We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 3 July 2009

Cờ Vàng từ Yukon

Tuần qua, hai buổi lễ cuối tháng 6/09 và đầu tháng 7 tại Yukopn Canada đã diễn ra tại Yukon , Canada . Ngày 27/6 là lễ hội Whitehorse Festival với sự Tham dự Của các sắc dân. Năm nay lễ hội này cộng đồng VN không tham dự vì sự có mặt trong BTC lễ hội của bà Đinh Kim Nguyệt, một thành viên cộng sản có liên hệ Với một người Canada . Đăc biệt là có lẽ vì sự thành công của cuộc diễn hành Cờ Vàng trong Whitehorse Festival năm ngoái 2008 mà năm nay BTC đã quyết định huỷ bỏ chương trình diễn hành với cờ các sắc dân mà chỉ tổ chức trình diễn âm nhạc và quần áo cổ truyền, và chương trình này chỉ thu hút một số nhỏ người xem. Riêng ngày Độc lập Canada 1/7 gọi là Canada Day vào 1/7 là ngày quan trọng nhất trong năm có sự tham dự của tất cả các cơ quan, hội đoàn và các sắc dân ở Yukon với các chương trình thu hút đông đảo quần chúng, diễn hành, âm nhạc, bán thực phẩm. Cộng đồng Viet Nam ở Yukon quyết định ghi tên tham dự để Diễn hành và bán thực phẩm. Riêng phần diễn hành xe hoa năm nay, đây là lần đầu tiên sắc dân Việt Nam tham dự với áo dài truyền thống Nam Nữ, các trẻ em, xe hoa có “Hai Bà Trưng múa kiếm”, nhất là quốc kỳ Canada và Cờ Vàng được 4 cựu quân nhân mặc quân phục tham dự đã là một hình ảnh hùng tráng rất lạ lần đầu tiên trong lịch sử Canada Day tại Yukon . Phái đoàn Việt Nam được vỗ tay và khen ngợi nồng nhiệt ngay trong thời gian diễn hành với hàng trăm máy thu hình của du khách và dân địa phương thu hình… Cuối cùng, Ban Tổ Chức và Ban Chấm điểm ngày Canada Day 1/7/2009 đã chấm phái đoàn Việt Nam là diễn hành đẹp nhất, thứ tự nhất, hùng tráng nhất và có ý nghĩa nhất. Nhiều người Canada đã tiếp xúc với người viết bản tin này để khen ngợi, và họ vô cùng thích thú với các chiếc áo dài VN. Các cựu chiến binh Canada chiến đấu trong quân lực Mỹ tại Việt Nam đã tiếp xúc với chúng tôi thật nồng ấm. Đây là lần thứ hai trong hai năm liền, Cờ Vàng Canada đã tung bay rực rỡ dưới nắng ấm Yukon, bất chấp sự có mặt của các đại diện các thành viên cộng sản đến từ Ottawa. Cộng đồng Việt Nam đã chiếm trọn trái tim của người Canada tại Yukon . Năm nay, các anh chị em từ Ontario miền Dông Canada , từ Calgary , từ Edmonton , từ Vancouver và từ Bắc California đã đến thăm Yukon và cùng tham dự với bà con Yukon trong các sinh hoạt của ngày Canada Day 2009. Chúng tôi gửi tin mừng này đến tất cả đồng bào, anh chị em Việt Nam trên toàn thế giới… (Bản tin chi tiết sẽ được gửi sau)

Hải Triều (Từ Yukon Cờ Vàng, Canada )
604 879 1179

VÀ NHỮNG DẤU NHẤN MỤC VỤ CHO GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM

ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

VÀ NHỮNG DẤU NHẤN MỤC VỤ CHO GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã thực hiện chuyến viếng thăm ad limina từ ngày 22-06 đến 4-07-2009. Đỉnh cao của chuyến viếng thăm là cuộc gặp gỡ Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vào ngày 27-06-2009. Trong mỗi cuộc gặp gỡ với từng Hội Đồng Giám Mục trên thế giới, Đức Thánh Cha đều ban huấn từ cho các giám mục với những nội dung thần học và trọng tâm mục vụ khác nhau, tùy theo hoàn cảnh của từng Giáo Hội địa phương. Huấn từ này có tầm quan trọng đặc biệt vì trong tư cách là vị chủ chăn của Giáo Hội phổ quát, huấn từ của Đức Thánh Cha chính là những định hướng mà mỗi Giáo Hội địa phương phải quan tâm khai triển trong đời sống. Chắc chắn mọi thành phần trong Giáo Hội Việt Nam sẽ lắng nghe, suy nghĩ, trao đổi và khai triển nhiều khía cạnh trong huấn từ quan trọng của Đức Thánh Cha. Ở đây chỉ xin gợi lên một vài dấu nhấn mục vụ như bước đầu cho những suy nghĩ và ứng dụng sâu sắc hơn.

Huấn từ của Đức Thánh Cha có một cấu trúc rõ ràng và mạch lạc. Sau lời chào mừng, cảm ơn và bày tỏ sự quý mến đối với Giáo Hội và người dân Việt Nam, Đức Thánh Cha nhấn mạnh những lãnh vực cần phải quan tâm : linh mục và tu sĩ ; giáo dân, cách riêng đời sống gia đình và các bạn trẻ ; sự hợp tác trong lòng Giáo Hội Việt Nam ; Giáo Hội và xã hội. Cuối cùng là lời thăm hỏi và chúc lành gửi đến tất cả cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam. Trong mỗi lãnh vực, ngài đều đưa ra những chæ dẫn cụ thể cho đường hướng mục vụ của Giáo Hội Việt Nam.

Đời sống thánh thiện của các linh mục và tu sĩ

Chuyến viếng thăm ad limina của HĐGMVN trùng hợp với thời điểm Giáo Hội toàn cầu bắt đầu bước vào Năm Linh Mục (19-06-2009 – 19-06-2010). Phải chăng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Trong tầm nhìn của đức tin, chính Chúa quan phòng đã sắp đặt sự trùng hợp này để Giáo Hội Việt Nam ý thức về ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho mình : một Giáo Hội phong phú ơn gọi linh mục và tu sĩ trong bối cảnh ơn gọi ấy dường như ngày càng vơi cạn trên nhiều miền đất của thế giới. Ý thức ấy dẫn Giáo Hội Việt Nam đến tâm tình tạ ơn Chúa, đồng thời phải tích cực góp phần để gìn giữ, bảo vệ và phát triển kho tàng Chúa ban cho.

Theo ý hướng đó, rất cần quan tâm đến lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha gửi đến các linh mục và tu sĩ Việt Nam. Ngài nhấn mạnh đến đời sống nội tâm và sự thánh thiện của linh mục, tu sĩ, theo gương cha sở họ Ars. Đây sẽ là điều đáng ngạc nhiên với những ai chỉ nhìn vị giáo hoàng hiện tại như bậc trí thức thượng thặng của thế giới. Thật vậy, Đức Bênêđictô XVI không chỉ là nhà thần học lỗi lạc trong Giáo Hội Công giáo, nhưng ngài còn được nhìn nhận như một trong những nhà tư tưởng uyên bác có tầm ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới. Thế nhưng vị giáo hoàng uyên bác ấy lại nhấn mạnh đến đời sống nội tâm và sự thánh thiện, lại đề cao mẫu gương của cha thánh Gioan Maria Vianney, vị linh mục hơi đuối về mặt học vấn! Bởi lẽ hơn ai hết, ngài thấy rõ những giới hạn và cả mối hiểm nguy khi nghiên cứu thần học mà thiếu vắng đời sống nội tâm. Khi đó, thần học chỉ còn là một ngành nghiên cứu khoa học thuần túy chứ không có khả năng khơi mạch sự sống đức tin, nhà thần học chỉ còn là chuyên viên nói về Thiên Chúa như một đối tượng khách quan chứ không có khả năng nói với Chúa như một chủ thể trong tương giao sống động. Tương tự như thế, khi thiếu vắng đời sống nội tâm, các linh mục và tu sĩ có nguy cơ trở thành những công chức chứ không là mục tử, những giáo viên chứ không là ngôn sứ, những thầy dạy thay vì là chứng nhân, và sẽ không còn khả năng thông truyền sự sống đức tin cho người khác.

Hiểu như thế, việc đào sâu đời sống nội tâm và nỗ lực sống thánh thiện phải là mối quan tâm hàng đầu của các linh mục tu sĩ Việt Nam trong giai đoạn tới. Trách nhiệm này trước hết là của từng cá nhân linh mục, tu sĩ, đồng thời các giám mục cũng phải xem đây là mối ưu tư hàng đầu của mình. Vì thế, Đức Thánh Cha kêu gọi các giám mục phải quan tâm lo lắng cho các linh mục, phải hiểu biết các linh mục trong giáo phận mình cho thấu đáo, phải giúp các linh mục chu toàn việc thường huấn.

Người Công giáo tốt và người công dân tốt

Đức Thánh Cha tâm đắc với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam khi các giám mục đề cao vai trò của ơn gọi giáo dân trong đời sống gia đình, để gia đình thực sự trở thành trường dạy đức tin và đức mến đối với Thiên Chúa, trở thành cái nôi của những giá trị nhân văn và đức tính nhân bản. Đồng thời, ngài nhấn mạnh đến vai trò chứng tá của người tín hữu giáo dân giữa lòng xã hội, để xã hội nhìn nhận rằng là người công giáo tốt cũng chính là người công dân tốt.

Bằng cách nào người giáo dân công giáo có thể chu toàn sứ mạng đó? Người giáo dân được mời gọi chu toàn sứ mạng đó không phải bằng việc rao giảng giáo huấn của Giáo Hội nhưng bằng chính đời sống cụ thể hằng ngày của mình, một đời sống xây dựng trên cái kiềng ba chân là bác ái, liêm chính và quý trọng ích chung. Xem ra Đức Thánh Cha theo dõi tình hình của Việt Nam khá sát, vì đây chính là những trọng điểm của xã hội Việt Nam hôm nay. Khi Việt Nam bước sâu vào tiến trình toàn cầu hóa thì một mặt, có những phát triển về kinh tế nhưng mặt khác, lại có những tác động tiêu cực về đạo đức và tinh thần. Chủ nghĩa cá nhân len lỏi vào trong cách suy nghĩ và lối sống của người dân, khiến cho “tình làng nghĩa xóm” thưở xưa đang dần tan biến. Sự gian dối lan tràn trong cuộc sống hằng ngày, kể cả trong những môi trường đáng trân trọng nhất là giáo dục và y tế, làm cho mối tương quan giữa người với người mất đi sự trong sáng cần thiết. Chủ nghĩa hưởng thụ khiến cho mỗi người chỉ biết đến quyền lợi riêng của mình, của gia đình và phe nhóm của mình, mà không màng gì đến ích lợi chung của tập thể xã hội. Trong tình hình đó, bác ái, liêm chính và quý trọng ích chung quả là những đòi hỏi khẩn thiết cho việc xây dựng và phát triển đất nước cách vững bền. Cũng bằng cách sống những giá trị đó, người công giáo có thể minh chứng cho mọi người thấy rằng, nếu mỗi người công giáo thực sự là công giáo thì điều đó không những không gây tai hại gì cho đất nước và dân tộc; trái lại, còn làm cho đất nước được phồn thịnh và tốt đẹp hơn.

Để đạt được mục đích này, Đức Thánh Cha yêu cầu các giám mục phải chú tâm đến việc đào tạo người giáo dân. Điều đặc biệt là ngài không chỉ nói đến đào tạo về đức tin mà ngài còn nói đến cả việc nâng cao trình độ văn hoá của người tín hữu, bởi lẽ khi trình độ văn hoá được nâng cao, người giáo dân sẽ có thể hiểu biết đức tin cách sâu xa hơn và phục vụ Giáo Hội cũng như xã hội cách hiệu quả hơn. Trong thực tế, dù có nhiều giới hạn, Giáo Hội tại Việt Nam đã quan tâm đến việc đào tạo người tín hữu giáo dân dưới nhiều hình thức, từ cấp giáo xứ đến cấp giáo phận. Chắc chắn sự nhắc nhở của Đức Thánh Cha sẽ thúc đẩy các vị có trách nhiệm trong Giáo Hội quan tâm hơn nữa đến đòi hỏi này.

Giáo Hội Chúa Kitô giữa dân của mình

Khi nói đến mối tương quan giữa Giáo Hội và xã hội tại Việt Nam, Đức Thánh Cha nhắc lại định hướng của Thư Chung 1980 : “Giáo Hội Chúa Kitô giữa dân của mình” (l’Eglise du Christ au milieu de son Peuple). Nếu xét theo từ ngữ, cụm từ mà Đức Thánh Cha dùng có chút thay đổi so với nguyên bản của Thư Chung 1980 vì Thư Chung nói đến việc “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”. Thiết nghĩ sự thay đổi này không tương phản mà chỉ muốn làm cho rõ hơn nội dung của Thư Chung 1980. Cụm từ “Giáo Hội Chúa Kitô giữa dân của mình” làm nổi bật chiều kích Giáo Hội. Chiều kích ấy trước hết hàm nghĩa cộng đoàn chứ không chỉ là cá nhân. Vấn đề không chỉ là mỗi cá nhân sống Phúc âm nhưng là tất cả Dân Chúa tại Việt Nam cùng sống Phúc âm trong tư cách là những chi thể của cùng một Thân Thể mầu nhiệm. Thứ đến, chiều kích Giáo Hội còn hàm nghĩa Dân Chúa tại Việt Nam sống Phúc âm trong mối hiệp thông với Giáo Hội phổ quát. Sẽ không có chuyện tự cho rằng mình sống Phúc âm nhưng lại không hiệp thông với Giáo Hội phổ quát, cụ thể là với Đấng kế vị thánh Phêrô. Cũng sẽ không có chuyện tự hào mình sống Phúc âm nhưng lại là thứ Phúc âm theo cách giải thích riêng của mình, bởi vì Phúc âm chỉ được sống và công bố cách chính thực trong mối hiệp thông với Huấn quyền của Giáo Hội. Đây là một trong những điều kiện căn bản để Giáo Hội tại Việt Nam thực sự là Giáo Hội của Chúa Kitô.

Sứ mạng đặc thù của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng Chúa Kitô. Tin Mừng đó là Tin Mừng Nước Trời, vương quốc của tình yêu và chân lý; do đó, khi loan báo Tin Mừng – bằng lời rao giảng và bằng đời sống – Giáo Hội góp phần không những vào việc phát triển những giá trị nhân văn và tinh thần của người dân Việt Nam, mà còn góp phần cho sự phát triển vững bền của đất nước nữa, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi những giá trị đạo đức và truyền thống của dân tộc bị đe doạ trước làn sóng của chủ nghĩa thực dụng và hưởng thụ.

Khi loan báo Tin Mừng cho người dân Việt, Giáo Hội ý thức rõ ràng mối liên hệ với đời sống xã hội cũng như với cộng đồng chính trị, vì người dân Việt là những con người cụ thể đang sống trong môi trường xã hội cụ thể, dưới sự điều hành của một Chính quyền cụ thể. Nói về mối liên hệ này, Đức Thánh Cha khẳng định rõ ràng : Giáo Hội không hề có ý định thay thế Chính quyền dân sự và đòi hỏi quyền lực, nhưng chỉ muốn cộng tác nhằm xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng. Ngài cũng xác tín rằng sự cộng tác lành mạnh như thế là điều có thể thực hiện được, trên nền tảng đối thoại và tôn trọng lẫn nhau. Hiểu như thế, tôn giáo chân chính không bao giờ là mối nguy hiểm cho dân tộc và đất nước, vì tôn giáo chỉ nhằm mục đích giúp mỗi cá nhân thánh hoá bản thân, đồng thời qua những tổ chức và hoạt động của mình, tôn giáo phục vụ con người cách quảng đại và vô vị lợi.

Kết Luận

Vào cuối năm nay, 24.11.2009, Giáo Hội Việt Nam sẽ chính thức khai mạc Năm Thánh 2010, kỷ niệm 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam. Chắc chắn những chỉ dẫn mục vụ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI sẽ được cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam quan tâm đặc biệt, để cùng nhau sống chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội, phát huy sự hiệp thông trong Giáo Hội, và hăng say thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời cho đồng bào của mình trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Rôma, Lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ 2009,

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Ban Thư ký HĐGMVN

Tâm sự của một bà nội trợ Việt Nam nói về hàng... Trung Quốc

- Không phải kỳ thị hàng Trung Quốc nhưng tôi thấy rõ ràng là tính về kinh tế, sử dụng các sản phẩm của Việt Nam hơn đứt sản phẩm của nước bạn. Hơn nữa, có một điều tôi phải đắn đo khi mua hàng Trung Quốc, chính là lòng tự tôn dân tộc.

Là người nội trợ trong gia đình, tôi thường xuyên phải mua sắm tất tần tật mọi thứ từ cái kim sợi chỉ, quần áo, giày dép cho đến cái phích nước, cái quạt điện... để sử dụng trong nhà. Tuy nhiên, tôi không biết các bà nội trợ khác nghĩ gì, riêng bản thân tôi thường tâm niệm một điều là “bất đắc dĩ lắm mới phải mua hàng Trung Quốc”.

Không phải là tôi có tâm lý kì thị gì hàng hoá của Trung Quốc, nhưng có 3 lý do khiến tôi có suy nghĩ như vậy.

Thứ nhất là trước đây đã không ít lần tôi mua phải hàng Trung Quốc chất lượng kém, nhanh hỏng hóc, tiền mất mà của cũng sớm ra đi.

Thứ hai là thời gian gần đây tôi đã đọc được nhiều thông tin về tình trạng kém chất lượng, thậm chí độc hại của một số sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc như tình trạng sữa bột nhiễm melamine, quần áo, đồ dùng trẻ em Quảng Đông chứa hoá chất độc, hoa quả Trung Quốc có chứa chất bảo quản…

Và một điều nữa khiến tôi phải đắn đo khi rút ví tiền mua hàng Trung Quốc đó chính là vì lòng tự tôn dân tộc. Dường như tận trong đáy lòng tôi vẫn cảm thấy áy náy khi mua hàng ngoại mà thờ ơ với hàng sản xuất trong nước.

Rủi ro vì hàng không nguồn gốc

Thỉnh thoảng tôi có đọc một số bài báo hoặc thông tin ca ngợi chất lượng hàng Trung Quốc và than phiền về chất lượng hàng Việt Nam . Bài báo “Tìm mua hàng Việt Nam sao khó quá” của tác giả Lê Đức Tấn đăng trên VietNamNet ngày 27/06/2009 là một ví dụ.

Trong bài báo này tác giả viết: “Nhìn sản phẩm của họ, tôi phải thán phục, mẫu mã đa dạng và rất đẹp, giá rẻ, rất phù hợp với túi tiền của người dân. Nhìn sang bát sứ Hải Dương, tôi thấy chán vô cùng, mẫu mã thì ít, hình thức thì thô và khô khan không muốn nhìn”.

Tôi thấy những điều mà tác giả Lê Đức Tấn cũng như các tác giả khác đề cập có phần đúng nhưng chưa đủ, chưa hoàn toàn chính xác và có cả phần “oan uổng”. Bởi lẽ hàng Việt Nam cũng có những sản phẩm đáng để người tiêu dùng để mắt đến lắm chứ thay vì cứ nhăm nhăm vào hàng hoá Trung Quốc.

Quạt Trung Quốc lấn át quạt Việt Nam trên thị trường.

Chẳng hạn khi đi mua phích đựng nước nóng, bà bán hàng giới thiệu cho tôi phích nước của Trung Quốc với giá khoảng 50 nghìn đồng một chiếc, trong khi đó phích nước Rạng Đông của Việt Nam là 60 nghìn đồng.

Hai sản phẩm giá cả chênh lệch nhau chút ít, mẫu mã cũng tương đương nhau, đương nhiên là tôi chọn sản phẩm của Rạng Đông vì dù sao nó cũng là sản phẩm uy tín lâu năm ở trong nước, còn hơn là mua sản phẩm ở tận đâu mà mình không hay biết gì về nguồn gốc.

Hoặc khi đến cửa hàng quần áo để mua quần áo cho con, tôi luôn luôn cảm thấy hài lòng với những sản phẩm của Dệt kim Đông Xuân, Hanosimex và các nhà sản xuất khác trong nước, chất lượng, mẫu mã của những sản phẩm này cũng khá tốt mà giá cả cũng rất hợp lý.

Trước đây có nhiều lần cũng chỉ vì hoa mắt trước mẫu mã và ham giá rẻ hàng Trung Quốc mà tôi đã “dính” phải hàng rởm kém chất lượng. Tôi nhớ mãi cái lần mình đi mua quạt điện. Lúc ở nhà ra đi tôi đã dự định mua chiếc quạt Điện cơ Thống Nhất. Nhưng khi đến cửa hàng bán quạt, thấy người bán hàng cứ giới thiệu những chiếc quạt của Trung Quốc đủ kiểu dáng rất bắt mắt, giá cả lại rất mềm, thế là tôi xiêu lòng và ẵm ngay một chiếc quạt cây hàng Trung Quốc về nhà.

Dùng chiếc quạt được vài hôm thì bỗng nhiên thấy nó cứ kêu long sòng sọc rồi ngừng quay. Vậy là tôi đành phải đi tìm thợ sửa quạt. Sửa được vài hôm quạt lại hỏng. Tôi đành bấm bụng vứt xó chiếc quạt, vậy là mất cả chì lẫn chài vì tham đẹp, tham rẻ. Từ đó nếu định mua quạt điện tôi cứ nhắm sản phẩm “cây nhà lá vườn” Điện cơ Thống Nhất Vinawind mà dùng, nhất quyết không ngó ngàng đến mấy cái quạt không rõ nguồn gốc xuất xứ kia nữa.

Hay đơn giản như khi đi mua chiếc màn chụp cho bé, tôi cũng được bà bán hàng quen biết giới thiệu, có hai loại màn chụp của Trung Quốc và của Việt Nam. Mẫu mã, chất lượng hai loại này thì tương đương nhau nhưng sản phẩm của Trung Quốc rẻ hơn gần 10 nghìn (khoảng 30 nghìn), tôi bèn chọn sản phẩm của Trung Quốc.

Chiếc màn chụp đó khi mang về nhà tôi sử dụng rất cẩn thận cũng chỉ được 2 tháng là hỏng gọng, rách vải. Vậy là tôi lại phải đi ra cửa hàng mua một chiếc màn chụp khác của Việt Nam, chiếc màn này giá đắt hơn chiếc màn hàng Trung Quốc một chút (khoảng gần 40 nghìn) nhưng tôi đã sử dụng nó được tròn năm mà vẫn còn tốt nguyên, chưa phải mất tiền lo thay cái khác.

Từ những kinh nghiệm nhớ đời trên, tự nhiên tôi cảm thấy cần phải thận trọng với hàng hoá có chữ Made in China. Ngay cả sản phẩm bát đũa Trung Quốc được tác giả Lê Đức Tấn ngợi khen tôi cũng cảm thấy có vấn đề. Có lẽ sản phẩm tác giả đề cập đến ở đây là hàng bát đũa Trung Quốc cao cấp có chất lượng tốt.

Tôi được biết bát đĩa hàng Trung Quốc loại bình dân thường chỉ dùng được một thời gian ngắn, ban đầu màu sắc còn bắt mắt, về sau các sản phẩm này phai hết màu và trầy xước, hình thức xuống cấp rất nhanh. Ngoài ra, bát đĩa hàng Trung Quốc loại này có vẻ khá giòn nên chỉ cần va đập nhẹ là bị mẻ, bị vỡ.

Dùng sản phẩm chén bát của Bát Tràng hay Hải Dương tuy mẫu mã không phong phú bắt mắt bằng hàng Trung Quốc, giá cả lại có phần cao hơn chút ít nhưng lại rất bền. Nếu tính về kinh tế thì rõ ràng là sử dụng các sản phẩm trong nước hơn đứt sản phẩm của Trung Quốc. Hơn nữa, với tôi, khi cầm chiếc bát đôi đũa được nặn nên từ hòn đất, cái cây của quê nhà, bữa cơm gia đình dường như ấm cúng, ngon lành hơn.

Hàng Việt Nam, hàng Trung Quốc hay hàng bất cứ quốc gia nào cũng có cái hay, cái dở riêng của nó. Tuy nhiên, là người Việt Nam sống trên đất Việt Nam, tôi vẫn muốn dùng hàng nội, do chính người lao động Việt Nam sản xuất ngay trên đất nước mình.

Và tôi luôn luôn mong muốn là hàng Việt Nam sẽ cải tiến chất lượng để “người Việt dùng hàng Việt”, như báo chí vẫn kêu gọi hằng ngày.

  • Thanh Mai

Chuột Cộng Sản



LTS: Chúng tôi nhận được bài viết sau đây của một độc giả nhân định về Chủ thuyết Cộng Sản và những hậu quả của nó từ khi xâm nhập bào Việt Nam. Đây là bài viết trình bầy quan điểm riêng của bạn đọc Vũ Minh Tâm. chúng tôi cho đăng lên mạng lưới để chia sẻ và rộng đường dư luận. Bài viết như sau:

Thế giới hiện nay đang phải đối mặt với một nạn dịch vô cùng khủng khiếp, đó là dịch Cúm A H1N1. Đây là một loại Virus cúm có nguồn gốc từ loài heo, nên còn được gọi là Cúm Heo. Loại Virus này có khả năng phát tán một cách kinh khủng, và sức phá huỷ của nó đối với tế bào con người là vô cùng khốc liệt. Nếu loại dịch cúm này bùng phát trên toàn thế giới thì nó sẽ cướp đi ít nhất là vài triệu sinh mạng chứ không phải ít. Tuy nhiên, có một điều khiến nhân loại bớt đi được một phần sự hoang mang và lo lắng đối với loại Virus này, đó là việc người ta đã nhận diện được nó và đã chế ra được các thứ thuốc kháng sinh để phòng ngừa cũng như để tiêu diệt chúng.

Ơ Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y Tế, thì người ta mới chỉ phát hiện ra có trên tám chục trường hợp dương tính với Cúm A H1N1 mà thôi. Con số trên tám chục trường hợp này dĩ nhiên là có gây lo lắng nhưng ở mức độ chưa đến nỗi nào.

Cách đây không lâu, báo chí Việt nam đã gây xôn xao dư luận về việc Hải Quan Việt Nam đã dễ dàng cho nhập khẩu một loại Chuột cảnh mà chưa tìm hiểu kỹ về sinh hoạt, về khả năng mang mầm bệnh cũng như về khả năng phá hoại của chúng. Biết đâu việc nhập khẩu loài động vật gậm nhấm này lại mang đến cho nhà nông Việt Nam một đại hoạ giống như khi người ta nhập khẩu Ốc Bươu Vàng hay nhập khẩu cây Mai Dương cách đây một ít năm thì sao?

Có lẽ người Việt Nam đã quá dễ dãi hay đã quá ngây thơ khi cho nhập khẩu vào nước mình một loạt những giống vật nuôi cây trồng chẳng những chẳng mang lại lợi ích gì cho quốc gia, mà còn gây tai hoạ cho đất nước nữa là đàng khác.

Và cũng có lẽ vì sự dễ dãi và ngây thơ như vậy, nên cách nay khoảng tám chục năm, người ta đã cho nhập khẩu vào Việt Nam một loài động vật gậm nhấm mà thoạt nhìn người ta tưởng đâu là chuột cảnh, nhưng qua một thời gian chứng nghiệm người ta mới phát giác ra rằng, đó là một loài gậm nhấm vô cùng nguy hiểm. Và loài động vật gậm nhấm nguy hiểm đó không phải là cái gì khác mà là chính chủ nghĩa cộng sản.

Sở dĩ gọi cộng sản là một loài động vật gậm nhấm là bởi vì cách thức sinh hoạt và khả năng phá hoại cũng như khả năng mang mầm bệnh của chúng giống hệt như loài chuột vậy.

Để có khả năng ngăn chặn, phòng ngừa và tiêu diệt được Virus Cúm A H1N1 thì trước tiên người ta phải nhận diện được chúng và phải chế ra được các thứ thuốc nhằm tiêu diệt chúng. Cũng vậy, để có khả năng ngăn chặn và tiêu diệt được một loại động vật nguy hiểm như loài chuột chẳng hạn, thì trước tiên người ta cũng phải nhận diện được chúng cũng như phải tìm ra được các phương thức để tiêu diệt chúng.

NHẬN DIỆN CHUỘT CỘNG SẢN:

Chuột, trước tiên là một loại động vật thuộc họ gậm nhấm. Đặc trưng của loài động vật này là có các răng cửa rất sắc và cứng, dùng để gặm nhấm gỗ, thức ăn, cắn kẻ thù, ăn và tàn phá các kho dự trữ lương thực của loài người, phá hoại cây trồng, đặc biệt là cây trồng của nhà nông; là nguồn gốc đưa đến việc lan truyền các dịch bệnh; thường sống ở những khu ẩm ướt, rác rưởi, sình lầy, cống rãnh, tối tăm. ..; và thường đi ăn và cắn phá vào ban đêm nhằm lúc con người đã đi ngủ.

Trong số 2.277 loài động vật gặm nhấm (theo cuốn Mammal Species of the World), thì loài chuột là loài phổ biến nhất, ta có thể bắt gặp chuùng ở bất cứ nơi ñaâu trên thế giới; là loài gặm nhấm con người ghét nhất, đến nỗi gặp đâu là người ta đánh đấy hoặc đuổi như đuổi tà. Nói về Chuột thì cũng có nhiều loại, chẳng hạn như: chuột nhắt, chuột chù, chuột chũi, chuột cống, chuột đồng, chuột nhảy, chuột lang, chuột hôi v.v. Và vì là loài gặm nhấm, nên chúng cũng có các đặc tính như: ăn tàn phá hoại, là nguồn gốc lây truyền dịch bệnh và thường hoạt động, cắn phá vào ban đêm.

Ở Việt Nam, từ khi bên Trung Quốc ban hành chính sách thâm độc “mua mèo”, đã xuất hiện “nạn chuột” hay còn được gọi là “giặc chuột”, gây ra bao nhiêu đại họa cho con người. Chuột một mình “một sân” mặc sức tung hoành phá hoại vì chẳng còn chú mèo/địch thủ nào mà sợ.

Tóm lại, khi nói tới chuột, người ta thường nghĩ tới một loài động vật gậm nhấm thật đáng gét, cần phải diệt trừ bao nhiêu có thể.

Tuy nhiên, ở Việt Nam cách đây gần 80 năm, người ta đã ngây thơ rước về một loại chuột mà thoạt nhìn người ta tưởng đâu đó là chuột cảnh, nhưng khi chứng nghiệm rồi thì người ta mới biết đó là một loài chuột “quái thai dị dạng” mặt người dạ quỷ, có sức ăn tàn, phá hoại ghê gớm chưa từng thấy; đặc biệt khi không còn “mèo”, loài chuột này một mình một địa vực thoải mái đục phá không còn sợ ai; phá hoại cả đêm lẫn ngày; phá hoại một cách ngang nhiên, trắng trợn, đó là lũ chuột CS/giặc CS.

Như đã nói ở trên, sở dĩ gọi CS là lũ chuột là vì chúng cũng có những đặc tính giống hệt nhứ các đặc tính của loài chuột vậy, tức là cũng sống chui rúc nơi những khu vực tối tăm, ẩm thấp, hôi thối; là nguồn lây lan dịch bệnh; và ăn tàn phá hoại chưa từng thấy ở loài gặm nhấm nào.

Chui rúc

Cũng giống như các loài chuột khác, chủ nghĩa CS khi vào Việt Nam, nó không thể sống đàng hoàng quang minh chính đại giữa thanh thiên bạch nhật, mà phải sống sống chui lủi, thoắt ẩn, thoắt hiện. Rừng rú, đầm lầy, cống rãnh, nhà vệ sinh công cộng v.v. là những nơi mà CS thường trú ngụ và ẩn nấp. Đêm về, CS bổ ra đường đi cắn phá, chiêu này chúng gọi là “đánh du kích”, chiến lược “cài răng lược”, hoặc đôi khi chúng “cắn quái” chúng gọi là “cảm tử quân”, trượt chân bị tai nạn chúng gọi là “lấy thân mình chèn bánh pháo” hoặc “lấy thân mình lấp lỗ châu mai”…

Đó là chuyện cách đây 34 năm rồi. Còn hiện nay, mặc dù dưới ánh sáng văn minh của nhân loại, nhưng bản chất chui lủi, rúc rỉa của CS vẫn không hề thay đổi, có chăng chỉ là thay đổi về hình thức để phù hợp với cách thức chui rúc kiểu mới mà thôi. Chúng chui rúc ngụy trang dưới bình phong “độc lập dân tộc”; dưới lớp vỏ dân chủ “của dân, do dân và vì dân”; “núp bóng cái chân, cái thiện, cái chính trực để tung hoành một cách hợp pháp như một lối sống đương nhiên mà ai cũng phải chịu đựng”(GS Nguyễn Huệ Chi); dưới các lớp rừng luật pháp tự chúng “trồng” ra; dưới các lớp bằng cấp, học vị “giấy”, “tiến sĩ giấy”, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, “ông thánh” mà chúng tự phong cho nhau; trong những bộ com-lê, xe hơi, chuyên cơ, biệt thự/khu nghỉ mát sang trọng; dưới lớp vỏ “những kẻ đạo mạo, ăn mặc vào loại tươm tất, nhiều kẻ không thiếu những từ văn hoa khi nói với người khác, chúng luôn luôn cho mọi người cảm giác đang cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp… Chúng toàn chén những thứ thơm tho, béo bổ, quý hiếm... thuộc hàng cao lương mỹ vị…” (Ta Duy Anh)(1). Chúng núp dưới những kế hoạch/dự án quy hoạch, mở rộng, đập cũ, xây mới v.v. để đục rỗng xương tủy của dân tộc. Chúng còn núp dưới bóng ô lọng của nhau, che chắn cho nhau đục khoét phá hoại. Nguy hiểm nhất là chúng núp dưới bóng “anh hai” Tàu cộng để tồn tại. Chúng tìm cách hiến đất hiến biển hiến đảo, hiến Tây Nguyên và tiến tới hiến cả đất nước này, dân tộc này cho lũ “anh hai”/chuột cống có cùng nòi giống giống như chúng, cốt sao lũ “anh hai” này chấp nhận làm “quan thầy” cho chúng để chúng có thể “tựa đầu” vào “anh hai” mà tồn tại và mặc sức ăn tàn phá hoại.

Bản chất chui rúc này của lũ CS sẽ không bao giờ thay đổi! Hơn nữa chúng cũng không bao giờ muốn thay đổi, vì khi thay đổi, bản chất xấu xa, đê tiện, ác quỷ… của chúng sẽ lộ nguyên hình, chúng sẽ không thể lừa dối được ai nữa và như vậy chúng chỉ còn con đường chết hoặc “tự sát”(2). Bao lâu chúng còn chui rúc được, bấy lâu CS còn có thể tồn tại.

Nguồn lây lan dịch bệnh

Bên cạnh đặc điểm và “tài” sống chui rúc nói trên, CS còn là nguồn lây lan của các loại dịch bệnh, mà toàn những loại dịch bệnh kinh khủng. Hơn nữa, mỗi một con chuột CS lại chính là một con “virus” có hình người. Vì thế, thật khốn cho dân tộc nào gặp phải dịch bệnh từ lũ chuột CS, như Việt Nam chẳng hạn!

Ngay từ khi loài chuột này xuất hiện ở Việt Nam, nó đã mang đến cho dân tộc Việt Nam một đại dịch có sức tàn phá nặng nề, cướp đi hàng triệu sinh mạng của người dân. Dân tộc Việt Nam từ lúc hình thành đến nay chưa bao giờ gặp phải một đại dịch lớn, hung ác và có sức hủy diệt như vậy. Dịch bệnh này có tên là Mác-Lê, có người còn gọi là “tà dịch/ôn dịch CS”.

Tà dịch này, nhờ lũ chuột CS, nó lây lan một cách khủng khiếp ở Việt Nam. Có những “đợt” dịch lên đỉnh điểm, điển hình là vào năm 1954-1956. Đợt dịch này có tên là “Cải cách ruộng đất” đã cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng vô tội (Cộng sản tổ chức những cuộc đấu tố kéo dài từ năm 1954 đến năm 1956 mà thành phần bị đấu tố là: "Tri, Phú, Địa, Hào, tôn giáo lưu manh" trong hai năm đấu tố Cộng sản đã giết 700.000 người dân vô tội)(3). Tiếp theo đợt dịch này, một đợt dịch điển hình khác, kéo dài hơn ¼ thế kỷ, mãi tận đến ngày “quốc nhục” 30/04/1975 mới tạm lắng xuống. Đợt dịch này có tên là “nồi da nấu thịt” (cũng có người gọi đợt dịch này là “nội chiến”). Đợt dịch bệnh này đã cướp đi hằng triệu sinh mạng của người dân từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, từ biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa đến vùng núi, nông thôn hẻo lánh. Bầu khí tang tóc, đau thương tràn ngaäp khắp cõi Việt Nam; đâu đâu cũng gặp những cảnh mẹ mất con, con mất cha, vợ mất chồng, em mất anh… Thật thê lương!

Tà dịch CS ở VN đã cướp đi 1.670.000 (4) mạng người, chưa kể đến hàng triệu con người khác ñaõ trở nên thương tật suốt đời cộng với những di chứng không thể khắc phục được để lại cho các thế hệ sau, và hằng hà sa số người dân “rơi” vào cảnh tù đày một cách vô cớ, không hề có xét xử, điều tra.

Tà dịch này gây khủng khiếp đến nỗi mà sử gia Rudolph J. Rummel đã phải thốt lên trong sách "Death by Government" rằng: “Tội ác CS đã gây ra những con số chết chóc khủng khiếp cho chính dân chúng của họ, có lẽ chỉ có ác thú mới làm được”. Đúng vậy, chỉ có cụm từ “ác thú” mới có thể diễn tả được nổi bản chất độc ác của cs khi chúng gây ra những sự chết chóc cho dân lành !

Mặc dù trung tâm “ổ dịch”, nguồn gốc của sự phát sinh và lây lan đã bị nhân loại tiêu diệt cách đây 20 năm rồi (thế giới giờ đây chỉ còn một việc là chữa lành những vết thương do đại dịch này gây ra mà thôi), nhưng loại dịch bệnh này laïi vẫn còn đang hoành hành một cách mạnh mẽ ở Việt Nam; những xú khí, tà khí của tà dịch này vẫn đang trào ra ở dải đất hình S của 87 triệu người Việt này.

Một trong những lý do làm cho loaïi dịch bệnh này vẫn còn tồn tại dai dẳng ở Việt Nam maõi cho đến nay, đó là vì loài dịch bệnh này gồm những con virus/con chuột có hình người và có cách biến hóa khôn lường. Hãy lắng nghe một con chuột/virus CS nói với đồng bọn rằng “…phải không ngừng tiến hóa về mặt tư duy lẫn thủ đoạn để sống sót mà vươn lên trong bất cứ hoàn cảnh nào; phải luôn uyển chuyển và linh động để sẵn sàng thay máu đổi màu khi cần thiết…phải thiên biến vạn hóa, ranh ma tàn độc đủ cả… và đặc biệt phải biết dùng hình nộm kết hợp với thủ đoạn đấu bò tót kiểu Tây Ban Nha để thu hút ám khí và sừng bò của đối thủ” (Nguyễn Tâm Bảo) (5). Mặc dù thay da đổi thịt, nhưng bản chất phá hoại, nguy hiểm của những con virus/lũ chuột này không hề thay đổi. Ñuùng nhö lôøi nhaän xeùt raèng: “Khi không còn sự hậu thuẫn của thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa, con thú dữ đã bị bẻ nanh vuốt, con Kỳ Nhông đã phải đổi mầu để tồn tại và thích nghi với môi trường mới, nhưng bản chất của nó vẫn không thay đổi” (Vương Định) (6).

Như vậy, nhờ biết cách biến hóa, thay da đổi thịt khôn lường, mọc đuôi, thêm cánh, loại virus của dịch bệnh này càng có thể sống dai hơn, khôn ranh hơn. Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi về tên gọi của loại dịch bệnh này. Trước đây nó được gọi là “Mac-Lê”, sau này nó mọc thêm đuôi, thêm cánh trở thành cái tên quái thai, dị dạng, hổ lốn đúng như chính bản chất của nó, là “Mác-Lê-Mao-tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Mặc dù ôn dịch CS hiện nay không gây chết người ngay lập tức, nhưng nó đang làm tê liệt con người; làm cho con người mất sức phản kháng, đấu tranh; truyền nọc độc cho con người bằng hình thức giáo dục, tuyên truyền “nhồi sọ” một chiều; độc đoán, khống chế con người, làm cho con người mất ý thức hoặc mơ hồ về quyền làm người của chính mình. Cứ như vậy, loại ôn dịch CS vẫn còn tiếp tục kéo dài maõi, vaø CS vẫn còn sống nhăn ra ñaáy, cöù tieáp tuïc phaù hoaïi maõi.

Phá hoại

Chuột là một loại động vật có khả năng sinh sản ở mức khủng khiếp. Nếu không bị tiêu diệt thì chỉ cần một thời gian ngắn thôi, từ một cặp chuột bố mẹ có thể sản sinh ra hàng triệu con chuột. Chính sự sinh sôi nảy nở với mức kinh khủng như vậy mà sự phá hại của chúng trở nên nguy hiểm hơn bất cứ mọi loài động vật nào. Với chuột CS thì từ khi được nhập khẩu vào Việt Nam tới nay, nó đã sinh sôi nảy nở được tới gần 4 triệu con với đủ các loại: chuột nhắt, chuột chù, chuột chũi, chuột cống, chuột đồng, chuột nhảy, chuột lang, chuột hôi…; chuột ông chuột bà, chuột cha chuột con, chuột cháu chuột chắt v.v., và mặc sức phá hoại. Đặc biệt, như đã nói ở trên, khi lũ chuột này không còn “mèo” trong địa hạt của chúng (khi chúng đã cướp được quyền lực với lực lượng quân đội, cảnh sát hùng hậu), chúng không còn đối thủ nào nữa, không còn sợ ai nữa, một mình một sân, thì chúng mặc sức ra tay vơ vét của cải, phá hoại dân tộc, đất nước, đưa dân tộc đi từ thảm họa này đến thảm họa khác.

- Phá hoại nền đạo đức

Nói đến sự phá hoại của lũ CS ở Việt Nam thì đầu tiên phải kể đến sự phá hoại của nó về nền đạo đức xã hội. Loài chuột thông thường thì không thể cắn phá những cái gì phi vật chất, phi vật thể, ấy vậy mà lũ chuột CS lại có thể phá hoại được những điều đó như tôn giáo, đạo đức, văn hóa…. Đây cũng chính là điều nguy hiểm nhất của lũ chuột CS.

Ngay từ ban đầu khi vào Việt Nam, lũ chuột CS đã tìm đủ mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt tiêu những gì được coi là chuẩn mực đạo đức, truyền thống dân tộc, văn hóa kết tinh từ ngàn đời, đặc biệt là các tôn giáo để nó gieo rắc và thay thế bằng một thói “đạo đức” mới mà chúng gọi bằng một cái tên nghe coù veû raát mỹ miều là “đạo đức cách mạng” - đạo đức của kẻ cướp! và một thứ ý thức hệ - tôn giáo tôn thờ bạo lực trong đó giáo chủ của chúng là những kẻ giết người, khát máu, thèm khát quyền lực, hòng nô dịch con người về mặt tư tưởng. Thậm chí khi cướp được chính quyền, chúng còn ngông cuồng bắt cả thần, thánh phải nghe theo nó: “…Khi đã thâu tóm được quyền bính, bắt tất thảy mọi người mọi tầng lớp xã hội phải qui phục Đảng. Chưa vừa lòng, họ đang toan tính bắt cả thần Phật, thánh chúa phải trong vòng cương tỏa của kẻ độc tài...” (Vương Định).

Lũ chuột CS hiểu hơn ai hết rằng muốn phá bỏ được truyền thống đạo đức, văn hóa, thì phải phá bỏ được tôn giáo vì tôn giáo là sự kết tinh của dân tộc, gồm cả những giá trị văn hóa và đạo đức, trong đó đạo đức được đặt lên hàng đầu ở bất kỳ tôn giáo nào. “Tôn giáo là nền tảng tư tưởng cho một xã hội đi theo hướng phát triển có tính tích cực, tôn giáo đem lại cho xã hội sự yên lành hạnh phúc và những giá trị về đạo đức, hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mĩ. Thượng tôn đạo lý chính nghĩa…tôn giáo là tài sản vô giá của xã hội, của dân tộc…” (Như Hà) (7). Cho nên 70 năm qua, lũ chuột CS ở Việt Nam đã ra sức cắn phá điên cuồng tôn giáo bằng mọi hình thức và thủ đoạn. Hậu quả là làm cho xã hội Việt Nam có một lỗ hổng lớn về tôn giáo, đạo lý, giá trị đạo đức bị đảo lộn, con người trong xã hội mất phương hướng, không biết đâu là chuẩn mực đạo đức, đạo đức bị xuống cấp trầm trọng, mạnh ai nấy sống; con người chà đạp, dối trá, chém giết nhau mà sống; con người tôn thờ bạo lực, đồng tiền, sống thác loạn, “khiến hiện nay VN như là một vùng đất chết, đen tối đầy tệ nạn, đạo đức nhân bản đã mất hết, cái dư âm của “cải cách ruộng đất”, hệ thống “công an trị” đã khiến hiện nay, từ gia đình ra đến xã hội, tất cả chỉ là nhòm ngó lẫn nhau, sẳn sàng tố cáo chà đạp lên nhau, tham nhũng để sinh tồn, thậm chí đụng đâu lừa đó kể cả người thân họ hàng hay bạn bè. ..” (Nhất Thanh) (8). Trên các trang báo ngày nào cũng có những tin như: mẹ ném con xuống sông, bố giết con, ông giết cháu, con giết bố giết mẹ, giết người cướp của, tống tiền, hiếp dâm, mại dâm, hút chích, cờ bạc... Đặc biệt tình trạng nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động cao nhất, nhất là ở lứa tuổi vị thành niên: “… mỗi năm toàn quốc có 1,2 - 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi VTN, và là một trong ba nước có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới” (9).

Sự tha hóa đạo đức đã trở nên nghiêm trọng đến mức mà GS Nguyễn Huệ Chi đã phải thốt lên rằng: “…người ta đã quá quen với kiểu hành xử dung dưỡng cho cái ác, cái tham, cái dối trá, cái bợ đỡ, cái hèn hạ…sự khủng hoảng đạo đức trong xã hội chúng ta đã vượt khỏi cái ngưỡng mà như một quy ước vô ngôn, mọi xã hội văn minh không bao giờ cho phép vượt. Hãy cứ nhìn vào nhiều ngõ ngách của đời sống, bất cứ vùng miền nào cũng diễn ra như cơm bữa những chuyện nhức nhối mà lý trí thông thường không thể giải thích, đôi khi có cả những chuyện tưởng chừng đã chạm đến bản năng sinh tồn nó phân biệt con vật với con người” (10).

Không một dân tộc nào, một quốc gia nào có thể đứng vững và phát triển được khi đạo đức bị suy đồi, luân lý bị chối bỏ, niềm tin bị chà đạp và bị thay vào đó bằng sự vô luân, vô thần, gian dối, bạo lực; chân lý thuộc về kẻ mạnh, kẻ ác, kẻ man rợ. Một xã hội như thế là một xã hội đã chết và đang thối rữa, một xã hội như thế là một địa ngục kinh hoàng. Lũ CS đã đầu độc dân tộc này bao lâu thì cũng cần phải mất ngần ấy thời gian để tẩy rửa và khắc phục nó.

- Phá hoại văn hóa và lịch sử

Một trong những thủ đoạn để đánh phá tôn giáo của lũ CS là chúng đập phá, cướp bóc tài sản của nhà thờ, chùa chiền, miếu mạo, “... tượng Phật Bồ Tát bị đập phá, chùa lấy làm kho chứa lúa, chứa phân, làm chuồng heo, hoặc cày ủi lấy đất canh tác, các trung tâm văn hóa của giáo hội thì bị tịch thu…” (Huynh Trưởng GĐPT Hồ Tấn Anh). Kết quả là một loạt các nơi thừa tự/di tích văn hóa lịch sử của tiền nhân để lại đã bị lũ CS phá hoại.

Khi mở cửa ra bên ngoài với các dân tộc tiên tiến, dưới ánh sáng văn minh, tưởng rằng lũ CS sẽ biết từ bỏ bản chất phá hoại của mình, ngờ đâu lũ chuột vẫn là lũ chuột, lũ CS vẫn là lũ CS, chúng phá hoại với những thủ đoạn và mánh khóe mới, tinh vi hơn.

Dưới chiêu bài trùng tu các di tích văn hóa, chúng lập các dự án to, dự án nhỏ để tìm kiếm vàng bạc châu báu vì chúng nghĩ rằng ở dưới các di tích này được chôn nhiều vàng bạc châu báu và nhờ có dự án chúng có cớ đển ăn chia, tham ô, đục khoét. Có người xót xa nhận xét: “Chỉ vì đập đi xây lại được nhiều tiền, kiếm được nhiều tiền, nhiều người nhẫn tâm đập đi cái văn hóa Việt hàng trăm năm. Chua chát và đau xót khi nhìn thấy những nét cổ kính còn sót lại sau hai cuộc chiến tranh giờ lại bị những kẻ hám tiền và ngu dốt đập nốt”(11). Ngay cả những nơi được gọi là thánh thiêng nhất, ẩn khuất nơi rừng thiêng như “nơi vua Trần Nhân Tông vĩ đại đã tu, đã ngồi thiền và viên tịch như am Ngoạ Vân, chỗ nào cũng bị cạy bới, đào phá. Họ bới xá lỵ tìm vàng bạc, tìm chum choé cổ. Đập bia, móc từng mảng tường, đào cả nền móng những cái am mà Phật hoàng từng thiền (am Thiên Sơn Tử, Am Thiền Định). Ngựa đá cũng bị đập tan tành. Các mộ tháp bị khoét sâu như hầm lò, đường ngang ngõ tắt dưới lòng đất hun hút như... địa đạo. Tấm bia nổi tiếng do chúa Trịnh Căn cho dựng để kỷ niệm việc ông đưa các bậc vương hầu, công chúa lên chiêm bái nơi Phật hoàng viên tịch cũng bị đập phá thành hàng chục mảnh. Cả vườn mộ tháp bên rừng thông trước am, cách đây chục năm vẫn uy nghi một góc trời, giờ bị đào bới đổ hoàn toàn”(12). Cảnh đập phá các di tích đang diễn ra phổ biến ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam này. Thậm chí bất cứ di tích lịch sử nào cũng có thể bị đập phá, ngay cả “đền thờ Lý Chiêu Hoàng, người ta đang tâm đập phá tháo dỡ để "làm lại" thì kinh hoàng quá!” (13). Có những di tích lịch sử văn hóa chúng không đập phá ngay được, thì chúng lại làm cho biến dạng hay lấn chiếm. Ngay cả “đến tháp Hòa Phong và Tháp Bút ở bên cạnh Hồ Gươm cũng bị vạch khắc lên hàng trăm dòng chữ bẩn thỉu, hoặc như chùa Hàm Long bị lấn chiếm vô tội vạ mà chẳng một ai đoái hoài” (14).

Ai cũng có thể nhận thức được rằng các di tích/di sản văn hóa của tiền nhân để lại bản thân nó đã là một kho báu, tài sản vô giá. Tiền nhân không chỉ để lại cho một hoặc hai thế hệ, một hoặc hai triều đại, mà các ngài để lại cho muôn thế hệ con cháu. Đáng tiếc lũ CS đã phá hoại gần hết và vẫn tiếp tục phá hoại. Con cháu sẽ lấy gì để mà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn minh của dân tộc mình; thế hệ mai sau seõ lấy gì để tự hào về truyền thống lịch sử văn hóa bốn ngàn năm văn hiến, văn vật? Nếu chúng ta không lên tiếng, không có hành động ngăn chặn sự phá hoại của lũ CS, chúng ta sẽ thưa gì đây với liệt tổ liệt tông, chúng ta sẽ phải ăn nói như thế nào với thế hệ con cháu tương lai!?

- Phá hoại tài nguyên môi trường

Bên cạnh sự phá hoại các tài sản có tính văn hóa lịch sử của cha ông, lũ CS còn ăn tàn phá hoại tài nguyên mà cha ông đã mất bao xương máu để bảo vệ và duy trì nó.

Từ Bắc chí Nam, từ biển cả hải đảo xa xôi đến tây nguyên rừng núi, không một nơi nào lũ CS không đào bới lên. Có những nguồn tài nguyên tự bản thân chúng, chúng không thể đào bới được do ngu dốt, nhưng chúng cũng không tha, chuùng ñaõ đưa những lũ CS ở phương khác tôùi ñeå giúp chúng đào bới roài cùng ăn chia. (Điển hình gần đây nhất là chúng “rước” lũ CS Trung cộng vào đào bới bauxite ở Tây Nguyên) (15). Dẫn đến không những nguồn tài nguyên bị phá hoại, môi trường bị tàn phá, mà còn dẫn đến nguy cơ mất nước, tan nhà.

Còn nguồn tài nguyên nào nữa mà lũ CS không phá hoại!? Hậu quả của sự phá hoại của lũ CS này làm cho nguồn tài nguyên bị kiệt quệ. Còn đâu những rừng vàng biển bạc! Giờ chỉ còn những cánh rừng xơ xác với đồi trọc núi trơ là nguồn hiểm họa, tai ương, lũ lụt, hạn hán cho con người. Những dòng sông chết, biển chết mỗi ngày thêm dài, thêm rộng. Sự thật này đang hiển hiện và tác động đến từng hơi thở, thớ thịt của mỗi người dân đang sống trên mảnh đất hình chữ S này.

- Phá hoại nền kinh tế

Bên cạnh việc phá hoại tài nguyên môi trường, lũ CS còn phá hoại đất nước, dân tộc bằng việc đập nát cơ cấu kinh tế xã hội vốn đang phát triển theo hướng văn minh và quy luật lịch sử chung của nhân loại, đưa dân tộc trở về thời kỳ nguyên thủy lông lá.

Khi lũ CS đã cướp được chính quyền ở VN, chúng thực hiện chính sách bần cùng hóa và ngu dân để chúng dễ bề thống trị, bằng cách tiến hành phá hoại kinh tế xã hội và tiêu diệt trí thức có hệ thống. Điển hình là ở miền Bắc chúng tiến hành thực hiện chính sách đấu tố địa chủ với khẩu hiệu: “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc”. Thủ đoạn này của lũ CS không chỉ làm cho hàng trăm ngàn người chết oan, mà tạo ra một xã hội hỗn loạn, những người có khả năng làm ra của cải vật chất cho xã hội thì bị tận diệt, bị tước đoạt phương tiện sản xuất. Tiếp theo, lũ CS “lùa” cả dân tộc VN vào cái được gọi là “hợp tác xã” với mô hình “kinh tế tập thể”, “bao cấp” để chúng dễ bề thao túng, kiểm soát và thống trị. Kết quả của chính sách này laø đem cả dân tộc xuống vực thẳm của đói nghèo và tụt hậu. Còn ở miền Nam, sau khi cướp được, chúng tiến hành các cuộc thanh trừng và “tẩy não” tầng lớp tư sản, dẫn đến một loạt caùc nhà máy, cơ sở sản xuất bị đóng cửa, máy móc sản xuất trở thành những đống sắt vụn; thay vào đó, một loạt các nhà tù, trại cải tạo mọc lên. Những người biết làm ra của cải vật chất, biết làm kinh tế bị giết hại, tù đày, bị đưa đi “tẩy não” hoặc phải chạy trốn ra nước ngoài. Đến nay người đời vẫn còn ngâm những câu thơ như:

“Tất cả là tại vua Hùng!

Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên

Đứa khôn thì đi vượt biên

Những thằng ở lại toàn điên với khùng!”


Đến nay, tình trạng này vẫn còn tiếp tục diễn ra, nhưng ở một dạng thức mới. Nhiều người chạy trốn CS dưới hình thức du học, tu nghiệp ở nước ngoài và khi học xong thì tìm đủ mọi cách ở lại nước đó. Hiện tượng này hiện nay được gọi là “chảy máu chất xám”, và tình trạng chảy máu chất xám càng ngày càng nghiêm trọng.

Lũ CS ở VN chỉ biết giỏi dùng bạo lực, lừa đảo và phá hoại thôi, còn chuyện làm ăn kinh tế thì chúng không hề biết gì. Chúng phá hoại cơ cấu kinh tế cũ nhưng khi phá xong chúng không biết phải làm gì tiếp theo, nên chúng dùng cả dân tộc vào làm vật thí nghiệm, đưa dân tộc từ tai họa này đến tai họa khác và chúng rập khuôn một cách mù quáng các chính sách chết người của lũ cs ñaøn anh.

Tưởng rằng khi cái học thuyết khốn nạn chúng đang tôn thờ vaø theo đuổi bị nhân loại bỏ vào sọt rác lịch sử cách đây 20 năm rồi, thì chúng sẽ mở mắt ra trở về với con đường sáng; bắt tay, giao lưu và hội nhập với thế giới văn minh, tiến bộ, chúng sẽ “buông tha” cho dân tộc, nhưng ngờ đâu lũ CS ở VN vẫn không buông tha cho dân tộc VN, vẫn “kiên trì con đường XHCN”(16) với mô hình kinh tế quái thai dị dạng “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, giống như kiểu đi xe honda “vừa tăng ga, vừa đạp thaéng”, như vậy chỉ làm cho động cơ mau hỏng mà thôi. Sở dĩ nền kinh tế quái thai dị dạng không giống ai này vẫn còn thoi thóp sống như ngày này là do chúng vẫn còn được nuôi bởi ba nguồn tài chính khổng lồ đó là: tiền bán tài nguyên, tiền viện trợ/vay vốn từ các nước văn minh và nguồn kiều hối khổng lồ (17). Chỉ cần cắt một trong ba nguồn tài chính vừa nói trên thì nền kinh tế quái thai này sẽ tắc tử ngay lập tức (vừa qua chỉ cần một nhà tài trợ Nhật Bản bất ngờ tuyên bố tạm dừng viện trợ ODA cho đến khi nào Việt Nam có biện pháp hữu hiệu giảm trừ tệ nạn tham nhũng đã làm cho lũ CS ở Việt Nam hoảng sợ và bối rối. Một loạt các “ông to bà lớn” lần lượt sang Nhật Bản cúc cung “van xin”, hứa hẹn, cam kết này nọ…, hòng để được Nhật Bản nối lại viện trợ. “Vào lúc 17h30 chiều 23.2 tại Thủ đô Tokyo, sau cuộc hội đàm với Bộ trưởng Bộ KHĐT Việt Nam Võ Hồng Phúc, Ngoại trưởng Nhật Bản Nakasone đã chính thức tuyên bố việc Chính phủ Nhật Bản đã quyết định nối lại viện trợ ODA cho Chính phủ Việt Nam”(18). Lũ CS ở VN đón nhận sự kiện này như là một tin thắng trận, một đại tin mừng!)

Hậu quả của sự cố chấp và mù lòa của lũ CS áp đặt lên dân tộc Việt Nam nói trên là: mặc dù nhân loại đã bước vào năm thứ 10 của ngàn năm thứ III rồi, mà dân tộc Việt Nam vẫn tụt hậu, nghèo đói và loay hoay trong cái bị rách vá chằng chịt của lũ CS. Không cần so sánh đâu xa, chỉ cần so sánh với các dân tộc xung quanh thôi, ngöôøi ta thaáy họ đã bỏ xa dân tộc Việt Nam hàng thế kỷ (19).

- Phá hoại tương lai bằng nguồn vốn đi vay

Hơn nửa thế kỷ qua lũ CS đã phá hoại, đục khoét tận xương tủy đất nước, nhân dân; làm cho đất nước trở nên nghèo nàn, lạc hậu vào bậc nhất thế giới. Sự nghèo đói này đã khiến cho thế giới văn minh cảm thấy “thương hại” cho con dân đất Việt, họ đã giúp đỡ bằng cách cho vay những khoản vay ưu đãi: ODA.

Nguồn vốn này đáng lẽ phải được tận dụng tối đa phể xây dựng và phát triển đất nước và con người, nhưng đáng tiếc, với bản chất phá hoại, lũ CS ñaõ không “tha”, không trừ bất cứ một miếng mồi nào, đặc biệt là những miếng mồi ngon, nóng hổi, dễ xơi như nguồn vốn ODA từ các nước tư bản. Chúng tìm cách ăn chia, xâu xé, đục khoét và chiếm đoạt nguồn vốn này dưới mọi hình thức. Bản thân một tên CS, Tào Hữu Phùng (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và ngân sách của Quốc hội) cũng phải thốt lên rằng: Điều tôi cảm thấy đau xót nhất hiện nay là người ta xem vốn vay ODA như "của chùa” (20).

Lũ CS đang đục khoét nguồn vốn ODA là đang đưa dân tộc Việt Nam vào con đường nợ nần, đang chồng chất gánh nặng nợ nần lên vai các thế hệ tương lai. Vốn ODA không phải là vốn cho không, vốn từ thiện, mà là vốn vay. Mà đã vay thì phải trả, và phải trả cả gốc lẫn ngọn. Chính lũ CS cũng ý thức rất rõ về điều này: “trong khi đó chúng ta nên nhớ rằng đây là vốn vay ưu đãi, trong 5-10 năm nữa chúng ta sẽ phải lấy vốn ngân sách ra để trả và lúc đó nếu chúng ta không quản lý tốt điều này thì con, cháu chúng ta sẽ phải è lưng trả nợ” (Tào Hữu Phùng). Vaøo năm 2003 dân tộc Việt Nam đã nợ nước ngoài hơn 15 tỷ USD, đến năm 2005 con số nợ tăng lên 20 tỷ USD tương đương 40% tổng thu nhập quốc dân (21), đến nay con số này lên tới trên 30 tỷ USD. Số nợ nần này mỗi ngày một lớn dần. Tính bình quân, đến năm 2005 mỗi người Việt Nam trong độ tuổi lao động đang cõng trên lưng khoản nợ nước ngoài tương đương trên 40 USD (22) và hiện nay là 65 USD.

Ngoài những thứ lũ CS phá hoại vừa nêu trên, thử hỏi trên đời này, trên mảnh đất hình chữ S này còn cái gì mà lũ CS không phá hoại!? Rồi đây, những thế hệ con cháu tương lai khi chúng chưa kịp mở mắt chào đời, chuùng đã phải vác trên mình cái nợ nước ngoài do lũ CS vay về phá hoại. Các thế hệ tương lai này sẽ biết xoay sở như thế nào đây với đống nợ như núi mà lũ CS để lại với một đất nước hoang tàn đổ nát; nguồn tài nguyên bị khai phá không còn gì; rừng núi, sông ngòi, biển cả ô nhiễm trở thành vùng đất, vùng biển chết; với một nền kinh tế chắp vá; và một xã hội suy đồi về đạo đức!?

Như vậy, với những gì mà chúng ta vừa biết được về chuột cs, chúng ta thấy rằng, đây là một lũ chuột rất tinh ranh và nguy hiểm, cần phải có những hành động thiết thực đối với lũ chuột này.

PHÒNG VÀ DIỆT TRỪ CHUỘT CỘNG SẢN

Loại trừ lũ chuột, lũ giặc CS bằng cách nào là câu hỏi lớn đang làm nhức nhối đối với tất cả những ai yêu nước, yêu dân tộc; đối với những người không bị liệt kháng, ngộ độc; và cả đối với những người đã tỉnh mê sau khi bị lũ CS đầu độc, nhất là khi lũ giặc CS đã hủy hoại đất nước này, dân tộc này đến mức không còn thể hủy hoại hơn được nữa, làm tê liệt đến nỗi dường như không thể đứng lên được nữa. Để trả lời được câu hỏi trên thì những vẫn đề sau đây cần phải được thực hiện ngay bây giờ.

- Không được sợ hãi

Để có thể tiêu diệt được lũ chuột CS, trước tiên cá nhân của mỗi con người phải vượt lên trên sự sợ hãi của chính bản thân mình. Sự sợ hãi làm cho con người không dám phản kháng, chấp nhận tất cả, kể cả những điều tồi tệ nhất. Không phải bạo lực có thể giết chết con người mà chính sự sợ hãi của con người giết chết con người. Bà Aung San Suu Kyi, người được giải Nobel Hòa Bình năm 1991, đã nói một câu bất hủ: "Không phải cái Quyền hủy diệt con người, nhưng chính là cái Sợ". Đối với bà Aung San Suu Kyi, cái sợ mới là điều nguy hiểm nhất, vì nó làm cho con người chấp nhận tất cả những gì lẽ ra không thể chấp nhận. Nói cách khác, vì sợ, con người trở nên hèn. Ngược lại, khi không còn sợ, con người trở nên can đảm (23). Chính vì ý thức được sự quan trọng của can đảm, không sợ hãi, mà Đức Giáo hoàng Jean Paul II, khi vừa mới lên ngôi, trở về thăm Ba Lan, quê hương của Ngài đang đấu tranh chống lại cộng sản độc tài và sự hăm dọa của Liên Xô gửi quân sang đàn áp những nhà dân chủ ở Ba Lan, Ngài đã tuyên bố: “Hãy can đảm! Đừng sợ xệt! Hãy hy vọng!” (24). Câu nói này của ĐTC như một luồng sinh khí thổi tận đến tâm can sâu thẳm nhất của từng người dân Ba Lan, làm bùng lên sức mạnh của can đảm. Sự sợ hãi trước đây của người dân Ba Lan đã được thay bằng sự cam đảm. Chính nhờ điều này mà người dân Ba Lan quét sạch lũ CS và thành trì CS bị sụp đổ hoàn toàn cách đây 20 năm.

Hiện nay số lượng những người không còn sợ lũ CS ngày càng lớn mạnh. Điển hình gần đây nhất là Đức TGM Ngô Quang Kiệt, “vị giám mục đầu tiên cả gan chặt đứt sợi dây thừng vừa nói là đức cha Giu-se Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Hà Nội, qua việc phản bác cơ chế xin-cho…”(Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh). Ngài đã can đảm công khai đòi quyền làm người trước lũ quan chức CSVN đang lăm le ăn tươi nuối sống Ngài. Tiếp theo, là các Linh mục DCCTVN như LM Vũ Khởi Phụng, Lê Quang Uy, Nguyễn Văn Khải v.v. đã can đảm đòi công lý, sự thật; các luật sư Lê Trần Luật, Lê Công Định v.v đã can đảm làm chứng cho sự thật, loan báo sự thật; và hàng ngàn người công giáo bất chấp bạo lực, súng đạn, dùi cui, hơi cay, thủ đoạn của lũ CS đã lên đường đòi công lý. Và ngọn đèn đòi/tìm công lý này bắt đầu từ TKS lan tỏa đến Thái Hà rồi tiếp tục lan tỏa đến khắp chốn ở Việt Nam. Ngọn đèn này đang rực cháy sáng hơn bao giờ hết.

Chính điều này đã làm cho chính lũ CS phải lo sợ. Chúng ta càng can đảm bao nhiêu thì lũ CS lại sợ bấy nhiêu. Như vậy sự sợ hãi này của lũ CS sẽ là nấm mồ ñeå chôn chúng.

- Tẩy chay hệ thống tuyên truyền của lũ CS

Khi chúng ta đã rũ bỏ được nỗi sợ hãi chuột CS, chúng ta có đủ can đảm để đối diện vaø đương đầu với chúng, và chúng ta có thể tiêu diệt được chúng. Để tiêu diệt được lũ chuột CS, trước tiên chúng ta phải đề phòng những dịch bệnh nguy hiểm từ chúng. Con đường truyền nhiễm chủ yếu của lũ CS là thông qua sự tuyên truyền láo lếu, bịp bợm, nhồi sọ một chiều của chúng. Như vậy, để không bị truyền nhiễm thì chúng ta phải tránh xa sự tuyên truyền của chúng. Nói cách khác chúng ta phải đoạn tuyệt với hệ thống tuyên truyền tức là đài báo của chúng. Cụ thể là chúng ta phải tẩy chay “700 cơ quan báo chí in, gần 15.000 nhà báo được cấp thẻ, 68 đài phát thanh, truyền hình của trung ương, cấp tỉnh và đài truyền hình kỹ thuật số mặt đất, 80 báo điện tử và hàng nghìn trang tin điện tử trên mạng Internet, 55 nhà xuất bản” (theo báo cáo Nhân quyền của VN tại Hội đồng LHQ tại Geneva, Thụy Sỹ, 08/05/2009).

- Tìm kiếm sự thật và loan truyền sự thật

Với mạng lưới báo đài cùng với đội ngũ bồi bút của lũ cs hùng hậu nói trên đã giăng kín mít khắp dải đất hình chữ S này rồi, thêm vào nữa người dân vốn đã bị truyền nhiềm từ khi mới lọt lòng mẹ nên đã quen với cách thức truyền thông, giáo dục nhồi sọ một chiều này, thì làm sao có thể “tẩy chay” được!? Chỉ còn một cách có thể giải thoát, có thể tẩy chay được, đó là SỰ THẬT.

Sự thật sẽ phơi bày mọi tội ác, tâm địa đen tối, dơ bẩn, bán nước, hại dân của lũ CS. Một khi người dân thấy được điều này thì cho dù CS có mạng lưới báo đài với lũ bồi bút gấp hàng trăm lần như hiện nay thì người dân cũng không nghe và ngược lại càng làm cho người dân phỉ nhổ vào lũ CS, vào lũ bán miệng nuôi trôn.

Khi sự thật được tỏ hiện, thì cũng là ngày lũ CS bị tiêu diệt. Lê Sáng khẳng định rằng: “…cái việt gian cộng sản hôm nay sợ nhất là không kiểm soát, không bưng bít được tin tức sự thật. Cộng sản sống được là nhờ đủ thứ giả dối – Sự thực mà sáng tỏ nó sẽ kết liễu cộng sản, chẳng ai phải cầm súng bắn nó cả…” (25).

Vậy có thể tìm kiếm sự thật ở đâu, khi mà đâu đâu cũng thấy sự gian dối giăng đầy của lũ CS? Rất may, trong thời đại bùng nổ thông tin, với mạng thông tin toàn cầu internet vô cuøng hữu dụng, bức tường bưng bít thông tin của lũ CS dù có dầy đặc đến đâu, dù lũ CS ra sức ngăn chặn, che chắn đến đâu, cuõng đều có thể bị chọc thủng. Nếu ai muốn tìm kiếm sự thật về lũ CS, chỉ cần một cái click chuột thì chiếc mặt lạ của lũ CS bị lột ra, bản chất thực của lũ CS bị phơi bày ra trong từng trang viết.

Khi tìm kiếm được sự thật rồi, thì bản thân người ấy phải đi loan báo sự thật cho người khác hoặc phải chỉ cho người khác cách thức để tiếp cận sự thật. Nếu sự thật không được loan đi thì sự thật ấy có thể được gọi là “sự thật chết”, nó sẽ không tạo ra hiệu ứng cho xã hội, cộng đồng. Lũ CS sợ sự thật nhưng chúng không bao giờ sợ “sự thật chết”.

Vậy phải loan báo sự thật bằng cách nào? Có nhiều cách để loan báo. Trước tiên mỗi cá nhân phải ý thức được rằng mình phải có trách nhiệm loan báo sự thật cho người khác, sẵn sàng làm chứng cho sự thật trong mọi hoàn cảnh và loan báo sự thật bằng tất cả phương tiện trong mỗi hoàn cảnh cụ thể. Mọi người ở bất kỳ địa vị xã hội nào cũng có thể trở thành người loan báo sự thật. Một em học sinh có thể nói cho người bạn ngồi kế bên về sự thật; người cha có thể kể cho các con nghe về sự thật trong các bữa ăn, buổi nói chuyện thân mật của gia đình; người nông dân có thể kể sự thật cho người nông dân khác trên đường ra đồng làm việc của mình; trong cơ quan, đồng nghiệp này có thể giúp đồng nghiệp ngồi bên cạnh tìm và tiếp cận các trang website sự thật, gửi cho nhau những đường link…; các vị lãnh đạo tinh thần như các giám mục, các linh mục, các mục sư, các vị tăng sư. .. loan báo sự thật cho các tín đồ của mình, cho đồng đạo của mình; các nhà trí thức qua các diễn đàn có thể loan báo sự thật bằng các bài viết, bình luận…; các blogger có thể lưu truyền sự thật v.v. Cứ như vậy sự thật sẽ được loan đi vôùi cấp số nhân. Mỗi người phải tìm cho mình cách loan truyền sự thật phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của từng người.

Một ví dụ điển hình gần đây nhất trong việc loan báo sự thật đó là câu truyện của nhà giáo Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hạnh. Cô Hạnh đã tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại Học Đà Lạt và cô đã được mời dạy môn văn tại trường trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, tỉnh Quãng Nam theo chương trình thu hút nhân tài của tình Quãng Nam năm 2007. Thạc sĩ Bích Hạnh cho biết, cô khuyến khích học trò chuyên của mình bớt chơi game mà nên dành thời gian tìm kiếm tri thức trên mạng. Cô đã giới thiệu với học trò các website, chẳng hạn talawas, Hợp Lưu, Tiền Vệ (26). Trong từng bài học, tình huống cụ thể, cô Hạnh đã đưa các em học sinh của mình đến SỰ THẬT một cách nhẹ nhàng, khôn khéo và đấy sức thuyết phục. Ví dụ: “Sau giờ giảng dạy về tác phẩm “Hai Đứa Trẻ” của Thạch Lam, Bích Hạnh khuyên học trò nên tự nghiên cứu, tìm tòi thêm trên internet. Cô giáo thạc sĩ Bích Hạnh ân cần nói cho học trò biết trên mạng internet có nhiều tài liệu “rất thú vị” (chữ dùng của Bích Hạnh)… Tiếp tục đề cập tới những tin tức trên internet, Bích Hạnh cho học trò biết Cô có đọc một bài viết trên web mạng của giáo sư Lê Hữu Mục. Bài này chứng minh: Nhật ký trong tù không phải của ông Hồ. Một học trò của Bích Hạnh phản đối ý kiến vừa nêu với lời lẽ nguyên văn rằng: “Bác Hồ là thần tượng của cả dân tộc, tại sao lại có thông tin như vậy?” Bích Hạnh ôn tồn trả lời học trò: “ Cô tin sự thật, cái đẹp, chân lý luôn luôn tồn tại, cho dù ai đó có tìm cách phủ nhận”.

Ý kiến của cậu học trò về ông Hồ là ý kiến theo cảm tính, ý kiến của người có nhiều năm bị dạy dỗ bằng giáo dục nhồi sọ. Ý kiến của cô giáo là ý kiến của lý trí. Bích Hạnh nhấn mạnh: “Chân lý luôn luôn tồn tại dù ai đó tìm cách phủ nhận”. Dĩ nhiên “ai đó” ở đây là đảng CSVN chứ không là giáo sư Lê Hữu Mục. Vấn đề không là ông Hồ có phải là thần tượng của dân tộc Việt Nam hay không, vấn đề chính là ông Hồ có đích thực là tác giả của Nhật ký trong tù hay không? Chân lý mà cô Bích Hạnh muốn nói tới chính là chân lý rằng: Ông Hồ là người có biệt tài ăn trộm, ăn trộm tên, ăn trộm vợ, ăn trộm văn thơ và đặc biệt nhất là ăn trộm quyền hành của nhân dân”(Đỗ Thái Nhiên) (27).

Một ví dụ điển hình khác mang đầy tính thời sự và rất nóng bỏng hiện nay là vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ ngày 11/06/2009 đệ đơn khởi kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Đã ban hành trái pháp luật Quyết Định số 167/2007/QD- TTg ngày 01/11/2007 phê duyệt Quy hoạch phân dùng thăm dò, khai thác chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trong đơn khởi kiện này, LS Hà Vũ đã nêu ra rằng Quyết Định này của ông Dũng đã vi phạm ít nhất 4 luật: Luật bảo vệ môi trường, Luật quốc phòng, Luật di sản văn hóa và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (28).

Nếu Luật sư Hà Vũ viết bài tố cáo những sai phạm của ông Dũng nói trên thì Luật sư sẽ bị quy chụp vào tội vi phạm điều 88 bộ luật hình sự do lũ CS vẽ ra và CS sẽ bắt bỏ tù không lương tay như trường hợp của LS Lê Công Định. LS Hà Vũ đã khôn khéo dùng chính luật của lũ CS vạch tội chúng. Mặc dù đơn kiện của LS Hà Vũ seõ coù theå không được tòa án CS thụ lý theo như nhiều người dự đoán, nhưng cách làm này của LS Hà Vũ đã gây một tiếng vang mới. Ngoài ra nhờ có đơn kiện này mà nhiều người đã bị đầu độc lâu năm, vốn luôn “dị ứng” với các trang mạng “phản động” nay tìm đến những trang này để đọc đơn khởi kiện ông Dũng của LS Hà Vũ vì các báo đài của lũ CS câm như hến, không hề đề cập đến đơn kiện nổi tiếng đầy mới mẻ này ở Việt Nam. Nhờ đơn kiện này không những tên đầu sỏ của lũ CS bị vạch tội chỉ tên, mà còn làm cho một bộ phận người ở Việt Nam biết đến những trang mạng, đến sự thật.

Như vậy, vì bất cứ hoàn cảnh gì, lý do gì, không ai có thể nói rằng tôi không thể biết sự thật hoặc không thể loan báo sự thật cho người khác được, mọi lý do đưa ra chỉ là ngụy biện!

- Tẩy chay các tổ chức của lũ CS

Khi chúng ta biết được sự thật về lũ CS, thì chúng ta nhận thức được rằng cần phải tẩy chay, không gia nhập bất kỳ tổ chức đoàn thể naøo mà lũ CS thành lập.

Lũ CS rất thâm hiểm đã lập ra đủ các thứ đoàn hội, tổ chức ở khắp mọi nơi, cho mọi lứa tuổi, mọi thành phần xã hội, chúng lập cả tôn giáo quốc doanh. Các đoàn hội, tổ chức do lũ CS dựng lên, lập ra nhằm để kiểm soát người dân, khống chế người dân. Các đoàn hội chính là tai mắt của lũ CS. Những ai đang ở trong những tổ chức do lũ CS lập ra cần phải bước ra khỏi ngay lập tức.

Xa hơn nữa, phải tẩy chay các cuộc bầu cử do lũ CS tổ chức, đặc biệt là các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp, bầu cử quốc hội. Những cuộc bầu cử này chỉ là nhöõng trò chơi, trò hề dân chủ lừa bịp ma mãnh của lũ CS bày đặt ra, chỉ thêm tốn tiền, toán xương máu của nhân dân.

Khi các tổ chức do lũ CS lập ra không còn ai gia nhập, CS khó có thể kiểm soát được nhân dân; khi những tổ chức như hội đồng nhân dân, quốc hội do lũ CS bày đặt không được người dân đi bỏ phiếu, thì những tổ chức này mất đi tính “chính danh” nguyên tắc, đến lúc này quyền lực trong tay lũ cộng sản sẽ không được gọi là “chính” nữa mà trở về với bản chất thực là “ngụy”, và lúc này “ngụy quyền” này sẽ không còn đứng vững được nữa. Trong thế giới văn minh không bao giờ có chỗ đứng của “ngụy quyền”. Ngụy quyền sẽ trở nên bị cô lập và tự tan rã. Đó cũng là ngày lũ chuột CS đang đứng bên bờ huyệt.

- Lên đường

Những hành động nêu trên mới chỉ đưa lũ CS đến mép huyệt mộ. Hành động cuối cùng là tất cả mọi người dân phải đoàn kết và đồng loạt lên đường tiễn đưa lũ CS đến “nơi an nghỉ cuối cùng”. Khi người dân không còn sợ, biết rõ tội ác, sự nguy hiểm của lũ CS thì việc lên đường quét sạch lũ CS là điều tất yếu.

Lời kết

Nếu cách đây gần 80 năm, người dân Việt Nam đã thực hiện một cuộc canh chừng đối với chuột cs giống như cách thức mà ngày nay người ta đang làm đối với Cúm A H1N1 thì tai hoạ đâu có xảy ra cho dân tộc Việt Nam như đã từng xảy ra trong vòng mấy chục năm qua. Tuy nhiên, dù sao thì sự lơ đễnh cũng đã xảy ra rồi và giờ đây thì người ta chỉ còn có nước là tìm cách để khắc phục chúng mà thôi.

Bản chất chui rúc, cắn rỉa, ăn tàn phá hoại và truyền dịch bệnh của lũ CS không bao giờ thay đổi cho dù ở bất cứ điều kiện hay bối cảnh nào. Bất cứ nơi nào có lũ CS, nơi đó trở thành vùng đất chết; nơi đó toàn những bất công, bạo tàn và chết chóc, đạo đức bị tha hóa suy đồi; nơi đó trở thành địa ngục trần gian…

Dân tộc Việt Nam chỉ có thể tồn tại, phát triển và thịnh vượng; và đất nước Việt Nam chỉ có thể trở thành miền đất sống, phồn vinh khi nào lũ CS ở VN bị quét sạch.

Lũ CS còn tồn tại bao lâu nữa ở dải đất S này, ñieàu ñoù hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ và hành động của mỗi con dân Việt Nam. Vì dân tộc Việt Nam, vì chính bản thân của chính chúng ta và vì thế hệ tương lai, ngay lúc này và ngay bây giờ chúng ta phải đứng lên, nói lên và có hành động ngay lập tức để loại trừ lũ CS ra khỏi đất nước này, thế giới này. Bất cứ sự im lặng nào đều là sự đồng lõa với tội ác của CS! Thế hệ tương lai sẽ nguyền rủa, và hận chúng ta nếu chúng ta cứ để lũ CS sống thêm.

VietCatholic News

Bài Xem Nhiều