âm thanh, âm lượng, sắc thái, tình cảm lúc ngập ngừng, do dự, lúc mãnh liệt, sấn sổ, lúc nhẹ nhàng, êm dịu, lúc bốc lửa, dồn rập để đi tới cao trào!

Sau này, khi học nhạc chính quy, để hình dung được p, mp, sf, conagitato, con fuoco, crescendo, decrescen-do, smorzando, rit, rall, poco a poco.. tôi thường nghĩ đến bài học của anh bếp Tý! Ôi, giá mà anh biết tôi vất vả thế nào khi đánh vật với bài học âm nhạc của ông thầy dòng, thầy Bích: “Moderato là chậm vừa? Allegreto là nhanh vừa? Allegro là nhanh? Vivace là hết sức nhanh?”Nhanh thế nào? Vừa thế nào? Có lẽ chỉ anh bếp Tý là người thực hiện mà chẳng cần học hành ba cái tiếng Ý càng dịch, càng giải thích, càng tối mù và xám xịt lý thuyết!

Trở lại với cái “câu lạc bộ bình dân” ở nhà tôi.

Chính từ đó mà tôi sớm làm quen với đủ thứ “bình dân” hay có, dở có. Từ những câu đố tục mà thanh, thanh mà tục, những truyện tiếu lâm hoàn toàn có mục đích gây cười, từ tiếu lâm đả kích đến những bài hát ví, hát chèo “người thật việc thật” (vừa hát vừa diễn), những điệu “sẩm soan”, “hề gậy” mà anh bếp Tý vừa hát vừa dùng đũa cả gõ lách cách, leng keng vào chiếc nồi rang. Sau này, khi được chính ông Năm Ngũ, bà cả Tam ([16]) truyền dạy, các bài Sẩm soan, Hề gậy đã “vào” tôi không mấy khó khăn vì tôi từng bắt chước anh bếp Tý hát thử, gõ thử: “Gió cát trăng lân cái đêm đông trường...” từ thuở còn thơ rồi.

Chính những con người cụ thể, hát những điệu dân ca cụ thể đã làm tôi nhớ hơn, tác động vào tâm hồn tôi gấp nhiều lần những đĩa hát phát ra từ cái diaphrame (thời ấy máy chưa có loa) lạnh lùng. Nhưng khắc đậm nhất trong tôi mãi tới bây giờ chính là không khí giao hoà, không khí tâm đầu ý hợp, thương yêu nhau giữa những người cùng cảnh ngộ. Chính từ nơi ấy, tôi đã chứng kiến rất sớm một cuộc tình mà tôi cho là đẹp nhất, chân thật và trong sáng nhất, hợp lý nhất. Đó là cuộc tình giữa anh bếp Tý và vú Bích! Cả hai “cây văn nghệ” bình dân này đã “phải lòng nhau” ở cái câu lạc bộ nhà bếp nói trên.

Nó bắt dầu ra sao? Thế nào? Từ bao giờ?

Tôi không biết, vì chỉ biết họ “phải lòng” nhau qua một cuộc trao đổi giữa bố mẹ tôi mà tôi nghe được!

Mẹ tôi: “Phải tống cổ cả hai đứa. Để chúng nó ở lại, có ngày ễnh ruột ra thì mang tiếng nhà mình”.

Bố tôi: “Nhưng đã bắt được chúng nó “trai trên gái dưới” gì đâu mà đuổi chúng nó cơ chứ? Con bé (em Bích tôi) đang quấn vú nó, thằng Tý thì thật khó kiếm ai thay. Nó tháo vát, khéo xoay xở, đổi món ăn, lo cho cả trên mười miệng chỉ loáng một cái là xong. Đừng làm thế, tội hắn!”

Mẹ tôi: “Ai ở nhà mà biết chúng nó làm gì nhau? Làm sao tránh khỏi chứ? Mấy hôm nay con bé (em Bích tôi) bắt đầu diarrhée (ỉa chảy) rồi đó! Không thể để nó bú sữa con này được nữa đâu”.

Ngay ngày hôm sau, khi đi học trường sơ về, vừa tới cổng, tôi thấy vú Bích, tay ôm mấy bộ quần áo gói bằng một tờ nhật trình, nước mắt lưng tròng, đi ngược lại phía tôi. Vú cúi ôm lấy tôi, hôn vào hai má tôi, nói trong tiếng nấc: “Cậu Hải ở lại nhé! Tôi về quê đây, bà đuổi tôi rồi!”

Tôi thấy thương vú quá nhưng chẳng biết nói gì, vội chạy vào nhà cầm một trong số 4, 5 con búp bê để trên kệ đi-văng, đuổi theo vú: “Này, của em Hải cho vú đấy, vú mang về cho bé vú ở nhà quê”. Vú vội vàng gạt tay, giẫy nảy: “Ấy chết! Chớ làm thế! Bà biết được, cậu chết đòn đấy”! Rồi vú lủi thủi, gạt nước mắt bước đi.

Cái bóng dáng người đàn bà nhỏ bé, chậm chạp lê bước trên hè phố, đầu cúi gầm bỗng làm tôi trào nước mắt. Tôi chẳng hiểu đây là thứ xúc cảm gì? Tôi đâu biết nước mắt của vú là nước mắt của một cuộc tình tan vỡ? Hay là sự oan uổng? Là nỗi đau khổ, sợ hãi trước một tương lai mờ mịt.

Tôi thương người đàn bà nghèo, chồng bỏ đi Tân Thế Giới, gửi con mình, đi nuôi con người khác, nay bỗng chốc mất việc, nhất là, tuy vú nuôi em Bích nhưng vú yêu quý tôi, chăm sóc tôi còn hơn mẹ tôi nhiều. Hơn thế nữa, tuy còn nhỏ tuổi, nhưng tôi cũng thấy sự ra đi của vú Bích sẽ kéo theo sự giải tán cái “câu lạc bộ bình dân” mà tôi rất yêu, rất thích. Và... quả là như thế!

Anh bếp Tý nhờ bố tôi che chở, được ở lại nhưng từ ngày vú Bích ra đi, anh ít nói, ít cười hẳn. Cơm nước dọn dẹp xong là anh tắt đèn, lên chiếc chõng tre nằm nghe từng đôi thạch sùng đuổi nhau trên trần mà thở dài và thỉnh thoảng lại chồm dậy hút thuốc lào vặt. Không bao giờ cái câu lạc bộ ấm cúng và vui vẻ ấy họp lại nữa. Đôi lần, tôi mon men xuống bếp đều bị anh Tý xua tay đuổi lên nhà: “Ông cấm! Không được xuống đây nghe chuyện bậy nữa đâu!” Chuyện bậy? Thế mà cũng là bậy sao?

Cái “thắc mắc văn nghệ” đầu đời của tôi đã lần đầu nảy sinh. Còn chuyện anh bếp Tý và vú Bích cũng luôn làm tôi buồn và buồn mãi. Thương hại hai người, hai “vai chính” trong những đêm văn nghệ bình dân, đã mãi xa nhau, xa tôi. Thương anh bếp Tý trước vui vẻ, tiếu lâm suốt ngày, nay cứ thờ thẫn như bị mất con, mất vợ.

Một hôm, anh gọi tôi xuống bếp, kéo tôi vào lòng nói nhỏ: “Ngày mai tôi đi rồi. Tôi đã xin ông bà nghỉ việc. Phải về quê làm ruộng thôi. Cậu ở lại học hành tiến tới nhé!”

Tôi đủ thông minh để biết anh nói dối. Anh không hề biết quê anh ở đâu. Chính bố tôi đã nhiều lần nói: “Thằng Tý mồ côi cha mẹ, đi ở từ thuở lên 5, nó chẳng có quê quán, họ hàng hang hốc gì nên nuôi nó trong nhà ít lo nó bỏ trốn!” Có nghĩa là anh không có quê, cũng chẳng bao giờ làm ruộng. Vậy anh về quê nào?

Mãi sau này, trong dịp hành quân qua một làng ở huyện Phù Dực, tỉnh Thái Bình, trời xui đất khiến thế nào tôi đã gặp lại anh, cái anh bếp Tý của 12 năm về trước! Dáng người thấp nhỏ, bộ răng vẩu kể chuyện có duyên, tuy già đi, nhưng tôi vẫn nhận ra anh: Một ông chủ quán thịt cầy ở ngay đầu làng. Anh cũng nhận ngay ra tôi: “Cậu Hải mỡ!”. Ngạc nhiên đến cùng cực là khi anh gọi to: “Bu mày ơi! Ra mà xem này, cậu Hải đã thành bộ đội này!” Khi “bu mày” bước ra, tay bồng một em bé độ 5, 6 tháng tuổi thì tôi không khỏi ngạc nhiên đến bàng hoàng: vú Bích!

Thì ra anh bếp Tý đã theo “tiếng gọi của trái tim”, bỏ nghề nấu bếp thuê đi theo Tình Yêu. Tình yêu viết hoa hẳn hoi! Anh đã về quê vú Bích, mở cửa hàng thịt cầy, vượt mọi lời đàm tiếu, lấy hẳn vú Bích làm vợ, nuôi cả đứa con riêng của vú Bích với người chồng đã bỏ xác ở Tân Thế Giới và còn sinh hạ thêm 4 đứa con, đủ cả trai lẫn gái. Tôi thực sự mừng cho anh chị –– lúc này tôi gọi họ bằng anh, chị. Sau này tôi còn chứng kiến nhiều cuộc tình nhưng tôi chẳng thấy cuộc tình nào đẹp như cuộc tình của anh bếp Tý và vú Bích. Phải chăng cái câu lạc bộ bình dân và cuộc tình đẹp, chân thật, chất phác, chung thủy tuyệt vời đó đã gieo vào tâm hồn tôi những cảm xúc nghệ thuật đầu đời.

Cũng từ những nhận thức tự nhiên đó tôi đã tập toẹ làm thơ rồi viết nhạc thuở 15, 16 tuổi. Bài thơ “Thôi thế là tan giấc mộng vàng, Nàng đi giữa lúc gió xuân sang...” đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy năm 1943, với bút danh Thái Bình Dương năm tôi 17 tuổi, chính là tôi cảm xúc từ mối tình của bếp Tý và vú Bích. Bài hát Có Một Nàng Thôn Nữ,1944, là tôi nói lên tình cảm đối với những người nông dân mà tôi yêu, tôi quý. Tôi cảm ơn cái “câu lạc bộ bình dân” ấy. Tôi cảm ơn mối tình ngang trái và kết thúc đẹp đẽ ấy, vì chính nó đã cho tôi những nhận thức, những tình cảm quí giá sâu sắc, không phai mờ mà chẳng một cuốn sách, một lớp học nào có thể mang lại. Những khám phá đầu tiên của Tình Yêu cũng từ đó bắt đầu. Tình yêu thật sự chân chính là không kể tuổi tác, hình thức, là phải vượt mọi trắc trở, phải chịu đựng đủ mọi điều tiếng, phải mất để có, phải vượt để chiếm, phải giữ để còn.

Anh bếp Tý của tôi có đẹp trai gì cho cam –– người nhỏ thó, răng hô, mắt toét nhèm và yêu một người đàn bà đã có chồng, có con, hơn anh 3, 4 tuổi. Còn vú Bích? Cái gì đã làm cho vú sớm quên anh chồng mất tích? Cái gì đã làm vú “phải lòng” anh bếp Tý nếu không phải mê anh về cái tài, cái duyên của một cây văn nghệ bình dân?

Và họ đã thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái, thương yêu nhau đến lúc bạc đầu. Tôi nhận thức khá sâu sắc về tình yêu từ mối tình chất phác dễ thương đó và đã thể nghiệm trong cuộc đời yêu đương của bản thân. Nhưng đạt đến cái kết “có hậu” như cuộc tình bếp Tý - vú Bích quả là khó khăn, đôi khi vấp ngã đến tróc vẩy, trầy da mà chẳng tìm được tình yêu lý tưởng.

Trở lại tuổi ấu thơ, tôi cũng không thể quên cái trường “Sơ” Saint Joseph, nơi đã tạo cho tôi một tính cách nổi loạn, phản ứng và châm biếm. Chính từ nơi này tôi đã được bố tôi công nhận là có “khiếu văn nghệ” và có khiếu “cứng đầu cứng cổ” nên ông nhét tôi vào cái trường mà ông tưởng tôi sẽ hết đường cục cựa! Nào học chữ, học nhạc, học hát, học kinh thánh giữa những con người gần như không biết cười, biết khóc...người nào cũng giống người nào ở cách ăn mặc, ở bộ mặt vô cảm, lờ đờ, đi đứng khoan thai, nói năng nhỏ nhẹ, khác hẳn với tôi, một đứa bé ăn to, nói lớn, luôn thích chơi trội, khác người.

Tôi còn nhớ như in cái cổng trường to tướng, xây kiểu gô-tích, được xích lại bằng một ống khoá to bằng nắm tay, suốt ngày đóng im ỉm. Học trò vào trường bằng một cổng hẹp bên hông, chỉ mở vào những giờ vào học và tan lớp. Đường dẫn vào các lớp vừa đủ đi không quá hai người, xây bằng xi-măng uốn cong một cách có ý đồ.

Đã qua đây thì phải đi chậm, đầu phải cúi và phải đi chính giữa đường! Bước sang bên phải hay bên trái là mất thăng bằng, ngã bổ nghiêng vào hai bụi dâm bụt cao quá đầu lũ con nít chúng tôi ngay! Đằng sau hai bức tường lá dày đặc đó là cái gì thì bọn trẻ chúng tôi đều biết và sợ phát run mỗi khi có người ở cái thế giới bị cách ly đó được đưa lên lớp học để doạ học trò nào mắc lỗi! Đó là những người mù, người câm, người dị dạng, quái thai mà nhà thờ nuôi “làm phúc”. Họ chỉ có một nhiệm vụ là làm vườn, kể cả người què cụt, để đổi lấy hai bữa ăn.

Con đường vào lớp đó là con “đường một chiều” đầu tiên tôi bắt buộc phải đi, khi bước vào tuổi tiền học đường (préscolaire) lúc đó chưa gọi là mẫu giáo. Chỉ có “trở lên” chứ không có “trở xuống” vì sẽ vướng cẳng người khác. Tan lớp thì về bằng một con đường y hệt nhưng ở bên kia dãy nhà bố trí thành hàng loạt lớp học giống những căn hộ có số để khỏi vào nhầm mà tôi thấy lại sau này khi có những căn hộ xây dựng theo kiểu Bắc Triều Tiên! Nghĩa là giống nhau và tiết kiệm đến mức như thách thức mọi kiến trúc sư phải thất nghiệp! Ở đấy, lũ con nít chúng tôi ngày nào cũng phải quì trên ghế băng cầu kinh bằng tiếng Latinh và học những bài thánh ca mà chẳng hiểu “Bo-nê vô-lun-ta-tít Pắc-xi-om-ni-bút” là cái quái gì.

Do to con nhất nên được xếp ngồi băng ghế sau cùng, tôi thường lẳng lặng đưa một chân xuống đất, đọc kinh trong tư thế chân đứng chân quỳ nên đầu gối không bị chai như các bạn. Còn việc học chữ của đức cha A-lếch-xăng đờ Rốt ([17]) thì cả năm chỉ ngồi ngoẹo cổ, vẹo sườn, tô mực lên các chữ a, b, c mà các sơ đã viết sẵn bằng bút chì. Điều này giải thích tại sao học trò bắt đầu đi học từ trường sơ, chữ viết đều như gà bới! Tuy nhiên phải ghi nhận một điều: chính từ cái trường này, qua những buổi hát hợp ca dưới bàn tay chỉ huy của sơ Thanh và cây đàn harmonium do sơ Trúc ấn lên những hợp âm tuyệt vời, khái niệm đầu tiên về hoà thanh đã hình thành trong tôi. Nghe âm nhạc mà không có bè đệm, hát mà chỉ có một bè đối với tôi, ngay từ thuở ấy, chẳng khác mặc quần không dải rút! Riêng tôi, dù các sơ chẳng ưa gì thằng “con nhà Judas ([18]) ngỗ nghịch” nhưng vẫn phải xử dụng tôi vào chân đơn ca, lĩnh xướng...rồi bè trưởng trong mọi hoạt động ca hát trong cũng như ngoài nhà trường.

Tôi trở thành kẻ tự mãn, tự kiêu ngay từ tuổi lên 6! Tôi được gọi là “con sơn ca” của trường, được thầy (frère) Quảng và cha (père) Rangel đặc biệt chú ý và cho vào nhà thờ bồi dưỡng thêm về âm nhạc. Nhưng lạ thay, tôi học không vào. Âm nhạc quái gì mà cứ: “Một tròn thì bằng hai trắng, một trắng thì bằng hai đen, một đen thì bằng hai móc”. “Bằng” là thế nào cơ chứ? Học hết cả quyển Marmontel mà tôi chẳng thấy tôi hát hay thêm, hiểu thêm cái hay, cái đẹp của các đĩa hát của Brahms, của Beethoven mà bố tôi ngày càng có thêm nhưng chỉ để “kính nhi viễn tri”! Thế đó! Sự coi thường mọi quy tắc, bản chất luôn muốn “bung ra”, luôn muốn khác người, đã sớm hình thành trong tôi, làm cho cuộc đời luôn luôn bị vấp ngã, bị nhồi lên dập xuống mãi đến hôm nay, và có lẽ, còn bị đánh giá chẳng mấy hay ho gì cho đến khi đã trở thành tro bụi.

Những năm sau này, khi đã...“dở ông dở thằng”, có dịp về thăm những nơi tôi bắt đầu thành người, nhớ tới các kỷ niệm tuổi ấu thơ, tôi không thể cầm được nước mắt. Cảnh xưa, cái còn cái mất. Người cũ thì chẳng còn ai. Bố tôi đã mất. Mẹ tôi và 6 đứa em đã đi theo ông Thiệu ra nước ngoài. Các người thân thuở nhỏ như vú già, anh bếp, anh xe, vú Hiền, vú Bích, vú Nga... chắc cũng ra người thiên cổ, vì “cậu Hải” đã thất thập cổ lai hy rồi.

Sở dĩ tôi hay buồn và có thể khóc khi nghĩ tới những ngày xa xưa đầy kỷ niệm đó vì tôi đã sống đơn độc, bơ vơ giữa đường đời suốt bao năm tháng, không họ hàng thân thuộc, không một lần có ý định “trở về mái nhà xưa”. Tôi cam chịu nhận một vai “kịch” phụ, rất phụ trong suốt vở bi kịch dài của đất nước.

Viết về những kỷ niệm tuổi ấu thơ, tôi còn có thể kể nhiều, rất nhiều, vì tất cả đều được ghi trong trí nhớ, khi tái hiện chúng còn đậm nét, còn gây xúc động cho tôi hơn bất kỳ kỷ niệm nào suốt gần nửa thế kỷ “phiêu lưu trên đường cách mạng”. Có người cho rằng do nó là những hình ảnh in ban đầu lên vỏ đại não một con người. Tôi thì cho là vì nó không bao giờ lặp lại, thậm chí giông giống nhau như khi con người đã trưởng thành, đã quá chai lì với kỷ niệm, nhất là với con người Việt Nam, trải 35 năm khói lửa, huynh đệ tương tàn, quá nhiều chia ly, mất mát, quá nhiều trận chiến, quá nhiều tên núi, tên làng, tên sông để mà nhớ chính xác. Tôi chỉ kể lại những gì chủ yếu đã tác động đến bản năng và trí tuệ của tôi, một kẻ “cái gì cũng biết mà chẳng biết cái gì”, một kẻ cứ tưởng mình thông minh hơn người nhưng nay bị người đời cho là “ngu xuẩn nhất nước”. Chẳng ngu sao mà đến hôm nay, có đủ thứ văn bằng, kể cả hai bằng quân sự, một bằng tú tài Tây, một bằng tốt nghiệp Anh Văn ngoài giờ, một giấy chứng nhận tốt nghiệp sáng tác âm nhạc trình độ “tương đương đại học” loại ưu và một lô huân chương, huy chương, bằng khen chẳng giúp cho tôi kiếm nổi một mái nhà, vẫn đi ở thuê dài dài, vẫn đi cái xe lọc cọc.

Thời gian trôi nhanh hơn sức viết của tôi quá nhiều.

Cái chết! Tao phải chạy đua với mày để hoàn thành bản “tự thú” này, để con cháu tao, bạn bè tao biết được tao đã sống đẹp hay sống... hèn ra sao?



([1]) Dàn kèn tây (bú-dích do tiếng Pháp musique = nhạc.)

([2]) Bảo Đại (1913-1997), vua thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn,

([3]) Đinh Ngọc Liên (1912-1991)nhạc trưởng dàn quân nhạc QĐNDVN sau này. Trước 1945, ông thuộc đội kèn lính khố xanh tại Toà Thống Sứ Bắc Kỳ (thành lập năm 1924, do Camille Parmentier chỉ huy), còn được gọi với tên Quản Liên.

([4]) Khiếu thẩm mỹ tốt (bon goût, tiếng Pháp).

([5]) Sở Bưu chính.

([6]) Lao Động (tiếng Pháp).

([7]) Cachot, xà lim biệt giam (tiếng Pháp).

([8]) Tôi có hai mối tình, Khi tụi ta là thuỷ thủ (tiếng Pháp)

([9]) Các danh ca Pháp đầu thế kỷ XX.

([10]) Các nhạc sĩ tài danh trên thế giới.

([11]) Bản giao hưởng dở dang (tiếng Pháp).

([12]) Những tác phẩm kinh điển của văn học Pháp với các tác giả nổi tiếng Hugo, Balzac, Corneille…

([13]) Hai nghệ sĩ cải lương danh tiếng thời ấy.

([14]) Cách gọi người làm việc kéo xe tay trong gia đình.

([15]) Một lối chơi mạt chược.

([16]) Hai nghệ nhân nổi tiếng còn sót lại của âm nhạc dân gian cổ truyền ở miền Bắc vào những năm 60-70 của thế kỷ 20.

([17]) Alexandre de Rhodes (A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ) 1591-1660, tu sĩ dòng Tên người Pháp, trong phái bộ truyền giáo đến Việt Nam thế kỷ 16, người được coi là có công đầu trong việc tạo ra chữ Việt hiện nay.

([18]) Judas, tên của tông đồ phản bội Chúa Giê-su, theo Kinh Thánh.


Chương kế tiếp: Mười năm đèn sách học văn hoá Tây để…đánh Tây

Bài Xem Nhiều