We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 6 July 2009

Ls. Lê Công Định không có tội và cũng không nhận tội

Trong vụ bắt giam Luật Sư Lê Công Ðịnh ngày 13-06-2009, nhà cầm quyền Hà Nội một mực khẳng định rằng họ bắt giam Luật Sư Ðịnh vì đương sự đã phạm tội chiếu điều 88 BLHS và cũng đã nhận tội. Hà Nội cho rằng việc bắt giam này là công việc nội bộ của Việt Nam, theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự, Chính Trị (ICCPR International covenant on civil and political rights).
Ngày 23-6, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về tuyên bố ngày 22-6-2009 của trưởng các cơ quan đại diện ngoại giao EU tại Việt Nam về việc Cơ Quan An Ninh Ðiều Tra, Bộ Công An bắt Lê Công Ðịnh, người Phát ngôn Bộ Ngoại Giao Lê Dũng đã nói nguyên văn như sau:
“Cần khẳng định rõ rằng Lê Công Ðịnh bị bắt do đã có những hành vi vi phạm pháp luật, cấu kết với một số phần tử ở nước ngoài hoạt động với mục đích lật đổ, chống Nhà nước Việt Nam. Chính Lê Công Ðịnh cũng đã thừa nhận những hành vi phạm tội của mình.
Việc Cơ quan An ninh Ðiều tra của Việt Nam bắt giam Lê Công Ðịnh là công việc nội bộ của Việt Nam, theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR). Ở Việt Nam, quyền tự do bày tỏ chính kiến của công dân được pháp luật bảo đảm và được thực hiện trên thực tế.
Việc xử lý những người vi phạm pháp luật là cần thiết và là việc làm bình thường mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước Liên minh Châu Âu (EU), đều tiến hành để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội và an toàn cho người dân.
Ðiều rất đáng tiếc là mặc dù có đầy đủ thông tin và đã trao đổi về vấn đề này trong đối thoại vừa qua giữa Bộ Ngoại Giao Việt Nam và nhóm bộ ba EU (EU-Troika), nhưng tuyên bố của trưởng các cơ quan đại diện ngoại giao EU tại Hà Nội là không khách quan, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.
Có thật đúng như vậy không?
Nhiều câu hỏi cần đặt ra và được trả lời:
1. L.S. Ðịnh có phạm tội không?
2. L.S. Ðịnh có nhận tội không?
3. Việc bắt giam L.S. Ðịnh này có hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế vế quyền dân sự, chính trị (ICCPR) như Hà Nội đã tuyên bố không?
4. Ở Việt Nam quyền tự do bày tỏ chính kiến của công dân có được pháp luật bảo đảm và được thực hiện trên thực tế không?
5. Khi dự luân quốc tế quan tâm vì nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nhân quyền thì đó có phải là một sự can thiệp vào nội bộ của Việt Nam không?
L.S. Lê Công Ðịnh không có tội và không nhận tội
Không ai chối cãi rằng L.S. Ðịnh đã có rất nhiều hành vi cụ thể chỉ trích và không tán thành việc làm của Nhà nước CHXHCN VN và theo nguồn tin của công an và báo chí trong nước thì ông đã nói và viết lời nhận tội. Nhà cầm quyền Hà Nội chính thức loan báo rằng Luật Sư Lê Công Ðịnh đã phạm tội và ông đã nhận tội. Có đúng vậy không?
Theo tôi thì L.S. Ðịnh không phạm tội ông bị cáo buộc chiếu điều 88 BLHS. Hà Nội đã áp dụng luật đảng trị do Quốc Hội công cụ đảng trị - chứ không phải do dân - làm ra để buộc tội L.S. Ðịnh. Tưởng cần nhấn mạnh rằng Hà Nội kể từ năm 1982, có nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện nhân quyền để thiết lập dân chủ ở Việt Nam. Hà Nội đã không tôn trọng những điều cam kết của mình từ gần ba thập niên rồi. Nay để tiếp tục đi theo con đường độc tài giả dạng dân chủ, Hà Nội mượn luật pháp của riêng mình, dùng bạo lực công cụ là công an ngang nhiên đàn áp cuộc vận động dân chủ bất bạo động. Theo qui phạm của luật quốc tế về nhân quyền mà Hà Nội có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực thi ở Việt Nam thì Hà Nội không thể dùng điều 88 của BLHS của họ để làm tội L.S. Ðịnh được. Trước hết, điều này đi ngược lại luật quốc tế về nhân quyền mà Hà Nội phải áp dụng ở Việt Nam. Sau nữa, điều này còn xóa bỏ quyền cho người dân phê bình, giám sát chế độ, dự liệu nơi điều 8 của Hiến pháp 1992 sửa đổi và bổ sung năm 2001 như sau: “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân (...),lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”. Như vậy, L.S. Ðịnh không có tội khi ông hành xử những nhân quyền và dân quyền phổ biến đã được luật quốc tế cũng như luật quốc nội công nhận để “giám sát nhân dân”. L.S. Ðịnh không thể coi như đã có tội. Trái lại, phải suy đoán là ông vô tội.
Mặt khác, L.S. Ðịnh cũng không nhận tội như bộ máy tuyên truyền của Hà Nội đã bố trí để tạo ra một ấn tượng như thế. Trong những lời tuyên bố nói hay viết của mình (theo các nguồn tin của chính CA và báo chí công cụ của chính quyên CS) L.S. Ðịnh chưa bao giờ dùng chữ “nhận tội”, ông chỉ nhìn nhận có làm một số sự kiện mà nếu áp dụng luật của đảng cầm quyền thì là đã vi phạm điều 88 BLHS. Như vậy là ông nhìn nhận sự kiện chứ không nhìn nhận “tội” để kết luận bừa bãi rằng ông đã “nhận tội”. Những sự kiện này có phải là những yếu tố cấu thành tội phạm hay không, điều này cần phải được tòa án xem xét chẳng những trên cơ sở luật thực định ở Việt Nam mà còn cả trên cơ sở những qui phạm pháp lý của luật quốc tế vế nhân quyền. Vì Hà Nội năm 1982 đã tham gia và cam kết tôn trọng và thi hành luật quốc tế về nhân quyền. Hiện giờ tòa án chưa xét xử. Chỉ mới có những lời đề nghị cáo buộc của cơ quan điều tra sơ khởi là công an thì chỉ có thể nói được rằng CA đã nại ra những lý do lấy tư luật pháp do Ðảng làm ra để đàn áp chứ không có gì cho phép khẳng định rằng L.S. Ðịnh đã phạm tội.
Hơn nữa, L.S. Ðịnh cũng không nhận tội mà giả dụ ngay như ông có nhận tội ở giai đoạn điều tra sơ khởi và thẩm vấn chăng nữa, ông vẫn có quyền phản cung trong phiên xử của tòa án. Vậy phải coi là ông vô tội chừng nào chưa có phán quyết của tòa án nói rằng ông có tội.
Việc Hà Nội bắt giam L.S. Ðịnh hoàn toàn không phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế về nhân quyền
Việc bắt giam này hoàn toàn trái với các qui định của luật quốc tế về nhân quyền mà Hà Nội từ năm 1982 đã tự nguyện cam kết chấp nhận và tôn trọng. Khi cam kết như thế, Hà Nội có một số nghĩa vụ quốc tế phải thi hành. Một trong những nghĩa vụ đó là phải sửa đổi cơ chế cai trị của mình sao cho thích hợp để luật hóa những qui phạm quốc tế vế nhân quyền, cải thiện luật thực định của họ nếu luật này không phù hợp với các qui định của luật quốc tế (điều 2 của CUQTQDSCT). Hà Nội đã không thi hành nghĩa vụ này một cách nghiêm chỉnh, một mặt chỉ liệt kê ra một loạt nhân quyền hình thức dưới những tên gọi giống như tên gọi của luật quốc tế, mặt khác, lại đặt ra những luật áp dụng nhằm hợp pháp hóa việc vi phạm trắng trợn những qui phạm quốc tế về nhân quyền. Như trong vụ bắt giam L.S. Ðịnh, Hà Nội đã áp dụng điều 88 BLHS là một tàn dư của bộ luật hình sự năm 1985 của thời gọi là “chuyên chính vô sản” toàn trị theo mô hình Stalin, Mao Trạch Ðông phi nhân quyền, phi nhân phẩm. Vậy làm sao có thể nói là phù hợp với luật quốc tế, mà phải nói là đã vi phạm một cách thường trực, có qui mô và hệ thống mới đúng. Trong thực tế, Hà Nội đã vi phạm các điều tạm kể ra và chưa đầy đủ sau đây 1, 2, 6, 7, 8, 14, 18, 19, 21, 27... v.v… của CUQTQDSCT (...)
Lên án việc bắt giam và đòi hỏi trả tự do cho Luật Sư Lê Công Ðịnh không phải là can thiệp vào nội bộ của Việt Nam
Theo Hiến chương của LHQ thì các quốc gia thành viên đều bình đẳng, không quốc gia nào được quyền can thiệp vào nội bộ của quốc gia khác. Trên nguyên tắc, quốc gia nào cũng có quyền áp dụng luật pháp của mình để trừng trị những hành vi đe dọa an ninh quốc gia, trật tự công cộng. Dưới mắt của nhà cầm quyền Hà Nội, L.S. Ðịnh đã có những hành vi đe dọa sự tồn vong của mình nên họ đã bắt giam và khởi tố.
Như vậy, đương nhiên là bất cứ một nước nào cũng có chủ quyền quốc gia định ra pháp luật trong khuôn khổ của chủ quyền này mà các nước khác phải tôn trọng. Nhưng tình trạng các quốc gia sống biệt lập, một mình một cõi, sau đệ nhị thế chiến đã dần dần chuyển sang tình trạng toàn cầu hóa liền lập, trên cơ sở tự nguyện đồng thuận. Vậy không thể cứ nấp sau bình phong chủ quyền quốc gia tuyệt đối rồi làm mưa làm gió trong đất nước mình, không cần lý gì đến các nước khác. Những người cầm quyền ở Hà Nội nếu muốn, và có khả năng duy trì chế độ độc tài toàn trị phi nhân quyền, phản dân chủ thời Stalin, Mao Trạch Ðông họ đã thiết lập từ năm 1980, thì họ chỉ việc chấm dứt việc họ đã tham gia các công ước quốc tế về nhân quyền và tuyên bố không hội nhập vào cộng đồng nhân loại văn minh nữa. Không ai ngăn cản Hà Nội làm những điều này. Nhưng Hà Nội vẫn cứ giữ nguyên lời cam kết năm 1982, tuy vậy chỉ để hưởng lợi nghĩa là củng cố địa vị của họ trên trường quốc tế đồng thời lại tước đoạt hết mọi dân quyền, nhân quyền của toàn dân. Đó là một sự thật hiển nhiên đã được nhiều lần vạch trần dưới nhiều hình thức khác nhau trước dư luận quốc nội và quốc tế.
Người phát ngôn của nhà cầm quyền Hà Nội trong vụ bắt giam L.S. Ðịnh đã than phiền rằng Hoa Kỳ cũng như Liên Hiệp Châu Âu khi lên tiếng đòi trả tự do cho L.S. Ðịnh đã can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Ý hẳn người phát ngôn này muốn nói nếu một quốc gia độc lập mà khi áp dụng luật pháp của mình lại phải biện minh trước những hạch hỏi của bất cứ một quốc gia đệ tam nào thì còn gì là chủ quyền quốc gia, là độc lập nữa?
Nếu tổng quát hóa như vậy thì có thể nói rằng chủ quyền quốc gia bị vi phạm. Nhưng nếu giới hạn vào địa hạt nhân quyền và nhất là thi hành những công ước quốc tế về nhân quyền mà chính Hà Nội đã tham gia cũng như cam kết tôn trọng thì các quốc gia thành viên khác có quyền chất vấn và yêu cầu Hà Nội phải thi hành nghiêm chỉnh sự cam kết của mình. Vì theo án lệ của tòa án quốc tế, khi tham gia những công ước quốc tế về nhân quyền, chính quốc gia đương sự đã tự hạn chế chủ quyền của mình.
Thật ra thì Hà Nội cũng chỉ phản đối cho có lệ và có cớ để chối tội thôi. Vì chỉ mới tháng trước, Hà Nội đã phải công khai trả lời trên diễn đàn của Hội Ðồng Nhân Quyền của LHQ ở Genève về chính sách nhân quyền của Hà Nội và những hành vi của Hà Nội có tính chất vi phạm nhân quyền. Hà Nội đã chẳng những không thể phản đối cuộc chất vấn công khai ấy mà còn phải chính thức trả lời các câu hỏi đã được các quốc gia đệ tam đặt cho Hà Nội.
Ðể đẩy lui độc tài đảng trị, phải kết hợp tranh đấu cho nhân quyền với vận động dân chủ
Từ nhiều năm nay, mọi người luôn luôn được nghe những lời tố cáo và lên án hành động cố ý vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội. Họ bị Hoa Kỳ ghi vào sổ đen vi phạm nhân quyền CPC rồi sau một thời gian đã được xóa tên trên sổ đen này. Bây giờ hiện đang có nhiều tiếng nói yêu cầu đưa Hà Nội trở lại sổ đen ấy. Nhưng trong thực tế thì luồng dư luận này cũng chỉ là những lời nói tiêu cực không cải thiện gì được cái mà người ta gọi là tình trạng phi nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam. Không lẽ trong tương lai cứ tiếp tục trò chơi nhàm chán này và như thế thì để đi về đâu, có cải thiện được hiện tình nhân quyền rất xấu ở Việt Nam không?
Nước Việt Nam Cộng Sản dưới quyền cai trị của Hà Nội hiện nay là một trong 4 nước tàn dư còn sống sót của hệ thống cường quyền toàn trị xã hội chủ nghĩa đã hoàn toàn sụp đổ ở Liên Xô và Ðông Âu cũ. Ðể còn bám trụ vào được địa vị cực quyền tự phong của họ, nhà cầm quyền Hà Nội đối ngoại đã mềm dẻo chịu nhượng bộ ngoài mặt trên trường ngoại giao. Nhưng đối nội thì họ không ngừng leo thang đàn áp dân quyền nhân quyền bằng một loạt thủ thuật gian dối, vừa đánh cướp vừa la làng, ngụy biện xuyên tạc ý nghĩa của phong trào vận động dân chủ hóa bất bạo động ở Việt Nam. Thậm chí còn đồng hóa bừa bãi phong trào ấy với “khủng bố” quốc tế, như đã thấy trong vụ bắt giam L.S. Lê Công Ðịnh vừa qua. Vậy thiết tưởng về phía dân chủ tự do, cũng phải tìm ra những hình thức tranh đấu mới để leo thang trong việc bảo vệ và thăng tiến nhân quyền. Nhưng tất nhiên vẫn tranh đấu trên cơ sở luật quốc tế về nhân quyền mà Hà Nội đã tham gia. Tôi cho rằng khi bộ mặt thật, giả dân chủ, giả yêu nước của Hà Nội thông qua thời sự nóng hổi đã lộ rõ, thì nay chính là lúc có thể tạm gác sang bên các nỗ lực tố cáo và lên án, bằng lời nói suông, để kết hợp cuộc tranh đấu dân chủ với việc bảo vệ và thăng tiến nhân quyền. Nói như vậy không có nghĩa là sẽ chính trị hóa một cách vụng về cuộc tranh đấu về nhân quyền không cần có cơ sở pháp lý vững chắc là luật quốc tế. Mà phải đặt lại cho đúng vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” mà cả hai Công ước quốc tế về nhân quyền nơi điều 1 dưới đây đã đưa lên hàng một qui phạm quốc tế cơ bản về nhân quyền phổ biến và thường trực.
Ðiều 1:
1. Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.
2. Ðể đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghĩa vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt.
3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.
Rõ ràng là theo hai Công ước quốc tế về nhân quyền, Ðảng Cộng sản Việt Nam phải để cho nhân dân tự quyết trong việc lực chọn chế độ chính trị chứ không thể kìm kẹp để ép buộc nhân dân Việt Nam phải “theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bị áp đặt sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản”.
Cho đến nay những người cộng sản Việt Nam, để cướp quyền và chiếm quyền làm của riêng, đã không ngừng lý luận rằng quyền tự quyết ấy chỉ là quyền của một dân tộc được sống “độc lập”. Rồi họ tự phong cho mình tư cách đại diện đương nhiên và vô thời hạn của dân tộc để tùy tiện hành xử quyền độc lập, thậm chí còn đem bán rẻ nó cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Thiên niên kỷ thứ ba, thời đại của dân chủ đã xác định, qua nhiều quyết nghị của Ðại Hội Ðồng LHQ, qua án lệ của tòa án quốc tế, nội dung của quyền dân tộc tự quyết. Ðó là quyền của mọi dân tộc, hiểu theo nghĩa mọi nhân dân, chẳng những đối ngoại được sống độc lập mà đối nội còn được sống dân chủ.
Về phần Việt Nam quyền dân tộc tự quyết đã được minh thị công nhận nên quyền này đã có những cơ sở pháp lý vững chắc. Ðó là 2 điều khoản của Hiệp định Paris 1973 chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Ðiều 1:
Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã được công nhận trong Hiệp Ðịnh Geneva 1954 về Việt Nam.
Ðiều 9:
Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cam kết tôn trọng những quy định sau về việc thực thi quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam:
Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, không thể chuyển nhượng, và phải được tất cả các nước tôn trọng.
Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do, dân chủ dưới sự giám sát của quốc tế.
Các nước quốc gia khác sẽ không áp đặt bất kỳ một xu hướng chính trị hay một cá nhân nào lên miền Nam Việt Nam.
Tóm lại, hiện nay chính là thời cơ thuận lợi để cho những người muốn dân chủ hóa Việt Nam tranh đấu đòi lại cho thật đầy đủ và đích thực để trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền dân tộc tự quyết trên cơ sở pháp lý là 2 Công ước quốc tế 1966 về nhân quyền và 2 điều 1 và 9 của Hiệp định Paris 1973.
Ðể, đối ngoại, tranh đấu đánh bại âm mưu và hành động xâm lược của Trung Quốc. Và đối nội, đánh bại quyền lực, quyền uy áp đặt của độc tài để thiết lập dân chủ thật sự và chân chính.
Ðó là một cuộc tranh đấu hợp pháp, theo xu thế tiến bộ, văn minh của nhân loại thực hiện nhân quyền cả cho nhân dân Việt Nam lẫn toàn thể nhân loại. Ðể đẩy mạnh hơn nữa cuộc tranh đấu bảo vệ và tiến thăng nhân quyền cho nhân dân Việt Nam và để sớm chấm dứt chính sách đàn áp dân chủ bạo ngược và phi pháp hiện đang diễn ra ở trong nước, cần phải kết hợp tranh đấu nhân quyền với vận động thiết lập dân chủ chân chính ở Việt Nam. Và hướng tranh đấu mới của cuộc tranh đấu tổng hợp này sẽ là yêu sách đòi Nhà cầm quyền cộng sản ở Hà Nội phải thi hành nghiêm chỉnh và đầy đủ nghĩa vụ quốc tế là thiết lập và tôn trọng nhân quyền và tự do dân chủ ở Việt Nam./.

Trần Thanh Hiệp

Giới Trẻ Việt Nam Không Thể Chậm Chân

Ngày 1 Tháng Bảy ở Bắc Kinh có một cuộc biểu tình phản kháng biến thành một bữa tiệc ăn mừng. Ðáng lẽ ra hôm đó là ngày chính phủ Bắc Kinh bắt đầu áp dụng lệnh bắt buộc các nhà sản xuất máy vi tính PC phải gài một nhu liệu mới vào máy để giúp nhà nước Cộng Sản kiểm duyệt tất cả các mạng lưới mà người dùng máy muốn vào. Nhưng trước sự phản kháng của người dân Trung Quốc dùng Internet cũng như dư luận ngoại quốc, một ngày trước khi mệnh lệnh trên có hiệu lực, Bộ Công nghiệp và Kỹ Thuật Thông Tin tuyên bố “hoãn” không áp dụng.



Họa sĩ Ai Weiwei (Ai Vị Vị) là một người làm blog (blogger) rất hoạt động. Ông đã hăng hái cổ động giới dùng blog ở trong nước cùng lên tiếng phản đối cái khí cụ kiểm duyệt toàn diện trên. Nếu để yên, nhà nước sẽ dùng vũ khí mới của họ để theo dõi, kiểm duyệt từng cái máy PC!

Bộ nhu liệu mang tên Lục Bá (Ðê mầu Xanh) mà Bắc Kinh bắt các nhà sản xuất PC phải cài vào trong máy được mô tả là nhằm bảo vệ trẻ em, ngăn chặn các mạng lưới mạng khích dâm. Ai cũng đồng ý đây là một việc cần làm và nhiều quốc gia khác đã làm. Trên thế giới có bán nhiều nhu liệu loại này, phần lớn để giúp các phụ huynh kiểm soát việc con em sử dụng Internet. Nếu chính phủ Trung Quốc muốn đạt mục đích giáo dục đó, họ có thể khuyến cáo dân chúng sử dụng các nhu liệu sẵn có. Không có lý do nào khiến nhà nước phải bắt mỗi cái máy đều mang sẵn một nhu liệu loại này, do nhà nước đặt một công ty trong nước sản xuất.

Cho nên ai cũng thấy chính quyền Trung Quốc chỉ nhắm mục đích kiểm soát các mạng lưới, không cho dân Trung Hoa được tự do sử dụng phương tiện truyền thông này.

Nhưng người Trung Hoa bây giờ không sợ chính quyền như trước nữa. Cho nên cả nước đã dội lên một phong trào phản kháng. Tuy bên ngoài không ai nghe thấy nhưng trên các mạng lưới rất mọi người góp ý kiến ồn ào, náo nhiệt! Hiện nay có khoảng hai trăm triệu người Trung Hoa dùng Internet, số “công dân mạng” (netizen) sắp sửa lên cao hơn con số ở Hoa Kỳ. Và họ nói rất mạnh!

Trong Han Han blog có người viết, “Ai cũng biết nhà nước lúc nào cũng lấy cớ bảo vệ thiếu nhi để kiểm soát văn hóa!” Một blogger viết đặt thẳng câu hỏi cho nhà nước, “Các ông đã chối bỏ không cho các 'công dân mạng' quyền tự do ngôn luận! Các ông và những cơ quan thông tin của Ðảng Cộng Sản đã âm mưu làm mờ tối và bóp méo sự thật!” Một người khác lên án, “Chúng tôi sẽ coi các ông là Kẻ thù Số Một của Internet!” Một blogger còn dám cất lời đe dọa, “Ðể bảo vệ tự do Internet, để Internet tiến triển thêm, và để bảo vệ quyền tự do của chính chúng tôi, chúng tôi sẽ tấn công phá bộ máy kiểm duyệt của các ông một cách có hệ thống để cho các ông biết guồng máy kiểm duyệt của các ông nó yếu như thế nào!”

Mấy dòng trích từ các blog mà phóng viên nhật báo Financial Times ở Bắc Kinh giới thiệu cho thấy sự phẫn nộ của các bloggers Trung Quốc trước âm mưu kiểm duyệt thông tin thô bạo của chính quyền. Nhiều bloggers đã chính thức xuất hiện, do lời mời của họa sĩ Ai Weiwei, hẹn gặp nhau tại một quán ăn có vườn rộng ở phía Ðông thành phố Bắc Kinh đúng ngày 1 Tháng Bảy. Những người làm blog, bloggers, đã chuẩn bị một cuộc họp mặt phản kháng, với những chiếc áo thung T-shirt viết khẩu hiệu đả đảo nhu liệu “Lục Bá;” có nhiều chiếc áo viết chữ Anh, Green Dam. Hơn 200 người đã tới, gồm các nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo, sinh viên, phần lớn đều làm blog riêng. Nhưng thay vì biểu tình phản đối thì họ lại uống bia ăn mừng khi chính quyền Trung Quốc “hoãn” việc áp dụng biện pháp kiểm duyệt trên.

Ai Vị Vị là một họa sĩ nổi tiếng ở Bắc Kinh, gần đây ông đã dùng blog của ông làm một diễn đàn tranh đấu cho các quyền tự do của các công dân Trung Hoa, và được giới trẻ khắp nước hưởng ứng. Sau khi trận động đất ở Tứ Xuyên xảy ra, nhiều mạng lưới cùng tố cáo nạn tham nhũng khiến các trường học xây trong vùng này bị sụp đổ trong khi nhà tư nhân được an toàn, chỉ vì bị nhà thầu đồng lõa với các cán bộ địa phương “rút ruột,” theo lối nói của người Việt Nam. Ai Vị Vị dùng blog của ông làm nơi nhận và phổ biến những thông tin về số học sinh tử nạn tại các làng bị động đất nặng, công bố cả nước biết.

Trong bữa tiệc mừng chiến thắng, Ai Vị Vị tuyên bố đây là “một chiến thắng của công luận” đối với chính quyền: “Chính quyền đã rút được một bài học. Là họ không thể đối xử với các công dân theo lối đó được nữa!”

Chúng ta có thể đặt một dấu hỏi sau lời tuyên bố trên. Vì khó đo lường trước được những hành động của một chế độ độc tài toàn trị.

Trong các chế độ độc tài hữu phái bình thường, như đã thấy ở Phi Luật Tân hay Nam Hàn trong các thập niên 1970-1980, những người cầm quyền còn giữ một mức độ liêm sỉ tối thiểu cho nên họ chịu áp lực của dư luận dân chúng. Vì trên căn bản họ vẫn tôn trọng các quy tắc như tự do ngôn luận, tự do bầu cử, vân vân, ngay cả khi họ tìm cách ngăn cản không cho dân được hưởng các quyền này.

Các chế độ độc tài Cộng Sản thì khác. Vì họ là những người chiếm chính quyền nhân danh một lý tưởng mộng mơ, chính thức chủ trương độc tài chuyên chế để thực hiện thứ “tôn giáo mới” của họ. Vì thế họ có thể đàn áp dân một cách thô bạo không cần theo các quy tắc về liêm sỉ tối thiểu. Vì họ cứ lấy chủ nghĩa Cộng Sản làm cứu cánh để tự biện minh cho mọi hành động tàn ác. Trong nửa cuối thế kỷ 20 có hai chính quyền độc tài nhẫn tâm dùng xe tăng giết hàng ngàn người dân trong tay không vũ khí. Ðó là Hồng Quân Nga ở Hungary năm 1956 và Hồng Quân Trung Quốc năm 1989 ở Thiên An Môn.

Cho nên không thể lạc quan quá đáng về “chiến thắng” của các bloggers ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, những người như ông Ai Vị Vị có lý do để vẫn lạc quan. Vì con số những người vào Internet ở Trung Quốc đã lên rất cao. Lực lượng đáng kể đó gồm những người thuộc thành phần trẻ, có học, lợi tức thuộc tầng lớp trung lưu, và sống ở các đô thị lớn. Có thể nói họ là thành phần ưu tú trong đời sống kinh tế, xã hội ở Trung Quốc hiện nay. Trước đây 15 năm Pháp Luân Công đã là một phong trào quần chúng lớn ở Trung Quốc, khiến cho đảng Cộng Sản phải tìm cách cấm đoán, Việc đặt phong trào này ra ngoài luật pháp cho thấy đảng Cộng Sản Trung Quốc lo sợ như thế nào. Nhưng khi đó số người theo Pháp Luân Ðại Pháp chỉ khoảng vài chục triệu người.

Hiện nay số người dùng Internet lên cao gấp mười con số trên. Họ không có một lãnh tụ và không có những tín điều chung như Pháp Luân Công; nhưng họ có những quyền lợi kinh tế cũng như tinh thần ngày càng lớn và gắn bó với nhau. Ðảng Cộng Sản không thể bỏ qua họ được.

Cơ quan chính thức của Cộng Sản Trung Quốc là Nhân Dân Nhật Báo mới thú nhận như vậy. Tờ báo này mới viết, “Trong thời đại Internet, bất cứ người nào cũng có tiềm năng trở thành một kênh thông tin. Tình trạng giống như ai cũng có sẵn một cái máy khuếch âm (microphone) đặt trước mặt (để lên tiếng khi muốn).”

Lời thú nhận trên báo Nhân Dân ở Bắc Kinh có thể cũng là một lời đe dọa; vì ai cũng biết Cộng Sản Trung Quốc không thể nào chấp nhận cảnh mỗi người dân trên mạng có một chiếc micro trước mặt! Ðó là lý do họ muốn đặt cái Ðê Xanh, Lục Bá, vào trong từng máy PC! Và trong tương lai chắc họ sẽ tìm cách thực hiện được điều đó lần nữa. Việc hoãn thi hành quyết định này một phần cũng vì Bắc Kinh bị các chính phủ và các công ty sản xuất máy PC trên thế giới phản đối.

Nhưng cuộc cách mạng thông tin vẫn lừng lững tiến tới trên khắp thế giới. Và đó là một vũ khí đang được sử dụng tận tình trong phong trào đòi dân chủ hóa. Khi dân Iran biểu tình hàng trăm ngàn người chống bầu cử gian lận, những thông báo tin tức được truyền qua Internet. Khi nhà nước Teheran cắt Internet, dân dùng Facebook, dùng Twitter để liên lạc với nhau qua máy điện thoại cầm tay. Có lúc công ty điều hành Twitter ở Mỹ định ngưng hoạt động một buổi để điều chỉnh và cải thiện cả hệ thống, chính phủ Obama đã can thiệp yêu cầu họ tạm ngưng việc bảo trì này, để khỏi cản trở việc thông tin của người dân Iran đang tổ chức biểu tình.

Cả thế giới đang dùng các khí cụ truyền thông mới để cải thiện đời sống xã hội, đặc biệt là trong các nước độc tài, nơi nhà nước chiếm giữ độc quyền thông tin. Giới thanh niên trí thức sử dụng các dụng cụ mới đó tranh đấu ngay cho quyền tự do của chính họ.

Tại các nước Á Rập, giới trí thức phản kháng chế độ độc tài cũng sử dụng Internet để đẩy mạnh phong trào đòi tự do dân chủ. Một xứ bảo thủ nhất như Á Rập Sau Ði cũng có những người tranh đấu dùng Internet và cyberspace. Một nữ ký giả ở xứ này bị cha đánh đập sau khi cô dự một buổi họp về dân quyền, cô đã tới một ký túc xá của phụ nữ xin tạm trú và cô bị họ từ chối. Nhưng sau khi cô dùng Facebook loan tin này, tin tức truyền đi, các mạng lưới bàn tán, và nhà trọ trên đã phải mời cô trở lại ngay!

Một blogger ở Ai Cập là ông Wael Abbas đã dùng Internet phổ biến tin tức về các nạn nhân bị cảnh sát tra tấn, theo dõi tin tức những người bị bắt và phổ biến khắp nước. Vào Tháng Tư vừa qua ông Abbas bị bắt vì một ông cảnh sát hàng xóm tố là hành hung ông ta. Ông Abbas đã dùng Twitter, với giới hạn mỗi lần chỉ gửi được 144 chữ qua điện thoại di động, để báo tin thường xuyên cho bạn bè biết mình đang bị cảnh sát hỏi cung như thế nào. Ông báo trước có thể sẽ có người đứng ra làm chứng gian để công an buộc tội ông. Số người theo dõi tin này lan rộng rất nhanh, đi khắp thế giới. Trong khi các bloggers khác ở Ai Cập tụ tập trước Sở Công Tố nơi Abbas bị hỏi cung để theo dõi tin tức thì có những điện văn hỏi thăm ông Abbas từ những nơi xa xôi, như Argentina và Trung Quốc!

Hy vọng giới trẻ Việt Nam, nhất là giới sinh viên, biết những chuyện trên và các tin tức khác để thấy rằng họ đang nắm trong tay một dụng cụ rất mạnh nếu họ muốn tranh đấu cho xã hội nước nhà tiến bộ hơn. Internet và các phương tiện truyền thông qua máy điện thoại sẽ thay đổi thế giới, chúng ta không nên đứng bên lề. Nước Việt Nam đã lỡ chậm chân trong nửa thế kỷ trước đây cho nên bị các nước Á Ðông qua mặt trong cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng tự do dân chủ. Thế hệ mới không nên để mình bị chậm chân lần nữa như các cha anh của mình! Ðứng ngoài lề lịch sử thì sẽ lại xấu hổ với con cháu sau này.

Ngô Nhân Dụng

Gái Việt Nam Là "Nô Lệ" Tình Dục



John Boudreau
San Jose Mercury News
Thanh Khiêm dịch

Em Trương Thị Nhi Linh, 17 tuổi - Nguồn: San Jose Mercury News.

Rạch Giá, Việt Nam - Sự đề nghị đến với những gia đình đang ở bên bờ tuyệt vọng, sống và làm việc quần quật cả ngày trên những đống rác mà mùi tanh hôi của nó thấm sâu trong quần áo của họ.

Vào một ngày đầu Tháng 12, cận Tết, một người đàn bà có vẻ hiền mẫu đi cùng một người đàn ông trông rất tử tế đã đến xóm nghèo này. Nơi đây, những người nghèo nhất trong những người nghèo đang mong mỏi kiếm chút tiền để đón một cái Tết đạm bạc. Hai người khách bảo rằng họ đang tìm những cô gái có bề ngoài hấp dẫn để làm việc tại một quán cà phê tại thành phố Hồ Chí Minh, và họ sẵn sàng trả trước cho mỗi gia đình một số tiền là 60 mỹ kim – một gia tài nhỏ cho những người dù ráng hết sức cũng chỉ moi ra được chưa tới vài đô la một ngày.

Mắc dầu hai người cha phản đối, ý kiến của họ chẳng hề được quan tâm bởi vợ và con gái, vốn là những người sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro để tìm cách giúp đỡ gia đình đang trong tình cảnh khó khăn. Sau khi khám các cô gái như lựa gia súc, người đàn ông chọn năm cô gái dưới hai mươi đẹp nhất, và chọn thêm hai cô khác ở xóm bên cạnh. Các cô gái vị thành niên này nhanh chóng thu xếp vài món đồ tùy thân rồi lên đường.

Trương Thị Nhi Linh, 17 tuổi, là một trong các cô bé được chọn. Em bảo rằng đó là cơ hội tốt nhất để giúp gia đình – một cơ hội kiếm tiền đáng kể so với số tiền em kiếm được nhờ bươi móc trong đống rác từ 4 giờ chiều cho đến 4 giờ sáng, lần mò trong vũng bùn rác đến đầu gối trong những đêm mưa, xung quanh là giòi bọ và những những người khác để tìm những mãnh vụn phế thải.

Em đã trấn an cha mẹ, những người không muốn em ra đi. “Không sao đâu. Con chỉ đi làm thôi.” Cô bé bảo đã nói với cha mẹ mình như thế và thêm: “Em muốn giúp đỡ gia đình.”

Vài giờ sau đó, một trong số cha mẹ của các cô gái nhận được cú phôn hoảng hốt từ con mình, cho hay chúng không được đưa lên thành phố Hồ Chí Minh mà đi Campuchia, nơi mà các cô gái sẽ bị buộc phải bán dâm.

Trẻ người non dạ
Đó là nỗi bất hạnh đã đổ lên đầu nhiều cô gái trẻ vừa đẹp vừa nghèo ở Đông Nam Á. Cũng như các bậc cha mẹ, các em thường thất học và thiếu hiểu biết về những nguy hiểm của đường dây buôn bán tình dục quốc tế và cách thức kẻ lạ mặt mê hoặc hay quyến rũ các cô gái ngây thơ sa vào con đường bán mình cho các kẻ mua dâm ngoại quốc. Sự trinh trắng của các em là điều được ham chuộng: Một số đàn ông Á châu sẵn sàng trả đến 600 mỹ kim để phá trinh một cô gái vì những kẻ này tin rằng điều đó sẽ làm họ hồi xuân, gặp may mắn và ngay cả chữa được bịnh AIDS.

Nhà "chủ" ở Rạch Giá.

Việt Nam, vốn là xứ sở của rất nhiều cô gái trẻ đẹp đang sống trong tình trạng tuyệt vọng, là thỏi nam châm thu hút bọn buôn người. Nhiều kẻ đã trả tiền cho các gia đình để họ cho con gái lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, và Trung Quốc; một số khác trực tiếp nằm trong đường dây buôn người. Các bậc cha mẹ thường bỏ qua những nguy hiểm xảy đến với con gái họ để mưu cầu một cuộc sống tốt hơn.

“Các gia đình này nghèo quá”, theo lời bà Phan Thị Quách, chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, vốn là hội tổ chức các chiến dịch giáo dục chống nạn buôn người. “Họ chỉ nghĩ đến việc tìm ra tiền và làm thế nào để có việc làm.”

Trong trường hợp của các cô bé tại Rạch Giá, công an đã có một cuộc bố ráp giải thoát các em vào phút cuối ở biên giới Campuchia sau khi được báo bởi một người dân địa phương, và một cách muộn màng, từ ít nhất một phụ huynh lo lắng cho con mình. Hầu hết sự kiện xảy ra không được loan tải trong các bản tin địa phương, bị đánh giá thấp mối đe dọa thực sự hàng ngày đến với những người thuộc thành phần cùng khổ.

“Đó là sự toàn cầu hóa trong hình thức tồi tệ nhất của nó” theo lời bà Vương Diệp, chủ tịch của Pacific Links Foundation, một tổ chức bất vụ lợi của người Mỹ gốc Việt tại Milpitas, California. Tổ chức này giúp phòng ngừa nạn buôn người bằng cách tạo cơ hội hướng dẫn, giáo dục cho các cô gái Việt có thể bị nguy hiểm và cho các cô vừa thoát khỏi cảnh buôn bán tình dục.

Nhà từ đường của "đầy tớ" Nguyễn Tấn Dũng, cũng ở Rạch Giá - Nguồn: Trần Minh Khánh blog.

“Nếu bạn không biết đọc những thông cáo hoặc không có tiền để mua báo hằng ngày và bạn hiếm khi có đủ ăn, làm thế nào bạn có thể hiểu được những mối nguy hiểm này?” bà Vương nói, “Thật dễ dàng nhìn vấn đề ở phía khác. Tôi đã gặp nhiều cô gái trẻ và họ bảo rằng, ‘Em biết đó là điều nguy hiểm, nhưng em buộc phải liều bởi vì chúng em quá nghèo.’ Tôi đã bảo các em: “Các em có nghĩ rằng các em có sức để ngủ với 15 người đàn ông một ngày? Họ hầu hết là nhũng kẻ ghê tởm và kỳ quặc.” Các em đã ngây thơ hỏi lại, “Cô đang nói chuyện gì em không hiểu?”

Chống trả
Trên thế giới có khoảng 600,000 phụ nữ trẻ bị buôn bán mỗi năm, theo ước tính của Bô Ngoại giao Mỹ. Tại Việt Nam, chính quyền mới đây đã báo cáo rằng năm ngoái có 6,684 nạn nhân của nạn buôn người, trong số đó 2,578 người đã trở về nhà. Họ cũng cho biết rằng có 21,038 người bị báo cáo là mất tích, mà có thể đã bị bán vào các động mãi dâm. Tuy vậy, các chuyên gia nghi ngờ về độ chính xác của các thống kê của chính quyền Việt Nam và lo ngại rằng con số sẽ cao hơn.

Năm 2004, chương trình “Dateline” của đài truyền hình NBC đã có một phóng sự về nạn buôn bán tình dục tại Campuchia. Trước sự bàng hoàng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, các cô gái bán dâm còn rất trẻ đã nói tiếng Việt. Từ phóng sự truyền hình này, một số người Việt cư ngụ tại vùng Vịnh (San Francisco) và nhiều nơi khác bắt đầu thành lập các chương trình nhằm giúp ngăn ngừa tình trạng khai thác tình dục đó, ông Benjamin Lee, chủ tịch của Tổ chức Trợ giúp Trẻ em Không có Cha Mẹ có trụ sở tại San Jose, California (San Jose-based Aid to Children Without Parents), cho biết.

Họ thành lập tổ chức này nhằm tạo cơ hội và hy vọng cho những người cùng khổ và giúp đỡ cho các em vừa thoát khỏi các nhà chứa.

Tuy vậy, họ phải đối diện với một nền văn hóa mà khiến cho công việc trợ giúp của họ gặp khó khăn; trong vài trường hợp, cha mẹ các cô gái bằng lòng bán con gái mình cho bọn buôn người với giá hàng ngàn mỹ kim. “Theo cách suy nghĩ Á đông, con cái phải vâng lời cha mẹ. ‘Tôi phải hy sinh thân mình cho gia đình”, theo lời ông Nguyễn Kim Thiện, giám đốc của dự án “Mái ấm Hoa Hồng Nhỏ” tại thành phố Hồ Chí Minh, một dự án dành cho các bé gái bị xâm phạm tình dục.

Chế độ nô lệ tân thời này bắt rễ từ những vùng bị cô lập bởi sự nghèo khó và gần với các khu mại dâm phát triển rầm rộ ở Campuchia, chẳng hạn như vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một ví dụ là vùng ngoại ô của thị trấn cảng xô bồ Rạch Giá, nơi mà đa số là người gốc Khmer.

Thiếu thốn hằng ngày
Mặc dầu chính quyền Việt Nam khoác lác rằng có đến 90% dân chúng biết đọc viết, nhiều người trong cộng đồng này chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn mù chữ. Họ quần quật cả ngày lẫn đêm để nhặt từ các đống rác các vật có thể tái chế được, như bọc nylon hay kim loại. Những đứa trẻ chân đất, quần áo rách rưới, chơi đùa trên những đống rác tanh tưởi.

Đây cảnh mất vệ sinh của dân nghèo móc bọc "Cuộc sống quá vất vả đối với họ" - Nguồn: San Jose Mercury News.

“Đây là cộng đồng mà chúng tôi đã phải chỉ họ cách dùng xà bông, nhà tắm- những điều hết sức sơ đẳng.” Theo lời bà Caroline Nguyen Ticarro-Parker, đồng sáng lập và là giám đốc hành chánh của Catalyst Foundation, một tổ chức có trụ sở tại Mỹ. Tổ chức này đã mở một trường học trong vùng và đang làm việc với “Habitat for Humanity” để xây nhà cho người dân trong vùng này.

“Cuộc sống qua ngày của họ chỉ là ‘Hôm nay tôi phải làm gì để có cái ăn? Hôm nay ai sẽ trông coi con của tôi?’” bà ta nói, “Cuộc sống thật là quá vất vả cho họ. Họ không thể nghĩ đến ngày mai”.

Họ sống trong những túp lều tranh dựng kế bên hay ngay trên các đống rác đầy ruồi muỗi. Sáng hôm rồi, chị Kim Thị Màu, 23 tuổi, ngồi lựa các bao nylon dơ bẩn. Năm qua, Lâm, đứa con 4 tuổi của chị chết đuối vì té vào con rạch ngập nước trong khi vợ chồng chị làm việc kế bên. Chị còn hai đứa con khác, một đứa 20 tháng và đứa kia mới 4 tháng.

“Tôi mong có một ngôi trường cho các con tôi đi học – một nơi không dơ dáy như nơi đây,” chị Kim nói. Cả chị và người chồng 28 tuổi đều mù chữ.

Bởi những khó khăn như vậy, thật là khó có thể cưỡng lại lời hứa hẹn về các việc làm với thù lao khá của những kẻ lạ mặt vào trong làng. Nhiều gia đình trong số họ sống lây lất chỉ với 1 hay 2 mỹ kim một ngày. Trong trường hợp của 7 cô bé nói trên, bọn buôn người nói rằng chúng có thể trả cho mỗi em 120 mỹ kim một tháng khi làm việc trong quán cà phê tại thành phố.

Tuyển lựa tại nhà
Vào buổi sáng Tháng 12 đó, một gia đình ở thôn Vĩnh Quang, Rạch Giá đã vô tình loan báo về việc tuyển dụng nhân công. Hơn một tá các cô gái cùng với gia đình đã tụ tập đến.

“Ông ta nhìn vào mặt chúng em và nói ‘Con bé này được. Con bé kia được’” Danh Thị Anh, một cô gái nhút nhát với giọng nói nhỏ nhẹ cho biết như thế. Danh Thị Anh, 20 tuổi, là một trong các cô gái được chọn, khi đó em 19.

Việc tuyển lựa bắt đầu từ 11 giờ sáng. Đến 1 giờ chiều, các cô bé vị thành niên đã lên đường. Chẳng bao lâu sau đó, một nhân viên của Catalyst, người mà đã cố gắng khuyên các em đừng đi, bảo một người dân trong vùng gọi báo cho công an.

Hầu hết các cô gái trẻ này chưa từng đi xa nhà một mình. Vài giờ sau đó, một em đã phát giác ra là các em không trên đường đến thành phố Hồ Chí Minh, em Trương Nhi Linh và hai em khác nhớ lại.

Nhờ một cô bé có cell phone, các em bắt đầu gọi cho gia đình biết, và cuối cùng một bà mẹ đã gọi cho công an.

Vài em bắt đầu khóc. Chúng được đưa đến thị trấn An Biên, phía nam Rạch Giá và là nơi các em sẽ được đưa ra bờ biển, xuống tàu đánh cá sang Campuchia.

“Chúng em sợ quá, chúng em không biết mình đang ở đâu” Trương Nhi Linh nói.

Nhưng công an phụ trách theo dõi bọn buôn người đã đi đúng tuyến và tìm ra được các em lúc 10 giờ đêm. NgườI đàn bà đưa các em đi bị bắt. Người đàn ông trốn thoát.

Khoảng 4 giờ sáng ngày hôm sau, các em được đưa trở lại Rạch Giá.

Nguyễn Minh Triết: "Việt Nam có nhiều con gái đẹp lắm".

“Không rõ người dân trong vùng sẽ rút được kinh nghiệm gì từ vụ thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc này. Các đại diện của Caytalyst Foundation đã tổ chức một cuộc họp sau đó. “Chúng tôi bảo họ. Đây là những điều sẽ xảy ra. Con gái của bà con sẽ bị hãm hiếp, không chỉ bởi một người, mà bởi nhiều người,” bà Caroline NguyenTicarro-Parker cho biết. Nhưng bà ta không chắc là việc đó sẽ không tái diễn.

Đối với những ai sống trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, bà Nguyễn nói, “Đó quả là một số tiền rất lớn.”

Cô bé 17 tuổI Trương Thi Nhi Linh, người sống trong cái chòi chen chúc trên mặt nước với gia đình chín người, nói rằng em đã không suy xét nhiều đến những gì có thể xảy tới cho bản thân em nếu em bị đưa đến Campuchia.

“Em không nghĩ về điều đó,” cô ta nói với giọng buồn buồn, “Nếu điều bất hạnh xảy đến, đó có lẽ là phần số của em. Đó là cuộc đời!”.




Nguyễn minh Triết đã chào hàng :

Gái xinh đảng đã sẵn sàng bán ra

HOA KỲ TỪNG BƯỚC RÚT KHỎI IRAQ – TRUNG CỘNG TỪNG BƯỚC XÂM CHIẾM VIỆT NAM

Sau sáu năm, Hoa kỳ đem quân vào Iraq lật đổ chế độ độc tài Saddam Hussein, để nhận chịu cuộc chiến chống khủng bố, trộn lẫn cuộc nội chiến giáo phái tàn nhẫn nhầy nhuạ, tưởng chừng không lối thoát. Nhưng nay, ngày 30/06/09, binh lính Mỹ đã có thể rút khỏi các thành thành phố và thị trấn, trao trách nhiệm bảo đảm an ninh cho lực lượng an ninh non trẻ của chính quyền dân chủ Iraq, theo đúng với kế hoạch dự trù là những hoạt động quân sự của Hoa kỳ sẽ kết thúc vào cuối tháng 9 năm 2010 và toàn bộ lính Mỹ sẽ rút khỏi Iraq trước cuối năm 2011. Tư lệnh quân đội Mỹ tại Iraq, đại tướng Ray Odierno tuyên bố: “Nỗ lực phối hợp của chúng tôi sẽ thành lập một hệ thống phòng thủ thành nhiều lớp. Trong khi quân đội Iraq bảo vệ các thành phố thì lực lượng chiến đấu của chúng tôi cùng với lực lượng an ninh Iraq bảo vệ các vòng đai biên giới trong một nỗ lực tiêu diệt các sào huyệt, các nơi ẩn nấp và hạn chế đi lại của các phần tử nổi dậy”.

Tướng Odierno nói tiếp: “Hôm nay là một trong những chỉ dấu cho tôi hy vọng là, Iraq có thể tiến tới một quốc gia an ninh. ổn định, có chủ quyền, và Iraq có thể là một đối tác lâu dài với Hoakỳ tại Trung Đông với một chính phủ dân chủ”.

Chính quyền Iraq tuyên bố: Ngày 30/06 là Ngày Chủ Quyền Quốc Gia. Quân đội diễn hành trên các đường phố Baghdad. Dưới mắt người dân Iraq, nước Mỹ từ một kẻ xâm lăng, từng bước rút quân khỏi Iraq để đổi thành nước đối tác.

Trong khi đó Trung cộng đối với Việt nam thì từ “láng giềng tốt, đối tác tốt”, từng bước tiến hành xâm lăng toàn diện Việt nam. Một cuộc xâm lăng không tiếng súng, mà bằng ngay sự lệ thuộc hèn mạt của bọn Man cộng đang cầm quyền tại Việt nam. Theo tài liệu chép lại từ băng ghi âm của cuộc họp giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam của Trung cộng và Tổng Cục II của Việt cộng, do Ninh Cơ phiên dịch từ tiếng Tầu sang tiếng Việt, được Tin VN06/27/09 sáng, loan tải. Dù tài liệu này chưa thể, hay không thể kiểm chứng, nhưng xét về nội dung và thực tế diễn biến đang xẩy ra tại Việtnam thì không chối cãi được rằng, Trung cộng đang từng bước “Hợp Nhất Trung hoa Việt nam là Một”, đúng như tinh thần của bản tài liệu tối mật này. Theo viên tư lệnh Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam, họ Lương, chủ trì đại hội tình báo Trung cộng, Việt cộng tuyên bố: “Với tư cách Chính Ủy được đề cử chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết. Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện Trung quốc thôn tính Việt nam”.

Nhưng ngay sau đó hắn cao giọng dọa nạt, đổi từ ý nghĩa thôn tính sang kêu gọi Việt nam ‘trở về’ là một với Trung hoa: “Trong tình thế hiện nay, Việt nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại. Đi với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ của bọn dòi bọ đang tích cực phản công, nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp! Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác. Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở Trung quốc. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt nam tình trạng có khác. Chúng hung hăng lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở Trung quốc có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt nam không có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, Trung quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe dọa quyền lợi của các đồng chí, để bảo vệ các đồng chí, Trung quôc không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn. Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh) xem Hồ đồng chí (Hồ Cẩm Đào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi”.

Hắn tiếp tục dẫn chứng: “Việtnam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Trong lịch sử, Việt nam từng là quận huyện của Trung quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung quốc và Việt nam là một. Đó là chân lý đời đời. Đó là lời của Hồ đồng chí ( tức là Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản Trung quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dậy ‘Trung quốc, Việt nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh’. Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong một cơ thể. Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu Quốc Vụ Viện. Mà người Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung quốc”. Hắn khoe thêm rằng: “Ngày nay, Trung quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt nam nhập vào Trung quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Đó là Trung quốc và Hoa kỳ. Con hổ giấy Hoakỳ”.

Ngày xưa đế quốc cộng sản Liên xô cũng từng nói Hoa kỳ là con hổ giấy, nhưng ‘con hổ giấy ấy lại bằng đô la’ nên nó đã đốt tiêu luôn hệ thống cộng sản quốc tế do đế quốc Liên xô cầm đầu. Ngày nay, con hổ giấy đô la đó vẫn lại bện thành một sợ giây thòng lọng vô hình bền chắc, cuốn quanh cổ con khủng long Trung cộng, thắt hay mở đều nằm trong tay Mỹ. Giới lãnh đạo Trung cộng đều biết, sở dĩ Trung cộng được như ngày nay, là nhờ ở chính sách giai đoạn ‘nuôi đối tượng’ của Mỹ, trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, mà chưa đạt đúng mức Dân Chủ Hóa Toàn Cầu. Tiếc rằng, chính quyền Cộng Hòa Bush đề ra chủ trương Dân Chủ Hóa Toàn Cầu vào đúng thời điểm, chiến tranh Iraq bế tắc, nền kinh tế Mỹ đổ dốc, không còn được dư luận Mỹ quan tâm. Nên chủ trương Dân Chủ Hóa Toàn Cầu chỉ còn là một mớ lý thuyết suông. Vì chính sách nuôi độc tài Trung cộng nguy hiểm trước nay của Mỹ, mà Việt nam và các nước nhỏ trong vùng trở thành nạn nhân của chủ trương bành trướng của Trung cộng. Trung cộng thừa biết rằng kể cả về mặt kinh tế lẫn quân sự, họ chưa là đối thủ của Mỹ. Nhưng họ lợi dụng việc Mỹ cấm vận Miến Điện đã ôm được Quân Phiệt Miến vào tay. Lợi dụng bọn Việt cộng sợ mất quyền khi Việt nam đi vào Dân Chủ Hóa, nên đã sai xử được bọn cầm quyền Hànội, tuyệt đối bưng bít thông tin, tiêu diệt luôn tinh thần độc lập dân tộc, đề kháng với đế quốc Tầu của toàn dân Việt nam, để đồng hóa Việt nam là một với Tầu. Đúng như ý của viên tư lênh Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam. Nếu Việt nam hợp nhất với Trung hoa thật sự, thì toàn vùng Đông Nam Á sẽ là của Trung cộng, lúc đó dù Mỹ có mạnh tới đâu, cũng đành phải đứng ngõ ngoài mà cắn móng tay để nhìn thôi. Trước mắt, người Việt trong và ngoài nước đang đứng trước một sự thách đố sinh tử đây!

Bài Xem Nhiều