We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 3 June 2009

Lê Nam: Một hiện tượng trong Làng văn học Anh Ngữ hiện nay.


Hồi tuần qua, quyển sách có tên là The Boat (Con Thuyền) của nhà văn trẻ người Úc gốc Việt đã được Thủ hiến New South Wales, ông Nathan Rees trao giải thưởng văn chương quan trọng về thể loại truyện ngắn - và được xem là quyển sách hay nhất trong năm tại Úc. Giải này được mang tên là NSW Premier's Literary Awards. Đồng thời trong cùng ngày, quyển The Boat được giải thưởng Glenda Adams của Đại học Kỹ thuật Sydney (UTS) về sáng tác mới hay nhất. Chỉ một tháng trước, cũng quyển sách ấy đã đoạt giải thưởng văn chương tại tiểu bang Victoria, khi Thủ hiến John Brumby ca ngợi là quyển sách xuất sắc nhất trong năm của tiểu bang.
Đây mới chỉ là các giải thưởng tại Úc về quyển sách nói trên, sau khi quyển The Boat viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Phần Lan, Croatia, Do Thái, Thụy Điển, Nhật Bản, Triều tiên và dĩ nhiên là tiếng Việt. Được biết nhà văn trẻ Lê Nam mới 29 tuổi, chào đời tại Việt Nam và vượt biên cùng gia đình đến Mã Lai, khi anh mới được 3 tháng tuổi. Lê Nam lớn lên tại Melbourne và hành nghề luật sư, thế nhưng do thú ham đọc sách nên anh cũng tập viết lách và quyển The Boat là tác phẩm đầu tay gồm 7 truyện ngắn, đã được xuất bản tại Úc hồi năm rồi. Kể từ đó quyển sách này đã leo lên vị trí số 1 trong danh sách Top 10, những sách bán chạy nhất trong tuần trên thế giới. Trước đó quyển sách đã được phát hành tại Mỹ và đã được đón nhận nồng nhiệt. Nhà phê bình văn học của nhật báo New York Times là bà Michikio Kakutani, vốn được xem là một cây bút nổi danh ở Mỹ trong việc giới thiệu các tác phẩm, đã hết lời ca ngợi và đánh giá cao quyển sách The Boat như một hiện tượng đặc biệt và mới lạ, xuất hiện trên bầu trời văn học thế giới. Còn nhà văn từng đoạt giải Pulitzer ở Mỹ là Junor Diaz, nhận xét và không tiếc lời ca ngợi tác phẩm của Lê Nam. Những nhận xét có trọng lượng này của nhà văn nói trên, đã được trích đăng trên bìa quyển The Boat, vốn được tái bản hơn hai trăm lần chỉ trong thời gian ngắn ngủi một năm trời. Lê Nam đã được đón nhận ngay từ khi tác phẩm The Boat ra mắt lần đầu tiên tại Melbourne ở Úc, hiện là biên tập viên thể loại văn xuôi của tạp chí văn học nổi tiếng ở Mỹ là Harvard Review, mặc dù đầu tiên các sáng tác lúc mới chập chững cầm viết của anh, là những bài thơ bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt.
Trước đó anh được mời sang Mỹ để tham dự các trại sáng tác, cũng như nhiều học bổng của các trường đại học Mỹ cấp, quyển The Boat dường như được ra đời trong dịp anh tham dự trại sáng tác ở Philadelphia và sau đó được xuất bản tại Úc.Thủ hiến New South Wales rất mực khen ngợiTrong buổi lễ trao giải thưởng về văn chương tại Sydney, Thủ hiến New South Wales, ông Nathan Rees ca ngợi quyển The Boat là một trong những những sáng tác văn học gây nhiều ngạc nhiên trong tâm tưởng con người. Quyển sách này được công nhận là hay nhất trong năm tại Úc. Ông Nathan Rees được xem là người có thẩm quyền trong việc phê phán quyển sách, do ông đã tốt nghiệp Đại học Sydney với hạng danh dự về môn Văn Chương Anh. Trong bài diễn văn loan báo kết quả tuyển chọn hôm thứ hai tuần rồi, ông cho biết “Quyển The Boat là một tập hợp các truyện ngắn vượt biên giới quốc gia và các ranh giới về văn hóa, mang lại cho người đọc những kinh nghiệm về một loạt các quan điểm và tiếng nói khác nhau trên thế giới”. Cũng trong ngày thứ hai tuần qua, quyển The Boat cũng đạt giải thưởng văn chương Glenda Adams của trường Đại học Kỹ thuật Sydney UTS, với số tiền tượng trưng là 5 ngàn đô la, chưa kể giải thưởng quyển sách hay nhất trong năm mang lại một số tiền khác là 10 ngàn đô la.
Thực sự hai số tiền này có tính cách hết sức tượng trưng và danh dự, so với số sách bán được và đã dịch ra qua nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau, khiến Lê Nam trở thành nhà văn triệu phú chỉ với một quyển sách đầu tay.Những hy sinh để chọn ra con đường riêng cho mìnhLê Nam là một luật sư cộng tác trong một văn phòng luật sư tại Melbourne, sau khi anh tốt nghiệp đại học. Với sự nghiệp vững chắc của ngành nghề luật sư, anh có thể sống một cuộc đời yên bình tại xứ sở Miệt Dưới, vừa có danh vọng và cuộc sống được bảo đảm đầy đủ về mặt vật chất ở Melbourne. Đây cũng là ước mơ của hầu hết các gia đình người Việt tại hải ngoại, luôn mong muốn con cái của họ tốt nghiệp đại học và theo đuổi một ngành nghề nào đó an toàn và bảo đảm tương lai. Chính sinh viên tốt nghiệp ra trường cũng chỉ cầu mong tìm được công việc làm vững chãi, có chút ít danh vọng và rồi yên ấm bên vợ đẹp con khôn. Thế nhưng Lê Nam đã chọn con đường sáng tác văn chương làm hướng đi cho đời mình, khi từ bỏ công việc của một luật sư tại tòa Thượng thẩm Victoria để dấn thân vào nghiệp văn chương, qua việc tham dự các trại sáng tác tại Philadelphia và tại Iowa ở Mỹ. Lê Nam chính thức bước vào việc sáng tác chuyên nghiệp, khi theo học chương trình Cao học về nghệ thuật kéo dài trong hai năm trời, tại Iowa ở Hoa Kỳ.
Chính từ các trại sáng tác nhằm tạo điều kiện cho các tay viết trẻ, đã giúp đưa Lê Nam lên đài danh vọng với quyển sách đầu tay The Boat. Quyển sách đã thành công ngoài sự mong đợi của tác giả trên văn đàn thế giới, chứng tỏ con đường văn chương chữ nghĩa quả là hướng đi đúng hướng cho một người trẻ đã chọn, khi phải hy sinh những gì đã có trước mắt. Vài hàng về tác giả người Úc gốc ViệtLê Nam chào đời vào năm 1978, chỉ ba năm sau khi Saigon sụp đổ và cũng là năm người cha từ ngục tù lao cải trở về, sau đó ông tìm cách đưa cả nhà ra đi lúc Nam mới ba tháng. Sau thời gian tạm trú tại Mã Lai, gia đình Nam được nhận vào Úc định cư. Chú bé thông minh học giỏi từ bậc tiểu học ở trường Melbourne Grammar School lên đến Đại học Melbourne và tốt nghiệp ưu hạng với hai bằng Cử nhân Văn chương và Cử nhân Luật. Người thầy tạo nhiều ảnh hưởng nơi Lê Nam khi học về văn chương, là thi sĩ người Úc Chris Wallace Crabble. Nam là luật sư làm việc trong một công ty luật và là luật sư tòa Thượng thẩm Victoria trong năm 2003 và 2004. Thế nhưng vào năm 2004, Lê Nam quyết định hướng đi mới cho cuộc đời của mình, khi anh tham dự trại sáng tác ở Iowa tại Mỹ, đồng thời hoàn tất bằng Cao học trong lãnh vực Sáng tác Văn chương. Anh được nhận làm biên tập viên cho tạp chí văn học nổi tiếng của Mỹ là Harvard Review. Vào năm 2006, truyện ngắn đầu tiên của anh được đăng trên Zoetrope, anh cũng được học bổng của Trung tâm Mỹ thuật tại Princetown và tại Phillips Exeter Academy một năm sau đó. Năm 2008, Lê Nam trở về Úc và xuất bản quyển The Boat, thế nhưng sau đó sang Anh quốc để nhận một học bổng khác tại Đại học East Anglia. Được hỏi về nguồn cảm hứng khi sáng tác, Lê Nam không ngần ngại cho rằng “Tôi cảm xúc rất nhiều qua những chọn lựa và hy sinh của cha mẹ tôi.
Những chuyện ấy vẫn luôn đậm nét trong đầu óc tôi”.Vài hàng về tác phẩm The BoatQuyển The Boat dày 272 trang với 7 truyện ngắn, lấy bối cảnh là chuyến vượt biên từ năm 1978 của gia đình Lê Nam từ Rạch Giá, vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của anh. Chiếc thuyền trôi giạt đến Mã Lai khi đó Lê Nam mới ba tháng và đang bị ốm nặng, do đó cha mẹ anh đã chấp nhận lời mời của phái đoàn để đi định cư sớm ở Úc nhằm chữa lành bệnh cho con, và có lẽ đó là nguồn cảm hứng khiến anh sáng tác quyển sách nổi danh The Boat. Nhân vật chính trong truyện là một cậu bé 6 tuổi, ốm yếu tên Trương, với cặp mắt sâu thẳm, u buồn, phảng phất nét suy tư của một cụ già. Bố Lê Nam là một sĩ quan trở về từ trại “học tập cải tạo”, sự kiện này cùng nhiều chuyện thật khác trong đời thường của tác giả, đã được lồng vào câu truyện thực hư lẫn lộn một cách tài tình của cậu bé tên Trương, qua truyện ngắn đầu tiên của sách mang tên “Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice” (Tình yêu, Danh dự, Lòng Thương hại và Niềm Tự hào, Lòng Trắc ẩn và Sự Hy sinh). Đây là những chủ đề mà các gia đình Việt Nam vượt biên, dù đến bất cứ quốc gia nào định cư cũng đều phải đối diện và tìm thấy chính mình trong đó.
Những câu truyện khác tác giả dẫn dắt người đọc với các nhân vật qua thời gian và không gian khác biệt, từ Iowa đến Nữu Ước, từ Cartegena đến Hisoshima, rồi từ một làng đánh cá nhỏ ở Úc cho đến con tàu đánh cá vượt biên Việt Nam trôi dạt trên biển Đông; từ suy tư của một tay sát thủ trẻ 14 tuổi ở Medellin (Columbia) cho đến tâm trạng của một họa sĩ già yếu ngoại lục tuần ở thành phố Nữu Ước, luôn mong đợi người con gái đã chia cách 17 năm qua; từ tâm trạng khắc khoải của một cô gái Nhật Bản tuổi đôi mươi vào những gây phút khi quả bom nguyên tử nổ ở Hiroshima, tâm tình của một thiếu phụ người Mỹ bị phụ bạc cho đến tấm lòng sôi sục của một phụ nữ đối kháng ở Nam tư, bạn của thiếu phụ Mỹ, khi người này đến thăm bạn tại Teheran thủ đô của Iran, chuyện tranh giành gái đẹp của các học sinh trung học trong bối cảnh một gia đình người Việt tỵ nạn tại Úc.Truyện cuối cùng là Con Tàu trở lại bối cảnh Việt Nam, trên một chiếc thuyền đánh cá chen chúc những người tỵ nạn với nhiều thảm cảnh diễn ra, trong đó người phụ nữ phải chấp nhận những quyết định hết sức đau lòng. Tất cả nói lên những tâm sự ray rứt và đau buồn lẫn tuyệt vọng của cuộc đời, của từng nhân vật trong các truyện ngắn khác nhau.
Người đọc cuốn hút vào dòng chảy của quyển sách, nhập vai từng nhân vật trong truyện, với những buồn vui lẫn lộn theo từng lời văn tuyệt diệu của Lê Nam.Vài thành quả của Lê Nam qua quyển The BoatNgoài các giải thưởng Lê Nam nhận được hồi trung tuần tháng nầy, như giải thưởng Văn chương của Thủ hiến New South Wales về quyển sách hay nhất trong năm, cùng giải thưởng của Đại học Kỹ thuật Sydney về sáng tác mới xuất sắc nhất, năm rồi quyển The Boat chiếm được giải thưởng cao quí là Dylan Thomas. Cũng trong năm 2008, quyển The Boat được giải thưởng về sáng tác hư cấu cho tác giả dưới 35 tuổi của National Book Foundation, ngoài ra, còn được giải thưởng truyện ngắn của Frank O'Connor International Short Story Award.
Vào năm 2007, quyển The Boat được giải thưởng Pushcart Price và cùng năm, Lê Nam được giải thưởng của Michenner Copernicus.Hiện nay, đã có hơn 8 nhà xuất bản ngoại quốc mua bản quyền của quyển The Boat. Ở Mỹ, sau khi nhà xuất bản nổi tiếng Alfred A. Knopf phát hành quyển The Boat, Lê Nam đã chiếm quán quân giải Pulitzer, một giải thưởng cao quí về văn chương, báo chí, truyền thông...Tính đến nay quyển The Boat đã được 68 giải thưởng, cũng như được tuyển chọn là quyển sách số 1, từ khắp nơi trên thế giới và danh sách này có lẽ sẽ tiếp tục còn dài.
Lê Nam quả là một hiện tượng hết sức đặc biệt của một cây bút người Việt trẻ tuổi trên văn đàn thế giới và mở ra một đường hướng sáng tác bằng Anh ngữ của các nhà văn Việt Nam, trên con đường tiến đến giải Nobel Văn chương, một mục tiêu mà mọi cây bút sáng tác trên thế giới đều mong mỏi./-

Thạch Vũ

(Văn Nghệ tuần báo Úc châu)

SỰ TRẢ GIÁ QUÁ ĐẮT

CHO NHỮNG VINH QUANG CAY ĐẮNG

Được về Hà Nội” lúc ấy với tôi, là cuộc đổi đời.

Việc đầu tiên là phải kiếm một chỗ ở vì tôi và ông Mai Thăng, phụ trách biên tập cải lương không thể sống chung trong căn phòng 12 mét vuông do cơ quan bố trí được. Là dân Nam Bộ và lính chuyển ngành lại có cấp bậc thượng úy, ông được sắp xếp về nhà xuất bản Âm Nhạc để suốt ngày... nấu nướng từ thịt cóc, thịt mèo... trên cái bếp dầu nhỏ xíu đặt ngay góc phòng lúc nào cũng sặc mùi tỏi, mùi dầu hôi và mùi rượu mà tôi rất dị ứng. Cho nên tôi bỏ hết thời gian đầu để đi kiếm một chỗ ở riêng.

Cũng lại một dịp may hiếm có trong đời đến với tôi. Tôi gặp một đồng ngũ Lục Quân cũ nhưng đã “dinh tê”, hiện là nhân viên “lưu dung” của Sở Nhà Đất đang đi kiểm tra các cửa hàng bị “cải tạo” phải đóng cửa. Đó là Nguyễn Đắc Hưu, ân nhân số một của tôi, dầu đối với nhà nước, anh là một...tên đào ngũ! Anh bảo tôi làm đơn trình bày hoàn cảnh vợ con không nơi ăn ở, công tác quan trọng (sáng tác), không quên kê khai bao nhiêu huân chương, tác phẩm rồi đưa cho anh. Hưu chạy ngay được cho tôi một cửa hàng tại mặt tiền Phố Huế! Chỉ có ba ngày. Lại bí thư đảng ủy Trần Minh Sơn khu Hai Bà, kiêm trưởng ban Cải Tạo Công Thương ký với câu phê bên cạnh: “Xét hoàn cảnh đồng chí Tô Hoài, duyệt cấp cho đồng chí đó tầng một của cửa hàng Bình Minh để có thể yên tâm sáng tác”.

Nghĩa là phân phối nhà cửa cướp được cũng do Đảng quyết định. Ôi! Ơn đảng nhiều quá! Vậy là giữa cái phố Huế đầy cửa tiệm đóng im ỉm bỗng dưng một hôm có một anh bộ đội (tôi chẳng có bộ thường phục nào) xe đến một cái bàn, một cái ghế và một tấm phản cá nhân cùng hàng chục thùng giấy tờ, hồ sơ lủng củng của cơ quan mà tôi chẳng hiểu trong đó đựng những gì, nhưng cũng ra vẻ một bộ phận cơ quan Nhà Nước nào đó mới chuyển nơi làm việc! Gia sản của tôi chỉ là một cái ba lô Trung Quốc kiêm...gối đầu! Sở dĩ có vụ “đột nhập tức thì” này là nhờ kinh nghiệm của ông Nguyễn Đình Tính, giám đốc nhà xuất bản. Ông cho biết: “Trong lúc này, mạnh ai nhanh chân trước, người ấy được. Các cửa hàng hiện đang do ban Cải Tạo Công Thương quản lý, để họ bàn giao cho bên Nhà Đất thì đến mùa...quýt! Trên đó có cả vạn cái đơn mà giải quyết thì vẫn là “nhất thân nhì thế, ba quen biết! Tớ cũng phải dùng chiến thuật này mới chiếm được cái garage của một tay tư sản đấy!”

Thời đó chưa có lệ đút lót, ăn hối lộ, mọi việc đều giải quyết theo nguyên tắc “tự biên tự diễn” của các cơ quan rất…vô nguyên tắc, nhưng cách đó thật sự trong sáng gấp ngàn lần những nguyên tắc ra vẻ nguyên tắc của các cơ quan công quyền ngày nay! Thế là lần đầu tôi có nhà, có nhà đàng hoàng, có nhà ngay phố chính, đặc biệt là có nhà sau 18 ngày, tính từ ngày “biệt phái” sang... “nhân dân”! Nhờ cái nhà này mà tôi đón được ba đứa con về, làm khai sinh (khai “phịa” vì chẳng nhớ nổi chúng sinh ngày nào, tháng nào ngoài năm sinh... tương đối chính xác) cho chúng được đi học. Cũng nhờ cái nhà này mà tôi đã “ăn nên làm ra”, được sống với vợ con như một gia đình đích thực. Tôi biết ơn anh bạn Đắc Hưu suốt đời. Tôi cũng biết ơn cả cái chữ ký của ông Trần Minh Sơn dù ông nhầm tôi là nhà văn Tô Hoài, đã ký cho tôi cái “cầu bật” để vươn tới những gì tôi hằng mơ ước.

Tôi cũng biết ơn các ông Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Đình Quí, Mai Thăng, những người đã ủng hộ tôi hết mình. Với riêng ông giám đốc nhà xuất bản Âm Nhạc và Mỹ Thuật Nguyễn Đình Tính, cho tới khi thời thế thay đổi, ông trở thành một cán bộ không nghề ngỗng, “ngồi chơi xơi nước” chờ về hưu, tôi thật đặc biệt có tình cảm và thương hại. Số là ông thuộc loại “lính được tăng cường” sang các cơ quan tư tưởng của Đảng như hàng trăm con người vô tên tuổi, vô nghề nghiệp ngoài nghề... chính trị viên! Ông là chính trị viên tiểu đoàn đã có thời gian làm địch vận nên được điều về để... “văn nghệ vận” ở cái bộ Văn Hóa. Với lá cờ đỏ “chính trị là thống soái”, người ta giao cho ông chức giám đốc nhà xuất bản Mỹ Thuật và Âm Nhạc đầy những “phần tử không đáng tin cậy” gồm hàng loạt họa sĩ, nhạc sĩ “chuyên” thì có nhưng “hồng” thì chưa! Lúc đó, Bộ Văn Hoá từ trên xuống dưới, ngoài ông Hoàng Minh Giám, bộ trưởng mà chẳng có quyền gì (ông là đảng viên Đảng Xã Hội ([1]) cho đến lúc chết), tất cả các vị thứ trưởng, vụ trưởng, vụ phó, giám đốc, thậm chí cả trưởng, phó phòng sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm đều là cán bộ chính trị, đặc biệt là những cán bộ từng làm Công An và...địch vận!

Cùng với các ông Mai Vy tỉnh ủy viên phụ trách Công An Hà Tây, Trần Văn Hải phụ trách tổ chức cán bộ, Võ Hồng Cương trước là Công An dưới sự lãnh đạo của ông Hà Huy Giáp thứ trưởng kiêm bí thư đảng đoàn, một loạt chức vụ cục trưởng, vụ trưởng chuyên nghành nghệ thuật, các giám đốc các nhà hát, các cơ quan xuất bản, các đoàn nghệ thuật…đều được trao vào tay những ông cán bộ chính trị như Lý Thương, Phạm Ngọc Lê, Phan Trọng Quang và hàng lô hàng lốc sĩ quan, cán bộ lão thành (cả thật và...dỏm (như bà Châu cục trưởng Cục Xuất Bản, hoặc ông Hồng Việt, giám đốc xưởng Phim Đèn Chiếu, ông này sau bị tù vì... tham ô, hủ hóa, khai man lý lịch).

Họ là những người “Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” khi được đặt vào những vị trí này. Nhưng khi họ “tích cực” công tác thì…ôi thôi, văn học nghệ thuật không còn biết chạy đường nào. Rồi đến lúc người ta âm thầm xem lại cách đối xử với văn nghệ sĩ để cũng âm thầm như thế phục hồi tư cách công dân cho những người vô tội theo cách bao dung, khoan hồng. Tôi thật đau lòng khi thấy người ta phục hồi cho Văn Cao bằng việc cho sống lại các tác phẩm trước cách mạng và kháng chiến chống Pháp. Vậy từ năm 1954 ông viết những gì? Tại sao ông không có được bản Sông Lô thứ hai? Tôi nhớ những buổi ngồi với ông, đưa vài tập nhạc của người khác để ông...trình bày bìa. Tôi lặng nhìn ông uống rượu suông, nghe những lời ông nói “chẳng ra đầu ra đuôi”, “chẳng ra say ra tỉnh”.Tới ngày tôi vào Nam, 1975, Văn Cao vẫn chưa được in tuyển tập và vẽ bìa cho chính các tác phẩm bất hủ của mình. Văn Cao còn phải sống lay lắt bằng nghề vẽ bìa, minh họa thơ cho người khác thì chuyện khai trừ Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, đuổi họ khỏi biên chế xét ra chẳng... nặng nề cho lắm! Các cán bộ biên tập của nhà xuất bản khi đưa cho Văn Cao...vẽ bìa, trong đó có tôi là người tích cực, hoặc đưa cho Trần Dần dịch Những Người Chân Đất (với điều kiện không được đề tên thật của người dịch) không phải không gặp khó chịu. Có lần tôi suýt khốn nạn vì phản đối quá kịch liệt một...nhạc sĩ dỏm khi anh ta phê bình tôi thiếu cảnh giác, rằng bìa do Văn Cao vẽ “không hiện thực”, còn nhiều “biểu tượng hai mặt”(?!) May mà tôi được giám đốc Nguyễn Đình Tính và trưởng phòng biên tập Đình Quí tín nhiệm gần như tuyệt đối nên mới thoát nạn. Tôi được coi như thứ “cố vấn chuyên môn” đáng tin cậy nhất và có cấp bậc cũng như đồng lương cao nhất phòng biên tập, chỉ thua họa sĩ Huỳnh Văn Gấm từng là tỉnh ủy viên nhưng lại mang danh...họa sĩ nên không bao giờ được giao làm lãnh đạo!

Thời thế và nhiệm vụ bắt buộc các vị giám đốc, vụ trưởng, thứ trưởng muốn hoàn thành nhiệm vụ đều phải chọn một số tay sai có nghề (tức vừa chuyên vừa hồng!) mà ngoan ngoãn, gọi bốc lên là...chuyên viên. Tôi thuộc loại chuyên viên đó vì làm sao các vị có thể duyệt được một tiết mục để thu đĩa do các nước anh em Liên Xô, Tiệp Khắc giúp in miễn phí, làm sao các vị có thể đọc những bản nhạc của các tác giả gửi tới.Tôi thành kẻ gọi dạ bảo vâng của các vị chỉ nhằm mục đích tranh thủ viết và viết. Việc cơ quan tôi gần như chỉ cần làm bằng ngón tay... út!

Lúc này, khách hàng đến 26B phố Huế nhiều đến mức tôi phải từ chối nhận đơn đặt hàng. Các nhạc sĩ mới từ nước ngoài về như Hoàng Vân, Chu Minh, Huy Du... mãi sau này vẫn không “đông khách” bằng tôi. Một năm tôi phải viết cho đủ các đoàn văn công, các trường, các xưởng phim, các nhà hát vv... kể không hết. Tất nhiên, tiền cũng vào như nước. Vợ chồng con cái tôi ăn tiệm đều đều, đến nỗi công an phải báo cáo hiện tượng khả nghi ấy cho đảng đoàn Hội Văn Nghệ lúc này do ông Học Phi ([2]) phụ trách. Quần áo thì may sắm toàn đồ xịn, chủ nhật nào cũng diện bảnh vào ra khách sạn Rex dành cho khách quốc tế nhờ tôi xin được cái “các đặc biệt” dành riêng cho một số rất ít văn nghệ sĩ, “trí thức lớn”, chứ tôi chỉ là loại văn nghệ sĩ tép riu và, nếu đánh giá trên đồng lương chỉ vào loại...đi chợ “nhân dân anh hùng” ([3])! Tuy nhiên trong nhà tôi đầy đủ piano, radio loại cung cấp cho bộ trưởng (xin “tiêu chuẩn” do ông Lê Liêm ký), vợ một xe đạp đầm, chồng một xe Favorit, là những vật tiêu dùng siêu hạng thời ấy, còn tiền mặt lúc nào cũng có vài xấp trong tủ, tiêu gì cứ việc lấy. Nhưng biết tiêu gì, sắm gì hơn, khi tivi, tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ lúc ấy chỉ có trong... khái niệm và thỉnh thoảng được thấy trong... phim!

Để có được những cái đó, tôi phải trả giá đắt, nhưng ít nhất cũng đã có khối cái “được”: được hạnh phúc gia đình, được nhà cửa, tiền bạc. Thu hoạch của tôi so với phần đông anh em nhạc sĩ khác lúc ấy chênh lệch đến... 4 số không. Lương của tôi là 85 đồng nhưng bản quyền “nhạc viết thuê” bình quân hàng tháng 1.200 đồng. Vậy thì cần gì phải phản đối ông Nguyễn Đình Tính khi ông ấy phê bằng bút đỏ vào bản thảo của các tác giả đáng kính những điều ngu xuẩn, khi ông duyệt lời ca của một bài hát mà chính ông chẳng hiểu nổi cái hay, cái đẹp là gì? Tôi làm ông vui lòng bằng cách tự mình chữa đi vài từ để trình bày lại với tác giả sau, mặc dầu biết việc làm này là xâm phạm quyền tác giả. May là bạn bè cũng hiểu nỗi khổ của tôi và họ cũng chẳng ham hố gì mấy bản nhạc in với vài chục đồng bản quyền lúc ấy gọi là tiền thù lao.

“Thời hoàng kim” này chính là nhờ sự... ngu dốt của cả một triều đình, vì thế mà một số văn nghệ sĩ chúng tôi, kẻ vớ bở, người ấm ức vì bị thiệt thòi. Số là chẳng hiểu ở đâu ra (có người cho là sáng kiến học lỏm của Liên Xô, Trung Quốc), một quy định tạm thời về bản quyền tác giả bỗng được ban hành, đầy nghịch lý đến không thể tin nổi. Thí dụ: nhạc tính tiền bằng cách...đếm mơ-duya, tranh tính tiền bằng...cm vuông! Mặc dầu có phân loại A, B, C hẳn hoi, nhưng một bản nhạc nếu dài, có xếp loại C (thấp nhất) thì tiền nhuận bút lại cao gấp nhiều lần bản nhạc loại A mà ít nhịp! Tôi “giàu” lên là nhờ các bản nhạc như cantate, hợp xướng và viết cho phim, cho kịch. Riêng Tiếng Hát Biên Thùy, tôi được trả...2.700 đồng tiền thu đĩa và 750 đồng tiền in trên giấy! Với cái giá bao cấp 200 đồng một chiếc xe đạp loại nhất Việt Nam, 700 đồng một cây đàn Piano, 350 đồng một Radio Orion to đùng 3 loa, tôi đã có tất cả những gì mà bao người mơ ước suốt đời không có ở cái thời 3 hào một bát phở “chui” ấy.

Cho nên, không ít kẻ “ghen ăn tức ở” bắt đầu nói ra nói vào. May mà lúc này vàng, đô la là những thứ bản thân tôi cũng như bao người khác chưa hề biết đến khái niệm chứ chưa nói đến mua sắm, tích trữ để...đi tù! Tôi chẳng biết dùng tiền làm gì ngoài việc khao bạn bè, anh em dàn nhạc vài bữa ở các nhà hàng Phú Gia, Bodéga, nhiều lắm cũng chỉ hết vài chục đồng. Kể ra, nếu tôi được sống lại những ngày ấy, tôi sẽ mang vài món quà gì “trên mức tình cảm” cho ông Nguyễn Đình Tính, một giám đốc biết điều đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Trong cái không khí không mấy thuận lợi cho những kẻ bỗng giàu lên như tôi, chính ông Tính là người bảo vệ tôi: “Tiền nong của Tô Hải là do công sức lao động nghệ thuật của đồng chí đó mà có! Mọi thu nhập của Tô Hải đều có chứng từ chuyển khoản ở ngân hàng cả!” Cái thời bao cấp, xét cho cùng, cũng có cái hay của nó. Tiền tư nhân có đồng nào là gửi tiết kiệm. Giá gạo 40xu/kg, thịt 2 đồng/kg chẳng thay đổi cả chục năm, nhà cửa cấp không, tiền thuê hết vài ba đồng bạc, có ai nghĩ tới mua nhà, mua đất để mang cái tội có “tư tưởng tư sản”. Tiền bản quyền quá 100 đồng là không được phép lãnh tiền mặt. Phải dùng séc để rút tiền, chuyển khoản cho các cửa hàng Nhà Nước (cửa hàng tư nhân đã bị dẹp bỏ) sau khi được...“duyệt bán” cho một thứ gì. Tất cả đều trong sáng, có lẽ chủ yếu là do không mấy ai thấy được cọc tiền nào quá vài trăm đồng để mà thèm muốn. Ngay tiền mình có ở quỹ tiết kiệm ngân hàng mà mỗi khi ma chay, cháy nhà... vẫn phải làm đơn “xin” rút với cả lô chữ ký, dấu đỏ chứng nhận. Do đó, khó có tội ăn cắp của công dễ ợt như ngày nay. Vậy thì tiền sẽ làm gì nếu không chỉ là...ăn và mặc ngoài tiêu chuẩn Nhà Nước cấp phát?

Phải thú thật, chính cái tư tưởng “cho chúng mày biết tay”, “cho chúng mày tức hộc máu mồm ra mà chết” đã thúc đẩy tôi làm việc cật lực để khẳng định mình. Tôi viết như điên để hoàn thành những tác phẩm sản xuất... hàng loạt cho đủ các thể loại phim, kịch như Câu Chuyện Iếc-Cút (đạo diễn Monakhov) hoặc Chị Nhàn, Tiền Tuyến Gọi..., hết thảy đều dùng hình thức giao hưởng cho dàn nhạc mới được thành lập mà chỉ huy giỏi nhất là ông Vũ Lương. Mục đích tôi luôn theo đuổi là luyện thêm tay nghề. Chồng tổng phổ hết sức tỉ mỉ cứ ngày một cao để rồi một ngày kia nhìn lại, tôi thấy nó vô duyên dễ sợ.

Số là viết nhạc thời ấy là một chuyện, còn dàn dựng nó, thu thanh nó và phát nó ra bằng đường âm thanh của phim nhựa 35 ly hoặc bằng băng từ, qua những ampli và loa Trung Quốc thì...eo ơi, tất cả đều là công cốc! Hơn nữa, nội dung và hình thức của phim, kịch, múa... từ kịch bản tới lúc thành hình tượng trên sân khấu, trên màn ảnh ... xa cách nhau một trời một vực với tưởng tượng, với “tư duy âm nhạc chính qui” của tôi. Tôi còn nhớ khi viết một trường đoạn của phim Độ Dốc (đạo diễn Lê Đăng Thực) ca ngợi cảnh kết của một nông trường tiến lên “đại sản xuất mở rộng”, tôi đã khổ tâm, khổ tứ cố viết như kiểu chương cuối bản giao hưởng số 7 của Prokofiev (chủ đề sản xuất của đoàn thanh niên Komsomol). Cuối cùng, khi lắp vào phim, nó vô duyên đến...tức cười. Vậy mà đồng, gỗ, dây, gõ...cứ ầm ỹ cái mouvement allegro vivace. Kết quả là ban xét duyệt của Cục Biểu Diễn gồm những vị võ vẽ vài ba nốt nhạc nhất trí xếp nó vào loại... “trung bình” và tất nhiên, tiền bản quyền cho tác giả phải kém xa một bộ phim mà mấy ông nhạc sĩ tự biên tự diễn quẳng ra độc một giai điệu trong một ca khúc rồi... mặc cho dàn nhạc muốn xoay sở ra sao thì ra, miễn đủ số phút yêu cầu!

Ở đây phải nhắc tới hai tay đã “cứu” các nhạc sĩ chỉ biết hát lên lời ca rồi trót mang danh hội viên Hội Nhạc Sĩ nên bị...“mời nhầm” làm nhạc không lời! Đó là các anh Quang Khải và Huy Thư. Rất nhiều bộ phim có tên nhạc sĩ X., nhạc sĩ Y...nhưng sự thật là do 2 anh (sau cũng trở thành hội viên cả) đã có công phối âm phối khí, biến tấu, để có thêm ít tiền còm cho bản thân và anh em nhạc công vốn rất khó khăn về đời sống. Sau này, do ăn chia không minh bạch giữa người đứng tên và người viết thực thụ, đã nổ ra không ít vụ kiện cáo, bôi xấu nhau.

Riêng tôi, cho đến khi được anh em nhạc công — có lẽ vì tập khá vất vả — khuyên nhủ, tôi đã tỉnh ngộ: “Đừng kiếm tiền bằng những thủ đoạn...tử tế!” Và tôi cũng chẳng hào hứng gì mà cứ viết mãi thứ âm nhạc nghiêm túc để rồi cuối cùng hiệu quả về kinh tế lại thua hẳn kẻ làm ăn lèm nhèm. Tôi đã thất bại trong các vở Đêm Mưa (đạo diễn Dương Ngọc Đức – Ngọc Phương, cả hai nay đều là nghệ sĩ nhân dân), Hoa và Ngần (kịch bản Nguyễn Đình Thi, đạo diễn Dương Ngọc Đức) khi huy động cả một dàn hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng để làm “một cái gì đó” có tí nghệ thuật! Cuối cùng, chỉ cần hội đồng xét duyệt phán thế nào đó, vở kịch bị “đổ” ngay lập tức kéo theo các nhà đạo diễn, họa sĩ, nhạc sĩ... Đi tiêu cả một quá trình sáng tạo! Điều “lạ mà không lạ” là hầu hết các vở “có vấn đề” lại là những vở mà chúng tôi đều thấy hứng thú nhất! Vở bị bỏ có nghĩa là tác giả kịch bản, đạo diễn, nhạc sĩ, họa sĩ không có ... tiền! Thật ra, ngay vở được diễn có khi cũng chờ cả tháng, đi lên đi xuống mới lấy nổi tiền ở cái ông tên Tốn trên Vụ Biểu Diễn, vì còn phải “chờ hội đồng xét duyệt xếp loại vv...” Mãi mấy năm sau tôi mới biết hầu hết tác giả, biên đạo, nhạc sĩ khi qua cửa ông này đều “giúp đỡ ông cái số lẻ”. Ông chỉ là người giữ khâu cuối cùng là chi tiền, nhưng ông luôn có ý nghĩ đây là khoản chi không hợp lý vì các tác giả chẳng ai không ăn lương Nhà Nước cả! Ông thường vừa đưa tiền vừa lầu bầu: “Các ông sướng thật! Đã có lương rồi mà lại còn được lãnh lương thứ hai gấp cả 5, 10 lần lương của tôi!” Ý kiến này không do ông Tốn tự phát ra mà ông chỉ nhắc lại những gì đã nghe từ các ông lớn, thứ trưởng, vụ trưởng, các ông Mai Vy, Hà Huy Giáp, đặc biệt là từ ông...Cù Huy Cận, một nhà thơ có tiếng, cũng khuyên anh em “không nên đòi hỏi bản quyền găng quá mà chỉ nên coi là “hương hoa” của Đảng và Nhà Nước!” “vì đất nước ta, dân ta đang còn nghèo!”...Phải chăng vì ông đã có đời sống đầy đủ với cương vị thứ trưởng nên ông nói thế? Hay ông thực sự thương Đảng, thương dân ta nghèo? Hay ông... “ghen ăn tức ở”, vì ông là nhà thơ thứ trưởng duy nhất chẳng mấy khi có bài được lĩnh bản quyền kể từ khi ông nổi tiếng với tập Lửa Thiêng trước 1945, chẳng dính gì đến cách mạng, cách miệng?

Và cuối cùng, một quyết định nhằm hạn chế bớt thu nhập dễ làm văn nghệ sĩ hư hỏng của Liên Bộ Tài Chánh - Văn Hóa được ban hành. Ngoài những qui định hết sức “vô nghề nghiệp”, ở từng chi tiết thì có một khoản rất cơ bản gây tranh cãi. Đó là “sáng tác trong giờ” và “sáng tác ngoài giờ”! “Trong giờ” có nghĩa là ăn lương để sáng tác chỉ được hưởng 20% bản quyền! Còn “ngoài giờ” là sau khi hoàn thành các nhiệm vụ biên tập, giảng dạy hoặc làm nghề khác như nhà giáo, diễn viên, cùng những ai “ngoài biên chế” đều được hưởng 100% số tiền qui định!

Một loạt văn nghệ sĩ đều có tư tưởng ra khỏi biên chế vì...không chịu được cái kiểu phân chia lạ đời này. Hai họa sĩ Phan Thông, Trần Đông Lương ra đầu tiên. Cả hai đều không phải đảng viên, thuộc loại “có vấn đề” nên họ tự nguyện ra khỏi biên chế là điều Đảng rất hoan nghênh! Cả hai sau này khá chật vật vì sống sao nổi khi tất cả các đầu mối tiêu thụ tác phẩm hội hoạ đều là của Nhà Nước? Ngay các hoạ sĩ ăn lương Nhà Nước còn chưa biết tiêu thụ tác phẩm ở đâu cho hết, huống hồ các hoạ sĩ ngoài biên chế, cho dù được hưởng tiền bản quyền 100%!

Các hoạ sĩ sống khổ thế nào vì bị triệt đường sống có lẽ chỉ một số rất ít người thấu hiểu. Từ chỗ mến phục các nhân tài vài người trong số ít đó đã trở thành những mạnh thường quân cho các nghệ sĩ. Nổi bật trong những người như thế có ông Lâm, thường gọi là Lâm Toét do có đôi mắt ướt nhèm nháy liên tục. Ông có một quán cà phê nhỏ ở đường Nguyễn Hữu Huân, nơi văn nghệ sĩ Hà Nội thường tụ tập. Đối với các hoạ sĩ, ông Lâm Toét có sự ưu ái đặc biệt: Các anh có thể ăn chịu uống chịu bao nhiêu cũng được. Bằng cách đó ông đã giúp cho các anh có miếng bánh mì ốp la, đĩa xôi lạp xưởng, tách cà phê đen… hàng ngày. Khi thiếu tấm vải nền, hộp bột mầu, tuýp sơn dầu các anh không tìm được sự giúp đỡ từ các cơ quan “thu mua” tranh của nhà nước vô sản thì có thể tìm thấy sự giúp đỡ ở ông chủ quán Lâm Toét. Để trả ơn tri ngộ, các nghệ sĩ tặng lại ông rất nhiều tác phẩm có giá trị. Chỉ riêng các bức tranh ký tên những Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái ... kèm theo câu “mến tặng” hoặc “kính tặng Lâm” có thể cho thấy họ yêu mến và kính trọng ông hơn...Đảng và Nhà Nước chừng nào! Các danh họa nước ta đâu đến nỗi bán tác phẩm của mình để đổi lấy một tách cà phê như Modigliani ([4])? Các anh, cùng một số nhà văn như Nguyễn Tuân ([5]), người không mấy ngày vắng mặt, dùng “Cà-phê Lâm” như các nghệ sĩ Pháp dùng La Rotonde ([6]) làm nơi gặp nhau, trao đổi thông tin về đủ thứ...chính trị, thế sự, nhân tình, nghệ thuật và nuốt với nhau những ngụm đắng cuộc đời! Những gì các anh trao đổi đã không lọt qua lỗ tai ông Lâm, từ đó, ông nhìn thấy một thế giới đầy những người tài khổ cực. Và ông quyết giúp họ bằng khả năng có thể của ông. Tôi xin làm nhân chứng khi cần đưa ra tòa những kẻ bôi xấu ông bằng cách vu cáo ông “lợi dụng mua tranh bằng giá rẻ mạt!” Chao ôi, nếu các ông cộng sản lãnh đạo cao cấp học được lòng quí trọng nhân tài chỉ bằng một phần trăm ông Lâm toét thì đâu đến nỗi phải chạy đôn chạy đáo đi tìm, đi mượn tác phẩm của họ bị tứ tán khắp nơi, mỗi khi cần triển lãm những sản phẩm văn hoá của đất nước.

Có lần tôi được Trần Đông Lương tặng một bức tranh lụa. Biết nhà anh hôm ấy hết...gạo, tiền cũng chẳng còn đồng nào, tôi khệ nệ vác lên nhà anh...10 kí gạo. Anh bắt tay tôi, nói đùa:“Cám ơn! Cảm ơn! Nhưng này, tớ không có bán tranh rẻ thế đâu đấy nhé!” Tôi trả lời: “Trần Đông Lương đâu có tặng tranh cho anh Lành, anh Tô ([7]) mà lại tặng mình, cũng là Tô, nhưng Tô...hạng bét! Còn gạo đây hở? Thằng Tô hạng bét lấy 13 kí rưỡi mua theo sổ gạo “nhường cơm sẻ áo” cho hoạ sĩ Trần Đông Lương đấy, được chưa?” Hai chúng tôi ôm lấy nhau, cố ngăn nước mắt khỏi trào! Tôi nhớ lần tôi đưa Quang Dũng 5 đồng ăn xôi ngay bên hè đường, đưa tờ giấy 10 đồng anh nhất quyết chỉ lấy 5, buộc tôi phải đổi tiền lẻ anh mới chịu nhận. Tôi chở gạo, mua rượu “quốc lủi” đến biếu một họa sĩ “cỡ lớn”, một nhà thơ không ai không biết, một dịch giả chuyên dịch những tác phẩm khó dịch nhất, tôi “cho vay không đòi lại” những con người không gặp may như tôi, khi dăm ba đồng, khi vài chục...với tất cả tấm lòng mến mộ tài năng của các bạn.

Những điều nhỏ nhặt đó, dù hôm nay các bạn còn nhớ hay đã quên, dù các bạn đã “đi xa”, hay còn sống (sót), dù các bạn đã đổi đời trở nên giàu có nên quên dĩ vãng đau buồn, tôi thấy cần nhắc lại để hậu thế biết cuộc đời của các văn nghệ sĩ “lầm đường theo Đảng” thời ấy cơ cực và nhục nhã mức nào. Có thể không ít người sẽ lại buông ra câu nói của con một ông bạn thân của tôi: “Sao thời ấy các cụ... hèn đến vậy?” Vâng! Nhiều cái còn hèn, còn nhục hơn nữa đã biến không ít người trong chúng tôi thành những kẻ suốt đời “ăn giả”, “viết giả”...

Tóm lại là tất cả chúng tôi đều sống giả, sống bằng cái đầu và trái tim của người khác. Điều đáng trách là chính tôi, một nạn nhân, đồng thời cũng là một tội đồ, có lúc không phải là không “cuồng tín” để bị mê hoặc, nhưng chủ yếu vẫn là kẻ cố bám lấy cuộc sống, cố nuốt mọi cục phân thối hoắc để tồn tại mà vẫn làm ra vẻ tươi cười...

Vì hèn nhát, vì cực kỳ hèn nhát, vâng, đúng là vậy. Chúng tôi, cả một lớp văn nghệ sĩ thời ấy đã hèn như thế, hèn nhát trong xử thế, hèn nhát cả trong sáng tác.

Tôi thật xấu hổ khi đọc lại những gì tôi viết trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất khi mà trong lòng tôi, tôi biết nó là một cuộc cách mạng lưu manh nhất, giết người tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam! Thử hỏi trước kia ở đất nước ta có thời đại nào làng xóm giết nhau, cha bị con đấu tố, vợ chỉ mặt chồng giữa sân đình gọi là “thằng kia!”...rồi đưa ra đầu làng bắn bỏ không? Vậy mà tôi và biết bao anh em không dám có một lời kiến nghị, phản đối. Người “dũng cảm” lắm là người lẩn trốn không chịu viết gì về cuộc “cách mạng long trời lở đất” do Đảng lãnh đạo. Cuộc “phản tỉnh” cuối cùng và khá muộn màng có thể sẽ chẳng ai biết nếu tôi không viết ra để phản tỉnh cho chính mình, để có dịp ôn lại cả một con đường sai lầm liên tục.

Trở lại với cái thời “giàu sang phú quí, hạnh phúc đề huề” những năm 60 của gia đình tôi... Giàu sang ([8]) nhờ tôi gắng sức kiếm ăn bằng cái nghề mình được đào tạo và một phần do gặp thời cơ lộn xộn về đường lối ngay trong cái tổ chức Đảng. Kẻ thì ủng hộ, kẻ thì phản đối cách xử sự với văn nghệ sĩ. Trong khi tình hình “phe ta - phe nó”, “xét lại”, “giáo điều” ngày càng phức tạp…là điềm báo cái “bắt đầu của sự kết thúc”. Bắt đầu bằng sự chia rẽ trong nhận thức về những khái niệm cơ bản nhất: Xã hội chủ nghĩa là gì? Cộng sản chủ nghĩa là gì? Thế nào là chuyên chính vô sản?... Từ những lý luận cơ bản đó, người ta buộc phải vạch trần quá trình sai lầm tệ hại đưa đến bế tắc toàn diện của chủ nghĩa cộng sản phản khoa học nhất lịch sử loài người, biến một phần sáu trái đất thành trại lính, tất cả phải nghe lệnh của một băng nhóm, thậm chí một cá nhân như Stalin, Mao Trạch Đông, Nikolai Ceaucescu ([9]), Enver Hodja ([10])... cùng ăn, cùng làm, cùng nghĩ theo một bàn tay chỉ đường!

Tất cả những vụ xé toạc bức màn sắt đó chẳng do thế lực phản động nào từ bên ngoài nhúng vào cả! Chính nội bộ các đảng cộng sản đủ mọi mầu sắc tự đánh nhau chí chóe bằng lý luận, choảng nhau thực sự bằng xe tăng, đại bác hẳn hoi (vụ Nga-Tàu). Các ông “anh lớn” đã thế, các đồng chí phe ta thì...mạnh ai nấy nói, nấy làm. Buồn cười nhất là chú bé Albanie vừa theo chân Tàu chửi Liên Xô, lại quay ngoắt chửi Mao, chửi Tiệp, chửi Hung...chửi tất! Không chơi với ai, bỏ ô tô đi xe đạp, nhịn đói chứ không ăn bánh mì...“xét lại”, không dùng đồ Anh, Mỹ...

Loại thông tin đáng sợ này người ta cố giấu, nhưng giấu sao được những kẻ nghe đài hàng ngày bằng ngoại ngữ như chúng tôi, giấu sao được những người đọc được các báo tiếng Pháp, tiếng Anh và cả tiếng Nga, tiếng Tầu thuộc “phe ta” nữa. Trong cảnh bất lực vì không ngăn cấm nổi, một tên sen đầm văn nghệ còn chỉ tay vào mặt Bửu Tiến ([11]) mà doạ: “Ba cái văn kiện chữ Tây này nhiều lắm chỉ đến tay vài trăm trí thức ở Hà Nội, cứ đọc bậy đọc bạ, sao rồi cũng có ngày... ”

Tuy nhiên từ trên cao nhất, người ta vẫn cố chơi “trò xiếc đi hai dây” thậm chí...4,5,6,7...dây càng lâu càng tốt! Phải nói cái trò “bí mật ỡm ờ” “mọi người đều tốt” này kéo dài cũng được một thời gian.

Chính cái thời gian lấp lửng này mà anh em văn nghệ sĩ “nhờ mưa mát mặt” ít nhiều. Phe vẫn còn chút ít quyền nhưng “xét lại”, nghĩa là theo Liên Xô, cứ tiến hành các kiểu xây dựng, cách tân... theo kiểu Liên Xô mà không bị công khai trấn áp. Phe “chính trị là thống soái” thì cứ thẳng tay điều hàng loạt văn nghệ sĩ đi làm đường, đắp đập, làm thủy lợi, trồng cây ở các lâm trường, nông trường! Chẳng ai muốn bấm nút một cuộc đấu tranh chết người khi những trùm ný nuận về “ai thắng ai” cứ ngậm hột thị trên con đường... rã đám, bởi điểm mặt trên thực tế chẳng có tay lãnh đạo nào có lý luận gì ngoài sự nhai lại của 2 ông Xít ông Mao! Vì thế hàng loạt chính sách dễ thở được đưa ra thời kỳ này. Ví dụ trong chế độ bản quyền có mục “Mỗi năm mọi văn nghệ sĩ sáng tác được nghỉ ba tháng để sáng tác” tức giải phóng khỏi công việc sự vụ. Nhưng cũng chính thời gian này, trên các công trường, nông trường khắp miền Bắc, từng đoàn văn nghệ phải chấp hành ý kiến của ban bí thư, rời thủ đô về lao động thật sự với công nông. Mỗi người có một cách đi thực tế và nhiều cách trốn...thực tế!

Của đáng tội, khối người, trong đó có tôi, ra ruộng bê đất, đắp bờ chẳng qua là... “làm vui” cho nông dân chứ họ đâu cần đến cái thứ “lao động tài tử” quẩn chân họ! Họ cũng chỉ chấp hành ý kiến trên để văn nghệ sĩ ra ruộng “cùng làm” mà lòng chẳng muốn chút nào! Còn “cùng ăn”, “cùng ở” thì...bịp số một! Chẳng anh nào không có miếng chả, miếng giò, lọ ruốc bông, thậm chí tối tối còn vật gà, cắt cổ vịt đánh chén với chủ nhà túy lúy rồi lăn đùng ra ngủ ở chỗ tốt nhất mà chủ nhà thường nhường cho.

Chuyện khôi hài này, Nguyễn Tuân đã kể lại khi cụ cùng chúng tôi — Hà Mậu Nhai, Nguyễn Đình Thi, và tôi -– đi thực tế…Sài Gòn đêm Noel 75 tại nhà một văn sĩ “tại chỗ” là bà Tùng Long! Mọi người cứ cười nôn ruột khi cụ Nguyễn nhắc tới cái tật của Nguyên Hồng là hay nói... “nhịu” (thay mọi chữ bình thường bằng chữ lờ...bờ) chính là do “ba cùng” mà ra! Buồn cười nhất là chính các ông Mai Vy, Võ Hồng Cương, những người lãnh đạo chủ trương này cũng thỉnh thoảng “hạ phóng” xuống lội ruộng, đào đất cùng anh em văn nghệ. Do trình độ của các ông quá hạng bét cả về văn hoá lẫn chính trị nên gần các ông, tôi mới phát hiện các ông chỉ là những cái “máy phát âm” lại điều gì trên đã nói mà thôi, còn trong thâm tâm thì chính các ông cũng đâu có tin là bỏ bút, bỏ đàn cả mấy tháng trời sẽ làm anh chị em “lớn lên về... tư tưởng.”

Vậy mà cứ hết đoàn này đến đoàn khác lên đường về nông thôn, nhà máy, làm... phiền sản xuất! Một số tác phẩm viết về nông thôn, về công nhân cứ ào ào ra đời và được đề cao, tặng thưởng thậm chí in bao cấp cả trăm ngàn bản, bán như cho... Điển hình là cuốn Con Chim Đầu Đàn của Lê Phương viết về “tổ đá nhỏ ca ba” (nhà máy xi-măng). Ngay những Mùa Lạc, Cái Sân Gạch của Đào Vũ ([12]), Nguyễn Khải ([13])... thời ấy được đề cao như “tuyệt tác” thì sau này, nhắc đến nó, chẳng ai biết nó là cái giống gì. Nổi đình đám và ồn ào nhất, nhưng cũng sớm mất dạng nhất, là hàng loạt bài hát với đề tài đào mương, chống hạn, làm thủy lợi. Những Cờ Ba Nhất, Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong ra đời một cách...rình rang, với mục đích “trình làng” — đúng ra là trình Đảng! Sự “tiến bộ” trong tư tưởng của nhạc sĩ, sau khi thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, đều được “ép ra đời...ông ổng!

Riêng tôi, về nông nghiệp tôi đã “rặn” ra một...đống, nào Nước Đã Về Đồng, Bài Ca Của Đội Thủy Lợi được giải của...bộ Thủy Lợi! Về công nghiệp, chỉ riêng đề tài hòn than thôi, tôi đã viết tới... 6 bài! Nào Mỏ Đẹp Mỏ Giàu, Bài Ca Từ Trong Lòng Đất, Hành Khúc Công Nhân Mỏ...nào Mai Đây Con Lại Lên Tầng, Lên Đèo Ngang...Về điện, về xi măng, về tất cả... những gì đi thực tế cũng có ngay tác phẩm, tôi cũng được đề cao, khen thưởng, ít nhất cũng do cấp bộ!

Tóm lại tao, mày, nó, chúng tôi, các anh, chúng nó... đều làm dối, nói dối, khen nhau dối, và từ trên xuống dưới đều dối nhau là “Đừng có nói...đó là...nói dối!”

Tuy vậy, không thể phủ nhận là cũng do những dịp đi “thực tế bắt buộc” này, không ít anh em đã có một số ghi chép (đặc biệt là nhóm họa sĩ) có lợi cho việc xây dựng tác phẩm tử tế sau này. Riêng những tác phẩm...“báo cáo thành tích” thì số phận nào dành cho nó, đã được thời gian và công chúng trả lời. Có người còn cố bám vào cái lý luận ra vẻ biện chứng duy vật lịch sử là nó đã “đóng góp vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất ở miền Nam thật to lớn.” Phần tôi và đa số đều thấy những thứ “nhi nhô” đó không thể gọi là nghệ thuật, thậm chí còn đóng góp vào sự sai lầm chết người của cái chủ trương “Một mo cơm nắm, một gói muối mè, một trái tim hồng tiến lên đồi trọc xây dựng chủ nghĩa xã hội” (phong trào Gió Đại Phong)!

Không phải các vị Nguyễn Khải, Đào Vũ không thấy việc tập hợp công cụ sản xuất — trâu, bò, ruộng đất... mới được chia trong cải cách ruộng đất vào cái gọi là hợp tác xã — không có chút khả năng gì, ngay cả khả năng làm nông nghiệp. Cái lối làm việc theo kẻng, lao động chấm công dưới sự lãnh đạo của một ban chủ nhiệm gồm toàn đảng viên không cần giỏi nghề nông sẽ dẫn tới con đường...khốn nạn cả nước! Không phải chúng tôi khi đi thực tế, được mời nhậu nhẹt ở nhà ông bí thư, bà chủ tịch, không thấy những câu vè của nông dân “mỗi người làm việc bằng hai để ông chủ nhiệm mua đài, mua xe”, “mỗi người làm việc bằng ba để ông chủ nhiệm xây nhà, xây sân” là sự phản ảnh chân thật nhất cái thực tế đáng buồn của nông thôn Việt Nam những ngày sống dở chết dở đó! Cái sự hèn, hèn đến kinh tởm của anh chị em chúng tôi là ở đó. Biết cả đấy mà không dám nói.

Tuy nhiên sự sợ hãi phải vào tù, phải đi cải tạo như thời Nhân Văn đã giảm đi nhiều vì sự thật đã dần lộ nguyên hình! Với giới trí thức, bắt đầu khó thể nói mãi chủ nghĩa cộng sản là “một khối thống nhất từ Vĩnh Linh đến Bá Linh” nữa! “Sự thật viết hoa” đang vả những cái tát ra trò vào miệng những con vẹt ngu đần. Sự phân hóa tư tưởng đã hình thành trong giới văn nghệ sĩ kể cả bọn nhát như thỏ đế. Kể từ sau Đại hội 20 Đảng CS Liên Xô, rất nhiều báo chí, phim ảnh của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu (“phe ta” cả) mang đến cho chúng tôi những thông tin động trời! Hàng loạt tác phẩm, điện ảnh, văn học âm nhạc... dù không bị cấm, nhưng bị hạn chế, chỉ lưu hành nội bộ, cũng mở cho chúng tôi những con đường suy nghĩ mới. Những phim Liên Xô như Bầu Trời Trong Sáng, Khi Đàn Sếu Bay Qua, Bài Ca Người Lính, Người Cùng Thời Đại... đặc biệt những họa báo Ba Lan đã có ảnh hưởng rất lớn trong các văn nghệ sĩ đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp. Ấy là chưa kể báo chí “phe nó” như Paris Match, Nouvel Observateur, L’Express... bị cấm nhưng vẫn lọt vào qua nhiều đường khác nhau: Các thư viện, các sứ quán, các bà bán giấy lộn… là thứ quốc cấm đấy, nhưng vẫn được chuyền tay nhau đọc.

Càng đọc nhiều, càng nghe nhiều — tôi gần như nghiện tất cả các đài trên thế giới, dù “phe ta” hay “phe nó” — tôi càng thấy xấu hổ cho sự hèn nhát, thiếu bản lãnh của giới văn nghệ ăn lương nhà nước. Họ cũng là những người đáng thương, xét cho cùng, khi sau suốt cuộc đời chỉ viết theo chỉ thị, theo yêu cầu, theo com măng ([14]), để tồn tại và rốt cuộc rồi trắng tay hoàn tay trắng trong thời kỳ gọi là “Đổi Mới” về sau.

Theo tôi nghĩ, sự hèn nhát lớn nhất của giới văn nghệ miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ cả thế giới cộng sản đang rung động đến tận nền móng chuẩn bị cho một cái chết đang chờ, là không dám làm một cái gì đó, dù chỉ nhỏ bằng ngón tay út cụ Phan Khôi hay Trần Dần. Mặc cho thời thế thay đổi, mặc cho quan điểm về cái Hay, cái Đẹp, cái Thật đã được định hình trở lại sau khi thần tượng Stalin bị chính những người cộng sản Liên Xô giật đổ, họ vẫn chúi đầu vào đống rác giáo điều, không dám hé con mắt nhìn ánh sáng chan hoà.

Nhà cầm quyền cộng sản đang dao động, hoang mang, trước ngã ba đường tỏ ra lỏng tay kiềm chế văn học nghệ thuật. Thời điểm ấy dễ thở hơn nhiều so với thời Nhân Văn, vậy mà không hề xuất hiện ở Việt Nam một Essenin, một Bulgakov, một Pasternak, thậm chí thứ suy nghĩ độc lập nhẹ nhàng như Cholokhov, như Akhmatova, như Chukhrai ([15])... Tấm gương của những văn nghệ sĩ được coi là mới trong phần thế giới bị nhuộm đỏ không hề có ảnh hưởng biểu kiến nào ở Việt Nam. Đến ngay những thông tin về Đại Hội 20 của đảng cộng sản Liên Xô mà cũng chỉ dám nói thầm vào tai nhau, bí bí, mật mật, cứ như đi họp “hội kín” vậy!

Tất cả chỉ im lặng hoặc xì xào ngầm về sự khẳng định như “đinh đóng cột” của thứ trưởng Hà Huy Giáp: “Nước ta không thể có bi kịch, tất cả chỉ là anh hùng ca”! Các bậc lão làng văn nghệ vẫn tiếp tục có mặt để nghe lên lớp về... văn nghệ bởi mấy ông lãnh đạo không văn nghệ chút nào. Đại để: “Hiện thực xã hội chủ nghĩa là hãy viết thật, vẽ thật mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.” Bạo phổi hơn, còn có ông thứ trưởng Hà Xuân Trường ([16]), đi sâu vào chuyên môn cực kỳ... bậy bạ như “Beethoven là người sáng lập ca kịch (opéra) cổ điển Đức!” Hoặc “Xa rời tính Đảng, nghệ sĩ không còn là kỹ sư tâm hồn nữa!” Cứ làm như những Shakespeare, Voltaire, những Orson Welles, Maugham, Miller ([17])... tất cả chỉ vì không có đảng lãnh đạo nên đều là “bồi bút” của chủ nghĩa tư bản hết”!

Những điều ngu si dốt nát, thậm chí phi lý tới mức con nít cũng không nghe nổi đó cứ liên tục, liên tục... nhai đi nhai lại mà chẳng một ai dám viết một bài báo, một ý kiến phản đối, bác bỏ. Tất cả chỉ vì quá sợ cho cái mạng sống và nồi cơm của mình trước những đòn răn đe từ thời Nhân Văn Giai Phẩm: Bị khai trừ, bị tinh giảm biên chế hoặc tệ hại hơn, đi cải tạo, cấm sáng tác và... đi tù!

Những bạn bè đồng nghiệp đang còn nằm trong tù như Nguyễn Hữu Đang, Phan Tại, Vũ Thư Hiên, Lê Huy Vân... với những cái “tội không phải văn nghệ” cho có vẻ hợp pháp như “âm mưu chống Đảng, chống chính phủ”, thậm chí “gián điệp”, thí dụ như trong vụ "Nhân Văn Giai Phẩm" chẳng cần bằng chứng gì hết mà Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Nguyễn Hữu Đang, Phan Tại vẫn bị kết vào tội gián điệp chỉ vì họ giao du với De Bonfils, một Pháp kiều...

Những bài học sờ sờ đó đã khiến cả giới văn nghệ với “chất men bất phục tùng và phản kháng” như xưa nay người ta từng nghĩ câm như hến!

Có phải đó là chính sách chuyên chính vô sản, vật hóa con người (abêtissement de l’homme) của đảng cộng sản Việt Nam đã thành công đến tuyệt cú? Tệ hơn nữa là bọn cơ hội, nhân lúc này, nhảy ra kiếm chác bằng cách bới lông tìm vết, khoác anh này vào tội “xét lại”, chị kia vào tư tưởng “hậu Nhân Văn”! Tác phẩm của ai bị trù dập đều bị soi qua lăng kính của bọn đểu giả “chỗ này là biểu tượng hai mặt”, chỗ kia là “nhằm đả kích chế độ”... Những bài hát có giai điệu mượt mà tí chút đều bị lên án, nhẹ thì “ảnh hưởng phương Tây đồi truỵ”, nặng thì “mang dấu ấn của chủ nghĩa xét lại”.

Một biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đến ghê hồn là chuyện quay ngoắt 180 độ với những cái hay vừa mới được công nhận hôm trước. Điển hình là vở kịch Liên Xô Câu Chuyện Iếc-Cút mà tôi tham gia làm nhạc một cách chính qui (nghĩa là từ lúc đọc vở, dàn dựng đến lúc hoàn chỉnh, công diễn). Người ta đã “hua-ra” đến khản cổ, đã uống từng lời của ông Tố Hữu khi phân tích giá trị nghệ thuật, tư tưởng của vở diễn, đặc biệt là đạo lý cộng sản chủ nghĩa giữa con người và con người. Chưa bao giờ có một vở kịch nói mà khán giả, kể cả diễn viên phải đắp chăn nằm ngủ ngay phòng bán vé để sáng hôm sau mua được 2 chiếc vé...Vậy mà, chỉ sau đó ít lâu, khi có cái nghị quyết ba lăng nhăng đánh số là “nghị quyết 9”, khi người ta đã công khai lên án “chủ nghĩa xét lại”, khi một “ông to” phán: “Hay gì cái vở đề cao…một con đĩ (vai Valia)!” Thế là...dẹp! Các tiến sĩ, phó tiến sĩ (dỏm) đang có chức có quyền (nói trắng ra là lũ nịnh thần) cũng tát nước theo mưa, quay ngoắt 180 độ để phê phán vở kịch, thậm chí còn đấm ngực thùm thụp tự phê phán về sự “yếu kém trong lập trường” khi đã duyệt cho vở kịch xét lại ấy được ra mắt công chúng! Những tên “lá mặt lá trái” này càng về sau càng được tín nhiệm, càng lên cao (dù không ít tên cũng ngã đau) có những danh hiệu, học vị sang trọng từ cái thời “giết nhau để leo lên, dìm nhau xuống vũng lầy để vươn tới”, tôi có thể kể ra cả hàng trăm, vì họ là ai, học hành đến đâu, lạc vào con đường văn nghệ bằng ngả nào, gặp may ra sao, thực chất thế nào, cả về trình độ lẫn tư cách. Họ là những tên gác rạp (gọi là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm), là những anh không thể làm bất cứ việc gì khác ở các đoàn văn công hơn là khuân vác, kéo màn, dựng cảnh! Họ là lính cũ của tôi, của các đoàn bạn, nhà hát bạn, thậm chí chỉ là anh... chấm cơm ở một sở văn hoá địa phương kiêm bảo vệ... và nhiều nhất là những tay vô tài bất tướng nhưng “lý lịch trong sạch”, trung thành với Đảng, “đầu đội chủ trương, lưng thắt chính sách, nói như... Trung Ương, làm bằng cái... miệng” Tôi dám bảo đảm 90% các vị được ưu tiên “bồi dưỡng”, được phong hoặc tự phong tiến sĩ, nghệ sĩ nhân dân, ưu tú...chi chi đó, đến một cái bằng trung học phổ thông, trước khi được gửi đi học nước ngoài...cũng không có! Một số đã chết, một số đã...lại quay 180 độ lần nữa, nghĩa là lại “hua ra” Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt...lại ca ngợi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Đặng Đình Hưng vào thời...“đổi mới”!

Tôi xin lỗi số ít những tài năng chân chính khi phải nêu lên những mặt đáng tởm của giới “văn nghệ giả cầy”... gặp vận, vì đã làm các bạn phải vấy bẩn. Tôi cũng cảm phục những con người đầy bản lãnh đã nằm im (như thầy Nguyễn Công Hoan sau vụ Đống Rác Cũ) như Hữu Loan, Văn Cao. Tôi càng kính trọng những người thà đói cơm, rách áo những vẫn viết, vẫn vẽ theo tiếng gọi của con tim, của nghệ thuật chân chính, quyết không dính vào chính trị, cũng chẳng nhằm danh vọng, tiền tài như Trần Đông Lương toàn vẽ... con gái, một đề tài hoàn toàn không phục vụ công, nông, binh. Tôi càng thông cảm với sự chia tay cùng nghệ thuật của một số diễn viên rất có tài, có lửa, sau khi người ta đã phá tan cái đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị bằng cách tăng cường cho các đoàn địa phương dưới chiêu bài “tinh giản biến”. Việc làm này đồng nghĩa với cấm dàn dựng các tiết mục kiểu Tiếng Hát Biên Thùy, Ouverture Carmen (Bizet)!

Điều khôi hài là trong cái gọi là thời Đổi Mới lại được chứng kiến một cuộc quay ngoắt 180 độ nữa, khi người ta bỗng chửi bới cả quan điểm “nghệ thuật vì nhân sinh” một thời được đề cao lồng lộng của Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, mà chính ông trưởng ban Văn Hoá Tư Tưởng Nguyễn Khoa Điềm cũng làm lơ khi thấy bố đẻ của mình bị lăng nhục. Nhưng cuối cùng thì nghệ thuật đâu có vì nghệ thuật? Tất cả là một thứ hàng hóa rẻ tiền “luộc lại” một cách trâng tráo đủ loại táp nham, thậm chí những gì là phản nghệ thuật nhất mà ngay thế giới phương Tây vẫn lên án, những “bài hét” chứ không phải bài hát: “Ô!Ô!Ô Tình yêu là gì. Ô!Ô!Ô! Nụ hôn là gì”... với nhịp điệu Rock’n roll... bắt chước một cách rất “nhà quê”! Người ta triển lãm hội hoạ “mới” bằng cách... tự trói mình vào cột, xung quanh là mùng, màn, máu mê, bê bết ngay ở tả vu Văn Miếu! Họ tặng giải thưởng cao nhất cho những tác phẩm chửi bới quá khứ hy sinh vô ích và mù quáng...để rồi lại, một lần nữa, tự kiểm điểm là...sai lầm! Và cả ngàn thứ “bịp bợm mà ăn khách” khác nẩy nở như nấm độc gặp mưa: hàng loạt họa sĩ không hề biết vẽ, hàng loạt nhạc sĩ không biết ghi, hàng loạt ca sĩ một nốt nhạc bẻ đôi không biết. Người ta phong “nghệ sĩ nhân dân”, cho những “nghệ sĩ” không hề gần một người dân nào vì quanh năm chỉ sống gần dân...nước ngoài, có về thì biểu diễn xong là lên xe chuồn thẳng về khách sạn để rồi sớm hôm sau, lên đường “dông” tuốt về trời Tây! Của đáng tội, họ quả có tài, cho nên không phong cho họ nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú... thì bị lộ tẩy là chưa có “Đổi Mới”! Vì vậy tiếc gì dăm cái mề đay, ba cái danh hiệu mà chẳng ra tay ban phát! Có mất gì đâu, mà lại được tiếng là dưới thời họ lãnh đạo, tiến sĩ, giáo sư, nghệ sĩ nhân dân, ưu tú... nhiều đến thế đấy!

Chẳng hiểu có nước nào nhiều “sĩ”, nhiều “nhà” như ở nước Việt Nam của chúng ta trong giai đoạn chuyển nhanh, chuyển mạnh, sang nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” này không?

Tôi không nói vống lên đâu. Chỉ riêng hai cái “hội âm nhạc” to nhất nước đã có gần…hai ngàn nhạc sĩ! Tôi từng dạy một số “hội viên” trong hai cái hội này (tức là họ đã được công nhận là “chuyên nghiệp”), tôi biết họ ở trình độ nào. Họ không ký âm nổi chính bài hát do họ ê, a ra, chưa nói đến những “tính cộng, tính trừ trong âm nhạc”! Có thể nói chẳng ngoa rằng những người này đã được cấp bằng cử nhân, tú tài từ khi mới học...mẫu giáo! Âm nhạc là nghệ thuật của khoa học âm thanh mà còn thế huống hồ các ngành khác. Cho nên, từ một anh bán xi măng, sắt thép, từ một cô bán xăng lậu bên vỉa hè, thậm chí cả một ông cán bộ chính trị, cấp trung ương, cấp bộ, từ một bà vợ một ông thứ truởng... bỗng đùng một cái trở thành “nhạc sĩ”, “đạo diễn”, “nhà này”, “nhà nọ”!...

Điển hình nhất là có một ông Xuân Kỳ nào đó đã cho ra cùng lúc bộ phim Ngã Ba (cháo) Lòng do chính ông ta đạo diễn, một “tập thơ biếu” không cho ai vào xem phim và tặng luôn một album nhạc, cũng của ông ta nữa! Lạ lùng là các tác phẩm của ông ta đều nhanh chóng lọt qua mọi cửa xét duyệt của các “nhà định hướng” (hội đồng xét duyệt) vốn xưa kia là những cửa ải khó lòng vượt được. Nếu tin ở lời ông ta thì để mua được cửa ải đó ông ta chỉ cần 5 phút!

Cùng với sự loạn xị bát nháo trong âm nhạc là một làn sóng “văn nghệ ba xu” với các tên tuổi lạ hoắc, ào ào nhảy ra chiếm lĩnh thị trường dưới sự lãnh đạo tài tình của những nhà cộng sản kiểu mới một mặt vẫn ê a tụng kinh Mác-Lê-Hồ, mặt khác tha hồ thu vét tất cả những gì mà kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho họ kiếm chác!

Trở về thuở mà chính trị trở thành một thứ thủ đoạn chuyên dùng để... thịt nhau, lũ chúng tôi hầu hết, dù tỏ ra theo Liên Xô, theo Trung Quốc, nhưng xét cho cùng cũng chỉ là...“vờ theo cái gì mà “trên” bảo theo”! Thế thôi! Tuy nhiên, không ít người, trong đó có tôi, đã không còn để bị nhào nặn vuông tròn, méo, dẹp thế nào cũng được nữa.

Rất nhiều nguồn thông tin, rất nhiều sự thật cay đắng hàng ngày diễn ra trước mắt, rất nhiều điều đang trắng thành đen, đang xấu thành tốt buộc chúng tôi phải nghĩ tới quá khứ, hiện tại và tương lai của mình. Để tồn tại, thôi thì... “mạnh ai nấy tự cứu.”

Trong khi đó, bọn cơ hội tha hồ kiếm chác cũng mạnh ai nấy làm... mạnh ai nấy nói! Nói theo Liên Xô hoặc Trung Quốc cũng cộng sản đâu có sợ...mất lập trường! Một xu hướng nhỏ đã xuất hiện trong giới họa mà phá phách nhất thời ấy là anh chàng Lưu Công Nhân nhờ bà vợ là một nhân vật có vai vế chuyên đi nước ngoài sắm cho anh ta đủ sơn, toile...để anh ta phá...của, hoặc vẽ chim, hoa, lá, cá, phong cảnh, hoặc đi xa hơn tí chút là... bỏ cái đẹp để vẽ cái xấu, vẽ vài bức khỏa thân, rồi âm thầm triển lãm tại gia vì sợ công an văn hóa…tóm cổ! Công an đã đôi lần đe người này người nọ trong giới hội hoạ về tôi dám vẽ con gái cởi truồng. Nhưng đe thì đe, người thích vẽ vẫn vẽ. Về văn học thì hàng loạt truyện dài truyện ngắn thuộc loại “có vấn đề” lần lượt ra đời, cái nọ sau cái kia, cái này bị cấm, cái kia lọt ra, như Vào Đời, Cây Táo Ông Lành...Về điện ảnh có Biển Gọi...cũng bị các nhà phê bình mác-mít lê-nin-nít phê phán và cấm chiếu.

Riêng âm nhạc là thứ ai cũng nghe được và...chửi được do ít lý luận, ít nhà phê bình nhất, thì được phát triển “vô tư”! Bên cạnh những bản giao hưởng, opéra của Beethoven, Tchaikovsky dựng “lấy được” mà đánh sai, so lệch giữa các bè cả chục mơ-duya, cũng không bị phát hiện. Chuyên gia nước ngoài là anh chàng Thôi Long Lân, tốt nghiệp loại...“tồi” ở Nga, được Đảng Triều Tiên cử sang giúp Việt Nam, chưa từng chỉ huy giao hưởng, có chăng là chỉ huy dàn...kèn đồng của Tổng Cục Đường Sắt nước bạn. Bên cạnh là đủ loại nhạc gọi chung là “nhạc nhẹ”, nhạc Jazz cũng được ông Xunhaxaba ([18]), được thứ trưởng Nguyễn Đức Quì, người cán bộ có trí thức, có văn hóa âm nhạc nhất, “bật đèn xanh”!

Lần đầu tiên, người ta cho nhập vào Việt Nam đủ loại đĩa hát 33, 45 vòng/phút của Rumania, Bulgaria, Ba Lan, Hung, Liên Xô, nhất là Đông Đức với hai hãng Amiga và Eterna nổi tiếng về thu âm tốt nhất! Không kể những đĩa nhạc nhẹ, người mua các đĩa giao hưởng, sonate của Mozart, Beethoven, chỉ là vài nhạc sĩ cần nghe để học, để nghiên cứu và mấy ông nhạc sĩ tỏ vẻ ta đây cũng là nhạc sĩ như ai, mua về để...bầy trong tủ kính, chứ nghe thì... không hiểu mô, tê, răng, rứa gì. Người yêu nhạc lúc này có dịp tiếp cận lần đầu với những thứ gọi là “nhạc nhẹ” mà đôi khi chẳng nhẹ chút nào! Thôi thì đủ thứ hay, dở...Từ The Beatles nổi tiếng đến các nhóm nhạc sớm nở tối tàn cây nhà lá vườn của các nước xét lại, từ Paloma, Santa Lucia, Guatanamera...đến Unchained Melody, thậm chí cả Violetta trong Traviata đến Ode de la Joie trong symphonie số 9 của Beethoven đều được “nhẹ hóa”, “rock hóa” bởi các nhóm nhạc...Ba Lan, Tiệp Khắc tràn vào qua cái cửa hẹp Xunhasaba của Đảng và Nhà Nước! Shake, Soul, Rock, R&B, Boogie Woggie, Mambo, Rumba của châu Mỹ La Tinh rồi Louis Armstrong, Duke Ellington...được các dàn nhạc lạ hoắc thu đĩa với các nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa lần đầu được phát thanh và bầy bán công khai ở cửa hàng sách ngoại văn duy nhất giữa phố Tràng Tiền.

Cảm ơn các ông Tây (dù đây là Tây...Đông Âu!) lại một lần nữa giải phóng tư tưởng cho lũ văn nghệ sĩ an-nam-mít để họ xét lại cái tư cách làm văn nghệ của họ. Hơn cả mong đợi, một cuộc họp về nhạc nhẹ Việt Nam được hai ông giám đốc, phó giám đốc Xunhasaba — Văn Các và Sĩ Trúc — dưới sự chủ tọa của thứ trưởng kiêm cục trưởng Cục Xuất Bản Nguyễn Đức Quỳ chủ trì, nhằm động viên nhạc sĩ Việt Nam viết “nhạc nhẹ Việt Nam”, mang hơi thở và tâm hồn Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của quần chúng! Chuyện lạ chưa từng có!

Âm nhạc không cần minh họa chính sách, không cần tuyên truyền đường lối của Đảng được những người thay mặt Đảng “com măng” công khai và chính thức!

Sau hội nghị này, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức ngay một mạng lưới cộng tác viên sáng tác và biểu diễn (có tạm ứng tiền hẳn hoi) để thực hiện một việc làm mang đầy tính chất... “mặc com lê cho mấy anh nhà quê!”

Dù các ông Đỗ Nhuận, Lê Yên, Nguyễn Xuân Khoát đều nhiệt liệt hưởng ứng, dù đã tập hợp những cây saxo, ghi-ta, contre basse “số dách” thời ấy cuối cùng cũng chỉ ra được một số bản nhạc nhảy (musique de danse) như tango, valse, thứ “âm nhạc của người ta” bị mấy ông ở rừng về “quê mùa hóa” đi bằng cách xử dụng một số thang âm 5 cung, 6 cung và càng “Việt Nam hóa” bằng những giai điệu mang điệu thức dân tộc thì càng...vô duyên! Cứ như mặc áo the thâm mà đi giầy bottine, đội mũ phớt vậy!

Phải kể đến sáng tạo Đám Cưới Bên Sông theo điệu Rumba của Đỗ Nhuận, một cái bóng của Đoàn Lữ Nhạc nhưng chẳng ăn nhập gì với mấy hợp âm trưởng, thứ, át 7 mà anh xử dụng ([19]) nên chính anh, khi nghe dàn dựng xong đã phải xin lại tổng phổ để “nghiên cứu” thêm rồi... chẳng thấy trao lại cho tôi nữa.

Một chi tiết khá lý thú và...kỳ cục là sau này, đến cuộc “kháng chiến chống Mỹ”, bỗng dưng giai điệu và nhịp điệu đó lại được phổ biến rầm rĩ dưới cái tên mới Vui Mở Đường, không sửa một nốt! Việc khéo léo “tận dụng thành quả lao động” (chính Đỗ Nhuận tuyên bố nửa nạc nửa mỡ với tôi như thế khi tôi phát hiện điều này) anh đã áp dụng một lần ở Đèn Cù và sau này ở Giận Thì Giận, Thương Thì Thương đổi thành Trồng Cây Lại Nhớ Đến Người. Cái lối “tận dụng thành quả lao động” ấy đã thành đề tài tranh cãi, chỉ trích, thậm chí thù hằn, chửi bới nhau...Nhưng lẽ phải không thể không thuộc về ông tổng thư ký đã có thành tích đi tù Sơn La, lại mới đi bồi dưỡng chuyên môn 2 năm ở tận Liên Xô nữa! Cho đến nay, chẳng hiểu sao người ta vẫn giới thiệu cái bài dân ca Nghệ An Giận Thì Giận, Thương Thì Thương được đặt lời mới là “sáng tác” của Đỗ Nhuận (!) dù chỉ vài hôm trước đó Tivi, đài vừa giới thiệu bài dân ca Nghệ An đó với đầy đủ âm nhạc và lời ca của chính nó! Còn vụ Đèn Cù mà Đỗ Nhuận chấm thêm bè 2 ở đoạn 2 và mở rộng đuôi câu kết trọn bằng thủ pháp thường dùng trong các ca khúc phương Tây thì được... quên đi bởi Đỗ Nhuận đã chủ trương không đặt cho nó lời ca mới nào! Cứ “Khen ai khéo kết cái đèn cù... ” rồi thì voi giấy, ngựa giấy, tít mù ấy lại vòng quanh... mãi thì thế nào cũng khối kẻ động lòng... nên cho nó chết hẳn là phải “đạo cộng sản an-nam-mít... đặc” đúng đắn nhất!

Vậy là...“nhạc nhẹ Việt Nam” không phải không muốn có từ rất sớm nhưng rõ ràng bắt đầu từ đâu thì tất cả đều...chịu. Các nhạc sĩ Việt Nam lạc hậu với tình hình âm nhạc thế giới quá lâu! Một vài thể nghiệm rụt rè đều thất bại vì rõ ràng đánh lên nghe như... mấy chị Thái trắng Tây Bắc hát chèo trong một vở của Lưu Quang Thuận vậy!

Trừ Đỗ Nhuận không tốn sức vô ích vì biết (và dám) “tận dụng thành quả lao động”, còn lại thì...đành xếp xó! Sau này xem lại hai bản nhạc nhẹ tôi viết theo kiểu giao hưởng hóa của Dalibor Braza (một nhạc trưởng Tiệp hay Hung gì đó nổi tiếng một thời) tôi mới thấy là Stravinsky quả là đúng khi kết luận về xu hướng giao hưởng hóa nhạc Jazz: “Đó là một sự ngu xuẩn vì nhạc jazz chơi bằng trái tim chứ không phải bằng tổng phổ!”

Cũng may mà số băng thu thanh đĩa hát đó (thu thử để duyệt) sau này đã được ông Trần Lâm ([20]) hạ lệnh “nhốt” chặt trong kho bá âm Bà Triệu, và cũng chưa có tiếng vang gì, nếu không lại khối kẻ ăn đòn, hoặc lợi dụng để phán nhau, kiếm chác tí...“lập trường kiên định”!,

Vừa là người thực hiện — biên tập, tổ chức luyện tập, thu thanh thử... — lại kiêm tác giả, tôi sẽ phải ăn ít nhất vài ba đòn toé máu! Vì cơn bão kèm gió xoáy cấp 2 đã bắt đầu: tất cả văn nghệ sĩ lại được tập trung “rửa não” lần nữa bằng nghị quyết 9 ([21]). Mục tiêu rõ ràng là chống tư tưởng và đường lối “xét lại” của Khrushov, đặc biệt trong giới văn nghệ, nhưng tuyệt đối bí mật để có thể vừa “chửi vừa xin tiền ông anh”!

Lần này, chúng tôi không tập trung ở lăng Hoàng Cao Khải “nội bất xuất ngoại bất nhập” như thời chống Nhân Văn nữa, nhưng cuộc đấu đá không kém phần quyết liệt. Đặc biệt trong đợt “học tập” này, một loạt các ông lớn bị các đồng chí (cũng lớn như họ) thẳng tay trừng trị, đuổi cổ thẳng ra khỏi Đảng! Lý do: nghị quyết 9 dù đóng dấu “tuyệt mật”, dù chưa phổ biến tới chi bộ chẳng hiểu sao lại có đầy đủ trên bàn của Tcherbakhov, vị đại sứ cực kỳ thân thiết với các đồng chí cộng sản ngu nhất thế giới của Việt Nam anh hùng! Đó là thời những cán bộ Đảng từ tiền khởi nghĩa như Ung Văn Khiêm ([22]), Lê Liêm, Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh ([23])... phải trả giá cho sự “tự do tư tưởng” của mình. Đó là thời mà mấy tay Hoàng Thế Dũng, Lê Vinh Quốc, Văn Doãn, Nguyễn Minh Cần... được cử đi học chủ nghĩa Mác ở trường Đảng Liên Xô đành ở lại để không bị bắt, chịu thân phận lưu vong. Đó cũng là thời lên ngôi của mấy tay quyết liệt lên án “chủ nghĩa xét lại” trong văn nghệ, những nhà chính trị đang theo học các trường đảng ở Liên Xô bị gọi về nửa chừng đã vạch trần sự thoái hóa và sa đọa tư tưởng của xã hội Liên Xô thời Khrushov, ca ngợi sự vững vàng của đảng ta kiên trì đường lối mác xít-lê-nin-nít để leo lên nắm quyền lãnh đạo. Điển hình nhất là Hà Xuân Trường. Tên vô danh tiểu tốt này nhờ thành tích học Liên Xô mà chống Liên Xô đã trở thành cột trụ về tư tưởng chống “xét lại”. Trường được cử trực tiếp nắm văn nghệ thay ông Lê Liêm bị nghi ngờ “không vững lập trường” (sau rồi cũng bị khai trừ)!

Đó cũng là thời kỳ hàng loạt văn nghệ sĩ, nhà báo, lý luận gia như Lê Huy Vân, Vũ Thư Hiên, Vũ Huy Cương, Kỳ Vân, Lưu Động, Phạm Viết, Hoàng Minh Chính... mất chức, mất đảng tịch hoặc bị bắt đưa đi đâu không rõ? Chẳng có xét xử như thời Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Phùng Cung... vì đảng không có toà án, mang ra chính quyền thì xấu mặt đảng quá nên đảng áp dụng luật... mafia! Ngây thơ, hay anh dũng nhất, có ông Dương Bạch Mai. Tôi nhớ như in hình ảnh ông lần cuối khi ông bỗng xuất hiện giữa phòng họp chính của Hội Văn Nghệ tại 51 Trần Hưng Đạo giữa lúc chúng tôi đang thảo luận tổ về cái nghị quyết dớ dẩn “chống đường lối chính sách của nước người ta.” Ông chỉ cái can chống vào giữa cuộc họp, nói to: “Chúng mày học chống Liên Xô hả? Chống Liên Xô thì ăn c... đấy! Xét lại với chẳng xét đi”!

Vài tháng sau, được tin ông bị nhồi máu cơ tim chết ngay tại hành lang Nhà Hát Lớn, giữa cuộc họp Quốc Hội mà ông chương trình nghị sự đã bị công khai công kích.

Còn khá nhiều ca “chết” hoặc “xuất huyết não”, nhiều phần tử “danh bại thân...liệt” (liệt thật sự), “đột tử”(?) nữa trong thời kỳ đấu tranh tư tưởng này mà lịch sử cần làm sáng tỏ...Có hay không sự thanh toán nội bộ giữa những tên cộng sản với nhau? Riêng tôi chỉ là cán bộ “tép riu” phụ trách biên tập một nhà xuất bản, chẳng có cái “tội” nào lớn! Tất cả chúng tôi, những “chiến sĩ văn hoá”, thực chất là những công chức, cấp trên “bảo sao làm vậy”.

Nhưng, theo chỉ thị của Đảng, ở đâu cũng phải tìm ra bằng được ảnh hưởng của “chủ nghĩa xét lại”, nên cuối cùng người ta cũng tìm ra mấy “tội” chính của tôi trong cơ quan, để răn đe và giảm bớt ảnh hưởng của kẻ mà ông giám đốc Nguyễn Đình Tính quá tin tưởng. Lúc bấy giờ thậm chí có tin vỉa hè rằng tôi sắp lên làm... phó giám đốc nhà xuất bản, điều mà tôi rất ngán, nhưng là mơ ước của một số người trong nội bộ. Thế là họ “oánh” tôi tới tấp về nhiều thứ: “Tại sao, trong lúc hòa bình toàn dân vui tươi phấn khởi mà anh lại... khóc” vì bài Qua Sông Lại Nhớ Con Đò, tôi nghĩ về một cô lái đò đã hi sinh trong kháng chiến để có cây cầu hôm nay...“Tại sao ít viết ca khúc hùng tráng, phục vụ kịp thời mà toàn là giai điệu mềm yếu, ẻo lả, sặc mùi nhạc nhẹ của bọn xét lại?”, “Tại sao viết về đề tài thống nhất mà nghe buồn như không có một chút tin tưởng gì vào ngày thống nhất?”... Kết cục là một biên bản họp tổ được trình lên trên, kê khai tất cả những tác phẩm bị kết án là “xét lại.” Biên bản được xào nấu lại thành công văn phổ biến cho các cơ quan đã trót xử dụng chúng như đài phát thanh, các nhà xuất bản, các tờ báo để...“xóa sổ”!?

Tôi thuộc lớp “xét lại có mức độ”, nhưng một loạt tác phẩm đã thu thanh, thu đĩa, in ấn cũng bị “ách” lại, trong đó có vài bài mà tôi cho là hoàn toàn chẳng có gì “nguy hiểm” đến nỗi phải chôn vùi bằng cách xóa băng, không cho biểu diễn, không cho phát hành đĩa (nhưng đành... chịu, nếu đã in trên giấy, vì không thể thu hồi). Đó là bài Qua Sông Lại Nhớ Con Đò (Quý Dương hát), Một Đêm Tháng Bảy (Quốc Hương hát) và sau này Những Người Trẻ Mãi, Màu Xanh Trường Sơn, Màu Đỏ Trường Sơn...

Họ sợ tiếng khóc và nỗi buồn trong tình cảm con người nên lên án là “hát lên không có lợi cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà!” Nhưng đến nay, tôi vẫn không hiểu vì sao một số tác phẩm nhạc không lời của tôi, mặc dầu được dàn dựng khá công phu nhưng không bao giờ được công diễn, được phát thanh, phát hình? Điều khá đặc biệt là tổng phổ (bản duy nhất vì lúc đó làm gì có photocopy!) không bao giờ tôi đòi lại được. Mãi sau này, thân với Bảo Hùng, một trung tá công an văn hóa, người được phân công theo dõi và “giúp đỡ” cụ...Nguyễn Tuân (xin lỗi Bảo Hùng nhé) nhưng đã...“mê” cụ, theo dõi Trần Khánh thì “mê” Trần Khánh, cho biết: “Lắm nhận xét chết người về cậu lắm đấy, “tạnh” ngay cái kiểu viết nhạc không lời muốn hiểu thế nào thì hiểu cũng được đi!”... Thế là rõ! Nhạc không lời của tôi đã bị những “giám định viên âm nhạc” dốt đặc cán mai gạch đít. Nhạc không lời dù có muốn cũng khó tìm ra “tội”, nhưng cái chuyện được dựng nên là “có vấn đề” trở thành nỗi đe dọa thường xuyên đối với tôi.

Thời gian này, do muốn phê phán Liên Xô nhưng không muốn mất viện trợ của Liên Xô nên các vị lãnh đạo “chóp bu” đã bị dồn vào cái thế “gà mắc tóc”! Nhiều tài liệu “tuyệt mật”, “chỉ lưu hành nội bộ” không hiểu từ đâu lọt ra đã bị... lưu hành tùm lum. Cái số ít chống nghị quyết 9 ra mặt cũng chỉ là...“cộng sản theo Liên Xô” chống “cộng sản theo Trung Quốc”! Đâu dễ ghép nhau vào “phản động”?

Vì thế, vẫn có một số người công khai bảo lưu, thậm chí đàng hoàng treo chân dung Khrushov to tướng trên tường (như ông Bửu Tiến) và chỉ hạ nó xuống khi chính Khrushov cũng tự đề cao cá nhân như ai (và sau này Brezhnev cũng thế), chẳng thua kém Staline!

Còn ở ngoài quần chúng thì rõ ràng khó dẹp bớt cái đòi hỏi hưởng thụ, cái khát vọng muốn ngừng nghỉ “hò kéo pháo”, cái mong muốn được rung đùi trước một vẻ đẹp rất nhân bản của thi ca, nhạc họa đích thực...

Tiếc rằng, cái đẹp thực thụ lúc này rất hiếm, vì người làm ra cái đẹp thực thụ thì ít, còn kẻ mang đến cái đẹp “dỏm” thì nhiều! Người ta thấy khắp nơi treo “tranh bờ hồ”, tranh “xanh đỏ tím vàng” người nào cũng giống người nào, đủ mặt, mũi, chân, tay, mặt mày hớn hở, nhập từ Trung Quốc. Còn đĩa hát thì ngoài một số rất ít ỏi phải đặt trước và phải quen hai bà “Hảo đen” và “Hồng Anh”, là hai người có mối mua được hàng từ phương Tây, mới có được các đĩa có giá trị nghệ thuật đích thực, không phải là hàng nhái từ Đông Âu.

Một khiếu thẩm âm mới đã nảy sinh trong giới trẻ. Một vài cửa hàng như Thủy Toạ, Phú Gia (đều là của Nhà Nước) đã yêu cầu các dàn nhạc, ca sĩ phục vụ “sống” trong một số ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc lễ, tết. Thế là vài nhóm nhạc nằm im sau 1954 rục rịch “tái xuất giang hồ”, tưởng thời cơ đã đến!

Nhưng than ôi! Khác với các thứ “nhân tài nằm im” sau này ở Sài Gòn khi “tái xuất giang hồ” lập tức chiếm lãnh thị trường, được quần chúng và cả lãnh đạo, báo chí, truyền thông ủng hộ hết mình, các nhóm nhạc của “Hà Nội xưa” bị đập chết ngay từ trong trứng! Đau nhất là nhóm “Toán Xồm”, không chỉ bị “dẹp”, mà còn bị đưa ra tòa, chịu án tù vì đã dám chơi nhạc “tư sản”, “tuyên truyền văn nghệ đồi trụy” giữa chỗ đông người! Cùng ra toà với Toán Xồm còn có một thanh niên trẻ măng tên Lộc, bị bắt vì hát “nhạc vàng”, nên có hiệu là Lộc vàng.

Phiên tòa “văn hóa đồi trụy” được xử công khai mấy ngày liền tại...Thư Viện Trung Ương? (để làm gì tới nay tôi vẫn chưa nghĩ ra vì tòa án chỉ cách đây có mấy bước ?) Có thể, người ta nghĩ rằng vụ án mang nhiều tính chất nội bộ văn hóa, một thứ vụ án văn nghệ, lập toà án xử ở đấy thì hơn chăng? Được “mời” đi dự từ đầu đến cuối để... “học tập”(?!), tôi thấy tức cười vì cái gọi là toà án lại... vô luật pháp đến cùng cực! Chỉ cần nghe vài câu “hỏi tội” của quan tòa, hay thẩm phán gì đó, cũng đã thấy chính tòa chẳng dựa vào cái gì để mà bỏ tù người ta cả:

Hỏi:

- Ai cho phép anh đánh “nhạc nhẹ”?

Toán xồm:

- Dạ! Thưa quí tòa, tôi được cửa hàng Nhà Nước thuê đánh đã 3, 4 tháng nay.

Hỏi:

- Anh đánh những nhạc gì?

- Dạ, nhạc nhẹ ạ!

Hỏi:

- Anh đánh cụ thể những cái gì?

Đáp:

- Dạ! La Paloma, La Comparsita, Violetta, Tango bleu...toàn là bài hát nghe qua đĩa hát của...Liên Xô, Cuba, Ba Lan thôi ạ!

Hỏi:

- Nhưng anh đánh có đúng như người ta không?

- Dạ! Họ đánh Rumba, Mambo, Tango, Cha Cha Cha thế nào là chúng con đánh đúng như thế thôi ạ!

Hỏi:

- Anh có biết “Cha Cha” là điệu nhảy đồi trụy không? (nhiều tiếng cười)

Đáp:

- Dạ, đâu có! Cha Cha Cha là nhịp nhảy Mỹ la-tinh, Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Đông Đức đều đánh...

Quan tòa lúng túng vì lỡ “hố” khi đi vào lĩnh vực chuyên môn, đập bàn:

- Im ngay, đừng có ngoan cố!

Cuối cùng, tòa lôi ra bản “giám định” đánh máy sẵn của một “chuyên viên, chuyên hòn” nào đó ở vụ Âm Nhạc “nhai lại” đường lối chung chung của đảng như dân tộc, hiện đại, “cổ phục vụ kim”, “ngoại phục vụ nội” và quan trọng nhất là phần phân tích (hầu hết là xuyên tạc) thời sự trong nước và quốc tế.(?!) Nào là tình hình đất nước khó khăn, đồng bào đang ngày đêm “làm việc bằng hai”, nào là kẻ thù đang âm mưu phá hoại, diễn biến hòa bình ở các nước anh em... đang âm mưu phá hoại hiệp định Genève chia cắt lâu dài đất nước... làm văn nghệ phải tập trung toàn tâm toàn ý vào các nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra là xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất ở miền Nam...Âm mưu tách rời văn nghệ khỏi nhiệm vụ chính trị bằng cách đem luồng văn hóa tư sản ra ru ngủ quần chúng là cố tình chống lại đường lối văn nghệ của đảng”... Phía dưới ký tên hai ông “chuyên viên” của vụ Âm Nhạc hẳn hoi, đều là “hội viên Hội Nhạc Sĩ Việt Nam” nhưng tôi bảo đảm chẳng ai biết họ sáng tác hoặc nghiên cứu cái gì. Sau này, dù đã hết thời, mỗi khi có dịp nhắc lại vụ án Toán Xồm, các ông vẫn cho là mình...khôn, vì không dại gì đi vào vấn đề cụ thể!

Cùng với Toán Xồm còn có một nhà nhiếp ảnh lão (nhưng chưa thành!) tên Nguyễn Duy Kiên cũng bị ra tòa. Nguyên do là công an khám nhà ông bắt được một tấm ảnh khỏa thân, trong đó, ông cố ý bố cục cái khiêu dâm nhất của người đàn bà thành một quả đồi có đặt đại bác: một cái tẩu thuốc gác trên một cặp kính dâm đặt ngang cái chỗ “dâm” nhất của người đàn bà!

Ông Kiên bào chữa trước toà rằng ảnh của ông là ảnh “khoả thân nghệ thuật”. Chính vì cách trình bày ý đồ sáng tác của ông là như thế làm các quan tòa phải chuyền tay nhau xem đi xem lại mãi tấm hình đen trắng cỡ 9x12 rồi đi đến kết luận: “Không nghi ngờ gì nữa, đây là một biểu tượng...hai mặt, giễu cợt cuộc chiến đấu anh dũng của quân đội ta (Tại sao lại là “ta” mà không phải “địch” thì Tòa không nói) bằng hình thức văn hóa đồi trụy!

Cả hai “nghệ sĩ tự do” và đã có “quá trình phục vụ thực dân đế quốc” (cả hai đều không tham gia kháng chiến chống Pháp) đều nhận bản án khá nặng: Toán Xồm 12 năm tù, Nguyễn Duy Kiên 7 năm tù! Chuyện này xảy ra vào những năm 1963-1964, nếu tôi nhớ không nhầm.

Sau này tôi chỉ gặp lại có Toán Xồm. Anh vẫn sống độc thân, vẫn rung đùi, ngất ngư theo những điệu rock nặng, heavy metal, techno... Anh vẫn có nụ cười không ra tiếng: “Bây giờ chẳng mấy ai dám sờ đến cái lông chân của những cháu đang hò hét, nhảy nhót như điên trên sân khấu, trong các vũ trường”.

Còn ông già Kiên, nếu còn sống năm nay phải 106 tuổi vì khi bị bỏ tù, ông đã chẵn 70 cái xuân xanh, tôi không thấy, không nghe nói đến bao giờ nữa.

Vụ án rõ ràng mang nhiều tính chất “răn đe” vì chỉ đánh vào những “phần tử ngoài xã hội” (nghĩa là không biên chế nhà nước). Còn trong nội bộ thì người ta hại nhau bằng cách tán láo, phê bình liều mạng, bới móc mọi từ ngữ, tình tiết để ghép vào tội “xét lại”.

Cán bộ xuất bản báo chí đi học hết lớp này đến lớp khác, được nhắc nhở phải làm trọn nhiệm vụ “người lính gác của Đảng”, cả thẩy 6 cổng gác ([24]) để khỏi lọt một tác phẩm “xấu” ra đời! Tôi còn nhớ ông “lính gác cuối cùng” (nhà in) cũng phát hiện từ cuốn Vai Trò Giáo Dục Của Âm Nhạc (do tôi biên tập) có câu “Trong Đại Hội Đảng Liên Xô lần thứ 20 đồng chí Khrutxốp đã nói:... ” cần phải đục bỏ! Thế là tôi phải lập tức chạy thẳng xuống nhà in cắt ngay câu vừa được phát hiện nhưng... để nguyên câu Khrushov nói, vì ông ta chỉ nhắc lại một câu nói của... Lê-nin mà thôi!

Các bộ phim, các vở kịch được xét duyệt, soi qua các cỡ thấu kính, lăng kính, kỹ đến nỗi khi sửa chữa xong theo yêu cầu chúng hết…là phim, là kịch. Tôi nhớ rất rõ chuyện người ta phát hiện cảnh bài trí sân khấu trong vở Giáo Sư Hoàng của Bửu Tiến là...xỏ lá! Số là cảnh điện thờ nhà ông giáo sư nọ có một tấm hoành phi ghi ba chữ Hán: Đức Thọ Đường. Mấy tên cơ hội sẵn thành kiến với Bửu Tiến phê: “Đây là ý đồ xỏ lá đồng chí... Lê Đức Thọ”! Thời gian ấy, Sáu Búa Lê Đức Thọ quyền sinh quyền sát thế nào không ai không biết, lời phê ấy là lời đề nghị án tử hình. Chuyện xảy ra trong “vùng địch”, toàn “phe nó” cả, vậy mà khi một quan chức cao cấp “ngụy” (Đào Mộng Long thủ vai rất tuyệt) được giao chức bộ trưởng thì lão gạt phắt: “Ấy chết! Tôi không có chuyên môn, làm bộ trưởng thế nào được, xin cho tôi làm... thủ tướng thôi!”

Thế là “phạm húy” rồi.Từ chủ tịch hội đồng bộ trưởng (tức thủ tướng) đến các vị đứng đầu các bộ, khối anh giật lên đùng đùng như đỉa phải vôi!

Vở kịch sau đó bị... xếp xó cùng hàng loạt vở khác không một lời giải thích. Có thể kể Đêm Mưa, Tàn Đêm (đều của Tất Đạt), Cơ Sở Trắng (Hoài Giao) sau này là Con Nai Đen, Hoa Và Ngần (đều của Nguyễn Đình Thi), Câu Chuyện Iếc-Kút (của một tác giả Liên Xô)... Buồn cười nhất là một số tác phẩm viết theo com-măng, viết để đáp ứng yêu cầu chính trị được các nhà xuất bản nhà nước cho in và được các “nhà phê bình” đề cao lên tận mây xanh như Tổ Đá Nhỏ Ca A (Lê Phương), Sống Mãi Như Anh (Trần Đình Vân) được in cả mấy trăm ngàn bản, bán như cho thì lại được mang ra...nghiên cứu, học tập. Nhưng tôi nhớ chỉ cái tên “anh Trôi” hay “anh Trỗi” mà người viết và người duyệt tranh cãi mãi xem tên nào là đúng thì làm sao tin được cái “hiện thực bịa đặt” của mấy ông lãnh đạo văn nghệ!

Các mặt văn hóa nghệ thuật khác thì đều sống chẳng ra sống, chết chẳng ra chết. Có cuộc triển lãm tranh, điển hình là tranh của họa sĩ đảng viên Lưu Công Nhân, sau 2, 3 lần xét duyệt đã được bầy lên, nhưng vào phút chót trước giờ khai mạc người ta “bứng đi” cả một gian toàn tranh sơn dầu không đúng đường lối... hiện thực xã hội chủ nghĩa, xem ra có chịu ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại! Mạch Nước Ngầm của Nguyên Ngọc, Đêm Mất Ngủ của Vũ Thư Hiên, Chị Cả Phây của Ngô Ngọc Bội và nhiều truyện ngắn in rải rác trên các báo nữa bị Tố Hữu đánh, coi là chống lại đường lối của Đảng trong văn học. Phở, Giò của Nguyễn Tuân bị phê phán đủ điều, sau này ông thỉnh thoảng còn nhắc lại một cách dí dỏm và cay cú: “Người ta đánh vào cái giò của tôi!”

Biết rằng chân lý của nghệ thuật đích thực đang dần sáng tỏ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm ([25]), Trần Đông Lương... tiếp tục sống cực khổ để vẽ những gì mà các ông thích. Tội nghiệp, chưa bao giờ, khi còn sống, các họa sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam này có một cuộc triển lãm độc lập. Điện ảnh thì được chính anh em trong giới tóm tắt trong hai câu vè mỉa mai: “Luống khoai xanh, Bức tranh để lại, Mùa than này, Không phải tại tôi”. Toàn là đầu đề những bộ phim chẳng ra tuyên truyền quảng cáo, chẳng ra phim tài liệu hay phim truyện!

Tóm lại, văn nghệ đích thực của thời kỳ này, nếu có. đều nằm trong ngăn kéo, dưới gậm giường của các tác giả! Còn cái văn nghệ bề nổi chỉ có Gió Đại Phong, Cờ Ba Nhất, Nữ Dân Quân Miền Biển, Trên Tầng Cao, Ánh Đèn Sáng Trên Cầu Việt Trì... đến hành khúc công nhân mỏ, hành khúc công nhân điện, rồi sang tới cả ngân hàng, công ty vệ sinh vv...

Muốn bài hát được phổ biến thì phải nhớ kỹ những gì ông Trần Lâm đã dặn: “Không phút nào chúng ta được quên hai tiếng Miền Nam” trong tác phẩm! Cho nên thời kỳ này, ca khúc nào cũng thế, dù viết về nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp hay về chị quét rác, anh đổ thùng... cũng đều kết ở hai chữ “Mi... ền Na... m” trên âm khu cao đứt hơi người hát và... rách lỗ nhĩ người nghe!

Tôi nhớ đến câu nói của Lương Ngọc Trác: “Hết la-ghe (la guerre, chiến tranh) là hết chuyện với đám văn nghệ mặc áo lính cánh mình!”

Lại càng thấy thấm thía một nhận định của Lacouture ([26]): “Họ (ý nói Việt Nam) chỉ có tổ chức trong cái... vô tổ chức (organisé dans la désorganisation) còn trong hòa bình họ sẽ cực kỳ bối rối vì không biết làm gì và làm thế nào? ”...

Để có thể tiếp tục nghề kiếm tiền bằng âm nhạc mà không bị xăm soi, tôi luôn trong tư thế sẵn sàng cho ra đời hàng loạt bài hát, điệu múa, nhạc phim theo yêu cầu của Đảng, thậm chí còn “chơi trội” hơn người ở chỗ người ta viết một thì tôi đẻ hai, đẻ ba sau mỗi đợt đi thực tế sáng tác. Những Khúc Hát 13 Người (đề tài xi măng), Quê Ta Xanh Một Màu Xanh (đề tài trồng rừng), Hành Khúc Công Nhân Điện, Hành Khúc Công Nhân Mỏ, Đội Thủy Lợi... của tôi sòn sòn ra đời để sớm chết yểu chính là trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, tôi cũng còn có một “nửa trái tim” để nói lên những gì là con người nhất, chân thực nhất, là “của tôi” nhất. Tiếc thay vài bước đi mạnh dạn ban đầu đã vấp phải ngay những ông “lập trường dở hơi” đang nắm quyền xét duyệt cùng bộ sậu cán bộ dưới quyền chuyên nghề “Dạ! Thưa anh!” tìm mọi cách gạt bỏ!

Một thủ đoạn để tôi khỏi “nổi khùng” là cứ in, cứ thu thanh nhưng không...phát, thậm chí thu cả đĩa hẳn hoi nhưng chỉ có ở đĩa master chứ không đưa sang Tiệp Khắc in hàng loạt. Đó là trường hợp Qua Sông Lại Nhớ Con Đò (Quí Dương hát), Một Đêm Tháng 7 (Quốc Hương hát), Những Người Trẻ Mãi (Quí Dương), Mùa Xuân Khát Vọng Và Niềm Tin (Tuyết Thanh hát), Màu Xanh Trường Sơn, Màu Đỏ Trường Sơn (Trần Khánh hát)... đều bị “bỏ tủ lạnh” hoặc... xóa băng!

Có hai kết luận rất thành kiến đối với tôi:

— 1) Ca khúc của Tô Hải rất khó hát! (chẳng hiểu nó nằm ở điệu thức nào?)

— 2) Nội dung tư tưởng và tình cảm hay đưa những chuyện đau thương, mất mát thậm chí giữa lúc người ta đang vui trong ngày chiến thắng thì “ông ấy” lại “tương” ra một thứ marche funèbre (hành khúc đám tang)! Giữa lúc người ta đang phát động đấu tranh đòi thống nhất nước nhà thì “ông ấy” lại...“nằm mơ” được về miền Nam bằng một giai điệu buồn như... vọng cổ!?

Tóm lại, Tô Hải hay đi vào những cái... trái khoáy!

Giữa tôi và những người tạm gọi là “có nghề” tí chút nắm sự in ấn ở một bên và bên kia là các ông nắm khâu phát thanh (và vô tuyến truyền hình sau này) là cả một hố sâu ngăn cách về cái Đẹp.

Mà buồn thay cái đẹp chân chính không bao giờ được ở vị trí kẻ thắng, mặc dầu lịch sử đã trả lời rõ ràng: Cái đẹp thực dụng hay đúng hơn là “cái đẹp cơ hội”, “cái đẹp dốt nát” dù được “lăng xê” ([27]) đến tận trời xanh, cuối cùng cũng sẽ bị khai tử không cần ai ký lệnh “cấm phổ biến” cả! Những bài “Son si rề son si rế rế, những bài hát “nôm na chửi cha mách qué” như “Ta nói thật: Nếu Mỹ kia thò tay lên đất này, ta chặt ngay!” hoặc “Không cho chúng nó thoát! Chúng bay vào sẽ không có đường ra!” tự các tác giả sau này cũng van xin các vị làm “báo âm nhạc” hãy thương tình đừng cho phát thanh trong các dịp kỷ niệm, kỷ niếc gì nữa! Bản thân tôi đóng góp không ít vào các “khẩu hiệu chiến đấu phổ nhạc” này, thậm chí còn nhiều hơn mọi người. Nhưng ở thời gian văn nghệ bị thực dụng hóa đến cao độ này, không ít văn nghệ sĩ đã khéo né tránh một cách an toàn.

Sướng nhất là mấy tay họa sĩ. Vẽ xong, coi như hoàn thành tác phẩm. Vào bất cứ nhà ông nào cũng đều thấy họ đang làm những gì mà họ thích, đặc biệt là mấy ông có vợ, con... kiếm ra tiền, sẵn vốn, sẵn nguyên vật liệu thì tha hồ mà... thoát ly chính trị! Chỉ tội nghiệp mấy họa sĩ lớn nhưng nghèo mạt rệp như Phái, Sáng...chỉ vẽ để luyện tay nghề bằng vật liệu của chủ nợ kiểu Lâm toét, Tô Ninh! Một số thì đành bán rẻ cho mấy ông trùm chơi tranh giàu có như Đức Minh... chứ ai mua tranh ở cái thời 13 kí gạo phân phối theo tem. Các nhà văn, nhà kịch, nhà điện ảnh, nhà thơ hoặc là... tịt ngòi, hoặc quay sang viết truyện... “Người Tốt Việc Tốt”. Ca nhạc như Gió Đại Phong, Cờ Ba Nhất, Sóng Duyên Hải là đề tài độc tôn trên làn sóng phát thanh, ầm ỹ đến nứt màng tai chiếm lĩnh gần như toàn bộ thời gian phát sóng, phương tiện duy nhất để chuyển tải âm nhạc. Tuy nhiên, không phải cái sự “bắt nghe”, “bắt hát” không có tác dụng gây tiếng tăm cho một số nhạc sĩ nghiệp dư. Họ nắm bắt rất trúng yêu cầu của chính trị, tha hồ tung ra hàng loạt tiếng động có cung bậc cao thấp rồi gọi chúng là ca khúc, gây ô nhiễm thính giác đồng loại. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc dù dở đến mấy, thậm chí...“vô âm nhạc”, như tiếng tàu điện leng keng, tiếng chổi tre của bác quét rác... còn làm lỗ tai người ta quen đi! Thế thì âm nhạc kiểu kèn “bú dích” chẳng có gì ngoài một số arpège trong khúc thức A, B của các bài hát hướng đạo, thống lãnh không gian bằng những chiếc loa Trung Quốc lắp mọi đầu đường, làm gì chẳng “nghe mãi thành quen”, thậm chí thuộc lòng, dù rất ghét nó.

Một số “tác gia” kiểu như thế đã được đề bạt vào cương vị lãnh đạo, được bồi dưỡng, cho đi nước ngoài nghiên cứu, thực tập (nghĩa là chẳng học hành gì ra đầu ra đũa) để rồi trở về (nói như nghệ sĩ nhân dân Trần Tiến)... “phá đám các tổ chức nghệ thuật” bằng sự “chỉ đạo” chết người vì ngu dốt. Một số, sau này “mất tích” trên diễn đàn văn học nghệ thuật, một số “sống lâu lên lão làng” hoặc “được lòng các anh trên”, leo lên những địa vị quyết định số phận và tương lai cả nền văn học nghệ thuật nước nhà.

Có thể kể ra hàng lô, hàng lốc các nhà “văn hóa” không hề có mảnh bằng trung học lại được cử đi nghiên cứu về Bertholt Brecht ([28]), không một ngày hoạt động sân khấu ngoài việc lo đóng và mở cửa rạp được đi thực tập tại nhà hát Stanislavsky ([29]), những vị chưa ghi nổi bài hát do mình “đặt” ra (tôi không dùng từ “viết”) lại được đi học nhạc viện Tchaikovsky! Những nhà biên kịch đạo diễn điện ảnh cả cuộc đời chưa hề làm được một bộ phim ra hồn trở thành nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú vì chuyên làm...“giám đốc”, chuyên đi học nước ngoài! Để dẫn chứng, tôi xin kể vài cái tên các nhà lý luận như Vũ Đức Phúc, Hà Xuân Trường, Trương Chính…, các nhà hoạt động sân khấu, điện ảnh Đình Quang, Lê Đăng Thực… Hoạn lộ hanh thông, Hà Xuân Trường, Đình Quang làm đến thứ trưởng, Lê Đăng Thực làm giám đốc Trường Điện Ảnh, nơi đào tạo ra một loạt diễn viên tài năng thua xa những người chẳng được đào tạo ngày nào. Đố ai kể ra được một phim, một vở, một lý thuyết chuyên môn do họ đóng góp cho nền điện ảnh và sân khấu nước nhà.

Đối với tôi, những vị này không thù oán, thậm chí có người còn là bạn tôi trong quân ngũ. Tôi chỉ muốn nói lên một sự thật là các vị bị “xếp nhầm nghề”, vì thế phải chịu miệng thế ỉ eo về cái tẩy “dốt vẫn hoàn dốt” của các vị!

Chỉ đáng giận một số vị không biết mình, biết người, sau khi nắm được cái “ưu thế chính trị” đã luôn “kiếm chác” bằng những “sáng kiến”... phá hoại nghệ thuật! Do học không đến đầu đến đũa, các vị càng ngày càng làm khổ anh em, khi được tổ chức đề bạt “giáo sư”, “tiến sĩ”... tha hồ “phán” và “xét” bừa bãi tác phẩm của người khác. Nhiều vị tồn tại dai dẳng tới thời “kinh tế thị trường” mới dần dần rớt đài và đi vào quên lãng. Cái được của các vị có chăng chỉ là quyền lợi vật chất thu vén được khi còn cầm quyền văn nghệ! Các vị đâu có biết là đối với những người có học, làm nghề tử tế, chẳng bao giờ các vị có được sự kính trọng cần có cả về nghề nghiệp lẫn tư cách!

Cũng chính thời gian này, một số người không ham danh, ham lợi, chỉ ham nghề, đã có dịp tự phát ra ánh sáng qua tác phẩm của mình. Thời “cái dốt cầm quyền” (theo nhận định của nhóm Nhân Văn) nay được thay thế bất đắc dĩ bằng thời “thầy mo cầm quyền” hoặc “tạp chủng cầm quyền” bởi hàng loạt các học vị tắt, học vị dỏm (kiểu ông “Lê” nhà hát giao hưởng, ông Đoàn Đức sân khấu, ông Tú Ngọc nhạc... được “cơ cấu” vào ban văn hóa tư tưởng) đã không ít thì nhiều, cho phép anh em làm nghề đích thực lợi dụng ngay thời cơ “rối rắm về lý luận lang băm” mà sáng tạo nghệ thuật!

Hoàng Vân chói sáng trong âm nhạc (không chỉ về ca khúc), Hoàng Việt (bị coi là Tây nhất miền Nam) được đề cao cả trong Tình Ca và trong giao hưởng. Cả hai trước đó không phải không bị những sự đánh giá và đối xử thiếu công bằng. Khi nói về Hoàng Việt, người ta chỉ nói đến độc có một Tình Ca và vài ca khúc viết thời kỳ chưa được học hành gì như Lá Xanh, Nhạc Rừng? Vậy cuộc sống chiến đấu đã dập tắt hay thổi bùng sức sáng tạo của anh? Bản giao hưởng Quê Hương sau này của anh rất ít ai được nghe vì các “xếp” đương thời đã giành hết chỗ để được đứng bên Mozart, Beethoven bằng những thứ giao hưởng “ẩm ương” chuyên... đuổi khán giả ra khỏi rạp rồi còn đâu! Kết quả là giao hưởng chẳng ra giao hưởng, opéra thành óp pê... vào. Người sành điệu nằm nhà nghe Tchaikovsky qua đĩa 33 vòng/phút được những dàn nhạc nổi tiếng trình diễn, hơn là đến nhà hát để phải nghe những thứ tác phẩm “học mót” các thầy đủ loại nhưng chưa “tiêu hóa” nổi ấy!

Chưa bao giờ, khái niệm về cái Đẹp ngay trong giới lãnh đạo, trong giới văn nghệ sĩ lại va chạm nhau đốm đốp như thế. Các cuộc cãi lộn về “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” (Hoàng Ngọc Hiến) về “âm nhạc có phản ảnh hiện thực không” (giữa Vũ Đức Phúc và Đỗ Nhuận) và các cuộc tranh cãi không có tổ chức về cái “chân” cái “thiện” cái “mỹ” được phát triển trên cả báo chí, ở các sa-lông thậm chí cả ở các quán cà phê mà tập trung nhất là ở cà phê Lâm Toét và cà phê Tuyên, gần trụ sở Hội Văn Nghệ 51 Trần Hưng Đạo.

Các thứ ca dao, tục ngữ thậm chí phủ nhận nhau bằng ca dao, vè (kiểu Xuân Sách) đã nhân danh nghệ thuật, suýt lại đưa nhau vào con đường...chỉnh huấn, chỉnh đảng... để rồi mất thêm một số nhân tài đất nước, hoặc tệ hại hơn, đi theo gót các nhân vật như Vũ Thư Hiên, Hoàng Minh Chính về sau này...

Cái “suýt nữa” ấy không xảy ra là nhờ... “thằng Mỹ”!!! Đúng ngày 5-8-1964, những quả bom Mỹ đầu tiên rơi xuống miền Bắc mở đầu giai đoạn văn nghệ “tất cả cho tiền tuyến” thứ hai, sau những năm tưởng hòa bình nhưng đầy mâu thuẫn thậm chí có cả chiến tranh giữa những... cái đầu, giữa những trái tim, giữa con người và con người, giữa các người đồng chí đồng chóe từng bao năm cùng chung trận tuyến đánh Pháp, giành độc lập tự do!

Bi hài hơn cả là chiến tranh quyền lực giữa những con người ưu tú nhất, sáng suốt nhất, tài tình nhất và cũng... hiểm độc nhất trong nỗ lực xây dựng vây cánh, tìm mọi thủ đoạn để hạ bệ nhau giữa cung đình cộng sản, sau khi ông “vua đi hai dây” Hồ Chí Minh qua đời...

Và, người Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến hao tài tốn của mà sau này chẳng phải mất một mạng nào cũng trở lại được Việt Nam với ý đồ chính trị ban đầu và được các nhà “cộng sản kiểu mới” hoan nghênh gấp nhiều lần hơn khi xưa các bậc cha chú họ hoan nghênh hai ông anh cả, anh hai Liên Xô - Trung Quốc!




([1]) Đảng này được Dảng Cộng Sản lập ra từ cuối năm 1944 nhằm lôi kéo trí thức đi với Mặt Trận Việt Minh (bình phong của Đảng Cộng Sản), sau năm 1945 nó mãi mãi là một đảng bù nhìn.

([2]) Học Phi, tên thật Chu Văn Tập (1915), nhà văn, nhà soân kịch.

([3]) Xin ghi lại đây bài thơ khuyết danh thuở ấy: Tôn Đản là chợ vua quan/ Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần/ Con phe có chợ Đồng Xuân/ Vỉa hè – đấy chợ nhân dân anh hùng.

([4]) Amedeo Clemente Modigliani (1884-1920), hoạ sĩ, điêu khắc gia nổi tiếng người Ý, nên danh ở Pháp.

([5]) Nguyễn Tuân (1910-1987), nhà văn nổi tiếng với Vang Bóng Một Thời, Tóc Chị Hoài, Chùa Đàn..,

([6]) Quán cà phê nổi tiếng ở khu Montparnasse, Paris, nơi các hoạ sĩ, nhất là các hoạ sĩ trường phái siêu thực, và các nhà văn, nhà thơ thường đến tụ hội trong thời gian giữa hai cuộc đại chiến thế giới.

([7]) Lành, bí danh của nhà thơ cách mạng Tố Hữu; Tô, bí danh của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng.

([8]) Giàu sang ở đây là so với đồng lương và mức sống 13 cân gạo, 5 lạng thịt, 5 mét vải của cán bộ đồng trang lứa với tôi.

([9]) Nicolae Ceauşescu (1918-1989), bí thư Đảng CS, chủ tịch Nhà Nước Rumani từ 1965 đến 1989 bị nhân dân hành quyết.

([10]) Enver Hoxha (1908-1985), người sáng lập, nhà độc tài kiểu Stalin, tổng bí thư Đảng Lao Động kiêm Chủ tịch Nhà Nước Albani.

([11]) Bửu Tiến (1918-1992) nhà viết kịch, nghệ sĩ sân khấu, trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, đứng về phía chính quyền, nhưng khi biết mình sai lầm, đã công khai xin được anh em bị Đảng trấn áp tha lỗi.

([12]) Đào Vũ, tên thật Đào Văn Đạt (1927-2006), nhà văn một thời được ca tụng với tiểu thuyết Cái Sân Gạch.

([13]) Nguyễn Khải, tên thật Nguyễn Mạnh Khải (1930-2008), nhà văn, viết nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn kịp thời theo chủ trương của Đảng.

([14]) Đơn đặt hàng –– Commande, tiếng Pháp.

([15]) Các nghệ sĩ Liên Xô (cũ): Serguei Essenin (1895-1925), nhà thơ trữ tình; Mikhail Bulgakov (1891-1940), nhà văn gốc Ukraina; Boris Pasternak (1890-1960) nhà thơ, nhà văn; Mikhail Cholokhov (1905-1984) nhà văn, Nobel 1965; Anna Akhmatova, tên thật Anna Gorenko (1889-1966) nhà thơ; Grigori Chukhrai (1921) đạo diễn điện ảnh.

([16]) Hà Xuân Trường (1924 - ?), nhà lý luận của ĐCSVN, từng giữ chức thứ trưởng Văn Hóa Thông Tin, tổng biên tập tạp chí Cộng Sản, trưởng ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung ương Đảng.

([17]) George Orson Welles (1915 – 1985) nhà văn, đạo diễn, diễn viên. William Somerset Maugham (1874 – 1965) nhà văn, nhà biên kịch; Arthur Miller (1915 – 2005), nhà soạn kịch sân khấu.

([18]) Tên gọi của Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Sách Báo.

([19]) Lúc này Đỗ Nhuận chưa đi Liên Xô học nhạc.

([20]) Giám đốc đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam lúc bấy giờ.

([21]) Nghị quyết của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ 9, khoá 2, họp ngày 11-12-1963. Nội dung của nó, theo lời văn, thì ĐCSVN vừa “chống xét lại”, vừa chống “giáo điều”, kiên trì lập trường mác xít-lê-nin-nít, nhưng tinh thần của nó là chống Liên Xô.

([22]) Ung Văn Khiêm, tên khác: Nhường, Huân (1910-1991) đảng viên cộng sản, từng giữ chức bộ trưởng Ngoại Giao ở miền Bắc Việt Nam.

([23]) Và rất nhiều cán bộ khác nữa của ĐCSVN bị bỏ tù trong cái gọi là vụ án "nhóm xét lại chống Đảng".

([24]) Sáu cổng gác ấy là: 1/ Người viết tự kiểm duyệt tác phẩm; 2/ Tổ trưởng chuyên môn đọc, duyệt; 3/ Thủ trưởng đơn vị đọc, duyệt; 4/ Chuyên viên 2 cơ quan ; 5/ Cục trưởng Cục xuất bản và Tuyên giáo trung ương đọc, duyệt; 6/ công nhân nhà in, người sửa bản in phát hiện sai trái, phản hồi cho cơ quan hữu trách.

([25]) Nguyễn Tư Nghiêm (1922), họa sĩ vẽ tranh sơn mài, sơn dầu và bột màu, là một trong bộ tứ hoạ sĩ tài danh Phái - Sáng - Liên - Nghiêm.

([26]) Jean Lacouture (1921), nhà báo Pháp, thường viết cho tờ Le Monde.

([27]) Lăng xê (từ tiếng Pháp lancer = tung ra, đưa ra).

([28]) Bertolt Brecht, tên thật Eugen Berthold Friedrich Brecht (1896-1956), nhà soạn kịch nổi tiếng người Đức.

([29]) Stanislavsky, tên thật Constantin Sergeievich Alekseiev (1863-1938), diễn viên, đạo diễn, sáng lập Nhà Hát Nghệ Thuật Moskva, nổi tiếng với thể hệ Stanislavsky được diễn đạt trong cuốn Đời Tôi trong Nghệ Thuật.

Chương kế tiếp: Cuộc chiến chống Mỹ

Bài Xem Nhiều