We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 21 June 2009

Ðấu tranh trong chế độ hay đấu tranh trên chế độ

Ngô Nhân Dụng


Trong mọi cuộc đấu tranh với các chế độ độc tài áp bức, những người tranh đấu thường chia làm hai khuynh hướng: Hoặc họ đấu tranh trong khuôn khổ chế độ hiện tại để cải thiện dần dần lề lối cai trị; hoặc họ đấu tranh trên nền tảng chế độ đó buộc nó phải đổi từ căn bản. Lằn ranh giữa hai chủ trương đó có khi không rõ rệt, nhưng cũng đủ để phân biệt khiến người ta có thể gắn cho mỗi nhóm một nhãn hiệu khác nhau.

Trong vụ Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt rồi chúng ta thấy ông đã bước qua lằn ranh giữa hai chủ trương này. Từ một người vốn chấp nhận đấu tranh trong giới hạn của hệ thống cai trị hiện hành, ông đã vượt ra bên ngoài để đấu tranh trên chính chế độ đó - nếu những tin tức do giới chức công an Cộng Sản đưa ra là xác thực.

Từ căn bản, các luật sư đang hành nghề ở nước nào cũng hoạt động trong giới hạn của chế độ mà họ đang sống. Công việc của các luật sư ở bất cứ nơi nào cũng là sử dụng hệ thống luật pháp đang có sẵn chứ không phải là thay đổi các thứ luật lệ đó. Thay đổi luật lệ là công việc của các người đấu tranh chính trị, và của các đại biểu Quốc Hội, khi Quốc Hội đó có thực quyền. Các luật sư có thể biện hộ chứng tỏ rằng một hành động nào đó không vi phạm các điều luật đang thi hành trong xã hội; nhưng cũng có thể chứng minh rằng một điều luật nào đó là trái ngược với hiến pháp, tức là đạo luật cao nhất của một quốc gia. Trong cả hai trường hợp, người luật sư vẫn hành động bên trong khuôn khổ của chế độ.

Trước đây ông Lê Công Ðịnh đã đóng vai trò đó một cách xuất sắc, khi ông đứng ra biện hộ cho hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân ở tòa phúc thẩm mấy năm trước đây. Hai vị luật sư trẻ này cũng là những người chấp nhận tranh đấu bên trong khuôn khổ của chế độ. Và họ bị kết tội theo điều số 88 trong bộ luật hình sự mà ông Lê Công Ðịnh sắp bị truy tố vi phạm điều này.

Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã bị gán tội "tuyên truyền chống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam," ghi trong điều 88. Nhưng bộ luật này không định nghĩa thế nào là "chống nhà nước..." cho nên tòa dưới đã nêu tội của họ là "Hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản, bôi nhọ Hồ Chủ Tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của đảng..." Với hai lý do đó, họ kết tội hai người "chống nhà nước xã hội chủ nghĩa..." theo lời lẽ viết trong đạo luật.

Tại tòa phúc thẩm năm đó, Lê Công Ðịnh đặt vấn đề: Không thể “đồng hóa đảng Cộng Sản Việt Nam với nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nếu không sẽ trái với hiến pháp.” Ðây là lần đầu tiên một luật gia ở trong nước Việt Nam đã nêu lên sự kiện này. Nhưng khi dùng các lý luận này Lê Công Ðịnh vẫn đứng trong vòng giới hạn của luật pháp mà chế độ đang sử dụng.

Tòa án Cộng Sản khi đó buộc tội hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân vì họ đã "tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền;" và vì họ đã "Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế đảng Cộng Sản."

Ông Lê Công Ðịnh đã mỉa mai, "Bàn đến dân chủ và nhân quyền" không thể được coi là "chống nhà nước xã hội chủ nghĩa." Trừ một trường hợp, ông nói tiếp, "trừ phi nhà nước đó chống lại dân chủ và nhân quyền!"

Ông Lê Công Ðịnh nhấn mạnh rằng các bị cáo chỉ làm công việc phê phán và lên án các hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền, những thứ quyền được ghi trong hiến pháp. Các hành động đó "không thể bị xem là ‘chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam." Trái lại, ông tố cáo, “chỉ những hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền mới là chống hiến pháp;” và do đó, cũng “chống nhà nước.” Một lần nữa, gậy ông lại đập lưng ông! Trong vai trò luật sư biện hộ cho Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân, có thể nói Lê Công Ðịnh đã nói lên những sự thật, dùng những lý luận mà chế độ Cộng Sản độc tài không thể cãi được. Cuối cùng trong vụ án đó đảng Cộng Sản chỉ còn cách áp dụng khí cụ riêng của họ, là áp chế, bất chấp lẽ phải, bất chấp lý luận.

Nhưng Lê Công Ðịnh vẫn lên tiếng trong vòng kẽm gai mà chế độ cho phép, đóng vai tranh đấu từ bên trong một cách xuất sắc. Những lời nói của ông được giới thanh niên ở trong nước và bên ngoài nghe và hưởng ứng. Khi đọc bản tin cho biết Luật Sư Lê Công Ðịnh đã chấp nhận những lời tố cáo của công an nói rằng ông đã tiếp xúc và hoạt động chung với những tổ chức tranh đấu dân chủ ở bên ngoài đang vận động lật đổ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, nhiều người có thể nghi ngờ. Vì trong vai trò tranh đấu trong lòng chế độ, ông đã đạt những kết quả đáng kể. Và ông vẫn được an toàn, tiếp tục cuộc sống của một người thuộc giới trung lưu khá giả trong cái xã hội Việt Nam rất trọng kim tiền hiện nay. Ông lại được xã hội chung quanh công nhận khả năng cống hiến của mình trong việc đòi hỏi cải thiện xã hội. Trong một bài đăng trên báo Tuổi Trẻ vào Tháng Hai năm 2006, ông Nguyễn Văn Tiến Hùng đã giới thiệu Lê Công Ðịnh như một luật sư có hiểu biết sâu xa về luật pháp, đã du học ở Mỹ, ở Pháp và có tham vọng cải thiện hệ thống phát luật Việt Nam. Ông muốn hệ thống tư pháp không chỉ dựa trên các đạo luật thành văn theo lối dân luật Napoleon mà còn phải sử dụng các án lệ theo truyền thống Anglo-Saxon. Và “Anh truy đến cùng nguyên nhân tại sao luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu.” Những tham vọng đó có thể được thực hiện ngay trong lòng chế độ, một cách bền bỉ có thể đem lại ích lợi chung cho xã hội chung quanh.

Nhưng nếu những lời tố cáo và xác nhận trên đúng sự thật, thì ông Lê Công Ðịnh đã chấp nhận thay đổi vai trò và tính chất cuộc tranh đấu của mình. Không còn đứng bên trong chế độ mà lên tiếng đòi cải thiện dần dần nữa. Bắt đầu vận động thay đổi chế độ đó từ căn bản. Nếu những điều công an trưng ra là sự thật, và nếu quả thật ông Lê Công Ðịnh không thể chối cãi được đã xác nhận mình làm những việc đó, thì cả hai việc ông làm, là dự tính thành lập một đảng chính trị mới, và soạn thảo dự án hiến pháp mới, đều nhắm thay đổi chế độ Cộng Sản hiện nay bằng một chế độ tự do dân chủ hơn. Ðó là đấu tranh trên chế độ.

Nếu một người ở tuổi ngoài 40, đã có vợ, có con, có trách nhiệm với gia đình, mà chấp nhận bước qua cầu, sang bên kia “sông Rubicon” đi vào một con đường nhiều rủi ro và nguy hiểm, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào?

Có thể người đó đã nhận thấy phương pháp đấu tranh trong lòng chế độ hoàn toàn vô ích. Phải thay đổi toàn diện, thay đổi tận gốc rễ.

Chúng ta không biết sự thật ra sao, có những thao thức, biến chuyển như thế nào trong lòng người luật sư trẻ đó. Nhưng chúng ta có thể biết một điều là tâm lý của người dân xã hội Việt Nam đang trải qua một giai đoạn sôi động, không còn dè dặt như trước nữa. Ðặc biệt là trong giới thanh niên, trong giới kinh doanh và các nhà trí thức.

Một người bạn trẻ của tôi, ngoài 40 tuổi, mỗi năm đi về Việt Nam ba bốn lần vì công việc làm ăn, mới từ trong nước ra tuần trước, đã cho tôi biết cảm giác như vậy. Xưa nay anh không để ý tới chính trị, và mỗi lần về nước cũng không nghe những người quen biết và làm việc với anh bàn chuyện chính trị. Nhưng lần vừa rồi thì khác. Trong không khí có những dấu hiệu bất thường. Người ta bàn chuyện chính trị, phê phán chính quyền một cách công khai và sôi nổi, khác hẳn những năm trước. Vụ Bô Xít. Vụ Biển Ðông. Chính sách kinh tế bất lực và tham ô. Từ PMU 18 đến Huỳnh Ngọc Sỹ. Từ Nông Ðức Mạnh đến Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu. Ðặc biệt, những nhà kinh doanh từ miền Bắc vào Nam, trước đây vẫn lảng tránh hoặc có thái độ bênh vực chế độ một cách nhẹ nhàng, theo lối “không vạch áo cho người xem lưng.” Họ đã thay đổi. Chính họ gợi ra những sự kiện, những đề tài để công kích chế độ, hình như để chứng tỏ họ không nằm trong nhóm chỉ huy con tầu đang thủng đáy sắp chìm, là đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một người bạn của Lê Công Ðịnh đã bị bắt tháng trước là Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân thành đạt trong ngành truyền thông. Ông cũng bị buộc tội hợp tác với Lê Công Ðịnh chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam, mà theo nhiều người quan sát ở trong nước thì Trần Huỳnh Duy Thức là một người vẫn đứng đằng sau Lê Công Ðịnh trong thời gian qua. Họ cũng tham dự trong một khuynh hướng của chính các đảng viên Cộng Sản muốn thay đổi đảng của họ bằng cách vận động từ bên ngoài đảng. Khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản quyết định bắt và truy tố hai người, mục tiêu sau cùng họ muốn là trừ khử khuynh hướng “nổi loạn” ngay trong nội bộ. Họ có tiêu diệt được mầm mống nổi loạn này hay không, chúng ta chờ rồi sẽ thấy.

Cho nên hành động của cá nhân các ông Lê Công Ðịnh và Trần Huỳnh Duy Thức không quan trọng bằng một hiện tượng xã hội lớn hơn, trong đó hai người này có mặt. Ðó là một phong trào đang dâng lên muốn thay đổi toàn diện chế độ chính trị ở Việt Nam. Một nhà kinh doanh thành công trong hệ thống kinh tế của chế độ, và một luật sư thành công trong khi hoạt động trong vòng luật lệ của chế độ đó, cả hai đã phải bước qua ranh giới giữa hai phương pháp đấu tranh. Họ không còn đứng bên trong đòi thay đổi từ từ, mà chấp nhận đứng ra ngoài để tấn công ngay trên những nền tảng của chế độ đã nuôi dưỡng sự thành công của họ.

Ðây không còn là những hành động cá nhân nữa. Cả xã hội Việt Nam đang thay đổi. Nhiều người khác, giới sinh viên, giới trí thức, cả những người trung lưu đang được quyền hưởng thụ, họ đang băn khoăn không biết nên tiếp tục đứng bên trong hay phải bước ra ngoài vòng cương tỏa. Nỗi băn khoăn này sẽ đưa tới những lựa chọn và hành động trong thời gian sắp tới. Chúng ta đã biết trường hợp một đảng viên Cộng Sản là nhạc sĩ Tô Hải. Ông cùng các đảng viên khác đã thấy những ý muốn thay đổi đảng của mình từ bên trong là vô ích, là tuyệt vọng. Tô Hải can đảm viết cuốn hồi ký tự lên án mình, nhưng cũng là lên án cả chế độ đã nuôi dưỡng ông. Tại sao?

Có một lý do thúc đẩy những người còn lương tâm phải bước qua làn ranh giới, là lòng kinh tởm mạnh hơn đức kiên nhẫn chịu đựng. Mọi người trong xã hội đang phải “bịt mũi” chấp nhận sống dưới cái chế độ thối nát đó, mỗi người có thể tự biện hộ với những lý do lớn hay nhỏ về sự chịu đựng này. Nhưng sẽ đến lúc một số người không thể bịt mũi mãi được nữa, và họ càng ngày càng đông. Cảnh thối tha ở chung quanh đã hiển nhiên và trâng tráo tới mức người ta chỉ còn thái độ khinh bỉ và kinh tởm. Ðó là lúc những người tranh đấu bên trong chế độ cũng phải đổi chiến lược. Từ nay phải tìm cách thay đổi chế độ đó từ gốc rễ.

Ngô Nhân Dụng

Chú thích: Rubicon là dòng sông mà Julius Cesar đã bước qua, khi quyết định đem quân trở từ xứ Gaule về La Mã dẹp yên những rối loạn trong Thượng Viện, thay vì tiếp tục chờ ở bên ngoài (năm 49 trước Công Nguyên). Khi đã qua sông, không quay lại được nữa.

Tâm tư của người trẻ Việt Nam trước hiện tình đất nước

Tôi tự nghĩ những tâm tư của tôi sau đây có thể là đại diện tiếng nói chung của sinh viên và những người trẻ đang sống trong xã hội Việt Nam hôm nay. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong xã hội VN, vào thời XHCN, qua những gì được học tập ở nhà trường, chúng tôi cũng tưởng rằng mình được gia đình và xã hội đào luyện cho để sau này nối gót cha anh, xây dựng đất nước, xây dựng tương lai cho chính mình. Chúng tôi đã lạc quan, trong một sự thiếu hiểu biết, rằng mình đang được sống trong một chế độ dân chủ, tự do, độc lập và hạnh phúc. Nhưng càng lớn lên, càng biết suy nghĩ, nhìn nhận thực tế, chúng tôi lại càng nhận ra rằng sự thực không phải là thế!

Chúng tôi bị bắt buộc học những bài học chính trị vừa khô khan cằn cỗi, lại vừa không thực. Nó không thực với xã hội, với thế giới bên ngoài. Cái "thiên đường XHCN" trong sách vở và cái xã hội thật tế, do các vị lãnh đạo và xây dựng hàng hơn một nửa thế kỷ nay, nó khác hẳn nhau. Như vậy:

- Một là cái Thiên đường XHCN ấy là phi thực tế, là không tưởng, nên các nước đầu đàn XHCN đã dần dần tiêu tan, thế giới đã từ bỏ chủ thuyết ấy, và đến nay chỉ còn lại Trung Quốc, Bắc Hàn và ta, thì các xã hội này dân chúng lại đói nghèo, mất tự do, không dân chủ. Trong những xã hội XHCN này, dân thì sống quá nghèo nàn cực khổ, còn các nhà lãnh đạo hay đảng viên nhà nước thì lại quá giàu có. Vậy chỉ có dân là vô sản, còn chính quyền thì lại là tư sản hay tư bản sao?

- Hai là các nhà lãnh đạo đã đi sai đường lối của mình, nên đẩy đưa đất nước đến cảnh nghèo nàn, lạc hậu, mất dân chủ! Chúng tôi thấy các ông lãnh đạo thì tài sản kếch sù, trong khi không kinh doanh làm ăn gì, mà không ai đụng đến các ông cả. Còn người dân mà có máu mặt một chút là khó yên. Thế thì công bằng ở đâu, dân chủ ở đâu, tự do ở chỗ nào? Hạnh phúc ở đâu mà thấy dân chúng chỗ nào cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối? Chẳng lẽ họ hạnh phúc mà họ lại không chịu? Chẳng lẽ họ đang hưởng Thiên đường mà họ lại không ưng? Và xã hội ta đây là Thiên đường sao? Thiên đường của bất công, của đói nghèo, của tệ nạn, của vô luân bại lý, của lọc lừa, của giả dối, gian tham? Năm nào vào cuối năm trên TV cũng có diễn các bài "Sớ Táo Quân dài dằng dặc, kể tội các tham quan ô lại, còn hơn thời Thực dân Phong kiến, nghe xong người dân cười ra nước mắt! Báo Tuổi Trẻ Cười thì đầy dãy những sự việc và con người đáng kinh tởm, đọc xong thấy xấu hổ, tủi nhục cho đất nước, cười hết nổi!

Trước kia chúng tôi cứ tưởng mọi người dân đang bình an chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhưng càng gần đây, qua các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chúng tôi mới vỡ lẽ! Trước đây chúng tôi tin vào lời thày cô, tin vào sách báo, đài phát thanh, truyền hình, vì tưởng đó là những thông tin trung thực, nhưng mới đây chúng tôi mới biết rằng nhà nước cũng xuyên tạc, cũng nói gian!

Trước đây chúng tôi tưởng chính quyền thương dân, lo cho dân, các chú công an bênh vực bảo vệ dân, chỉ bắt và đánh bọn tội phạm, bây giờ chúng tôi lại thấy rằng nhà nước ép chế, chiếm cứ bất hợp pháp đất của dân, công an đi với côn đồ đánh dân, uy hiếp dân.

Trước đây chúng tôi được học là đất nước ta có truyền thống anh hùng, đánh đuổi ngoại xâm, nhưng bây giờ thì chúng tôi lại được đọc những văn bản cắt đất, dâng đảo, công nhận chủ quyền của kẻ xâm lăng trên lãnh thổ của mình! Chúng tôi được học tập bảo vệ môi trường, nhưng môi trường đang bị quý vị lãnh đạo ở nhiều nơi cho triệt phá tan tành!

Chúng tôi, trong một thời gian gần đây thấy choáng váng, vỡ mộng, ê chề, và thực sự cảm thấy bị "sốc", vì những vấn nạn mà thực tế phũ phàng đã đặt ra cho chúng tôi:

- Tại sao các nhà báo, các nhà trí thức, cùng những người dân Việt Nam trong đó có các thanh niên, sinh viên, học sinh, bày tỏ lòng yêu nước, lên tiếng khi Trung Quốc xâm lăng nước ta, hay khi họ chống tham nhũng là một tệ nạn xấu xa làm hại dân nước, thì họ lại bị chính quyền đàn áp, bắt bớ cầm tù như những kẻ tội phạm?

- Tại sao khi người trẻ chúng tôi đi xin một việc làm để sinh sống và góp phần xây dựng xã hội, thì vào chỗ nào cũng được đưa ra một cái giá phải trả để "mua chỗ", mà không xét đến khả năng phục vụ của chúng tôi?

- Tại sao trong cả nước, chỗ nào người dân cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối Nhà Nước?

- Tại sao các nhà lãnh đạo cao cấp VN như Thủ Tướng, Chủ Tịch nước… khi đi qua các nước tự do dân chủ, lại bị khinh khi xem thường, bị đuổi, thậm chí phải đi lòn cửa sau, không được coi như một nhà lãnh đạo, như một quốc khách?

Những câu hỏi ấy đang bao quanh lấy chúng tôi, khiến chúng tôi phải nhụt chí, phải xấu hổ, và mất tin tưởng vào quý vị lãnh đạo, xin giải thích dùm chúng tôi, tại sao vậy?

Ngày giờ này, lớp trẻ chúng tôi người thì đã học xong, người thì còn đang trên ghế nhà trường,và đang hăm hở, ra công học tập để chuẩn bị vào đời, xây dựng tương lai cho mình và cho đất nước, chúng tôi sẽ ra sao, và phải làm gì trong hoàn cảnh này? Ai sẽ hướng dẫn cho chúng tôi sống đúng, sống tốt, trong khi gương sống của cha anh, của cấp lãnh đạo mình như vậy? Ai là người cho chúng tôi niềm tin và sự bình yên để học tập hay làm việc? Chẳng lẽ chúng tôi sống theo gương của quý vị?

Quý vị là những người đã phá vỡ sự bình yên của tuổi trẻ chúng tôi! Quý vị là người đã chà đạp lên niềm tin và niềm tự hào của chúng tôi! Quý vị là những người đã làm ô nhiễm cuộc sống của chúng tôi ! Ngày giờ này, với tư cách là những người chủ tương lai của đất nước, với tư cách là con em của quý vị, chúng tôi đòi hỏi quý vị:

- Hãy trả lại niềm tin cho chúng tôi đã bị quý vị phá vỡ.

- Hãy trả lại cuộc sống bình yên cho chúng tôi.

- Hãy trả lại môi trường trong lành cho chúng tôi được sống, được hít thở.

- Hãy tạo lại một xã hội bình yên và ổn định cho chúng tôi, để chúng tôi yên tâm học hành, và vào đời với tinh thần trong sáng, với niềm tin rạng ngời, và với lòng hăng say nhiệt thành để xây dựng tương lai, xây dựng đất nước.

Nếu quý vị không làm như vậy, là quý vị đã đắc tội với lịch sử, với tiền nhân, với non sông, với đồng bào, vì quý vị đã phá vỡ đất nước, và nhất là phá vỡ một thế hệ trẻ chúng tôi, là con cháu của quý vị, và là tương lai của Tổ Quốc Việt Nam!

Tôn Đạo

Ðâu Là Sự Thật?

Ðặng Xuân Khánh
(Sinh viên trẻ đang sống trong thiên đàng xã nghĩa VC)

Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như "chế độ khát máu Mỹ-Diệm", "miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp", "đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào", "ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ", " giải phóng miền Nam" v.v…

Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để "giải phóng miền Nam" thoát khỏi sự "kìm kẹp của Mỹ, Ngụy" v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho "Mỹ - Diệm kìm kẹp" mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi! Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho "Mỹ - Diệm kìm kẹp" ? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội "giải phóng" thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội "giải phóng" ? Nếu dân miền Nam bị "Mỹ, Ngụy kìm kẹp" , cần phải được "giải phóng" , thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các " đồng chí bộ đội" , tay bắt mặt mừng và cám ơn "được giải phóng" , chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các " đồng chí" ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị "kìm kẹp" , không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị "Mỹ, Ngụy kìm kẹp" chứ không muốn được "giải phóng" à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, "bộ đội giải phóng" chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

Theo ước tính của các cơ quan truyền thông, thông tin quốc tế thì hơn 1 triệu người đã đi bằng hình thức này (http://archives.cbc.ca/id-1-69-324/l...ty/boat_people).

Chúng tôi đã được học tập là "Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam" , nào là "bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu" , nào là "ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai" … v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày "Giải phóng" 30/4/1975 - 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam "giải phóng" , lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN " tươi đẹp" ?

4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để "bám gót đế quốc" , là "rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương" , là "thành phần phản động" , là " những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn" như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là " Việt kiều yêu nước" , "khúc ruột ngàn dặm" ? Có đúng họ "yêu nước" không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, "Mặt trận Giải phóng Miền Nam" thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu "đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước" . Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960???

Bằng Lăng

Bài Xem Nhiều