We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 27 June 2009

SAU KHI BỊ DƯ LUẬN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC PHÊ PHÁN “YẾU ỚT”, HÀ NỘI YÊU CẦU BẮC KINH THẢ NGƯ DÂN VN


Trước sự phê phán gay gắt của dư luận về thái độ yếu ớt đối với Trung Quốc trong việc đòi hỏi Bắc Kinh phải trả tự do cho những ngư dân Việt đã bị họ bắt giữ trái phép trên Biển Đông, hôm qua Lê Dũng, Phát ngôn viên Cộng sản Việt Nam đã chống chế rằng “ngay hôm sau” ngày các ngư dân bị bắt, Hà Nội đã gởi công hàm đến đại sứ quán Trung Quốc yêu cầu Bắc Kinh thả ngư dân và tàu đánh cá nói trên, nhưng chỉ mới có 25 ngư dân trên hai tàu đánh cá được trả về Việt Nam hôm thứ năm vừa qua trên tổng số 37 người và 3 tàu. Cho nên, Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc thả những ngư dân và tàu đánh cá còn lại.

Ông Dũng còn “nhận định” về hành động của Trung Quốc là ”đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông”. Tuy nhiên ông này đã không nói nhà cầm quyền Hà Nội sẽ có những biện pháp nào để bảo vệ dân chúng của mình và tranh đấu bảo toàn lãnh hải của Việt Nam.

Các ngư dân ở miền Trung được hãng tin AFP hỏi vào tuần trước cho biết là trong hai tháng qua, số tàu tuần tra có vũ trang của Trung Quốc đã tăng thêm tại khu vực chung quanh quần đảo Hoàng Sa và khu vực gần đảo Hải Nam.

Ngư dân VN cố tránh khu vực có tranh chấp nhưng cho biết việc Trung Quốc tăng cường tuần tra khiến thu nhập của họ bị sút giảm nhiều. Nhiều ngư dân đã bị cầm giữ trên đảo Hải Nam và phương tiện đánh cá thì bị tịch thu.

Theo tờ Tuổi Trẻ, về trường hợp của ba tàu đánh cá và 37 ngư dân nói trên, phía Trung Quốc phạt tổng số tiền lên tới hơn nửa tỷ đồng Việt Nam, với lý do ”xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung Quốc”. Mười hai ngư dân và thủy thủ còn bị giữ lại như là ”con tin” cho đến khi nào các ngư dân nộp đủ số tiền nói trên.

Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm đánh cá trên biển Đông từ ngày 16/5 cho đến 1/8 ngay cả tại những khu vực đang tranh chấp chung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Căng thẳng về vấn đề chủ quyền trên biển Đông đã gia tăng kể từ ngày 13/5, tức là hạn chót mà các quốc gia phải nộp báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục điạ. Bắc Kinh đã bác bỏ báo cáo của Việt Nam và những nước khác, bị cho là xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông.

————————————–

Tin liên quan :

TQ bắt giữ 37 ngư dân VN đảo Lý Sơn ở Hoàng Sa để đòi tiền chuộc mạng

images36358_11Biên bản phạt ngư dân Lý Sơn của Hải quân TQ. Ảnh: TP

Tin từ Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng Quảng Ngãi ngày 25/6 cho biết ông Dương Văn Thọ cùng 25 ngư dân đã về đến huyện đảo Lý Sơn an toàn sau mười ngày bị hải quân Trung Quốc tạm giữ

Tuổi trẻ (ngày 26/6) dẫn lời thuyền trưởng Thọ khai báo với cơ quan chức năng, ngày 16/6, trong lúc ba tàu gồm 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn đang hành nghề lưới câu gần khu vực quần đảo Hoàng Sa thì bị hải quân Trung Quốc tạm giữ đưa vào đảo Hoàng Sa.

Hải quân Trung Quốc đã lập biên bản phạt ba tàu với tổng số tiền là 210.000 nhân dân tệ (540 triệu đồng) với lý do vi phạm nghiêm trọng quy định “Luật ngư nghiệp nước CHND Trung Hoa”. Do không đủ tiền nộp phạt, hải quân Trung Quốc chỉ cho tàu ông Thọ trở về, hiện vẫn còn tạm giữ hai tàu cùng 12 ngư dân.

Trong khi đó, Tiền phong số ra cùng ngày trích lời Trung tá CSVN Võ Thanh Hường, Chính trị viên Đồn biên phòng 328 cho hay, phía Trung Quốc yêu cầu các ngư dân sau 10 ngày phải đem tiền chuộc.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Chí Thanh, Chánh văn phòng UBND xã An Hải (Lý Sơn) khẳng định “lần này sẽ không nộp tiền phạt” vì “bị bắt rồi nộp tiền miết thế này, ngư dân nghèo ở Lý Sơn chịu không nổi”.

Hãy so sánh với bản tin hôm nay về việc chính quyền Indonesia cứng rắn bắt giữ tàu đánh cá lậu TQ và việc nhà cầm quyền Bắc Kinh bắt giữ 37 ngư dân Việt Nam ngay trong vùng lãnh hải Trường Sa cả 10 ngày qua nhưng không thấy nhà nước hay báo chí CSVN loan báo và lên tiếng. Đợi 25 ngư dân được trả về mới loan báo và mới biết vẫn còn 12 người bị TQ giam giữ để đòi tiền chuộc. Sao nhóm “tứ nhân bang”: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng không đem lá bùa “16 chử vàng & 4 tốt” ra can thiệp?


dantoc.net/?p=12325#more-12325

Quý Vị Nghĩ Sao Về Tin Nấy?

Phần dịch một đoạn băng phát biểu bằng tiếng Tàu sang tiếng Việt

Việt Nam : Tỉnh hay Khu Tự Trị?


(Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật.)

Thưa các đồng chí.

Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép kại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén. Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị, Lương Tư Lệnh nhấn mạnh: "Những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cao cấp." Với tư cách Chính Ủy được đề cử ra chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết.. Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện Trung Quốc
thôn tính Việt Nam . Trung Quốc không có nhu cầu thôn tính nước nào. Các nước lân bang đều nghèo. Họ cần đến Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần đến họ. Những cái họ có đều ở dạng tiềm năng dưới đất hoặc ngoài biển. Không có Trung Quốc giúp đỡ thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế, mà Ðặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bồng đều vô nghĩa. Chúng kiềm hãm bước tiến vĩ đại của Trung Quốc vĩ đại. Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận như thế đấy. Nào là Trung Quốc bá quyền, nào là Trung Quốc bành trướng. Thối lắm, thưa các đồng chí, không ngửi được.
Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rỉ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa Trung Quốc và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất
nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lỏm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn: "Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn. Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa." Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh.
Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ? Với bọn phản động chuyên gây rối à? Cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết. Cứ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch, không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lên đàng đầu. Vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy. Nhưng, cái đó sẽ không còn là
vấn đề trong tương lai. Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam . Nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta.
Thưa các đồng chí. Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra những chuyện lặt vặt vô bổ, đang là đề tài thời sự, để tập trung vào đại sự: bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai. Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần. Vì thế, ta
phải có viễn kiến và phải có sự chuẩn bị.
Hợp kết Trung Quốc Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao hai bên, trong hội nghị này chúng ta bàn thẳng vào những phương án phát thảo những bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị.
Nào, xin cạn chén một lần nữa, mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này.
Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại.
Ði với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm họa của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm.
Thật khủng khiếp. Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác.
Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở Trung Quốc. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hăn hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết.
Nếu ở Trung Quốc có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, Trung quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe dọa quyền lợi của đồng chí, để bảo vệ các đồng chí. Trung Quốc không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn.. Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (tức ông Nông Ðức Mạnh) xem Hồ đồng chí (tức là Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp
cao vừa rồi. Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước đã là một, thì sẽ không phải như vậy.
Việc Việt Nam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung Quốc và Việt Nam là một. Ðó là chân lý đời đời. Ðó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là ông Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản Trung Quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy: "Trung Quốc, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh." Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Ðức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
Trong thời đại hiện nay thì thế giới được tái phân chia sau đệ nhị thế chiến, thì Hoa Kỳ đã mất sự độc tôn trong sự trỗi dậy bất ngờ của tổ quốc chúng ta, thì sự sát nhập trở lại của Việt Nam và toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu. Thế nhưng chúng ta đều đã thấy, đã biết những biểu hiện lừng chừng, giao động lúc này lúc khác, trong ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam muốn người dựa lưng vào Trung Quốc, người dựa hơn con hổ giấy Hoa Kỳ. Bây giờ đã khác.
Sự lựa chọn chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng.
Ngày nay, Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Ðó là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ.
Những việc mà bây giờ chúng ta phải làm. Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa. Không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng, làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa.Phải triển khai rộng hơn nữa là đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc. Ðặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất.
Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta,do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về
lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp. Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt cho chúng biết rằng, một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.
Ðám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại. Tuy chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần nhân dân để cản trở sự hợp nhất. Nhưng không lo. Mao chủ tịch đã dạy: "Trí thức khởi xướng được, nhưng không làm được. Chúng chỉ lép bép lỗ miệng.
Thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy." Ðáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng. Nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy.
Ở chỗ bản tính trí thức, hãy lên đạn, hãy hô bắn thật to, đâu sẽ vào đấy. Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông.
Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý đến điểm này: Không được lạm dụng các phương tiện hiện đại. Chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh những phản ứng quốc tế bất lợi. Truyền thông phải xừ dụng mọi phương tiện sẵn có. Tăng cường viết và nói hằng ngày hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của việc sát nhập. Họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân Trung Quốc hơn hẳn phúc lợi đang có. Họ sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới. Ngư dân được tha hồ đánh cá trên biển Ðông này cũng là của họ mà không còn phải lo lắng: vì xâm phạm lãnh hải, bị hải quân Trung Quốc trừng phạt.
Người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của
một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể.
Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được. Trong khi chưa được hợp nhất, trung ương chính phủ, cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ. Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn nhân trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa. Và cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo với mọi sự cố xảy ra trên biển như vừa rồi. Cứ tiếp tục ám chỉ một nước ngoài nào đó, hoặc một tàu lạ nào đó, không rõ quốc tịch là được.

Ðừng quên xem thường các nhà báo. Họ là công
bộc trung thành của ta. Thiếu họ không được.
Hiện nay đang nổi lên sự phản đối Trung Quốc
khai thác Bauxite ở miền Trung, ồn ào lắm, có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi. Chứ bề ở trong, bọn phản đối cũng thừa biết mọi sự đã an bày. Tiền đã trao thì cháo phải được múc. Bộ Chính Trị quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là đồng chí Nông Ðức Mạnh.
Là chuyện sinh tử của đồng chí Nông Ðức Mạnh nên đồng chí ấy rất cương quyết. Trong chuyện Bauxite, tôi thấy bên cạnh cái xấu lại có cái tốt đấy.
Các đồng chí ạ! Phải công bằng mà lập luận, một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây nguyên của Việt Nam là của chung nước ta. Chưa chừng, trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi. Bauxite của ta, ta để đấy dùng sau. Cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỷ tấn Bauxite ở Quảng Tây. Nói để các đồng chí phấn khởi. Về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm Châu Phi trong nhiều năm nay rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. Trung Quốc đến sau phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng một thập niên, ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang Châu Phi, làm thành những vùng đất Trung Quốc trên lục địa đen kia nữa. Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: "Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc."
Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất, mọi vị trí quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh
chung của toàn quốc. Việc này rất quan trọng.
Xin các đồng chí chớ coi thường. Lãnh đạo từ trung ương cho đến địa phương có thông thì dân mới thông. Nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm, tinh thần tuyệt đối phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ giao động, tư tưởng bất thông thì chính họ cũng sẽ giao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.
Thưa các đồng chí. Còn lại việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng Ðông, Quảng Tây. Về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất e ngại
sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà trung ương không thuận. Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là tổ chức Trung Quốc thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước hay một bang trong liên bang ấy. Ý kiến này không mới. Nó đã từng được
nêu lên. Nhưng các đồng chí thử nghĩ xem. Nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Bột.
Chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập, hoặc tự trị trong liên bang. Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được. Danh chính thì ngôn thuận. Nhưng nội dung bất biến. Vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc.. Có điều những danh hiệu độc lập, tự trị là cái rễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống cho sự phận liệt.
Không được. Quyết không được.
Thưa các đồng chí. Vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng. Xin các đồng chí phát huy tự do tư ...

(hết phần trích và dịch đoạn băng ghi âm)

TÔI NGỜ LÀ CHÚNG NÓ ĐÃ BÁN ĐỨNG ÔNG ...

Việt Cộng nói chúng bắt “khẩn cấp” ông Ðịnh vì ông “cấu kết với các thế lực thù địch chống nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa”; thứ Năm 6/18 chúng họp báo công bố ông Lê Công Ðịnh “thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật và xin được khoan hồng.”
Nếu đứng trước một tòa án, dù là tòa án “tiền chế” của Việt Cộng, ông Ðịnh đã thẳng thắn hỏi họ “tôi phạm tội gì?”, nhưng bị công an “mần việc” suốt 5 ngày liền, ông đành viết “bản tuờng trình nhận tội".

LS. Lê Công Định đọc bản tường trình nhận tội

Tướng công an Việt Cộng Hoàng Kông Tư khoe rằng “những gì mà Lê Công Định khai báo và thừa nhận, chứng minh cơ quan ANĐT- Bộ Công an bắt đúng người, đúng tội, đúng theo quy định của pháp luật.”
Kông Tư còn phân phối cho phóng viên truyền thông tờ thú tội viết tay của ông Ðịnh.

Bản tường trình có chữ ký của LS. Lê Công Định
do Cơ quan an ninh điều tra cung cấp

Ông Ðịnh viết ông thừa nhận việc làm của mình. Theo đó, để chuẩn bị kiến thức cho hoạt động chống Việt Cộng, ông Định đã liên lạc điện thư với bí danh chitu (chị tư)- đặt theo quy định trao đổi chung trong hộp thư điện tử trên gmail của bộ ba Nguyễn Sĩ Bình (chihai), Trần Huỳnh Duy Thức (chiba) và ông.
Theo lời mời của Hà Đông Xuyến, thành viên của tổ chức Việt Tân, ngày 28/2, ông Định sang Pattaya (Thái Lan) dự lớp huấn luyện của Việt Tân cùng nhiều nguời khác do hai chuyên gia Serbie trình bầy lại kinh nghiệm của họ.
Khóa huấn luyện này trình bầy phương thức tiến hành cuộc cách mạng mầu nhằm lật đổ ngụy quyền Việt Cộng theo phương pháp đấu tranh bất bạo động.
Tổ chức Việt Tân lập ra Liên minh Dân chủ Nhân quyền, và Việt Tân nhằm tấn công sáu trụ cột của ngụy quyền Việt Cộng, gồm công an, quân đội, khối đảng viên Việt Cộng, guồng máy hành chính; hệ thống kiểm soát thông tin, hệ thống kiểm soát tài chính, và các định chế tư pháp.
Để thực hiện mục tiêu này, tổ chức Việt Tân phân công ông Định tham gia Ủy ban Luật pháp để dự thảo hiến pháp đa nguyên đa đảng cho Việt Nam.
Ngoài ra, ông Định cũng thừa nhận việc tham gia cùng Nguyễn Sĩ Bình, Trần Huỳnh Duy Thức thành lập đảng chính trị mới để chuẩn bị thay thế Đảng Việt Cộng trong thời điểm phất cờ mà bộ ba dự đoán là cuối năm 2009, đầu năm 2010.
Trong cuộc gặp gỡ tại Phukhet (Thái Lan), Thức được phân công thành lập Đảng Xã hội Việt Nam; Định thành lập Đảng Lao động và Bình mời hai nhân vật này tham gia đảng Dân chủ Việt Nam tại Mỹ (do Bình làm Chủ tịch, với sự tham gia của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi). Ông Định đã nhậm chức Thường vụ Đảng dân chủ Việt Nam.
Tháng 9/2008, ông Định gặp Bình tại Mỹ nhân dịp đi dự hội nghị luật sư. Bình giao cho ông bản Điều lệ Đảng Dân chủ Việt Nam để ông sửa chữa. Ông Định làm theo và có cho ý kiến về cách dùng từ ngữ trong bản Điều lệ này. Tiếp theo đó, Bình và ông Định đồng ý tạo ra email: parvispalo@gmail. com để dùng chung.
Thông qua email này, Tháng 2/2009, ông Bình chuyển cho ông Định bản Tân Hiến pháp để ông Định nghiên cứu, góp ý hiến pháp mới cho Đảng dân chủ Việt Nam, nhằm thực hiện ý đồ thay thế Hiến pháp của Việt Cộng hiện tại nếu âm mưu lật đổ Việt Cộng thành công.
Nguyễn Sĩ Bình từng bị Việt Cộng trục xuất; ông Định lấy bút danh Nguyên Kha để viết bài đăng trên báo diện tử của Đảng Dân chủ Việt Nam.
Ngoài tên Nguyễn Kha, ông Định còn ký nhiều bút hiệu khác, như Paul, Đoàn Phước Việt, ông thừa nhận đã viết 20 bài và sử dụng địa chỉ email: dlelaw@gmail. com gửi cho BBC và Nguyễn Sĩ Bình để đăng trên báo điện tử Đảng Dân chủ Việt Nam và tạp chí Phía Trước (của tổ chức Tập hợp Thanh niên Dân chủ), đồng thời Định cũng trả lời qua điện thoại các cuộc phỏng vấn của BBC, RFA, RFI…
Cô Nguyễn thị Ngọc Khánh, vợ luật sư Ðịnh, nói chồng cô “chỉ muốn đóng góp cho đất nước,”. Như vậy đóng góp cho đất nước là việc làm có tác dụng lật đổ Việt Cộng.
Một người khác có tư cách để lên tiếng về việc ông Ðịnh bị bắt là luật sư Phạm Vĩnh Thái, phó chủ tịch thường trực Hội Luật gia Thành Hồ, và cũng là nhân vật nổi tiếng bưng bợ nhà nước Việt Cộng.
Ông Thái nói, “Khi nghe tin tôi cũng hơi bị sốc. Thứ nhất là vì ông Định cùng trong giới luật sư, những người biết luật mà giờ đây lại chống lại pháp luật.
“Thứ hai là, ông Định thuộc thế hệ sau chiến tranh, sinh năm 1968, khi ‘giải phóng’ miền Nam thì ông ấy còn nhỏ. Được đào tạo, giáo dục, và lớn lên trong nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà bây giờ lại cấu kết với những người khác để lật đổ chế độ hiện nay thì chúng tôi thấy sốc.
“Bản thân tôi hơi sốc và nhiều đồng nghiệp của chúng tôi cũng thấy hết sức ngỡ ngàng trước việc này.
“Còn đương nhiên nếu ông ấy chống lại pháp luật nhà nước Việt Nam thì sẽ bị pháp luật trừng trị thôi.”
Không những ông Thái “sốc” mà ông còn dùng đòn sóc để đâm người đồng nghiệp lâm nạn: ông chờ và mong mỏi “nhà nước” của ông “trừng trị” ông Ðịnh.
Phóng viên BBC hỏi xóc óc ông Thái, “Như ông nói ông Định và ông là hai thế hệ khác nhau. Vậy thưa ông, liệu sự chênh lệch giữa hai thế hệ có dẫn tới các nhận thức khác nhau về nhiều vấn đề hay không?”
BBC có thể muốn nói về lòng yêu nước của hai thế hệ luật sư.
Ông Thái “mão vuông” đáp, “Không, tôi cho rằng dù thuộc thế hệ nào đi chăng nữa, đã sống trong chế độ này thì hiểu biết không thể nào khác nhau nhiều lắm,” rồi ông kể thành tích, “Tôi từng tham gia chiến đấu giành độc lập, giải phóng dân tộc rồi bảo vệ chính quyền này. Từ 17 tuổi tôi đã tham gia quân đội chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, rồi sau đó tham gia kiến thiết xây dựng đất nước Việt Nam.”
Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội có thái độ chuyên nghiệp hơn. Ông nói ông đang chờ xem cơ quan chức năng làm tiếp các thủ tục tố tụng.
“Việc cơ quan an ninh Việt Nam tiến hành bắt khẩn cấp các nhân vật mà họ cho là có tội thì cũng là hoạt động bình thường,” ông Vũ nói. “Chỉ có điều sắp tới đây, chúng ta sẽ phải theo dõi xem các chứng cứ mà cơ quan an ninh đưa ra để buộc tội ông Lê Công Định có xác thực hay không, và có đúng pháp luật Việt Nam hay không.”
BBC hỏi nhận định của ông Vũ về thái độ loan tin “giật gân” của báo chí quốc nội.
LS Cù Huy Hà Vũ trả lời, “Báo chí VN thì tôi thấy gần như chỉ phản ánh lại nội dung những điều mà Tổng cục An ninh cung cấp cho họ thôi, tôi không thấy họ bình luận thêm gì cả.”
BBC: “Trong số các chi tiết mà các báo đăng tải là ông Lê Công Định đã tham gia biên soạn tài liệu phê phán đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bản thân ông mấy hôm trước thì đã khởi kiện ông thủ tướng. Ông có liên hệ gì giữa hai việc này hay không và có lo ngại gì hay không?”
LS Cù Huy Hà Vũ: “Chuyện cơ quan an ninh nói ông Định phê phán ông Nguyễn Tấn Dũng, tôi đọc báo chưa thấy có chứng cứ gì.
“Thứ hai, nếu quả thực có việc phê phán về các hành vi không đúng pháp luật hay không có lợi cho dân cho nước thì đó cũng là chuyện bình thường.
“Còn tôi khởi kiện ông Nguyễn Tấn Dũng ra tòa là theo một quy trình tố tụng đúng pháp luật Việt Nam, minh bạch, rõ ràng. Đơn kiện của tôi đàng hoàng, chính thức, nhận định Thủ tướng đã có hành vi trái pháp luật, mà ở đây là ban hành trái pháp luật một quyết định phê duyệt việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
“Việc khai thác này có hại cho đất nước cả về trước mắt lẫn lâu dài, bị công luận phản đối mạnh mẽ.”
BBC: “Ông Lê Công Định còn bị cáo buộc đã sử dụng một số phiên tòa bào chữa để tuyên truyền chống chế độ. Liệu việc này có làm cho các luật sư ngại ngần hơn khi bào chữa cho các bị cáo tạm gọi là "có vấn đề" hay không?”
LS Cù Huy Hà Vũ: “Bản thân tôi thì không ngại ngần gì cả. Là luật sư hành nghề, nếu được mời bào chữa và thấy đủ điều kiện có thể bảo vệ được, thì sẽ bảo vệ. Khi bảo vệ, thì phải làm hết mình, dùng hết căn cứ luật pháp, cho dù thân chủ của mình nằm trong vụ án chính trị hay vụ án loại khác.”
Về phía chính quyền, phát ngôn viên ngoại giao Lê Dũng nói: "Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến của công dân và khuyến khích người dân đóng góp ý kiến và tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống của đất nước".
"Như mọi quốc gia, các hành vi vi phạm pháp luật của công dân đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật."
Lê Dũng nói như vậy là để trả lời thông cáo của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Thông cáo này viết, “"Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc về việc nhà chức trách Việt Nam bắt LS Lê Công Định hôm 13/06 vì tội "Tuyên truyền chống nhà nước". Giới chức Việt Nam đã nói rằng ông Định bị bắt vì ông bảo vệ các nhân vật đấu tranh dân chủ và vì ông đã sử dụng mạng internet để bày tỏ quan điểm của mình.
Thông cáo còn nhắc nhở: "Ông Định là thành viên được kính trọng trong cộng đồng luật gia Việt Nam và quốc tế, đồng thời là cựu học giả Fulbright".
"Không thể bắt bất kỳ cá nhân nào chỉ vì người này bày tỏ quyền tự do ngôn luận và không thể trừng phạt bất kỳ luật sư nào vì thân chủ mà họ chọn bào chữa."
Một phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Ian Kelly, nói ông Lê Công Định từng là luật sư biện hộ cho các luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, cũng như blogger Điều Cày (nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải).
Thông cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ viết tiếp: "Việc Việt Nam bắt ông Định đã đi ngược lại với chính cam kết của chính phủ Việt Nam trước các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận về nhân quyền và pháp trị".
"Chúng tôi yêu cầu Chính phủ Việt Nam thả ông Định ngay lập tức và vô điều kiện, cũng như trả tự do cho tất cả các tù nhân đang bị giam cầm vì bày tỏ chính kiến của mình một cách hòa bình."
Ông Ðịnh viết báo, và viết một bản dự thảo hiến pháp, dân chủ hơn bản hiến pháp của Việt Cộng hiện nay, và ông đang bị Việt Cộng kết vào tội âm mưu lật đổ chính quyền.
Ông nhận tội sau 5 ngày bị công an Việt Cộng “làm việc”; không ai biết chúng đã dùng những hình thức hỏi cung nào, nhưng chắc chắn bản thú tội của ông, ông không viết trong tư thế tự do.
Ông chỉ khẩu phục chúng, nhưng nếu được trả tự do và được trục xuất sang một quốc gia dân chủ, ông sẽ phủ nhận bản thú tội viết trong kềm kẹp, tra tấn. Ông không tâm phục Việt Cộng, không cho là việc ông mưu đồ lật đổ chính quyền của chúng là “tội”.
Ðối với tôi, không những ông Ðịnh không có tội, mà ông còn có công với đất nước nữa. Ðiều đáng tiếc duy nhất là ông đã vô tình cộng tác với Việt Tân, tổ chức lật lọng đang bị người Việt hải ngoại tẩy chay. Tôi ngờ là chúng đã bán đứng ông.

Nguyễn Ðạt Thịnh

Giải Tỏa Huyền Thoại Hồ Chí Minh

Để xây dựng uy tín và thần thánh hóa Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản đă sử dụng nhiều chiêu bài và ngụy tạo nhiều huyền thoại:


1) Huyền thoại gia đ́nh cách mạng.
2) Huyền thoại lên đường cứu nước.
3) Tiếm danh Nguyễn Ái Quốc.
4) Giả danh Trần Dân Tiên.
5) Giả đoàn kết quốc gia.
6) Giả hiệp ước quốc tế.
7) Ngụy tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.



1. HUYỀN THOẠI GIA Đ̀NH CÁCH MẠNG.


Các nhà sử học Cộng Sản tŕnh bày rằng Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đ́nh cách mạng. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy là bạn đồng khoa với Phan Chu Trinh và thường giao kết với Phan Bội Châu là người đồng hương. Sau khi được bổ nhiệm tri huyện B́nh Khê, Nguyễn Sinh Sắc đă tự ư từ quan để phản kháng chế độ thực dân phong kiến.


Sự thật không phải như vậy. Dầu là một sĩ phu đỗ đại khoa, Nguyễn Sinh Sắc đă không có một đời sống cá nhân đứng đắn. Ông thường say rượu và trong những lúc nóng giận đă có thái độ thô lỗ và đánh đập con cái. Năm 1910, cũng v́ say sưa, Nguyễn Sinh Sắc đă quá tay đánh chết một nghi can là Tạ Đức Quang. Cũng v́ vậy ông bị triều đ́nh tuyên phạt 100 trượng, giáng 4 cấp, cách chức tri huyện và sa thải khỏi quan trường. Sau này ông được miễn phạt trượng h́nh. Dầu sao ông đă làm nhục giới nho sĩ v́ không biết tu thân trước khi trị quốc. Do sự sỉ nhục này đối với sĩ lâm và bà con lối xóm, ông đă dắt các con rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, đi tha phương cầu thực làm nghề bốc thuốc tại miền Nam.

Sự thật lịch sử này đă được chứng minh bằng một văn thư do Hồ Chí Minh dưới tên Paul Tất Thành viết từ Nữu Ước ngày 15-12-1912 gửi Khâm Sứ Trung Kỳ, xin cho cha được phục chức và được làm thừa biện, giáo thụ hay huấn đạo để có phương tiện mưu sinh.
Và truyền thống gia đ́nh cách mạng của Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).


2. HUYỀN THOẠI LÊN ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.

Các nhà sử học CS c̣n tŕnh bày rằng năm 21 tuổi Hồ Chí Minh rời Bến Nhà Rồng Saigon xuất dương lên đường cứu nước. Thời gian này, phong trào kháng thuế tại Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đă bị dập tắt. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội đă bị thâu hồi giấy phép, và tại Nhật Bản, Phan Bội Châu, Cường Để cùng 200 sinh viên Việt Nam du học đă bị trục xuất. Theo gương Phan Chu Trinh, năm 1911 Hồ Chí Minh t́m đường qua Pháp để học hỏi tinh thần tự do dân chủ, hy vọng có ngày trở về giải phóng đồng bào khỏi ách đế quốc tư bản.


Đây cũng chỉ là một huyền thoại. Do đơn ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành xin Bộ Thuộc Địa Pháp đặc cách cho theo học Trường Thuộc Địa "để trở nên người hữu ích cho nước Pháp" (utile à la France). Trường Thuộc Địa là trung tâm đào tạo các cán bộ hành chánh và giáo dục của chế độ thuộc địa. Theo quy chế, các sinh viên phải được sự giới thiệu của nhà chức trách Đông Dương. Nhiều vị khoa bảng và trí thức nổi tiếng đă theo học trường này như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Thân Trọng Huề, Bùi Quang Chiêu, Bùi Bằng Đ̣an v.v... V́ không đúng thủ tục, đơn của Nguyễn Tất Thành đă bị bác bỏ.

Và huyền thoại Hồ Chí Minh từ Bến Nhà Rồng xuất dương lên đường cứu nước đă bị giải tỏa.

3. TIẾM DANH NGUYỄN ÁI QUỐC.

Từ 1911 đến 1914, Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp tại các tầu buôn của hăng Les Chargeurs Réunis chạy quanh các nước Âu Châu, Phi Châu và Mỹ Châu. Khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, Nguyễn Tất Thành sang Anh làm phụ bếp tại nhà hàng Carlton và trở về Paris năm 1917. Trong thời gian này LS Phan Văn Trường đă thành lập Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước để đấu tranh công khai đ̣i tự trị và độc lập cho Việt Nam.

Do lời mời của lănh tụ Đảng Xă Hội Pháp Jean Jaurès (người đă can thiệp với Thủ Tướng Pháp để ân xá cho Phan Chu Trinh), cùng với cụ Phan, LS Phan Văn Trường đă nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để tŕnh bày quan điểm về chính sách bảo hộ của Pháp tại Việt Nam và đạo đạt nguyện vọng của người dân Việt Nam lên Quốc Hội.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, năm 1919 tại Paris, dưới bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc, bộ ba Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành, nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước đă đệ tŕnh các Chính Phủ Đồng Minh và Chính Phủ Pháp Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam trong tinh thần hợp tác và thương nghị, nguyên văn như sau:

"Từ sau cuộc chiến thắng của Đồng Minh, các dân tộc bị trị vô cùng xúc động trước những triển vọng tương lai, căn cứ vào những cam kết minh thị và trân trọng của các cường quốc Đồng Minh trước dư luận thế giới trong cuộc đấu tranh vừa qua để bảo vệ Văn Minh chống Dă Man.

Chiếu theo các cam kết này, một Kỷ Nguyên mới của Luật Pháp và Công Lư sẽ khai mở đem lại hy vọng chứa chan cho các dân tộc bị trị.

Trong khi chờ đợi Nguyên Tắc Chủ Quyền Quốc Gia được chấp thuận, trong lư tưởng cũng như trên thực tế, do sự thừa nhận và thực thi Quyền Dân Tộc Tự Quyết thiêng liêng, Dân Tộc Việt Nam trân trọng đệ tŕnh các Chính Phủ Đồng Minh cao quư, cũng như Chính Phủ Pháp khả kính, những thỉnh nguyện khiêm tốn sau đây:


1) Ban hành Đại Xá cho tất cả các chính trị phạm bản xứ.

2) Cải thiện chế độ tư pháp Đông Dương bằng cách ban hành những bảo đảm về quyền b́nh đẳng trước pháp luật giữa người bản xứ và người Âu Châu. Băi bỏ toàn bộ và vĩnh viễn hệ thống ṭa án đặc biệt được dùng làm công cụ khủng bố và đàn áp các thành phần lương thiện nhất của dân tộc Việt Nam.

3) Ban hành Tự Do Báo Chí và Tự Do Ngôn Luận

4) Ban hành Tự Do Lập Hội và Tự Do Hội Họp.

5) Ban hành Tự Do Di Trú và Xuất Ngoại

6) Ban hành Tự Do Giáo Dục và thiết lập tại các tỉnh những trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ.

7) Thay thế chế độ cai trị bằng nghị định bằng chế độ pháp trị.

8) Thành lập Phái Bộ Thường Trực dân cử của người bản xứ bên cạnh Quốc Hội Pháp để đạo đạt tới Quốc Hội những nguyện vọng của người bản xứ.


Khi đệ tŕnh những thỉnh nguyện nêu trên, Dân Tộc Việt Nam kỳ vọng vào nền Công Lư Thế Giới của các Cường Quốc và đặc biệt tin tưởng vào sự hào hiệp của Dân Tộc Pháp cao quư hiện đang nắm giữ vận mệnh của Dân Tộc Việt Nam bằng cách đứng ra bảo hộ Dân Tộc Việt Nam nhân danh Cộng Ḥa Pháp. Dân Tộc Việt Nam không hổ thẹn được sự bảo trợ của Dân Tộc Pháp, trái lại c̣n cảm thấy vinh hạnh.

V́ họ biết rằng Dân Tộc Pháp biểu tượng cho Tự Do và Công Lư, và sẽ không bao giờ từ bỏ lư tưởng cao cả của Nghĩa Bác Ái toàn cầu. V́ những lư do đó, trong khi lắng nghe tiếng nói của kẻ bị trị, Dân Tộc Pháp sẽ hoàn thành nghĩa vụ của ḿnh đối với nước Pháp cũng như đối với nhân loại.

Thay mặt Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Ái Quốc".


Luật Sư Phan Văn Trường, tiến sĩ luật, Chủ Tịch Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước là người soạn tài liệu này.

Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriote) là bút hiệu chung của bộ ba Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Nguyễn là ḍng họ đa số tại Việt Nam và Ái Quốc là phỏng theo tên Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước (Groupe des Patriotes Annamites). Với bút hiệu này, họ đă viết những bài b́nh luận trên các báo của Đảng Xă Hội như Nhân Loại (L'Humanité), Dân Chúng (Le Populaire) v..v...


Mặc dầu vậy, Hồ Chí Minh đă tự nhận ḿnh là Nguyễn Ái Quốc. Dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, trong cuốn "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch". Hồ Chí Minh viết: "Khi chiến tranh chấm dứt, tại Hội Nghị Hoà B́nh Véc-Xây, Tổng Thống Mỹ Wilson nói về 14 điều. Các đại biểu các dân tộc bị áp bức đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, có Nguyễn Ái Quốc (tức là Anh Ba hay Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Paris và ở các tỉnh khác. Với danh nghĩa của tổ chức này, ông đă đưa yêu cầu 8 điều ra trước Hội Nghị Véc-Xây".

Đây chỉ là một sự mạo nhận. V́ những lư do sau đây:

a) Thỉnh Nguyện Thư được soạn thảo nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước, một tổ chức do Phan Văn Trường thành lập năm 1914 tại Paris, khi Nguyễn Tất Thành c̣n ở Luân Đôn.

b) Thỉnh Nguyện Thư đề cập đến những nguyên tắc pháp lư mà trong thời gian đó (1919) chỉ các luật gia và chính trị gia mới thấu hiểu như quyền b́nh đẳng trước pháp luật, chế độ pháp trị, chế độ ṭa án đặc biệt, quyền dân tộc tự quyết v.v...

c) Đề nghị thành lập Phái Bộ Thường Trực Dân Cử Việt Nam tại Quốc Hội Pháp là do sáng kiến của Phan Văn Trường. Từ năm 1911, cùng với Phan Chu Trinh, theo lời mời của Jean Jaurès, ông đă nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để đạo đạt những nguyện vọng của nhân dân Việt Nam lên Quốc Hội.

d) Nguyễn Tất Thành chỉ là một học sinh vừa qua bậc tiểu học và không có kiến thức chính trị. "Ông rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là băi công, và thế nào là chính đảng... Ông không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay... Ông lắng nghe những buổi thảo luận, nhưng không hiểu rơ về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xă hội, giai cấp vô sản v.v... ông nhức đầu v́ khó hiểu". Vả lại vốn liếng tiếng Pháp của ông chỉ gồm những chữ thông dụng trong đời sống hằng ngày học từ những cô sen trong giới b́nh dân (Trần Dân Tiên, sđd).

e) Trần Dân Tiên c̣n nêu lên yêu cầu băi bỏ chế độ sưu dịch, thuế đinh, thuế muối và việc bắt ép dân mua muối và thuốc phiện. Các điều khoản này không thấy trong bản Thỉnh Nguyện Thư tiếng Pháp đăng trên báo L'Humanité ngày 18-6-1919. (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).

Nói tóm lại, trái với lời Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh không phải là tác giả Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam. Và năm 1919 Hồ Chí Minh cũng chưa phải là Nguyễn Ái Quốc. Đây chỉ là một sự mạo nhận tư cách của Nguyễn Tất Thành, một người ít học nhưng nhiều tham vọng.

Năm 1917, khi từ Luân Đôn trở về Paris, Nguyễn Tất Thành tá túc tại nhà Luật sư Phan Văn Trường số 6 Villa des Gobelins. Năm 1914, Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam về tội phản nghịch (t́nh nghi liên lạc với Cường Để tại Berlin). Sau 9 tháng điều tra, hai nhà chí sĩ họ Phan đă được miễn tố (Phan Chu Trinh chủ trương hợp tác với Pháp đánh Đức, cũng như Gandhi hô hào thanh niên Ấn Độ t́nh nguyện gia nhập quân đội Hoàng Gia Anh).
Mặc dầu vậy, hai vị vẫn bị cảnh sát điều tra theo rơi. Mỗi khi có trát đ̣i Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành đứng ra nhận trát, tự xưng là Nguyễn Ái Quốc. Ông nói: "Nguyễn Ái Quốc chính là tôi, các ông cứ đưa trát cho tôi, đừng làm phiền chú/bác tôi (ư nói Phan Văn Trường hay Phan Chu Trinh)". Năm 1921, Nguyễn Tất Thành bỏ Đảng Xă Hội để gia nhập Đảng CS dưới tên Nguyễn Ái Quốc.

4. GIẢ DANH TRẦN DÂN TIÊN

Các nhà sử học cho rằng Hồ Chí Minh là người thông minh, nhưng là sự thông minh ngoài phố. Sự khôn ngoan giảo quyệt này đă được biểu lộ rơ nét nhất trong cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên xuất bản và tái bản nhiều lần từ 1948 đến 1976. Ngày nay ai cũng biết Trần Dân Tiên là Hồ Chí Minh. Trong lịch sử văn học thế giới, không thấy một nhà văn tự trọng nào lại giả danh bằng một bút hiệu để tự đề cao ḿnh. Dùng bút hiệu thật để nói về ḿnh cũng là vạn bất đắc dĩ, v́ cái tôi thường đáng ghét. Dùng bút hiệu giả để thần thánh hóa ḿnh th́ quả là đáng khinh!
Chúng ta thử đánh giá sự "khiêm tốn" của tác giả:
"Nhiều nhà văn nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, nhưng măi đến nay chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của ḿnh (...). Hiện nay c̣n nhiều việc cần thiết hơn, rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau 80 năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi đă (...). Với đức tính khiêm tốn nhường ấy, và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc làm sao Hồ Chủ Tịch có thể kể lại b́nh sinh của Người được".
Thế nhưng Hồ Chủ Tịch đă đại ngôn:
"Khi c̣n là một thiếu niên 15 tuổi, người thiếu niên ấy đă sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đă có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh khâm phục các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của 3 người, v́:
- Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương.
- Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, chẳng khác ǵ đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau.
- Cụ Hoàng Hoa Thám c̣n nặng cốt cách phong kiến".
Năm 1905, khi Hồ Chí Minh 15 tuổi, cụ Phan Chu Trinh chưa viết Đầu Pháp Chính Phủ Thư (l906), chưa phát động phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (l907). Vậy mà Hồ Chí Minh đă phê phán chính sách canh tân và giáo dục của cụ là cải lương (mà cải lương th́ đă sao?).
Chưa thấy cụ Phan Bội Châu rước cọp vào nhà, chỉ thấy Hồ Chí Minh cơng rắn CS về cắn gà nhà, gây tai hại vô lường cho đất nước và dân tộc.
Năm 1945, khi mới 55 tuổi, Hồ Chí Minh tự phong ḿnh là "cha già của dân tộc". Ông c̣n tự thần thánh hóa ḿnh, kể rằng "chân dung Hồ Chủ Tịch được treo trên bàn thờ giữa những b́nh hương hoa đèn nến".

"Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do ḷng hy sinh và ḷng nhân từ của Người. Chủ Tịch không bao giờ nghĩ đến ḿnh. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân (...). Đối với nhi đồng, tên Bác Hồ là như một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoăn".
Vậy mà người cha già (67 tuổi) đă nhẫn tâm để đàn em hạ sát người vợ trẻ đă sinh cho ḿnh đứa con trai là Nguyễn Tất Trung. Năm l957, khi cô Nguyễn Thị Xuân yêu cầu công khai hoá cuộc hôn phối đă kéo dài trên 2 năm, Hồ Chí Minh vẫn ngọt ngào giả lả: "Cô xin như vậy là hợp t́nh hợp lư, nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ư, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ư mới được". Do đó, cô đành phải chờ một thời gian. Trong thời gian này, cô đă biến thành chướng ngại vật làm mất uy tín của lănh tụ. Theo đúng phương châm hành động, tất cả những chướng ngại vật làm cản trở con đường của lănh tụ sẽ bị thanh toán và vô hiệu hóa.
Thanh toán trước hết bằng cách hạ nhục đối phương, cho viên tướng công an Trần Quốc Hoàn mặc sức hăm hiếp. Rồi cho thủ hạ chùm chăn lên đầu và dùng búa đánh vỡ sọ nạn nhân (như vụ Staline hạ sát Trotsky tại Mexico).
Một người có những thủ đoạn bất nhân như vậy, mà bộ máy tuyên truyền của CS c̣n đề cao như một vị anh minh kết tinh "đức tính từ bi của Đức Phật, tính công bằng bác ái của Chúa Ki-Tô, sự minh triết của Khổng Tử, sự siêu thoát của Lăo Trang".
Ngoài ra, Trần Dân Tiên c̣n tự sánh ḿnh với Mặc Tử là người đă ṃn trán lỏng gót bôn ba khắp nơi để lo cho thiên hạ. Điều đáng nói là, trong khi Mặc Tử chủ trương ḥa b́nh, th́ Hồ Chí Minh cổ vơ chiến tranh. Trong khi Mặc Tử theo thuyết kiêm ái, yêu dân tộc, yêu nhân loại, th́ Hồ Chí Minh gieo rắc căm hờn, thúc dục thú tính để phát động đấu tranh giai cấp và thủ tiêu những lương dân vô tội và những người quốc gia yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc.

5. GIẢ ĐOÀN KẾT QUỐC GIA.

Khi hay biết phe Thế Giới Dân Chủ không chịu trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương v́ họ không muốn Staline mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á, ngày 11-11-1945 Hồ Chí Minh giả bộ giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương để thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Các-Mác. Để có chính nghĩa đoàn kết quốc gia, Hồ Chí Minh mời Nguyễn Hải Thần thuộc Cách Mạng Đồng Minh Hội và Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng tham gia chính phủ liên hiệp.
Trong Tuyên Cáo Đoàn Kết ngày 24-12-1945, Hồ Chí Minh cam kết tôn trọng sự đoàn kết của các đảng phái quốc gia để tranh thủ độc lập, "V́ độc lập quốc gia là cứu cánh tối hậu cần phải tranh thủ và chỉ có sự hợp tác và hữu nghị chân thành giữa những người Việt Nam mới có thể đạt được độc lập quốc gia". Ông c̣n lên án mọi hành vi phá hoại t́nh đoàn kết quốc gia cũng như việc dùng vơ lực để tiêu diệt các đảng phái quốc gia.
Vậy mà sau đó Trần Dân Tiên đă vu oan giá họa "bọn phản động Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam được Trung Hoa Quốc Dân Đảng giúp đỡ đă có âm mưu phá hoại và Hồ Chủ Tịch đă phải nhường cho họ 70 ghế quốc hội".
Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh kư Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. 15 ngàn quân Pháp được thay thế quân Trung Hoa, đổ bộ Hải Pḥng và đồn trú tại Bắc Việt trong 5 năm.
Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Paris thương nghị. Phái đoàn Việt Nam đáng lẽ do ngoại trưởng Nguyễn Tường Tam lănh đạo, nhưng trước đó: "Bộ Trưởng Tam đă bỏ trốn". Và mùa hè năm đó, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh cũng bỏ trốn sang Tàu để khỏi bị sát hại như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm v.v...
Sau khi tống xuất quân đội Trung Hoa, CS thẳng tay đàn áp và thủ tiêu các cán binh Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy, Tuyên Cáo Đoàn Kết 1945 chỉ nhằm thành lập chính phủ liên hiệp để làm b́nh phong thương nghị với Pháp. Rồi nhờ Pháp tống xuất Tàu cho Đảng CS rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia để được độc quyền lănh đạo.
Trong Thế Chiến Thứ Hai, để được Đồng Minh yểm trợ, Staline đưa ra chính sách thân thiện với Anh Pháp. Đảng CS Pháp phối hợp với Đảng Xă Hội trong Mặt Trận B́nh Dân. Phe CS Việt Nam cũng hợp tác với phe Tân Tả Phái của Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch để thành lập Mặt Trận Dân Chủ và xuất bản tờ La Lutte (Tranh Đấu).
Trong những cuộc bầu cử Hội Đồng Đô Thành Saigon và Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, liên danh Tranh Đấu của Tạ Thu Thâu toàn thắng. Đây là giai đoạn đấu tranh công khai, ôn ḥa, hợp pháp và bất bạo động. Chiêu bài đoàn kết quốc gia một lần nữa được áp dụng. Nguyễn An Ninh thuộc phe Trung Hoà, Tạ Thu Thâu thuộc phe Tân Tả Phái và Nguyễn Phan Long thuộc phe Lập Hiến, đă đứng ra tổ chức Đông Dương Đại Hội để đạo đạt thỉnh nguyện của nhân dân Việt Nam tới phái đoàn Quốc Hội từ Paris sang.
Vậy mà ngay sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đă phản bội lời giao ước đoàn kết và đă thủ tiêu Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo v.v... là những người quốc gia yêu nước thuộc các nhóm Tân Tả Phái và Lập Hiến.
Về việc hạ sát Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh c̣n giả nhân nghĩa tiếc Tạ Thu Thâu là người yêu nước. Nhưng ông lại thêm rằng những ai chống lại chính sách của ông đều sẽ bị vô hiệu hoá. Sau khi Staline thủ tiêu người chiến hữu đàn anh của ḿnh là Trotsky năm 1940, tất cả phe tân tả phái Trotskit đều phải bị thanh toán và triệt hạ uy tín.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh c̣n cho hạ sát Đức Giáo Chủ Ḥa Hảo Huỳnh Phú Sổ và các lănh tụ các đảng phái quốc gia yêu nước như Trương Tử Anh (Đại Việt), Lư Đông A (Duy Dân), Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...


6. GIẢ HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ.

Theo sách lược CS kư hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước. V́ các hiệp ước ngoại giao chỉ là những phương tiện để thực thi những mục tiêu chính trị:


a. Kư Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny ngày 6-3-1946 nhờ Pháp tống xuất Tàu để rảnh tay thanh toán các đảng phái quốc gia nhằm giữ độc quyền yêu nước, độc quyền lănh đạo. Sau đó lại phát động chiến tranh ngày 19-12-1946.

b. Kư Hiệp Định Đ́nh Chiến Genève 1954 để tống xuất Pháp và cướp chính quyền tại Miền Bắc. Sau đó lại tái phát động chiến tranh.
c. Kư Hiệp Định Ḥa B́nh Paris 1973 để tống xuất Mỹ. Sau đó lại tái phát động chiến tranh để thôn tính Miền Nam.

7. NGỤY TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

Sau cuộc Cách Mạng giải thể CS tại Đông Âu, chủ nghĩa CS đă bị nhân dân thế giới vứt vào thùng rác lịch sử. Tại Đức, quê hương của Các-Mác, chủ nghĩa Mác đă bị phủ định và được thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xă Hội. Tại Nga, quê hương của Lênin, chủ nghĩa Lênin cũng đă bị phủ định để thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xă Hội.
Trước sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lê, Đảng CS ngụy tạo cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh", một điều mà chính Hồ Chí Minh thời sinh tiền cũng không bao giờ đề cập đến. Ông chỉ nói đến chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông, và tác phong Hồ Chí Minh. Ông nh́n nhận rằng, về phần tư tưởng, "Bác Mao đă viết cả rồi, tôi không c̣n ǵ để viết nữa".
Do đó ông chỉ thực thi trung thành những nguyên lư Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Ông hết sức tán tụng Staline và Mao Trạch Đông. Ông viết: "Mao Trạch Đông đă đông phương hóa chủ nghĩa Mác Lê và đă đưa cách mạng Trung Quốc đến thành công. Cách mạng Việt Nam phải học tập và thực sự đă học hỏi rất nhiều từ cuộc cách mạng Trung Quốc. Các nhà cách mạng (CS) Việt Nam phải ghi nhớ điều này và phải biết ơn Mao Trạch Đông về sự đóng góp to lớn này".
Thật vậy, Hồ Chí Minh không có tư tưởng ǵ đặc sắc. Ông chỉ là người sao chép lại.
Những mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc ghi trong các tiêu đề chánh thức của nhà nước chỉ là phỏng theo 3 cương lĩnh của chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng trong Cách Mạng 1911: "Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc".
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 cũng là sự sao chép Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ theo đó: "mọi người sinh ra b́nh đẳng và được Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Thêm vào đó là lời mở đầu Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789: "mọi người sinh ra tự do và b́nh đẳng và luôn luôn được tự do và b́nh đẳng".
Dùng giả nhân nghĩa là ngụy quân tử. Nhưng khéo ngụy trang Hồ Chí Minh đă viện dẫn các tư tưởng minh triết của Nho Gia trong việc giáo hóa, trị dân và dựng nước như: "Điều ǵ ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân; không lo nghèo mà lo không đều; mười năm trồng cây, trăm năm trồng người" v.v....
Về mặt kiến thức, Hồ Chí Minh thú nhận ông không am tường chính trị và nhức đầu khi nghe nói về những vấn đề lư thuyết chủ nghĩa. Ông chỉ là người cán bộ thừa hành trung thành và tận tụy của Staline và Mao Trạch Đông. Nhờ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền, ông nổi danh v́ bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, ông được giới thiệu với các lănh tụ Xă Hội và CS Pháp như Léon Blum, Marcel Cachin v..v... Từ một tiểu trí thức, ông đă bước lên địa vị một cán bộ CS quốc tế, phụ trách vùng Đông Nam Á.

Trong khi các lănh tụ CS Á Châu khác như Roy tại Ấn Độ hay Malaka tại Nam Dương đều bị thất sủng dưới bàn tay sắt của Staline v́ họ có những tư tưởng hướng về chủ nghĩa Dân Tộc và chủ thuyết Hồi Giáo, th́ Hồ Chí Minh vẫn một ḷng một dạ chung thủy với Quốc Tế CS.


Dầu không có tư tưởng chính trị đặc sắc nhưng Hồ Chí Minh đă thành công trong việc:

Dùng ngụy trang dối trá (ngụy chủ nghĩa Dân Tộc);
Lấy giả nhân giả nghĩa (bằng các chiêu bài độc lập, tự do, hạnh phúc, đoàn kết, ḥa giải, ḥa hợp);
Để giành chính nghĩa (giải phóng dân tộc, giải phóng lao động);
Và cướp chính quyền (để không chia quyền với bất cứ ai).

L.S. Nguyễn Hữu Thống

Bài Xem Nhiều