We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 20 July 2009

Biến Động Miền Trung

Liên Thành và "Biến Động Miền Trung"
Tại Sidney, Australia, 18-07-2009



Buổi ra mắt sách "Biến Động Miền Trung" đã thu hút khoảng 500 đồng hương ở Sydney đến nhà hàng Hoà Bình ở Fairfield để nghe ông Liên Thành - cựu Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt của QLVNCH và cũng là cựu Trưởng ty Cảnh Sát Thừa Thiên - Huế nói về những bí mật lịch sử ở Thừa Thiên - Huế trong giai đọan 1966 - 1968 - 1972, mà ông chính là chứng nhân và tác nhân. Theo BTC cho hay thì số sách bán được 300 cuốn và không đủ bán cho những quý đồng hương đến sau nên phải liên lạc BTC để mua sau.

Dưới đây là một vài hình ảnh của Buổi Ra Mắt Sách.



This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 760x570.


This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 760x570.


This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 760x570.


"Biến Động Miền Trung"
của tác giả Liên Thành.


"Biến động Miền Trung" là một cuốn sách, hay nói đúng hơn là một tập tài liệu dày trên 430 trang, được tác giả Liên Thành cho ra mắt lần đầu tiên vào ngày 31 tháng 5-2008 tại thành phố Westminster, Nam California. Cuốn sách được đồng hương Nam Cali nồng nhiệt đón nhận, trong một hội trường thành phố đông nghẹt người. Liên tiếp sau đó cuốn sách được ra mắt tại các thành phố San Jose, Dallas, Houston và Phoenix, Arizona. Riêng tại Houston số đồng hương tham dự lên tới gần 700 người. Điều này phần nào đã nói lên giá trị của cuốn sách.

Điều gì đã làm cho đồng hương chú ý tới cuốn sách ?. Có lẽ câu trả lời đơn giản nhất là vì đây là lần đầu tiên những bí mật trong vụ "biến động miền trung" được chính người trong cuộc kể ra, có liên hệ tới một số tu sĩ tên tuổi được VC móc nối trong một mạng lưới tình báo quy mô do Cục Tình Báo Trung Ương tại Hà Nội điều khiển mà những âm mưu xách động và gây rối tại Miền Trung vào những năm 1964-65-66-67 mới chỉ là giai đoạn khởi đầu.

Tác giả Liên Thành là ai?

Ông là một Trung Úy quân đội được biệt phái sang phục vụ trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia tại tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế. Cấp bậc và chức vụ sau cùng của ông là Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên-Huế. Ông từng là Trưởng phòng Cảnh Sát Đặc Biệt rồi Phó Ty và sau cùng là Trưởng Ty. Vì nhiều năm làm việc tại cùng một nhiệm sở nên ông có cơ hội liên tục theo dõi và nắm giữ hồ sơ hoạt động của mạng lưới tình báo VC trong vùng . Kỳ công của ông và các đồng nghiệp tại Ty CSQG Thừa Thiên-Huế không chỉ là thành công trong việc giữ vững được Huế trong vu biến động 1966 mà là đã dày công theo dõi và cuối cùng phá vỡ được một mạng lưới điệp báo quan trọng của Hà Nội tại Miền Trung.

Tác giả Liên Thành cho thấy ngay sau cuộc chính biến 1-11-1963 tên Trung Tá điệp báo VC Hoàng Kim Loan đã cài người vào các đoàn thể "tranh đấu", xâm nhập và lũng đoạn các tôn giáo, đặc biệt là các tổ chức Phật Giáo Miền Trung. Hoàng Kim Loan đã xử dụng những cơ sở này để phá nát nhiều tổ chức tình báo của VNCH ngay sau cuộc chính biến 1963. Nhừng tu sĩ nào bị VC móc nối. Những khuôn mặt trí thức nào đã chạy theo VC. Những ai đã theo VC ra bưng để rồi trở lại Huế tàn sát hàng ngàn người năm Mậu Thân 1968 đều được tác giả kê rõ danh tánh.

Tác giả kể lại tình hình sôi động tại Huế năm 1966 ra sao. CSQG dẹp bạo loạn bị vu cáo như thế nào. Ai là người dứng đàng sau tất cả những vụ này. Ai chỉ đạo, ai bị lợi dụng ?. Ai đã ra lệnh mang bàn thờ Phật xuống đường, ai đã chủ mưu trong vụ đốt phá Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tại Huế.

Trong phần thứ hai của cuốn sách tác giả ghi lại khá chi tiết những hoạt động của tình báo cộng sản và vụ tàn sát trên 5,000 đồng bào tại Huế. Ông cũng cho biết ngoài hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan-Hoàng Phủ Ngọc Tường, những khuôn mặt trí thức nào đã lộ diện theo VC. Chương này là một tài liệu lịch sử mà tất cả chúng ta và nhất là mọi người dân Huế cần đọc để biết.

Nhân đây tôi cũng muốn phản bác lời tuyên bố của ông Bùi Tín, một cựu Đại Tá CS hiện đang sống lưu vong tại Pháp. Ngày 24 tháng 1-2008 khi được đài BBC phỏng vấn về vấn đề CS thảm sát dân chúng trong vụ Tết Mậu Thân tại Huế. Ông Bùi Tín lúc đó (1968) là Phó Tổng Biên Tập báo Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội cho biết ông không ngờ cuộc thảm sát quy mô lớn như vậy. Ông viện lý do rằng: " Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội nên phần lớn do tự động các cấp chỉ huy Trung đội tới Trung đoàn đồng loã với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết. Theo ông thì không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và giết tù binh". (theo bài viết của tác giả Trần Thanh về cuộc thảm sát Mậu Thân).

Liên Thành trong cuốn sách của ông có thuật rõ VC đã thảm sát người ta như thế nào, bắn hay đập bể sọ. Giết xong họ còn có thì giờ vùi thây trong các nấm mộ tập thể chứ không phải vì bị truy kích mà họ phải vội vàng giết và phần lớn số người bị giết là thường dân vô tội chứ không phải là "tù binh" như ông Búi Tín nói. Lời khai của tên Trung tá điệp báo Hoàng Kim Loan khi bị Ty CSQG Thừa Thiên-Huế bắt giữ cho biết việc thảm sát dân chúng Huế năm Mậu Thân là do chỉ thị của Khu Ủy VC chứ không phải do "chỉ huy cấp nhỏ tự tiện quyết định mà không cho cấp trên biết" như ông Bùi Tín nói. Không biết ông cựu Đại Tá Bùi Tín đang biện minh và chạy tội cho ai đây?

Có lẽ phần gây cấn và hấp dẫn nhất của cuốn sách là phần đặt kế hoạch theo dõi, vây bắt và quan trọng hơn cả là lời cung khai của tên Trung Tá điệp báo Hoàng Kim Loan. Cung từ của y đã tiết lộ cho thấy y đã móc nối được những ai và xử dụng những người được móc nối như thế nào. Người đọc không khỏi ngỡ ngàng về những tiết lộ động trời của viên sĩ quan điệp báo này.

Theo Thiếu Tá Liên Thành ghi lại thì ngay vào giữa năm 1965 Huế đã trở nên sôi động khác thường, với những cuộc biểu tình dữ dội, chiếm đài phát thanh quốc gia, đốt phá phòng Thông Tin Hoa Kỳ, tổ chức xách động đình công bãi khoá liên miên. Nhìn chung thì có vẻ như đây là những phong trào quần chúng tự phát nhưng thực sự lại là những hành động được sắp đặt và chỉ đạo rõ ràng. Ai chỉ đạo ? Ai sắp đạt ? . Ai là kẻ chủ động gây rối ?. Ai là người bị lợi dung ?. Nếu đọc hết tác phẩm "Biến Động Miền trung" của tác giả Liên Thành người ta sẽ dễ dàng thấy câu trả lời cho những thắc mắc trên.

Thiếu Tá Liên Thành cũng cho biết ông và các cộng sự viên xuất sắc của ông, mà hầu hết là các sĩ quan trẻ tốt nghiệp Học Viện CSQG, đã dày công theo dõi một mạng lưới tình báo do Hà Nội trực tiếp chỉ huy qua viên Trung Tá điệp báo Hoàng Kim Loan. Khi tên điệp báo này bị bắt vào năm 1972 y đã khai ra các cơ sở nội tuyến được y móc nối mà chúng ta ít ai ngờ tới: 2 Trưởng Ty cảnh Sát, một Thiếu Tướng, nột Trung Tướng, hai Thiếu Tá quân đội và khá nhiều tu sĩ trong phong trào đấu tranh tại Huế. Thì ra phần lớn các tổ chức tôn giáo và quần chúng đấu tranh tại Miền Trung và nhất là tại Huế đã do cán bộ điệp báo cộng sản chỉ đạo và điều khiển. Chúng đã thành công phần nào trong năm 1966 khi tạo ra những rối loạn tại Huế và Đà Nẵng đưa đến cuộc biến động tại Miền Trung.

Nên nhớ rằng vào những năm sau chính biến 1963, thế lực của phong trào Phật giáo đấu tranh lên rất mạnh. Chính trường miền Nam lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng rất nhiều của "các Thầy". Các tướng lãnh cầm quyền đều phải vị nể các Thầy. Việc bổ nhiệm nhân sự vào các chức vụ quan trọng đôi khi phải có sự thoả thuận ngầm của các nhóm áp lực trong phong trào đấu tranh Phật giáo. Việc này dần dà đưa đến những tranh chấp quyền lực giữa các tôn giáo, nhất là giữa Phật giáo và Công giáo. Những cuộc biểu tình đụng độ giữa hai tôn giáo này tại nhiều nơi là những điều chúng ta vẫn chưa quên.

Cũng vì vậy mà Thiếu Tá Liên Thành khi thi hành nhiệm vụ đã dễ dàng bị phe tranh đấu Miền Trung khép tội chống Phật Giáo mặc dù gia đình ông vốn là một gia đình Phật tử thuần thành. Mẹ ông quy y và trách cứ ông khi ông dẹp bàn thờ xuống đường và chống lại các Thầy biểu tình. Ông là cháu Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết, anh bà con ông là một Thượng Tọa , ông còn là cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để , vậy mà vẫn bị khép tội chống phá Phật giáo. Ông đứng vững được trong vụ biến động Miền Trung, lại còn theo dõi và khám phá ra một ổ điệp báo quan trọng liên quan đến nhiều thế lực đương thời thì quả là một điều kỳ lạ.

Trước 1975 và ngay cả cho tới ngày tác giả Liên Thành cho ra mắt cuốn sách vào tháng 5 năm nay (2008) có lẽ ít tai trong chúng ta ngờ được là Trung Tá điệp báo VC Hoàng Kim Loan đã móc nối được một cựu Thiếu Tướng , một Trung Tướng, hai Thiếu Tá quân đội quốc gia trong đó có một vị từng nắm giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng CSQG Quảng Trị, một Quận Trưởng cảnh Sát và một nguyên Trưởng Ty CSQG thị Xã Huế, một cựu Trưởng Ty An Ninh tỉnh Thừa Thiên, Chủ tịch và một Nghị viên Hội Đồng Tỉnh, một số giáo sư và sinh viên tại Huế.

Danh sách được móc nối còn gồm nhiều vị cao tăng được tác giả Liên Thành nêu rõ tên tuổi trong cuốn sách của ông. Từ xưa đến nay và nhất là ở VN trước 1975 việc nêu danh tánh các tu sĩ có liên hệ đến VC ít ai dám làm vì sợ đụng chạm và người làm việc đó có thể dễ dàng bị chụp mũ là phá hoại tôn giáo. Việt Cộng biết rõ yếu điểm này của phe quốc gia nên đã tận tình khai thác kế hoạch tôn giáo vận của chúng. Cũng chính vì vậy mà các chính quyền quân nhân sau 1963 đều kiêng nể không dám đụng chạm đến các chức sắc tôn giáo. Do đó mới có những vụ xuống đường bừa bãi phá nát hậu phương mà cảnh sát không dám thẳng tay đàn áp, trong khi chúng ta đang rất cần một hậu phương ổn định để yểm trợ tiền tuyến. Hình ảnh những binh sĩ nhẩy dù, đáng lý phải có mặt tại các chiến trường đang sôi động , nay phải phụ lực cảnh sát ngăn chặn biểu tình trên đường Trần Quốc Toản trước Viện Hoá Đạo ngày nào giờ đây làm chúng ta thấm thía vì thua mưu cộng sản.

Cuốn sách "Biến Động Miền Trung của tác giả Liên Thành như tôi vừa sơ lược là một tập tài liệu mà mọi người nên đọc. Đọc để biết rõ chúng ta đã thắng CS ở điểm nào và người dân Miền Nam thuần hậu dễ tin đôi khi đã bị VC và bọn người nhiều tham vọng chính trị lợi dụng và lừa bịp ra sao.
*
Trong cuốn sách của ông, tác giả Liên Thành ghi lại những gì xẩy ra tại Huế vào giai đoạn Miền Trung biến động. Nhưng cuộc biến động lớn năm 1966 tại Miền Trung không phải chỉ giới hạn trong phạm vi Thừa Thiên-Huế. Thị xã Đà Nẵng nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cũng chứng kiến những xáo trộn hãi hùng khi đám dân quân tranh đấu đụng độ với lực lượng quân đội do chính quyền trung ương đưa ra Đà Nẵng dẹp loạn.

Là người cùng theo cánh quân trung ương ra dẹp loạn tại Đà Nẵng, tôi xin được tiếp tay với tác giả Liên Thành làm sáng tỏ thêm về tầm mức và quy mô của vụ biến động Miền Trung năm 1966:
Lịch sử còn ghi nhớ cuộc chính biến 1963 lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đưa Miền Nam VN vào một khúc quanh mới đầy xáo trộn và biến loạn. Ngay sau cuộc chính biến, các tướng lãnh cầm quyền liên tiếp đảo chánh nhau. Các cuộc xuống đường biểu tình xẩy ra như cơm bữa tại Saigon và các đô thị lớn.

Nơi phát động và được coi là trung tâm chống đối chính quyền trung ương là Huế và Đà Nẵng tiếp tục sôi động sau 1963. Phong trào tranh đấu Miền Trung vẫn tạo áp lực nặng nề lên các chính quyền Saigon. Sau 1963, ảnh hưởng và tiếng nói của Thưọng Toạ Trí Quang và một số các nhà lãnh đạo đấu tranh khác là điều mà không tướng lãnh cầm quyền nào có thể coi thường. Áp lực chính trị và bất ổn liên tiếp trong hai năm 1963-64 đã buộc các chính phủ quân nhân kế tiếp nhau phải ít nhiều nhượng bộ phe tranh đấu. Quân đội được xử dụng để lo đảo chánh và chống đảo chánh đã phần nào lơ là trong công tác diệt Cộng, tạo cơ hội thuận tiện cho Việt Cộng dễ dàng bành trướng và gia tăng các hoạt động phá hoại tại nông thôn.

Tổng Nha CSQG thời bấy giờ dưới quyền của các Đại Tá Trần Thanh Bền và Phạm Văn Liễu, phối hợp với tình báo Hoa Kỳ, liên tiếp ghi nhận những âm mưu phá hoại của VC không những chỉ ở nông thôn mà còn ngay tại thủ đô. Những vụ đặc công VC đặt chất nổ tại cư xá Brink góc đường Catinat ngay trung tâm Saigon và tại toà Đai Sứ Hoa Kỳ trên đường Hàm Nghi đã làm cho dư luận hoang mang. Phía Hoa Kỳ bắt đầu quan tâm về khả năng bảo vệ Miền Nam của các chính phủ quân nhân sau 1963.

Năm 1965 Hoa Kỳ quyết định mang quân vào tham chiến tại VN. Quyết định này của Hoa Kỳ đã buộc Hà Nội phải có một đối sách mới. Một mặt họ gia tăng các cuộc tấn công ngày càng công khai mạnh mẽ tại khắp nơi, mặt khác họ gia tăng các hoạt động phá rối gây bất ổn tại các dô tỉnh thị chuẩn bị cho một kế hoạch tổng nổi dậy tiến chiếm Miền Nam. Việc xâm nhập, gây chia rẽ và đố kỵ giữa các tôn giáo, giữa các tổ chức đấu tranh và các nhóm chống đối nhiều tham vọng chính trị đều nằm trong sách lựơc phá hoại này của VC.

Những cuộc xuống đường nhằm gây áp lực chính trị đã dần dà biến thành các cuộc bạo động quy mô. Tại Saigon phe biểu tình chiếm giữ khu đường Trần Quốc Toản quanh Viện Hoá Đạo, khu chùa Ấn Quang. Cảnh sát và quân đội dẹp biểu tình là chuyện thường ngày, không còn làm ai ngạc nhiên. Nhưng ít người nghĩ rằng VC đang có mặt để điều động và giật giây tạo nên những rối ren hỗn loạn, cầm chân những người lính chiến đáng lý ra phải có mặt tại các mặt trận đang cần họ.

Cũng nằm trong kế hoạch gây rối loạn này, tại Miền Trung VC đã xúc tiến một kế hoạch quy mô nhằm biến Miền Trung thành một vùng tự trị, dĩ nhiên dưới sự điều động ngầm của chúng. Như đã trình bầy ở đoạn trên, tác giả Liên Thành có ghi rõ lời khai của Trung tá tình báo VC Hoàng Kim Loan. Theo đó tổ điệp báo của y đã xâm nhập vào các phong trào đấu tranh trong vụ biến động Miền Trung, gây náo loạn tại Huế và Đà Nẵng như thế nào.

Tầm vóc của cuộc "Biến Động tại Miền Trung" năm 1966.

Nếu không có mặt tại Huế và Đà Nẵng trong thời điểm này người ta sẽ dễ dàng nghĩ rằng đây chỉ là những cuộc xuống đường thường thấy tại Saigon trong những năm sau 1963. Thực ra, tầm vóc của cuộc biến động Miền Trung lớn hơn nhiều . Đây không phải chỉ là những cuộc xuống đường gây náo loạn như tại Saigon. Cũng không phải chỉ là những màn cảnh sát tung lựu đạn cay dẹp biểu tỉnh, mà thực sự là một cuộc chiến nhỏ, một thách thức đối đầu giữa phe tranh đấu Miền Trung và chính quyền trung ương, có tình báo VC tham gia lũng đoạn, giật giây và chỉ đạo. Tại Đà Nẵng, cuộc biến động này có bắn nhau, có đổ máu, có người chết và buồn thay lại là giữa quân đội của chính quyền trung ương và vài đơn vị quân đội ly khai theo phe tranh đấu.

Nhiều người trong chúng ta hẳn còn nhớ, không bao lâu sau khi Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông đã ngả theo Thượng Toạ Thích Trí Quang và phe tranh đấu Miền Trung chống lại chính quyền trung ương. Vào cuối năm 1965 một phong trào mới xuất hiện tại Huế và Đà Nẵng, với danh xưng Phong Trào Tranh Thủ đòi "thực thi Dân Chủ và bầu cử Quốc Hội Lập Hiến". Đây là một phong trào tranh đấu do Thượng Tọa Thích Trí Quang và một số giáo sư, sinh viên đại học Huế chủ xướng nhằm tạo áp lực và làm khó chính quyền trung ương. Đặc biệt nhắm vào hai Tướng Thiệu Kỳ là hai nhân vật lãnh đạo trong Hội Đồng Quân Lực. Lúc này trong cương vị Tư Lệnh Quân Đoàn I, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công khai đứng hẳn về phe tranh đấu.

Sau nhiều lần thương thảo bất thành, Hội Đồng Quân Lực quyết đinh cất chức Tư Lệnh Quân Đoàn I của Tướng Thi. Phong trào chống đối liền nhân cơ hội này xuống đường, với danh nghĩa bênh vực Tướng Thi, khởi đầu cho một mặt trận mới được mở ra tại Đà Nẵng. Người ta thấy xuất hiện nhiều đoàn thể mới với những danh xưng tưởng như của VC: nào là Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, Phong Trào Tranh Thủ Dân Chủ và Hoà Bình, Thanh Niên Sinh Viên quyết tử, Đoàn Thanh Niên Phật Tử quyết tử, Quân Nhân quyết tử, Công Chức quyết tử, đoàn thể nào cùng thề quyết tử với chính quyền trung ương.

Biểu tình và mít tinh lên án Thiệu-Kỳ được tổ chức khắp nơi. Đình công bãi khoá liên tiếp xẩy ra, làm ngưng trệ mọi sinh hoạt thường nhật của dân chúng. Nhiều toán thanh niên sinh viên quyết tử đi từng nhà hô hào và ép buộc mọi người xuống đường. Họ ngăn chặn họp chợ, kêu gọi học sinh sinh viên bãi khoá, hăm dọa những ai chống đối.
Đại tá Đàm Quang Yêu, Đặc Khu Trưởng đặc khu Quảng-Đà ngả theo phe tranh đấu, Thị Trưởng Đà Nẵng là BS. Nguyễn Văn Mẫn cũng tham gia phe tranh đấu, từ đó phát sinh ra đoàn Công Chức tranh đấu. Cảnh sát là cơ quan bảo vệ và duy trì trật tự cũng phải theo phe tranh đấu.

Phải nói rằng, ngoại trừ những người dân bình thường sợ tham gia chính trị tìm cách tránh né, còn những ai có chút máu mặt đều phải đi theo phe tranh đấu. Thậm chí ngay cả một vài đơn vị quân đội cũng ly khai theo phe tranh đấu làm cho tình hình thêm căng thẳng và khó xử cho chính quyền trung ương. Gần phân nửa sư đoàn I do chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận chỉ huy ngả theo phe tranh đấu. Một phần của một Trung đoàn thuộc sư đoàn 2 cũng theo phe tranh đấu. Tiểu đoàn 11-Biệt Động Quân của Đại Úy Nguyễn Thừa Dzu (sau này là Trung Tá) đang đóng quân tại ngoại ô Đà Nẵng cũng ngả theo và trở thành đơn vị nồng cốt bảo vệ phe tranh đấu. Ngoài ra một số quân nhân ở các đơn vị khác quanh Đà Nẵng tự động mang theo vũ khí gia nhập phe tranh đấu.

Đã có những xung đột bạo động xẩy ra giữa phe tranh đấu và một số đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Đụng độ cũng xẩy ra giữa phe tranh đấu giáo dân Công giáo tại hai làng Thanh Bồ-Đức Lợi. Kết quả là phe tranh đấu thuộc Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc đã tấn công và đốt cháy hai làng Thanh Bồ Đức Lợi gần khu bãi biển Thanh Bình. Đà Nẵng nằm trong tình trạng gần như vô chính phủ.

Trước tình trạng này, trung ương cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân ra thay thế tướng Thi với hy vọng Tướng Chuân sẽ vãn hồi được an ninh trật tự. Phong trào tranh đấu đón chào Tướng Chuân bằng những cuộc xuống đường rầm rộ đả đảo Mỹ-Thiệu-Kỳ. Thượng Toạ Trí Quang và nhóm đầu não tranh đấu không nhương bộ và không hợp tác với tướng Chuân. Rút cục trung ương đành cử một vị tướng khác ra thay thế.

Trung tướng Tôn Thất Đính là người kế nhiệm cũng không ổn định được tình hình. Đình công bãi thị vẫn tiếp tục. Nhóm quân nhân ly khai không chịu buông sung trở về đơn vị. Tướng Đính bị bao vây tứ phiá và tính mạng còn bị hăm dọa. Sau đó ông đã phải chạy vào căn cứ TQLC Hoa Kỳ ở Đà Nẵng để xin được Trung Tướng Lewis Walt bảo vệ.

Trung ương lại phải bổ nhiệm thêm một tướng lãnh khác ra thay thế. Cũng như hai tướng lãnh tiền nhiệm của ông, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao cũng bị cô lập và chống đối. Khó khăn của ông còn có phần rắc rối hơn khi phe tranh đấu tố cáo ông là dân Công giáo thuộc thành phần được Tổng Thống Diệm ưu đãi trước đây. Một hôm khi trực thăng của ông đang cất cánh từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đi thị sát mặt trận thì một viên Trung Úy theo phe tranh đấu đã rút súng bắn theo ông. Ngay lập tức Trung Uý Nguyễn Đại Thức đã bị xạ thủ đại liên người Mỹ trên phi cơ bắn trả thiệt mạng.

Ngay sau biến cố này phe tranh đấu liền rầm rộ phát động việc chống đối Tướng Cao và lấy tên viên Trung Úy đặt cho một đơn vị võ trang gồm một số sinh viên và binh sĩ ly khai. Và người ta thấy có "chiến đoàn Nguyễn Đại Thức" ra đời với nhiều quân nhân và sinh viên có võ trang chia nhau đi bảo vệ các chùa và canh chừng tại các ngả đường đi vào thành phố. Đà Nẵng lúc này trở nên căng thẳng và nghiêm trọng khác thường. Trong vòng 5 tháng, phải thay đổi 4 vị Tư Lệnh Quân Đoàn mà vẫn không vãn hồi được an ninh trật tự. Tình hình ngày càng trở nên tồi tệ tại. Tinh thần quân dân cán chính tại Vùng I hoang mang và sa sút rõ rệt.

Đến mức này chính quyền trung ương không còn một lựa chọn nào khác hơn là thẳng tay đối đầu với phe ly khai Miền Trung do Thượng Toạ Thích Trí Quang lãnh đạo với sự tham gia công khai của một số đơn vị trưởng quân đội và nhóm trí thức nhiều tham vọng chính trị.

Để chuẩn bị cho chiến dịch bình định Miền Trung, Đaị Tá KQ. Nguyễn Ngọc Loan đưọc bổ nhiệm thay thế Đaị Tá Phạm Văn Liễu trong chức vụ chỉ huy ngành Cảnh Sát . Việc thay thế Đại tá Phạm Văn Liễu là chuyện đã được nhiều người tiên đoán ngay sau khi Tướng Thi bay chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Đại Tá Liễu vẫn được coi là người thân thiết của Trung Tướng Thi khi ông cùng tướng Thi tham gia đảo chánh Tổng Thống Diệm vào năm 1960 và sau đó cả hai phải sống lưu vong tại Cao Miên. Năm 1965 sau khi đưa "quân đoàn giải phóng thủ đô" về Saigon dẹp đảo chánh, Tướng Thi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn I và Đại Tá Liễu đươc bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc CSQG.

Cần nói rõ ở đây là quyền hành của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan không chỉ thu gọn trong ngành Cảnh Sát. Ông còn được kiêm nhiệm luôn chức Giám Đốc An Ninh Quân Đội và Đặc Uỷ Trưởng Trung Ương Tình Báo. Với quyền hành như vậy, Đại Tá Loan được chỉ định giải quyết vấn đề biến động Miền Trung đang làm điên đầu chính quyền trung ương và có cơ tạo ra một cuộc đảo chánh mới lật đổ chính phủ.

Trong khi tại Huế biểu tình bãi thị tràn lan thì nguy cơ đổ máu đang đe doạ mỗi ngày tại Đà nẵng, với khí thế lên cao của phe tranh đấu và các đơn vị quân đội ly khai nhập cuộc. Với ba cơ quan tình báo trong tay, Đại Tá Loan hơn ai hết biết được khả năng gây loạn của phe tranh đấu và ai là người chủ động, thành phần yểm trợ phe chủ động là những đơn vị nào.

Trong một kế hoạch vân dụng tình báo vừa công phu vừa táo bạo, ông đã bí mật đưa Đại Úy Trần Thụy Ly (sau này là Thiếu Tá Trưỏng Ty CSQG Quận Nhì Saigon) và Đại Úy Nguyễn Văn Duệ ( nguyên thuộc binh chủng Biệt Động Quân thời trước 1963 ) ra Đà Nẵng . Ly và Duệ vốn là hai người bạn quen biết lâu năm với Đại Úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Đoàn trưởng TĐ-11 Biệt Động Quân. Cả hai có nhiệm vụ móc nối Đại Úy Dzu từ bỏ phe tranh đấu. Tiểu đoàn 11-BĐQ được coi là một đơn vị thiện chiến và là đơn vị ly khai nồng cốt của phe tranh đấu. Cũng trong thời gian này, do sự móc nối ngầm của trung ương, Tướng Phan Xuân Nhuận Tư Lệnh Sư Đoàn I tuyên bố tách ra khỏi phe tranh đấu và kêu gọi quân nhân dưới quyền ông trở về đơn vị.

Chỉ sau khi đã móc nối được Đại Úy Dzu để tiểu đoàn 11-BĐQ án binh bất động, và sau khi Tướng Phan Xuân Nhuận vì sợ bị truất binh quyền và ra toà án quân sự, đã lên đài phát thanh tố cáo Thượng Tọa Trí Quang theo cộng sản, Đại Tá Loan mới quyết định dứt khoát đem quân ra dẹp phe tranh đấu và tái chiếm Đà Nẵng.

Tôi được chỉ thị mang Biệt Đoàn 222-Cảnh Sát Dã Chiến do Đại Úy nhảy dù Nguyễn Duy Am chỉ huy đi theo Lữ Đoàn TQLC do Đại Tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy và một tiểu đoàn nhảy dù do Đại Úy Nguyễn Hữu Bào làm Tiểu Đoàn Trưởng, ra tái chiếm Đà Nẵng.
Lực luợng vừa quân đội vừa Cảnh Sát dã chiến gần 3000 người được đổ xuống phi trường Đà Nẵng vào sáng ngày mùng 3 tháng 6-1966. Lúc đó phi trường Đà Nẵng vẫn còn bị quân đội ly khai bao vây, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Tạm thời Đại Tá Loan đành thúc thủ vì không muốn chạm súng để quân ta lại bắn quân mình. Các đơn vị trung ương vừa kể đành phải nằm chờ trong phi trường Đà Nẵng. ĐT. Nguyễn Ngọc Loan phải mượn văn phòng của Thiếu Tá KQ. Dương Thiệu Hùng để tạm thời đặt bộ chỉ huy.

Các tướng Cao Văn Viên và Nguyễn Cao Kỳ ( lúc này đã là Thủ Tướng chính phủ ) bay ra Đà Nẵng để tìm cách giải quyết. Vì phe tranh đấu và nhóm quân đội ly khai vẫn không chịu nhượng bộ, Tướng Kỳ dọa ngày mai sẽ ra lệnh tấn công vô Đà Nẵng và cho phi cơ khu trục của KQ-VN bắn xuống bộ chỉ huy phe ly khai nếu họ không chịu đầu hàng.
Không hiểu do đâu lời đe dọa này đến tai viên Tư Lệnh TQLC Hoa Kỳ tại Đà nẵng là Trung Tướng Lewis Walt. Tướng Walt liền thông báo cho tướng Kỳ là nếu phi cơ VN bắn xuống phe ly khai và nhóm tranh đấu tại Đà Nẵng, ông ta sẽ cho phi cơ phản lực Hoa Kỳ lên nghênh chiến. Lúc này tình hình trở nên thật căng thẳng.

Tướng Kỳ và ĐT.Loan yêu cầu được gặp tướng Lewis Walt. Tôi không rõ ba vị này thương thảo và tranh luận những gì. Sau đó Tướng Kỳ bay về Saigon gặp Đại Sứ Hoa Kỳ và hôm sau ĐT.Loan được lệnh tấn công vào Đà nẵng. Tướng Kỳ và Tướng Thiệu gặp các giới chức Hoa kỳ và đã phải chấp nhận những điều kiện gì để Tướng Lewis Walt không can thiệp vào chiến dịch tái chiếm Đà Nẵng là điều mà chỉ có Tướng Kỳ và Tướng Thiệu biết và còn giữ kín.

Chỉ biết là ĐT.Loan lúc đó rất bực bội. Ông cho rằng người Mỹ đã can thiệp quá nhiều vào chuyện nội bộ của VN. Sau này có dịp nhắc lại chuyện đem quân theo ông ra Đà Nẵng, ông cho biết ngày đó nếu Mỹ không quyết định bỏ rơi Thượng Tọa Thích Trí Quang thì chưa chắc việc tái chiếm Đà nẵng đã có thể xẩy ra tương đối mau chóng như vậy. Đây có lẽ là một bài học khó quên cho những ai làm thích chính trị núp bóng người Mỹ. Khi mà sự cần thiết không còn nữa thì ngay cả "người làm rung chuyển nước Mỹ" ( tựa đề trên tuần báo Time năm 1964 ) như Thượng Toạ Trí Quang cũng dễ dàng bị bỏ rơi. Chúng ta chưa quên, năm 1975 số phận của tiền đồn chống Cộng VNCH cũng đã kết thúc không khác.

Trở lại việc tái chiếm Đà Nẵng, Lữ Đoàn TQLC của ĐT. Nguyễn Thành Yên ra khỏi phi trường Đà Nẵng và đụng độ với quân ly khai, gây tử thương cho gần 20 quân nhân và thành phần có võ trang theo phe tranh đấu. Biệt đoàn 222-CSDC bám sát TQLC để lục soát và bắt giữ những thành phần gây loạn. Chỉ sau khi những người lãnh đạo phong trào đấu tranh như Thượng Toạ Trí Quang, Đại Tá Đàm Quang Yêu, BS. Nguyễn Văn Mẫn và một số nhân vật chủ chốt khác bị bắt giữ và giải giao vào cục An Ninh Quân Đội các nhóm đấu tranh và các đơn vị ly khai mới thực sự buông súng đầu hàng. Việc tái chiếm Đà Nẵng bằng quân sự được hoàn tất trong vòng hai ngày nhưng trật tự chỉ thực sự được vãn hồi sau gần 3 tháng biểu tình tiếp tục liên miên.

Cái nghiệp Tình Báo-Cảnh Sát.

Đến đây hẳn bạn đọc đã thấy vụ biến động Miền Trung không chỉ đơn thuần là những cuộc biểu tình xuống đường như ta thường thấy tại Saigon trong những năm nhiễu loạn sau 1963. Nếu Thiếu Tá Liên Thành và các cộng sự viên ưu tú của ông không kịp thời khám phá và bắt giữ ổ điệp báo quan trọng Hoàng Kim Loan thì chắc tình trạng rối loạn tại Huế sẽ còn tiếp diễn và chưa biết hậu quả sẽ ra sao. Nhưng có lẽ công trạng lớn nhất trong vụ biến động Miền Trung phải được dành cho cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan.
Nên nhớ là sau khi 4 vị Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I đều thất bại không vãn hồi được an ninh trật tự vì bị phong trào tranh đấu của Thượng Tọa Trí Quang bao vây thì ít có vị Tướng lãnh nào muốn nghĩ tới việc ra thay thế chức vị Tư Lệnh Quân Đoàn I chứ đừng nói đến một sĩ quan cấp thấp hơn như Đại Tá Loan. Đối đầu với thế lực đang lên của Thượng Tọa Trí Quang lúc bấy giờ không phải là một quyết định dễ dàng. Vậy mà Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã chấp nhận công tác may ít rủi nhiều này.

Nếu không khôn khéo và cương quyết trong vụ dẹp loạn Miền Trung và nếu tình hình đổi ngược lại thì với cấp bậc Đại Tá khiêm tốn của ông có thể số phận của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan cũng đã không khác gì số phận của Thiếu Tá Đặng Sĩ sau đảo chánh 1963. Và nếu vụ biến động không được kịp thời dẹp tắt thì Miền Trung chắc đã trở thành một vùng tự trị, một thứ trái độn cần thiết mà Hà Nội mong muốn trong kế hoạch lấn chiếm Miền Nam. Và như vậy, rất có thể người dân Miền Trung đã không được sống trong tự do yên ổn cho đến tận tháng 4-1975.

Sẽ có bạn đọc thắc mắc tại sao những bí ẩn trong vụ biến động Miền Trung giờ này mới được tác giả Liên Thành đưa ra ánh sáng. Có nhiều lý do để giải thích việc này nhưng có lẽ lý do căn bản vẫn là lý do nghề nghiệp. Nghề tình báo (trong tổ chức Cảnh Sát có ngành Cảnh Sát Đặc Biệt phụ trách về tình báo và phản tình báo) vốn là nghề "sống để bụng, chết mang đi ". Rất nhiều trường hợp công tác đã xong nhưng các tình báo viên hoặc các cộng tác viên còn nằm lại. Việc tiết lộ kết quả công tác sẽ mang lại nhiều rủi ro cho những người đó. Chính vì vậy mà những thành quả tình báo không được vinh danh, không có vòng hoa chiến thắng và khao quân. Cảnh Sát làm tình báo chẳng khác gì người "mặc áo gấm đi đêm". Có áo quý nhưng không dám khoe!

Không những không được khoe mà đôi khi còn bị hiểu lầm. Như chuyện năm 1967 một sĩ quan tình báo của Cảnh Sát được gài trong mật khu VC. Có lẽ để thử thách lòng trung thành của sĩ quan này, VC giao cho đương sự đặt chất nổ phá hoại trong Bộ Tư Lệnh CSQG. Vì tầm quan trọng của công tác và để gây uy tín cho tình báo viên của mình, Bộ TL Cảnh Sát đã phải ngụy trang một vụ nổ giữa sân Bộ TL. Báo chí thời đó loan tin với khá nhiều mỉa mai. Một số dân biểu đối lập được dịp chỉ trích chính phủ và chĩa mũi dùi vào Tư Lệnh CSQG. Bộ TL-CSQG vẫn phải âm thầm gánh chịu, không hề biện bạch cải chính. Cái nghiệp tình báo là như vậy!

Trở lại vụ cuốn sách của tác giả Liên Thành, tôi nghĩ ông và các cộng sự viên của ông cũng bị các nguyên tắc nghề nghiệp ràng buộc. Trong dịp ra mắt cuốn sách của ông tại Houston vào tháng 9-1975 mới đây, ông cũng bị một vài thành viên trong Ban Đại Diện cộng đồng phản đối. Họ hô hào chống đối buổi ra mắt sách, buộc ông tội gây chia rẽ giữa giữa các tôn giáo chỉ vì cuốn sách của ông tiết lộ tên tuổi một số tu sĩ Phật giáo bị điệp báo cộng sản móc nối trong vụ biến động Miền Trung. Họ cho rằng bây giờ chưa phải là lúc đề cập tới những chuyện như vậy, trong khi số đồng hương đến tham dự không dưới 700 người.

Điều này làm tôi nhớ lại thái độ tương tự của những người có trọng trách trong chính quyền thời bấy giờ, coi chuyện tôn giáo và tu sĩ như những lãnh vực bất khả xâm phạm. Phải chăng những tránh né như vậy đã phần nào nuôi dưỡng tình trạng "kiêu binh" gây sóng gió trong chính trường Miền Nam nhiều năm trước ngày sụp đổ? Thái độ thờ ơ cả nể đã di hại cho công cuộc bảo vệ Miền Nam không ít. Bây giờ 33 năm sau, chúng ta vẫn còn cả nể như vậy sao ?. Không lẽ ta không học được những bài học của quá khứ để truyền lại cho con cháu sau này?

Câu nói của sử gia Santanaya đã được nhiều người nhắc lại và đáng cho chúng ta suy nghĩ: "Those who do not learn from the lessons of history will be condemned to repeat history" (xin dịch thoáng như sau: kẻ nào không chịu học những bài học của lịch sử thì sẽ phải gặp lại những bất hạnh tương tự khi lịch sử tái diễn).

Cám ơn Thiếu Tá Liên Thành đã làm sáng tỏ một số bí ẩn trong vụ biến động Miền Trung và xin cám ơn Tập San Biệt Động Quân đã cho xuất bản tập sách này.

Một sản phẩm “ lộn kiếp ”!

Quyển < Ho Chi Minh: A Life > của William J. Duiker do nhà xuất bản Hyperion Books ở New York xuất bản vào năm 2002, được người Việt hải ngoại “nghe” đến khi nhà nước CSVN lên tiếng xin phép nhà xuất bản và tác giả cho họ được cắt xén một vài đoạn trong quyển sách khi phiên dịch ra Việt ngữ. Nếu quả thật có một vài đoạn cần phải cắt xén đi chăng nữa, nhưng việc phiên dịch quyển sách ra Việt ngữ của nhà cầm quyền CSVN chứng tỏ quyển sách này rất có lợi cho chế độ CSVN trên mặt trận tuyên truyền.Quả thật vậy! Ngay bìa mặt của quyển sách, là lời phê bình của Washington Post Book World: )
A major scholarly achievement .( Một công trình uyên bác to tát.)
Bià lưng , là những lời giới thiệu:
- Named one of the best books of the year by Washington Post and the Los Angeles Times. ( Được liệt kê là một trong những quyển sách hay nhất trong năm bởi Washington Post và Los Angeles Times )
- A finalist for the Mark Lynton History Prize and the Lionel Gelber Prize ( Nằm trong danh sách chung kết của hai giải thưởng Mark Lynton History và Lionel Gelber )
và những lời phê bình:
- (A) magnificent new biography ( Một thiên hùng sử mới ) - Frances Fitgerald, The New York Times Book Review.
- This is an astounding book, the research so thorough and exacting as to take one’s breath away.
( Đây là quyển sách gây kinh ngạc, một sự nghiên cứu rất tĩ mĩ và chính xác, làm cho người ta nín thở ) - Martin Booth, The Sunday Times (U.K)
- Much has been written about Ho Chi Minh, but nothing equals William J. Duiker’s biography. Meticulously research, profoundy perceptive, and highly readable, it finally demystifies one of the most fascinating, enigmatic, controversal, and influential figures of the Twentieth century. ( Đã có nhiều người viết về Hồ Chí Minh, nhưng tất cả không đáng kể so với quyển tiểu sử do William J. Duiker viết. Đây là một sự nghiên cứu tĩ mĩ, một nhận thức uyên thâm rất đáng đọc; sau hết, nó vén bức màn bí mật về một nhân vật bí ẩn, lôi cuốn, phức tạp và gây ảnh hưởng nhiều nhất của thế kỷ 20.) - Stanley Karnow, Author of Vietnam: A History
Tất cả những lời giới thiệu và phê bình trên đây đều ca ngợi công trình nghiên cứu của William J. Duiker, trực tiếp xác nhận những điều trình bày của tác giả là chính xác và tĩ mĩ, cẩn thận, tinh vi, uyên thâm, uyên bác; có nghĩa là trực tiếp xác nhận những điều William J. Duiker trình bày về cuộc đời của Hồ Chí Minh là chính xác, là tĩ mĩ, là cẩn thận, là uyên thâm.......
Vậy thì , bằng cách nào, William J. Duiker đã thu thập những tài liệu về Hồ Chí Minh để hoàn thành quyển sách dày 595 trang, không kể những phụ trang và 4 trang bìa, để rồi nhận được những lời giới thiệu và phê bình “ vô cùng tốt đẹp ” như trên ?
Xin hãy nghe tác giả trình bày.
Trong lời mở đầu, tác giả viết :
“ Tôi bị lôi cuốn về Hồ Chí Minh từ giữa thập niên 1960’, khi còn là một nhân viên ngoại giao trẻ tuổi làm việc trong tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigon; tôi điên đầu bởi một sự thật là Việt Cộng, quân phiến loạn chiến đấu ở trong rừng, rõ ràng họ có kỹ luật và có động lực thúc đẩy hơn là quân đội của đồng minh chúng ta, chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khi cố gắng tìm hiểu vấn đề, tôi bị thuyết phục bởi lối giải thích là do vai trò của một người chủ động, là một chiến lược gia, và là một nhà cách mạng Việt Nam: Hồ Chí Minh. Sau khi nghĩ việc trong chính phủ Hoa Kỳ, tôi theo đuổi một nghề nghiệp có tính hàn lâm, do đó tôi nghĩ đến việc viết tiểu sử của nhân vật độc đáo và phức tạp nói trên, nhưng tôi sớm nhận ra những tài liệu mà tôi gom góp được chưa đủ để hoàn thành một chân dung có tính thuyết phục về cuộc sống và sự nghiệp của ông ta. Vì vậy, tôi tạm gát dự án cho tới thời gian gần đây, khi tài liệu từ nhiều quốc gia trên thế giới bắt đầu được phổ biến ồ ạt; tôi nhận thấy đây là thời điểm có thể thực hiện được dự án.
Tiến trình hoàn tất quyển sách này trải dài trên hai thập niên; trong thời gian này, tôi đã nhận được sự yểm trợ từ nhiều nơi. Cơ quan The College Fund for Research của College of Liberal Art , và cơ quan Institute for the Art and Humanistic Studies của Penn State University đã cung cấp ngân khoản để cho tôi nghiên cứu các tài liệu tại Pháp và Việt Nam. Qua sự giúp đở của Mark Sidel thuộc cơ quan Ford Foundation, tôi được tháp tùng theo Marilyn Young và A. Tom Grunfield trong chuyến đi Hà Nội năm 1993 để tìm hiểu sự liên hệ giữa Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ . Tôi cũng xin cám ơn cơ quan Social Science Research Council và Indochina Scholarly Exchange Program đã tặng tôi một ngân khoản vào năm 1990 để nghiên cứu về Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Trong khi tôi ở tại Hà Nội, thì Viện Sử Học, Viện Đại Học Hà Nội, và Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin đã vô cùng tử tế sắp xếp cho tôi một lịch trình thảo luận với các vị học giả những đề tài về quyền lợi hổ tương , về Hồ Chí Minh, và về lịch sử cuộc cách mạng Việt Nam. Viện Bang Giao Quốc Tế đã bảo trợ chuyến thăm viếng của tôi vào năm 1985, trong đó có chuyến đi về làng Kim Liên, sinh quán của Hồ Chí Minh. Đối với những cá nhân đã trợ giúp công cuộc nghiên cứu của tôi tại Hà Nội, tôi xin được cám ơn Nguyen Huy Hoan thuộc Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Nguyen Thanh thuộc Viện Bảo Tàng Cách Mạng và Tran Thanh thuộc Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin, tất cả đã bằng lòng dành cho tôi những cuộc phỏng vấn khá dài. Tại Viện Đại Học Hà Nội, các sử gia Phung Huu Phu, Le Mau Han, Pham Xanh và Pham Cong Tung đã tử tế dành cho tôi thì giờ và cung cấp tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ha Huy Giap ( đã quá cố ) thuộc Bảo Tàng Viện Hồ Chí Minh và Dang Xuan Ky, nguyên giám đốc Viện Khoa Học Xã Hội cũng đã tử tế trả lời những câu hỏi của tôi về những điều mà họ còn nhớ về Hồ Chủ Tịch. Do Quang Hung, Ngo Phuong Ba, Van Tao và Tran Huu Dinh thuộc Viện Sử Học và Luu Doan Huynh thuộc Viện Bang Giao Quốc Tế đã quảng đại trong việc sử dụng thời giờ của họ để giúp tôi khám phá những vấn đề then chốt trong dự án. Tôi cũng đặc biệt cám ơn Vu Huy Phuc, người rất kiên nhẫn và có óc khôi hài đã kiêm nhiệm hai công việc, vừa là người bảo vệ, vừa là người bạn cùng nghiên cứu trong chuyến viếng thăm Việt Nam của tôi vào năm 1990. Gần đây nhất, ông Hoang Cong Thuy thuộc tổ chức Vietnam-American Friendship Society đã cho tôi tiếp xúc với các cá nhân cũng như cung cấp những nguồn tài liệu khi tôi đi theo đường mòn Hồ Chí Minh. Duong Trung Quoc thuộc tạp chí Xưa Nay cũng cung cấp cho tôi một số báo hữu ích. Nguyen Quoc Uy thuộc Việt Nam Thông Tấn Xã cũng rất tử tế cho phép tôi được in lại trong quyển sách này một số hình ảnh thuộc tác quyền của cơ quan VNTTX. ” ( Preface I x ).
Ngưng trích.
Tiếp theo, tác giả cám ơn các cơ quan, tổ chức, các thư viện, các viện đại học của Hoa Kỳ, Pháp, Nga, Trung Cộng, Anh Quốc, Hồng Kông đã cung cấp các tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh và những cá nhân như Douglas Pike, Steve Denny, King C. Chen ( quá cố ), Stanley Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian, Mai Elliott v.v....
Sau cùng, tác giả cám ơn hai cô con gái trong nhiều năm đã lắng nghe về chuyện Việt Nam và cám ơn bà vợ kiên nhẫn, là người đầu tiên đọc bản thảo của tác giả và nhiều lúc đã xem Hồ Chí Minh như là một phần tử trong gia đình. ( Preface I x, I x i, I x i i )
Kính thưa quí độc giả.
Khi trình bày những dữ kiện vừa kể trong quyển sách <>, chúng tôi không dám có tham vọng thực hiện một công việc quá to tát, công phu và ngoài khả năng của chúng tôi; là phân tích một quyển sách mà tác giả William J. Duiker đã bỏ thời gian trên hai thập niên để hoàn tất, với con số tài liệu và sử liệu đồ sộ như tác giả đã liệt kê; mặc dù chúng tôi nhận thức rằng công việc nhận xét cuốn sách trên đây là một công việc vô cùng cần thiết và quan trọng, để trả lại sự thật cho lịch sử và để lại tài liệu cho thế hệ con cháu chúng ta. Đây là một công tác dài hạn và công phu cần đến sự làm việc của nhiều người trong mọi giới.
Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ xin đưa ra một đoạn nhỏ trong quyển sách để đối chiếu với tài liệu mà chúng ta đang có; trong đó, một số chứng nhân có thể vẫn còn sống sót cho tới ngày hôm nay: đó là Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất.
William J. Duiker đã trình bày Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất ( tr. 475-479 ) như sau:
..........
Vũ khí mà phe cực đoan chọn lựa để trả công cho cuộc đấu tranh giai cấp tại nông thôn là Cải Cách Ruộng Đất. Hồ Chí Minh không chấp nhận các biện pháp thô bạo trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Pháp, nhưng vào năm 1953, theo lệnh của các cố vấn Trung Cộng, ông phải miễn cưỡng xiết chặt các biện pháp chỉnh lý như là những phương tiện để thúc đẩy nông dân chuẩn bị sẳn sàng cho trận Điện Biên Phủ. Với hình ảnh chiến tranh sắp chấm dứt, đảng xúc tiến kết thúc kế hoạch và sắp đặt cho chương trình hợp tác xã trên toàn quốc. Trong lời kêu gọi đồng bào vào đầu tháng 9 năm 1954, Hồ Chí Minh hứa hẹn chương trình cấp ruộng cho bần nông trong vùng vừa mới giải phóng tại các tỉnh miền Bắc sẽ là kế hoạch ưu tiên của chính phủ . Mặc dù Hồ tâm sự với những người thân cận là cá nhân ông không cảm thấy vội vã trong việc thực thi kế hoạch, tuy nhiên ông ủng hộ biện pháp này như là một chiến thuật để làm vui lòng Bắc Kinh, và có lẽ cũng là để hoà giải với những đồng chí trong giới quân nhân như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt. ( Ho Chi Minh on Revolution: Selected Writting – Bernard B. Fall; Đêm Giữa Ban Ngày, tr.221 -Vũ Thư Hiên; Land Reformed in China and North Vietnam – Edwind E. Moise )
Thực hiện Cải Cách Ruộng Đất theo bước kế tiếp, các lãnh tụ trong đảng nhắm đến hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là tác dụng về kinh tế: tận dụng đất đai canh tác qua việc tái phân phối ruộng đất từ những địa chủ trong làng cho những bần nông và bần cố nông đang chiếm đa số tại nông thôn. Theo đúng như khuôn mẫu đã áp dụng tại Hoa Lục vào những năm trước, các lãnh tụ của đảng hy vọng sự làm chủ đất đai sẽ kích thích các nông dân gia tăng sản xuất , làm nền móng cho kế hoạch hợp tác xã trong tương lai gần.
Mục tiêu thứ hai quan trọng hơn, là mục tiêu về chính trị: nhằm tiêu diệt thế lực phong kiến ( được gọi là giai cấp địa chủ ) và tạo nên một giai cấp lãnh đạo mới tại nông thôn, gồm những bần nông, những người chịu ơn đảng và sẽ trung thành tuân theo chính sách của đảng.
Để làm nổi bật lợi ích chính trị của Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất, những phần tử cực đoan trong nhóm lãnh đạo đảng đã theo câu châm ngôn của Mao Trạch Đông - người khởi xướng kế hoạch tương tự tại Trung Hoa- nói thẳng thừng rằng “ cách mạng không phải là một buổi dạ tiệc”. Kể từ thập niên 1920’s, Mao đã hô hào việc nâng cao giai cấp nông dân trong công cuộc đấu tranh giai cấp để lôi kéo sự ủng hộ của họ. Mặc dù cuộc đấu tranh giai cấp bị đình hoãn trong thời kỳ chiến tranh với Nhật Bản, trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Quốc Cộng và trong giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất vào đầu thập niên 1950’s, những đội viên cải cách của Mao đã tổ chức các cuộc “ đấu tố ” , khích động nông dân tố khổ các địa chủ của mình, đặc biệt, những người mang “ nợ máu ” với nhân dân. Tại các tòa án nhân dân được thiết lập trên khắp Hoa Lục , hàng ngàn người bị kết tội và bị hành quyết. Mặc dù vậy, nhưng thành phần quân sự trong Đảng Lao Động Việt Nam lại sẳn lòng áp dụng biện pháp tương tự cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Lê Đức Thọ, lãnh tụ đảng tại miền Nam đã phát biểu vào năm 1952: “ nếu người nào muốn lãnh đạo cuộc nổi dậy của nông dân, điều cần yếu trước tiên là người ấy phải khích động lòng căm thù của nông dân ” cũng như quan tâm đến quyền lợi thực tế của họ. ( Làm thế nào để phát động chiến tranh du kích tại Nam bộ - Lê Đức Thọ, .......)
Phong trào CCRĐ được phát động vào mùa hè và mùa thu 1954. Dưới sự chỉ huy của cựu đảng viên và lãnh tụ lao động Hoàng Quốc Việt, giai đoạn đầu của phong trào được sự ủng hộ của vài thành phần nông dân, đặc biệt là bần cố nông phục vụ trong bộ đội và đi dân công trong chiến trường Điện Biên Phủ; họ được Việt Minh tuyên truyền hứa hẹn sẽ được đền bù bằng ruộng đất. Tuy nhiên, có vài vụ phàn nàn về biện pháp đàn áp hung bạo. Khi Hồ Chí Minh được báo cáo về những trường hợp như thế, ông khiển trách những đội viên cải cách đã làm tổn thương nhân phẩm người dân và chỉ trích hành vi ngạo mạn của họ. ( Bùi Tín: Following Ho Chi Minh trang 23 và báo Nhân Dân ngày 19 tháng 11 năm 1954 )
Mặc dù đợt đầu tiên của kế hoạch mới rất khiêm tốn – khoảng 50 làng trong tỉnh Thái Nguyên , ở góc Tây Bắc của bình nguyên sông Hồng – nhưng đã tạo nên một làn sóng kinh động trên toàn quốc. Đối với thành phần ôn hòa, đây là dấu hiệu chứng tỏ thành phần cực đoan xuất hiện trong đảng vào đầu thập niên 1950’s vẫn còn mạnh, và họ có thể làm phương hại đến kế hoạch mà Hồ Chí Minh đã hứa hẹn vào mùa thu năm 1954.
Đợt cải cách kế tiếp được phát động vào mùa đông và đầu xuân 1955. Mặc dù mục bình luận của báo Nhân Dân số tháng giêng đã cảnh cáo về sự nguy hiễm của “ những sai lầm ”, các đội viên cải cách ( đa số là những người ngoài đảng được huấn luyện cho chương trình CCRĐ dưới sự hướng dẫn của các cố vấn Trung Cộng, được gửi đến nhà các nông dân để cùng làm, cùng ăn và cùng sống với họ) xúi giục các nông dân đấu tố những địa chủ đã bóc lột họ trong quá khứ. Nhiều người bị buộc tội chống lại nhân dân và bị hành quyết. Trong vài trường hợp, nông dân đã lợi dụng phong trào CCRĐ để giải quyết những mối tư thù bằng cách vu cáo người khác có hành vi phản động. Trong tiến trình của chương trình CCRĐ, dăm ba ngàn người , trong đó có nhiều người trung thành và ủng hộ phong trào Việt Minh bị kết tội phản động và bị xử tử. Trong vài trường hợp, các đội viên cải cách cũng tấn công các cán bộ Việt Minh vừa giải ngũ và gia đình những người này. Ngay cả những người có liên hệ, móc nối với giới chức cao cấp cũng không được bảo vệ. Trường hợp điển hình, một cán bộ Việt Minh được Hồ Chí Minh đích thân che chở bằng cách chỉ thị đến nhà chức trách địa phương không được đưa người này ra trước toà án nhân dân. Tuy nhiên, người cán bộ và gia đình vẫn bị đem ra trước toà án nhân dân và bị dân làng đấu tố . Cháu gái của người cán bộ, Duong Van Mai Elliott, đã thuật lại câu chuyện như sau:
“ Mỗi khi bác tôi ra khỏi nhà đều bị trẻ con ném đá. Mỗi lần bị người nào tấn công, dù lớn hay nhỏ, bác tôi cũng cúi đầu van xin: “ lậy ông lạy bà xin tha cho tôi....”
Địa chủ bị làm con dê tế thần cho cuộc sống khổ cực của nông dân. Trong làng của bác tôi, người ta hành hạ ông để chứng tỏ sự nhiệt tâm ủng hộ phong trào CCRĐ và tỏ lòng biết ơn quân đội nhân dân đang nắm giữ quyền lực. Những người ghen tị về sự giàu có và thế lực của ông trước kia, giờ đây họ lấy làm thích thú khi được hạ nhục ông.”
Cuối cùng, nhà cửa ruộng vuờn của người cán bộ trên đây bị tịch thu, gia đình phải ở trong một túp lều bên ngọn đồi kế cận, và canh tác một khoảnh đất nghèo nàn sỏi đá do các đội viên cải cách cấp cho.
Không thể nghi ngờ về một vài vụ bạo động có liên quan đến phong trào CCRĐ là hậu quả tất nhiên và tự phát, do sự căm thù giai cấp phát xuất từ nông thôn. Những sự kiện như thế, đã trở nên rất quen thuộc, dù là một bi kịch, nhưng đó là sản phẩm phụ của cách mạng. Nhưng, có nhiều bằng chứng cho thấy lãnh đạo đảng là những người chịu trách nhiệm trong việc hoạch định và thực hiện kế hoạch. Người nhận lãnh trách nhiệm tổng quát là Tổng Bí Thư Trường Chinh, đã ra mặt ngưỡng mộ chính sách cải cách ruộng đất tại Hoa Lục , đã công khai lặp lại quan điểm của Mao Trạch Đông rằng CCRĐ phải được thực hiện dưới hình thức đấu tranh giai cấp, cùng với các ủy viên trung ương khác gồm có Hoàng Quốc Việt, thứ trưởng Canh Nông Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương, một nhân vật Mao-ít , có nhiều ảnh hưởng trong đảng và là một ủy viên trung ương từng kêu gọi phải chỉnh đảng để trong sạch hóa đảng. Theo chân Trung Cộng, các lãnh tụ vừa kể ước tính rằng từ 4 đến 5% dân số phải được liệt kê vào thành phần địa chủ, kẻ thù của giai cấp nông dân; mặc dù trên thực tế, tại nhiều làng, họ chỉ có một ít ruộng đất vừa đủ sống .
Sự bạo động trong phong trào CCRĐ đã làm Hồ Chí Minh ngạc nhiên, mặc dù ông có cùng quan điểm với thành phần quân sự; một trong những mục tiêu của phong trào CCRĐ là để tiêu diệt kẻ thù và những phần tử phản động tại nông thôn. Trong bài nói chuyện với các đội viên cải cách tại Thái Nguyên vào cuối năm 1994, ông tuyên bố CCRĐ là một công cuộc đấu tranh giai cấp:
- Công tác quan trọng trong làng là vấn đề đoàn ngũ hóa nông thôn: ủy ban nhân dân xã, du kích xã, các đoàn thể nông dân, thanh niên và phụ nữ ...nếu những phần tử xấu còn trà trộn trong các đoàn thể ấy thì chúng ta không thể tiến hành công cuộc CCRĐ. Để tiến hành công cuộc CCRĐ, phải có những biện pháp thích hợp đối với các phần tử xấu. Bất cứ biện pháp nào xét thấy cần thiết để loại trừ, thủ tiêu họ, cứ thi hành. Nếu có thể cải tạo họ, cứ thi hành. Đây là một công tác quan trọng phải được hoàn tất bởi tập thể.
Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh không đồng ý đối với hình phạt áp dụng chung cho mọi người: “ Để có những biện pháp thích đáng, không thể coi một đám đông đều là những người tốt hay toàn những người xấu; để biết rõ ai tốt ai xấu, phải dựa vào sự phán xét của tập thể.” Nói cách khác, đội viên cải cách phải học tập để phân biệt các thành phần địa chủ khác nhau. Mặt khác, phải biết là bọn họ cấu kết với nhau để bóc lột nông dân.
Hồ cũng chống đối biện pháp tra tấn. Ông nói với một số đội viên cải cách vẫn sử dụng hình phạt tra tấn, rằng đó là phuơng pháp dã man mà các phần tử đế quốc, tư bản và phong kiến áp dụng hầu dể bề làm chủ tập thể và đánh phá cách mạng. Chúng ta, những người đang tiến hành một phong trào công bình và chính đáng thì tại sao lại sử dụng những phương pháp tàn bạo như thế? ( Hồ Chí Minh toàn tập I, tr. 112-121 )
Sự khiển trách của Hồ Chí Minh về việc sử dụng những biện pháp tàn bạo không gây một ảnh hưởng nhỏ nào. Như tại Thái Nguyên, một địa chủ đã từng ủng hộ và trung thành với cách mạng trong nhiều năm, từng chứa chấp Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt trốn tránh thực dân Pháp; đã bị đội cải cách kết vào tội cường hào và lên án tử hình. Khi dân làng lên tiếng bênh vực bà, thì họ cũng bị kết án là tay sai của kẻ thù. Sau khi được báo cáo về trường hợp trên đây, Hồ Chí Minh đặt vấn đề với Trường Chinh, và nạn nhân được giãm án . Tuy nhiên, những trường hợp như thế này thật hiếm, và cho tới khi chiến dịch chấm dứt vào cuối năm 1956, hàng ngàn người bị xử tử và vô số người khác bị sách nhiễu, bị kết án, bị hạ nhục và bị dán nhãn là kẻ thù của nhân dân. Mặc dù Hồ Chí Minh đã lo sợ về hình phạt tàn bạo áp dụng chung cho tập thể trong chiến dịch CCRĐ, tuy nhiên dưới mắt của một quan sát viên Việt Nam, thì ông Hồ bị Mao Trạch Đông đe dọa, và sợ hãi không dám làm trái ý của các sĩ quan Trung Cộng đang đóng quân tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. ( Bùi Tín , Following Ho – tr.28-29 ; Vũ Thư Hiên - Đêm Giữa Ban Ngày, tr. 224 ; Moise – Land Reform,tr. 127 –128. )
Ngưng trích.
Nhận xét:
Trước hết, xin đề cập đến các tài liệu mà William J. Duiker tham khảo để viết về quyển sách nói chung, và phong trào CCRĐ nói riêng.
Trong lời mở đầu, William J. Duiker đã ngỏ lời cám ơn một cách trân trọng và chân thành đến các cơ quan cũng như những nhân sự trong chính quyền CSVN đã giúp đở tác giả một cách tận tình, nhiệt tâm, cộng với một thái độ vô cùng tử tế và rộng lượng. Các cơ quan như Viện Sử Học, Viện Khoa Học Xã Hội, Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lênin , Viện Đại Học Hà Nội, Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện bảo tàng Cách Mạng, Viện Bang Giao Quốc Tế , Thông tấn xã CSVN đã dành rất nhiều thì giờ và cung cấp đầy đủ tài liệu cho William J. Duiker để tác giả hoàn tất tiểu sử Hồ Chí Minh theo như ý muốn của ông từ thập niên 1960, với một cảm tình đặc biệt mà ông đã dành cho họ Hồ.
Trên nguyên tắc, khi đến Hà Nội vào những năm 1985, 1990 và 1993 để tìm tài liệu, William J. Duiker đã tìm đúng nguời, đúng chổ vào thời điểm thật đúng lúc để thu thập tài liệu cho “ tác phẩm” của ông. Nhưng chính ra, CSVN phải cám ơn ông thay vì ông cám ơn họ; vì bỗng dưng nhà cầm quyền Hà Nội lại được một món quà quá bất ngờ và to tát từ trên trời rơi xuống.
Sở dĩ William J. Duiker không cần phải cám ơn CSVN về việc ông được tiếp đón nồng hậu và đối xử tử tế quảng đại, cũng không cần phải cám ơn CSVN đã cung cấp những tài liệu về Hồ Chí Minh; vì đây là một “ nghĩa vụ ” thiêng liêng mà CS Hà Nội phải thi hành đối với một người đang ra công thực hiện một công tác tuyên truyền vĩ đại và công không cho họ, đó là ca tụng “ sự nghiệp cách mạng ” của Hồ Chí Minh và đảng CSVN.
Nhưng, William J. Duiker đã không nhìn sự việc dưới góc cạnh như thế . Như đã nói, ông bị thuyết phục bởi nhân vật mà theo ông đã trở thành nguyên động lực thúc đẩy sự chiến đấu và tinh thần kỹ luật của Việt Cộng: đó là Hồ Chí Minh; và ông muốn tìm hiểu con người của Hồ Chí Minh dưới góc cạnh đó, bất chấp những sự thật lịch sử đã được phơi bày về bản chất tàn bạo và khủng bố trong con người thật của họ Hồ.
Điều này cũng không lạ, nếu nhìn lại trường hợp của nhân vật khủng bố nổi tiếng hiện nay là Osamar bin Laden. Những chứng cớ hùng hồn và cụ thể về hành động, lời nói của tên trùm khủng bố của thế kỷ thứ 21 này đã được phơi bày rõ ràng dưới ánh sáng mặt trời, nhưng những sự thật đó vẫn không đủ sức cản ngăn sự ngưỡng mộ của hàng chục triệu người đối với tên trùm khủng bố; thì đã sao?
Một điều trớ trêu, buồn cuời và có thể nói là phản khoa học ở đây, là cách sử dụng những “ tài liệu lịch sử ” để hoàn tất quyển sách của William J. Duiker. Nói trắng ra, nó chỉ là sự xào đi nấu lại những tài liệu của cộng sản Nga, Tàu, Pháp và Việt để sản xuất ra món ăn <>
Nói cách khác, <> là một sản phẩm “ lộn kiếp ”.
Thế nào là “ lộn kiếp ”?
Ở thôn quê, người dân từ trẻ tới già ai cũng biết ổi lộn kiếp và ớt lộn kiếp. Hạt ổi và hạt ớt là hai loại hạt không thể tiêu hóa. Khi người ta ăn ổi hay ăn ớt mà không nhai kỹ, hoặc chim chóc mổ trái ổi chín hay trái ớt chín để ăn, khi đi tiêu thì hạt vẫn còn nguyên ( chúng tôi thành thật xin lỗi quí vị độc giả) .
Nếu những hạt này gặp những điều kiện thuận lợi, như rơi đúng vào chổ đất màu mở, có đủ độ ẩm, thì chúng sẽ nảy mầm và sản xuất ra những cây mới. Cây này cũng lớn lên và cũng ra hoa, sinh quả như cây bình thường, nhưng đặc biệt , nếu là ổi thì trái sẽ ngon ngọt hơn, nếu là ớt thì sẽ cay hơn. Rồi thì người ta và chim chóc lại ăn những trái này và có thể sản xuất những cây lộn kiếp đời thứ hai, thứ ba, thứ tư v. v....
Thật vậy, William J. Duiker đã sử dụng rất nhiều tài liệu “ lộn kiếp” của cộng sản viết về Hồ Chí Minh để hoàn thành tác phẩm nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh, trong đó có cả những tài liệu do chính Hồ Chí Minh tự viết về mình dưới bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan.
Vì là một sản phẫm lộn kiếp và sau khi được xào nấu bởi bàn tay của William J. Duiker, cuộc đời của Hồ Chí Minh đã trở nên “ ngon ” hơn, “ cay” hơn ; vì thế nên những lời ca ngợi của Stanley Karnow tác giả của Vietnam: A History, không phải là không có nguyên cớ.
Riêng trong đoạn viết về CCRĐ, ngoài một ít tài liệu của ngoại quốc, William J. Duiker đã dùng Hồ Chí Minh Toàn Tập và sách của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Vì thế, những lập luận bênh vực Hồ Chí Minh đã được William J. Duiker rập khuôn lại như sau:
1- Hồ Chí Minh không phải là thủ phạm chính trong phong trào CCRĐ. Thủ phạm chính là các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương.
2- Hồ Chí Minh là một người nhân hậu không chấp nhận các biện pháp tàn bạo, tra tấn trong phong trào CCRĐ.
3- Chỉ thị của Hồ Chí Minh không được địa phương tuân hành.
4- Hồ Chí Minh bị Mao Trạch Đông đe dọa và sợ hãi các sĩ quan cố vấn Trung Cộng.
5- Đội viên cải cách là những người ngoài, không thuộc đảng.( Đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật của Hồ Chí Minh và CSVN. William J. Duiker đã hoàn toàn bị lừa và bị lùa vào bẫy một cách dể dàng vì sự thật thà ngớ ngẩn. Sự thật, những đội viên cải cách là những đứa con cưng của đảng. )
Trên đây là những lập luận ngụy biện và đầy giả trá nhằm biện hộ cho Hồ Chí Minh, chính danh thủ phạm của tội ác tày trời là phong trào CCRĐ. William J. Duiker đã làm một cái loa vang vọng lại những gì mà những người cộng sản đã nói về phong trào CCRĐ, trong đó những điểm then chốt hoàn toàn không đúng với sự thật. Để biết sự thật về tội ác của Hồ Chí Minh trong phong trào CCRĐ, xin quí vị tìm đọc tác phẩm “ Từ Thực Dân Đến Cộng Sản ” của Hoàng Văn Chí, một người đã từng sống chung với CS, nhưng sau đó đã rời bỏ CS và viết sách kể lại những gì mà ông đã chứng kiến.

Nguyễn thị Bé Bảy ( Bích Liên )

Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Houston & Phụ Cận

Vietnamese Community of Houston & Vicinities
Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Houston & Phụ Cận
7100 Clarewood Dr.
Houston TX 77036
Tel. 713-272-8624

THƯ MỜI
RA MẮT PHIM TÀI LIỆU
SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

Trong nhiều năm qua, để bám giữ quyền lực, Đảng Cộng Sản
Việt Nam cố đánh bóng Hồ Chí Minh lên như một thần tượng
trong sang với Chủ Nghĩa Cộng Sản –Tư Tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiều bình luận gia cho rằng khi nào sự thật Hồ Chí Minh được
phơi bày thì thần tượng này sẽ sụp đổ và chế độ Cộng
Sản tại Việt Nam cũng sẽ cáo chung theo.

Với quan niệm đó, Phong Trào Sài Gòn do linh mục Nguyễn Hữu Lễ
và ông Trần Quốc Bảo chủ xướng, đã dành tâm sức soạn thảo
và quay phim tài liệu nêu rõ Sự Thật Về Hồ Chí Minh. Trong
cuốn phim này, quý vị sẽ thấy rõ Hồ Chí Minh chỉ là một tên
xu nịnh và thời cơ chủ nghĩa không có một chút tư tưởng nào,
và hắn đã sống cuộc đời vô luân ăn ở với nhiều phụ nữ
rồi cho đàn em giết chết họ cách tàn nhẫn để bịt miệng.

Cuốn phim Sự Thật Hồ Chí Minh sẽ lột trần những tội ác tày
trời mà Hồ Chí Minh và ĐCSVN đã làm đối với dân tộc Việt
Nam. Cuốn phim này là khẩu đại bác bắn thẳng vào chế độ
bạo tàn cộng sản đang còn chễm chệ cai trị dân tộc Việt Nam.
Hơn bao giờ hết, trước nguy cơ ĐCSVN tình nguyện làm thái thú
dâng đất dâng biển cho Trung Cộng qua vụ để Trung Cộng khai
thác mỏ Bauxite ở Tây Nguyên, cuốn phim này cần được quảng bá
đến mọi giới, nhất là thế hệ trẻ, để họ hiểu rõ bản
chất của Hồ Chí Minh và Cộng Sản ngõ hầu họ thêm động lực
đứng dậy đánh đổ chế độ này tranh đấu bảo toàn lãnh thổ
và đem lại Tự Do – Dân Chủ cho quê hương.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Phụ Cận là một cộng
đồng tỵ nạn Cộng Sản nên sẵn sàng bày tỏ thái độ chính
trị của mình là không chấp nhận Cộng Sản. Do đó, Cộng Đồng
có trách nhiệm và vinh dự để hỗ trợ Phong Trào Sài Gòn phổ
biến phim tài liệu quý giá này đến với mọi thành phần trong
Cộng Đồng.

Cộng Đồng trân trọng kính mời quý đồng hương đến tham dự
Buổi Ra Mắt Phim Tài Liệu Sự Thật Hồ Chí Minh, tiếp tân lúc 5
giờ và khai mạc đúng 6 giờ chiều ngày Chủ Nhật 26/7/2009 tại
Nhà Hàng Ocean Palace trong Hong Kong City Mall, 11215 Bellaire Blvd., Houston
TX 77072. Trong buổi ra mắt sẽ dành 20 phút để trình chiếu
cuốn phim, sau đó là những lời phát biểu của hai diễn giả Lm
Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo, kế tiếp là màn văn nghệ
đặc sắc do chị Anh Trinh điều hợp. Cuốn phim được sang lại
ở dạng DVD và quý vị sẽ được biếu. Mọi sự đóng góp tuỳ
theo lòng hảo tâm của quý vị.

Vào cửa tự do. Thư mời này xin được thay thế Thiệp Mời.

Trân trọng kính mời,

Hoàng Duy Hùng, Chủ Tịch CĐ NVQG Houston & Phụ Cận
Trưởng Ban Tổ Chức

Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Houston & Phụ Cận
7100 Clarewood Dr.
Houston TX 77036
Tel. 713-272-8624

CHƯƠNG TRÌNH
RA MẮT PHIM TÀI LIỆU
"SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH"
Ngày Chủ Nhật 26/7/2009, tiếp tân lúc 5 giờ chiều và khai mạc
đúng 6 giờ chiều
tại Nhà Hàng Ocean Palace trong Hong Kong City Mall
1215 Bellaire Blvd
Houston TX 77072


5 giờ 00 Tiếp đón quan khách

6giờ 00 Nghi thức khai mạc – xé cờ Đỏ, xé hình Hồ Chí
Minh
Chào cờ - Mặc niệm


6 giờ 15 Chào mừng và đọc danh sách quan khách (ông Nguyễn
Thực)
Diễn văn Khai mạc Hoàng Duy Hùng, Trưởng Ban Tổ Chức

6 giờ 25 Chiến dịch "Tẩy Trừ Huyền Thoại Giả Trá Hồ Chí
Minh" và phim "Sự Thật về Hồ Chí Minh. Linh mục Nguyễn Hữu
Lễ, Đại diện PTSG

6 giờ 35 Chiếu phần giới thiệu phim "Sự Thật về Hồ Chí Minh"

6 giờ 55 Công tác thực hiện và quảng bá phim "Sự Thật về Hồ
Chí Minh"
Ông Trần Quốc Bảo, Trưởng BĐH/PTSG

7 giờ 05 Thức ăn nhẹ.

7 giơ 05 Phát biểu cảm tưởng của Quan Khách

7 giờ 15 Văn Nghệ phụ diễn

7 giờ 15 Phân phát DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh"

9 giờ 00 Bế mạc

55 Năm Trôi Qua Từ Ngày Ký Hiệp Định Genève 20-7-1954/2009




Tôi sinh sau ngày Hiệp định Genève 1954 nên không là chứng nhân lịch sử để có thể viết ra những gì mắt thấy tai nghe như độ Bảy lăm khi thủ đô Sài gòn thất thủ. Dù vậy cũng không có nghĩa là “vô tri bất mộ” để nghe những gì mà nhà đương quyền ra sức tuyên truyền, tô son cho cuộc chiến thần thánh chẳng linh thiêng chút nào. Nỗi niềm đó đã thúc tôi tìm đọc nhiều tư liệu về hồi ký, sử liệu, phóng sự cũng như tạp ghi của những người một thời là chứng nhân hay ít ra cũng cầm súng tham gia trận địa Điện Biên Phủ ngày Bảy tháng Năm năm ấy. Sự hiếu kỳ để biết cái thật trong nét nhìn chính kiến về một biến cố lớn nhất, đau buồn nhất và cũng đáng lên án nhất trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, có thể đó là lý do u uẩn trong tâm tư để chảy thành dòng chữ hầu chia sẻ quan điểm trong bối cảnh sau hơn nửa thế kỷ đi qua mà chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn là sự lừa bịp kinh hoàng đối với tuổi trẻ Việt Nam.

Huyền thoại về tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Minh chỉ huy cuộc tấn công cứ điểm Điện Biên Phủ như phần lớn sử sách viết sau năm Bảy lăm hoàn toàn mâu thuẩn với rất nhiều sử gia Trung Quốc, Anh, Pháp, Hoa Kỳ và cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam vì rằng, thắng lợi trận địa này là nhờ Liên Sô tích cực tài trợ súng ống, đạn dược và các tướng của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa gồm tướng Vi Quốc Thanh, tướng Mai Gia Sinh, tướng Trần Canh và tướng Lã Quí Ba trực tiếp điều động quân lính hổn hợp Việt Minh và Trung Cộng, dĩ nhiên sự hiện diện của tướng Võ Nguyên Giáp lúc đó trong vai trò tham mưu trưởng bộ đội Việt Minh gián tiếp hợp tác với Trung Cộng để chiến đấu, và chiến thắng trận địa Điện Biên Phủ nơi lính lê dương đồn trú dẫn đến nội tình nước Pháp chia rẽ khá sâu; nguyên nhân này khiến thủ tướng Joseph Laniel từ chức dọn đường cho nội các Mendes France thuộc đảng Xã Hội Cấp Tiến thay thế với chủ trương rút lui khỏi Đông Dương càng sớm càng tốt.

Tình hình Đông Nam Á bấy giờ là mục tiêu nhuộm đỏ từ điện Cẩm Linh qua đàn em Cộng sản Trung quốc đang mặn nồng tình đồng chí vô sản quốc tế, vì vậy ông Hồ Chí Minh được hai nước đàn anh nổ lực ủng hộ bằng mọi giá để hoàn thành sứ mạng quốc tế quan trọng này, vì thế tình hình bất ổn trong lòng đất nước giữa một bên là cực tả Việt Minh và bên còn lại có khuynh hướng dân tộc tự tồn đã manh nha ý thức trái ngược. Hơn nữa vai trò thực dân Pháp hiện hữu trên lãnh thổ đã giúp cho Việt Minh chỉa mũi dùi kháng chiến chống Pháp khá thuyết phục nhân tâm, dễ che dấu nhiệm vụ quốc tế hóa Cộng Sản Đông Dương nên cán cân “yêu nuớc” nghiêng hẳn về Việt Minh, thúc đẩy hàng triệu thanh niên tham gia kháng chiến với tấm lòng chống ngoại xâm nồng nàn chứ không có ý niệm gì về chủ thuyết Cộng Sản ẩn núp phía sau Đảng Lao Động Việt Nam. Từ ngày 19/8/1945 Cộng Sản cướp chính quyền tại Hà Nội khiến Hoàng đế Bảo Đại thoái vị để hoan hỷ làm dân một nước độc lập. Tinh thần yêu nước khá cao từ mọi tầng lớp vì ai cũng mong nước nhà khỏi ách ngoại xâm. Chính phủ đoàn kết ra đời nhưng ông Hồ Chí Minh tìm cách sát hại những ai không theo chủ nghĩa Cộng Sản khiến Bảo Đại chạy qua Hồng Kông, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam của Việt Nam Quốc Dân Đảng sang Nam Kinh, Nguyễn Hải Thần sang Quảng Tây, Tạ Thu Thâu bị giết và Chính Phủ Liên Hiệp tan rã.

Cao trào đòi độc lập từ các nước thuộc địa Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã khiến cho các chính phủ thực dân đổi chính sách thuộc địa ra chính sách hợp tác và trao trả độc lập cho nhiều quốc gia Á, Phi. Năm 1949 Bảo Đại sang Paris thương thuyết với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol yêu cầu trao trả độc lập cho Việt Nam.

Ngày 8/3/1949, thỏa ước Elysée được ký kết giữa Bảo Đại và Vincent Auriol, theo đó Việt Nam được độc lập và nằm trong Liên Hiệp Pháp, đến ngày 2/7/1949 Bảo Đại về nước thành lập Chính Phủ Quốc Gia.

Giả thuyết nếu không có trường kỳ kháng chiến và chiến thắng Điện Biên Phủ xảy ra thì Việt Nam cũng đã được trao trả độc lập bởi chính sách nêu trên mà máu xương của lính Trung Cộng và Việt Nam không đổ ra quá nhiều. Trên thực tế xác lính Trung Cộng chồng chất cho trận địa Điện Biên Phủ đã được nhà nước Cộng Sản Việt Nam chi trả và bồi thường bằng lãnh thổ, lãnh hải đến ngày hôm nay vẫn chưa dứt nợ!.

Để đạt đến hội nghị chấm dứt chiến tranh Đông Dương, Pháp là quốc gia lâm chiến vì muốn rút quân nên mời Anh, Hoa Kỳ và Liên Sô tham dự. Trung Cộng bấy giờ chưa nắm ghế chính thức của Liên Hiệp Quốc nên chỉ là quan sát viên, nhưng sau nhiều lần nài nỉ từ ông Viacheslav Molotov, trưởng đoàn Cộng Sản Liên Sô, ba nước Anh do Anthony Eden làm trưởng đoàn, Hoa Kỳ do Bedell Smith làm trưởng đoàn và Pháp do ông Georges Bidault trưởng đoàn mới đồng ý để Trung Cộng tham gia hội nghị do Chu Ân Lai dẫn đầu tới Genève ngày 26 tháng 4 năm 1954 đặng bàn thảo về Đông Dương. Cũng trong hội nghị này các phe lâm chiến được đề nghị mời tham dự nên phiên họp sau đó một tuần, ngày Hai tháng Năm có mặt các phái đoàn Cam Bốt do Tep Than trưởng đoàn, Lào do Phumi Sananikone trưởng đoàn, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Phạm văn Đồng trưởng đoàn và chính phủ Quốc Gia Việt Nam do ông Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn.

Pháp và Việt Minh ký Hiệp định Geneva

Cuộc họp chưa ngã ngũ thì trận chiến Điện Biên Phủ kết thúc, bắt buộc hòa đàm tái nhóm với sự thỏa thuận ngưng bắn giữa Pháp và Việt Minh. Phạm Văn Đồng là Phó Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa làm trưởng đoàn đề nghị chia đôi đất nước ở vĩ tuyến mười ba; Hoa Kỳ và Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do cựu Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng kịch liệt phản đối. Liên Sô, Trung Cộng, Anh và Pháp tán thành ý kiến chia đôi khiến cho toàn dân tại Sài Gòn phẩn nộ bùng phát cuộc biểu tình rầm rộ ngày 26/5/1954 chống lại hành động ngông cuồng của Việt Cộng đang tâm chia cắt Việt Nam.

Mãi đến ngày 20 tháng 7 năm 1954 thì hiệp ước đình chiến soạn thảo xong được gọi là Hiệp Định Genève ký kết bởi Thiếu tướng Henri Delteil, thay mặt Tổng tư lệnh quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và ông Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ quốc phòng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng năm chữ ký của phái đoàn Anh (Anthony Eden), Liên Sô (Viacheslav Molotov), Trung Cộng (Chu Ân Lai), Cam bốt (Tep Than) và Lào (Phumi Sananikone). Riêng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bác sĩ Trần Văn Đỗ trưởng đoàn và Hoa Kỳ do ông Bedell Smith dẫn đoàn không chấp nhận chia đôi đất nước nên từ chối đặt bút ký tên.


Nội dung Hiệp định đình chiến Việt Nam có 6 chương và 47 điều khoảng áp đặt vài điểm quan trọng như sau: Chia đôi hai miền Nam Bắc lấy làng Bohushu sát biên giới Lào Việt đến cửa sông Bến Hải tại tỉnh Quảng Trị làm ranh giới, Quốc Gia Việt Nam phía nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phía bắc, hiệu lực thực thi từ ngày 14-8-1954 quy định hai bên rút quân trong vòng 300 ngày. Riêng về việc thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thì bản thông cáo chung ghi nhận cuộc tổng tuyển cử sẽ được nghiên cứu tổ chức vào tháng 7 năm 1956 dưới sự kiểm soát của ủy ban quốc tế do những quốc gia ký tên phía trên đảm trách. Rõ ràng điều này đã tố cáo sự bất công, thiên vị của những kẻ đặt bút ký kết mà không thèm đếm xỉa đến nguyện vọng thật sự của nhân dân miền Nam nói riêng và toàn dân tộc Việt nam nói chung vì hai lẽ: thứ nhất là sự việc tự ý chia đôi đất tổ, chủ mưu từ phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Liên Sô, Trung Cộng theo kế hoạch nhuộm đỏ từng phần kiểu tằm ăn dâu cùng thỏa hiệp với Pháp. Thứ hai là cuộc tổ
ng tuyển cử nếu xảy ra năm 1956 chỉ như cách hợp thức hóa toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong ý đồ dâng nạp chủ quyền cho Cộng Sản quốc tế vì phía Quốc Gia Việt Nam chưa đủ thời gian hình thành cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương. Trong các quốc gia liên hệ thì khỏi bàn đến Liên Sô và Trung Cộng, riêng Pháp như đã nói trên rất muốn rút khỏi Đông Dương bởi chủ trương của phái Xã Hội Cấp Tiến còn Anh Quốc thì chỉ tham dự lấy lệ vì vai trò tứ cường trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, riêng Hoa Kỳ đã thấy được điều bất lợi nghiêng về chính quyền phôi thai tại miền Nam, nên dễ bị ông Hồ Chí Minh tóm thâu nhuộm đỏ.

Sở dĩ chúng ta khẳng định sự liên hệ bất khả phân giữa Trung Cộng và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà không sợ sai lầm là vì bằng chứng cụ thể bởi Đảng Lao Động tức là đảng Cộng Sản chủ trương đưa Việt Nam trở lại làm chư hầu cho Trung Cộng qua tờ truyền đơn rãi khắp nơi vào năm 1951. Nhật báo Tiếng Dội số 462 năm thứ 3, đề ngày Thứ Sáu 24 August 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy (Thiếu) năm Tân Mão do Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc đảm trách, Tòa soạn tại 216 Đường Gia Long Saigon, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc”, in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký tên như sau:

”Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm thứ VII
Tổng thư ký Đảng Lao Động Việt Nam,
Số 284/LĐ
Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!
Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không?
Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta!
Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…
Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!
Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
Trường Chinh, Tổng thư ký đảng Lao Ðộng”(*)

Từ mối lo này mà chính phủ Quốc Gia Việt Nam và Hoa kỳ phản đối không ký vào vì theo ý kiến Quốc trưởng Bảo Đại thì Việt Minh sẽ cứ tiếp tục chiến tranh, một cuộc chiến mới sẽ tàn phá toàn quốc…với hy vọng hão huyền đặt một ý thức hệ không hợp với cá tính người Việt Nam (**), còn Ủy ban Quốc Gia An Ninh Hoa Kỳ nhận xét vào ngày 12-8-54 rằng “Thỏa hiệp Genève là một thất bại đã chấp nhận một bước tiến quan trọng của chủ nghĩa Cộng Sản và có thể đưa đến sự mất toàn thể Đông Nam Á Châu” (***)


Sinh viên Sài gòn biểu tình phản đối Hiệp định Geneva, treo cổ hình nộm De Gaulle và Hồ Chí Minh

Hậu quả tệ hại cho một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến lại bị rơi vào tình huống nô lệ từ ý thức đến hành động khởi đi từ tâm thức phe nhóm, đảng phái hơn quyền lợi quốc gia dân tộc. Hãy bỏ tất cả những định kiến về Quốc-Cộng mà hãy nhìn ở góc độ dân tộc thì sau năm 1954 với hai miền Nam Bắc, những người sinh sau Hiệp Định có thể tìm ra những chứng tích cụ thể qua nhiều tư liệu trung thực:

1/ Phía Quốc Gia Việt Nam mà sau này trở thành Việt Nam Cộng Hòa chưa có bằng cớ nào chứng tỏ đem Việt Nam dâng hiến hoặc sang nhượng cho bất cứ một quốc gia ngoại bang dù từng là đồng minh với Hoa Kỳ, Úc, Canada… dù vậy họ không hề tuân thủ ý kiến của ngoại nhân làm tổn thương dân tộc. Chưa có một tội danh nào gọi là bán nước cầu vinh gán cho phía chính phủ miền Nam kể cả cảng Cam Ranh, Chu Lai, Long Bình là những nơi cho Hoa Kỳ thuê mướn, khi Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam thì nơi ấy trở lại chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa từ 1973-1975. Đảo Hoàng Sa là đất của nam Việt Nam bị Trung Cộng xâm lăng năm 1974, Hải quân Việt Nam chống đỡ và nhiều chiến sĩ hy sinh, cuối cùng bị mất vì thua chứ không phải dâng tặng cho ngoại bang. Ngày 30/4/1975 miền Nam sụp đổ vì thiếu đạn dược, quân vụ dẫn đến việc cựu Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống vi hiến tuyên bố đầu hàng.

2/ Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau này là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã có nhiều bằng chứng thể hiện ước mơ của Đảng Cộng Sản đưa Việt Nam trở thành một chư hầu cho khối Cộng Sản Quốc Tế theo tờ truyền đơn kêu gọi dân Việt Nam làm chư hầu Trung Cộng nêu trên. Hành động bán nước được thể hiện từ năm 1958 do ông Phạm văn Đồng ký công hàm chấp nhận Hoàng Sa và Trường Sa KHÔNG phải là của Việt Nam. Hành động này tái diễn vào năm 1999 khi ký kết hiệp định biên giới Trung Việt để hợp thức hóa Trung Cộng chiếm đóng biên giới phía Bắc và vùng biển vịnh Bắc bộ. Cũng từ năm này thì thác Bản Giốc và Ải Nam Quan KHÔNG còn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngoài ra, chỉ vì muốn thực hiện cuộc chiến xâm lăng miền Nam bằng mọi giá mà biết bao tang thương, sầu khổ gieo rắc cho cả hai miền. Bao vong linh oan khiên tức tưởi chết trong phong trào giảm tô, bài phong, cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, xét lại, chống đảng, tết Mậu Thân, pháo Cai Lậy, chiến tranh ở Lào, ở Cam bốt, dựng lên mặt trận giải phóng miền Nam, chiếm cứ Sài Gòn, tập trung quân cán chính miền Nam lao động khổ sai, đánh tư sản, ép buộc di dân kinh tế mới để rồi hàng triệu người liều mình bỏ nước vượt biên, vượt biển tìm tự do bị chết vẫn chưa siêu thoát.

Chưa hết, ngày nay còn biết bao nổi nhục nhằn mà con dân Việt Nam phải gánh chịu như sự oan ức của ngư dân Việt bị Trung Cộng hành hung, sát hại ở biển đông; Trường Sa và Hoàng Sa thành Tam Sa ô nhục, Bauxite Tây nguyên bị lợi dụng khai thác để hợp thức số dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam như Tây Tạng, Tân Cương. Hối lộ, mại dâm, bán tuổi trẻ thanh xuân ra ngoại quốc, hạ nhân phẩm phụ nữ thua xa thời thực dân phong kiến khi hàng trăm gái trinh cởi truồng cho vài đứa ngoại lai lựa vợ, làm hầu. Văn hóa Việt bỗng chốc sượng sùng, đạo đức luân thường chỉ như bọt nước, thần tượng cá nhân, tôn sùng lãnh tụ và lừa lọc, dối trá để sống dưới vòm trời Chủ Nghĩa Xã Hội thơm tho!

Giờ đây sau 55 năm trôi qua chúng ta được gì và mất gì thì tự trong tâm mỗi người nhận biết, có điều người dân ở hai phía Bắc Nam chưa từng được quyết định vận mạng tương lai chính trị cho mình, sau bao lần can qua hoàn toàn do các thế lực ngoại bang mượn tay định đoạt, Pháp và Việt Minh đẻ ra Hiệp định Genève chia đôi đất nước hoàn toàn không phù hợp với nguyện vọng chân chính của người Việt Nam. Đối với chúng ta thì 55 năm vừa tròn một kiếp nhân sinh nhưng lịch sử dân tộc lại là mốc thời gian trường cửu. Hậu thế sẽ học được gì qua những hành động mang tính cách cục bộ, phe nhóm khiến đất trời nghiêng ngữa tái tê. Bánh xe lịch sử cứ quay đều nhưng mong rằng mai sau đừng ai theo vết cũ; chia sẻ điều này với hy vọng sự bừng tỉnh lớp thế hệ tương lai nhìn đúng hướng lịch sử để thể hiện đứng đắn tình tự dân tộc, góp phần xây dựng lại những gì đổ nát và tìm cách tự quyết định tương lai vận mạng của đất nước, đồng thời chống lại âm mưu bành trướng của bá quyền Bắc kinh. Nguyện xin hồn thiêng sông núi phù hộ cho chúng ta, lớp người sinh sau cuộc chiến luôn tỉnh thức rằng, chỉ có người Việt chân chính mới yêu thương và bảo vệ đất nước mình mà thôi, đừng ỷ lại hay trông chờ ngoại bang ra tay cứu rỗi.

Nguyễn Hồng Dũng
20/7/2009,
Kỷ niệm 30 năm ngày quốc tế cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam
và 55 năm Hiệp định Geneve chia đôi đất nước.

Tài liệu tham khảo:
-U.S. Congress, Senate, Committee on Foreign Relations, 90th Congress, 1st Session, Background Information Relating to Southeast Asia and Vietnam (3d Revised Edition) (Washington, DC: U.S. Government Printing Office, July 1967), pp. 50-62
-Negotiations and Vietnam: A Case Study of the 1954 Geneva Conference by Melvin Gurtov.
-Việt Sử Khảo Luận: Hoàng Cơ Nghị
-Hồi Ký của Võ Nguyên Giáp.
-1945-1964:Việc Từng Ngày. Hai Mươi Măm Qua: Đoàn Thêm.
-Vietnam War – Ngo Dinh Diem on Geneva Agreement of 1954
-(*) Nhật báo Tiếng Dội 1951, Thư Viện tiếng Việt, British Museum, London.
-(**) Le Dragon D’Annam Bảo Đại, trang dịch của tác giả từ version English: The Dragon of VN
-(***) Hồ sơ Mật Pentagon, USA 1950s.


Nguyễn Hồng Dũng Ph.D

Sự Thật Về Hồ Chí Minh












Bài Xem Nhiều