We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 20 June 2009

Kỷ niệm ngày Quân Lực 19/6 và hậu duệ QLVNCH tại Melbourne


Melbourne: Kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/06 và hậu duệ QLVNCH

Buổi lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/06 tổ chức tại Melbourne đã được sự tham dự rất đông đảo của các cựu quân nhân QLVNCH (thuộc đủ mọi quân binh chủng), gia đình và thân hữu.

Sau phần nghi thức chào quốc kỳ, rước quân kỳ là lời phát biểu của ông Nguyễn Việt Long (chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Victoria) chào đón các chiến hữu và quý đồng hương. Khi bày tỏ cảm nghĩ về ý nghĩa Ngày Quân Lực 19/06 ông đã nhấn mạnh đến ba chữ: Danh Dự, Tổ Quốc, Trách Nhiệm đã tạo nên uy danh của QLVNCH. Tiếp theo là phần chiếu một đoạn phim tài liệu về cuộc diễn binh hào hùng vào Ngày Quân Lực trước 1975. Sau đó gia trưởng gia đình Hải Quân và Không Quân trình bày sơ lược cùng đồng hương về lịch sử và lực lương của hai binh chủng này.

Đặc biệt trong buổi lễ này bài phát biểu của hậu duệ Nguyễn Chí Công với những lời lẽ chân tình, xót xa, đầy cảm xúc, nhưng cương quyết với lòng tự hào (là con trai của một cố Thiếu Tá QLNVCH) đã làm ấm lòng và tạo niềm tin ở các thế hệ cha anh.

(Dưới đây là bài phát biểu của Hậu Duệ Nguyễn Chí Công)

http://www.lyhuong.org/webdata/shcd/VNCH/NguyenChiCong_NgayQLVNCH.pdf

Nhân Ngày 19/6: Chân Dung Người Vợ Lính VNCH

Trong cuộc sống, sự thành công hay thất bại nào cũng có cái giá của nó. Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là những đồng đội đã hi sinh, những đồng đội khác đã để lại một phần thân thể trên khắp miền đất nước, và hệ lụy dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những người vợ vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc, là sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi công.

Nhưng, hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại có trách nhiệm trang bị cho các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự hi sinh không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm nơi chiến trường, rất xứng đáng được chúng ta kính trọng.

Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến công việc gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc các con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm sóc tình bạn bè bằng hữu. Để rồi, những giờ phút yên tỉnh về đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Sau lời tuyên bố của vị Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng bào, quân nhân, viên chức, cán bộ, bỏ của chạy lấy người, tị nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần tương tự như vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200 trại tập trung trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng thù hận tột cùng của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia đình còn lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng vì cuộc sống trên đất người với biết bao xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội nhập. Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ độc tài trên toàn cõi Việt Nam!
Cảnh đời thứ nhất.
Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cháu có cơ hội bên nhau, cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong thân phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp, nay phải cùng chồng từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!
Cảnh đời thứ hai.
Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau, của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng! Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn miệng huênh hoang là “dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản”, lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền miên với những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!
Cảnh đời thứ ba.

Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn tệ hơn nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn đất sét và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt. Đồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày, lo nuôi chồng từng tháng!
Những bà vợ chúng ta, hải ngoại hay trong nước, thật sự là Những Người Đàn Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua nỗi đau nỗi nhục đó! Đau đến nỗi không còn nước mắt để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử hỏi: “Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?” Với tôi, không ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng của nó! Xin những ông chồng diểm phúc, hãy nhìn lại đôi nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ trong cuộc kể lại:
Một cảnh đau thương.

Một bà vợ cùng con cầm giấy phép “gánh gạo” nuôi chồng trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gở! Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ “nhà vắng chủ”. Đau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa! Bà cùng gia đình định cư tại Houston, Texas từ tháng 4 năm 1991.
Một cảnh đau thương khác.
Một bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an Phường ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng như vậy. Một hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải quyết. Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. “Ôi! Còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!” Bà xiêu vẹo trên đường về nhà cách đó mấy dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng bắc California từ năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.
Một cảnh đau thương khác nữa.

Một bà vợ có chồng bị giam trên đất Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống…… Bà bị tai biến mạch máu não, nằm bất động một chỗ. Nhiều tháng sau đó, bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy cho phép bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số (khám Chí Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả hai “chồng đứng đó vợ liệt toàn thân”, chỉ biết nhìn nhau, òa khóc…! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời! Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả những bà vợ có chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng bại liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng rồi Bà đã từ trần năm 2004!

Sài Gòn-Hà Nội 1.736 cây số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của hai băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người, 1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy, băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hổn độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết bao là nhọc nhằn gian khổ!
Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến những hành khách nằm cong queo trong cái gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình, liệu có cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được cả!

Tôi hình dung những bà vợ chúng ta qua hình ảnh trên đây mà chính tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung cùng với 90 “bạn đồng tù”, từ Nam Định về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi tháng 9 năm 1987.
Trên đây là một cố gắng dựng lại hình ảnh “Những Bà Vợ Chúng Ta”, nếu không rõ nét thì ít ra cũng là những nét chính của hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:
Hai hợp phần trong chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà chồng đang chiến đấu.
Hai hợp phần sau chiến tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những trại tập trung nghiệt ngã!
Những cảnh đời bi thương, những khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ hôi, được khơi lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong những năm dài thật dài!
Quyển “Chân Trời Dâu Bể” của Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và quyển “Giữa Dòng Nghịch Lũ” của Duy Năng, kể chuyện trên quê hương Việt Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó, có thể xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày thua trận, dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất. Với tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết, bà nói:

- “… Các anh trong tù, khổ về vật chất và đau về tinh thần đến vạn lần, điều đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các anh có biết không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề cao tất cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính trọng. Và Họ, chính là Vợ của các Anh”.
Vì vậy mà một số bạn đồng tù chúng tôi trong trại tập trung, đã không quá lời khi nói với nhau rằng:
- “Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng mình”.
Bây giờ nhìn lại, trong một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Đến ngày Việt Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là trọn vòng trái đất như đã tự hứa, phải không quí vị?
Với nét chân dung đó, tôi quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng được vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí vị đồng hương đồng ý với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:
“Chúng ta cùng vinh danh Những Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh nghiệt ngã của chế độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm Con”.

Vinh danh bằng những tiếng nói ân tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Điều đó luôn nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường ngày, phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau đi suốt chiều dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao tặng vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp bạn có được những giây phút sống lại những năm tháng mặn nồng trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người dùng chung một tên./.

Phạm Bá Hoa

Việt Nam "Gia Nhập" với Tổ Quốc Trung Hoa Vĩ Đại? Tỉnh Hay Khu Tự Trị?

Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc gặp mặt giữa đại diện Tổng cục tình báo Hoa Nam và Tổng cục II Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ “Tuyệt Mật”

Thưa các đồng chí,

Trong mấy ngày qua ta đã cùng nhau bàn thảo nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định: hội nghị đã thắng lợi, và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén! (vỗ tay kéo dài)

Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị Lương tư lệnh nhấn mạnh: những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cấp cao. Với tư cách chính uỷ được cử ra chủ trì hội nghị, tôi xin tóm tắt vài điều quan thiết.

Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có, và không hề có chuyện Trung Quốc thôn tính Việt Nam. Trung Quốc không có nhu cầu thôn tính nước nào, các nước lân bang đều nghèo, họ cần đến Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần đến họ.

Những cái họ có đều ở dạng tiềm năng ở dưới đất hoặc ở ngoài biển, không có Trung Quốc giúp đỡ thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế mà Đặng (Đặng Tiều Bình) lãnh tụ vạch ra, mọi sự đèo bòng đều vô nghĩa. Chúng kìm hãm bước tiến vĩ đại của Trung Quốc vĩ đại (vỗ tay).

Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận như thế đấy, nào là Trung Quốc bá quyền, nào là Trung Quốc bành trướng. Thối lắm, thưa các đồng chí, không ngửi được (cười rộ).

Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rĩ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa Trung Quốc và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau, có chỗ lồi ra, có chỗ lõm vào ở bên này hay bên kia, nhưng đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán.

Các đồng chí Việt Nam thấy chúng nói thế lại chỉ thanh minh mới chán. Như Lê thứ trưởng (Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn: “Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn, đo ra mới biết của ta chỉ có một phần ba, vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa”, nói thế là tốt, nhưng vẫn cứ là thanh minh. Việc gì mà phải thanh minh cơ chứ? Với bọn phản động chuyên gây rối ấy à, cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại (vỗ tay).

Chớ lừng chừng thiếu kiên quyết, chớ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch, tiêu diệt không thương xót bọn dân chủ, không cho chúng được đàng chân lân đàng đầu, vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy (nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!).

Nhưng cái đó sẽ không còn là vấn đề trong tương lai. Việc tiêu diệt bọn dân chủ giòi bọ sẽ không còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam, nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta (vỗ tay).

Thưa các đồng chí,

Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra ngoài những chuyện lặt vặt vô bổ đang là đề tài thời sự để tập trung vào đại sự – bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai (vỗ tay). Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần, vì thế ta phải có viễn kiến, phải có sự chuẩn bị.

Hợp nhất Trung Quốc – Việt Nam là một mốc lịch sử vĩ đại trên con đường phát triển của Tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao hai bên, trong hội nghị này chúng ta đã bàn thẳng vào những phương án, phác thảo những bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị.

Nào, xin cạn chén lần nữa mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này (vỗ tay ran)!

Trong tình hình thế giới hiện nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại. Đi với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Chỉ trở về với Tổ quốc các đồng chí mới có thể tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ bọn giòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí khỏi chỗ ngồi của mình.

Hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó các đồng chí không còn được ngồi ở bàn giấy trong công thự mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp!

Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta. Tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta, quyết không để lọt vào tay kẻ khác (vỗ tay).

Lũ dân chủ giòi bọ ấy có cả ở Trung Quốc, tôi thừa nhận điều đó, nhưng chúng tôi đã thẳng tay trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác, chúng hung hăng hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở Trung Quốc đã có một Thiên An Môn thì tại sao Việt Nam không thể có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng Trung Quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí một khi có sự biến đe doạ quyền lợi của các đồng chí. Để bảo vệ các đồng chí, Trung Quốc không thiếu xe tăng dĩ chí cho vài Thiên An Môn (vỗ tay). Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí xem Hồ đồng chí (Hồ Cẩm Đào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi.

Nhưng đó là trong tình huống hiện nay, chứ trong tương lai khi hai nước đã là một thì sẽ không phải như vậy.

Việc Việt Nam trở về với Tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến, không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn (vỗ tay, nhiều tiếng hô: Sùng chính uỷ nói rất đúng!”).

Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. “Trung Quốc và Việt Nam là một”. Đó là chân lý đời đời. Đó cũng chính là lời của Hồ đồng chí (Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập ĐCSTQ. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy: “Trung Quốc – Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh”. Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể (vỗ tay). Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh), từng tự hào nhận mình là người Choang trong cuộc gặp gỡ với các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Trong thời đại hiện nay, khi thế giới được tái phân chia sau Đệ nhị Thế chiến, khi Hoa Kỳ đã mất vị thế độc tôn trước sự trỗi dậy bất ngờ của Tổ Quốc chúng ta, thì sự sáp nhập trở lại của Việt Nam, và toàn bán đảo Đông Dương tiếp theo là điều tất yếu (vỗ tay ran)..

Thế nhưng chúng ta đều đã thấy biết những biểu hiện lừng chừng dao động lúc này lúc khác trong ban lãnh đạo đảng Việt Nam, muốn vừa dựa lưng vào Trung Quốc vừa dựa hơi con hổ giấy Hoa Kỳ. Bây giờ đã khác, sự lựa chọn chỉ có một, và ở đây các đồng chí Việt Nam tỏ ra đã có lựa chọn đúng (vỗ tay).

Ngày nay Trung Quốc vĩ đại đang giành lại vị trí phải có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại càng thêm vĩ đại (vỗ tay, tiếng nhiều người “Rất đúng!”).

Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường, là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ…

(bỏ một đoạn không rõ tiếng)

Những việc mà giờ đây chúng ta phải làm, tôi xin nhấn mạnh lần nữa, không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng, làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa, phải khai triển rộng hơn nữa, là:

Đè bẹp và tiêu diệt luận điệu “tinh thần dân tộc” vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc, đặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất.

Tướng lĩnh phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc, công này là của nguyên chủ tịch Lê (Đức Anh), người rất biết nhìn xa trông rộng (vỗ tay). Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, dao động, chủ yếu do kém hiểu biết, các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường quan điểm ở trường Đảng các cấp. Mấy anh già sắp chết (Võ Nguyên Giáp) hay nói ngang thì phải đe nẹt, cho chúng biết rằng một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.

Đám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại. Tuy chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần dân tộc trong nhân dân để cản trở hợp nhất. Nhưng không lo, Mao chủ tịch đã dạy: trí thức khởi xướng được nhưng không làm được, chúng chỉ lép bép lỗ miệng, thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy.

Đáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng, nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy, ở chỗ bản tính trí thức. Hãy lên đạn, hãy hô “bắn” thật to, đâu sẽ vào đấy hết (cười ran).

Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân: về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông. Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý điểm này: không được lạm dụng các phương tiện hiện đại, chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh những phản ứng quốc tế bất lợi.

Truyền thông phải sử dụng mọi phương tiện sẵn có, tăng cường viết và nói hàng ngày hàng giờ, biện luận cho dân thấy được cái lợi của việc sáp nhập: họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân Trung Quốc, hơn hẳn phúc lợi đang có, sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới, ngư dân được tha hồ đánh cá trên biển Đông nay cũng là của họ mà không còn phải lo lắng vì xâm phạm hải phận bị hải quân Trung Quốc trừng phạt, người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể (vỗ tay ran)…

Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí: phải tiến hành kín đáo để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được. Trong khi chưa hợp nhất, trung ương chính phủ cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ.

Thỉnh thoảng vẫn phải cho phát ngôn nhân trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa, phải cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo. Với mọi sự cố xảy ra trên biển như vừa rồi cứ tiếp tục ám chỉ một “nước ngoài” nào đó, hoặc một “tàu lạ” nào đó, không rõ quốc tịch v.v… là được. Đừng quên khen thưởng các nhà báo, họ là công bộc trung thành của ta, thiếu họ không được.

Hiện nay đang nổi lên sự phản đối Trung Quốc khai thác bô–xít ở miền Trung. Ồn ào lắm. Có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi, chứ bề trong thì bọn phản đối cũng biết thừa – mọi sự đã an bài, tiền đã trao thì cháo phải được múc, Bộ Chính trị quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là Nông (Đức Mạnh) đồng chí, là chuyện sinh tử của Nông đồng chí, nên đồng chí rất kiên quyết.

Trong chuyện bô–xít tôi thấy bên cạnh cái xấu lại có cái tốt đấy, các đồng chí ạ. Phải phản công bằng lập luận: một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây Nguyên của Việt Nam là của chung nước ta, chưa chừng trên sẽ thay đổi kế hoạch – ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang thực hiện ở châu Phi, bô–xít của ta, ta để đấy dùng sau, cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỉ tấn bô–xít ở Quảng Tây.

Nói để các đồng chí phấn khởi: về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm châu Phi trong tay từ nhiều năm rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. Trung Quốc đến sau phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng một thập niên ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang châu Phi làm thành những vùng đất Trung Quốc trên lục địa Đen nữa kia (vỗ tay). Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của Tổ quốc” (vỗ tay ran).

Phải trấn an các cán bộ các cấp từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất mọi vị trí, quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển.

Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chính chung trong toàn quốc. Việc này rất quan trọng, xin các đồng chí chớ coi thường. Lãnh đạo, từ Trung ương cho đến địa phương, có thông thì nhân dân mới thông, nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm tinh thần tuyệt đối phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ dao động, tư tưởng bất thông thì chính họ cũng sẽ dao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thưa các đồng chí,

Còn lại một việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất: Tỉnh hay là Khu Tự trị? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm.

Tỉnh thì cũng như Quảng Đông, Quảng Tây, về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như Khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế, Nông đồng chí vồn rất e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng, bọn chó Đạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà Trung ương không thuận.

Có mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến: hay là tổ chức Trung Quốc thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước, hay một bang trong liên bang ấy? Ý kiến này không mới, nó đã từng được nêu lên. Nhưng, các đồng chí thử nghĩ xem: nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Hột…, chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập hoặc tự trị trong liên bang.

Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được, danh chính thì ngôn thuận, nhưng nội dung bất biến – vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Tổ quốc. Có điều những danh hiệu độc lập, tự trị lại là cái dễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống cho sự phân liệt. Không được, quyết không được, thưa các đồng chí ... (có tiếng xì xào).


Vấn đề hình thức, nhưng lại có tầm quan trọng lớn, xin các đồng chí phát huy tự do tư tưởng để đề xuất.

Ninh Cơ ghi lại

Bài Xem Nhiều