We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 12 July 2009

Buổi Tiếp Tân ra mắt lần đầu tiên phim "Sự Thật Hồ Chí Minh" thành công rực rỡ

Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ, 11 tháng Bẩy, 2009: "Sau 18 tháng làm việc trong âm thầm và kiên trì vượt qua bao trở ngại, hôm nay tôi xin hân hoan thông báo, phim tài liệu “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH” đã được hoàn tất."


Đó là lời tuyên bố của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ với tiếng vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt của đông đảo đồng hương trong buổi tiếp tân ra mắt lần đầu tiên cuốn phim “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH”(ST/HCM).

Buổi sinh hoạt đặc biệt này khai diễn vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bẩy, 11 tháng 7, 2009, tại nhà hàng Paracel, ở trung tâm Little Saigon, Nam Cali, Hoa Kỳ. Vì nhà hàng chỉ có sức chứa 450 người, đông đảo đồng hương đến trễ, con số tương đương với số lượng bên trong, phải đứng ngoài, tạo nên cảnh tượng tấp nập chưa từng thấy.

Để bảo đảm trật tự và giữ đúng luật lệ, Ban Giám Đốc nhà hàng đã quyết định đóng cửa và huy động nhân viên an ninh mặc sắc phục túc trực tại chỗ. Mặc dầu dưới ánh nắng mùa Hè, nhưng đồng hương bên ngoài vẫn kiên nhẫn chờ đợi để nhận DVD phim ST/HCM. Trước tình trạng này, Ban Tổ Chức đã quyết định khai mạc sớm hơn chương trình dự định để rút ngắn thời gian bà con phải đứng chờ.

Sau phần nghi thức chào cờ và mặc niệm do ban Tù Ca Xuân Điềm phụ trách, ông Nguyễn Như Tấn, trưởng Ban Tổ Chức, ngỏ lời chào mừng quan khách và nói lên tính cách đặc biệt và quan trọng của buổi tiếp tân ra mắt, vì cuốn phim ST/HCM "là một tác phẩm vô cùng độc đáo của người Việt tự do, bởi vì, về mặt văn tự thì đã có rất nhiều quyển sách viết về con người thật của Hồ Chí Minh, nhưng về phim ảnh thì đây là lần đầu tiên mới có một cuốn phim trình bày, phân tích bộ mặt thật của tay trùm CS này."

Mở đầu bài nói chuyện về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuốn phim "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH", Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN đã nhấn mạnh: “Trong chiếc hộp DVD khiêm tốn này chứa đựng một nỗ lực phi thường của PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN và nhóm thực hiện để hoàn tất cuốn phim …

Nhưng điều quan trọng hơn hết là trong chiếc hôp DVD khiêm tốn này chứa đựng một nguyện vọng thiết tha và cấp bách của đổng bào Việt nam Phải phá vỡ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh, là tảng đá cuối cùng để chế độ CSVN bám vào đó mà tồn tại.” Linh mục cũng nhắn gửi " ...chốc nữa đây khi tôi đại diện cho PTQD/ĐTTSG trao vào tay từng người DVD này, không những đó là một món quà trân quý của PT mà còn là trao đi một sứ mệnh: Sứ mệnh đó là : Hãy tiếp tay đẩy mạnh chiến dịch Tẩy Trừ Huyền Thoại Giả Trá Hồ Chí Minh."

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã đề nghị phương thức đẩy mạnh bằng "Chiến dịch Vết Dầu Loang; đó là sau khi nhận và xem phim ST/HCM, xin mỗi người hãy copy ra 10 DVD nữa để tặng cho 10 người khác; khi tặng cho ai nhớ kèm theo lời dặn hãy copy ra 10 DVD nữa để tặng cho 10 người khác...và cứ thế …cứ thế lan rộng dần như một“ vết dầu loang”.

Tiếp đó, đồng hương đã chăm chú theo dõi đoạn phim dài 12 phút giới thiệu cuốn phim ST/HCM nói qua về các chủ điểm nội dung của cuốn phim, các đoạn trích dẫn một số nhân vật được phỏng vấn, các tài liệu và hình ảnh đặc biệt lấy từ cuốn phim chính dài 1 giờ 50 phút.

Trong phần nói chuyện sau đó, Ông Trần Quốc Bảo, trưởng Ban Điều Hành của PhongTrào, trong vai trò giám đốc sản xuất cuốn phim, đã tóm lược qua về tiến trình thực hiện, qua các giai đoạn hình thành Ban Cố Vấn, ấn định nội dung, thu thập tài liệu, phỏng vấn, ráp nối,...

Ông cũng khẳng định, người xem có thể sẽ nhìn thấy một số khuyết điểm trong cuốn phim này "vì nhóm thực hiện không phải là những nhà chuyên môn; tuy nhiên sự thật chung cuộc, và cũng chính là thông điệp của cuốn phim, thì người xem không thể hiểu sai: Hồ Chí Minh là một tai hoạ cho đất nước; nhưng Đảng CSVN đã thần tượng hóa y để làm tấm mộc bảo vệ chế độ, cho nên phải phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh để khai thông sinh lộ cho dân tộc, đất nước Việt Nam."

Về việc quảng bá cuốn phim, Ông Bảo cho biết PT đã có kế hoạch đặc biệt để phổ biến phim đến đồng bào trong nước là đối tượng chính mà PT nhắm đến. Đối với người ngoại quốc và con em không thông thạo tiếng Việt, PT đang xúc tiến thực hiện bản tiếng Anh và tiếng Pháp. Đối với người Việt hải ngoại, Ông thông báo lịch trình các buổi ra mắt trong năm 2009 gồm 38 địa điểm và nói rõ cách thức tiếp nhận DVD qua đường bưu điện.

Trong phần chia sẻ tâm tình, Ông Chu Lynh, phụ trách biên tập và ráp nối cuốn phim, đã trình bày một số khó khăn mà nhóm kỹ thuật phải đương đầu. Theo Ông, "tôn trọng sự thật" là tôn chỉ hàng đầu mà những anh em phụ trách luôn đề cao. Ông cũng kể lại một số kinh nghiệm buồn vui của cá nhân và những người cộng tác trong dự án thực hiện bộ phim này và kết luận, mặc dù đương đầu với nhiều khó khăn, trở ngại, nhưng vì những trăn trở đối với quê hương, đặc biệt là trong giai đoạn "dầu sôi lửa bỏng" của đất nước, trước hiểm hoạ của giặc phương Bắc, ông đã nỗ lực đóng góp để hoàn thành cuốn phim.

Được mời phát biểu cảm tưởng, GS Nguyễn Thanh Liêm, một nhân sĩ quen thuộc trong sinh hoạt Cộng đồng tại Nam Cali, đã nhiệt liệt tán thưởng nỗ lực của PTSG trong việc hoàn thành cuốn phim ST/HCM. Theo GS Liêm, cuốn phim quan trọng cả về mặt văn hoá lẫn mặt chính trị. Về văn hoá, đây là cơ hội để làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam trong giai đoạn cận đại. Về mặt chính trị, cuốn phim sẽ là một vũ khí quan trọng để đánh vào gốc rễ của chế độ CS, giúp mau chóng đem lại tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Tiếp đó là phần trao tặng DVD phim ST/HCM. Đồng hương lũ lượt xếp hàng đi ngang qua chiếc bàn kê gần cửa vào nhà hàng để nhận DVD do chính Cha Nguyễn Hữu Lễ ký tặng và trao tay cho từng người. Chuỗi người xếp hàng dài ra mãi đến bãi đậu xe đối diện nhà hàng.

Trong khi đó, gần sân khấu nhà hàng, đáp ứng lời kêu gọi của MC Đinh Quang Anh Thái, đông đảo đồng hương cũng xếp hàng để lần lượt ký tên vào Sổ Vàng giúp Phong Trào trang trải chi phí thực hiện và quảng bá DVD phim tài liệu ST/HCM. Được biết chi phí này lên đến hơn 200,000 Mỹ kim. Đặc biệt, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là người mở đầu danh sách ký sổ vàng.

Không khí buổi tiếp tân càng thêm sôi động, hào hứng với phần đồng ca các nhạc phẩm đấu tranh do các nghệ sĩ Ban Tù Ca Xuân Điềm, và anh chị Tuấn Minh, Tuyết Mai thuộc Phong Trào Hưng Ca trình diễn. Đồng hương cũng thưởng thức các món ăn trưa thịnh soạn do Phong Trào khoản đãi.
Buổi tiếp tân ra mắt phim tài liệu ST/HCM kết thúc vào lúc 2 giờ 30 chiều trong niềm hân hoan và phấn khởi của các đồng hương tham dự. Được biết buổi sinh hoạt đặc biệt này được trực tiếp truyền thanh trên hệ thống PalTalk để các đồng hương ở xa, kể cả tại quốc nội, có thể theo dõi.

Theo Ban Điều Hành PT, đồng hương ở xa liên lạc địa chỉ:
PHONG TRAO SAI GON,
P.O. Box 1194, Stafford, TX 77497, SA, để tiếp nhận DVD, với cước phí chuyển gửi (shipping & handling) là 7.95 MK trong Bắc Mỹ, 12.95 MK ngoài Bắc Mỹ. Lịch trình các buổi ra mắt khắp nơi và tin tức về phim ST/HCM được liệt kê đày đủ trong website của PT:

http://www.saigonfo rsaigon.org/


Ngọc Băng
tường trình từ Little Saigon

-------------------
Cách thức tiếp nhận
DVD phim "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH" Qua Thư Tín

Đồng hương không thể tham dự các buổi ra mắt phim "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH" có thể liên lạc xin DVD tại địa chỉ:

PHONG TRAO SAI GON
P.O. Box 1194
Stafford, TX 77497, USA

Ghi chú: DVD "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH" do PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀI GÒN gửi tặng . Tuy nhiên xin quý vị phụ giúp tiền cước phí chuyển gởi (shipping and handling) như sau:
- Tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada):
$7.95/1 DVD
- Các nơi khác: 12.95 US$/1 DVD

Chi phiếu xin đề: PHONG TRAO SAIGON, và gửi về địa chỉ trên.

Ngoài cước phí, PHONG TRÀO hoan nghênh sự ủng hộ thêm của quý vị để mau chóng thanh toán số tiền vay mượn thực hiện và quảng bá phim "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH".

Chân thành cảm tạ,
PHONG TRÀO QUỐC DÂN

Vài Nét về Đảng CSVN và Tương Lai của Đất Nước


Đã từ lâu, Cọng Sản Việt Nam một mặt muốn khai thác kinh tế thị trường, muốn cải tiến kinh tế theo kiểu “người cày có ruộng”, mặt khác bọn chóp bu tham nhũng công khai tới mức hết thuốc chữa. Kiểu cải cách kinh tế của Đảng CSVN chỉ là hô hào túng quẫn mà từ trước đến nay chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử phát triển kinh tế của loài người. Ở xã hội dân chủ, khi kinh tế tăng vọt thì nạn tham nhũng bị lún xuống và ngược lại. Thế nhưng, ở Việt Nam, “cải cách kinh tế” theo kiểu Cọng Sản và tệ nạn tham nhũng như là anh em sinh đôi cùng nhau song hành phát triển.

Về mặt nông nghiệp, sau hơn mười năm thí nghiệm tại miền Nam (1975-1988), CSVN không thể sống nổi với kiểu “hợp tác xã”, chúng bắt đầu trao trả ruộng đất một cách bất công bằng đến tư nhân, nạn lạm dụng ngày càng gia tăng. Sự trao trả ruộng đất được tính theo đầu người trong gia đình, ví dụ: gia đình ông A có năm nhân khẩu (không kể già bé) thì được năm sào đất, còn trong gia đình ông B có một người thì được chia một sào. Cái kiểu trao trả ruộng đất tạp nhạp như thế nầy để phát triển kinh tế quốc gia theo đường lối kinh doanh tư bản thì chỉ có bọn CSVN mời nghĩ ra được mà thôi! Từ ngày độc chiếm miền Nam, chúng tung ra không biết bao là chiến dịch như làm thủy lợi, khai phá rừng hoang, v.v. với khẩu hiệu “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Đối nội:
Đảng CSVN chỉ biết trấn áp để củng cố quyền hành, địa vị và danh lợi riêng tư cho chúng. Những tên chóp bu trong chính quyền chỉ lo làm giàu, tham nhũng, bóc lột, đi xe hơi, ở nhà lầu; trong lúc đó, nhân dân thì chết đói. Những tệ nạn xã hội như đĩ điếm, trộm cướp, thất học ngày càng lan rộng. Từ nông thôn đến thành thị, không chỗ nào không xuất hiện những em bé, cụ già khố rách áo ôm đi ngửa tay xin từng hạt cơm độ nhật. Từ năm 1945 đến 1975, là 30 năm dằng dặc, sự thống trị của chính quyền Cọng sản ở miền Bắc Việt Nam đã làm cho dân Bắc nghèo nàn, điêu linh thống khổ, sống trong ngu muội, mê dốt, chỉ biết tham chiến. Bằng chứng là ngay sau năm 1975, công cán, bộ đội bắt đầu đổ xô vào miền Nam để làm việc, họ dùng cái yếm đàn bà làm đồ lọc, dùng toilet làm bồn rửa cá, ca tụng rằng “ở Bắc chúng tôi dùng cà-rem đem phơi khô”, gọi tách cà-phê lọc là “cái nồi ngồi trên cái cốc” v.v. Nhà nước CSVN đổ lỗi là “vì lo đấu tranh chống Mỹ đuổi Ngụy” để bào chữa cho sự ngu dốt ấy. Thế thì từ 1975 đến nay, đã 1/4 thế kỷ, họ đã làm gì cho đất nước Việt Nam trong thời bình? Họ chỉ biết áp đặt nền chuyên chính, đàn áp, áp bức, bóc lột, và thực hiện chính sách ngu dân hóa để trị mà thôi, chứ không phụng sự gì cho dân tộc cả.

Đối ngọai:
Đảng CSVN cố sức dàn dựng nhiều trận chiến để tiêu diệt những thành phần, phần tử nào làm lung lay quyền hành, địa vị và danh lợi của chúng. Thay vì dùng ngân qũy quốc gia để kiến thiết, xây dựng đất nước, nuôi dân; thì trái lại, chúng lại bỏ ra hàng trăm triệu đô la để thuê bọn phản loạn đánh phá những cá nhân, cọng đồng, đoàn thể có chí hướng cải thiện, xây dựng đất nước; xuất hàng tỷ đô la cho các chiến dịch “Cấy Sâu Đỏ – CSĐ” để thuê người Việt (vô hồn) đánh phá người Việt, mướn cọng đồng đánh phá cọng đồng, dùng tôn giáo triệt hạ tôn giáo...

Hãy so sánh vài trường hợp điển hình sau đây để quyết định lập trường thân Cọng hay chống Cọng:

1) Người Việt hải ngoại, mặc dù tha phương, chạy loạn với hai bàn tay trắng, ngôn ngữ bất đồng trong sự hội nhập đời sống Tây phương, định cư ở một đệ tam quốc tế với một tâm trạng bất am hiểu về nếp sống thường nhật và thể chế chính trị của người ta; nhưng họ đã trở nên giàu có, xe cộ, nhà cửa, tiệm các phủ phê. Trong lúc đó, người Việt quốc nội nói ngôn ngữ của chính mình, sống trong môi trường “an vui, độc lập, tự do, hạnh phúc” của Nhà nước Cọng hòa Xã hội Chủ nghĩa; họ vẫn khố rách áo ôm, xin ăn từng miếng cơm, ngủ ở đầu đường xó chợ, gặp Việt kiều về thì bám chặt gót chân, công an bộ đội làm việc ở phi trường ngửa tay ra xin ông bạn Việt kiều vai xu hút thuốc...

2) Người Việt hải ngoại, mặc dù ngày làm hai gốp, vẫn sinh hoạt cọng đồng hăng hái, vẫn đi chùa, đi nhà thờ đông đảo vào ngày Chủ nhật. Trong lúc đó, người Việt quốc nội, nếu hội họp thì bị Đảng kết tội là lập nhóm để chống Nhà nước; nếu đi chùa, nhà thờ thì bị Đảng chỉ trích là lười biếng, không tham gia công tác xã hội.

3) Người Việt hải ngoại tự do ngôn luận, báo chí, phê phán. Trong lúc đó, người Việt quốc nội nếu gióng lên những tiếng nói lương tâm, đề bạt kế hoạch xây dựng đất nước thì bị bỏ tù vì “tội khinh thường, chê bai, nói xấu Đảng, phản Cách Mạng”; muốn ra một tờ báo thì phải bị Đảng điều tra lý lịch, nếu Đảng thích thì Đảng cho ra, nếu Đảng không thích thì Đảng bỏ tù, kết tội.

4) vân vân và vân vân.

Thế giới bây giờ đang bước sang một kỷ nguyên mới - đó là kỷ nguyên sử dụng người máy (Robot) trong các lãnh vực nông, công, khoa học, kỹ thuật. Thế mà, vào ngày 28/10/98, trong diễn văn khai mạc Quốc Hội của Đảng CSVN, Phan Văn Khải đã nhấn mạnh một cách quá suồng sã: “Trên đường hướng cứu vớt nguy cơ suy sụp của nền kinh tế Vyết Nam và để đối phó với nạn thất nghiệp duy nhất hiện nay là phải sử dụng lao động bằng chân tay để thay cho máy móc.” Lời tuyên bố này đã làm cho các nhà ngoại giao có mặt quá sức ngạc nhiên, trợn tròng đôi mắt.

Điều này đã chứng tỏ lớp người lãnh đạo đất nước Việt Nam từ 1945 đến nay, từ thượng tầng cao cấp đến hạ tầng bù nhìn, đều là những tay ngu si, dốt nát, bất tài, vô dụng.

Vì bọn chóp bu trên bất tài, vô trí nên không biết điều hành guồng máy xã hội, chúng cứ bám vào chiếc ghế ngôi vị như đỉa đói mà không chịu buông, và cứ thế mà tha hồ gian manh cướp giựt, mặc cho trời than đất oán, đất nước điêu tàn.

Vì bọn hạ cấp thất đức, vô học nên không không biết phải trái trong công việc xử thế, chúng nhắm mắt thi hành mệnh lệnh cấp trên: bức bách, đánh đập, tù đày, tống ngục..., và cứ thế mà tha hồ lộng hành chém giết, mặc cho thần tủi dân hờn, cửa nhà tan nát.
Có khổ nào hơn?
Đúng là đầu trộm đuôi cướp, không hơn không kém!

Nhà nước Cọng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN:
“Nhà nước Cọng hòa Xã hội Chủ nghĩa” chỉ là một chiếc áo nhung phủ lên một thân hình lở loét, là một mệnh danh để Đảng Cọng sản dễ bề tiếp tục lừa dối nhân dân, chứ thực sự “Nhà nước” chưa hề tồn tại, mà đó chỉ là sách lượt thủ lợi và khai thác của một nhóm người trong Đảng Cọng sản Việt Nam.

Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy “Nhà nước Cọng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” chỉ là một “Mặt Trận” trong tiêu hướng thống trị toàn lãnh thổ Việt Nam để vơ vét tận xương tủy nhân dân của một nhóm người mặc cảm với dân tộc – Đó là Đảng Cọng sản Việt Nam.

Từ khi Hồ Chí Minh mang chủ nghĩa vô thần Marx-Lê vào đầu tư trên đất nước Việt Nam với mộng làm bá chủ Đông Nam Á, chúng đã lợi dụng tinh thần yêu nước của mọi người, hô hào toàn dân đứng lên khởi nghĩa chống Pháp dưới danh nghĩa của nhiều mặt trận, như là Mặt Trận Nhân Dân Phản Đế (1936), Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương (1938), Mặt Trận Thống Nhất Phản Đế Đông Dương (1939), Mặt Trận Việt Minh (1941), và tiếp đến là Việt Minh Gia Nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Những mặt trận này đã bị thất bại vì không ăn khách và cũng chẳng thu hút dân chúng bao nhiêu cho đến năm 1946, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập Mặt Trận Liên Việt, kêu gọi quần chúng đoàn kết cứu quốc trong lúc tinh thần quốc gia chống thực dân của toàn dân đang sùng sục sôi động.

Trong quá trình hình thành các mặt trận trên, Hồ Chí Minh luôn luôn che giấu bản chất, học thuyết Marx-Lê, không bao giờ để lộ tư tưởng tư thù và đấu tranh giai cấp, tuyệt đối bưng bít và che đậy mộng xích hóa Đông Dương và toàn cầu, hòng thu hút mọi thành phần quốc gia yêu nước. Chung quy, Đảng Cọng sản Việt Nam là một Đảng lường gạt đã lập ra những mặt trận dối trá.

Trong thời chiến, Đảng Cọng sản Việt Nam dùng mặt trận, lợi dụng tinh thần yêu nước của toàn dân để huy động lực lượng quần chúng giành giựt quyền bính cho mình. Khi chiến tranh kết thúc, chúng dùng mặt trận làm bình phong để tiêu diệt những thành phần yêu nước.

Do vậy, sau khi chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Đảng Cọng sản đã bắt đầu trả thù dân miền Nam một cách có lô rich (logic) , có thứ tự bằng cách lập ra Chính Phủ Cách Mạng Miền Nam Lâm Thời và Nhà Nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa như là hai “mặt trận” mà cốt ý là a) đâm chém thẳng tay những thành phần liên hệ với Chính phủ Việt Nam Cọng hòa và, b) để thu mình ẩn nấp dưới “Hiến pháp Nhà nước” mỗi khi có sự phản kháng của nội dân và quốc tế.

Như đã biết, cuộc sống của dân miền Nam so với dân miền Bắc như trời với vực. Những ngô ngơ, ngố ngáo của bộ đội và dân Bắc trước những tiện nghi vật chất trùng trùng khi họ đặt chân vào miền Nam sau khi Sài gòn thất thủ. Vì thế, cuộc chiến xâm lăng miền Nam của Cọng sản Bắc Việt hoàn toàn mang tính chất trả thù và chiếm đọat. Thù của Đảng cọng sản đối với dân miền Nam vô số kể, nhưng tiêu biểu là ba mối thù sau đây:
1) Thù bị ngu dốt
2) Thù bị nghèo đói
3) Thù bị vô Đạo

Hãy nhìn lại lý lịch cá nhân của những tên đầu sỏ trong Đảng Cọng sản Bắc Việt, chúng ta không thể tưởng tượng rằng chúng là những tên có trình độ thấp kém, học vấn nghèo nàn, trí lực kém cỏi, nhưng tính sắt máu và tham chiến thì khỏi chê. Hồ Chí Minh, Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Võ Nguyên Giáp chỉ có trình độ tối thiểu (lớp 12 hoặc có một, hai năm đại học); còn lại là những tên thất học, thất đức. Đến thời tổng động viên kháng chiến chống Pháp, chúng bỏ trường, bỏ gia đình, bỏ Đạo tham gia kháng chiến. Suốt một cuộc đời còn lại của chúng luôn đương đầu với khổ cực, ăn khổ nằm đất. Rồi từ đó, chúng lường đảo, hun đúc thêm tính thù hằn, nhìn máu đối phương đổ xuống như là một niềm tự hào phấn khởi: Giết! Đâm! Chém!

Sau ngày chiếm đoạt miền Nam 30/4/1975, chúng thấy sao mà dân miền Nam phồn thịnh, Tivi, tủ lạnh đầy nhà, kinh tế dồi dào, phương tiện đa túc, giáo dân vẫn đi nhà thờ hàng tuần mỗi sáng Chủ nhật, tín đồ Phật giáo vẫn đi lễ Phật ngày mồng một và rằm... Sự thật ấy làm cho Cọng sản Việt Nam càng thêm ghen tức, sinh ra căm thù dân miền Nam tận cốt tủy, và bằng mọi cách phải trả cho được mối thù đó. Những đợt trả thù này tuy có nhiều giai đoạn và hình thức khác nhau hòng đánh tan giai cấp tư bản, tư sản, phú, trí, địa, hào, sĩ, nông, công, thương và tín đồ đạo giáo, nhưng chung quy là phải triệt hạ tận gốc rễ sinh khí và mầm mống phát triển của Dân tộc để phục vụ riêng cho một bè nhóm trong Đảng Cọng sản Việt Nam.

Đảng lãnh đạo:
Với những danh xưng “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” hay “Đại diện dân lao động”, tập đoàn Cọng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và độc tôn nắm giữ quyền bính để chia lợi. Ai được gia nhập vào hàng ngũ Đảng thì được gọi là Đảng viên, và cùng dự phần “lãnh đạo” của Đảng. “Đảng lãnh đạo” là một lề lối được thi hành mọi nơi khắp chốn. Từ cuộc cải cách ruộng đất tiêu diệt tá điền ở miền Bắc cho đến việc đổi tiền triệt hạ giới tư bản ở miền Nam đều là “Đảng lãnh đạo”. Từ phong trào “kiểm kê hộ khẩu” đến chiến dịch “bài trừ tôn giáo” đều là “Đảng lãnh đạo”. Anh nông dân vác cuốc lao động buổi sáng cũng là “Đảng lãnh đạo”, người mẹ ngồi ru con trong mỗi buổi tối cũng là “Đảng lãnh đạo”, chú bé chăn trâu mỗi ngày cũng là “Đảng lãnh đạo”...

“Đảng” (chủ từ) “lãnh đạo” (động từ), hiển nhiên đã trở thành một đại danh từ thay thế cho một bè lũ, phe nhóm. Nó là con dao hai lưỡi: Một lưỡi chém thẳng vào dòng sinh mệnh dân tộc, lưỡi kia dùng để củng cố quyền lực, bốc lột dân lành.

a) Thế nào là lưỡi chém thẳng vào dòng sinh mệnh dân tộc?
Dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam là sự thăng tiến theo từng thời đại, được hun đúc, bồi bổ bởi những chủng tử dân Việt. Thế nhưng, những nhà trí thức tài năng, những nhà tôn giáo vĩ đại, xuất thế, những tư tưởng gia siêu quần, những kinh tế gia lỗi lạc, những chính trị gia tân tiến... đang muốn xây dựng một đất nước Việt Nam phồn vinh, muốn thực hiện một dân tộc Việt Nam tự do dân chủ, thì hiện nay đang bị Cọng sản cho vô khám ngồi chơi, hoặc bị giam hãm, hoặc bị ức chế, quản chế, đánh dập, tử hình... để thay vào đó một lũ côn đồ ác đảng lãnh đạo đất nước, khiến cho đất nước bị tê liệt trong suốt gần sáu thập niên qua (1945-2000).

Những nhà tôn giáo đầy đủ tài năng, sáng ngời đức độ, trí tuệ anh minh, tinh thần dũng cảm như Hòa thượng Huyền Quang, Hòa thượng Quảng Độ, thì không không những không được trọng dụng mà còn bị giam cầm, bức tử. Vào ngày 5/7/2000, công an thành phố Quảng Ngãi đến chất vấn để ghép tội Hòa thượng Huyền Quang vì bức thư gởi Đảng và Nhà nước đề ngày 21/4/2000, yêu cầu Đảng và Nhà nước lấy ngày 30 tháng Tư làm "Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc". Qua sự đối đáp giữa Ngài Huyền Quang và bọn cao cấp công an Cọng sản vào ngày 5/7/2000, chúng ta phải triệu lần khâm phục tài ứng đối, trí óc thông minh của các nhà lãnh đạo Phật giáo:

Công an: Vừa rồi "ông" có viết một bản văn gởi Chính phủ phải không?
Hòa thượng Huyền Quang: Có.

Công an: "Ông" viết hay ai viết cho "ông"?
HT Huyền Quang: Ý kiến trong thư là của tôi và Giáo hội chúng tôi, cốt nói lên nguyện vọng của quần chúng nói chung, Phật giáo đồ nói riêng.

Công an (nạt nộ): Ngoài "ông" còn ai giúp việc thực hiện và tán phát văn bản?
HT Huyền Quang: Các anh cứ còng tay tôi dẫn về đồn, tôi sẽ khai báo như một bị can. Ở đây không là phòng tra vấn.

Công an: "Ông" ở nơi xó góc này, chẳng bước chân ra khỏi cửa. Biết gì về tình hình mà viết lung tung? "Ông" có biết rằng đất nước ta đang từng ngày đi lên? Đời sống nhân dân ngày càng tiến bộ rõ nét. Ai đói nghèo đâu mà "ông" bảo là nhân dân nghèo đói? "Ông" muốn sách động nhân dân chứ gì?
HT Huyền Quang: Đảng và Nhà nước kêu gọi và viết đầy tường: "Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra" nghĩa là gì các ông giải thích tôi nghe thử. Luật nào cấm tôi phát biểu, các ông nói tôi nghe thử. Chính Nhà nước kêu gọi "Xóa đói giảm nghèo" trên Ti vi, trên radio, trên báo chí kia mà. Không đói sao mà xóa? Không nghèo sao mà giảm, hả các anh? Ngay chỗ quản thúc tôi đây, ngày nào cũng có người tới xin tiền, xin gạo, không đói sao họ lại đi xin? Các anh giảng tôi nghe coi.

Công an (làm thinh không trả lời, rồi hỏi tiếp): Làm gì có chuyện 300.000 bộ đội mất tích chưa tìm thấy mộ phần? "Ông" lại còn muốn chúng tôi hốt xác của Ngụy quân vào chôn chung trong nghĩa trang Liệt sĩ phải không? Chôn như vậy Liệt sĩ họ có chịu không? HT. Huyền Quang: Con số 300.000 bộ đội mất tích tại miền Nam cho tới nay chưa tìm thấy mộ phần là con số do Nhà nước công bố đó các anh. Việc chôn chung trong nghĩa trang ư? Chuyện đó không cần thiết, chôn ở đâu cũng được. Cái quan trọng là phải triệt tiêu đi thứ tư tưởng phân chia thù, bạn; phải quan tâm kiếm tìm bộ đội và binh sĩ hai miền Nam Bắc mất tích phục vụ hàng triệu gia đình tử sĩ, như đã và đang kiếm tìm binh sĩ Mỹ mất tích phục vụ cho nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ. Mấy ông liệt sĩ có đội mồ lên mà phản đối đâu. Các ông chớ lo chuyện đó. Các ông mà cứ phân biệt đối xử thì hòa bình thực sự chẳng bao giờ đến giữa lòng người...

Công an: "Ông" làm nhiều việc sai lầm lắm. Chẳng hạn Mỹ đi rồi mà "ông" còn muốn kéo trở lại...
HT. Huyền Quang : Tôi kéo lại như thế nào?

Công an: "Ông" lôi lại cái chuyện Sơn Mỹ thuở xưa làm mất lòng họ.
HT. Huyền Quang: À, té ra là vậy. Tôi có nhắc chuyện đó là nói cho dân chớ chẳng nói gì cho tôi. Tôi nhắc chuyện Đảng và Nhà nước lạy lục cúc bái với kẻ cựu thù, là Mỹ, trong khi ấy lại chẳng chịu hòa giải với dân, với mọi thành phần dân tộc. Các anh bỏ rơi dân, chạy theo đồng tiền. Không lẽ vì họ có tiền nên các anh chạy theo, quên hết mọi khổ đau, đói nghèo, ức chế của dân mình?

Công an (làm thinh không đáp, nhưng lớn tiếng đánh trống lãng): "Ông" làm như chúng tôi không biết. Năm ngoái các ông chắp tay đi lạy thằng Mỹ rồi hắn mới cho tổ chức Đại hội (ý nhắc Đại hội VIII tháng 5.99 tại Nam California, PTTPGQT chú). Rồi còn chắp tay đi lạy thằng Clinton để hắn viết thư chúc mừng Đại hội. Tưởng làm như vậy là tốt, các ông không biết xấu hổ à?
HT. Huyền Quang: Được rồi, tôi sẽ viết thư qua hỏi Giáo hội chúng tôi bên đó. Nếu Giáo hội chúng tôi không lạy ai cả, thì chính các anh đã vu cáo và xúc phạm Giáo hội chúng tôi.

Công an: "Ông" khó chịu lắm. "Ông" lẩm cẩm lắm. "Ông" cứ liều cái mạng già của "ông" để nói càng, viết càng như vậy mãi sao?
HT. Huyền Quang: Tôi lẩm cẩm chỗ nào? Tôi ăn nói đàng hoàng, lịch sự, tôi nói có đầu có đuôi, có đủ chứng lý, số liệu, sự kiện chính xác. Tôi lẩm cẩm thì sao các anh còn tới đây "làm việc" với tôi? Các anh nói tôi "liều mạng già" là các anh xúc phạm tôi. Tôi già nhưng tôi không nói bậy, không nói láo, nói lừa, nói vu khống. Tôi già nhưng tôi nói chuyện chính đáng, có sự thật rành rành trước mắt chứng minh.

Năm 1969 đã kết thúc cuộc đời tanh mùi xương máu của Hồ Chí Minh. Cọng sản Bắc Việt bảo Hòa thượng Thích Đôn Hậu khiêng quan tài của ông Hồ với một thâm ý: “gánh vác quan tài của Hồ Chủ tịch là một vinh dự cho mỗi người dân. Và, không những Đảng viên Cọng sản mới vác quan tài, mà đại diện của một tôn giáo lớn như Phật giáo mà cũng khiêng quan tài Hồ Chủ tịch. Tất cả mọi người, từ dân thường cho đến các tôn giáo, đều tôn thờ Hồ Chủ tịch...” Thế nhưng, Hòa thượng Đôn Hậu không khiêng, Ngài bảo:
“Tôi đã cát ái từ thân, bất bái quốc vương, bất bái phụ mẫu. Tôi chỉ biết lạy Phật mà thôi.”
Bọn Cọng sản cũng không phải vừa, chúng thuyết phục:
“Nhưng mà Thầy kiêng quan tài của Hồ Chủ tịch nghĩa là thầy làm nghĩa vụ của một người dân chứ không phải là nghĩa vụ của một vị tu sĩ.”
Vỏ quít dày, có móng tay nhọn, Hòa thượng Đôn Hậu liền đáp: “Được rồi. Tôi xuất gia từ Huế, các ông cho tôi vào Huế để xả giới, rồi tôi sẽ trở lại đây để làm nghĩa vụ của một công dân để vác quan tài của bác.”
Bọn Cọng sản liền nói: “Bây giờ Mỹ Ngụy còn ở Huế, làm sao mà chúng tôi đưa Thầy về Huế để xả giới được?” Chúng đành ngậm đắng nuốt cay mà bỏ qua vụ đó!

Cũng vào một buổi thuyết pháp của Hòa thượng vào năm 1976 tại Đà nẵng, có một vị cư sĩ hỏi Thầy: “Bạch Thầy, Công an bảo phật tử hãy bỏ tượng Phật xuống và đem ảnh bác Hồ lên chưng thờ. Làm như vậy có đúng không?” Hòa thượng Đôn Hậu liền đáp: “Không đúng. Là Phật tử, thì chỉ nên thờ Phật, không thờ ai cả. Hơn nữa, cụ Hồ có bao giờ bảo cụ là Phật đâu? Cho nên chúng ta chỉ thờ Phật mà thôi.”

Đó, đủ thấy tài năng ứng biến cao siêu tuyệt hảo của các tu sĩ trong Phật giáo. Chính thế, trải qua bao thời đại vàng son trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo đã đem lại cảnh quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, không ngoài một lý do là: những vị vua đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, nhưng quan yếu nhất là những vị tu sĩ tài đức đã làm quốc sư cho vua và họ đã dấn thân cho sinh mệnh của dân tộc.

Bây giờ Cọng sản Việt Nam khát máu đang bịt miệng, chặt tay những vị có tinh thần cao độ với quốc gia, dân tộc. Đó là chưa kể bao nhiêu nhà trí thức lỗi lạc đang bị chúng cầm tù, xử án; bao nhiêu tâm huyết, sáng kiến, dự án đang còn tiềm tàng, ấp ủ trong trí óc của hơn 78 triệu dân quốc nội chưa chịu phơi bày vì sợ lưỡi búa liềm của Cọng sản cắt cổ. Thế có phải bọn Cọng sản đang chém thẳng vào dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam không?

b) Cọng sản đã dùng lưỡi kia để bốc lột, vơ vét như thế nào?
Danh xưng “Đảng lãnh đạo” như đã đề cập trên, là bùa hộ mạng của đảng viên Cọng sản. Nhân dân sợ té đái, không dám hó hé. Mỗi khi dân lành nghe đám công an dọa: “anh phản động! Anh nàm (làm) sai nguyên tắc của Đảng ta!...”, thế là dân chỉ thấy bốn bức tường xi-măng đen thui trước mặt. Không phân minh. Không bàn kiện. Không năn nỉ. Tất cả các tòa án tại Việt Nam chỉ là những cơ cấu quyền lực để kết tội dân lành, những chìa khóa và dây xích sắt, siết thêm chặt nạn nhân. Từ những sự vụ xét xử tù nhân lương tâm cho đến tù nhân chính trị, chưa bao giờ Cọng sản xét công khai nơi công chúng hoặc có sự giám sát của quốc tế nhân quyền. Nhà nào không treo cờ máu là vi phạm luật, phản Đảng, thiếu hình Hồ tặc cũng vi phạm luật, phản Đảng. Làm thơ tình cũng vi phạm Đảng. Nói chuyện giỡn cũng vi phạm Đảng. Trả bài thiếu chữ “Bác Hồ, Đảng ta” cũng vi phạm Đảng. Nhất cử nhất động mà Đảng không biết cũng vi phạm Đảng... Thế thì những ai không bao giờ vi phạm Đảng? Đó là những “ông trời con” - con cháu của bọn đảng viên Cọng sản:

Trước đây có Diễn (con trai của Tổng Bí thư CSVN Lê Khả Phiêu); Bà Cầm, cậu Nam (vợ và con trai của cựu thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt); Phương (con rể của Tổng Bí thư CSVN Đổ Mười); Ty (con trai của đương kim thủ tướng CSVN Phan Văn Khải); Tuấn Anh (con của chủ tịch nhà nước CSVN Trần Đức Lương), Quang (con của Phó Thủ tướng CSVN Ngô Xuân Lộc); Vịnh (con của tướng CSVN Nguyễn Chí Thanh); Công (em của Tổng Tham mưu trưởng CSVN Đào Đình Luyện); Trương Gia Bình (con rể của tướng Võ Nguyên Giáp); Thành (con của Lê Duẫn); con cháu của Bộ trưởng CSVN Trịnh Tam Tỉnh, và các “cô, cậu” con cháu của những kim, cựu đảng viên vô số kể, đều là những tay tham nhũng, buôn lậu, đĩ điếm, nhậu nhẹt, xì ke, ma túy, kinh doanh bất hợp pháp, sử dụng ngân qũy quốc gia như dùng đồ trong túi áo, giết người đối lập không cần pháp luật mà chỉ dùng băng đảng của mình, lộng hành khét tiếng, tiền trong băng Thụy sĩ phải tính từ hàng trăm triệu US đô la trở lên... Dân Việt quốc nội phải đứng xa mà than rằng: “Đó là những ông trời con, không ai làm gì nỗi”. Nay lại có những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh v.v. coi Dân tộc là nô lệ, coi Quốc gia là đồ chơi, nên mang đất đai, biển đảo, tài nguyên trao tặng cho Tàu Cọng. Bọn này dù có đêm ra “Tru di tam tộc” chăng nữa, cũng chưa đền nổi tội bán nước phản dân!

Nhận diện Giáo hội Phật giáo Việt nam (quốc doanh) là một mặt trận của Đảng CSVN – Mặt trận tôn giáo:

Nhân danh nhiều mặt trận trong công cuộc chiếm đoạt miền Nam Việt Nam với mộng xích hóa vùng Đông Nam Á, bè lũ Cọng sản đã nuốt chửng chế độ Cọng hòa. Tiếp đến, chúng tạo ra một mặt trận “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” dưới sự chỉ đạo của Đảng để tàn sát tôn giáo. Đó là mặt trận dùng tôn giáo để diệt tôn giáo. Tại sao gọi đây là mặt trận? Vì, sau khi mục đích đã đạt, danh nghĩa mặt trận tự nó tiêu tan. Quá trình đấu tranh của Đảng Cọng sản Việt Nam đã rõ ràng chứng minh điều đó. Đã thế, nhiều người vẫn đang con mơ hồ, tưởng ngon, nhảy vô làm tôi tớ cho cái Giáo hội quốc doanh vô hồn đó. Có gì đáng thương hơn!?

Đấy là những sự kiện đã và đang xảy ra trên quê hương, trên đất nước Việt Nam muôn đời yêu dấu.

Nụ cười xa xỉ vẫn toang toác trên miệng rộng đến vành tai của bọn bất lương đảng tặc; tiếng khóc méo mó chưa bao giờ nguôi trên gương mặt thống khổ của các em thơ.

Thế giới đang hớn hở bước vào một kỷ nguyên mới lạ của nền khoa học kỹ thuật cấp tiến; Việt Nam còn mãi lục đục với cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau...

Guồng máy lãnh đạo của Đảng Cọng sản Việt Nam đã thối nát. Cấp lãnh đạo Việt Nam, từ cha đến con, đều là những tên đầu trộm đuôi cuớp, ngu dốt hết mức lường, tham lam vô đáy, gian ác hết chỗ chê, điêu ngoa hết chỗ nói, sắt máu hết chỗ khuyên, ngoan cố hết chỗ dạy... Điều này, chẳng cần nghĩ ngợi, nó đã chỉ rõ cho mọi người biết tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu rồi…

Từ những sự dữ kiện trên, người Việt hải ngoại chúng ta cần nên dứt khoát cho lập trường của mình. Đừng nên do dự nữa! Hãy chiêm nghiệm sự thoái đọa của các nước cọng sản như Việt Nam, Cu Ba, Tàu cọng mà ra sức tranh đấu cho sự phú cường ở quê nhà! Chúng ta hãy nên hợp tác chặt chẽ để lật đổ chế độ bạo tàn Cọng sản thì khi đó đất nước Việt Nam mới có cơ hội phồn vinh. Đó là điều kiện CẦN VÀ ĐỦ để tái thiết quê hương, phát triển kinh tế và tô bồi cho giang sơn gấm vóc Việt Nam! Nếu nói về “đem tự do cho dân tộc Việt Nam chúng ta”, thì yếu tố cần thiết để phụ giúp cho điều kiện CẦN VÀ ĐỦ ở trên, là chúng ta phải mau mau tiêu diệt bè lũ Cọng sản gấp gấp! Không gian không ngăn nỗi chí nguyện, thời gian không cản nỗi lòng người nếu chúng ta còn tha thiết, khát khao cho hậu duệ của chúng ta sau này. Hãy đừng để cho thế hệ sau của con em chúng ta phải tiếp tục sống dưới hệ thống ngu dân hóa, bần cùng hóa, nô lệ hóa của chủ nghĩa Mác Lê. Đừng có cam phận với ngày hai bữa cơm khá sung túc ở tha hương mà quên đi những kiếp sống triền miên bị đọa đày, tủi nhục của máu mủ chúng ta dưới ách thống trị bạo tàn của quân đỏ ở quốc nội. Đó còn chưa nói đến tiền đồ tối tăm, điêu đứng của Giáo hội ở quê nhà. Chủ nghĩa quái thai Mác Lê đã bị thế giới ruồng bỏ, Nga sô đã dụt, Đông Đức đã quăng, các nước Tây Âu đã vứt. Chỉ có bọn khát máu Cọng sản Việt Nam cứ khư khư ôm lấy để giết hại đồng bào mà thôi.

Chống cọng, không nhất thiết là cầm súng choảng lại chúng, mà chỉ cần sự cổ vũ của mỗi một chúng ta đối với từng cá nhân hy sinh cho lý tưởng; chỉ cần sự khuyến khích con em chúng ta đứng lên đấu tranh can thiệp cho nhân quyền; chỉ cần hỗ trợ các cọng đồng, hội đoàn, đoàn thể...; chỉ cần dùng lá phiếu để vận động các chính quyền ngoại quốc nên có những điều kiện hữu hiệu với bọn Cọng sản trước khi tiến tới việc thi hành những mậu dịch gì với Cọng sản Việt Nam. Nhất là hiện nay, nạn “đâm sau lưng những chiến sĩ có tinh thần chống cọng cao độ” đang lan tràn đến mức độ kinh khủng, do một số những tên vô loại làm tay sai cho Cọng sản để mưu đồ chuốc lợi. Chúng ta phải chận đứng ngay. Mỗi một chúng ta chỉ cần góp một ưu tư nhỏ bé cho tiền đồ của Đạo pháp và cho dòng sinh mệnh của Đân tộc, thì tự nhiên nó sẽ trở thành một sức mạnh “bất khả tư nghì” dẻo dai và bền bỉ trong công cuộc đương đầu với bọn Cọng sản Việt Nam.
Cọng sản là những con người “thép đã tôi thế đấy”. Tâm não của chúng đã được tôi luyện, nhấm nhuộm độc tố Mác-Lê mà không thể nào gột rữa được.

Có một vài ý kiến cho rằng hãy để cho thời gian chuyển hóa chúng, chúng tự thay đổi... Lớp già chết đi, lớp trẻ lên thay và sẽ cải tổ guồng máy chính trị, xây dựng đất nước v.v. Tôi không tán thành ý kiến đó. Ai là lớp trẻ? Không ai khác hơn là con cháu của cựu đảng viên. Cha chết con thay. Lớp này càng tàn nhẫn và táo bạo dẫn đầu cha ông chúng! Hãy sử dụng trí óc để chiêm nghiệm, thấy rằng: Lớp già như tên Phạm Văn Đồng đã ký công hàm giao Hoàng Sa Trường Sa cho Tàu Cọng; nay lớp trẻ là tên chó má Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh lại dâng Ải Nam Quan, biển Nam Hải và quặng Bô Xít ở Tây Nguyên cho kể thù truyền kiếp. Thế thì, ai bảo lớp trẻ lên thay sẽ giữ lại giang sơn Tổ quốc? “Những ông trời con” như đã trình bày trên là một bằng chứng cụ thể cho dòng máu bóc lột, tham nhũng, tham sát theo kiểu “cha truyền con nối” của bè lũ Đảng Cọng sản rồi. Cách tốt nhất để cho con em chúng ta, cho hậu duệ của chúng ta sẽ khỏi phải tiếp tục bị đọa đày, đói khát, ngu dốt, và cho dân tộc Việt Nam chúng ta khởi mầm khai sinh thì chúng ta phải lật đổ bạo quyền Cọng sản. Chém chúng thành trăm mảnh làm phân để châm bón mầm sinh của Dân tộc! That’s it! Cách thức lật đổ chúng như thế nào đó, còn tùy thuộc vào lập trường, sự hy sinh và đóng góp của mỗi một cá nhân, đoàn thể, tôn giáo đang còn mang nặng nỗi ưu tư dân tộc.

Hoài Nam

Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc chúng chửi nhau


Lẵng lặng mà nghe

Trong cuộc chiến tranh biên giới 1979, ngoài việc đánh nhau bằng súng đạn, hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc còn đánh nhau bằng võ mồm và qua sách vở.

Chương trình Hoa Ngữ của đài phát thanh Hà Nội liên tục suốt nhiều tháng đã “vạch trần âm mưu của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Bắc Kinh” bằng nhiều sách vở, tài liệu tổng hợp từ ngày mới thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam 1930, và cũng không thua kém gì, qua chương trình Việt Ngữ của đài phát thanh Bắc Kinh, Trung Cộng cũng đã tố cáo giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam phản trắc, vong ơn, “ăn cháo đá bát” bằng nhiều con số, bằng chứng, tài liệu về những “hy sinh” của Trung Quốc đối với đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời chiến tranh chống Pháp cho đến 1975.

Mời độc giả đọc một chương trong cuốn sách “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, một trong 3 tập tài liệu do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành năm 1979 để biết rằng hiểu Trung Cộng không ai bằng Việt Cộng và hiểu Việt Cộng cũng không ai bằng Trung Cộng.

Độc giả có thể bấm vào đây để download toàn bộ sách trong dạng pdf.

Chương II:
Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay

Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:

1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.

Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta.

Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.

2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”.

Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.

Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này.

Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.

Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…

3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.

Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố…

Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trng Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.

4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.

5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.

Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.

6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.

7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.

Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.

9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).

Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.

Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:

Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.

Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:

Năm 1974: 179 vụ.
Năm 1975: 294 vụ.
Năm 1976: 812 vụ.
Năm 1977: 873 vụ.
Năm 1978: 2175 vụ.


Cho tao chưởi mầy một tiếng

Đụ má, cho tao chưởi mầy một tiếng,
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu?
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng,
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao.
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng,
Cầm súng làm gì… chẳng lẽ hiếp dân.
Tao không tin lính lại hèn đến thế,
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm.
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngõ,
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
"Môi liền răng" à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh.
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước,
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu.
Thân phận mầy cũng là Lê, là Nguyễn
Hà cớ gì.... mầy hèn đến thế sao!
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến,
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn.
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi,
Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn.
Đàn gãy tai trâu.... xem chừng vô ích,
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không...

Trạch Gầm


Bài Xem Nhiều