We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 18 July 2009

Tù Cải Tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản VN




Đỗ Ngọc Uyển


Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình “hoc tập cải tạo” của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là “cải tạo” những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch “cải tạo giết người” này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là “trại học tập cải tạo.”


Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 “trại cải tạo” của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.


“Học Tập Cải Tạo” Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam


Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như: Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất, và đàn áp những phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Trăm Hoa Đua Nở… Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân. Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị “cào bằng,” không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường… Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn “ban hành” một nghị quyết về “học tập cải tạo.” Đây là một mẻ lưới “vĩ đại” cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại “cải tạo” của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại “lao cải” (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. . . Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã “ban hành” một Nghị Quyết (Resolution) về “học tập cải tạo” mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã “đẻ” ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:


1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.

2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.

3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.

4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.


Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là “những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng.” (obstinate counter-revolutionary elements). Thời gian “cải tạo” được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa “tiến bộ” thì “cải tạo” thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào “học tập tốt, cải tạo tốt” thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi “cải tạo” là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps …)


“Học Tập Cải Tạo” tại Miền Nam Việt Nam


Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng. Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;” cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch “tắm máu trắng” đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.


Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:


Tội ác thứ 1 - Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng, vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)


Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này - công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp - ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách “khoan hồng” và sự “chiếu cố” của đảng nên những người này được đưa đi “học tập cải tạo” thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.


Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.


Tội ác thứ 2 - Tội tra tấn, hành hạ (Torture)


Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:


a. Hành hạ bằng cách bỏ đói - Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là “quy ra gạo.” Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì “lao động” nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa “thu hoạch” ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật “Bác”của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.


Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…


b. Hành hạ thể xác - Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu “lao động là vinh quang.” Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch…Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:


• Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.


• Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng
trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.


• Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.


• Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm “butterfly style or contorted position” bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau.

Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.


Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…


c. Tra tấn tinh thần - Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:


- Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) - Để mở đầu kế hoạch “cải tạo,” cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là “thâu hoạch” để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài “lao động là vinh quang” để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.


Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu “sát nhất nhân, vạn nhân cụ.”


- Tự phê (Confession) - Tiếp theo phần “học tập chính trị” là phần “tự phê.” Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng “trong lòng dân tộc.” Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và “phịa” ra những “tội ác” để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài “tội ác” so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.


“Tự phê” một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…


Tội ác thứ 3 - Tội giết người (Murder)


Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên “chánh án” cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong “bản án giết người” đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.


Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…


Tôi ác thứ 4 - Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)


Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.


Tội ác thứ 5- Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)


Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.


Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 “trại tù cải tạo” của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm.”


Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi “định cư” tại những “khu kinh tế mới” ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những “trại cải tạo.” Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).


Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh - cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực - là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi “học tập cải tạo” mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).


Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số “Trại Tù Cải Tạo”


Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “…According to the published academic studies in the United States and Europe…” thì số nạn nhân và số các “trại tù cải tạo” được ước tính như sau:


• 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).


• 165,000 nạn nhân chết tại các “trại tù cải tạo.”


• Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ.


Thời Gian “Cải tao”


Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. “…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.


Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.


Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. “…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…”


Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. “… Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochina wartime allies. “These people have been detained because of their closed association with us during the war,” said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…”


Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…


Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…” Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh “HO” để xuyên tạc sự thật lịch.


Học tập cải tạo” là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh “tù cải tạo/HO” phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ “cải tạo” của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có “nợ máu” với nhân dân nên các anh phải đi “cải tạo,” và khi tự gọi mình là “tù cải tạo” tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một “HO”- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người “tù cải tạo” - là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.


Đỗ Ngọc Uyển

Tháng 10 năm 2008

Sanjose, California


Tài liệu tham khảo:


-http://en.wikipedia.org/wiki/Reeducation_camp
-http://www.ofc.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
-http://www.victimsofcommunism.org/history_communism.php
-http://untreaty.un.org/cod/icc/STATUTE/99_corr/cstatute.htm (Rome Statute of International Criminal Court)

-http://www.optionaljournal.com/best/?id=110010372″ (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto)

http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=953D7103DF936A25753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989

- THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)

- U.S Department of State – Fact sheet - Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004


Chú thích


[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;


[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).

_________________

http://www.phamvanban.com



Polpot Miên ngu giết hết liền,
Việt Cộng, ra lịnh:” Chớ giết liền!”
Mấy triệu sĩ quan, lính công chức,
Sức người thật quí ! phải ưu tiên !”



Võ văn Kiệt nói:”đừng giết liền !

Còn sức lao động vắt ra tiền,

Tận dụng phá núi xây cao ốc,

Đấp đập, đào kinh phải ưu tiên!”

Làm nhiều, ăn ít tốn gì đâu !

Bịnh, yếu, nằm im, hết yêu cầu,

Không thuốc, chết nhanh, khỏi lo gạo,

Kế hoạch thật hay ! Nước mới giàu !”


Nếu không di dân diện H.O.

Chiến sĩ Quốc Gia trong tay Hồ,

Bị đày đến chết nhiều hơn nữa,

Hết sức lao động thì xuống mồ.



Chết trong trại tù hồn về đây :

Tượng đài Việt Mỹ flags tung bay !

Nếu ở Việt Nam còn chiến đấu.
Đánh cộng bằng miệng chửi hằng ngày”

CHÍNH TRUNG CỘNG TỰ TAY LỘT MẶT NẠ “ĐỘC LẬP DÂN TỘC” CỦA VIỆT CỘNG

Sự thật hiển nhiên, không thể chối cãi là Cộng Sản Việt Nam đã đoạt chính quyền, đã tạo ra những thắng lợi trong các cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đều nhờ vào công của tên ma đầu Hồ Chí Minh đã khéo léo ngụy trang dưới danh nghĩa “Dân Tộc giành Độc Lập”, “Chống Thực Dân Pháp”, Chống Đế Quốc Mỹ”. Trong khi đó các nước đàn anh Cộng Sản Nga, Tầu chỉ khiêm tốn đứng đàng sau để ngầm toàn lực tiếp giúp, mà thực tế họ là thế lực quốc tế có quyền quyết định tối hậu về chiến lược ‘hòa hay chiến’, ‘xây dựng’ kiểu nào tại Việt Nam. Dư luận thế giới đều biết thế, nhưng vì mặc cảm thua trận, nên các học giả Âu, Mỹ đã vô tình hoặc cố ý, cứ đồng hóa con người Cộng Sản Hồ Chí Minh thành người dân tộc yêu nước. Thực ra đối với họ Hồ thì chủ nghĩa Cộng Sản, hay tinh thần dân tộc, hoặc lòng yêu nước, cũng chỉ là phương tiện để y thực hiện quyền lực lãnh đạo tối cao cho cá nhân của y mà thôi. Hắn từng thẳng tay tiêu diệt các đồng chí dám dòm ngó ngôi vị lãnh tụ độc tôn của hắn, giống như Stalin và Mao Trạch Đông. Hắn sẵn sàng dìm toàn dân vào các biển máu chiến tranh. Hắn sẵn sàng hy sinh phúc lợi của toàn dân để thử nghiệm cuộc ‘cách mạng xã hội chủ nghĩa không tưởng’ biến toàn dân thành bày nô lệ của cộng đảng. Hèn hóa giới trí thức để làm công cụ phục vụ cho chế độ độc đảng, độc tài, độc ác, phi nhân, phi dân tộc.

Chính vì thế, mà trước mặt các đàn anh độc tài khát máu như Stalin, Mao Trạch Đông thì Hồ Chí Minh luôn luôn chứng tỏ mình là tên đàn em Cộng Sản trung kiên, tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của các đàn anh để phát động cuộc đấu tố cải cách ruộng đất, tiêu diệt tận gốc rễ tinh thần dân tộc và truyền thống yêu nước của các đảng viên Cộng Sản và toàn dân Việt Nam. Làm tất cả những việc cần làm là cộng sản hóa triệt để xã hội Việt Nam. Còn trước người dân Việt Nam hiền lành và dư luận quốc tế ngây thơ thì Hồ luôn luôn chứng tỏ mình là người ‘yêu nước, thương dân’ hết lòng vì ‘Độc Lập Dân Tộc’. Nhờ thế mà bọn con em Hồ Chí Minh sau, này lúc nào cũng phải bám vào ‘thần tượng Hồ Chí Minh chết tiệt’ này để nắm quyền. Nhưng nay, thì bọn Man Cộng con cháu của Hồ Chí Minh quá ngu si, hèn nhát; mà đàn anh Tầu Cộng thì ngông cuồng, nôn nóng, nên chúng đã tự tay lột chiếc mặt nạ ‘Độc Lập Dân Tộc’ của Việt Cộng xuống, để cho toàn dân thấy bộ mặt thật bán nước của bọn Man Cộng cầm quyền Hà Nội và mặt thật xâm lược của bọn Đế Quốc Đại Hán, bá quyền Bắc Kinh. Đích ra cứ cái trò dấu mặt kiểu Stalin cũ và Mao Trạch Đông xưa, đứng đàng sau Hồ Chí Minh mà điều khiển, thì bọn Man Cộng, Nông Đức Mạnh hèn nhát này, tất sẽ ngoan ngoãn, từ từ từng bước dâng cả đất nước, lẫn dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng, để sát nhập vào làm một nước Trung Hoa vĩ đại, như bọn trùm Bắckinh mong muốn. Thực tế chúng đã cắt đất, dâng biển, và âm thầm biếu không tài nguyên Việt Nam cho Tầu Cộng, rước Trung Cộng vào Tây Nguyên, cho độc quyền khai thác bauxite. Chúng còn cho người Tầu tự do vào Việt Nam làm ăn, cưới vợ, lập làng, nhằm đồng hóa Viểt Tộc, như Trung Cộng đang đồng hóa dân tộc Tây Tạng và dân tộc Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.

Nhưng Trời xui, Đất khiến, Tổ trác sao đó, hay là sợ bọn Việt Cộng Hà Nội bỏ Tầu, ôm chân Mỹ, và nguy hiểm hơn nữa là những mâu thuẩn nội tại trong lòng cộng đảng, và lòng xã hội Trung Hoa? Nên sau cuộc viếng thăm Mỹ của Nguyễn Tấn Dũng, đưa tới việc hợp tác với Mỹ lên tầm cao, khiến giới quân sự Tầu Cộng nóng mũi. Tung lên trên mạng những lời đe dọa tiến chiếm toàn diện Việt Nam chỉ trong mười ngày. Thế rồi nhà cầm quyền Trung Cộng lại cho tàu chiến dương oai diễu võ tại biền Đông, cấm và bắt ngư dân Việt Nam hành nghề trên vùng biển, vốn thuộc chủ quyền Việt Nam, mà Tầu Cộng đang cố tranh chấp với Việt Nam. Vậy mà phía Việt Cộng không dám phản kháng. Rồi Trung Cộng còn bần tiện, áp dụng trò chơi hải tặc, bắt ngư dân Việt Nam phải chuộc tiền, khiến cho dư luận thế giới khinh chê, Việt Nam căm phẫn. Trung Cộng còn coi thường bọn cầm quyền Hà Nội đến mức để cho viên tham tán kinh tế thương mại thuộc Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Hà Nội, Hồ Tỏa Cầm chính thức lưu ý chính quyền Hà Nội là phải khuyến cáo - thậm chí kỷ luật – các tờ báo Việt Nam xúc phạm đến chất lượng hàng hóa Trung Quốc. Vì 2 chuyên gia kinh tế, Phạm Chi Lan và Nguyễn Minh Phong có bài phân tích trên báo về sự độc hại, cùng gian lận của Trung Cộng trong việc bán hàng tại Việt Nam.

Trong lúc đó, khi tiếp xúc với tụi lãnh đạo Bắc Kinh, Nông Đức Mạnh luôn miệng: “Cảm ơn sự giúp đỡ to lớn mà Đảng, nhân dân Trung Quốc đã đang dành cho Việt Nam”. Nguyễn Tân Dũng lên tiếng trên tờ South China Morning Post rằng: “Việt Nam và Trung Quốc hoàn toàn có khả năng giải quyết những tranh chấp âm ỷ về lãnh hải”. Nguyễn Sinh Hùng tiếp đại sứ Trung Cộng, Tôn Quốc Cường đã nhấn mạnh rằng: “Tình hữu nghị truyền thống giữa hai đảng, hai nhà nước, và nhân dân hai nước Việt-Trung là gia tài quý báu , cần hết sức gìn giữ và không ngừng phát huy mạnh mẽ”. Chừng nào bọn hèn này còn cầm quyền tại Hà Nội, thì chừng đó, chúng sẽ luôn luôn vâng lời sai bảo của Bắc Kinh, bắt tù đầy tất cả nhửng người dám bày tỏ ý kiến chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh tại Việt Nam, như trường hợp của Ls, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim…Nhưng trước sự hèn hạ của bọn Mancộng Hà Nội, sự hống hách nước lớn, kẻ cả của bọn bành trướng Bắc Kinh, thì chiếc mặt nạ “Độc Lập Dân Tộc” của bọn lãnh đạo Mancộng Hà Nội đã bị lột xuống, để trơ ra bộ mặt thật bán nước, hại dân của họ. Sẽ không chỉ một số người đơn độc phản kháng nữa, mà sẽ có hàng Triệu Triệu người Việt Nam thương dân, yêu nước, họ đang có mặt trong bộ đội, công an, nhân viên, công chức, thanh niên, lao động, sinh viên, học sinh và trí thức, cùng sẽ nhất tề cất lên tiếng nói, chống bọn bán nước và lũ xâm lăng. Như tổ tiên Việt Nam xưa nay đã làm.

Khi Trung Cộng ra sức hô to, rống lớn, hăm he dùng sức mạnh quân sự đe dọa Việt Nam, chính là vì thực lực quân sự, kinh tế, xã hội, chính trị của Trung cộng đang ở thế yếu. Nga, Mỹ làm hòa với nhau, cắt giảm vũ khí nguyên tử. Nga cho Mỹ mượn lãnh thổ tiếp tế cho chiến trường Afghanistan và Pakistan. Tương lai gần, Nga và khối NATO sẽ hợp tác quân sự với nhau. Ấn Độ được Mỹ hà hơi tiếp sức, mà việc Tây Tạng đòi được quyền tự trị rộng rãi với Trung Cộng, cũng là mối quan tâm của Ấn Độ. Nhật Bản tái vũ trang và viện trợ khổng lồ cho các nước ASEAN. Việc Trung Cộng âm mưu thôn tính biển Đông, làm chủ đường hàng hải quốc tế Malacca, khiến Nhật, Mỹ, Úc không thể làm ngơ. Nghĩa là con rồng đất Trunghoa bị vây khốn. Tân Cương vừa nỗi loạn. Thổ Nhĩ Kỳ thành viên của NATO, lên tiếng chỉ trích Trung Cộng là “diệt chủng”. Tuy chính quyền Mỹ Obama vẫn hòa hoãn với Trung Cộng, nhưng nếu Trung Cộng phạm vào chiến lược toàn cầu của Mỹ là thôn tính Đông Nam Á thì Mỹ chẳng thể để yên. Vậy một dấu hỏi được đặt ra là việc Trung Cộng xuống tay lột mặt nạ Độc Lập Dân Tộc của Việt Cộng trong lúc này là có ý gì? Phải chăng đây lại là một cuộc buôn bán kiểu mới?

Lý Đại Nguyên

Đế quốc Trung Hoa vẫn bành trướng

Hàng trăm người Uighur chết ở Tân Cương và mấy chục ngư phủ Việt Nam chết ở biển Ðông sau khi bị đánh chím tầu, họ đều là nạn nhân của một hiện tượng lịch sử diễn tiến trong hai ngàn năm nay. Ðó là sự bành trướng của một đế quốc đã thành hình trên Hoa lục từ hơn 200 năm trước Công Nguyên. Người Uighur hay người Tây Tạng đã bị nuốt vào nằm trong đế quốc đó, còn người Việt vẫn đang chịu áp lực của sự cọ xát do hiện tượng bành trướng đó gây ra, giống như các nước biên ngoại khác.

Người Trung Hoa đến nay vẫn tự gọi họ là người Hán, dùng tên của đế quốc đầu tiên kéo dài 4 thế kỷ này, mà vào năm 43 họ đã chính thức chiếm đóng vùng sông Hồng, sông Mã của dân tộc Việt để thi hành một chính sách trực trị và đồng hóa. Họ đã thành công trong công việc đồng hóa các sắc dân từ vùng Thượng Hải, Phúc Kiến, cho đến Quảng Ðông, Vân Nam. Nhưng một nhóm người Việt là tổ tiên chúng ta đã thoát khỏi vòng kềm tỏa của đế quốc đó sau một ngàn năm không ngừng tranh đấu. Người Uighur và các dân tộc theo Hồi Giáo ở Tân Cương không may mắn như người Việt. Cũng bị sáp nhập vào nước Trung Hoa trong hơn một ngàn năm, đến nay họ vẫn phải sống làm dân nước đó như một nhóm thiểu số bị khinh thường. Khi những người dân “thiểu số” này nổi dậy phản kháng vì bị đối xử bất công, họ bèn bị gán cho tiếng “phản loạn.”

Kể từ thời nhà Hán, mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì những vị hoàng đế Trung Hoa lại bành trướng lãnh thổ. Các triều đại Ðường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Các dân tộc chung quanh thường được bình an những khi “bên Tàu có loạn” chia năm xẻ bảy. Ðể cho công bằng, chúng ta không nên nghĩ là cả dân tộc Trung Hoa có tham vọng đế quốc. Thực ra chính các vị hoàng đế, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; chính họ mới chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Ðế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 - 1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu.

Cho nên có thể nói Trung Quốc không phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, với một dân tộc và một tổ chức nhà nước cai trị (nation-state). Cũng giống như Liên Bang Xô Viết trước đây, chưa bao giờ là một quốc gia cả, khi guồng máy ở trung tâm nới lỏng ra thì cả đế quốc cũng tan rã. Nói về nước Trung Hoa theo lối có thiện cảm như một Martin Jacques, người Anh, tác giả cuốn “When China Rules the World” mới xuất bản, thì đó là một “civilisation-state,” một tổ chức cai trị để phát triển và bành trướng một nền văn minh riêng. Văn minh Trung Hoa được những người sống ở vùng Hoàng Hà dùng để “khai hóa” các dân man di chung quanh từ thời Tần Hán đến thế kỷ 20. Chế độ Cộng Sản đã dùng một thứ “văn minh” khác: chủ nghĩa Mác-Lê nin-Mao, với tinh thần đoàn kết vô sản thế giới, xóa bỏ phân biệt chủng tộc cũng như biên giới quốc gia.

Theo đúng chương trình của Mao Trạch Ðông, khi chế độ Cộng Sản được thực hiện khắp Á Châu thì những sắc dân ở Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, cho tới Mã Lai Á, Indonesia đều sẽ “trước là đồng chí sau là anh em,” được hưởng quy chế cùng một nhà với người Hán. Khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa để chiếm Hoàng Sa năm 1974, chính phủ Cộng Sản ở Hà Nội không lên tiếng phản đối. Vì họ theo đúng tinh thần đoàn kết vô sản của Mao Trạch Ðông, mà Hồ Chí Minh vẫn tôn thờ và ca ngợi.

Các chính phủ Trung Quốc thường nói họ là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng thực chất là một đế quốc. Nhà Thanh công nhận năm sắc dân: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, vì họ thuộc giống Mãn, cần hợp thức hóa chế độ cai trị của họ trên đa số dân Hán. Thời dân quốc, từ năm 1912, cũng theo nếp đó. Ðến thời Cộng Sản, họ nói Trung Quốc có 55 sắc dân thiểu số, hiện nay có 104 triệu, chiếm 9% trong số 1.3 tỷ người, và sắc dân chính là người Hán, 91% dân số.

Nhưng ngay đám dân gọi là “người Hán” này cũng khó coi là một dân tộc vì họ không thuần nhất chút nào. Gọi tất cả là người Hán cũng giống như chúng ta gọi các đồng bào Mường, Thái, người gốc Cham, gốc Khơ Me đều là người “Kinh” vậy. Có 8 nhóm ngôn ngữ chính ở Trung Quốc, như tiếng Ngô, tiếng Việt (Quảng Ðông), tiếng Tương, Mân Bắc, Mân Nam (Phúc Kiến), vân vân. Trong mỗi nhóm tiếng chính lại chia ra nhiều ngôn ngữ phụ. Ngôn ngữ chính thức (phổ thông) học trong trường và dùng trong chính phủ (quan thoại), nhưng người dân vẫn dùng tiếng của vùng mình trong đời sống hàng ngày. Giữa người nói ngôn ngữ chính và tiếng Quảng Ðông cũng khó hiểu được nhau như giữa người Ðức và người Anh; hoặc giữa người Pháp và người Tây Ban Nha vậy. Trung Quốc cứ hợp rồi tan, tan rồi lại hợp, vì đời Tần cưỡng chế mọi người dùng một thứ chữ viết và các vị hoàng đế đời sau tiếp tục chính sách đồng hóa đó. Nhưng hiện nay nhiều sắc dân đang muốn xác định lại bản sắc của họ. Người Hẹ (Khách Gia) và người Quảng (Việt) đều muốn tìm hiểu lại di sản văn hóa cổ truyền. Tại Quảng Ðông đang có một phong trào phục hồi những di tích của văn minh Nam Việt. Những người di dân từ miền Nam Trung Quốc ra nước ngoài thường tự gọi họ là người Ðường chứ không gọi là người Hán. Ở các khu phố Tàu người ta đặt tên Ðường Nhân Hành, và tay võ sĩ từ bên Tàu qua được gọi là “Ðường Sơn đại huynh.”

Các vị hoàng đế đời trước và Hoàng đế Ðỏ bây giờ tìm cách xóa mờ sự khác biệt giữa các nhóm dân đó, đề cao một dân tộc Hán thuần nhất, là để bảo vệ đế quốc, tức là bảo vệ ngai vàng của họ. Cho nên sau vụ tàn sát người Uighur ở Tân Cương vừa qua, chính quyền Cộng Sản đã cho chiếu tin tức trên màn ảnh truyền hình khắp nước để cổ võ tình yêu “tổ quốc” gượng ép này. Nhưng ngay bây giờ trong nước Trung Hoa vẫn có những lực ly tâm hoạt động, vì tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh. Tình trạng bất công xã hội khiến mỗi năm có đến trăm ngàn “biến cố quần chúng” khắp nơi, tức là những vụ biểu tình từ một trăm người trở lên. Một đế quốc chỉ có thể bành trướng khi thật sự tập trung quyền hành, nhất là khi chính quyền trung ương có khuynh hướng độc tài. Còn khi guồng máy cai trị bên trong đế quốc đó được dân chủ hóa, các ý kiến khác biệt được thảo luận bình đẳng, thì nhu cầu bành trướng ra bên ngoài cũng nhẹ đi vì chính quyền không cần cho dân uống thứ ma túy gọi là “ái quốc” nữa. Vì vậy, đối với những quốc gia ở bên cạnh Trung Quốc như nước ta, khi nào nước Trung Hoa dân chủ hóa thực sự thì khi đó nước Việt Nam có thể nói chuyện bình đẳng với Trung Quốc. Nhóm các nhà trí thức ký Hiến Chương 08 đã đề nghị Trung Quốc theo thể chế liên bang, vì họ hiểu khát vọng tự trị của những đám dân khác ngôn ngữ và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế.

Ðề nghị liên bang hóa Trung Quốc nhắm vào những đám dân thiểu số lớn, như người Tây Tạng, người Uighur và các sắc dân khác ở Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương. Chính phủ Bắc Kinh rất lo ngại tình trạng căng thẳng sẽ đưa tới nhiều biến loạn và những cuộc tàn sát khác, như đã xẩy ra ở Tây Tạng năm ngoái và Tân Cương năm nay. Khi binh lính người Hán bắn vào những người Hồi Giáo ở Tân Cương, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cực lực lên án. Ðầu thế kỷ 20, Tây Tạng là một nước độc lập, dân Uighur cũng đứng lên thành lập một nước Ðông Thổ (East Turkistan) giống như nước Turkistan mới tách khỏi Liên Bang Xô Viết gần đây. Bộ trưởng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Những nước Trung Á khác cùng chung một tôn giáo với dân Uighur và tiếng nói cùng gốc Thổ cũng sẽ tỏ tình đoàn kết với người Uighur. Mà đây là một vùng chính quyền Bắc Kinh đang tìm cách kết thân, qua tổ chức Hội Nghị Thượng Hải (thêm Cộng Hòa Nga và sẽ thêm Iran) để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu lửa và khí đốt từ vùng Hắc Hải, diển Caspian, sang tới Trung Á.

Những dân tộc gốc Thổ vùng Trung Á cũng chia sẻ mối lo sợ như các nước vùng Ðông Nam Á. Họ sợ sức bành trướng tự nhiên của Ðế quốc Trung Hoa. Ngay nước Nga bây giờ cũng còn sợ đế quốc Trung Hoa xâm thực dần dần vào miền Siberia, thì người Hồi Giáo Trung Á cũng lo ngại những Ban Siêu, Phục Ba mới. Ðời Ðường đã lập An Tây Ðô Hộ Phủ để xâm lăng và thống trị vùng Tân Cương, Thanh Hải, mở đường qua phía Bắc Hy Mã Lạp Sơn. Cùng thời gian đó, An Nam Ðô Hộ Phủ thống trị dân Việt và đã tiến xuống tới tận Chiêm Thành.

Ðế quốc Trung Hoa bị ngăn lại ở biên giới Việt Nam, nếu không chắc họ đã bành trướng tới Indonesia (họ gọi là Nam Dương, Biển phía Nam), Mã Lai Á, Thái Lan, vân vân, từ trước khi các đế quốc Âu Châu sang đến vùng này. Nếu không có sức đề kháng của dân Việt, biết đâu người Thái, người Khơ Me bây giờ cũng có số phận như người Uighur mà thôi! Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng Việt Nam là hàng rào bảo vệ họ trước sự bành trướng của đế quốc Trung Hoa. Cho nên những người lãnh đạo Việt Nam biết bảo vệ chủ quyền dân tộc cần phải đoàn kết hơn với các nước Ðông Nam Á trong việc đối phó với Trung Quốc. Những cuộc thương thuyết về chủ quyền và lãnh hải nên đưa ra với tính cách tập thể, nhiều quốc gia tham dự. Tuyệt đối không nên kéo dài những cuộc họp song phương, nhất là những cuộc hội đàm bí mật đến nỗi người dân nước mình cũng không biết hai đảng Cộng Sản đã bàn những chuyện gì với nhau.

Từ khi dành được độc lập, các vua chúa Việt Nam luôn luôn chỉ dám tự xưng mình là “vương” khi giao thiệp với “hoàng đế” Trung Quốc. Thái độ khiêm tốn, nhún nhường đó là thủ đoạn ngoại giao để tránh chiến tranh cho dân đỡ khổ. Nhưng suốt lịch sử, người Việt Nam không bao giờ chịu nhục trước sự đe dọa của các hoàng đế Trung Hoa, ngay cả trước đám quân Mông Cổ bách chiến bách thắng. Và ngay trong thời bình, các chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn cảnh giác coi chừng sự xâm nhập, bành trướng của người Trung Quốc. Thái độ đó trở thành lỏng lẻo khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào sự chi viện của Cộng Sản Trung Hoa từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến tư tưởng, văn hóa.

Nhưng người Việt Nam chắc ai cũng ý thức về sức bành trướng của đế quốc phương Bắc. Phản ứng của mọi giới đồng bào, kể cả người Việt ở nước ngoài, trước việc cho người Trung Hoa khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và trước những vụ tầu Trung Quốc đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, cho thấy mối lo sợ của người Việt có lý do chính đáng. Chúng ta không cần phải thù ghét người dân Trung Quốc, dù họ gọi là người Hán hay Ðường nhân. Các nước lớn đều có tham vọng bành trướng tự nhiên như vậy, các nước nhỏ phải biết tự giữ lấy thân mình! Mối lo chính là những vị Hoàng đế Ðỏ của đế quốc này vẫn dùng chiêu bài “quốc tổ” dụ dỗ, mê hoặc dân Trung Hoa để bảo vệ quyền hành của chính họ. Mà một cách kích thích lòng “ái quốc” là bành trướng ảnh hưởng của họ, trên trên các nước khác. Mối lo gần gũi nhất là sợ rằng các Hoàng đế Ðỏ ở Bắc Kinh lại mua chuộc được các ông vua chúa ở nước ta bằng “tình đồng chí giữa những người Cộng Sản cuối cùng trên trái đất!”

Khi nào hai nước Việt Nam và Trung Quốc dân chủ hóa thật thì mới có thể nói chuyện bình đẳng được.

Ngô Nhân Dụng

Thượng Bất Chánh Hạ Tắc Loạn

Thượng bất chánh hạ tắùc loạn, là lời khuyên lâu đời đối với ngưòi trị nước ở Trung Hoa. Bao lâu mà dân thấy rõ thượng bất chánh thì sớm muộn gì ắt dân sẽ tác loạn. Minh hoạ có thể thấy trong hiện tại với vụ Tân Cương, người Duy ngô nhỉ đứng lên chống tập đoàn thống trị nằm trong tay người Tàu ngoại xâm và cán bộ đảng viên CS gốc Duy ngô nhỉ làm tay sai cho Tàu Cộng như là quân nội xâm. Và nhiều sự kiện ở VN không thể chối cãi được là nhà cầm quyền CS Hà nội đang thần phục Bắc Kinh, bán đất dâng biển, cho người Tàu vào VN làm ông hoành ông trấm khiến người dân VN sớm muộn cũng phải đứng lên chống nội xâm là CS Hà nội và ngoại xâm là Trung Cộng. Lưỡng đầu thọ địch rất gian nguy, nhưng người dân Việt cũng phải làm, thà chết vinh hơn sống nhục.

Một, trường hợp Tân Cương ngày nay. Năm 2009, mới đây lại xảy ra cuộc đàn áp nguời Duy ngô nhỉ ở Tân Cương do ngưòi Hán di dân đến, do nhà cầm quyền tự thực dân, thái thú của Bắc kinh ở Tân Cương, và do quân đội cùng công an mật vụ do Bắc Kinh điều đến. Chết trên 186 người, bị thương cả ngàn người, bị bắt trên một ngàn rưởi người theo con số chánh thức của Bắc Kinh. Con số thực tế ắêt phải cao hơn.
Hai mươi năm trước đây thôi, người Duy Ngô Nhĩ chiếm đa số ở Tân Cương, người Hán chỉ có 3%, nhưng bây giờ người Hán đã chiếm tới 40% tổng số dân số của Tân Cương. Người Hán là giai cấp thống trị, nắm tất cả giềng mối chánh trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Hồi Giáo bị kiểm soát nghiệt ngã. Người Duy Ngô nhỉ theo đạo Hồi bị xem như công dân hạng hai, bị chụp mũ dính líu với quân khủng bố Hồi Giáo cực đoan. Các công ty Trung Quốc xem người lao động Duy ngô nhỉ là nguồn nhân công rẻ mạt.

Hai, còn VN ngày mai có nhiều triệu chứng trở thành Tân Cương ngày nay và Tây Tạng ngày qua. Nhà cầm quyền CS Hà nội đã thượng bất chánh gần hai phần ba thế kỷ ở Miền Bắc và một phần ba thế kỷ ở Miền Nam từ sông Bến Hải đến mũi Cà mau. Độc tài đảng trị toàn diện. CS Hà nội độc quyền chánh trị kinh tế. Lấy đất, biển, đảo, tài nguyên quốc gia để triều cống cho Tàu Cộng để đánh Miền Nam và để nắm và bám chánh quyền sau khi Liên xô sụp đổ mất vú sữa. Báo Fiinancial Times, ngày 06.05.2009 gọi bauxite VN là vật triều cống của Nguyễn tấn Dũng triều cống cho Tàu Cộng. Kinh tế thế giới khó khăn, hàng made in China bị Liên Aâu, Bắc Mỹ chê hàng giả, hàng gian, hàng độc, xuất cảng TC giảm 26.6% (theo The Wall Street Journal, ngày 13.05.2009). TC tuồng vào VN, CS Hà nội cúi đầu nhận và ngoảnh mặt làm ngơ trước cái chết của kỹ nghệ non trẻ và nông nghiệp vi bản của VN.

Ba, không có tội nào nặng cho bằng tội phản quốc. Từ lâu CS Hà nội làm nhiều tội lắm, giết người, cướp của của dân ban ngày, ám sát, thủ tiêu, bắt bớ, bỏ tù oan sai đối với nhân dân VN. Nhưng tội lớn nhứt là tội phản quốc. Phản quốc ở chỗ mãi quốc cầu an, cầu vinh, âm thầm và công khai bán đất và biển của đất nước VN cho Tàu Cộng. Trên biển VN, TC đụng chìm tàu, bắn chết, bắt chở về Tàu, ngư dân VN. Bất chấp quốc thể CS Hà nội, thay vì triệu đại sứ Tàu Cộng đến Bộ Ngoại Giao phản kháng và giao thư phản kháng cho y chuyển về Bắc Kinh theo tập tục ngoại giao các nước văn minh, đằng này CS Hà nội cho thứ trưởng Hồ Xuân Sơn lom khom đi đến sứ quán Tàu Cộng gọi là "giao thiệp". Một cách nói đề che dấu hành động hèn nhát, nhu nhược là năn nỉ, ỉ ôi, xin xỏ. Được thế TC làm tới, cho tàu tuần tra Biển Đông, ngư dân VN lo ngại không ai bảo vệ phải kéo tàu thuyền lên bờ, chờ đợi. Được thế TC đòi 12 ngư dân VN bị bắt số tiền phạt hàng nửa triệu Đô la.

Chưa đủ trên bộ ở Miển Trung Việt, CS Hà nội còn cõng rắn cắn gà nhà cho ngưòi Tàu vào VN như chỗ không ngưòi, không cần chiếu khán nhập cảnh, cho các công ty và hàng đoàn công nhân Tàu vào khai thác bauxite ở Cao Nguyên tàn phá môi sinh, cào bằng văn hoá đồng bào Thượng, chiếm lĩnh cao điểm và hành lang chiến lực an ninh quốc phòng của VN. Còn nữa, nhắm mắt cho hàng gian, hàng giả, hàng độc của Tàu Cộng tràn ngập thị trường VN, bán rẻ công ty Tàu vào " thi công", giết kỹ nghệ, nông nghiệp VN. Đau lòng báo chí dù của Đảng Nhà Nước tương kế tựu kế "viết lách" thì CS Hà nội bị "tham tán kinh tế - thương mại" của Sứ quán Trung quốc ở Hà nội là Hồ Tỏa Cẩm, "quở rầy" liền, "bảo" những người lãnh đạo CS Hà nội phải chấn chỉnh các báo chí. Chưa đủ Sứ quán Tàu Cộng ở Hà nội còn nói sẽ đưa ngay một đoàn báo chí Tàu sang để uốn nắn báo chí Hà nội.

Còn tại những nơi khác nơi công ty Tàu vào "thi công" không qua đấu thầu mà được CS Hà nội nhượng, thì các công ty Tàu đem toàn công nhân người Tàu, bộ xe, máy, dĩ chí đến cái bàn cầu tiểu, tiện cũng made in China từ bên Tàu qua. Xem những tấm ảnh của đồng bào VN uất hận gởi đi cho đồáng bào VN ở Bắc, ở Trung, ở Nam, , ở hải ngoại biết. Có người Việt tức đến muốn xé nát tấm hình gười Việt tức may mà mình qua Internet nếu không đã xé nát và chà dưói chân cho đỡ uất hận. Ơû Lâm đồng và Đắc nông, trụ sở công ty Trung quốc Chinalco trương toàn cờ Tàu, trương bảng lớn toàn chữ Tàu, công nhân Trung quốc kéo nhau cả bầy ra chưởi bới, đánh đập chủ quán VN và bà con VN ở gần đó. Mà không phải chỉ có ở hai tỉng Cao Nguyên này, mà cái nhục mà người dân Việt phải chịu do CS Hà nội cõng rắn cắn gà nhà xảy ra khắp nước. Ở Hải phòng, ở Thanh hoá, ở Bình thuận... đầy những làng Tàu trong lòng đất nước VN như thế!

Bốn và sau cùng, hạ tắc loạn. Độc tài đảng trị toàn diện đã đưa đến hậu quả CS Hà nội khôn nhà dại chợ. Đối ngoại rơi vào kiếp gia nô cho Tàu Cộng. Đối nội làm nước nghèo, dân mạc, tham nhũng thành quốc nạn hết thuốc chữa. 75% dân số VN lợi tức trung bình 1 ngày chưa tới 2 đô la. Muốn tuân hành lịnh nhà nước cũng không đủ sức tuần trước hàng trăm thứ đóng góp không tế của tư bản đỏ phi sản xuất ở thành phố và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn ra đủ thứ lịnh lạc. Tức nước phải bề bờ. Phong trào Dân Oan nông dân, lao động nghèo thành thị, Dân Oan tôn giáo nói lên. Phong trào trí thức trẻ dùng luật của CS đánh CS, đấu lý với công an, toà án.

Dân Oan bị cướp nhà đất bất chính đã mở đầu bất tuân tập thể từ những nhóm kéo về Sài gòn và Hà nội để biểu tình đòi phải giải quyết bất công. Nhà Nước đàn áp và giải tán bắt thẩy lên xe như heo chở về địa phương. Phong trào bất tuân của Dân Oan vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Phật Giáo là tín ngưõng của đa số người Việt, Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhứt, HT Tăng Thống lên tiến kêu gọi bất tuân dân sự, để phản đối việc CS Hà nội cho Tàu Cộng vào khai thác bauxite ở Cao Nguyên.

CS Hà nội theo lề thói cũ, tin quyền lực ở đầu súng chỉ biết dùng công an, cảnh sát trấn áp. Nhưng chinh Oâng Tổ của CS cũng đã nói trước. Bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực. Sức ép càng mạnh, sức bật càng cao. Người dân Việt có thể phải tác loạn như người Duy ngô nhỉ. Ngưòi dân Duy ngô nhỉ cũng như người dân VN phải tác loạn để chống với nhà cầm quyền tay sai của TC đóng vai trò Thái Thú của quân Tàu nói theo lịch sử thờøi Bắc thuộc khi xưa, vai trò tự thực dân (auto- colonialist) nói theo nay kiểu thực dân mới (neo- colonialism), và vai trò nội xâm nói theo kiểu làm gia nô cho bọn ngoại xâm để thống trị đồng bào mình.


Vi Anh

Nước Tôi Đang Giẫy Chết

Nước Tôi Đang Giẫy Chết


Nước tôi chết, nước tôi đang giẫy chết!

Như một tên đói rách đã lâu ngày

Hết nghề làm, đường cùng khốn, thương thay!

Từ điền chủ nay trở thành nghèo khó!





Nước tôi chết, nhục nhằn thua con chó

Gương anh thư, liệt sĩ cũng phai nhoà

Từ đầu đường, xó chợ bảng tiếng Hoa

Đâu cũng nghe ngổ, nỉ và hẩu lớ!





Đang là thầy nay bỗng thành đầy tớ

Nước có vua nay bỗng mất cả vua

Thua rất xa thời đô hộ Pháp xưa

Không độc lập, không tự do, vô phúc!





Bầy tham quan như bọ giòi lúc nhúc

Chúng rút xương rút tuỷ mẹ Việt Nam

Chúng lừa trên, đạp dưới đến sỗ sàng

Nay chúng bán nước nhà cho bọn Hán!





Nửa triệu giặc khắp nơi đang thanh thản

Chúng sinh con đẻ cháu khắp Việt Nam

Vợ chúng là những cô gái bản, làng

Cô gái Việt nay lấy chồng Trung quốc!





Lẽ tự nhiên cô phải học cho thuộc

Danh, động từ để nói tiếng Phổ thông

Tiếng này là thứ tiếng nói của chồng

của con cô và thôn làng, bang tổng...





Văn hoá Tàu sẽ dần dần khởi động

Sẽ lần hồi thay thế thói Việt Nam

Nước chết dần! Xin đừng có thở than

Bởi Hồ tặc xưa kia dâng đất, biển!





Bốn nghìn năm đã bao lần nguy biến

Nhưng chưa từng mất nước đến như ni

Hỡi dân tôi! Chúng ta phải làm gì?

Nước đã mất thì cái gì cũng mất!



17-7-2009

Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Tàu Thì Lạ Sự Hèn Hạ Thì Quen

Như vậy là lại thêm một vụ “Tàu lạ” đâm vào tàu đánh cá của ngư dân mà không được kịp thời phát hiện. Ủy ban An Ninh Quốc Phòng nên tổ chức nghe điều trần ngay, để nếu xét thấy cần thiết thì phê chuẩn kinh phí, tăng cường nhân lực, khí tài cho các lực lượng bảo vệ dân trên Biển. Có lẽ không nên chậm trễ việc quyết định bố trí “Hạm đồn Biên phòng Hoàng Sa”.

Tuy nhiên, “Tàu” thì lạ nhưng sự hèn hạ thì rất quen. Ngay cả khi “xác định chủ quyền” trước các cơ quan quốc tế, theo ông Scott Marciel, đại sứ Hoa Kỳ ở ASEAN: “Cách làm của Trung Quốc rất mù mờ và khó hiểu”. Lẽ ra, từ vụ “Tàu lạ” lần trước, đã nên tổ chức họp báo quốc tế ngay. Việt Nam cũng không nên mặc cảm khi phải nói với thế giới rằng, ngay trong lãnh hải của mình, ngư dân đang phải kinh hoàng vì những vụ đâm tàu như hải tặc. Người ta cũng hiểu Việt Nam đang sống với một láng giềng thế nào. Và, nên tính ngay những giải pháp quốc tế cho vấn đề chống những hành vi giết người như thế.

ASEAN là một định chế, nhưng, như ông Scott Marciel nhận xét: “Vì ASEAN làm việc với nguyên tắc phải đồng thuận cả 10 nước, (nên) đã không có được một đường lối chung trong vấn đề Trung Quốc tranh giành lãnh hải”. Nhưng, cũng ở trong ASEAN, có những nước có thể “đồng thuận” với nhau trong một số vấn đề Biển Đông, nhất là việc chống lại hải tặc thời “văn minh Tàu lạ”. Cảnh sát biển của Việt Nam, Philippines, Indonesia, nhân lúc này có thể nâng tầm hợp tác, thiết lập một lực lượng tuần tra chung để bảo vệ ngư dân. Nhưng, cho dù là “nước xa”, tình thế chắc hẳn sẽ khác hơn nếu “tàu cứu hộ của Mỹ” có thể xuất hiện trên vùng biển có nhiều “Tàu lạ”.

Việc “Trung Quốc bắt giữ các ngư phủ Việt Nam ở gần Hoàng Sa và sự hăm dọa công khai đối với các công ty Mỹ thăm dò dầu khí” đã khiến cho, hôm 15-7-2009, Tiểu ban Đông Á- Thái Bình Dương, Thượng viện Mỹ, đã có một buổi điều trần. Nghị sĩ James Webb nói với hai viên chức cao cấp của bộ quốc phòng và bộ ngoại giao: “Phản ứng của Hoa Kỳ chưa tương xứng trước chiến luợc bành trướng lãnh hải của người Trung Quốc”.

Ông Webb có vợ là một luật sư người Việt và từng có trợ lý thân tín nhất là một người đàn ông sinh ra ở Tuy Hòa. Tuy nhiên, ông Webb tổ chức cuộc điều trần ấy không phải vì số phận của các ngư phủ thỉnh thoảng lại bị “tàu lạ” đâm mà chủ yếu để giải quyết những vấn đề thuộc về quyền lợi Mỹ. Thượng nghị sỹ James Webb nói: “Hoa Kỳ bị buộc phải làm điều này để duy trì thế quân bình địa dư chính trị trong khu vực”. Theo ông: “Chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ tầm vóc và sức mạnh để đối phó với thế bất quân bình do Trung Quốc gây ra”.

Việt Nam rất nhỏ so với Mỹ trong các mối quan hệ song phương, nhưng người Mỹ cũng cần hợp tác với Việt Nam để giải quyết các vấn đề thuộc về quyền lợi trên Biển Đông của họ.

Có láng giềng tốt thì rất tốt nhưng Việt Nam sẽ không phải là “nước chịu nhiều áp lực nhất với Trung Quốc” trong vấn đề biển Đông, như nhận xét của ông Scott Marciel, nếu Việt Nam có những người thực sự là bạn bè hơn nữa. Nhân chuyện mở rộng quan hệ để giải quyết vấn đề “Tàu lạ”, không thể không liên hệ đến chuyện Hồ Tỏa Cẩm. Một viên tham tán thương mại như Cẩm không thể “uốn lưỡi cú diều” trước đại diện Bộ Thông tin và báo chí như vừa qua nếu Cẩm không “đi guốc”: 700 tờ báo nhiều khi đang nói rất hăng vẫn có thể tự nhiên im bặt chỉ vì nhận được đôi ba dòng tin nhắn. Đành rằng báo chí vẫn là “công cụ”, nhưng cũng nên “phân cấp”, những “tin nhắn” như vậy chỉ nên tới Nhân Dân, SGGP, Hà Nội Mới… thôi, còn những tờ “đoàn thể” thì nên cho tranh thủ nói được chút ít tiếng nói của nhân dân: “Tàu lạ” thì kêu; “Tàu xấu” thì phê phán…

Chỉ có sự đa dạng trong xã hội, sự đa phương trong mối quan hệ với các quốc gia mới tạo ra, không chỉ sự ổn định ở bên trong, bền vững ở bên ngoài, lãnh thổ giữ được, mà tính mạng của người dân cũng mới bớt đi những nỗi kinh hoàng trước những con “Tàu lạ”.

Người Cựu Chiến Binh Già Nhất Đệ I Thế Chiến Qua Đời, Thọ 113 Tuổi.

TN. Chuyển ngữ từ CNN ngày 18-7-09 cho HNPD).
Luân Đôn, England (CNN) . Trong một báo cáo từ nhà dưỡng lão hôm Thứ Bảy. Ông Henry Allingham, người được xem như già nhất thế giới là cựu chiến binh Anh Quốc Thế Giới Chiến Tranh Lần I, đã qua đời, thọ 113 tuổi.
Cũng trong bản tin , ông Allingham sống trong nhà dưỡng lão St.Dunstan tại thành phố Ovingdean, Anh Quốc qua đời yên bình trong khi ngủ.

Theo tin từ nhà dưỡng lão: Ông sinh ngày 6 tháng 6 nănm 1896. Ông Allingham còn năng động cho đến ngày cuối cùng, ông được kỷ niệm sinh nhật lần thứ 113 vào tháng trước tại chiến hạm HMS President cùng với gia đình cuả ông .

Cuốn sách Liệt Kê Về Những Kỹ Lục The Guinness Book , chứng nhận ông Allingham là người già nhất thế giới vào tháng vưà qua.

Nữ Hoàng Anh và Thủ Tướng Gordon Brown cả hai đã đến phúng điếu ông Alllingham vào ngày thứ Bảy.

Trong một đoạn thông điệp từ điện Buckingham cho biết:” Nữ Hoàng Anh bày tỏ sự đau buồn khi hay tin ông Henry Allingham qua đời. Ông là một người độc nhất trong thời đại, đã đóng góp rất nhiều cho tất cả chúng ta. Chúng tôi thiết nghĩ cần chia xẽ sự mất mát với gia đình ông trong lúc này.”

Ông sinh tại Vùng Cuối Phiá Đông thành phố Luân Đôn trong thời Nữ Hoàng Victoria . Ông Allingham được người mẹ và ông bà Nội nuối nấng. Cha ông đã qua đời khi ông còn rất bé.

Ông gia nhập Hải Quân Hoàng Gia Anh, là chuyên viên cơ khí phi cơ năm 1915 khi người mẹ ông qua đời.

Ông Allingham được biết như là người sống sót sau cùng cuả trận chiến Jutland, trận này được xem như dữ dội nhhất cuả Thế Giới Chiến Tranh lần Thứ Nhất. Ông phục vụ trên chiến hạm HMT Kingfisher, chiến hạm được phái đến gia nhập hạm đội Anh để chiến đấu chống lại Quân Đức bên ngoài Đan Mạch bây giờ.

Trận chiến đến nay được ghi nhận kỹ lục về hải chiến dữ dội nhất giưả các chiến ham hai bên, các tài liệu được ghi nhân từ bộ Quốc Phòng Anh.

Năm 1917, Allingham được phái đến Pháp để yểm trợ Phi Đoàn Royal Flying Corps. Nhiệm vụ cuả ông là thợ máy sưả chưả phi cơ và thu các cơ phận phi cơ bị rớt. Thường thường các viên phi công đòi hỏi những cơ khí viên đi bay cùng họ, Vì vậy Allingham bắt buộc phải ngồi đàng sau phi công và thả bom hay làm xạ thủ súng máy.

Ông Alliham phục vụ trên chiếnnhạm Flanders cho đến tháng 11, sau đó đổi đến căn cứ không quân Dunkirk , tại Pháp. Ông phục vụ tại đây cho đến khi Thế Giới Chiến chấm dứt.

Allingham là thành viên cuả không quân Hoàng Gia Anh, được thành lập vào cuối tháng 4-1918.

Nhưng Allingham duy trì như là chiến binh trừ bị, và trong Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai. Ông được gọi phục vụ tìm kiếm cách hoá giải các trái mìn Nam Châm cuả Đức được thả nổi lên ở hải cảng Harwich ở Anh, trên vùng duyên hải Essex .

Alliham và toán cố vấn cuả anh đã thực hiện cách làm hoá giải hiệu năng cuả những trái mìn, sau đó mổi chiếc tàu được trang bị bộ phận làm trung hoà từ trường được dùng cho toàn hệ thống.

Những đóng góp cuả ông cho quân đội và làm thành viên hoạt động tưởng nhớ đến những chiến sĩ hy sinh không bao giờ bị quên lãng. Trong những năm sau đó cuả đời ông. Allingham thường có mặt ở những buổi lể chiến sĩ trận vong, ngay cả ông không thể nào đi đứng và ông đến tham dự trên xe lăn.

Ông St .Dunstan nói trong buổi lể tưởng niệm ông.” Ông Henry luôn luôn là chứng nhân bảo đảm cho ngày thế hệ hôm nay rằng sẽ không quên những ai đã chết trên mặt trận phiá Tây. Cho đến gần đây, ông thường thăm viếng các trường học và tham dự những buổi sinh hoạt tại căn cứ như là một đại sứ cho thời đại cuả ông”.

Khi được hỏi tại một buổi lể chiến sĩ trận vong về làm thế nào ông muốn được nhớ đến. Ông .Allingham nói ông rằng muốn nhớ đến tất cả những người I lính hy sinh trong chiến tranh.

Ông nói: “ Hãy nhớ đến họ. Không phải tôi “.

Ông được tôn vinh là thành viên danh dự cuả tổ chức France’s Legion of Honor năm 2003 và được thăng làm người chỉ huy vào đầu năm ấy. Trong buổi lể vinh danh cho ông vào năm này, đại sứ Pháp tại Anh Quốc thay mặt Tổng Thống Pháp Nicholas Sarkozy cám ơn Allngiham đã góp phần cuả ông trong việc bảo vệ Pháp trong hai cuộc Thế Giới Chiến Tranh.

Hải Quân Hoàng Gia Anh kỹ niệm sinh nhựt cuả Allingham vào tháng vưà qua trên chiến hạm HMS President . Một bánh sinh nhật và tấm thiệp được ký tên bởi First Sea Lord được mang tới bằng tàu khinh tốc đĩnh cuả Thuỷ Quân Lục Chiến Hoàng Gia, và ông đươc trao huy hiệu Pussers Rum, ông rất “ưa thích” từ Hạm Đội Air Arm.
Theo tin từ nhà dưỡng lão. Người vợ cuả Allingham , bà Dorothy, qua đời năm 1979. Hai đưá con gái cuả ông qua đời thập niên 80.
Ông còn 6 đưá cháu, 16 chắc, 21 chít và một đưá chít chít. Tất cả hiện ở Hoa Kỳ.

Kể từ năm 2006, Allingham đã sống tại nhà dưỡng lão St. Dunstan cho những cựu quân nhân Nam Nữ bị mù ở vùng duyên hải Phiá Nam Anh Quốc . Ông bị mù dần dần do suy thoái từ tuổi tác cao.

Theo ông Robert Leader , giám đốc Nhà dưỡng lão” Mọi người ở nhà dưỡng lão St Dunstan đều bày tỏ nổi buồn khi hay tin Henry qua đời và chúng tôi gởi lời chia buồn đến gia đình ông. Khi có dịp bày tỏ về ý chí cao trong những khi vui, ông đã hiện diện như một thế hệ, đã cho chúng tôi nhửng đóng góp lớn. Ông Henry có những người bạn và nhân viên nhà dưỡng lão St Dunstan. Ông là người có những đặc tính tốt lớn và chúng tôi sẽ không quên ông.”. (END).

World's oldest man, WWI vet, dies aged 113

LONDON, England (CNN) -- Henry Allingham, the world's oldest man and the oldest surviving British veteran from World War I, has died at the age of 113, his care home said Saturday.

Allingham died in his sleep at St. Dunstan's care home in Ovingdean , England , the home said in a statement.

Born on June 6, 1896, Allingham was active until his final days, having celebrated his 113th birthday last month on the HMS President with his family, the care home said.

The Guinness Book of World Records Certified Allingham as the world's oldest man last month, St. Dunstan's said.

Britain's Queen Elizabeth and Prime Minister Gordon Brown both paid their respects to Allingham on Saturday.

"The queen was saddened to hear of the death of Henry Allingham. He was one of the unique generation who sacrificed so much for us all. Our thoughts are with his family at this time," Buckingham Palace said in a statement.

"I had the privilege of meeting Henry many times," said Brown. "He was a tremendous character, one of the last representatives of a generation of tremendous characters. My thoughts are with his family as they mourn his passing but celebrate his life."

Born in the East End of London during the reign of Queen Victoria , Allingham was brought up by his mother and grandparents. His father died when he was a baby.

He joined the Royal Naval Air Service as an aircraft mechanic in 1915 after his mother died.

Allingham was the last known survivor of the Battle of Jutland, considered the greatest battle of World War I. He was serving aboard the armed trawler HMT Kingfisher, which was sent to meet up with the British fleet as it fought the Germans off what is now mainland Denmark .

The battle still holds the record for the most gun-armed battleships and battlecruisers engaged in a fight, according to Britain 's Ministry of Defence.

In 1917 Allingham was sent to France to support the Royal Flying Corps. His job as a mechanic was to service the aircraft and recover parts from downed planes, but pilots would often ask their mechanics to fly with them, so Allingham would sit behind the pilot and drop bombs or operate the machine gun.

Allingham served in Flanders until that November, when he moved to the aircraft depot at Dunkirk , France . He stayed there until the end of the war.

Allingham was a founding member of today's Royal Air Force, which was formed in 1918 when the Royal Naval Air Service merged with the Royal Flying Corps.

He married his wife, Dorothy, in late 1918 and left the RAF a few months later, in April 1919.

But Allingham remained a reservist, and during World War II he was called on to find a solution to the German magnetic mines that were bottling up the English harbor of Harwich , on the Essex coast.

Allingham and his team devised an effective system to neutralize the mines, after which every ship was fitted with a neutralizing device using the system.

His dedication to the military and the memory of fallen troops never wavered. In his later years especially, Allingham was often seen at memorial events, even though he could no longer walk and had to be transported in a wheelchair.

"Henry was always determined to ensure that today's generation does not forget the sacrifice of those who died on the Western Front," St. Dunstan's said in a statement after his death. "Until recently, he regularly visited schools and attended war-based events as an ambassador for his generation."

Asked once at a memorial ceremony how he would like to be remembered, Allingham brushed off any thought of it, saying people should instead remember those who died in the wars.

"Remember them, not me," he said.

He was made a chevalier in France 's Legion of Honor in 2003 and was promoted to officer earlier this year. In awarding him the honor this year, the French ambassador to Britain thanked Allingham on behalf of French President Nicolas Sarkozy for his part in protecting France during both World Wars.

The Royal Navy celebrated Allingham's birthday last month by throwing him a party aboard the HMS President. A birthday cake and card signed by the First Sea Lord was delivered by fast raiding craft of the Royal Marines, and he was given a decanter of Pussers Rum, his "favorite tipple," on behalf of the Fleet Air Arm.

Allingham's wife, Dorothy, died in 1970. Their two daughters both died in their 80s.

He is survived by six grandchildren, 16 great-grandchildren, 21 great-great-grandchildren, and one great-great-great grandchild, all of whom live in the United States , the care home said.

Since 2006, Allingham had lived at St. Dunstan's, a care home for blind ex-servicemen and -women on the southern English coast. He had lost his sight as a result of age-related macular degeneration.

"Everybody at St. Dunstan's is saddened by Henry's loss and our sympathy goes out to his family," said Robert Leader, chief executive at the care home. "As well as possessing a great spirit of fun, he represented the last of a generation who gave a very great deal for us. Henry made many friends among the residents and staff at St Dunstan's. He was a great character and will be missed."

Bài Xem Nhiều