We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 9 June 2009

Còn Chờ Gì Nữa Hỡi VN?

Ta tuổi trẻ đường dài
Phải dài như đất nước
Đất nước hôm nay, đất nước mai sau(*)

Sự bất xứng của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam các cấp đã lộ rõ ra trước mắt mọi người, kể từ khi Hà nội phải mở cửa ra ngoài. Quan chức ngoại giao bắt trộm sò ở Mỹ, văng tục tại Tokyo, buôn lậu ở Phi châu, ăn cắp trong siêu thị ở Singapore vân vân. Lãnh đạo thì tham nhũng hối lộ, nhân danh phát triển, đem tài nguyên đất nước từng mảng cầm cố cho tài phiệt ngoại quốc lấy tiền bỏ túi là “chuyện dài ngàn lẻ một đêm” kể hoài không hết. Đảng bán đất dâng biển để giữ lấy ngôi vị cai trị dân nhưng là tay sai cho ngoại bang thì không phải là chuyện để bàn nữa, mà ảnh hưởng của nó đã đè lên đời sống hàng ngày của người dân trong nước.

Theo tin mới nhất từ các phương tiện truyền thông VN, TQ vừa ra lịnh “tất cả các tàu cá VN đều không được vào vùng biển Đông từ 12 độ vĩ Bắc trở lên để đánh bắt cá từ 12g ngày 16-5 đến 12g ngày 1-8-2009.” Tin này như một cái tát mới trên khuôn mặt trơ trẽn của lãnh đạo CSVN. Sự lo lắng không biết sinh sống làm sao của các ngư nhân Việt Nam cùng lời than thở của chủ tàu ĐNa - 66456 - ông Nguyễn Văn Hoà, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, Đà Nẵng khiến những ai muốn quay lưng với sự thật cũng không thể chạy trốn. “Thực ra tàu cá Việt Nam đã bị tàu nước ngoài [TQ] đuổi ngay trên vùng biển Việt Nam từ nhiều năm nay. Nhiều tàu cá bị đâm chìm, bị bắt phạt hành chính. [Nhưng] chúng tôi ngậm đắng nuốt cay chấp nhận, bởi nếu không thì bị dẫn độ về nước họ thì tốn kém nhiều hơn.” Dân thì như thế còn những người bảo vệ dân thì sao? trung tá Nhơn đại diện CSVN ởm ờ nói “Ngư dân mình đương nhiên đánh bắt cá trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, cách tốt nhất là ứng xử thật mềm dẻo và khôn khéo để tránh các trường hợp va chạm và đụng độ không đáng có với tàu nước ngoài, để tránh thiệt hại về người và của.” Một câu trả lời khoả lấp làm nổi bật hai chữ đầy tớ của kẻ phát ngôn. Nhưng nói thế, cũng thương hại cho viên trung tá thừa hành của cả một hệ thống tay sai từ trên chóp bu trở xuống.

Nói cho đúng, tất cả khởi đầu từ những “hiệp định đất liền và biển” mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc từ năm 2000, thêm vào là “Hiệp định hợp tác đánh cá chung” trong vùng biển của Việt Nam mà giờ ai cũng hiểu đó chẳng qua là những mỹ từ để che dấu những giao kèo bán nước dâng biển. Chuyện ngư dân bị trấn áp từ lâu bây giờ nói ra khiến người ta hiểu tại sao thủ tướng VC Phan Văn Khải mở tiệc thết đãi đại diện TQ đến Việt Nam không một lời khiếu nại sau khi hải quân TQ bắn giết 9 ngư dân Thanh Hóa đang đánh cá trên vùng biển của ông cha vào đầu năm 2005. Những tầu của ngư dân VN trên vịnh Bắc Việt bị TQ kéo về Hải Nam cả người lẫn thuyền, Việt Nam lại phải đem tiền qua chuộc. Hành động như thế thì lãnh đạo CS hiển nhiên coi TQ là chủ của biển Đông.

Nhìn lại chuyện cá và biển như vậy thì người ta hiểu ngay rằng mấy chữ “chủ trương lớn” của đảng nhân danh phát triển, mà thủ tướng Hà nội NTDũng dùng để giải thích chuyện công nhân và kỹ sư Tầu vào khai thác mỏ Bauxite trên cao nguyên, sống trong khu riêng không người VN nào được tới, cũng lại là những mỹ từ che dấu giao kèo bán thêm một vùng đất quan trọng nữa của tổ tiên. Đến lúc người dân Việt nam lên vùng đất này bị đuổi bắn thì tập đoàn bán nước CSVN đã đang sống ở ngoại quốc với con cháu rể dâu như những tỉ phú, và rồi cũng lại chép miệng lùi xa, đứng ngoài, đóng vai trò cung cấp vật dụng hàng ngày cho kẻ xâm thực giầu có chủ nhân của mỏ, để kiếm sống.

Nghĩ như thế là chuyện tương lai, nhưng với nhưng ai không chỉ chúi đầu vào cơm áo, còn thì giờ để mà nhìn quanh, sẽ thấy không cần chờ đợi thêm mà thực tế người mình bây giờ đã bị lấn lướt ngay trước mắt, tại thành phố đông người Hà Nội bởi vì cách đây không lâu có chuyện hai người Tầu đi xe vì mâu thuẫn giao thông đã chặn đánh một kỹ sư Việt Nam đến chết mà chỉ bị xử phạt trước toà vài năm tù lấy lệ. Và người ta chưa biết chừng là hai tên Tầu này sẽ được thả ra bất cứ lúc nào.

Nghĩ lại thời còn ở tiểu học, được thầy cô giảng dậy những gương anh hùng bất khuất của tiền nhân mà lòng hãnh diện. Nghĩ lại thời ông bà của kẻ viết bài này, kể chuyện người dân Việt Nam không chịu nổi cảnh Tây đi xe kéo, bợp tai đá đít người phu mà bỏ đi đấu tranh giành độc lập, mà lòng cảm khái. Và bây giờ tuy xa quê hương mà tự hỏi sao lòng vẫn băn khoăn bứt rứt vì cảnh ngoại nhân chà đạp lên dân tộc hàng ngày, ở những vùng đất, vùng rừng, vùng biển và ngay thành phố. Nghĩ như vậy bỗng không khỏi cười bật thành tiếng mà chảy nước mắt.

Tuệ Vân
Ngày 8 tháng 6 năm 2009

(*)Trích từ bài thơ Đường kháng chiến đi qua của cố KCQ Võ Hoàng, 1985

http://www.tamthucviet.com/articlevi...=%C5%93%40%1E\

ĐỨC GIÁO CHỦ HUỲNH PHÚ SỔ VÀ CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG ĐỘC LẬP TỰ DO CHO VIỆT NAM

ĐỨC GIÁO CHỦ HUỲNH PHÚ SỔ

VÀ CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG ĐỘC LẬP TỰ DO

CHO VIỆT NAM

(Trình bày tại Toronto trong Đại lễ Kỷ niệm 70 năm

Ngày Khai sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo)

(Bài viết, Sử gia Trần-Gia Phụng)

I.- HOÀN CẢNH LỊCH S

Theo hòa ước Giáp Tuất ( 15-3-1874 ), toàn thể sáu tỉnh Nam Kỳ bị nhượng cho Pháp. Từ đây Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, nghĩa là Pháp trực tiếp cai trị Nam Kỳ, chứ Nam Kỳ không còn thuộc quyền triều đình Việt Nam

Mười năm sau, tức vào năm 1884, Pháp bảo hộ toàn cõi Việt Nam, nghĩa là khác với Nam Kỳ, Bắc và Trung Kỳ vẫn do triều đình Việt Nam cai trị, nhưng dưới sự điều khiển của người Pháp. Dân chúng Việt Nam ở khắp nước liên tục nổi lên chống Pháp. Tuy nhiên, tất cả đều thất bại trước sức mạnh quân sự của Pháp.

Tuy nhiên, tình hình thay đổi khi thế chiến thứ hai xảy ra vào tháng 9-1939. Tại Âu Châu, Pháp bị Đức xâm lăng. Tại Á Châu, đồng minh của Đức là Nhật Bản, bắt đầu tiến quân vào Đông Dương từ năm 1940 để xuống Đông Nam Á.

Nhật Bản vẫn để Pháp cai trị Đông Dương, và dùng nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương nhằm phục vụ những quyền lợi Nhật Bản, nhất là phục vụ nhu cầu lương thực cho quân đội viễn chinh Nhật Bản. Khi Nhật Bản tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu cảng ngày 7-12-1941, Hoa Kỳ liền tuyên chiến với Nhật Bản và Đức, đứng trong khối Đồng minh. Nhờ thế khối Đồng minh càng ngày càng thắng thế.

Đức đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945 . Điều nầy làm cho quân Nhật ở Đông Dương lo ngại. Nguyên từ khi Nhật đến Đông Dương, chính phủ Pháp tại Đông Dương thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Pétain là chính phủ bị Đức khống chế. Nay Đức đầu hàng, chính phủ Pétain sụp đổ. Chính phủ lâm thời Pháp do De Gaulle lãnh đạo. Vì vậy quân Nhật ở Đông Dương lo sợ chính phủ Đông Dương vâng lệnh De Gaulle bất ngờ phản công Nhật. Nhật tổ chức cuộc hành quân Meigo ngày 9-3-1945 , lật đổ chính phủ Pháp tại Đông Dương, trao trả độc lập cho Việt Nam . Vua Bảo Đại uỷ cho Trần Trọng Kim thành lập chính phủ

Tuy nhiên, chẳng bao lâu, Nhật cũng thất trận, đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945 . Lúc đó, tại Đông Dương, tình hình rất lộn xộn; 1) Thứ nhất, quân đội Nhật buông súng. 2) Thứ hai, các đảng phái chính trị nổi lên tranh đấu giành độc lập. 3) Thứ ba, đảng Cộng Sản Đông Dương và mặt trận Việt Minh nhanh tay cướp chính quyền ở Hà Nội và ở Sài Gòn. 4) Thứ tư, vua Bảo Đại thoái vị ở Huế, chính phủ TrầnTrọng Kim sụp đổ. 5) Pháp đưa quân trở lại Đông Dương.

Chính trong hoàn cảnh xáo trộn đó, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) và dấn thân hoạt động chính trị.

II.- CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG TỰ DO DÂN CHỦ

Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920), là con trai đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm, một gia đình nông dân trung lưu. Ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939), Đức thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), một tông phái Phật giáo mới là Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH).

Từ khi khai đạo, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ vừa thuyết pháp, vừa sáng tác nhiều kệ giảng, dựa trên giáo lý nhà Phật, khuyên người gắng sức tu hành để thoát qua những tai ương do thời cuộc đưa đến. Những kệ giảng của Đức thầy thuần túy bằng tiếng Việt, rất giản dị, lại có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập lại hằng ngày trong cuộc sống, nên rất dễ phổ biến.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của PGHH, người Pháp rất lo ngại. Ngày 18- 5-1940 , tức khoảng một năm sau ngày khai đạo, Pháp giải Đức thầy Huỳnh Phú Sổ từ làng Hòa Hảo về Châu Đốc để điều tra. Sau đó, Pháp đưa Ngài về Sa Đéc, rồi về làng Nhơn Nghĩa, rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ, quản thúc từ ngày 23-5-1940. Nhiều tín đồ PGHH được tin, liền tìm đến thăm.

Vì vậy, sau ba tháng ở Cần Thơ, người Pháp đưa Đức thầy Huỳnh Phú Sổ lên Sài Gòn, an trí tại nhà thương điên Chợ Quán. Ngày 5-6-1941 , người Pháp lại dời Huỳnh giáo chủ về Bạc Liêu. Do sự can thiệp của quân đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được thả và được đưa về sống ở Sài Gòn từ tháng 10-1942.

Do hoàn cảnh chính trị và đời sống, từ đó (năm 1942), Đức thầy Huỳnh Phú Sổ bắt đầu tiếp xúc với các nhân vật chính trị Nam phần, và bắt đầu dấn thân vào con đường họat động chính trị. Huỳnh Giáo chủ là một nhà yêu nước đã hết lòng tranh đấu cho nền độc lập dân tộc.

Năm 1944, Đức thầy thành lập Bảo An Đoàn PGHH tại một số tỉnh miền Tây. Vào năm 1945, Huỳnh giáo chủ lập Việt Nam Vận Động Hội để tranh đấu đòi độc lập và thống nhất cho xứ sở.

Từ đây, có thể nói Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tham gia tích cực vào cuộc vận động cho nền tự do dân chủ của đất nước. Khuynh hướng nầy được Đức thầy bày tỏ trong bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ thất ngôn liên hoàn, sáng tác năm 1946 như sau:

Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,

Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,

Đuổi bọn xâm lăng, gìn đất nước,

Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”

(Thơ Huỳnh Giáo chủ)

Khi dấn thân hoạt động chính trị trong thời đại loạn, hai chủ trương chính trị rõ nét nhất của Đức Huỳnh Giáo chủ là ĐOÀN KẾT và DÂN CHỦ.

Khi được tin vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tuyên bố độc lập ngày 11-3-1945, Huỳnh giáo chủ đã ra huấn lệnh ngày 15-3-1945 (mồng 2 tháng 2 năm ất dậu) cho tín đồ như sau: “Đạo Phật là đạo từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh, khoan hồng đại độ; tuy tình thế đổi thay chớ tấm lòng nhơn chẳng đổi. Vậy hãy coi toàn dân như anh em một nhà, mong họ liên kết với chúng ta để kiến thiết lại quê hương cùng nền Đạo nghĩa…” (Ban Trị sự Trung ương Hải ngoại, Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, 2004, tr. 481.)

Chẳng những ra lệnh cho tín đồ, Đức Huỳnh giáo chủ còn đưa ra lời kêu gọi tinh thần đoàn kết đến toàn thể đồng bào Việt Nam như sau: “Vậy tôi xin khuyên tất cả đồng bào muốn tỏ ra xứng đáng với một người dân một nước tự do thì chúng ta hãy nên đoàn kết chặt chẽ cùng nhau, hãy quên hết những mối thù hiềm ganh ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo thịt…”(Ban Trị sự Trung ương Hải ngoại, sđd. tr. 490.)

Do chủ trương đoàn kết, trong Tuyên ngôn ngày 21-9-1946 thành lập Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, Đức Huỳnh Giáo chủ viết: Đặc điểm của Việt Nam Dân Xã Đảng là, trong giai đoạn hiện tại, không chủ trương giai cấp đấu tranh giữa dân tộc Việt Nam vì lẽ ở xã hội Việt Nam hiện thời, trên 80 năm bị trị, chỉ có một giai cấp bị “tư bản thực dân” bóc lột.” (Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai, sđd. tt. 533-534.)

Chủ trương chính trị lớn thứ hai của Huỳnh Giáo chủ là vận động thiết lập chế độ dân chủ cho Việt Nam sau thế chiến thứ hai. Trong tuyên ngôn của Dân Xã Đảng, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ nhấn mạnh: "Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: "chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân". Đảng Dân Xã chủ trương "toàn dân chánh trị, thế tất đảng [Dâ n Xã ] chống độc tài bất cứ hình thức nào."(Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai, sđd. tr. 533.)

Đồng thời với bản Tuyên ngôn, chương trình hành động của Dân Xã Đảng do Đức Huỳnh Giáo chủ đưa ra, nhấn mạnh thêm một lần nữa đến việc bảo đảm tự do dân chủ cho toàn dân, và chống bất cứ hình thức độc tài nào. Chủ trương của Đức Huỳnh Giáo chủ rõ ràng đi ngược với chủ trương đảng trị độc tài của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).

Vì lòng yêu nước, vì tinh thần đoàn kết, vì tôn trọng dân chủ, tôn trọng tất cả các đoàn thể khác, kể cả mặt trận Việt Minh (VM) và đảng CSĐD, Huỳnh Giáo chủ luôn luôn sát cánh với các đoàn thể khác để tranh đấu giành độc lập và tự do cho dân tộc. Ngài nhiều lần bị VM cộng sản ám hại.

Lần đầu, VM tung người bao vây để bắt Đức Huỳnh Phú Sổ tại văn phòng ở Sài Gòn ngày 9-9-1945 , nhưng Ngài thoát được. Việt Minh ra lệnh tìm bắt giết những nhân vật quan trọng của PGHH. [Như Huỳnh Thạnh Mậu (em ruột Đức thầy Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn Xuân Thiếp, Trần Ngọc Hoành tại Cần Thơ; Chung Bá Khánh, Đỗ Thiều, Võ Văn Thời tại Trà Vinh, Vĩnh Bình.]

Dầu vậy, Đức giáo chủ vẫn sẵn sàng thương thuyết với VM để duy trì sự đoàn kết trong nội bộ người Việt, nhằm tạo tổng lực dân tộc chống các thế lực ngoại xâm. Khi xảy ra sự xô xát giữa lực lượng PGHH và VM tại Sa-Đéc, ngày 16-4-1947, VM mời Đức Huỳnh Giáo chủ đến họp để giải quyết. Nhân cơ hội đó, VM tấn công và đưa Huỳnh Giáo chủ đi mất tích.

KẾT LUẬN

Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ là một tu sĩ Phật giáo, đã có công khai sáng tông phái PGHH. Bên cạnh đó, Ngài còn là một nhà hoạt động chính trị. Sự nghiệp chính trị của Ngài đang còn dang dở, chưa hoàn tất, nhưng đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá thật đáng nhớ.

Bài học thứ nhất là tình yêu nước vô bờ bến của Huỳnh Giáo chủ, luôn luôn đặt quyền lợi tổ quốc lên trên hết, trên hẳn quyền lợi cá nhân, quyền lợi của tổ chức, hay quyền lợi của đảng phái.

Ta có tình yêu rất mặn nồng,

Yêu đời, yêu lẫn cả non sông…”

Huỳnh Giáo chủ hoạt động không mệt mỏi, không đòi hỏi một địa vị hay quyền lợi nào cho cá nhân hay cho tổ chức PGHH.

Bài học thứ hai là tinh thần đoàn kết. Bài học đoàn kết của Huỳnh Giáo cho chúng ta hai kinh nghiệm cùng một lúc. Kinh nghiệm thứ nhất là muốn tranh đấu có kết quả, thì phải đoàn kết nhằm tạo sức mạnh tổng lực của dân tộc. Kinh nghiệm thứ hai, là Đức Huỳnh Phú Sổ đã hết sức rộng rãi, vận động đoàn kết tất cả các đoàn thể chính trị, kể cả đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), nhưng người cộng sản vẫn âm mưu tấn công Ngài. (Đã trình bày ở trên.) Chẳng những tấn công một tu sĩ như Huỳnh Cháo chủ, CSVN luôn luôn tìm cách tiêu diệt tất cả những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận cộng sản.

Việc CSVN không ngừng tấn công Huỳnh Giáo chủ là một kinh nghiệm cho thấy rõ là DỨT KHOÁT KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ ĐOÀN KẾT VỚI CỘNG SẢN; KHÔNG BAO GIỜ HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI CỘNG SẢN. ĐOÀN KẾT, HÒA GIẢI HÒA HỢP VỚI CỘNG SẢN LÀ TỰ SÁT.

Bài học thứ ba là tinh thần dân chủ của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ. Chúng ta hiện đang sống trong thế kỷ 21. Có thể nói thế kỷ 21 là thế kỷ của trào lưu dân chủ trên thế giới. Tuy nhiên nước Việt Nam chúng ta hiện nay vẫn còn chìm ngập trong chế độ độc tài toàn trị, không có bất cứ một thứ tự do nào, không có tự do bầu cử và ứng cử, không có tự do báo chí, không có tự do tôn giáo… Người Việt Nam ở trong nước hiện nay như ở trong một nhà tù lớn, chỉ được tự do nghèo đói, tự do đĩ điếm, còn cán bộ cộng sản thì tự do tham nhũng.

Vì vậy, bài học dân chủ hiện rất cần thiết với Việt Nam hiện nay. Phải có tự do dân chủ cho toàn dân thì toàn dân mới đóng góp xây dựng đất nước. Như thế, câu viết của Huỳnh Giáo chủ trong tuyên ngôn thành lập Dân Xã Đảng vẫn còn nguyên giá trị với dân tộc Việt Nam : "… Toàn dân chánh trị, thế tất đảng [Dân Xã ] chống độc tài bất cứ hình thức nào."

Để tiếp tục thực hiện tuyên ngôn của Huỳnh Giáo chủ, chống lại chế độ độc tài bất cứ hình thức nào, vận động tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam, tốt nhất hiện nay là NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI CHÚNG TA HÃY YỂM TRỢ CÁC PHONG TRÀO DÂN CHỦ QUỐC NỘI BẰNG TẤT CẢ CÁC PHƯƠNG TIỆN, ĐỂ ĐỒNG BÀO QUỐC NỘI ĐỨNG LÊN GIẢI TRỪ CHẾ ĐỘ BẠO QUYỀN CỘNG SẢN TRONG NƯỚC. Đó là con đường duy nhất để mở cửa cho sự phát triển đất nước.

TRẦN GIA PHỤNG

( Toronto , 7-6-2009 )

LƯỜNG ĐẢO BẤT LƯƠNG

VẶN RĂNG MỤ THANH (CC - DM ???) "MIỆNG NÓI HOÀ BÌNH, RĂNG RÌNH TÁP TRỘM"
NHỮ - VĂN - ÚY

Sau 4 năm "du học" ở Căm Bốt, nhờ "anh" thày già kèm ngày kèm đêm; cô học trò có chút tiến bộ còn "anh thày" thì như ngọn đèn sắp cạn dầu, bùng lên ngọn lửa cuối cùng... Biết mình không kham nổi nữa, "anh thày" đành bê mụ trở ngược lại cố quốc trao cho người bạn cùng nghề có tính thích.... nghiên cứu đồ cổ
Nhờ không học bởi cái đầu mà ..... học bằng cái khác nên khi qua được cửa ải, theo lời "thày khuyên" bắt chước mánh khoé lường đảo cuả HỒ CHÍ MINH là "cắt đuôi" để khỏi lộ mặt chuột, mụ sang GIA NÃ ĐẠI sống, chấp nhận phải thi lại văn bằng Bác sĩ.
Vì già rồi, ngoại hình kém hấp dẫn, mụ sống ở MONTREAL; tuy cố gắng tiếp tục cuộc đời sinh viên nhưng vật nhau với mảnh bằng mãi mà vẫn không túm được vì cái may mắn nó từ chối.
Đó là lý do tại sao có bằng bác sĩ ở Pháp mà mụ không hành nghề ở Pháp lại sang Canada chấp nhận sống trong tình trạng đến bây giờ vẫn... trần thân khố chuối!
Là một người có ảo mộng, không lấy được bằng y khoa Canada theo đường thẳng, mụ lại chọn đường tắt khác. Mụ đi móc nối với anh sinh viên TẦU, pha trộn với sự hiểu biết nửa đời nửa đọan giữa Tây Y với đông y, sáng chế ra ngành y học "ĐÔNG - TÂY hòa điệu"
Vốn bản chất.... con nhái muốn bằng con bò tót, mụ khua chiêng đánh trống cho sự hiệu nghiệm thần thánh những môn y dược mà mụ đang "ngâm" cứu; các sản phẩm bằng lá cây như của mấy thầy lang miệt rừng ở Việt Nam.
Theo lời bạn VIỆT SĨ, mụ khoe rằng mụ đã bào chế được thuốc trị Si đa từ trước năm con vi trùng Si đa xuất hiện; thật là nhị vị thần Y LÃN ÔNG và HOA ĐÀ cũng phải chạy; đúng là "thầy chạy". Võ miệng của mụ văng nước miếng thối vào mặt Hội đồng y khoa CANADA; các vị lương y nước này phản ứng kịch liệt; kết quả là mụ bị HỘI ĐỒNG Y KHOA loại hẳn tên mụ trong danh sách hội viến!
Còn về cuộc đời tình ái của mụ này cũng mờ ảo như cuộc đời của già HỒ vậy. Mụ sống với chồng là TTD có được 2 con nhưng TTD đã tìm đường "tháo chạy để bảo toàn vố niếng". Kịch bản đã diễn ra từ hơn 20 năm trước nhưng mụ vẫn chưa chịu hạ màn. Có lẽ trong cuộc sống riêng tư, mụ cũng cần có.... một cái bung xung với lý do gì đó nên luôn luôn dùng tên cuả đức ông TTD làm cái mộc!
Tôi có một người quen trước đây ở PARIS, có giao dịch với Ông TTD, được biết bà TTD là một phu nhân khác; khác nhau cả về đức độ lẫn công - ngôn- dung (dĩ nhiên, vì trẻ hơn) - hạnh!
Cuộc đời tiểu sử ái tình và sự.... nghiệt của mụ còn nhiều oan nghiệt lắm; nhưng mục đích tôi viết chuyện dài về mụ là nhằm vào cuộc sống công; không cho phép mụ tự tạo huyền thoại bao quanh cái thể xác nhớp nhúa để hành nghề "mẹ mìn chính trị" hướng dẫn những người yêu nước VN đi lạc lối!
Với những nhân vật có bản lãnh chính trị hay có kinh nghiệm cuộc sống hải hồ khi thấy rõ bộ mặt của mụ chỉ là một thứ "cò mồi hạ tiện đi gõ phèng la, cầm cờ hiệu" cho NGUYỄN TIẾN DŨNG là phải dừng chân đứng xa mụ khoảng nửa cây số để bảo toàn tính danh. Đứng gần để mụ nhận diện được một vài dấu ấn đặc biệt như có nốt ruồi ở cổ chẳng hạn hay là đánh hơi thấy một hương thơm đặc thù huyền bí như.... hôi nách chẳng hạn thì mụ không ngần ngại gì mà chẳng dựng nên một thiên "giao tế sử khăng khít" để chiếm lòng tin của thứ "người rừng" vưà kể trên và vẽ ra một kế hoạch "đầu tư Cộng đồng người Việt ở hải ngoại".
. Vẫn trong phần lật mặt nạ nhơ nhớp về đời tư của mụ; trên diễn đàn điện tử, đã nhiều lần mụ hãnh diện kể chuyện cổ tích về kho tàng đồ cổ của mụ; theo sự lượng giá của những chuyên viên giám định Quốc Tế thì trị gia tối thiểu cũng hơn 5 triệu đô la; nhưng mặt khác, theo sự kém thông minh của mụ, tự mụ tố mụ thì mụ thực tế chỉ "giầu hơn" dân bần cố nông đôi chút!
Vài tháng trước mụ thường ai oán nỉ non trên diễn đàn rằng cái máy computer của mụ "có vấn đề", không chuyển bài đi được, phải nhờ ..."thân hĩm" chuyển dùm. Một lần thì tôi không để ý, nhưng đến lần thứ tư thì một dấu hỏi hiện ra trong óc : Giá một cái computer là bao nhiêu để đến nỗi một mụ triệu phú có kho tàng cổ vật -chỉ đê chơi - giá hơn 5 triệu đô la mà không mua nổi, sống lay thay lưới thưới đi nhờ cậy thiên hạ mấy tháng trời?
.Nay, trước nguồn tin bí mật mới bật mí và câu hỏi trên được giải toả: ngoài của nổi là kho tàng đó, mụ còn có bất động sản là 2 căn nhà ở đường TRẦN QÚY CÁP nữa. Tài sản khổng lồ ấy không phải là từ trên trời rơi xuống, vậy từ đâu nó đi tới và chui vào "tỵ nạn" trong nhà mụ?
. Câu hỏi trên chỉ được giải thích bởi một trong 2 giả thuyết:
- GIẢ THUYẾT 1: Đó là một phần kho tàng của chế độ Việt Cộng chiếm đoạt được của nhân dân hoặc từ "tuần lễ lạc quyên vàng để kháng chiến" từ năm 1946, hoặc trong các chiến dịch đánh tư sản mại bản, phá vỡ hệ thống kinh tế ở Miền Nam sau ngày 30 - 4 -1975; bọn tham nhũng của chế độ VC ăn bớt dấu lại ở miền Nam. Nếu đúng thế, vai trò của mụ với chế độ hiện hữu?
-GIẢ THUYẾT 2: Đó là một phần tài sản của một chế độ chính trị nào đó của miền Nam Việt Nam mà gia đình mụ có liên can và được tín nhiệm cất giữ.
Dù giả thuyết nào đúng, với chúng ta cũng không thành vấn đề; với chúng ta, vấn đề ở trọng tâm mụ là kẻ sang đoạt tài sản bất hợp pháp; hay nói trắng ra, mụ là một con mẹ lường đảo, bất lương cuả xã hội!

Giáo xứ An Bằng kiên trì đấu tranh bảo vệ công lý

I- Ký sự của Linh mục Quản xứ Nguyễn Hữu Giải

· 27-02-2009: 18g, tôi nhận được văn thư thông báo của xã Vinh An, đề ngày 27-02-2009, số 15/TB-UBND, do ông chủ tịch Phạm Bình Tịnh ký. Thông báo cho chúng tôi biết xã đã khảo sát và chọn 5 vị trí đất và yêu cầu chúng tôi chọn một trong năm vị trí đó để dựng đài lễ giáp An Bắc. Khi chọn xong, chúng tôi sẽ đến xã để được hướng dẫn lập hồ sơ, chậm nhất vào ngày 02-03-2009. Các vị trí đất là của các ông đang trồng dương liễu, keo, tràm hoa vàng: ông Lê Bền, ông Lê Chế, ông Lê Đạt, ông Lê Liễn, ông Văn Công Chính.

Trước đó, ngày 20-02-2009, các ông trong HĐGX An Bằng được mời vào xã “làm việc”. Các ông đã trình với xã là không dám chọn vị trí nào vì sợ hậu họa giữa giáo xứ và con cháu người đang sử dụng đất, dù xã nói đất xã quản lý.

· 02-03-2009: Giáo xứ gởi UBND xã thư phúc đáp đề ngày 01-03-2009. Giáo xứ không nhận vị trí nào vì muốn tránh hậu quả tranh chấp sau này và muốn xây dựng đài lễ trên thửa đất Giáp đã thờ phượng Chúa lâu nay

Nhiều lần Giáp và Giáo xứ đã trình bày với xã huyện rằng đất của Giáp có từ 1961 và đã liên tục sum họp thờ phượng Chúa cho tới nay. Vì chiến tranh và chưa thuận tiện nên mãi đến năm 2007, Giáp mới có kế hoạch xây dựng đài lễ cố định và đã làm đơn xin phép xây dựng một Thánh Giá, một bàn thờ và một tượng Thánh Tâm. Bỗng nhiên xã huyện buộc tội chiếm đất thuộc rừng phòng hộ biển! Đất chúng tôi thuộc diện xã quản lý trong thời điểm nào?

· 04-03-2009: Ông Văn Đình Trung, ông Lê Lượng, ông Nguyễn Thanh thuộc HĐGX An Bằng bị mời vào xã “làm việc” về quyết định chọn vị trí đất.

Các ông là những vị cựu trào của địa phương, biết rõ chủ những thửa đất này trước đây có làm nhà ở hoặc canh tác, về sau vì hoàn cảnh đi sinh sống nơi khác nhưng cũng ở trong làng và trồng cây lưu niên trước 1975.

Các ông trình bày: chúng tôi thấy có rất nhiều nhà ở, hồ nuôi tôm, công trình phường khóm nằm sát biểm hơn đài lễ giáp An Bắc. Suốt vùng cát duyên hải từ đèo Ải Vân đến Thuận An, nhiều làng ở sát biển. Nếu những làng mạc, cơ sở, công trình ấy thật sự thuộc rừng phòng hộ biển thì chắc chắn phải di dời hết. Đó là chưa kể bao nhiêu rừng dương liễu nằm giữa An Bằng và Thuận An đã bị nhà cầm quyền tỉnh -từ hơn 10 năm nay- cho các “công ty khai thác titan” chặt phá, bứng gốc để đào cát lấy thứ quặng này !?!

· 12-03-2009: Theo giấy mời của UBND huyện Phú Vang, tôi đến tại văn phòng UBND huyện làm việc về thủ tục cấp đất làm đài lễ giáp An Bắc. Ông chủ tịch UBND huyện Phan Văn Quang xác nhận đất Động Bồ huyện định giao cho Giáo xứ làm đài lễ bị trở ngại vì làng An Bằng có kiến nghị không bằng lòng, hơn nữa giáp An Bắc không chịu nhận. Nay huyện đề nghị 5 vị trí đất khác, yêu cầu tôi chọn 1 trong 5.

Tôi trình bày: giáo xứ không thể chọn vị trí nào vì những thửa đất này đã có chủ sử dụng. Ông chủ tịch kết tội tôi cố tình nêu lên những lý do vu vơ để không chịu tháo dỡ Thánh Giá, bàn thờ ở đài lễ khỏi đất thuộc rừng phòng hộ biển do xã quản lý.

Một cán bộ khác cũng phụ họa, nêu đủ thứ lý do để kết án tôi vi phạm luật pháp, thậm chí chống lại Chúa vì “đi ngược lại ý dân” là đi ngược ý Chúa !?!

Ông chủ tịch ra lệnh cho ông chủ tịch xã Vinh An Phạm Bình Tịnh và cho tôi phải tìm một vị trí đất nào không thuộc tư nhân để trình lại cho huyện, hạn chót là 20-03-2009.

Trong biên bản làm việc, tôi ghi lại nguyện vọng của giáo dân là tiếp tục làm đài lễ tại thửa đất hiện chúng tôi đang thờ phượng Chúa, dù rộng hẹp.

Buổi làm việc kéo dài từ 9g đến 10g30.

· 20-03-2009: Chúng tôi nhận được văn thư của UBND huyện Phú Vang số 183/UBND-ĐĐ đề ngày 19-03-2009 do ông phó chủ tịch Dương Văn Ngọc ký.

Huyện vẫn cho rằng diện tích đất chúng tôi làm đài lễ là đất chiếm lấy từ rừng phòng hộ biển do xã Vinh An quản lý và “yêu cầu Hội đồng Giáo xứ An Bằng, giáp An Bắc tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc đã xây dựng trái phép theo công văn của UBND xã Vinh An”.

Giáo dân tiếp tục sum họp đều đặn mỗi ngày trước Thánh Giá đài lễ giáp An Bắc, nhất là trong Mùa Chay này để sốt sắng cầu nguyện cho công lý, sự thật và tình thương, cho quyền tư hữu đất đai và tự do tôn giáo.

· 28-03-2009: Nhà nước điều động kiểm lâm tỉnh và huyện dùng xe vận tải và xe trâu chuyên chở vật dụng xây dựng nhà ở lên đài lễ giáp An Bắc.

Lúc 21g30, anh Phạm Xuân Tuấn nghe tiếng máy cưa ở đài lễ. Khác mọi đêm, điện chiếu sáng ở các trại gác đài lễ tắt ngúm. Anh Tuấn chạy tới dồn dập hỏi to: “Ai cưa trộm dương?”. Im lặng! Anh la to hơn. Một giọng trong bóng tối đáp lại: “Cán bộ đây!”. Anh Tuấn tức giận: “Cán bộ cưa trộm dương! Ôi chao! Hết nói! Bó tay!”.

· 29-03-2009: Thánh lễ sáng Chúa Nhật, cộng đoàn giáo xứ An Bằng cầu nguyện xin ơn bình an và can đảm đấu tranh cho công lý, sự thật trước kế hoạch mới của nhà nước.

Cán bộ tháo dỡ lều bạt, chuyển sang đào móng nhà cạnh thửa đất đài lễ. Ông Lê Thanh, một ngư dân, tới hỏi cán bộ: “Ai cưa dương cưa tràm của tôi?” Không ai trả lời. Ông đưa chân hất tung mấy ụ lá dương khô, lộ ra mấy gốc cây mới bị cưa. Ông lớn tiếng tra hỏi: “Ai cưa trộm? Ai cưa?” Một ông cán bộ đáp: “Mấy thợ làm nhà cưa!” - “Các ông lấy quyền chi mà cưa cây của tôi? Mấy cây đã cưa giấu đâu rồi? Trả lại đây cho tôi! Tôi sẽ kiện!”.

Họ đã phi tang bằng cách kéo mấy thân cây xuống khe trũng ở đàng xa. Được biết ngôi nhà này do kiểm lâm tỉnh và huyện làm, gọi là “để bảo vệ rừng xã Vinh An”.

· 30-03-2009: Cán bộ huyện xã tập trung đông đảo làm lễ cúng dựng nhà. Nhà làm bằng gỗ, đã được chuẩn bị sẵn. Chỉ việc lắp ráp vào.

Dân chúng xôn xao. Dọc theo bờ cát vùng duyên hải chẳng có trạm bảo vệ rừng nào. Hình như ở Thuận An chỉ có một chòi canh. Hơn nữa bãi biển An Bằng ít khách du lịch tắm biển. Đã có một đồn lính biên phòng không xa đài lễ Thánh giá bao nhiêu. Rừng dương, tràm do dân biển trồng. Xã chỉ thị người dân nào muốn cưa cây phải làm đơn xin xã cho phép vì xã quản lý.

· 04-04-2009: Như thường lệ, giáo dân họp nhau đọc kinh hát thánh ca trước đài lễ Thánh giá. Cán bộ canh gác mở máy thật to, gây bức xúc cho giáo dân.

Sau buổi cầu nguyện, mệ Tãi Ngoãn, có nhà gần khu vực đài lễ, trách cán bộ không biết tôn trọng người dân. Mệ còn lớn tiếng: “Hết chỗ làm nhà hay sao mà chọn chỗ giữa đài Thánh giá và am phường mà làm? Phải có mắt mà nhìn. Ăn coi nồi ngồi coi hướng!”.

Được biết ngày xưa chính ông Lê Khinh cúng đất cho phường dựng am thờ theo tập tục ngư dân vùng duyên hải. Suốt năm nay, cán bộ đóng hai trại cạnh am để theo dõi đài Thánh giá.

· 06-04-2009: Giáo xứ gởi văn thư đề ngày 05-04-2009 cho UBND huyện Phú Vang. Giáo xứ nhắc lại: giáo dân giáp An Bắc đã có cuộc họp giáp theo yêu cầu của huyện ngày 19-12-2008 và đã gởi biên bản cuộc họp giáp cho huyện, trong đó ghi rõ giáo dân không đồng ý nhận đất của làng hoặc của người dân đang sử dụng. Đất làm đài lễ là của giáp từ năm 1961, có nguồn gốc là đất ông Lê Khinh đã cúng, con cháu và dòng tộc đã chứng minh.

Giáo dân trong giáp cũng như giáo xứ đã thường xuyên và liên tục sum họp thờ phượng Chúa suốt bao năm qua. “Chúng tôi mong được an tâm thờ phượng Thiên Chúa tại nơi truyền thống lâu đời của chúng tôi”.

· 10-04-2009: Ngôi nhà đã hoàn thành, đã treo cờ, đã mang bảng hiệu “Hạt kiểm lâm huyện Phú Vang. Trạm bảo vệ rừng Vinh An”. Một khẳng định của bạo quyền!

Từ 10g đến 12g, giáo dân giáp An Bắc đi Đàng Thánh giá tại đài Thánh Giá. Hôm nay là Thứ Sáu Tuần Thánh. Dù nắng nóng, mọi người vẫn suy ngắm và đọc kinh cầu nguyện sốt sắng.

Ôi Thập tự! Phước lành thế giới,

Nguồn cậy trông cứu rỗi tràn lan,

Xưa nên hình khổ nhục nhằn,

Nay thành ngưỡng cửa Thiên đàng quang vinh.

Này Tế Phẩm trên mình ngươi đó

Đã giang tay quy tụ người trần,

Mặc cho thủ lĩnh thế gian

Tấn công cũng chẳng được phần lợi chi!

Giêsu hỡi! Con quỳ tạ Chúa,

Và Thánh Thần, Thánh Phụ cao tôn,

Giúp con chiến đấu chẳng sờn,

Theo cờ thập tự, thiên môn khải hoàn”.

(Thánh thi trưa Thứ Sáu Tuần Thánh).

Kết thúc buổi cầu nguyện, mọi người đứng vòng quanh đài Thánh giá phấn khởi đọc kinh “A Rất Thánh Giá”.

Tiếng mõ tưởng niệm ngày Chúa Cứu thế chịu chết đánh chầm chậm đúng 12 giờ trưa, theo truyền thống, thay tiếng chuông, từ nhà thờ xứ đạo rơi nhẹ vào lòng tín hữu: một CON NGƯỜI bị kết án, bị tử hình, bị chôn vào lòng đất vì những quyền lực chà đạp công lý, sự thật, tình thương.






· 20-04-2009: Cha Lê Văn Nghiêm, hai tu sĩ dòng Tên, một ông tân tòng, đến viếng Đài Thánh giá, cầu bình an cho giáo xứ. Cha Nghiêm làm quản xứ An Bằng từ năm 1977 đến 2004. Ngài nói to cho mọi người có mặt nghe rõ: “Rừng dương trước đây cũng như sau này, chính chúng tôi trồng, gánh nước tưới, chăm bón mới được như ngày nay. Sao lại nói rừng của Nhà nước? Dối trá! Bất công!”.

Trong thời gian qua, nhiều giáo dân giáo xứ bạn viếng đài, hiệp thông cầu nguyện. Đặc biệt một số linh mục và tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế nhiều lần đến thăm giáo xứ và chia sẻ số phận bị bách hại của cộng đoàn An Bằng. Các ngài đã tổ chức cầu nguyện cho An Bằng trong các thánh lễ và các buổi đốt nến cầu nguyện cho công lý và hòa bình.

· 27-04-2009: Hội đồng giáo xứ nhận được văn thư của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế số 1746/UBND-NĐ đề ngày 23-04-2009, do phó chủ tịch Nguyễn Thị Thúy Hòa ký.

UBND tỉnh “đồng ý chủ trương giao thửa đất có số hiệu 38.2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05, tọa lạc tại khu vực Bắc Thượng, thôn An Bằng, xã Vinh An hiện do UBND xã Vinh An đang quản lý cho Hội đồng giáo xứ An Bằng để xây dựng khu hành lễ của giáo dân giáp An Bắc”.

Đây là lần đầu tiên giáo xứ nhận một văn thư cấp tỉnh. Nhưng khi hỏi UBND xã về vị trí thửa đất có số hiệu trên, xã trả lời không biết!



Văn thư của UBND tỉnh TT-H (23-04-09) - Giấy mời của UBND huyện Phú Vang (18-05-09)

· 02-05-2009: Từ sáng sớm, giáo dân giáp An Bắc chuẩn bị dâng hoa mừng Mẹ Maria dịp đầu tháng Mẹ tại Đài Thánh giá của giáp. Bỗng đâu lúc 9g, đông đảo cán bộ huyện xã tập trung tới, khoảng 30 người. Có cả chủ tịch UBND huyện, bí thư và chủ tịch UBND xã.

Ông chủ tịch huyện Phan Văn Quang mời ông giáp trưởng An Bắc Nguyễn Đức Mân vào “trạm bảo vệ rừng” bên cạnh Đài lễ để làm việc. Ông chủ tịch cấm đóng trại, cấm mở loa. Ông giáp trưởng trả lời:

- Chúng tôi đem mấy tấm bạt lên đây để trải trên cát cho các em dâng hoa khai mạc tháng mừng Mẹ Maria, chứ không đóng trại! Chúng tôi phải mở máy mở loa để các em tổng dượt và chiều nay dâng hoa cho đúng nhịp điệu.

- Chỉ được dùng máy cassette!

- Dân đây xài đầu máy dĩa cả. Hơn nữa, hiện giờ chúng tôi không có băng nhạc cassette!

Anh Phạm Xuân Tuấn, nhà gần đài, cũng bị mời làm việc vì nhà anh mở nhạc đạo sáng nay:

- Không được dùng loa cực mạnh!

- Loa chúng tôi thuộc loại rẻ tiền, chẳng giống loa của xã treo ở các trụ điện, không dây, cực mạnh!

- Phải chấp hành luật phòng hát karaoke!

- Chẳng tôi chỉ mở nhạc trong nhà chúng tôi!

Cán bộ, công an, biên phòng, kiểm lâm và các ban ngành khác thuộc huyện xã vẫn canh gác đến hơn 12g trưa. Chiều, giáp vẫn tổ chức dâng hoa sốt sắng: sống có Mẹ, chết có Mẹ, Mẹ ơi! Nhóm người theo dõi vẫn còn đó, dù con số ít hơn.






· 11-05-2009: Cán bộ thu dọn hai trại đã đóng hơn một năm nay. Chỉ còn lại ngôi nhà gọi là trạm bảo vệ rừng và năm sáu cán bộ.

· 19-05-2009: Hội đồng giáo xứ nhận được giấy mời của UBND huyện Phú Vang, phòng Tài nguyên Môi trường, số 162/GM-TNMT đề ngày 18-05-2009 do ông Phó trưởng phòng Nguyễn Văn Chính ký.

Văn thư mời ông Văn Đình Trung, chủ tịch HĐGX và ông Nguyễn Đức Mân, giáp trưởng giáp An Bắc, đến hội trường UBND xã Vinh An ngày 21-05-2009, để làm việc giao đất.

· 21-05-2009: Tại hội trường xã lúc 8g30, ông chủ tịch xã Phạm Bình Tịnh chủ tọa buổi làm việc. Cán bộ ban tôn giáo tỉnh, UBND huyện và xã có mặt. Ông chủ tọa xác định thửa đất có số hiệu 38.2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05 là đất hiện giờ ông Lê Đạt đang trồng cây.

Ông giáp trưởng Nguyễn Đức Mân lặp lại ý muốn của toàn thể giáo dân giáp An Bắc là không nhận bất cứ lô đất nào hiện giờ làng hoặc tư nhân đang sử dụng và muốn tiếp tục thờ phượng Chúa tại phần đất truyền thống của giáp từ bấy lâu nay. Cán bộ tôn giáo tỉnh ghi nhận nguyện vọng và hứa nghiên cứu giải quyết.

Tối cùng ngày, lúc 18g30, giáo dân giáp đang sum họp đọc kinh ca hát tôn vinh Mẹ Maria tại đài Thánh giá như thường lệ mọi ngày.

19g30, mọi người ra về. Một anh công an huyện cấp sĩ quan từ trong trạm bảo vệ rừng đi ra tiểu tiện ở gần Đài Thánh giá. Ông giáp trưởng chạy đến yêu cầu đừng làm ô nhiễm nơi tôn nghiêm đồng người tụ họp.

- Tôi đái đấy, anh làm chi tôi!

- Phải tôn trọng vệ sinh chung!

Một anh công an khác nhào tới bên ông giáp trưởng, giọng hống hách:

- Anh muốn chi?

- Tôi muốn làm người lịch sự!

Một anh kiểm lâm đến xoa dịu ông giáp trưởng:

- Thôi, nó đang say!

· 29-05-2009: Sáng nay cán bộ tăng cường lực lượng quanh Đài Thánh giá. Một số gặp các ông trong HĐGX hỏi giáo dân sắp làm gì tại đài.

Thực ra, hôm nay là ngày các giáp trong giáo xứ tạ (ơn) Mẹ cuối tháng. Ngày mai cả giáo xứ tạ Mẹ long trọng. Giáo dân giáp An Bắc làm vệ sinh môi trường tại đài. Không biết cán bộ tại chỗ thông tin sao đó khiến lực lượng cán bộ công an huyện xã kéo tới canh phòng khoảng 20 người.

Lúc 17g, ông giáp trưởng Nguyễn Đức Mân lại bị mời làm việc. Trời sắp mưa, một số bô lão muốn căng mấy tấm bạt đứng đọc kinh. Để tránh phiền phức với cán bộ, tất cả quyết định đứng giữa trời mưa mà tạ Mẹ.

18g, cộng đoàn kiệu tượng Mẹ quanh Đài. Các em nhi đồng múa dâng hoa năm sắc lên Mẹ. Trời mưa to. Mọi người sốt sắng dưới mưa. Cán bộ an toàn trong ngôi nhà bảo vệ rừng.

19g bế mạc. Các em chia sẻ quà tặng. Vui vẻ dù ướt lạnh. Không quên những phần quà cho người nghèo xa gần. Tạ ơn Mẹ.

II- Nhận định của Nhóm Phóng viên

Giáo xứ An Bằng, với mảnh đất nhỏ bé của mình ở giáp An Bắc, tiếp tục bị nhà cầm quyền CSVN -từ cấp xã đến cấp huyện lên cấp tỉnh- sách nhiễu đàn áp, với đủ trò vừa vô lý vừa vô luật, trong mục đích thực thi và duy trì quyền lực độc đoán của mình: quyền sở hữu mọi đất đai dưới trời Nam, quyền sai khiến mọi thần dân trên đất Việt, quyền theo dõi mọi hoạt động, quyền quấy nhiễu mọi cuộc sống, quyền lũng đoạn mọi tập thể.

Trong bản tin hôm nay, sự vô lý (lý thông thường) và vô luật (luật chính đáng) biểu lộ ở chỗ nhà cầm quyền tiếp tục mưu đồ đẩy giáo xứ và các cá nhân hay tập thể xung đột với nhau vì tranh giành đất đai. Thế nhưng giáo xứ vẫn kiên trì bảo vệ lập trường: không lấy đất đang sử dụng của ai đó, dù nhà cầm quyền có cấp đi nữa, một giữ chặt mảnh đất truyền thống của mình, và như thế là mặc nhiên lên án cái “quyền công hữu đất đai” hết sức bất công và khốn nạn của CS.

Sự vô lý và vô luật tiếp đến biểu lộ qua việc cán bộ bắt lâm tặc trở thành cán bộ lâm tặc và trạm kiểm lâm lại dựng ở chỗ rừng dương đã có sở hữu chủ là dân làng! Dân trồng cây, dân bảo vệ cây mình trồng. Ở làng An Bằng từ xưa đến rày lại không có chuyện ăn trộm cây người khác. Nay lần đầu tiên cán bộ vừa lén lút cưa trộm cây của dân vừa ngang nhiên dựng “trạm bảo vệ rừng” trên đất của dân, không một lời thương lượng, không một tiếng xin phép. Thế thì bảo vệ rừng làm gì? Tốn công giữ, phí nhân sự! Không đúng nơi, chẳng hợp hoàn cảnh. Trong lúc rừng cả nước bị tàn phá với tốc độ chóng mặt! Ai phá thì mọi người đã rõ? Thật ra cái gọi là “trạm bảo vệ rừng Vinh An” chỉ là trạm theo dõi, quấy nhiễu mọi hoạt động tôn giáo tại đài lễ, và khi cần thì có thể xóa sạch đài lễ này.

Sự vô lý và vô luật còn biểu lộ qua việc nhà nước quá thừa giờ, thừa người và thừa tiền, để nghe phong thanh một chuyện nào đó tại đài lễ giáp An Bắc (hay giáo xứ An Bằng) là huy động vô số nhân lực, vật lực đến, để chỉ làm mỗi một việc là sách nhiễu, áp bức cuộc sống dân lành, là quấy rối -thậm chí lăng mạ bằng cử chỉ côn đồ vô học- những sinh hoạt tôn giáo của tín hữu. Người dân không bao giờ được yên trong chuyện sinh sống và chuyện giữ đạo, lại còn phải nai lưng nộp thuế để dung dưỡng, duy trì cái bộ máy chính quyền ăn hại suốt bao năm trường.

toàn bộ đất đai, lãnh thổ của dân tộc, rồi “ra ơn” ban phát cho dân được “mượn” và khi cần cướp lại thì dùng từ “thu hồi” (Luật gia Đỗ Thuý Hường). Nó và cái luật của nó đang gây điêu đứng cho cuộc sống của hàng triệu người dân Việt Nam và hàng ngàn tập thể dân sự lẫn tôn giáo cả nước. Chỉ có xóa sổ cái chế độ bất công này thì mọi tài sản tinh thần (mọi thứ tự do, nhân quyền) và mọi tài sản vật chất (đất đai nhà cửa) mới được trả lại cho nhân dân.

Nhóm Phóng viên FNA tường trình từ Huế, lúc 20g30 ngày 06-06-2009

Bài Xem Nhiều