We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 12 June 2009

Súc Vật Hóa Con Người


Ngô Nhân Dụng

Trong Hồi Ký của Một Thằng Hèn, nhạc sĩ Tô Hải tố cáo “Âm mưu súc vật hóa con người được tiến hành rất có tổ chức” của đảng Cộng Sản ở Việt Nam, “là tội lớn thứ hai sau tội giết người.” Vì nó biến đổi hệ thống giá trị của nhiều thế hệ người Việt khiến cho bây giờ họ thấy “không có gì quý hơn đồng tiền!”. (trang 398)


Vì không được cơ hội bảo vệ phẩm giá con người cho nên, Tô Hải kể, “Cha con, vợ chồng sẵn sàng kiện cáo, tranh cướp, thậm chí đâm chém nhau” chỉ vì muốn giành nhau một mối lợi. Ông nêu thí dụ một nhà thơ nổi tiếng đã kiện con trai của mình để giành lại một mảnh vườn trước căn phòng của một thi sĩ bạn thân đã chết.

Nền tảng đạo đức của nước ta bắt đầu bị phá từ thời cải cách ruộng đất, bây giờ thuật lại nhạc sĩ vẫn còn thấy xấu hổ. Phương pháp đấu tố của Mao Trạch Ðông không chỉ nhắm giết người mà còn có mục đích hủy hoại những quy tắc đạo lý cổ truyền: “Thử hỏi trước kia ở đất nước ta có thời đại nào làng xóm giết nhau, cha bị con đấu tố, vợ chỉ mặt chồng giữa sân đình gọi là ‘thằng kia!’ rồi đưa ra đầu làng bắn bỏ hay không?” ( trang 235)

Vì sợ hãi guồng máy độc tài cho nên, Tô Hải thú nhận, “Tất cả chúng tôi đều sống giả, sống bằng cái đầu và trái tim của người khác... chính tôi, một nạn nhân đồng thời cũng là một tội đồ... là kẻ cố bám lấy cuộc sống, cố nuốt mọi cục phân thối hoắc... mà vẫn làm ra vẻ tươi cười.” (235)

Nhà văn Solzhenitsyn từng nhận xét là một chế độ độc tài cần hai thứ khí cụ: áp bức và dối trá, có cái này phải có cái kia, thiếu một cái không được. Người nào đã chọn cai trị dân theo lối độc tài thì hệ quả tất nhiên là người đó phải dùng cả hai khí cụ: Phải khủng bố, áp bức dân. Và phải dựng lên một bộ máy dối trá, che đậy, lừa bịp cả thế giới.

Ðấu tố, giết người, là nhưng phương cách tiêu diệt những thành phần khó kiểm soát, đồng thời cũng đe dọa những người khác. Nếu không dụ dỗ được thì ép buộc các văn nghệ sĩ phải “làm ra vẻ tươi cười” đóng vai trò “cung văn,” “minh họa,” đó là guồng máy dối trá giúp bảo vệ chế độ.

Chế độ Cộng Sản ở Việt Nam không sáng chế ra những phương pháp cai trị đó. Chính họ đã học được từ các bậc thầy Mao Trạch Ðông, Stalin và Lenin. Người học trò giỏi của những “đại sư quốc tế” này là Hồ Chí Minh. Ai cũng biết Hồ Chí Minh vẫn đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như các vị thánh sống. Ông Hồ nói, theo Nguyễn Văn Trấn kể lại, “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nào nhầm được.” Ông cũng nói, “Những điều gì cần viết đã có Chủ Tịch Mao Trạch Ðông viết cả rồi, tôi không cần viết sách nữa.”

Nhưng các bài học quan trọng nhất giúp Hồ Chí Minh thành công trong việc chiếm chính quyền ở nước ta không phải do sách vở dạy mà do kinh nghiệm sống của chính ông. Ông Hồ đã có mặt ở Liên Bang Xô Viết trong những năm chế độ này thi hành các chính sách đàn áp tàn bạo cũng như những vụ xử án dối trá chưa bao giờ thấy trong lịch sử.

Bài học lớn mà Hồ Chí Minh học được ở cả Liên Xô lẫn Trung Quốc là trong lúc thời thế tao loạn thì kẻ nào tàn ác nhất cuối cùng sẽ thắng. Bá thuật sẽ thắng vương đạo. Ðạo đức, nhân nghĩa, chỉ để nói, để tuyên truyền mà thôi; nếu lấy nhân nghĩa ra dùng thì cũng chỉ nên dùng trong thời bình. Còn trong thời loạn, ai dám giết nhiều người kẻ đó sẽ làm chúa thiên hạ. Hồ Chí Minh đã là một Tào Tháo của nước Việt Nam, lại được Stalin đào luyện những bá thuật quốc tế mới do Lenin truyền dạy nữa.

Nhóm Bôn Sơ Vích và Lenin đã thắng trong cuộc nội chiến Nga 1917 - 1920 vì họ dám giết người tàn bạo nhất so với các phe khác. Chế độ Cộng Sản mà Lenin dựng lên đã tồn tại được cũng vì sau khi cướp quyền được rồi họ vẫn dám giết hết những người có ý kiến chống đối. Nếu quá tay giết cả những người không chống mình cũng không sao! Ðó là quy tắc luân lý mới của Lenin nhưng cũng là một quy tắc xử sự của Tào Tháo: Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình! Stalin theo đúng chính sách đó để củng cố quyền hành cá nhân, bằng cách tiêu diệt ngay các đồng chí cũ có thể cạnh tranh với mình. Hồ Chí Minh có mặt ở nước Nga trong những năm khủng bố nặng nề đó, ông đã nhập tâm. Và sau này ông lại học được thêm các phương pháp của Mao Trạch Ðông, ông đủ thông minh để thấy Mao còn hay hơn Xít vì thường giết người mà không cần dùng đến đội hành quyết. Ðem người ta ra đấu tố, bỏ đói cho tới chết; dùng “quần chúng nhân dân” làm quan tòa buộc tội, xử tử hình; cùng lúc đó dùng đội ngũ văn công ca ngợi tội ác của mình; đó là những phương pháp Mao Trạch Ðông đã dùng rồi được Hồ Chí Minh áp dụng một cách trung thành.

Người ta thường chú ý đến những tội ác của Stalin mà không chú ý đến thời Lenin sống ngắn ngủi. Trong cuốn sử The War of the World, Niall Ferguson chép một bức thư mà Lenin gửi cho các người lãnh đạo Bôn Sơ Vích ở Penza, ngày 11 Tháng Tám năm 1918, ra lệnh họ phải giết những “phú nông” (kulak) để thực hiện việc cướp thóc lúa nuôi Hồng quân,

“Các đồng chí! Bọn kulak nổi lên phải bị đè bẹp không thương xót... Phải hành động để làm gương cho chúng thấy. 1) Treo cổ (tôi nhấn mạnh, treo cổ để mọi người phải trông thấy) ít nhất 100 tên kulak hút máu người. 2) Công bố tên họ chúng nó. 3) Lấy hết thóc lúa của chúng nó... Phải làm sao để trong vòng 100 dặm chung quanh mọi người đều phải thấy, phải biết chuyện, phải run sợ, và kêu lên với nhau: Họ đang đi giết bọn kulak và họ sẽ đi giết hết bọn kulak...

Tái Bút: “Hãy dùng các đồng chí cứng rắn nhất!” (trang 150)

Không lãnh tụ nào trong cuộc nội chiến ở Nga dám ra lệnh cho phe mình giết nhiều người như đám Bôn Sơ Vích dám làm. Ferguson tính là không kể các người chết vì chiến tranh, “trong những năm từ 1918 đến 1920 có 300,000 vụ hành quyết vì lý do chính trị. Không phải chỉ có những người thuộc các nhóm đối nghịch bị giết mà cả những người Bôn Sơ Vích cũ dám cả gan phản đối đám lãnh tụ mới.” (trang 152)

Dưới thời Lenin, trại lao động tập trung đầu tiên đã được lập ra, đến năm 1920 đã có mấy trăm trại tập trung, làm mẫu cho những trại giam sau này mà Stalin và Hitler bắt chước. Chính tổ chức mật vụ (Cheka) nảy ra sáng kiến “cải tạo” các tù nhân bằng lao động khổ sai. Trại Solovetsky lập ra năm 1923, sang năm 1924 được chính thức gọi là trại cải tạo. Với sáng kiến của Naftaly Aronovich Frenkel, một tù nhân người gốc Do Thái được tuyển để đóng vai cai tù, trại này có chính sách cho những người tù khỏe mạnh ăn no, còn người yếu cho chết đói không sao. Theo Ferguson thì dưới thời Stalin có ít nhất 18 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con đã đi qua các cổng trại tập trung cải tạo (Mao Trạch Ðông có sáng kiến gọi là Lao Cải: Cải tạo con người bằng công việc lao động). Nhưng con số những người đã bị công cuộc tập thể hóa nông nghiệp của Stalin buộc vào đường cùng phải chết đói còn cao hơn nữa.

Ðối với các vị Chúa Ðỏ thì những cái chết đó không có gì đáng kể. Một cán bộ của Stalin giải thích cho cấp dưới nghe về cuộc đấu tranh giữa đảng Cộng Sản và các nông dân không chịu vào tập thể, “Năm nay là một năm đấu sức giữa chúng ta với chúng nó coi bên nào mạnh hơn. Phải qua một trận đói chúng mới biết ai làm chủ. Hàng triệu người đã chết, nhưng chương trình tập thể hóa nông nghiệp sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta đã thắng!” (trang 204)

Hồ Chí Minh đã chứng kiến những cảnh đó khi tới Nga lần đầu để được đào luyện trong trường cán bộ quốc tế của Stalin, với vai trò đem chủ nghĩa Cộng Sản gieo rắc khắp nơi trên thế giới. Không phải Lenin hay Stalin nói, mà chính Trotsky đã nói câu này, “Con đường dẫn tới Paris và London đi qua Afghanistan, vùng Punjab và Bengal (Ấn Ðộ).” Dù Stalin đã giết Trotsky nhưng ông ta vẫn theo tấm bản đồ bành trướng đó. Trong số các cán bộ được Stalin đào tạo, hai người thành công nhất là Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn và Hồ Chí Minh ở Việt Nam.

Cho nên chúng ta không ngạc nhiên nếu Hồ Chí Minh đã sử dụng tất cả các phương pháp dùng bạo lực và dối trá mà Stalin đã thử dùng rất có hiệu quả trong việc cướp quyền hành và củng cố quyền hành. Các phương pháp khủng bố bằng bạo lực ở nước ta có thể nói đã giảm bớt cường độ so với các gì Stalin đã làm, vì văn hóa phong tục Việt Nam khác với tác phong của người Nga. Về bạo lực, chính Mao Trạch Ðông mới là khuôn mẫu mà Hồ Chí Minh đã noi theo. Nhưng về mặt dối trá thì giữa Mao và Stalin không khác gì nhau. Việc sử dụng các văn nghệ sĩ vào việc đánh bóng chế độ, ca ngợi lãnh tụ đã được Stalin dùng trước, sau đến Hitler và Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh đã áp dụng giống hệt ở Việt Nam.

Chính nhưng hành động đó là cái Nhạc sĩ Tô Hải gọi là “súc vật hóa con người.”

Khi một chế độ độc tài chỉ dùng bạo lực để giết chóc, đe dọa dân, khủng bố dân, thì họ độc ác nhưng vẫn chưa phi nhân.

Có những chế độ không những độc ác mà còn tìm cách hạ thấp nhân phẩm của mọi người dưới quyền, khiến cho họ trở thành hèn hạ, mất tư cách. Ðó mới là biến con người thành “súc vật” thật sự. Tất nhiên, muốn làm cho tất cả mọi người trở thành hèn hạ, đê tiện thì trước đó phải dùng đến các biện pháp tàn ác để đe dọa. Nhưng cái tội biến con người thành những kẻ hèn hạ, mất cả khái niệm về nhân phẩm còn kinh khủng hơn nữa. Tô Hải cho cái tội “súc vật hóa con người” đứng hàng thứ hai sau tội giết người. Có thể đổi lại cũng được. Tội giết người không nặng bằng, nếu vẫn để cho các nạn nhân ngẩng đầu lên chết xứng đáng làm người. Còn hơn bắt người ta sống như súc vật.

Ngô Nhân Dụng

Giọt Máu Ngư Dân và Nỗi Sợ Thái Thú

Ngày 10 tháng 6 năm 2009

H,

Tin được đăng trên Người Việt online ngày 9-6-2009 cho biết: “Nhà cầm quyền Bắc Kinh ra lệnh cấm đánh cá trên một vùng biển Ðông rộng lớn 128,000 cây số vuông từ 16 tháng 5 đến 1 tháng 8 năm 2009 ngay cả các khu vực mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi. Nhà cầm Hà Nội vừa lên tiếng phản đối thì ngày 6-6-09, Bắc Kinh loan báo cho tàu Ngư Chính 44183, tàu tuần tiễu kiểm soát đánh cá lớn nhất của họ và rồi đưa thêm 7 chiếc Ngư Chính khác, nhỏ hơn, đến tuần tiễu, thi hành lệnh cấm”.

Ðiều nên biết là một phần lớn khu vực bị Trung Quốc cấm lại là khu vực thềm lục địa mở rộng của Việt Nam cùng với diện tích biển bao quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ đó, tin được đăng trên Website Việt Nam Ði Tới ngày 6-6-2009 cho biết: “Bản tin ngắn của báo Trung Quốc có tiêu đề ‘Tàu tuần tiễu Ngư Chính của thành phố Chu Hải tuần tiễu Hoàng Sa, đuổi một tàu cá đánh bắt cá phi pháp’ được nhà báo Trang Hạ dịch và phổ biến trên mạng www.leminhphieu.com kể rằng ‘Ngày 19-5-2009, tàu Ngư Chính số 44183 thuộc đội tàu cá Ngư Chính của Chu Hải lần đầu tiên tham gia tuần tiễu biển quần đảo Hoàng Sa đã phát hiện một tàu cá của nước láng giềng đang đánh bắt cá phi pháp tại vùng biển nước ta. Tàu Ngư Chính Trung Quốc 44831 và 44061 lập tức bao vây, áp mạn và tức tốc tiến hành kiểm tra. Dưới sự chỉ đạo của nhân viên chỉ huy tuần tiễu biển, các nhân viên có chức năng của ta đã cảnh cáo chiếc thuyền này, áp tải nó rời khu vực phạm vi biển nước ta’. Bản tin không nêu tên tàu nào của Việt Nam đã bị đánh đuổi, nhưng nhìn vào tấm hình thì thấy rõ đó là tàu đánh cá mang số hiệu đăng ký ở tỉnh Quảng Ngãi QNg-94734 TS. Bên dưới bản tin là một số lời bình luận của độc giả Trung Quốc nặng tính thù nghịch, như:

- Những tàu cá Việt Nam vi phạm thì nên bắn chìm!

- Bắt lấy đánh cho một trận rồi vứt xuống biển.

- Dân Trung Quốc thấy việc xử lý ôn hoà này rất khó chịu.

- Tại sao không nói rõ là tàu nước nào?

- Chắc chắn là bọn chó Việt Nam rồi.

- Ðáng lẽ phải thu ngư cụ rồi phạt nặng mới phải”.

Về phần CSVN, báo Thanh Niên, ngày 6 tháng 6 năm 2009, có bài viết mang tựa đề “Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Ðói trong mùa cá” cho biết chủ chiếc tàu cá QNg 94734 TS tên Phạm Tĩnh (58 tuổi, ở thôn Phần Thất, xã Phổ Quang), chủ phương tiện và cũng là thuyền trưởng tàu QNg ố 94734 TS chuyên hành nghề lưới rút, vẫn chưa hoàn hồn sau vụ tàu bị tấn công trên biển, dù vụ việc đã trôi qua hơn 1 tháng. Theo lời ông kể, bài báo viết: “Hôm đó vào khoảng 10 giờ ngày 26 tháng 4, tàu của ông đang trên đường tìm kiếm ngư trường thì thấy có tàu nhấp nhô từ khá xa. Biết chuyện chẳng lành, ông Tĩnh cho tàu quay ngược trở lại và chạy hết tốc lực, nhưng chỉ được chừng hơn 20 phút thì 2 tàu sơn màu trắng không rõ quốc tịch (số hiệu 44061, 44831) đến gần và nổ súng, buộc tàu phải dừng lại. Liền sau đó, 2 chiếc ca nô xuất phát từ các tàu trên chở theo khoảng 10 người, tay lăm lăm súng ‘đổ bộ’ lên tàu cá QNg – 94734 TS, nói toàn tiếng Trung Quốc và ra hiệu tất cả thuyền viên dồn về phía mũi tàu, tay giơ lên khỏi đầu. Họ lục lọi khắp tàu, giở hầm thấy cá ngừ, cá thu liền bắt các thuyền viên chuyển cá qua ca nô để chở về tàu ‘trắng’. Hơn 1 giờ, toàn bộ số cá khoảng trên 3 tấn mà tàu ông Tĩnh sau 6 ngày cật lực khai thác đều bị cướp sạch. Trước khi bỏ đi, những người nói tiếng Trung Quốc còn ‘đe doạ’ bằng cách lấy lưỡi lê súng AK đâm lủng 1 thúng chai…” Bài báo cũng ghi nhận một số trường hợp điển hình khác và cho biết thêm: “Từ khi có lệnh tạm cấm ngư trường của Trung Quốc đưa ra, nhiều ngư dân chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương ở phường 6 và câu mực ở phường Phú Ðông (TP Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên) mất hẳn kế sinh nhai. Nhiều người vì lo sợ tính mạng bản thân, tài sản của gia đình, đã kêu bán tàu, thuyền, làm những nghề tay trái với thu nhập thấp, khiến đời sống ngư dân càng thêm khó khăn…”

Bên cạnh đó, báo điện tử Vietnamnet ngày 2-6-09 cho biết ông Nguyễn Văn Hòa, chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu ÐNa-66456, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, Ðà Nẵng, than rằng: “Thực ra tàu cá Việt Nam đã bị tàu nước ngoài đuổi ngay trên vùng biển Việt Nam từ nhiều năm nay. Nhiều tàu cá bị đâm chìm, bị bắt phạt hành chính. ‘Nhưng chúng tôi có tiền đâu mà nộp phạt. Chúng tôi ngậm đắng nuốt cay chấp nhận, bởi nếu không thì bị dẫn độ về nước họ thì tốn kém nhiều hơn. Thường khi bị bắt, họ chỉ cho 1 tàu còn dầu để chúng tôi kèm dắt nhau vào bờ… Ngay chính vụ cá mà nhiều tàu chúng tôi buộc phải nằm bờ thế này thì chết mất… Thiệt hại từ việc nằm bờ không chỉ thiếu hụt sản lượng, mà còn tiền vay sắm đồ, trả tiền ăn để giữ bạn tàu, chờ đến ngày ra khơi…”

Ðến ngày 5-6-09, Vietnamnet dựa theo báo cáo từ Sở Ngoại Vụ thành phố Quảng Ngãi nói rằng chỉ riêng tỉnh này “tính từ 2005 đến quý I/2009, tổng số tàu thuyền và ngư dân Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt là 74 chiếc, 714 ngư dân, trong đó 33 chiếc với 373 ngư dân là bị Trung Quốc bắt.” Nguồn tin này cho biết thêm “Khi bị Trung Quốc bắt, người thân ngư dân phải nộp tiền chuộc từ 5-7 vạn nhân dân tệ (150-180 triệu đồng) mới đưa được ngư dân về nhà. Ngoài bị bắt ra, Quảng Ngãi cũng có 6 ngư dân bị nước ngoài bắn chết và bị thương (năm 2007).”

Vậy mà phải đợi đến Chúa Nhựt, 7-6-2009, trả lời câu hỏi của phóng viên về chuyện Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc hãy kiềm chế đừng có những hành động ngăn cản chuyện đánh cá bình thường của ngư phủ Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lê Dũng mới nói: “Hôm 4-6-2009, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao VN ông Hồ Xuân Sơn đã có một buổi trao đổi với Ðại sứ Trung Quốc ở VN ông Tôn Quốc Tường, ông Sơn trình bày rằng gần đây phía Trung Quốc đã ra lệnh cấm đánh cá trong một vài khu vực ở vùng Biển Ðông bao gồm những khu vực thuộc chủ quyền của VN và phía Trung Quốc cũng đã gia tăng tàu tuần duyên, bắt giữ và phạt nhiều hơn trong khu vực này. Quan điểm của Thứ trưởng Ngoại giao CHXHCNVN Hồ Xuân Sơn là những hành động như thế của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến hoạt động đánh cá bình thường của ngư phủ VN trong những khu vực xưa nay vốn thuộc về VN”. Lê Dũng cũng cho biết Ðại sứ Trung Quốc đã hứa sẽ báo cáo về nước đề nghị nêu trên của phía VN.

Ðiều này gây nên sự bất mãn trong quần chúng Việt Nam vì nó bộc lộ cái hèn của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn và cái nhục của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Lẽ ra Hồ Xuân Sơn phải đòi Ðại sứ Tôn Quốc Tường đến Bộ Ngoại Giao để nghe lời phản đối hành động ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh và tàu Trung Quốc mang số hiệu 44061, 44831…; hoặc Ðại sứ CSVN tại Bắc Kinh đích thân đến Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đòi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải có hành động thích nghi.

Chưa hết, Hà Nội vừa lên tiếng phản đối ngày 4-6-2009 thì 2 ngày sau, 6-6-2009, Bắc Kinh loan báo cho tàu Ngư Chính 44183 và 7 chiếc Ngư Chính khác đến nơi thi hành lịnh cấm. Sau đó, ngày 9-6-2009, Tân Hoa Xã thuật theo tin từ tờ Global Times của Cộng sản Trung Quốc thì Tần Cương, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, nói Trung Quốc có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với các đảo ở biển Nam hải (Việt Nam gọi là biển Ðông), bao gồm các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Việt Nam gọi là Hoàng Sa và Trường Sa) và các vùng biển phụ cận. Bản tin thuật lời Tần Cương nói việc cấm đánh cá vào mùa hè là “các biện pháp hành chính thường lệ và hợp lý của Trung Quốc ở biển Nam Hải nhằm bảo vệ sự bền vững của thuỷ sản trong khu vực”. Ngoài ra, Ông Zhuang Guotu, Khoa trưởng phân khoa Nghiên cứu Ðông Nam Á châu của trường Ðại học Xiamen nói với báo Global Times rằng Trung Quốc đang bày tỏ một thái độ cứng rắn nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trong vùng biển Nam Hải. Do đó, người ta chưa biết Bắc Kinh có chính thức trả lời yêu cầu của Hồ Xuân Sơn hay chỉ cho Tần Cương bắn tiếng như vậy là đủ rồi.

Nhìn vào diễn tiến nội vụ không ai ngờ Cộng sản Việt Nam có thể hèn đến độ đó và chịu nhục đến độ đó; nhứt là khi bản tin BBC loan đi ngày 9-6-2009 có đề cặp tới việc “báo The New York Times của Mỹ hồi đầu tháng này có nhắc tới chuyện Việt Nam đã bỏ ra hơn hai tỷ đô la để mua sáu tàu ngầm và 12 máy bay chiến đấu SU-30 của Nga Sô và nhiều ngư dân than phiền với truyền thông trong nước và nước ngoài rằng họ mất miếng cơm manh áo khi Trung Quốc cấm đánh cá vào đúng mùa cá”. Trước đó, cũng qua đài BBC, một đại diện của ngư dân đã than thở và trách móc: “Thời gian Trung Quốc cấm trùng với mùa cá chính của ngư dân VN. Ra lệnh cấm như vậy chẳng khác gì yêu cầu ngư dân kéo thuyền lên bờ nghỉ, chờ đến mùa mưa bão ra khơi” (BBC 2.6).

Cũng chưa hết, giữa khi hàng chục ngàn ngư dân các tỉnh ven biển miền Trung bị khốn khổ vì chính sách ngang ngược và tàn bạo của Bắc kinh thì ngày 26 tháng 5, Nông Ðức Mạnh, người đứng đầu CSVN, đã thân mật tiếp đón Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đang thăm Việt Nam và dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á- Âu lần thứ 9. Sau đó, ngày 05-06-2009, báo Nhân Dân còn bình thản đưa tin đoàn văn nghệ Quảng Ðông (gồm các diễn viên cấp quốc gia Trung Quốc) sẽ trình diễn tại Nhà hát Quân Ðội Việt Nam và tại hai nhà hát trang trọng nhất của Hà Nội và Sài Gòn. Ðồng thời, trên báo Tuổi Trẻ lại có thêm tin: “Ngày 6-6, tại bãi biển Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức lễ công bố và đón nhận danh hiệu Lăng Cô – vịnh đẹp nhất thế giới với sự tham dự của hàng nghìn người dân địa phương và du khách”… Tất cả như muốn xóa mất dấu vế thảm họa ngư dân đang gánh chịu trên biển Ðông và cũng để mọi người cũng quên mất luôn Ðại họa Bắc thuộc đang đè nặng dân tộc và đất nước Việt Nam.

Nhưng, không phải vì vậy mà không có những câu hỏi được đặt ra là tại sao Nhà nước không dám lên tiếng binh vực dân khi dân bị ăn hiếp, bị cấm hành nghề, bị ăn cướp, bị sát hại… ngay trên lãnh hải của mình. Càng hỏi càng thêm đau lòng, vì những câu hỏi đặt ra không cần có câu trả lời khi đám lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền ở Việt Nam hiện tại không phải là chánh phủ của dân tộc và đất nước Việt Nam. Bởi đất nước Việt Nam đã bị Tàu đô hộ từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh sang Tàu cầu viện Mao Trạch Ðông để được làm tên tay sai nhuộm đỏ cả nước bằng súng đạn của Tàu và các nước Xã hội Chủ nghĩa. Từ lâu, đặc biệt là sau khi Thái Thú Lê Duẫn bị Ðặng Tiểu Bình dạy cho bài học đầm đìa máu hận năm 1979, bọn chúng đã bị biến thành những Thái Thú được Tàu cho tiếp quyền cai trị Việt Nam; và Việt Nam dưới quyền cai trị của chúng đang bị chúng coi như lãnh địa chờ sáp nhập vào Trung Quốc, mà tài liệu được chép lại từ băng ghi âm cuộc gặp mặt giữa đại diện Tổng cục tình báo Hoa Nam và Tổng cục II Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ “Tuyệt mật”, nói về “Việt Nam: Tỉnh Hay Khu Tự Trị?” của Trung Quốc là một điển hình điếm nhục, cho dầu độ xác tín của nó còn là một dấu hỏi lớn cũng xin ghi lại vài trích đoạn đáng lưu ý dưới đây:

“…Với tư cách chính uỷ được cử ra chủ trì hội nghị, tôi xin tóm tắt vài điều quan thiết… Với bọn phản động chuyên gây rối ấy à, cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại (vỗ tay)… Phải quét cho bằng sạch, tiêu diệt không thương xót bọn dân chủ, không cho chúng được đàng chân lân đàng đầu, vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy (nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!)… Hợp nhất Trung Quốc – Việt Nam là một mốc lịch sử vĩ đại trên con đường phát triển của Tổ quốc… Trong tình hình thế giới hiện nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại… Chỉ trở về với Tổ quốc các đồng chí mới có thể tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ bọn giòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó các đồng chí không còn được ngồi ở bàn giấy trong công thự mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp!… Nếu ở Trung Quốc đã có một Thiên An Môn thì tại sao Việt Nam không thể có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng Trung Quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của các đồng chí. Ðể bảo vệ các đồng chí, Trung Quốc không thiếu xe tăng dĩ chí cho vài Thiên An Môn (vỗ tay). Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí xem Hồ đồng chí (Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi… Việc Việt Nam trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến, không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn (vỗ tay, nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!”). Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. “Trung Quốc và Việt Nam là một”… Nông đồng chí (Nông Ðức Mạnh), từng tự hào nhận mình là người Choang trong cuộc gặp gỡ với các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc… sự sáp nhập trở lại của Việt Nam, và toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu (vỗ tay ran)… Ngày nay Trung Quốc vĩ đại đang giành lại vị trí phải có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại càng thêm vĩ đại (vỗ tay, tiếng nhiều người “Rất đúng!”)… Những việc mà giờ đây chúng ta phải làm… là: Ðè bẹp và tiêu diệt luận điệu “tinh thần dân tộc” vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc, đặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất… Tướng lĩnh phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc, công này là của nguyên chủ tịch Lê (Ðức Anh), người rất biết nhìn xa trông rộng (vỗ tay)… Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt, cho chúng biết rằng một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm… Mao chủ tịch đã dạy: trí thức khởi xướng được nhưng không làm được, chúng chỉ lép bép lỗ miệng, thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy… Hãy lên đạn, hãy hô “bắn” thật to, đâu sẽ vào đấy hết (cười ran)… Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng… Truyền thông phải sử dụng mọi phương tiện sẵn có, tăng cường viết và nói hàng ngày hàng giờ, biện luận cho dân thấy được cái lợi của việc sáp nhập: họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân Trung Quốc, hơn hẳn phúc lợi đang có, sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới, ngư dân được tha hồ đánh cá trên biển Ðông nay cũng là của họ mà không còn phải lo lắng vì xâm phạm hải phận bị hải quân Trung Quốc trừng phạt, người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể (vỗ tay ran)… Với mọi sự cố xảy ra trên biển như vừa rồi cứ tiếp tục ám chỉ một “nước ngoài” nào đó, hoặc một “tàu lạ” nào đó, không rõ quốc tịch v.v… là được… Hiện nay đang nổi lên sự phản đối Trung Quốc khai thác bô-xít ở miền Trung. Ồn ào lắm. Có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi, chứ bề trong thì bọn phản đối cũng biết thừa mọi sự đã an bài, tiền đã trao thì cháo phải được múc, Bộ Chính trị quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là Nông (Ðức Mạnh) đồng chí, là chuyện sinh tử của Nông đồng chí, nên đồng chí rất kiên quyết… Phải phản công bằng lập luận: một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta, chưa chừng trên sẽ thay đổi kế hoạch, ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang thực hiện ở châu Phi, bô-xít của ta, ta để đấy dùng sau, cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỉ tấn bô-xít ở Quảng Tây… Nói để các đồng chí phấn khởi: về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm châu Phi trong tay từ nhiều năm rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. Trung Quốc đến sau phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng một thập niên ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang châu Phi làm thành những vùng đất Trung Quốc trên lục địa Ðen nữa kia (vỗ tay). Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của Tổ quốc” (vỗ tay ran)… Phải trấn an các cán bộ các cấp từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất mọi vị trí, quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển… mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất: Tỉnh hay là Khu Tự Trị? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm… bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà Trung ương không thuận… vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Tổ quốc”…

Chưa biết độ xác tín của tài liệu đến mức độ nào, có thể là phịa; và cho dầu phịa với mục đích nào, chỉ với vài trích đoạn, vấn đề coi như đã an bày [hay cái phịa muốn an bày?]. Phải chăng vì vậy mà trong bài viết mang tên “Dự án Bauxite Tây Nguyên: cái nhìn của một người Việt Nam ở nước ngoài” (trên Talawas-03/06/09 và nhiều Trang Mạng khác) người được gọi là Giáo sư Lê Xuân Khoa chẳng những không tiếc lời ca tụng Võ Văn Kiệt [người có thời lãnh đạo Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kẻ tham nhũng hàng đầu trong hệ thống công quyền CSVN, kẻ góp phần không nhỏ trong việc đẩy vô số dân oan vào cuộc sống trầm luân khốn đốn cho bọn tài phiệt hình thành giai cấp quý tộc đỏ, gian thương đỏ, tư bản đỏ... nhờ lấy đất của dân đem bán cho các dự án đầu tư lớn của các doanh nhơn ngoại quốc, nhờ từng cơn khủng hoảng địa ốc, nhờ những đồng đô la của ‘khúc ruột ngàn dặm xa’ rót về quê nhà cứu đói người thân, lẫn đích thân mang về đú đởn hoang dâm trên từng cơn đau của đồng bào ruột thịt... đến cuối đời mới nhận mình sai trong dự án Dung Quất, đến cuối đời mới bộc lộ chút phản tỉnh, chưa kịp cất lời xin lỗi đã bị bọn Thái Thú đương quyền thanh toán bằng độc dược, chỉ kịp viết lên tay mấy chữ trước khi bị đưa đi Singapore bạch hóa cái chết trấn an dư luận], ông Khoa lại còn cất tiếng nói “Việt Nam không ghét nhưng sợ Trung Quốc” [trả lời câu hỏi của ông Wu].

Trời ơi! Ông nói Việt Nam là dân tộc Việt Nam hay ông nói cá nhơn ông vậy ông Khoa? Xin đừng lên tiếng nói thay 86 triệu dân Việt Nam ở quốc nội đang là nạn nhơn trực tiếp của kẻ thù Trung Quốc. Cũng xin đừng nói thay 3 triệu người Quốc gia Việt Nam hải ngoại, trong đó có tôi.

Nếu là cá nhơn, ông Khoa không ghét Trung Quốc! Vậy ông thương kẻ thù Trung Quốc hả ông Khoa! Ông có thật sợ Trung Quốc không hả ông Khoa? Sợ Trung Quốc mà ông có xài đồ Trung Quốc không? Trong gia đình ông có vật dụng nào mang nhãn hiệu Trung Quốc không? Nhưng sợ rồi làm gì cho hết sợ? Tôi đã có lần rớt nước mắt vì hành động về hùa với chủ trương “cưỡng bức tỵ nạn Việt hồi hương” để hưởng “phân” của ông. Bây giờ, tôi thêm một lần nữa rớt nước mắt vì câu nói “Việt Nam không ghét nhưng sợ Trung Quốc” của ông. Lạy Trời cho tôi đừng nghe thêm câu nói nào khác khiến tôi phải rớt nước mắt nữa!

Xin nói lại Việt Nam ghét Trung Quốc. Chỉ có đám Thái Thú mới sợ bị Trung Quốc bỏ rơi. Còn dân Việt nếu có sợ Trung Quốc là sợ để tìm cách đối phó, để đánh đuổi Trung Quốc, để thoát nạn Bắc thuộc, như mấy lần Bắc thuộc trong quá khứ, chớ không phải đầu hàng theo kiểu ném đá chôn trụ đồng của Mã Viện thời trước.

Hẹn con thư sau

Giáo Già

Thù Hận, Chống Đối Quá Khích


Nhiều người trong đó có một vài nhà trí thức, những tay chính trị đón gió, bọn cò mồi và những tên nằm vùng thường lặp lại luận điệu của Hà Nội cho rằng, một số người Việt trong cộng đồng hải ngoại vẫn còn mang thù hận trong lòng và thường quá khích chống đối Việt Nam. Tôi mượn trang giấy nầy để trả lời rõ ràng và dứt khoát như sau :

Đừng bóp méo sự thật, người Việt tự do hải ngoại không thù hận Việt Nam, hay nói thật chính xác và rõ ràng hơn, không thù hận Đất Nước, không thù hận bất cứ người Việt Nam nào dù là Bắc hay Nam, mà mục đích chính là hô hào cổ võ để đánh đổ cho bằng được những tay đầu sỏ trung ương đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội. Bọn chúng chỉ là một tập đoàn nhỏ, số lượng đếm trên đầu ngón tay nhưng từ mấy chục năm qua đã luân phiên cai trị, đàn áp bóc lột tám chục triệu người vô tội. Những đảng viên cấp nhỏ, sĩ quan quân lính trong quân đội chính quy, trong đạo quân công an kềm kẹp, anh chị em công nhân viên nhà nước đều là những người đáng thương, chẳng qua vì sinh kế và mạng sống buộc họ phải phục tùng. Đối tượng của người Việt tự do chính là những tay đầu não Cộng sản cần phải đạp đổ để dành lại tự do hạnh phúc cho toàn dân chứ không phải là người Việt gốc miền Bắc, miền Nam hoặc cán bộ công nhân viên cấp nhỏ của nhà nước.

Ai căm thù ai ? Ai vẫn xử dụng trò đểu giả để lừa bịp dư luận ? Hà Nội thường rêu rao rằng một số người Việt nước ngoài vẫn còn căm thù đồng thời nhóm người nằm vùng, đón gió trở cờ lợi dụng diễn đàn tự do kêu gọi hãy tha thứ quên đi quá khứ để bắt tay hòa giải. Tôi thấy làm lạ khi Hà Nội vẫn còn dùng những nơi trưng bày ‘tội ác Mỹ-Ngụy’ để rêu rao bôi xấu chế độ tự do và luôn luôn lợi dụng các dịp lễ lộc để khơi lại căm thù…

Chiến tranh nào không tàn bạo, không đổ máu, không chết chóc. Tội ác do Cộng sản gây ra tại miền Nam hàng hà sa số gấp ngàn gấp vạn lần những gì do Đồng minh và Việt Nam Cộng Hòa gây ra vì nhầm lẫn hoặc vì tình thế bắt buộc khi đối đầu với chiến thuật dã man của Cộng sản Hà Nội khi lùa dân làm bia đở đạn cho chúng. Chỉ một vài bức hình như cảnh một bé gái chạy giặc trong vụ Mỹ đánh vào một khu xôi đậu ở miền Trung hoặc tên đặc công bị vị chỉ huy Cảnh sát bắn bỏ ngay giữa đường phố, Cộng sản Hà Nội và tay sai cũng như các phần tử phản chiến thường đưa lên các cơ quan truyền thông quốc tế. Hình ảnh nầy đâu có thể so sánh cảnh hàng ngàn người dân vô tội bị chúng chôn sống tập thể trong Tết Mậu Thân 1968, những cảnh hàng trăm thường dân bị pháo giết hại hoặc cảnh những tên đặc công ném mìn lựu đạn vào giữa chợ búa lúc đông người. Cũng chưa đủ, Hà Nội dùng đủ phương tiện để vận động Mã Lai đập bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân tại quốc gia nầy là một hình thức gây hấn, chà đạp lên sự đau khổ của những người đã trốn chạy chế độ khát máu lúc chúng vừa kéo vào ngự trị miền Nam.

Bề mặt vuốt ve Việt kiều nhưng Hà Nội vẫn đểu giả huấn luyện hàng ngàn người, gởi ra xứ ngoài để tuyên truyền gây chia rẽ và phá hoại. Chúng dùng tiền của Việt kiều để gầy dựng cơ sở, nuôi dưỡng và yểm trợ bọn nằm vùng để phá lại cộng đồng người Việt tại các xứ tự do.

Thù hận chất chứa trong lòng, ai hơn ai ? Đối với người tỵ nạn xứ ngoài, giòng giống con cháu Lạc Hồng từ Bắc chí Nam đều là anh em máu mủ, kể cả chị nông dân, anh bộ đội, cán bộ, công an nhà nước. Mọi người đều là nạn nhân bị tập đoàn Cộng sản mượn danh rồi bóc lột lại chính họ đến tận xương tủy. Chúng tôi không hận thù, không quá khích mà dùng phương tiện báo chí truyền thông để lột mặt nạ và dùng ngòi bút vạch trần những xảo quyệt của tập đoàn Cộng sản đồng thời tiếp tay với những người yêu nước đánh cho bằng được đám người thiểu số cầm quyền. Chúng chỉ vỏn vẹn vài ba trăm trong bộ chính trị trung ương và guồng máy hành chánh, nhưng chúng đã thay phiên nhau trị vì trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân Việt Nam từ hơn năm chục năm nay.


Đinh Lâm Thanh


Bài viết trên Trích đoạn trong mục ‘Việt Nam Đổi Mới và Hòa Giải Hòa Hợp’ của ấn phẩm Tham Luận Chính Trị ‘MỘT ĐỜI XÓT XA., ISBN số 978-1-60643-652-3, do Nam Việt xuất bản và Tự Lực phát hành tháng 6/2008 tại Hoa Kỳ.


ĐINH LÂM THANH

TÁC PHẨM & CON NGƯỜI

Tội Ác Đảng CSVG xây dựng 1 nước Việt Nam sau 34 năm

Thiếu nữ Việt đi tù vì trồng cần sa ở Anh

Ảnh minh họa cây cần sa.
Ảnh minh họa cây cần sa của i.thisis.co.uk.

Một cô gái Việt vừa bị kết án 18 tháng tù vì trồng cần sa ở hạt Hertfordshire, Anh, sau khi phải trả tới 33.000 USD để được đưa sang nước này.

Que Ha, 18 tuổi, ra hầu tòa hôm 7/6. Cô được những kẻ trung gian dẫn đến Letchworth để chăm sóc khoảng 160 cây cần sa trong một ngôi nhà tại đây.

Khi cảnh sát ập đến ngôi nhà này hồi tháng trước, Ha đang ở nhà một mình. Cô khai rằng muốn kiếm tiền để giúp đỡ gia đình ở Việt Nam nhưng không nhận được đồng tiền công nào.

Ha làm công việc này từ hồi tháng giêng. Nhiệm vụ của cô mỗi ngày là canh giờ bật điện khoảng 12 tiếng mỗi ngày và trộn hóa chất với nước để tưới cho cây.

Ha cho biết gia đình cô ở Việt Nam đã phải vay khoảng 33.000 USD lo chi phí cho cô sang Anh và trong hành trình đến miền đất hứa đó, đã có lúc cô được treo người dưới gầm xe tải để tránh cảnh sát.

Luật sư bào chữa cho Ha là William Smith cho biết cô gái này đã tưởng sẽ kiếm được việc làm trong nhà hàng hoặc khách sạn nhưng cuối cùng bị bóc lột. Cô mong được về Việt Nam càng sớm càng tốt.

Nghe Tâm Sự: Nghèo Khổ Biến Phụ Nữ Việt Nam
Thành Nạn Nhân Của Tội Ác Buôn Bán Con Người

VÀO INTERNET LÀ một TỘI

Thực tế và thực sự Cô Nguyễn thị Bích Hạnh, tốt nghiệp Cao học trong nước gọi là Thạc sĩ, dạy trường Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Quảng Ngãi, bị sa thải vì khuyến khích học sinh vào Internet để tìm hiểu thêm bài giảng. Nhưng trên mặt giấy tờ hành chánh, tổ chức thì nhà cầm quyền CS nói cho Cô thôi việc vì "sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà Nước." Với cái tội này coi như chấm dứt nghề dạy học, không trường công, trường tư, trường bán công nào có thể mướn Cô dạy nữa dù là dạy giờ vì làm sao qua khỏi cặp mắt cú vọ của Tổ Chức chánh quyền, trong đó có “Bảo vệ chánh trị" một tổ chức của Đảng chuyên "kiểm soát tư tưởng hành động của cán bộ công nhân viên" làm việc cho nhà nước.

Tới đây không khỏi nhớ lại ngày CS Hà nội mới vào Saigon, giáo chức "đứng lớp" nếu hồ sơ không dính líu với "nguỵ quân, ngụy quyền" ở Sở Giáo dục, chỉ được "lưu dung" - xin chú ý lưu dung, chớ không phải lưu dụng, có dấu nặng. Nếu được "lưu dung" đều phải đi học dạy lại. Bất kỳ giáo chức dạy trung học đệ nhứt hay đệ nhị cấp, tiểu học, mẫu giáo hay nhà trẻ đều phải sọan bài (nói theo kiểàu VNCH) hay "làm giáo án" nói theo "từ" CS. Những câu hỏi kiểm soát bài cũ, câu hỏi dẫn dắt bài mới, và câu hỏi kiểm soát bài mới để xem coi học sinh hiểu bài mới tới đâu và câu hỏi thử trí thông minh của học sinh đều phải chuẩn bị "đáp án". Giáo án ở bất cứ cấp nào cũng phải trình cho : Ban Giám Hiệu duyệt thì mới đưọc "lên lớp" dạy.

Phương pháp sư phạm này làm cho giáo chức đưọc đào tạo bởi khoa sư phạm của nền giáo dục nhân bản, dân tộc, khai phóng ở Miển Nam bật ngửa ra. Nó trái với qui trình tâm sinh lý của học sinh và nhà giáo. Làm sao chuẩn bị đáp án được khi mỗi học sinh được xem là một thiên tài thu gọn đang phát triễn. Chỉ trừ quan niệm coi con người là con ốc của bộ máy đã lắp sẵn, mà giáo dục có nhiệm vụ đúc khuông, mới chuẩn bị đáp án để gò học sinh vào, thì mới đòi hỏi đáp án đối với những câu hỏi kiểm soát bài mơí, câu hỏi gợi trí thông minh.

Nhưng tìm hiểu sâu xa hơn một chút, mới thấy "ý đồ" của CS Hà nội là trước sau như một . Một ý đồ đào tạo con người rập khuông của Đảng CS. Thời CS Hà nội chưa vào được Miền Nam, trong trường ở miển Bác từ thầy cô đến học trò đều biết mô phạm, khuông mẩu của CS muốn nhồi nhét vào lớp trẻ trung tiều học, mẫu giáo và bình dân giáo dục. " Một đường máu chảy về tim. Thầy đi theo Đảng chúng em theo thầy.

"Trường hợp Cô Nguyễn thị Bích Hạnh bị sa thải vì khuyến khích học sinh vô Internet đã chứng tỏ gần 34 năm, một thời gian dài bằng một thế hệ xã hội học, mà CS Hà nội vẫn không một chút đổi mới nào trong quan niệm, phương pháp giáo dục và "đào bồi" lớp trẻ VN. Cô chỉ khuyên học sinh vô Internet để tìm hiểu thêm về bài giảng mà bị buộc tội "xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhật khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục." Cô bị hành, bắt tội đủ điều. Nào công an điều tra học trò rất kỹ, rất lâu. Nào công an gặp Hiệu Trưởng, "làm việc" với Giám Đốc Sở, và Sở đưa ra quyết định buộc thôi việc tôi. Nhưng có một điều lạ, trái luật pháp, là họ không hề hỏi cô một điều gì dù cô là người cần phải hỏi. Theo phỏng vấn của Đài RFA, thì nhà giáo Bích Hạnh có " khuyến khích học trò chuyên của mình bớt chơi game mà nên dành thời gian tìm kiếm tri thức trên mạng. Cô đã giới thiệu với học trò các website, chẳng hạn talawas, Hợp Lưu, Tiền Vệ. Thế là công an qui cho Cô tội "tuyên truyền chống Nhà nước".

Thế mới biết CS Hà nội rất sợ Internet, một xa lộ thông tin rộng mở cho Con Người. Thế cho nên từ TC đến VC, hai chế độ độc tài đảng trị này không nhừng siết chặt Internet. Mời đây TC yêu cầu các công ty muốn được bán computer, thì phải cài đặt chương trình thẳng vào máy để sàn lọc không cho người sử dụng truy cập những trang web và kho tài liệu nhậy cảm đối với TC, như vụ Thiên An Môn.

Nhưng tiến hóa, khai phóng ù là định luật của sự sống. Kềm hãm, bưng bít là phản động, khó mà tồn tại. Những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN biết Internet là vũ khí giải thoát con người trong chế độ kiểm soát chặt báo chi, phát thanh, phát hình. Dù nước nhà VN tỷ lệ số người gắn Internet chưa cao, nhưng số người truy cập rất cao nhờ Internet wireless, một người găên có thể nhiều máy xài, nhờ nhiều quán cà phê Internet, và nhiều điện thoại cầm tay có thể chụp, gởi hình, và tin tức, nhanh và gọn. Do đó trong những đòi hỏi tự do, báo chí, tự do ngôn luận, người ta đòi hỏi tự do Internet vì Internet là phương tiện rung chuyển. Mỹ ủng hộ và hậu thuẩn đòi hỏi này của người dân Việt trong nước.

Độc tài CS Hà nội cũng biết nên một mặt buộc người sử dụng phải đi "lề phải" do CS chỉ định để tuyên truyền. "quản lý" blog. Mặt khác CS dùng cả binh đoàn kiểm soát Internet, và tin tặc phá những thông tin liên lạc, hội luận nhậy cảm trên Internet. CS còn đi xa hơn, đặt điều kiện với những công ty tin học như Yahoo, Google muốn vào làm ăn thị trường nước họ phải khóa một vài nguồn hay cung cấp đia chỉ, lý lịch người sử dụng, như vụ án Yahoo bị gia đình một nhà báo ở Hongkong kiện vì đã tiết lộ bài gởi đi bgoại quốc.

Tuy nhiên vỏ quít của CS thống trị dày thì móng tay của dân bị trị đang dùng Internet thêm nhọn. Khoa học kỹ thuật tin học đúng về phiá những người muốn được giải thoát vòng kềm toả, đã sáng chế ra càng ngày càng nhiều phương thức vượt tường lửa của CS.

Vi Anh

---------------------------------------------------------------------------------------------------
Cô Giáo bị buộc thôi việc vì khuyến khích học sinh tìm hiểu thông tin trên Internet
Thiện Giao, phóng viên RFA
2009-06-04

Photo courtesy of blog Gió Mới

Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Từ Khâm sứ, Thái Hà nhìn ra Biển Đông: Hai việc làm, một bản chất, hai thái độ

Hiểm họa xâm lăng đã rõ và thái độ của nhà nước


Từ Khâm sứ, Thái Hà nhìn ra Biển Đông: Hai việc làm, một bản chất, hai thái độ

Hiểm họa xâm lăng đã rõ và thái độ của nhà nước

Khi những ngư dân Hậu Lộc đánh cá trên biển Việt Nam bị Trung Quốc (TQ) bắn chết ngày 8/1/2005, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam (VN) tuyên bố: “Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và chấm dứt ngay những hành động sai trái trên, cho điều tra và xử lý nghiêm những kẻ bắn chết người". Và chỉ có thế.

Từ đó đến nay, TQ có “điều tra, xử lý” hay không thì VN cũng không hề hay biết, những ngư dân xấu số thì vẫn chịu cái chết oan khuất ngay trên mảnh đất Tổ Quốc mình bởi súng đạn ngoại bang. Nhưng, những người phản đối TQ đã bị cảnh sát VN giải tán không thương tiếc.

Khi TQ tuyên bố thành lập Tam Sa bao gồm lãnh thổ Việt Nam, VN phản ứng bằng cách cho người phát ngôn Bộ Ngoại giao: “Phản đối việc TQ thành lập TP hành chính Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam quản lý ba quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước".

Chẳng biết “nhận thức chung của lãnh đạo hai nước” là nhận thức nào, chỉ biết rằng nếu không có lãnh đạo TQ ra lệnh, hẳn TQ chẳng bao giờ có động thái càn rỡ tuyên bố lấy đất của thiên hạ làm nhà của mình.

Như vậy, nghĩa là lãnh đạo cộng sản TQ cũng vẫn sử dụng con bài nói một đằng, làm một nẻo. Và như vậy, ẩn chứa đằng sau “16 chữ vàng” của nhà cầm quyền TQ là gì?

Người ta chỉ mới thấy được rằng, đằng sau “16 chữ vàng” là Ải Nam quan đã biến mất về tay TQ. Thác Bản Giốc được chia đôi. Hoàng Sa và một phần Trường Sa đã “được” TQ “thống nhất quản lý” – nói theo ngôn ngữ của nhà nước Việt Nam khi nói về đất đai Công giáo.

Phẫn uất trước lãnh thổ thiêng liêng của đất nước, cơ đồ ngàn năm của cha ông bị xâm lăng, đã có nhiều người tập trung phản đối trước ĐSQ và Lãnh sự quán TQ. Nhà cầm quyền VN đã cho công an đã thẳng tay trấn áp và giải tán. Ông Lê Dũng giải thích: “Đây là việc làm tự phát, chưa được phép của các cơ quan chức năng VN. Khi vụ việc trên xảy ra, lực lượng bảo vệ của VN đã kịp thời có mặt, giải thích và yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này".

Việc “giải thích” của lực lượng bảo vệ đó ra sao thì những hình ảnh đã có rất nhiều trên mạng Internet. Thậm chí một số người chỉ mang đề can ghi hàng chữ “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam” như nhà văn Trang Hạ cũng đã bị bắt, câu lưu và thẩm vấn. Người ta đã tự phải hỏi nhau: “Lần sau, muốn không bị bắt, thì phải mang khẩu hiệu Trường Sa, Hoàng Sa là của TQ chăng?”

Những hình ảnh và động thái này, chắc chắn nhà cầm quyền TQ nắm rõ.

Nếu nhân dân không “tự phát” để chờ đợi nhà nước VN cho phép biểu tình hoặc tổ chức phản đối, thì chắc phải đợi đến “mùa quýt”?

Trước những phản ứng yếu ớt và vô vọng của VN cũng như những hành động khó hiểu là trấn áp lòng yêu nước của nhân dân trước mưu đồ bành trướng, TQ càng được thể lấn lướt.

Càng ngày họ càng gia tăng các bước tiếp theo của mưu đồ xâm lược. Không chỉ về lãnh thổ, mà cả những đối tác làm ăn của VN trên đất nước mình cũng đã bị nhà cầm quyền TQ đe dọa và can thiệp.

Hiện nay, hàng loạt tàu thuyền đánh cá VNđ ã bị nhà cầm quyền TQ ngang ngược ra lệnh “Cấm” đánh cá trong vùng biển VN. Những tàu ra khơi đã bị rượt đuổi và đâm chìm bởi “tàu của nước ngoài”(!).

Ngư dân đói dài trong mùa cá, tàu thuyền về bãi nằm phơi nắng. VN đã phản ứng bằng cách “giao thiệp” với Đại sứ quán TQ và “đề nghị phía TQ không có các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân VN trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN” - Theo lời Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN.

Người ta thấy lạ. Tại sao VN lại phải “đề nghị” với TQ khi chính nhà cầm quyền TQ đang ngang ngược xâm phạm cố ý chủ quyền đất nước ta mà không phải là “yêu cầu” hay “đòi hỏi”. Tại sao lại phải “giao thiệp” với ĐSQ TQ mà không phải là “triệu hồi” và đưa công hàm phản đối như ngôn ngữ thường dùng trong các trường hợp tương tự trên bình diện Quốc tế? Tại sao?

Những phản ứng thể hiện vị thế kẻ yếu, kẻ hèn ngay từ trong ngôn ngữ lạ tai như “đề nghị, giao thiệp” khi sự vi phạm chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc đã rõ ràng và nghiêm trọng đã là thông điệp để những âm mưu xâm lược, bành trướng không dừng lại ở mức độ này là có cơ sở.

Nếu như ngày mai, TQ ra lệnh cấm nông dân VN trồng lúa trên đất của mình, để dành đất cho sản xuất bô-xit, cấm sản xuất hàng tiêu dùng để dùng hàng TQ, cấm VN khai thác dầu khí để họ khai thác… thì VN có lại tiếp tục “đề nghị” và “giao thiệp” hay không?

Ai dám chắc chắn rằng hôm nay TQ cấm được ngư dân VN đánh cá trên biển VN, thì ngày mai TQ lại không cấm nông dân làm lúa trên đất liền VN?

Tất cả những điều này, đã thể hiện thái độ của một nhà nước đã nhu nhược trước mưu đồ bành trướng nước lớn ngang ngược của TQ đối với VN ngày càng rõ ràng, hoặc nói đúng hơn là lãnh thổ quốc gia, tinh thần dân tộc đã bị coi nhẹ?

Người dân Việt trong nước và khắp nơi đã luôn luôn quan tâm đến chủ quyền quốc gia và lãnh thổ cha ông đã tốn núi sông xương máu để lại. Vì vậy tất cả những gì liên quan đến vận mệnh đất nước đều được chú ý.

Những hành động và lời nói chính thức từ nhà nước, đã buộc người ta phải có những xem xét về cách hành xử với các vụ việc trong và ngoài nước có gì khác nhau. Người ta chứng kiến thái độ của nhà nước trước bọn bá quyền TQ trái ngược thái độ của nhà nước với những gì đã xảy ra trong lòng đất nước.

Hai sự việc, những điều tương ứng

Trong các đơn thư gửi tới nhà cầm quyền VN đòi lại đất đai, tài sản của mình bị chiếm đoạt, Tòa TGM Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà luôn khẳng định “có đầy đủ bằng chứng thực tế và giấy tờ chứng minh” tài sản, đất đai đó là của mình. Nhưng nhà cầm quyền Hà Nội đã bất chấp, áp đặt ý muốn chủ quan của mình là chiếm đoạt bằng được khối tài sản có nguồn gốc của Giáo hội Công giáo.

Khi đó nhà nước đã tuyên bố “đất đai do nhà nước thống nhất quản lý”, hoặc áp đặt Nghị Quyết 23/QH/2003 để không trả lại. Mặc dù nhà nước đã không có một thứ giấy tờ nào hợp pháp khi chiếm giữ khu đất đó cũng như đất đai tôn giáo đã bị chiếm đoạt đó không nằm trong bất cứ diện nào của Nghị quyết nói trên.

Điều này làm người ta liên tưởng đến việc nhà cầm quyền cộng sản TQ cũng đòi “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Trong khi giấy tờ, bằng chứng xác định chủ quyền thì “VN có đầy đủ” – Theo Lê Dũng. Bất chấp các cơ sở, bằng chứng thực tế và lịch sử, nhà cầm quyền TQ cộng sản đã dùng vũ lực để đánh chiếm bằng được quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN với sức mạnh của nòng súng đầy tàn bạo.

Sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thăm TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Giáo hội Công giáo đang có đơn từ theo đúng thủ tục pháp luật, nhà cầm quyền Hà Nội đã cắt đứt quá trình đối thoại, dùng sức mạnh của cảnh sát, chó nghiệp vụ và hàng loạt cán bộ, cũng như nhân tài vật lực hùng hậu để cưỡng chiếm và làm hai vườn hoa Tòa Khâm sứ và Giáo xứ Thái Hà một cách nhanh chóng đặc biệt đầy sự khó hiểu đến lạ lùng.

Mới đây, sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm TQ tại hội nghị Bác Ngao với những trở về lời lẽ đầy phấn khởi, TQ đã ra lệnh cấm đánh bắt trên biểnVN. Và ngay lập tức, những đoàn tàu đánh cá VN bị rượt đuổi đến tuyệt vọng trên biển.

Khi nhà cầm quyền Hà Nội chiếm đoạt đất đai Tòa Khâm sứ, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội tuyên bố: “cực lực phản đối và yêu cầu chấm dứt ngay hành động phong tỏa và phá hoại tài sản… đồng thời trả lại nguyên trạng khu đất để phục vụ cộng đồng…” và “Chúng tôi có quyền sử dụng những khả năng có thể để bảo vệ tài sản của chúng tôi”.

Lời tuyên bố của Tòa TGM Hà Nội về “quyền sử dụng những khả năng có thể để bảo vệ tài sản” của mình là một phản ứng hoàn toàn cần thiết và đúng đắn khi tài sản của mình bị xâm phạm. Điều đó hoàn toàn đúng với pháp luật và được lẽ phải, công lý ủng hộ. Chỉ những kẻ ươn hèn mới không dám “sử dụng những khả năng có thể” để bảo vệ tài sản của mình mà thôi. Nhưng lời tuyên bố này đã bị quan chức Việt Nam và báo chí VN coi như đó là một sự thách thức và lấy đó làm cớ nhục mạ và xuyên tạc trước cộng đồng dân tộc.

Phải chăng vì trót đã lên án Đức TGM Hà Nội, nên nhà cầm quyền VN đã không thể tuyên bố “sử dụng những khả năng có thể” để bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng của TQ mà chỉ “đề nghị” và “giao thiệp”

Khi VN “giao thiệp” và “đề nghị” TQ không cản trở ngư dân trên vùng biển chủ quyền VN thì được nhà cầm quyền TQ đáp lại đầy trịch thượng: “Lệnh cấm đánh cá ở Biển Đông là không thể bàn cãi".

Điều này làm người ta nhớ lại điều 1 của Nghị quyết 23/QH/2003: “Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991.Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất”

Có phải vì nhà cầm quyền TQ chưa biết sử dụng Nghị quyết 23 để khẳng định: “TQ không thừa nhận việc đòi lại đất đai mà TQ đã quản lý trước năm 2009” nên Việt Nam còn có lý do để đòi lại?

Khi TGM Ngô Quang Kiệt thẳng thắn khẳng định “quyền tự do tôn giáo không phải là ân huệ xin – cho” và phát biểu chân thành ước nguyện của mình xây dựng đất nước lớn mạnh thoát khỏi nỗi nhục của người Việt Nam khi đi nước ngoài bị kỳ thị, thì đã được báo chí, quan chức nhà nước xuyên tạc và bóp méo. Để rồi Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội ngang xương ra “công văn cảnh cáo” lạ đời(!)

Mới đây, Việt Nam và Malaysia nộp cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc một báo cáo chung về thềm lục địa kéo dài liên quan tới hai nước thì TQ cũng đã “cảnh cáo: chớ có đụng vào biển Nam Trung Quốc”.

Hai sự việc trên, tuy ở cấp độ khác nhau, một về quan hệ giữa các quốc gia, một về quan hệ giữa nhà nước và tổ chức cộng đồng tôn giáo ngay trong lòng đất nước.

Nhưng cả hai đã cùng được hành động với phương thức: “Sức mạnh vũ lực là chân lý, đối thoại chỉ là con bài thời cơ”.

Phải chăng, đó là lý thuyết chung của những nhà nước cộng sản, lý thuyết sử dụng sức mạnh bạo lực?

Chỉ tiếc rằng, sức mạnh và bạo lực được mua sắm từ những đồng tiền của người dân đã không được đem ra bảo vệ đất nước và nhân dân khi cần thiết trước bọn xâm lược. Ngược lại, đã được đem ra thi thố trước mặt dân lành trong nước.

Vài điều dị biệt

Người ta thấy lạ ở một điều, với mảnh đất Tòa Khâm sứ, Giáo xứ Thái Hà và hai phiên tòa Sơ, Phúc thẩm 8 giáo dân, nhà cầm quyền Hà nội đã huy động hàng ngàn cảnh sát, chó nghiệp vụ, máy móc tối tân, trang bị tận răng dùi cui, hóa chất… để đối phó.

Với lực lượng hùng hậu như vậy, người ta nghĩ rằng đất nước chúng ta không thể thiếu người, thiếu phương tiện để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Nhưng khi Hoàng Sa rồi Trường Sa bị xâm lược, khi ngư dân bị bắn chết, khi nhân dân bị đuổi chạy tán loạn phải về nằm nhà, thì tịnh không thấy bóng lực lượng đó cùng những trang thiết bị kia đâu để bảo vệ họ.

Phải chăng, những đội quân ấy, những công cụ ấy chỉ nhằm để diễu võ dương oai sẵn sàng trấn áp nhân dân trong nước mà thôi?

Nhưng, đứng trước hàng rào sắt, cảnh sát và chó với những dụng cụ bạo lực, là hàng ngàn giáo dân Công giáo yên bình không một tấc sắt trong tay, hiền hòa cầu nguyện nói lên nguyện vọng của mình một cách anh dũng.

Trước sự đe dọa súng đạn của TQ, chính phủ VN đã chỉ “giao thiệp” và “đề nghị” một cách yếu ớt.

Một điều khác lạ hơn nữa, là theo lời của Lê Dũng, những người dân “tự phát” đều có mặt qua hai sự việc này. Chỉ khác một điều là những người dân “tự phát” biểu thị lòng yêu nước bị trấn áp thẳng tay, còn những người tự phát…tiền, thì được dùng vào việc quấy nhiễu nơi thờ tự, đe dọa giết người cả đêm, gây rối nơi tôn nghiêm và bệnh viện cho phù hợp với tên gọi là “những kẻ vô đạo”.

Vài lời kết

Một đất nước muốn khẳng định vị thế của mình, thì yếu tố cần thiết nhất là giàu và mạnh. Tuy nhiên, để có thể giàu và mạnh, thì cần nhất là sự đồng tâm, đoàn kết. Muốn đoàn kết không thể bằng con đường trấn áp, hay bạo lực. Một nhà nước không thể mạnh khi trong ngoài lục đục, trên dưới không yên, thiên hạ bất đồng, nhân tâm ly tán.

Những hành động vừa qua đã đạt được kết quả gì và hậu quả gì trong lòng dân tộc và đất nước? Đó là điều bất cứ kẻ cầm quyền nào cũng nên suy nghĩ để tự xét mình mà điều chỉnh hành vi. Một sự nhân nhượng, hi sinh nếu có cho chính gia đình mình, anh em mình dù lớn, bao giờ cũng có ý nghĩa hơn nhiều sự hạ mình hèn hạ trước kẻ thù dù rất nhỏ.

Có thể có người cho rằng “việc này đã cũ” như lời ông Phó Trưởng ban Tôn giáo chính phủ Nguyễn Thanh Xuân đã nói.

Nhưng, cũ hay mới là từng sự việc và tính chất cụ thể.

Những việc tưởng như mới, nhưng bản chất nó đã bộc lộ từ lâu, người ta không lạ. Điển hình như việcTQ cấm ngư dân trong biển VN dù mới xảy ra, nhưng trước đó chúng biết rất rõ rằng những người phản đối TQ xâm lược đã bị trấn áp bởi chính công an VN. Vì vậy, chúng chẳng còn phải lo ngại nhân dân Việt Nam, còn chính phủ Việt Nam chỉ “đề nghị” và “giao thiệp” thì càng chẳng có gì đáng ngại.

Có con thỏ nào trước nanh vuốt của con cọp đói mồi lại “đề nghị anh đừng ăn thịt tôi” mà có kết quả hay không?

Một việc khác là dự án khai thác bôxit ở Tây Nguyên, bây giờ bàn dân thiên hạ mới biết và tưởng mới. Nhưng thực ra là việc đã cũ, người TQ đã vào Tây Nguyên, dân Tây Nguyên đã phải dọn nhà đi cho dự án. Đến khi nhân dân cả nước được biết thì mới tá hỏa: Nóc nhà Đông Dương đang có nguy cơ trở thành nơi để các “đồng chí anh em” phương bắc vốn ngàn đời chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính đất nước ta đứng chân.

Có thể mọi việc cũng sẽ êm xuôi như Trần Đình Đàn đã tiên đoán: “Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ việc khai thác bôxit”. Dự đoán này không phải không có cơ sở, vì trong Quốc hội Việt Nam, 92% đại biểu là đảng viên cộng sản, mà việc khai thác bôxit đã là “chủ trương lớn của đảng” thì có đảng viên nào dám chống lại không?

Nếu đúng như lời của Trần Đình Đàn “tiên tri”, thì khi “bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược” – Theo Hiến pháp VN năm 1980- vào khai thác, canh giữ Tây Nguyên, với thế chiến lược gọng kìm, đất nước chúng ta sẽ được sống thêm vài ngàn năm Bắc thuộc.

Và một vấn đề đã cũ, nhưng vẫn còn rất mới, đó là dã tâm xâm lược đất nước chúng ta bởi những cái đầu nóng Trung Nam Hải, thì muôn đời nay vẫn còn mới.

Bên cạnh đó lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam dù bất cứ lứa tuổi, tôn giáo, vùng miền nào vẫn luôn luôn cháy bỏng khi được đánh thức.

Khi người dân đã nhìn rõ bộ mặt thật của thù và bạn, khi ngọn lửa yêu nước được đốt cháy lên, nó sẽ “nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Hà Nội, Ngày 12 tháng 6 năm 2009

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Bài Xem Nhiều