We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 28 July 2009

Khủng bố không còn là lối thoát cho chế độ cộng sản


Đất nước tuy không thay đổi đủ nhanh như những người yêu nước sáng suốt mong đợi nhưng cũng đã thay đổi nhiều dưới sức ép của thực tại và theo đà tiến hoá của thế giới. Đàn áp không còn là giải pháp, trái lại chính những người chủ xướng chính sách đàn áp đang dại dột tích lũy nợ nần cho chính họ. Đảng cộng sản chỉ có chọn lựa hoặc tham gia để làm tác nhân, hoặc ngoan cố chống lại và sẽ là nạn nhân của tiến trình dân chủ hoá.

Khủng bố không còn là lối thoát cho chế độ cộng sản

“…Đàn áp không còn là giải pháp, trái lại chính những người chủ xướng chính sách đàn áp đang dại dột tích lũy nợ nần cho chính họ. Đảng cộng sản chỉ có chọn lựa hoặc tham gia để làm tác nhân, hoặc ngoan cố chống lại và sẽ là nạn nhân của tiến trình dân chủ hoá…”


Chính quyền cộng sản đang gia tăng rõ rệt chính sách đàn áp. Ngoài rất nhiều dân oan bị thẩm vấn, sách nhiễu, đánh đập ngay tại đồn công an và bị giam cầm, trong không đầy một năm qua đã có ít nhất 17 người dân chủ bị bắt giam chưa xét xử.

Trong hai tháng 9 và 10-2008 mười người dân chủ bị bắt giam và khởi tố: Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Túc, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Mạnh Sơn. Cho đến nay, mặc dù đã tìm mọi lý cớ để gán ghép, công an cũng mới chỉ có kết luận được đối với sáu người: Nguyển Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Văn Tính và Nguyễn Mạnh Sơn trong một bản kết luận rất ấu trĩ. Bốn người còn lại vẫn chưa biết mình bị buộc tội gì sau gần một năm bị giam giữ. Riêng một sự kiện này đủ chứng tỏ mức độ tuỳ tiện của chính quyền cộng sản. Các anh chị em này bị buộc tội "tuyên truyền chống nhà nước" chiếu theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự vì đã treo những biểu ngữ khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và đã viết một số bài báo phê phán chế độ.

Cần phải nói ngay: nội dung các biểu ngữ của họ hoàn toàn không liên quan tới chế độ, còn các bài báo thì rất nhiều người trong nước khác đã viết nhiều hơn, với nội dung nghiêm khắc hơn đối với chế độ cộng sản. Các anh chị em này hoàn toàn vô tội, họ đã bị bắt chỉ vì chính quyền cần đàn áp và họ đã bị giam giữ lâu chỉ vì không chịu nhận tội và xin khoan hồng. Đây là một trường hợp bắt người trái phép trắng trợn và thô bạo phải bị lên án một cách thật mạnh mẽ. Các anh chị em này là những người dân chủ dũng cảm, đang tiếp bước những biểu tượng dân chủ bất khuất của đất nước, xứng đáng được cộng đồng dân tộc trân trọng và yểm trợ. Các phiên toà xử họ sắp diễn ra, những người dân chủ cần động viên dư luận để những phiên toà này trở thành những phiên toà xử chính những kẻ cầm quyền.

Giữa lúc còn chưa biết xử lý ra sao vụ bắt người trên đây mặc dù thời gian giam giữ đã quá lâu thì trong hai tháng 5 và 6 vừa qua chính quyền cộng sản lại bắt thêm năm người khác: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long, Lê Thị Thu Thu và Trần Thị Thu. Các anh chị em này, theo chính thông cáo của công an, chỉ mới dự định phối hợp để vận động dân chủ hoá đất nước bằng đường lối bất bạo động, một việc làm vừa là một quyền căn bản của con người vừa phù hợp với hiến pháp của chính chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây cũng là một vụ bắt người trái phép. Tuy vậy dưới áp lực thô bạo, anh Lê Công Định, một luật sư thừa biết những điều mình làm và thực ra mới chỉ dự định làm là hoàn toàn hợp pháp, đã phải nhận ngồi trước máy thu hình đọc lời nhận tội và xin khoan hồng. Chúng ta thông cảm hoàn cảnh của anh Định, và chính sự cảm thông này khiến chúng ta càng quí trọng những người không chịu khuất phục.

Tháng 7-2009, lại thêm hai người khác, Trần Anh Kim và Nguyễn Tiến Trung, bị bắt giam và khởi tố. Sự tuỳ tiện đã đạt một mức độ mới bởi vì cả hai vào lúc bị bắt đều không làm điều gì đặc biệt. Việc họ tham gia đấu tranh cho dân chủ bằng đường lối bất bạo động cũng như việc họ gia nhập đảng Dân Chủ đã được công khai hoá từ lâu. Riêng anh Nguyễn Tiến Trung không thể làm gì trong hơn một năm qua vì đang ở trong môi trường nghiêm ngặt của quân đội. Trong trường hợp Nguyễn Tiến Trung, báo chí nhà nước, lặp lại luận điệu của công an, còn bịa đặt là anh Trung đã móc nối với Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Chúng tôi dứt khoát bác bỏ sự xuyên tạc này, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chưa từng có một quan hệ hợp tác hay tham khảo ở bất cứ mức độ nào với tổ chức Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ của anh Nguyễn Tiến Trung.

Cả ba vụ bắt người này đều dựa trên điều 88 Bô Luật Hình Sự trừng phạt mọi "tuyên truyền chống nhà nước" nhưng lại không qui định thế nào là "tuyên truyền", thế nào là "chống nhà nước". Cho đến nay nó được dùng để bách hại những người cổ võ cho dân chủ, những người phê phán đảng cộng sản, và ngay cả các cấp lãnh đạo không cùng chính kiến trong đảng. Trên thực tế nó xoá bỏ quyền tự do ngôn luận, một quyền căn bản của con người được cả thế giới nhìn nhận và cũng được quy định ngay trong hiến pháp của chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Điều 88 này đã được sử dụng để bỏ tù rất nhiều người yêu nước. Nó phải bị lên án như một điều luật gian ác mở cửa cho mọi tuỳ tiện, bạo hành.

Những người dân chủ và mọi người tôn trọng lẽ phải cần có thái độ thật quả quyết và dứt khoát. Trong cả ba vụ bắt người này, theo chính những cáo buộc của chính quyền cộng sản, các nạn nhân đều đã chỉ hành xử một cách rất ôn hoà và hợp pháp những quyền con người và quyền công dân căn bản nhất. Họ hoàn toàn vô tội. Họ phải được trả tự do tức khắc và vô điều kiện, và chính quyền phải bồi thường thiệt hại cho họ. Đó chỉ là công lý, nếu công lý không được áp dụng ngày nay nó sẽ được áp dụng ngày mai bởi một nhà nước dân chủ pháp trị, và một cách nghiêm khắc hơn cho những người đang cố tình chà đạp nó.

Tình hình đang rất nghiêm trọng. Với cách luận tội của chính quyền cộng sản trong cả ba vụ này thì từ nay bất cứ ai cũng có thể bị bắt và bỏ tù. Đây là một đợt khủng bố chính trị phải bị lên án mạnh mẽ và tức khắc để ngăn ngừa những tội ác khác.

Đợt đàn áp này đã được tung ra vào một lúc mà đảng cộng sản Việt Nam đang rất lúng túng. Nguyện vọng dân chủ hoá đã chín muồi trong nhân dân và ngay cả trong đa số các đảng viên cộng sản; khối dân oan bị cướp đoạt nhà đất lên tới gần hai triệu người với quyết tâm và phẫn nộ ngày càng cao; môi trường bị ô nhiễm tới mức độ đe dọa trực tiếp và nghiêm trọng sức khỏe của dân chúng; bất mãn lên cao vì tham nhũng, bất công và mức sống sút giảm; kinh tế suy thoái và mô thức Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam cóp nhặt trong hơn hai mươi năm qua không thể tiếp tục được nữa ngay cả khi kinh tế thế giới đã phục hồi; thái độ quỵ lụy đối với Bắc Kinh ngày càng gây phẫn nộ trong nhân dân và ngay cả trong đa số đảng viên cộng sản. Tất cả đòi hỏi một xét lại toàn diện và triệt để.

Tình hình có thể bùng nổ vì những mâu thuẫn đã tích lũy quá nhiều và quá lâu. Đây lại là lúc mà đảng cộng sản bắt đầu giai đoạn chuẩn bị đại hội đảng lần thứ 11, giai đoạn của những tranh cãi và tranh chấp nội bộ. Đại hội 11 cũng là đại hội hiểm nghèo nhất trong lịch sử đảng cộng sản, nó phải giải quyết những vấn đề nghiêm trọng và cấp bách trong khi nội bộ chia rẽ vì mất lý tưởng và giành giật quyền lợi. Một số đông đảo đảng viên cộng sản, kể cả một số uỷ viên trung ương, cũng đã nhận ra là tình trạng này không thể tiếp tục trong khi bộ chính trị và ban bí thư không có sáng kiến tháo gỡ nào.

Trầm trọng hơn nữa đảng cộng sản lại hoàn toàn không có những người lãnh đạo có thành tích hoặc uy tín để đoàn kết đảng viên trong một cố gắng tìm lối thoát. Xung đột nội bộ là đương nhiên, nó đã bắt đầu như người ta có thể nhận xét qua hai hội nghị trung ương 9 và 10 vừa qua, và nó sẽ rất dữ dội. Trong tình trạng bối rối và lo sợ đó đảng cộng sản đã chọn giải pháp cố hữu là trấn áp tinh thần những người đối lập để phòng ngừa những biến động xã hội. Những động thái hung bạo này xuất phát từ sự hoảng sợ. Những người lãnh đạo chủ xướng đàn áp sẽ nhận ra một cách chua chát là đàn áp không thể tiếp tục được nữa; một trong những lý do là chính tâm lý của đa số đảng viên cộng sản cũng đã thay đổi.

Đối lập dân chủ Việt Nam phải rất cảnh giác. Một mặt, đừng cho chính quyền cộng sản một lý cớ nào để đàn áp; có thể họ vẫn đàn áp vì sợ hãi nhưng họ sẽ bị cả thế giới, toàn thể nhân dân và đa số đảng viên cộng sản lên án. Mặt khác, khai thác triệt để và đúng cách giai đoạn này để biến những nhượng bộ nhất thời mà đảng cộng sản bắt buộc phải làm thành những thắng lợi không thể đảo ngược được cho tiến trình dân chủ hoá; cụ thể là tránh những hành động chỉ nhắm gây tiếng vang nhất thời và những kết hợp vội vã thiếu chuẩn bị để tập trung xây dựng lực lượng dân chủ mạnh. Không thể giành thắng lợi cho dân chủ nếu không có những tổ chức dân chủ có tầm vóc.

Các đảng viên cộng sản lương thiện, đa số trong đảng cộng sản, cần nhanh chóng ý thức rằng đất nước đã chín muồi cho một thay đổi toàn diện và triệt để. Họ phải ý thức rằng với chủ thuyết, cơ chế và lãnh đạo hiện nay đảng cộng sản không phải là giải đáp cho những vấn đề nghiêm trọng của đất nước mà còn là trở ngại. Họ phải chủ động để thay đổi đảng, để cứu mình và để làm nghĩa vụ của những người Việt Nam lương thiện. Hoà giải với dân tộc và đất nước Việt Nam bằng cách trả tự do cho các tù nhân lương tâm, hủy bỏ điều luật gian ác 88 của BLHS, bày tỏ thiện chí tìm một giải đáp thỏa đáng cho những khiếu kiện của khối dân oan là những điều tối thiểu họ phải đòi đảng cộng sản làm để bắt đầu cuộc chuyển hoá bắt buộc về dân chủ.

Đất nước tuy không thay đổi đủ nhanh như những người yêu nước sáng suốt mong đợi nhưng cũng đã thay đổi nhiều dưới sức ép của thực tại và theo đà tiến hoá của thế giới. Đàn áp không còn là giải pháp, trái lại chính những người chủ xướng chính sách đàn áp đang dại dột tích lũy nợ nần cho chính họ. Đảng cộng sản chỉ có chọn lựa hoặc tham gia để làm tác nhân, hoặc ngoan cố chống lại và sẽ là nạn nhân của tiến trình dân chủ hoá.

Nguyễn Văn Hiệp
Người phát ngôn Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên


Vụ Tam Tòa: Nhà cầm quyền “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ”!


Thói thường, những kẻ hung hăng, thích sử dụng bạo lực lại là những kẻ ít suy nghĩ bằng cái đầu. Trong dân gian, người ta gọi dùng nhiều ngôn từ khác nhau để chỉ những kẻ dùng sức trâu bò giải quyết các xung đột.
Nhà cầm quyền Quảng Bình đã đối xử với giáo dân bằng bạo lực, bằng chia rẽ tôn giáo và kỳ thị một bộ phận nhân dân với nhiều trò ma quỷ. Điều đó sẽ dẫn đến cái gì?
Có thể nhà cầm quyền Quảng Bình đã suy nghĩ thật đơn giản như khi trấn áp một đám dân chúng bức xúc vì các dự án ảnh hưởng môi sinh mà họ không đồng tình, cứ dùng công
Việc nhà cầm quyền Quảng Bình dùng công an và một số người mặc thường phục tấn công đánh đập tàn nhẫn, man rợ, và bắt đi một số giáo dân đang dựng ngôi lán tạm trên nền đất Nhà thờ Tam Tòa cũng như phá hoại và tịch thu tài sản của họ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trên khắp đất nước bởi những người có lương tri và thiện chí hòa bình. Không chỉ có trong nước mà cả thế giới đang được đánh thức bởi một địa danh vốn lặng lẽ tồn tại: Tam Tòa

Khắp nơi, từ Nam ra Bắc, làn sóng hiệp thông, cầu nguyện cho Tam Tòa đang dâng cao mạnh mẽ. Trên thế giới, các hãng thông tấn lớn đã có những thông tin nhanh chóng về vụ việc này, nhiều tổ chức quốc tế đã bày tỏ thái độ.


Kích động hằn thù, chia rẽ tôn giáo - con bài ngu xuẩn

Xưa nay, việc kích động xung đột tôn giáo trong lòng dân tộc là những điều mà kẻ ngu xuẩn nhất cũng không bao giờ làm. Vì đó sẽ là đại họa cho dân tộc, sẽ là vết thương khó chữa lành nhất trong mọi vết thương trên đất nước. “Kẻ cầm gươm sẽ chết vì gươm, người châm lửa sẽ chết vì lửa” là kinh nghiệm mà bao đời nay đã đúc kết.

Đã có biết bao cuộc chiến day dứt triền miên không thể giải quyết triệt để chỉ vì xung đột tôn giáo, sắc tộc. Không có một đất nước nào được bình yên khi các mâu thuẫn về tôn giáo, sắc tộc tồn tại.

Mới đây cuộc xung đột sắc tộc ở Tây Tạng rồi Tân Cương - Trung Quốc với hàng trăm người thiệt mạng, hàng ngàn người bị thương và nhiều tài sản, xe cộ bị đốt cháy, đập nát… là một ví dụ còn nóng tính thời sự.

Rồi những cuộc xung đột sắc tộc ở Kenya và những cuộc xung đột tôn giáo như ở Ấn Độ, ở Indonesia, Ai Cập… luôn luôn làm cho đất nước bất ổn và nhà cầm quyền phải đau đầu.

Chính vì lẽ đó, bất cứ nhà cầm quyền nào cũng phải nhận biết điều này nếu muốn có một đất nước yên bình và hùng mạnh.

Thế nhưng, hầu như gần đây, cách hành xử của nhà cầm quyền nhiều nơi trên đất nước Việt Nam lại thể hiện một điều rằng: họ không học thuộc bài học này. Việc dùng các phương tiện truyền thông nhục mạ lãnh tụ tôn giáo, bóp méo sự thật, vẽ thêm râu thêm vuốt cho người Công giáo thời gian qua trong vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ là một ví dụ. Việc dùng đám “quần chúng tự phát… tiền” và đám thanh niên đến bao vây nơi thờ tự và gây mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân là đi minh chứng điển hình.

Việc dùng bạo lực cướp bóc tài sản nhân dân là những hành động đổ thêm dầu vào lửa, ngọn lửa lòng dân.

Mới đây, nhà cầm quyền Quảng Bình lại lao sâu vào tội ác khi dùng những người vô đạo có quyền lợi khi chiếm đất đai Nhà thờ đến đánh đập giáo dân ngay giữa thanh thiên bạch nhật với những đòn thù tàn bạo mất nhân tính, dùng công an đánh đập dã man giáo dân và lấy đi tài sản, Thánh Giá – Biểu tượng tối cao tinh thần tôn giáo của họ.

Hệ thống truyền thông lại tiếp tục “bổn cũ soạn lại”, vu cáo giáo dân, bóp méo sự thật. Theo người dân Quảng Bình cho biết, Đài TH Quảng Bình còn vu cáo giáo dân Tam Tòa “tiếp tay cho Đế Quốc Mỹ nhằm che giấu tội ác chiến tranh” (?)

(Việc ai che giấu tội ác thì nhiều ví dụ thực tế đã rõ, những người dân Việt đánh cá trên biển của mình thời gian qua phải nằm bờ vì lệnh cấm của Trung Quốc, việc các nạn nhân ngư dân bị tàu Trung Quốc đâm chìm trên biển mà không được sự bảo vệ cách chính đáng đã là hành động che giấu tội ác hiển nhiên. Việc Ải Nam Quan, một số đảo Trường Sa rơi vào tay quân thù của đất nước mà người dân không được tự do bày tỏ tinh thần yêu nước của mình thì đó là gì?

Đài TH Quảng Bình nên định nghĩa lại khái niệm về tội ác và che giấu tội ác).

Qua những ví dụ trên, người ta thấy rằng: Họ dường như chưa chịu học lấy bài học về xung đột tôn giáo.

Nói cách khác họ “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ”.

Phải chăng, họ đang muốn gây nên một cuộc xung đột tôn giáo mới giữa một bên là tôn giáo từ hàng ngàn năm nay vẫn đứng vững, với một tôn giáo dựa trên bạo lực, súng đạn và sự dối trá?

Chân mình cứt lấm bê bê…

Vị thánh trẻ Anrê Phú Yên tử đạo
Trước hết, cần nói ngay rằng: Việc nhà cầm quyền Quảng Bình ngang nhiên lấy đất đai, tài sản nhà thờ cho mục đích làm “chứng tích tội ác” là một việc làm bất chấp pháp luật và lòng dân. Bởi trước khi thực hiện điều này, tài sản đó đang là của một cộng đồng tôn giáo ở đây mà họ không hề đếm xỉa đến.

Hẳn nhà cầm quyền Quảng Bình cũng biết một điều đơn giản: Khi mình muốn vào nhà ai đó làm gì, trước hết phải xin phép chủ nhà, ngược lại điều đó là sự vi phạm, lấy nhà người khác ngang nhiên là sự cướp.

Hầu như cái não trạng chính quyền coi của người khác là của mình, những bổn phận mình phải làm khi hưởng lương của người dân là một sự ban ơn đã khắc sâu và in đậm vào tâm trí của họ. Vì vậy khi chiếm đoạt cơ sở thờ phượng của người dân, của tổ chức tôn giáo, họ coi như thò tay vào túi lấy tiền mình?

Điều này chỉ hợp với những năm tháng chiến tranh đóng chặt cửa với thế giới bên ngoài. Lúc đó cũng giống như những ngôi nhà đóng chặt cửa, ông bố nghiện hút tha hồ đánh đập, hạch sách vợ con mà xã hội không hề hay biết.

Nhưng thời thế đã đổi khác, khi hội nhập với thế giới, những tư duy đó phải bị đào thải, tất cả phải theo Hiến pháp và Pháp luật. Người dân đã ý thức cao hơn về một nhà nước pháp quyền phải như thế nào. Do vậy, việc lấy đất đai của một tổ chức xã hội, tôn giáo bất chấp ý kiến của đương sự là điều không ai có thể chấp nhận được.

Dù họ có biện minh kiểu nào đi nữa, dù có hứa hẹn năm hay mười địa điểm khác nhau, nhưng đến nay, khi chưa có sự đồng thuận của giáo dân và giáo quyền mà họ đã cướp đoạt, sử dụng đất đai đó thì đều là trái pháp luật. Đến nay đất đai đó vẫn thuộc giáo xứ Tam Tòa, đó là điều không thể chối cãi.

Phải chăng, họ đang học theo con bài của UBND TP Hà Nội ngang nhiên lấy đất Thái Hà cho Xí nghiệp Dệt thảm len Đống Đa, sau chuyển cho Công ty Cổ phần May Chiến Thắng, rồi lại lấy đất đó làm công viên, điều đó được thực hiện bằng súng, đạn, chó, công an và muôn vàn mưu kế khác nhau? Khuôn viên Tòa Khâm sứ cũng tương tự, cuối cùng Hà Nội có hai vườn hoa bất đắc dĩ?

Chưa cần nói đến tính hợp pháp, chỉ tìm hiểu vì sao chứng tích tội ác lại phải là nhà thờ? Điều này không chỉ có ở Quảng Bình, mà ngay ở Nghệ An cũng đã thực hiện.

Phải chăng, nhà cầm quyền cũng hiểu rằng: Việc phá hoại tài sản tôn giáo, ném bom các nhà thờ, nơi thờ tự của tôn giáo là tội ác khó được tha thứ nhất dù là trong chiến tranh, vì vậy chứng tích tội ác thì nhất định phải là nhà thờ?

Nếu họ đã hiểu điều đó thì họ cũng nên hiểu thêm điều này: Khi người khác xâm phạm đời sống tín ngưỡng là tội ác, vậy khi họ xâm phạm ngang nhiên tài sản và tín ngưỡng của nhân dân có là tội ác không? Việc họ muốn xây dựng chứng tích tội ác bằng cách thực hiện những tội ác mới với chính nhân dân mình, đồng bào mình thì được định nghĩa là gì?

Thật chí lý khi cha ông ta nói rằng: “Chân mình cứt lấm bê bê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người”.

Hậu quả không nhỏ cho thói hung hăng dựa trên bạo lực

Thói thường, những kẻ hung hăng, thích sử dụng bạo lực lại là những kẻ ít suy nghĩ bằng cái đầu. Trong dân gian, người ta gọi dùng nhiều ngôn từ khác nhau để chỉ những kẻ dùng sức trâu bò giải quyết các xung đột.

Nhà cầm quyền Quảng Bình đã đối xử với giáo dân bằng bạo lực, bằng chia rẽ tôn giáo và kỳ thị một bộ phận nhân dân với nhiều trò ma quỷ. Điều đó sẽ dẫn đến cái gì?

Có thể nhà cầm quyền Quảng Bình đã suy nghĩ thật đơn giản như khi trấn áp một đám dân chúng bức xúc vì các dự án ảnh hưởng môi sinh mà họ không đồng tình, cứ dùng công an, vũ lực bắt, rồi xét xử dăm bảy năm tù những người nào có uy tín để đe dọa, răn đe những người khác phải ngậm miệng, câm nín cho nhà cầm quyền tha hồ hành động…

Với đại đa số quần chúng nhân dân, khi những việc chung của mọi người nhưng ảnh hưởng đến cá nhân mình, thì đành im lặng, đó cũng là thói quen “cha chung không ai khóc” được rèn luyện cho mỗi cá nhân thấm nhuần sau hơn 60 năm trời sống dưới chế độ cộng sản với lý thuyết “làm chủ tập thể”(!).

Nhưng, khi họ sử dụng con bài đó với giáo dân, dù là ít ỏi, thì họ đã nhầm lẫn một cách tai hại.

Họ không biết rằng với người công giáo, dù bất cứ nơi đâu, ở tại địa phương hay bất cứ nơi nào trên thế giới, tài sản và danh dự của Giáo hội đều được giáo dân quyết tâm bảo vệ, dù phải trả bằng máu. Nhất là với những biểu tượng tôn giáo của mình như Thánh Giá, ảnh tượng, nhà thờ...

Họ không biết rằng, Giáo phận Vinh với gần 500.000 giáo dân luôn sẵn sàng đứng bên nhau để bảo vệ lẽ phải và sự công bằng, luôn đoàn kết và được dẫn dắt dưới một hàng giáo phẩm và đội ngũ các linh mục kiên trung luôn sẵn sàng hi sinh vì đoàn chiên.

Họ không biết rằng dù Giáo xứ Tam Tòa là một địa danh nhỏ, nhưng nơi đây đã là nơi đánh dấu nhiều dấu tích của ơn kêu gọi, nơi đây đã sản sinh cho Giáo hội Việt Nam những con người làm rạng danh Giáo hội và đất nước. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Ủy ban Công lý Hòa bình Thế giới tại Tòa Thánh Vatican đã từng sống và làm mục vụ tại đây hiện đang được lập hồ sơ phong Thánh.

Đức Cha phó Võ Đức Minh – Giáo phận Nha Trang đã là người từ nơi này sinh ra. Ngài cũng chính là người đã tặng GX Tam Tòa cây Thánh giá hiện đang bị nhà cầm quyền Quảng Bình cướp đoạt. Nhà thơ Hàn Mặc Tử, một nhà thơ nổi tiếng nhiều thời đại đã từng nhận ơn gọi làm tín hữu nơi đây… Vì vậy, địa danh Tam Tòa là địa danh mà nhà cầm quyền có muốn, cũng không thể nào xóa được.

Và một điều nữa họ chưa hề biết, đó là tinh thần tử đạo của giáo dân Giáo phận Vinh luôn luôn mãnh liệt. Sự đoàn kết của họ đã được chứng minh qua nhiều thử thách.

Trong lịch sử VN hiện đại, người ta còn nhớ thời cộng sản sắt máu nhất là những năm chiến tranh 1969, một giáo xứ nhỏ nằm lẻ loi như Đông Yên, đã giữ gìn linh mục Vũ Đình Giáo hàng hơn nửa năm trời bằng tất cả tấm lòng mình, đến khi nhà cầm quyền buộc phải nhờ TGM với Đức Cha Trần Hữu Đức can thiệp mới đưa nổi Ngài ra khỏi đó, thì ngày nay đừng nghĩ đơn giản rằng dùi cui, hơi cay hoặc bạo lực có thể làm họ khuất phục.

Ngày mai và những ngày sau đó, Giáo dân Giáo phận Vinh sẽ làm gì khi các nạn nhân oan khuất vẫn bị giam giữ, những người bị đánh đập vẫn mang trên mình đầy thương tích, những giáo dân đang đứng trước một sự đe dọa của những phiên tòa xét xử các Giáo dân làm chứng cho Đức Kitô?

Hãy đọc những văn bản, những hành động mạnh mẽ, kiên quyết và vững vàng thống nhất của Tòa Giám mục Xã Đoài để hiểu hậu quả của hành động hung bạo nhất thời này.

Xin nhắc lại lời cuối của bản kiến nghị từ TGM Xã Đoài: “Nếu những yêu cầu trên không được đáp ứng, Chính quyền tỉnh Quảng Bình phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và công lý”.

Trách nhiệm của mỗi giáo dân chúng ta là phải hiệp thông với tất cả anh chị em bị hoạn nạn khi làm chứng cho Đức Kitô, “Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” (Rô-ma 12:14b,15).

Hà Nội, Ngày 25/7/2009
JB. Nguyễn Hữu Vinh

NGHE PHỎNG VẤN ĐẠI TÁ LƯƠNG XUÂN VIỆT của Đài SBS Úc:Phần 1-2

http://www.talawas.org/wp-content/uploads/2009/07/luong-xuan-viet1.jpg




Lột ‘Mặt Nạ Bô-Xít’, Lòi Mặt Thật VC, Rước Giặc Vào Tây Nguyên, Giầy Xéo Đất Nước

Cuối năm 2008, đảng giặc VC rước Tàu Cộng (TC) vào Tây Nguyên, nguỵ trang bằng cách ‘đeo mặt nạ’— qua màn kịch ‘Khai Thác Bô-Xít’ (KTBX). Đầu năm 2009, VC lại còn trâng tráo, làm lễ “Chào Mừng” việc cắm mốc biên giới Việt-Trung hoàn tất.

Thế là chúng đã ‘hợp thức hoá’ ải Nam Quan và thác Bản Giốc là của Tàu Cộng. Thế là chúng đã ‘hợp thức hoá’ mốc ‘biên giới ma’—thụt lùi vào nội địa VN khoảng năm cây số—là ‘biên giới chính thức’.

Khi nhìn ra biển Đông, muôn dân lại càng cảm thấy hận sầu: Hoàng Sa và Trường Sa đã mất vào tay TC. Sự việc xẩy ra chỉ vì, năm 1958 Thủ Tướng VC là Phạm Văn Đồng—đã nhận lệnh của quốc tặc Hồ Chí Minh—viết văn thư, công nhận lãnh hải của TC—trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Nên năm 1988, TC mới viện cớ ấy, công khai chiếm đóng Hoàng Sa để xây cất căn cứ quân sự kiên cố—kể cả sân bay—nhằm khống chế VN và vùng biển Đông.

Quả thật, sau khi dâng đất, dâng biển cho quan thầy, VC lại còn xô đẩy nước ta, càng ngày càng lún sâu vào ‘tử địa’ trong thế chiến lược “Ba Mặt Giáp Công’:

Ở phía bắc—dọc theo biên giới—TC đã nắm giữ các cao điểm quân sự, chúng có thể tiến quân như vũ bão vào VN. Ở phía đông, TC đã có sẵn phi trường và căn cứ hải quân hùng hậu, uy hiếp cả miền duyên hải Trung Phần. Còn ở giữa nước Việt thì TC dùng Tây Nguyên làm ‘bàn đạp’, CHẶT VN thành ‘hai khúc’, để tấn công lên hướng Bắc, hay đánh xuống hướng Nam.

Chính vì vậy mà ‘màn kịch KTBX’ hiện nay trở thành đề tài sôi nổi. Người thì quả quyết, TC sẽ biến Tây Nguyên thành ‘Tây Tạng thứ hai’. Kẻ thì tiên đoán, TC vào Tây Nguyên để ‘thành lập chiến khu’, giúp khối FULRO nổi loạn, đòi ‘Tây Nguyên tự trị’. Đồng thời, lại có nhận định cho rằng, TC vào Tây Nguyên để xây cất căn cứ quân sự—kể cả dàn phóng hoả tiễn—phòng thủ cho đại lục Trung Hoa khi có chiến tranh ở Á Châu.

Chúng tôi thì nhận thấy, thảm hoạ sau ‘màn kịch KTBX’, còn trầm trọng hơn thế nhiều. Trong tương lai không xa, nếu không có đột biến nào lật ngược tình thế, CẢ NƯỚC sẽ trở thành thuộc địa của ‘Thiên Triều Đỏ’ Bắc Kinh. Chỉ có điều khác biệt với thời đế quốc xa xưa là ‘Quan Thái Thú ĐỎ’—thời XHCN—mang nhãn hiệu “Cờ Máu Sao Vàng”.

Lẽ dễ hiểu là đảng giặc VC, giữ độc quyền lãnh đạo đất nước, mà chúng thường xuyên cúi đầu thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’: Nước Việt sẽ đi về đâu?

Ngày xưa, sử sách nguyền rủa Lê Chiêu Thống ‘cõng rắn cắn gà nhà’ thì ngay nay, VC không thể nào tránh khỏi, đại khối quốc dân phỉ nhổ.

Có lẽ, trang sử ‘lưu xú vạn niên’ đậm nét nhất hiện nay là sự kiện xẩy ra ngày 23-2-2009. Như đã nêu ở phần trên: Đảng giặc VC đã trâng tráo, tổ chức lễ “Chào Mừng” việc cắm mốc biên giới Việt-Trung hoàn tất. Sự kiện Ô NHỤC này làm nhiều người liên tưởng đến chuyên Mạc Đăng Dung ngày xưa, tự trói mình rồi quỳ lậy tướng Tàu trong buổi lễ dâng đất cho Tàu.

Cúi Đầu Thần Phục

‘Thiên Triều Đỏ’

Nhìn lại quá trình lịch sử thì ai cũng thấy, từ 1945 đến nay, đối với đồng bào thì quốc tặc Hồ Chí Minh và đồng đảng hung bạo, thường xuyên lừa bịp, tráo trở và xảo quyệt khôn lường. Ngược lại, đối với quan thầy Nga-Tàu thì VC khiếp nhược, thường xuyên cúi đầu. Sau khi mẫu quốc Nga Cộng xụp đổ thì lẽ đương nhiên, VC cúi đầu thần phục TC. Nếu không thì TC lại “dậy cho bài học” lần thứ 2—tương tự như cuộc chiến đẫm máu năm 1979.

Là chư hầu thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’ nên ‘Nhà Nưóc VC’ đã thẳng tay đàn áp, bắt giam, tra tấn, truy lùng các thanh niên yêu nước trong cuộc biểu tình ôn hòa ngày 9-12-2007—chống TC xâm chiếm Hoàng Sa. Vì nhiệt tâm, biểu lộ ý chí bảo vệ Tổ Quốc VN, nên nhiều thanh niên trở thành nạn nhân của đảng giặc VC. Như vậy, ‘Nhà Nước VC’ đứng về bên nào chiến tuyến? Thờ Vua Hùng, hay ‘thờ Mao chủ tịch’?

Trong khi đó, VC lại còn cúi đầu nhận lệnh TC, mở cửa biên giới, cho TC được quyền ra vào VN— tự do đi khắp nơi như trên đất Tàu—không cần chiếu khán. Thế là gián điệp và công an TC tha hồ vào VN. Chúng tung tiền ra mua tay sai, thành lập ‘mật khu’, củng cố mạng lưới nội tuyến, ‘nằm vùng’ trong hệ thống cai trị của đảng giặc VC.

Hiện nay TC có khoảng 20 triệu người thất nghiệp. Nếu cần, TC có thể đặt kế hoạch, trả lương cho vài trăm ngàn thanh niên, từng nhóm đi đến các tỉnh miền Tây Nam Phần.

Thế rồi, ‘có tiền mua tiên cũng được’. Chúng sẽ hối lộ công an VC, tìm vợ đẹp, xây nhà, quy tụ với nhau thành làng, thành xóm, sinh sôi nẩy nở. Khoảng chừng 5 năm sau, từ Tây Nguyên đến Tây Ðô—vùng đồng bằng sông Cửu Long—sẽ có hàng trăm khu phố, hay cả ngàn “làng Tàu Đỏ’. Khi cần, khối Tàu Đỏ trên đất Việt này sẽ ‘đồng khởi’, nổi lên đòi ‘độc lập’ theo lệnh của ‘Thiên Triều’ Bắc Kinh—nội thù của dân tộc Trung Hoa, ngoại thù của dân tộc VN.

Hiện thời thì trên mạng lưới Internet có tài liệu cho hay, hệ thống cai trị của bạo quyền VC, kể cả Công An, Bộ Đội và Bộ Chính Trị, đều có ‘bàn tay nói dài’ của TC. Mặc dù mức độ khả tín của tài liệu ấy, chưa kiểm chứng được. Nhưng hiện nay, ai cũng thấy, từ Bắc vào Nam, có nhiều chuyện ‘quái đản’ xẩy ra liên tiếp:

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm cuộc chiến 1979, nhiều tác phẩm của TC, như cuốn “Ma Chiến Hữu” chẳng hạn, được phổ biến công khai, khắp nơi trong nước—với nội dung ca tụng ‘công đức’, tài năng và tinh thần chiến đấu của tướng lãnh và binh sĩ TC. Nếu VC không cúi đầu thì ai có thể công khai, phát hành rầm rộ các tác phẩm ‘phản động’ như thế?

Hơn nữa, tất cả “Uỷ Ban Nhân Dân” ở các tỉnh biên giới Việt-Hoa còn nhận lệnh trung ương đảng VC, cử phái đoàn đại diện đến thăm viếng các nghĩa trang của binh sĩ TC tử trận năm 1979—với vòng hoa có hàng chữ “Đời Đời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc’!

‘Các Liệt Sĩ’ ấy là ai? Là cán binh TC tràn vào các tỉnh ở biên giới, tàn phá nhà cửa, chém giết đồng bào VN, kể cả trẻ thơ và phụ nữ mang thai, vô cùng dã man tàn ác—đâm bằng lưỡi lê, đập bể sọ bằng báng súng, nghiền nát thân thể người Việt bằng xích sắt xe tăng.

Chuyện quái đản—“nhớ ơn liệt sĩ” TC—nêu trên chứng tỏ, VC đã đứng về phía chiến tuyến của giặc ngoại xâm. Không những VC PHẢN BỘI đồng bào mà còn PHẢN BỘI NGAY CẢ CÁC ‘ĐỒNG CHÍ BỘI ĐỘI’ của chúng trong cuộc chiến 1979.

Thế mà ngày 4-3-09 vừa qua, Ban Thường Vụ của Mặt Trận Tổ Quốc VC lại còn DIỄN KỊCH, phối hợp với Quân Chủng Hải Quân VC, tung ra “biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lớp nhân dân”.

Làm sao, chúng có thể bịp bợm quần chúng được nữa? Vì sự kiện lịch sử—buôn dân bán nước—rõ như ban ngày. Chúng không thể xoa dịu lòng uất hận của muôn dân. Chúng không thể chạy tội cho ‘Bác và Đảng’ được.

Trở lại việc KTBX ở Tây Nguyên thì vấn đề được nêu lên: Tại sao ‘Nhà Nước VC’ lại ban hành Văn Thư số 17/TB-VPCP, cấm các cơ quan truyền thông, không được loan tin về việc ấy?

Việc KTBX, nếu thuần tuý nằm trong lãnh vực kinh tế—không dính líu đến AN NINH QUỐC PHÒNG—thì có điều gì mà cấm loan tin? Tại sao công an VC lại ngăn chặn, tất cả các ngả đường dẫn đến thị xã Nhân Cơ—trung tâm KTBX? Ắt hẳn, có điều GIAN TRÁ, BÍ ẨN ở phía sau.

‘Màn Kịch Bô-Xít’

Tây Nguyên

“Khai thác bô-xít Tây nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị đã ba lần nghe, kết luận về việc phát triển bô-xít Tây nguyên”.

Đó là điều khẳng định của Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng ngày 4/2/2009. Qua mạng lưới Internet, chúng tôi nhận thấy, phía báo chí ủng hộ Nhà Nước VC thì cho rằng “việc KTBX có ích lợi về Kinh Tế. Còn thiệt hại về môi trường thì rất nhỏ, có thể khống chế được”.

Hiển nhiên, đó là ‘nhận định’ “theo định hướng XHCN”. Nên không có bài viết ủng hộ việc KTBX mà nêu lên được những dữ kiện chính xác.

Ngược lại, bài viết phản đối thì nhiều, độ khả tín lại cao. Tựu trung cho thấy việc KTBX KHÔNG CÓ ích lợi về Kinh Tế, mà còn gây thiệt hại RẤT TRẦM TRỌNG cho môi sinh. Nhất là không khí ‘ô nhiễm chất Bô-Xít’, sẽ làm cho dân chúng bị ung thư phổi. Nhiều khoa học gia còn quả quyết, việc KTBX, không những làm cho rừng núi và đất đai phì nhiêu vùng Tây Nguyên bị huỷ hoại, mà độc hại môi sinh còn lan tràn xuống tận đồng bằng sông Cửu Long.

Điển hình là cuộc phỏng vấn Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết—Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật VN ở hải ngoại—do đài RFA thực hiện ngày 5-3-2009. Ông Truyết đã nêu nhận định trung thực về việc KTBX:

‘.....Chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắc-Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn’.

Tác giả còn dẫn chúng cho biết, 1 hecta đất dùng để trông cây thì đem lại nguồn lợi từ 2 đến 3 ngàn Đô-La. Trong khi lấy Bô-Xít từ 4 hecta, chỉ biến chế được 2 tấn nhôm, mỗi tấn chỉ trị giá khoảng 3, 4 trăm Đô-La mà thôi.

Hơn nữa, về môi sinh, về dân sự, về chính trị và văn hóa, sẽ phải gánh chịu hậu quả tai hại trầm trọng về lâu về dài.

‘….Vùng Tây Nguyên là vùng đất trước kia là vùng núi lửa cách đây hàng triệu năm, do đó vùng đất này gọi là đất bazan (đất đỏ) rất tốt cho việc trồng cao su, trà, cà phê…’

Đó là lời phản bác phía ‘Khoa Học Gia VẸM’, cho rằng ‘đất Tây Nguyên không tốt cho cây cỏ’.

Ngoài ra, muốn sản xuất khoảng 1, 2 triệu tấn nhôm hàng năm thì phải cần khối nước khổng lồ và điện lực—gấp đôi lượng điện VN hiện nay. Như vậy thì làm sao việc KTBX tiến hành được?

Ở trong nước, nổi nhất là ‘thư ngỏ’ của Đại Tướng VC Võ Nguyên Giáp—gởi cho Nguyễn Tấn Dũng. Trong đó có đoạn, Giáp đã viết nguyên văn:

“Cần nhắc lại rằng….. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng….”

… “Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên...”.

‘….Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng’.

Đúc kết việc KTBX, ai cũng thấy chỉ có lợi cho TC. Còn VN thì phải chịu thảm hoạ lâu dài, rõ ràng nhất là lãnh vực AN NINH QUỐC PHÒNG.

Vì Tây Nguyên là địa điểm CHIẾN LUỢC vô cùng quan trọng—nằm gần ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào. Trong thời chiến tranh VN (1946-1975), các tướng lãnh Tàu Cộng, VC, VNCH, Pháp và Mỹ đều chú tâm vào việc kiểm soát Tây Nguyên. Phía nào nắm được Tây Nguyên thì phía ấy dễ dàng khống chế được các tỉnh miền duyên hải Trung Phần và miền đồng bằng sông Cửu Long. Nếu làm được như vậy thì Sài Gòn sẽ bị cô lập, hoặc sa vào tử địa ‘tứ bề thọ địch’.

Sự thật này đã xẩy ra năm 1975. Vì thiếu vũ khí—không đủ sức giữ được vùng Tây Nguyên—Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hấp tấp ban lệnh cho Quân Đoàn II, triệt thoái khỏi Pleiku. Lầm lỗi trầm trọng này đã mở đường cho CSVN tiến quân như vũ bão vào Thủ Đô Sài Gòn hồi ‘Tháng Tư Đen’ 1975.

Chắc chắn, đảng giặc VC thừa biết vị thế chiến lược quan trọng như vậy. Nhưng chúng vẫn CÚI ĐẦU, rước giặc vào Tây Nguyên, nguỵ trang màn kịch ‘Khai Thác Bô-Xít’.

Chỉ vì lo ngại sự thật bị phanh phui, nên VC mới cấm báo chí loan tin, hay bình luận về việc KTBX ở Tây Nguyên. Không những thế, trước hiểm họa xâm thực của TC, văn công VC lại còn tung ra những lập luận hồ đồ—nhằm chay tội cho ‘bác Hồ’ quốc tặc.

Hiểm Hoạ TC Xâm

Thực Khởi Sự Từ Năm Nào?

‘VN bị hiểm họa bành trướng của Trung Quốc đe doạ chỉ vì vài ba đảng viên cao cấp thoái hoá gây ra—như Lê Khả Phiêu trúng ‘Mỹ Nhân Kế’. Còn ‘bác Hồ’ khi xưa, rất sáng suốt, nên đã ngăn chặn được nhiều áp lực từ phía Trung Quốc’.

Đó là phần tóm lược nhiều bài viết ‘theo định hướng XHCN’. Nhưng sự thật, hiểm họa xâm thực của TC, khởi sự năm 1950. Mao Trạch Đông đã từng ban lệnh cho thuộc cấp, vẽ lại bản đồ TC—trong đó có VN và nhiều nước khác.

Vì thế, Mao mới tỏ ‘tình đồng chí thắm thiết’ với Hồ Chí Minh. Nào là gởi cố vấn sang VN, chỉ huy các đơn vị bộ đội VC. Nào là gởi ‘chí nguyện quân’, trực tiếp tham chiến ở Điện Biên Phủ. Nào là cũng cấp vũ khí, quân trang quân dụng trên khắp chiến trường. Nhờ vậy, trong cuộc chiến chống Pháp, bội đội VC mới chuyển bại thành thắng kể từ đầu thập niên 1950.

Hồi ấy, chính Hồ đã hớn hở, đón tiếp hai đoàn cố vấn do La Quý Ba và Vi Quốc Thanh cầm đầu. Ngoài việc huấn luyện và chỉ huy bộ đội VC, phái đoàn cố vấn TC còn có trách nhiệm ‘Toàn Quyền Đông Dương’—do Mao giao phó để thực hiện quỷ kế xâm thực ba nước Việt, Miên, Lào.

Đại Tá VC là Bùi Tín—mặc dù trá hàng—nhưng khi viết hồi ký cũng phải nhìn nhận: Chính hắn đã từng chứng kiến trong buổi họp, quan thầy TC hách dịch, ngồi gác chân lên ghế, khạc nhổ trước mặt chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ cao cấp VC!

Gần đây, trên trang nhà của ‘đàn chim VẸM’ có bài “Chống diễn biến hoà bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc”, tác giả là Bùi Minh Quốc (BMQ)—viết ngày 30-12-08.

Mặc dù, bài viết có chủ ý, vừa chạy tội, vừa đánh bóng “bác Hồ” quốc tặc. Nhưng ‘thiên bất dung gian’, nên BMQ sa vào tình trạng ‘dấu đầu hở đuôi’. Chứng cớ rõ ràng nhất là đoạn, BMQ viết về thảm họa đấu tố (1952-1956)—với chủ ý đổ lỗi cho cố vấn Tàu Cộng, nhằm chạy tội cho “bác Hồ” quốc tặc:

“Nhưng đến cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức với cả một hệ thống cố vấn Trung Quốc từ trung ương tới địa phương kèm sát các đoàn ủy của ta thì mưu đồ nham hiểm bất thành nêu trên đã thành công ở qui mô chưa từng thấy, dưới một hình thái bi thảm chưa từng thấy: Đảng ta tự đưa mình vào cảnh dùng tay nọ chặt tay kia. Hàng nghìn cán bộ đảng viên, hầu hết là những người tận tụy nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất, những người con ưu tú nhất của Đảng, của dân tộc bị giết, bị hành hạ, tù đầy, số sống sót thì bị vô hiệu hóa. Hàng vạn người dân lương thiện, trong đó nhiều người là ân nhân của cách mạng và kháng chiến cũng chịu cảnh tương tự. Tổn thất này vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hóa”.

Chúng ta thử hỏi, nếu không phải là Hồ quốc tặc thì kẻ nào ‘cõng rắn gà nhà’—đã ‘nhất trí với Mao chủ tịch’, hớn hở đón tiếp cố vấn TC vào VN? Hồi ấy, ai là chủ tịch Nhà Nước—đã ban hành và chịu trách nhiệm về chính sách “Cải Cách Ruộng Đất”?

Chỉ cần cô động về tội ác trong thời kỳ đấu tố mà BMQ thuật lại như trên, ai cũng cảm thấy GHÊ TỞM quốc tặc Hồ Chí Minh:

Vì Hồ là kẻ bất nhân với đồng bào—cho đồng đảng chém giết, hành hạ, tù đầy “hàng vạn người dân lương thiện”.

Vì Hồ là kẻ bất nghĩa—cho đồng đảng chém giết, hành hạ, tù đầy hàng nghìn đảng viên “tận tụy nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất”.

Vì Hồ là kẻ tội đồ, đã mang Mác-Lênin từ Liên-Xô về VN, giầy xéo đất nước—“vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hóa”.

Phải chăng, đó là ‘đỉnh cao trí tuệ’ của Hồ mà BMQ muốn đánh bóng? Hay là‘đỉnh cao chói lọi’ của Hồ trong tác phẩm mà Dương Thu Hương muốn lừa bịp độc giả?

Hàng chục năm đã trôi qua. Nhưng “những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt” vẫn còn tiếp tục hoành hành trên hai miền nam Bắc VN:

Quốc nạn tham nhũng, quốc nạn mãi dâm, quốc nạn dân oan, quốc nạn nhân quyền bị chà đạp. Trong khi cán bộ VC ‘ăn chơi phè phỡn’ thì đại khối dân chúng nghèo khổ, luân thường đạo lý trong XHCN bị tàn phá tận gốc rễ—kể từ khi chiến dịch đấu tố lan tràn, con tố khổ cha, vợ bôi nhọ chồng, họ hàng và bạn hữu chiếm giết lẫn nhau.

Tiếp theo, “hệ luỵ tại hại” gần gũi nhất là sự kiện lịch sử CÚI ĐẦU khiếp nhược, thần phục ‘Thiên Triều Đỏ’, dâng ải Nam Quan, dâng Thác Bản Giốc, dâng Trường Sa, dâng Hoàng Sa, rồi lại còn rước giặc vào chiếm Tây Nguyên—nguỵ trang bằng màn kịch KTBX.

Tuy nhiên, trước hiểm hoạ xâm thực của TC hiện nay, đại khối quốc dân—trong và ngoài nước—có thể ‘ĐOÀN KẾT’ dưới lá cờ Máu Sao Vàng của đảng giặc VC để chống lại TC được không?

Nên Hay Không Nên

‘Đoàn Kết’ Với VC?

Như đã chứng minh ở phần trên, VC là tay sai tận tuỵ của Tàu Cộng—trong quỷ kế xâm thực VN. Vậy thì hiển nhiên, ‘đoàn kết’ với VC chỉ có nghĩa là ĐỒNG LO×cùng với chúng, cúi đầu bái phục ‘Thiên Triều Đỏ’.

Trong 30 năm lịch sử (1945-1975), có nhiều bài học về ‘Quốc Cộng Đoàn Kết’. Nhưng có lẽ, đậm nét nhất là ‘Chính Phủ Liên Hiệp’ ngày 2-3-1946: Hồ Chí Minh là Chủ Tịch; Nguyễn Hải Thần là Phó CT; Nguyễn Tường Tam là Ngoại Trưởng; Cựu Hoàng Bảo Đại là Cố Vấn Tối Cao.

Nhiều bậc cao niên còn nhớ, trước đó khoảng 2 tháng, có bản “Tuyên Cáo Đoàn Kết’, được phổ biến ngày 24-12-1945. Trong đó, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần cùng ký tên—đại diện cho Việt Minh, VN Quốc Dân Đảng và Cách Mạng Đồng Minh Hội—kêu gọi tình đoàn kết để cùng nhau tranh đấu, giành lại Ðộc Lập cho Tổ Quốc.

Thế rồi, trong khi các đảng Quốc Gia từ hải ngoại hưởng ứng, rủ nhau về nước thì Hồ bí mật ra lệnh cho đồng đảng khủng bố, chém giết tại chỗ, hay bắt mang đi thủ tiêu, tất cả lãnh tụ và đảng viên—có huynh hướng Quốc Gia—đang hoạt động ở trong nước. Nhiều nhà cách mạng như Trương Tử Anh (Đại Việt); văn sĩ Khái Hưng (Quốc Dân Đảng); Lý Đông A (Duy Dân) và Tạ Thu Thâu (Đệ Tứ Quốc Tế CS) v.v đã bị Hồ thủ tiêu.

Đồng thời, đảng giặc VC còn công khai tấn công, phá huỷ các căn cứ của Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Tổng kết, có hàng chục ngàn chiến sĩ Quốc Gia bị VC sát hại.

Đến khi biết được mặt thật—tráo trở, bất nhân, bất nghĩa và xảo quyệt khôn lường—của Hồ Chí Minh thì các lãnh tụ của các đảng phái Quốc Gia—còn sống sót—kể cả thành phần trong Chính Phủ Liên Hiệp, như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh, đều phải vượt biên, trốn sang Hoa Nam tỵ nạn. Dĩ nhiên, ‘Chính Phủ Liên Hiệp’ tự động giải tán trong tháng 5-1946.

Quả thật, kinh nghiệm xương máu của các thế hệ Cha Anh—qua bài học lịch sử nêu trên—thêm lẫn nữa cho thấy: Chỉ có kẻ mắc bệnh TÂM THẦN, hoặc vài tổ chức chính trị XÔI THỊT—cấu kết với nhóm “Việt Kiều’ PHẢN PHÚC và CÒ MỒI thì mới có thể ‘đoàn kết’, hợp tác, hay “hoà hợp hoà giải’ đảng giặc VC.

San Jose 29-3-2009

Trần Quốc Kháng


Những Con Bò Sữa Ăn Cỏ Hải Ngoại Của VIỆT CỘNG

Nguyên tác: Viet Nam: Le Dossier Noir du Communisme - Tác giả: Michel Tauriac
Dịch giả: Nhà Báo Hồ Văn Đồng

"Thuyền Nhân". Cái danh từ có một âm tự mà mỗi khi chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ đến danh từ "đồng đô la". Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh đã xảy ra cho danh từ đó? Mặc dù danh từ "Thuyền Nhân" xuất hiện lần đầu tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kamm, nhưng ai cũng biết cuộc di tản bằng đường biển của người tỵ nạn Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi các phương tiện bỏ chạy bằng đường bay không còn hữu hiệu nữa vì Sài Gòn đã bị Cộng Sản chiếm đóng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một trong những nhóm người đầu tiên rời khỏi Việt Nam, bằng đường biển vào ngày mất nước hôm đó, là những người tỵ nạn Cộng Sản. Họ thả xuôi theo giòng nước sông Cửu Long ra đến cửa biển Cần Thơ, một thành phố lớn nhất vùng châu thổ, trên hai chiếc tầu nhỏ và một chiếc ghe, cùng với hai mười người Mỹ và trong đó có cả Tổng Lãnh Sự Mc Namara.

Cùng trong ngày hôm đó, chiếc chiến hạm Mỹ tên là Mobile, nằm ở cửa biển sông Sài Gòn, đã thấy có đến hai mươi chiếc tầu đánh cávà một chiếc tầu chở hàng cũ chứa đầy người tỵ na.n. Những người tiền phong cho cả một đám đông khổng lồ ra với hành trang tuyệt vo.ng.
Ngày hôm sau, thứ Năm, mồng Một, tháng Năm, năm 1975. Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, ở cách bờ biển 35 dặm, đã chứng kiến một đoàn 27 chiếc tầu nhỏ ào ạt tắp đến từ đảo Phú Quốc, một hòn đảo nhỏ c'ach Việt Nam 25 dă.m. Trên khoang những chiếc tầu, có gần 30,000 người tỵ nạn, trong số 50,000 người mà Thủ Tướng VNCH đã quyết định cho di tản đên đảo này từ hai ngày sau khi Thủ Đô Sài Gòn thất thủ. Rạng đông ngày thứ Sáu, mồng Hai, Tháng Năm, năm 1975, trên tầu Blue Ridge, chiếc chiến hạm chỉ huy của Hạm Đội VII với 46 đơn vị, đã mang đến 25,000 người Sài Gòn trong số những người cuối cùng có thể thoát khỏi thành phố bị bao vây. Trên thành tầu, những người thủy thủ nghiêng mình nhìn xuống một cảnh tượng kinh hoàng mà họ không dám tin là sự thật: mặt biển được bao phủ bởi hàng ngày ... và ... hàng ngàn chiếc thuyền ghe đủ loại đủ cỡ, từ những chiếc xà lan già nua rỉ sét cho đến những chiếc thuyền đánh cá tý hon mỏng manh và lố nhố đầy người trên khoang thuyền. Những ký giả được tầu Blue Ridge cứu lên đã ước lượng là có đến khoảng 100,000 người, đó là con số những "Thuyền Nhân" đầu tiên trong lịch sử người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản.


Từ đêm hôm đó cho đến rạng đông ngày mồng Ba tháng Năm, năm 1975, lần lượt các nước láng giềng gần ranh giới Việt Nam cũng đã đón nhận được những người đầu tiên bỏ trốn ra khỏi nước mà hành lý mang theo là hai bàn tay trắng với trái tim rướm máu và một tâm hồn tuyệt vo.ng. Sau này, trước sự vượt biên thường xuyên của họ, chính những quốc gia này đã đành phải đẩy họ trở ra biển để trả lại tử thần vì không còn cách nào khác hơn đươ.c. Một chiếc tầu 8,000 tấn, có tên là Đông Hải, đã mở đầu con đường hải lộ bi thương này khi thả lên Singapour một nhóm 822 người tỵ na.n. Trong khi đó, ngày mồng, Bốn, tháng Năm, năm1975, 4,500 người khác, trong số có 1000 thiếu nhi, được lên tầu Đan Mạch Clara Maersk. Họ đã rất may mắn vì chiếc thương thuyền chở họ, có tên là Trường Xuân, đã rời khỏi Việt Nam ngay trước mắt Cộng Sản, và còn đang ở trong tình trạng sửa chữa. Khi sắp bị chìm thì tầu Trường Xuân được chiết tầu cứu tinh này từ phương Bắc đến gần và cứu vớt.


Tổng cộng, có khoảng hơn 200,000 người tỵ nạn Việt Nam đã trốn ra khỏi nước trong những ngày đầu tiên của tháng Năm. Khoảng 130,000 người được Hoa Kỳ tiếp nhận sau khi qua trạm Phi Luật Tân hay đảo Guam, một hòn đảo nằm ở vùng biển Thái Bình Dương mà trước đây có căn cứ Hải Quân của Mỹ. Những người khác, thường thì họ mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp nên đã được đi Pháp. Trong số những làn sóng người tỵ nạn đầu tiên có rất nhiều kỹ sư, chuyên viên đủ nghành, và y sĩ, họ đều quan ngại đến sự thù ghét mà Cộng Sản dành cho giai cấp của họ.
Kể từ năm 1975 đến năm 1977, làn sóng "Thuyền Nhân" đã gia tăng đều đặn, và các trại tỵ nạn cũng đã được Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (HCR) đều đặn mở ra tại Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, và Nam Dương hàng ngày đều có thêm người tỵ nạn mới nhập tra.i. Các quốc gia Tây Phương đã rộng rãi chấp nhận một số đông người tỵ nạn đến tạm trú như Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, và Úc Đại Lợi (bỏ ra nhiều thời gian hơn để quyết định), ngoài ra còn có thêm một số quốc gia Âu Châu ở bên ngoài bức màn sắt.
Cho đến đầu năm 1976, Cộng Sản Việt Nam lại càng thêm cứng rắn và sắt máu với người dân. Những lời hứa hẹn về "hoà hợp hoà giải dân tộc" đã vĩnh viễn bay biến, và các trại cải tạo tập trung đầy ắp người, dân chúng miền Nam bị công an Cộng Sản theo sát như hình với bóng, và mấy chục ngàn người dân thành phố bị đày ải đi đến các thành phố khô cằn sỏi đá hay rừng thiêng nước độc mà Cộng Sản Việt Nam che đậy bằng danh từ hoa mỹ là "vùng kinh tế mới", mà ở đó người dân bước vào kinh tế vô sản với kiếp sống đọa đày và khốn khổ. Cùng trong khi đó thì "luật cải cách ruộng đất" đã tước đoạt hết đất đai của nông dân. Do đó mà người dân Việt Nam đã bất chấp thất cả mọi thử thách kể cả những kho khăn nguy hiểm ngày càng chồng chất, thậm chí có thể bị tù đày hay giết chết, họ vẫn cứ lén lút và chen chúc nhau, từng đêm đi chôn dầu vượt biên, và đuà giỡn với tử thần trên các bờ bãi. Vào năm 1977, đã có hơn 10,000 "Thuyền Nhân" - danh từ này đã trở nên thông dụng - đến Thái Lan và Mã Lai. Các trại tỵ nạn đã phải mở rộng thêm ra và các xứ sở đầu tiên tạm dung họ bắt đầu khó chi.u. Và chỉ có một nửa đơn thỉnh nguyện di trú được các nước Tây Phương chấp thuân.

Thừ cuối năm 1977 đến đầu năm 1978, tình trạng lại càng thê thảm hơn. 80,000 thuyền nhân đến bờ biển các nước miền Đông và Đông Nam Á Châu, thì có đến 70,000 người đổ xô vào chỉ riêng một nước Thái Lan. Đó là thời điểm mà tiếng đại bác nổ dữ dội ở vùng biên giới Viê.t-Hoa, và "đàn anh Trung Cộng" đang vác gánh nặng ở vùng biên giới phía Nam vì những cuộc giao tranh giữa quân Khờ Me Đỏ và bộ đội Cộng Sản Việt Nam. Biến cố này đã khiến cho 300,000 người Hoa Kiều bỏ trốn. Hoa Kiều ở miền Bắc thì chạy bộ vượt biên giới sang Trung Cộng, Hoa Kiều ở miền Nam thì dùng đường biển mà chạy lấy ma.ng. Cộng Sản Hà Nội lên án Bắc Kinh là muốn phá hoại tình trạng kinh tế Việt Nam khi chiếm mất số dân cư rất năng động kia, mà đa số họ là đang nắm huyết mạch tiền tệ và thương mại thời đó. Con hát mạt hạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện lại rống lên những điệp khúc rẻ tiền do các quan thày của hắn ở Bắc Bộ Phủ đã soạn sẵn bài bản (SuđVietnam au fil des années, 241. Éditions en langues étrangères, Hanoi, 1984.): Các gián điệp Trung Hoa dưới sự điều động trực tiếp của tòa đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội đã xúi giục người Hoa Kiều hồi hương "nơi đó nhà nước sẵn sàng đón rước họ để tham gia lao động tái thiết "Đại Trung Quốc". Họ nói là người Việt Nam sẽ tàn sát họ một khi tiếng đại bác đầu tiên phát nổ ở vùng biên giới Viê.t-Hoa. Như thế, đối với các đảng viên Cộng Sản Việt Nam, nếu hàng trăm ngàn đồng hương của họ bỏ xứ trốn đi, thì luôn luôn là do bởi sự xúi giục từ "mạng lưới ngầm" của những người nước ngoài đáng ghét.


Mặc dù bên ngoài thì che đậy như thế, nhưng trên thực tế thì phỉ quyền Cộng Sản ở Hà Nội đã tìm ra hai mối lợi: một cơ hội để dứt bỏ một số dân chúng rất dễ trở nên nguy hiểm trong trường hợp chiến tranh vùng biên giới gây bất lợi, và một cơ hội khác là để nhét đầy túi tiền. Họ đã làm tiền người ra đi sau khi thẳng tay bóc lột sạch sẽ đủ mọi thứ. ngày 24, tháng 3, năm 1978, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu tung công an ra tấn công tài sản của "giới tư sản mại bản" ở Chợ Lớn, khu vực người Hoa-Kiều tại Sài Gòn. Tất cả tài sản của cộng đồng người Hoa Kiều đều bị "quốc hữu hóa" đồng lúc với tư doanh. Bàn ghế, nhà cửa, nữ trang, qúy thạch, đồ sứ đắt tiền, và đo6` dùng các thứ đều trở thành "tài sản nhân dân". Kho tàng của chiến tranh, mà Cộng Sản Hà Nội hy vọng như vậy, để bù trừ các hậu qủa của việc bỏ trốn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia. Không cần phải phí phạm một giây khắc suy nghĩ nào, người ta cũng có thể hiểu được rằng việc đó sẽ đưa Cộng Sản Việt Nam vào chỗ bế tắc sau này.
Vì bị khốn đốn trong tuyệt vọng, người Hoa Kiều đã bắt buộc phảiđặt chân lên những con tầu. Người ta còn nhớ câu chuyện chiếc tầu hàng hải cũ kỹ tên là Hồng Hải sắp bị chìm trong hải cảng Klong ở Mã Lai, với 2,500 hành khách mà phần lớn là người Việt gốc Hoa, đã bị khước từ không cho lên bờ. Thảm cảnh này đã làm rúng động lương tâm thế giới và thúc đẩy xu hướng cứu cấp của người Tây Phương. Một trong số đó là một y sĩ người Pháp, một cựu đảng viên đã ly khai Đảng Cộng Sản, ông ta đã tìm cách đền bù lỗi lầm vì đã hoạt động cho Cộng Sản bằng cách mua một chiếc tầu dùng để ra biển Đông vớt người tỵ nạn, mặc dù các "cựu đồng chí" của ông thấy động cơ đó không đúng chỗ. Sự ra đi của tất cả những hành khách không ngày về đó đã được tổ chức trong bóng tối, mà mỗi người đều phải mang nợ để đáp ứng yêu sách vô hạn đi.nh. Dù cho có phải là Hoa Kiều hay không, ngày nay người ta đều có thể rời khỏi Việt Nam "bán chính thức", cho dù người Hoa Kiều bị cưỡng bách hay là do tự ý ra đi như tất cả mọi người, họ đều muốn chạy thoát khỏi nanh vuốt của kẻ áp bức là Cộng Sản Việt Nam.


Để che đậy tội ác và lừa bịp thế giới, Cộng Sản Hà Nội lên tiếng xuyên tạc sự thật rằng: Làm sao dám giả định là các thuyền nhân trốn lánh một sự áp bức thường trực? Bọn này chỉ tuân theo mệnh lệnh của Washington và muốn phá hoại nền kinh tế nước nhà bằng cách tước đoạt lấy chất xám. Và những luận điệu này đã được chúng lập đi lập lại nhiều lần với báo chí Tây Phương. Chưa hết, mỗi ngày, tên bác sĩ Việt Cộng hành nghề con hát tên Nguyễn Khắc Viện, đều kể lể trong bản thông tin của bọn Phỉ Quyền Cộng Sản và trên các tài liệu tuyên truyền của chúng dành cho "người nước ngoài" rằng: Hoa Kỳ đã đề nghị cùng những người vượt biên là sẽ chở họ đi với giá từ khoảng 2,000 đến 3,000 đô la, đến tạn các tầu Hải Quân Mỹ đậu ngoài khơi chờ đón. Những chuyên viên giỏi và trí thức thì không phải trả tiền gì cả, hắn ta còn dám xác nhận rằng: "Giờ đây chúng tôi có thể quả quyết rằng nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống." Thật vậy, nếu một vài người bị "lầm lạc" bởi các "lực lượng phản động ở trong nước và ngoài nước", hắn ta còn thêm vào, đó là vì "họ không có can đảm đi khai khẩn các vùng đất mới." Nguyễn Khắc Viện đưa ra thí dụ của một đồng nghiệp bác sĩ, dưới chế độ cũ thì ông bạn đồng nghiệp này "đi xe ô tô và sống trong vi la có gắn máy lạnh" và trở thành "quản lý của một bệnh viện công". Như thế thì làm sao người này có thể sống trong một "xã hội mới", thích nghi với một "xã hội cách mạng" ? Còn về phần nhà nước, tuy rất tiếc khi thấy những người này ra đi, nhưng không thể làm được gì khác hơn là cầu chúc cho họ được thượng lộ bình an.
Những bài diễn văn kiểu ngụy biện và xuyên tạc như trên, chúng ta thường thấy xuất hiện dưới ngòi bút của các ký giả Cộng Sản, là những người duy nhất vào thời điểm đó được ra vào Việt Nam, đóng kín ở phía sau bức màn sắt đầy đe dọa, từ tháng Năm, năm 1975, như một con nhím đang dương những cọng gai nhọn hoắt. Và hai mươi năm sau, nó vẫn còn nằm trong cửa miệng của một vài tay bình luận Tây Phương. Thí dụ như miệng của một phóng viên báo PhápĐDức, Arte [Le Grand Documentaire, ngày 11, tháng 2, 1995], đã chứng kiến cảnh đào thủy lợi bằng tay không của "những người dân can đảm của mười làng ra công hợp sức", và tìm được trong "cái thú vị của sự nỗ lực chung", và để giải thích lý do tại sao mà nhiều vạn người khác quyết định trốn khỏi nước Việt Nam Cộng Sản, thì hắn ta châm biếm rằng họ không thể "có cái cảm giác xây dựng quê hương xứ sở, như là cha ông họ đã từng đánh giặc bằng vũ khí trên tay". Chỉ có những con hát mới biết mặt thật của họ ở phía sau lớp phấn son, và chỉ có Cộng Sản mới biết sự thật của họ ở phía sau bức màn sắt; do đó một cựu đại tá Việt Cộng như Bùi Tín thì dĩ nhiên là phải biết rõ Việt Cộng hơn một tên phóng viên của tờ báo Arte. Ông Bùi Tín giải thích điều đó trong quyển sách "Vietnam, La face cachée du regime", [147, Kergour, 1999], viết ít lâu sau khi ông đến lưu vong tại Paris. Việt hối lộ của các người Hoa Kiều ra đi "bán chính thức" được chính bộ Nội Vụ tổ chức. Được biết đó là "Kế Hoạch 2", mà mục đích được giữ kín, có cả một loạt những công tác cho phép các giới chức tổ chức cuộc ra đi của các người lưu vong mới sau khi "nhổ sạch lông" của họ một cách rất có phương pháp. Mỗi người phải trả giá vượt biên từ 3 đến 5 lượng vàng (một lượng = 36 grams), có khi gấp đôi. Nhà cửa, xe cộ, hoặc của cải để lại cho.


Khi đến chỗ xuống tầu, thường thì ở ngay tại thành phố như Cần Thơ, bên bờ Cửu Long, chẳng hạn, người ra đi phải chịu đựng những sự bóc lột cuối cùng như: bị tịch thu do các băng đảng tự cho là có quyền lục lọi, lấy vàng, nữ trang hoặc đô la mà người tỵ nạn có thể còn cất dấu đươ.c. Sau đó thì xuống tầu với nỗi lo sợ rằng chiếc tầu chở mình sẽ có một phần hai cơ hội sẽ bị hải tặc tấn công để lấy nốt những mẩu vàng còn xót lại trên người trước khi ném họ xuống biển. Thế nhưng khi đã lên được tầu rồi vẫn còn chưa yên với tuần cảnh địa phương nếu tầu chưa ra đến hải phận quốc tế. Nếu muốn thoát khỏi không bị bắt lại, thì tốt hơn hết là đưa ra chút của cải nào còn được dấu vào chỗ kín nhất. Bằng không thì sẽ bị bắt lại, và trong trường hợp này, tội danh là phản bội và bị "đế quốc Mỹ" mua chuô.c. Tội này có thể ngồi tù từ 12 năm cho đến 20 năm (sắc luật luôn luôn có sẵn để tham khảo.)
Những người chọn cách đi tỵ nạn bằng đường bộ xuyên qua lãnh thổ Lào hay Căm Bốt đến Thái Lan thì gọi là Bộ Nhân (land people) . Những cuộc hành trình vượt biên đi tỵ nạn bằng đường bộ thì luôn luôn gặp nguy hiểm. Họ sẽ bi công an, hay bộ đội, hay là cảnh vệ nhân dân đuổi bắt, và có khi chỉ là người đi đường, thường là có liên hệ với Cộng Sản. Còn những người vượt biên nào "mượn được", theo với giá do quân đội Nhân Dân ấn định, một chiếc xe vận tải quân sự chở quân nhu, cho phép họ núp bên trong thùng lớn, cách này được xử dụng khá thường xuyên, nhưng có khi cũng bị ngộp thở chết vì hơi xăng, và các nạn nhân trong trường hợp này cũng khá đông.
Những người may mắn hơn hết là có thể "kiếm" được một "giấy xuất cảnh chính thức" và vé máy bay đến tận Hoa Kỳ. Nhờ vào một kế hoạch do Liên Hiệp Quốc tổ chức với sự thỏa thuận giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội vào năm 1979. Thế nhưng họ cũng vẫn chịu hạch sách và tống tiền thì đơn xin xuất cảnh chính thức mới qua lọt, nhiều khi phải mất đến mười năm chờ đơ.i. Ngay chí Hoa Kỳ còn bị hạch sách đủ điều, và phải trả tiền cho từng đầu người tỵ nạn để được phê chuẩn cho phép đi.


Do đó, Cộng Sản Việt Nam đã phát minh ra được "NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN" của họ. Một nhà nghiên cứu ở Ba Lê tên là Bùi Xuân Quang, trong cuốn sách La Troisième guerre d'Indochine 1975-1099 (207-590, L'Harrmattan, 2000), ông đã tính toán "mối giao dịch" này của Cộng Sản Việt Nam, kéo dài ròng rã 20 năm kể từ 1975 đến 1995, đã mang lại cho Ngân Khố của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam khoảng 25 TẤN VÀNG. Với chừng ấy vàng mà người ta thấy xuất hiện trên thị trường tiền tệ Tây Phương dưới hình dạng các thỏi vàng mang ấn dấu cu/a Việt Nam. Chủ yếu của nó là dùng vào việc bồi hoàn những số nợ mà bọn Phỉ Quyền Cộng Sản Việt Nam đã ký kết với Cộng Sản Nga và các xứ dân chủ nhân dân cùng tiền mua vũ khí chiến tranh, số vàng ấy lên đến trị giá khoảng 2.5 tỷ Mỹ Kim, tính trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1983.
Hiệp sống với nỗi ám ảnh là bỏ nước ra đi. Tôi còn nhớ tiếng nói của người "Thuyền Nhân" mà chúng tôi đã từng gặp nhau trên bãi biển Songkla tại Thái Lan giữa những người khác, bên cạnh chiếc tầu bị hư của họ, mà tôi đã được nghe anh kể lại câu chuyện thống khổ của anh. Và cho đến bây giờ bên tai tôi vẫn còn văng vẳng lời kể lại của anh: Vào một đêm nọ ở Việt Nam, một tên cán bộ Cộng Sản Việt Nam đã nói khẽ vào tai anh: "hai ngàn đô la, hay 4 cây vàng ..." Anh đồng ý với mối làm ăn; thế nhưng khi đến chỗ hẹn thì Hiẹp mới nhận ra mình đã bị cướp. Thuyền thì chẳng thấy đâu mà vàng thì bị mất. Đó là cái hoạ luôn luôn rình rập và cũng là một trong những cái giá mà những người muốn vượt biên tìm tự do. Làm sao để tránh khỏi bị lừơng gạt, cướp bóc hoặc bị tố cáo, và tìm ra đường giây tốt. Tôi biết có một "Thuyền Nhân" đã không thành công trong việc đi tỵ nạn mặc dù đã thử đến 27 lần. Hiệp thì đi hụt 3 lần, và sau đó thì anh quyết định tự tổ chức lấy chuyến vượt biên. Anh đã lén lút tự vá víu một chiếc tầu đánh cá cũ. Từng đêm rồi lại từng đêm cứ lo bào rồi lại trét, và những đêm trắng đêm hì hục sửa chữa máy móc. Thế rồi cuối cùng thì ngày khởi hành cũng đến, chiếc tầu đánh cá cũ kỹ của anh mang theo 85 người rời bãi xuôi giòng và trôi dọc theo những con kênh châ>y dài ra biển.


Hiệp lặp lại cho chúng tôi nghe với một vẻ thống khổ: "Chúng tôi có 85 người trên chiếc tầu này và đã rất sung sướng vì có thể rời khỏi Việt Nam. Bây giờ thì ông hãy nhìn xem, ngày hôm nay chúng tôi chỉ còn có hai người. Hai người sống sót duy nhất là Ngọc, con gái của chị tôi và tôi." Với cái đầu ướt lạnh như con mèo chết đưới và thân thể đói khát gầy trơ xương sườn như một con chó hoang, cùng với đứa bé gái lên sáu tuổi có đôi mắt nai khờ. Chúng tôi đã khóc. Nước mắt của những kẻ thừa mứa tự do đã đổ xuống mặn ướt câu chuyện phiêu lưu liều chết tìm tự do của anh. Anh đã bị kẹt lại ở trại Songkla này cùng với Ngọc sau khi thoát chết khỏi những bàn tay đẫm máu của bọn hải tặc Thái Lan đã giết chết chị anh cùng tất cả hành khách trên tầu sau khi chúng bắt mang theo gần hết phụ nữ.
Vào tháng 10 năm 1978 có 20,000 người tỵ nạn đặt chân lên bờ biển Mã Lai, và chỉ đến tháng 12 năm đó con số đã lên đến 50,000 người. Cộng thêm vào con số 5,000 người đi chân đất với ước vọng đã đến được bến bờ tự do. Chỉ trong vòng 4 tháng cũng đủ để cho hòn đảo hoang Pulau Bidong của Phi Luật Tân đón nhận được 20,000 kẻ bị biê>n ruồng bỏ. Vào khoảng giữa năm 1979, có 5000 người tỵ nạn mới đến thêm vào con số những người anh em khốn khổ trong trại tỵ nạn Hồng Kông, trong khi có 90,500 người khác làm đầy ắp trại tỵ nạn Mã Lai. Những người mà cảnh sát địa phương từ chối đẩy ra biển đã trôi giạt đến Nam Dương, hoặc xa hơn nữa, đến tận Nam Hàn, hay Nhật Bản, và có khi đến tận Úc Đại Lơ.i. Hãy thử nhắm mắt và tưởng tượng cuộc hành trình liều chết để tìm tự do của họ trên khoang một con tầu bé nhỏ mong manh ...


Bất thình lình, một hồi chuông báo động nổi lên khi hai nước Thái Lan và Mã Lai tuyên bố rằng từ nay về sau họ sẽ không nhận thêm thuyền nhân mới. Bị dồn vào đ+ờng cùng, Liên Hiệp Quốc phải triệu tập một hội nghị quốc tế ở Genève và thu hoạch được ba kết qủa là: Các quốc gia ở vùng duyên hải bảo đảm là thuyền nhân sẽ không bị đẩy lui ra biển; các quốc gia tiếp nhận họ gia tăng thêm một số lượng hạn định tái định cư bổ túc là 130,000 người; và quan trọng nhất là Hà Nội, lo ngại khi phương diện của chúnh bị bôi đen tối dần ở biển Đông trước sự bất mãn của cả thế giới, nên đã cho phép thuyền nhân có thể ra đi chính thức hợp pháp "trong vòng trật tự", bằng phương tiện hàng không, chương trình này Liên Hiệp Quốc gọi là "Ra Đi Trong Vòng Trật Tự" (Orderly Departure Program) viết tắt là ODP. Kể từ giờ phút đó, nhịp điệu những người vượt biển đến các trại tỵ nạn thưa thớt một cách rõ rê.t. Mực độ từ 300,000 người vào năm 1979, xuống chỉ còn 24,500 vào năm 1984, và đến năm 1986 chỉ còn 19,500 người. Cũng vào năm đó, lần đầu tiên, các cuộc ra đi tỵ nạn chính thức bằng hàng không với giấy nhập cảnh nhiều hơn con số những người trôi dạt đến bằng đường biển. Kết quả của hội nghị thuyền nhân tại Genève đã thỏa mãn thấy rõ, nơi mà Liên Hiệp Quốc nhắm vào một giải pháp mới cho vấn đề "Thuyền Nhân".


Nhưng chỉ hai năm sau thì tình hình lại đổi ngược và đã làm cho thế giới thất vo.ng. Những người tỵ nạn đi tìm tự do lại trở ra biển: con số tăng lên 45,000 người vào năm 1988 (25,000 người nhiều hơn hai năm trước đó), 71,300 người vào năm 1989, trong số đó phải cộng thêm vào khoảng 17,000 người "bộ nhân". Vấn đề trở nên không giải quyết được và các quốc gia ở vùng duyên hải bắt đầu nổi giâ.n.
Đó chính là lý do mà tại trại tỵ nạn Hồng Kông, nơi mà mỗi ngày có đến 34,000 "Thuyền Nhân" mới nhập trại, và chính quyền Hồng Kông quyết định từ đó về sau họ sẽ đưa những người mới đến vào trại tạm giam. Thế là những cuộc nổi loạn và tự tử nối tiếp theo quyết định của chính quyền Hồng Kông. Để đóng chặt cánh cửa ngăn chận hẳn cái mạch chính của làn sóng vượt biển tìm tự do không ngung này, các quốc gia tiếp nhận di trú lại tập họp lại thêm một lần nữa và họ đã tìm ra một biện pháp mới gọi là PAG (Plan d'Action Global)tức là chương trình Hành Động Toàn Cầu. Bất cứ thuyền nhân nào đến trước ngày 13 tháng 3 năm 1989 ở một quốc gia lân cận Việt Nam, kể từ đó, trên phương diện hành chánh, được xem như một người có quyền xin cư trú, nghiã là một người tỵ nạn chính trị hoàn toàn có quyền hy vọng được đi sống hết cuộc đời mình ở một nước Tây Phương. Dĩ nhiên là với điều kiện xứ này phải bằng lòng cấp cho họ một visa nhập cảnh. Ngược lại, tất cả hồn tồn khác đối với một người tỵ nạn lên bờ sau ngày 19 tháng 3, năm 1989. Họ bị xắp loại là di dân kinh tế, người đó phải chứng minh dược mình có một sự sợ hãi co căn cứ về việc bị xử tội, nếu khơng thì người đó bị đe dọa là sẽ bị cưỡng bách hồi hương.


Trừ phi chính mình tự quyết dịnh quay về nước.
Đó là điều Hiệp đã lầm. Quy chế tỵ nạn chính trị của anh bị từ khước, anh biết mình khơng còn cơ hơi dược nhận vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, anh cũng phân vân rất lâu trước khi chấp nhận ý tưởng hồi hương. Bởi vì cũng như phâ`n đông các người tỵ nạn khác, anh sợ bị bắt nhốt vào tù một khi trờ về Việt Nam. Anh chưa bao giờ làm chính trị, nhưng có người anh từng chiến đấu trong quân dội Việt Nam Cộng Hòa, và ơng nội anh làm việc cho chính phủ bảo hô.. Hai vết đen đó trên lý lịch cá nhân có thể khiến anh phải trả giá rất đắt. Nhưng rồi có một lá thư từ Sài Gòn gửi đến trại tỵ nạn Thai Lan PhanatNikhom, nai anh tạm trú, đã trấ an anh được phần nào. Một trong những người bạn vượt biên cũ của anh, đã tình nguyện về Việt Nam, cho anh biết là mọi chuyện khá tốt đẹp ở đó, và khuyến khích anh cùng về.


Năm 1993, chúng tôi gặp lại Hiệp ở quê hương anh, và lại khóc lần nữa. Thế nhưng lần này thì chúng tôi cùng khóc mừng rỡ khi thấy anh đã thoát na.n. Anh là một trong 110.000 cựu "thuyền nhân" kể từ nam 1989 đã chọn hồi hương thay vì tiếp tục chết dần mòn ở một trại tỵ nạn Á Châụ Nhờ có sự giup đỡ tài chánh của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quo"c (HCR) và Liên Minh Âu Châu, mà giờ đây anh trở thành chủ nhân của một xưởng pha chế nước mắm và một căn nhà nho nhỏ hai phòng., gần Vũng Tầu, mà tên cũ người Pháp gọi là Cap Saint-Jacques, trên bờ biển Miền Nam mà ngày xưa anh đã bỏ ra đi tìm tự do không bao giờ có, và tưởng rằng không bao giờ anh sẽ phải trở lại nởi đây. Anh sống cùng bà gúa phụ của một trong những người bạn đã biến mất trên biển đi tìm tự do, cùng với người em gái và ba đứa con của bà. "Nhà của chúng tôi tuy nhỏ như chúng tôi có thể chứa được đủ thứ. Ở trên thuyền còn ít chỗ hơn."


Trong những cuộc vận động và thoả thuận cùng Hà Nội, Liên Hiệp Quốc đã cố gắng tạo điều kiện tốt cho những người cứng rắn, ngõ hầu giúp cho họ tự quyết định sắp xếp quay về. Họ cho chiếu những cuốn phim quay tại Việt Nam mà trong đó cho thấy cảnh những người cựu thuyền nhân tình nguyện hồi hương "sống như những ông hoàng". Các cán bộ Cộng Sản còn đến gặp họ để tâng bốc. Họ gáy lên những điệp khúc tuyên truyền nào là Việt Nam đã thay đổi, và ở đó người ta sống tự do và ai đói thì cứ ăn.

Bọn Phỉ Quyền Hà Nội có thể tự khen chúng. NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN ĐÃ MANG ĐẾN CHO BỌN PHỈ QUYỀN CỘNG SẢN HÀ NỘI RẤT NHIỀU QUYỀN LƠ.I. CHƯA HẾT, NHỮNG CON BÒ SỮA VẪN CÒN TIẾP TỤC CUNG CẤP SỮA DÙ Ở TẬN BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG. Qua những gói qùa họ gởi về cho gia đình mà những người tỵ nạn không bao giờ ngừng gởi về nuôi thân bằng quyến thuộc còn kẹt lại ở Việt Nam, bắt đầu từ ngày đầu tiên họ đặt chân định cư trên một quốc gia tự do. Bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà họ không bao giờ ngưng chuyển về ngõ hầu giúp đỡ những người thân sống còn. Và bằng sự hiện diện của họ bởi vì ngày nay họ được phép về nước nghỉ hè bên cạnh thân bằng quyến thuô.c. Một ước tính vào năm 1999 cho tha6'y có đến hai tỷ đồng Đô La hàng năm họ đã mang lại cho Phỉ Quyền Cộng Sản, tức là một phần ba ngân sách của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.
GẦN HAI TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ CHỌN ĐỜI SỐNG LƯU VONG NƠI XỨ LẠ QUÊ NGƯỜI THAY VÌ LÀM NÔ LỆ CHO CỘNG SẢN, HÀNG TRĂN NGÀN NGƯỜI ĐÃ GỤC CHẾT TRÊN ĐƯỜNG TRỐN CHẠY NANH VUỐT CỘNG SẢN VIỆT NAM. KẺ NÀO ĐÃ DÁM ĂN NÓI NGƯỢC NGẠO, VÀ TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT RẰNG TOÀN THỂ NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM ĐOÀN KẾT CÙNG CÁC "ANH HÙNG GIẢI PHÓNG" VÀO NĂM 1975 ???


Nỗi ám ảnh bỏ nước ra đi của Hiê.p. Tôi còn nghe anh nói, run rẩy trong bộ đồ bà ba ướt sũng nước biển, ga tài duy nhất còn sót lại trong đời anh. Giữa vùng vịnh Thái Lan, tiếng máy tầu của Hiệp hình như văng vẳng tiếng kêu của những linh hồn lìa xác. Thức ăn và nước uống đều sắp ca.n. Những người đàn bà qùy trên khoang tầu khấn nguyện trời đất. Phải chăng trời đất đã chấp thuận lời cầu nguyện của những thuyền nhân vừa mới thoát ra khỏi nanh vuốt Cộng Sản và đang dẫy trên giữa lòng đại dương ??? Vào giữa trưa ngày thứ sáu, có một chiếc thuyền lướt sóng cha,y nhanh về phía họ. Đó là một chiếc thuyền đánh cá Thái Lan. Rồi hai chiếc ... rồi ba chiếc .... Thoát Nạn chăng ? Nhưng ... Than ôi, đó là những chiếc thuyền hải tặc Thái Lan. Chúng cướp bóc trên tầu, giết chết những người đàn ông kháng cự, và bắt đi 18 người đàn bà trẻ nhất, rồi bỏ đi sau khi đâm thủng tầu. Những người Việt Nam cố bám vào thân tầu thì bị chúng dùng gậy đập chết. Khi trời sáng thì chỉ còn hai người sống sót duy nhất đang bám víu vào sự sống cuối cùng là chiếc thùng đựng nước bằng nhựa hóa học mà định mệnh của học bập bềnh theo sóng biển vô tình. Hai người đó là Hiệp và Ngọc, cô bé gái có đôi mắt của con nai bị thương vừa thoát chết dưới lưỡi hái của tử thần. Tôi nhìn cô bé đầu nghiêng mắt nai, tựa cằm trên bàn, và đăm đăm nhìn tôi với ánh mắt để đời. Dường như tất cả tuổi thơ đã bỏ em mà đi. Cô bé chỉ còn lại một khoảng trống rỗng của đời người. Một chiếc bình hoa tuyệt mỹ đã rơi xuống bên thềm địa ngục và tan vỡ giữa trần gian.


Đó là lịch sử của những người chạy trốn nanh vuốt Cộng Sản mà đời gọi họ là "THUYỀN NHÂN", và cũng có những người còn mệnh danh họ là kẻ "CHẾT ĐUỐI CHO TỰ DO". Lịch sử của một dân tộc trong suốt 20 năm trường đã bị tàn hại dưới nanh vuốt của một thứ chính trị đầy thù hận và kỳ thị của bất cứ một chế độ Cộng Sản nào./-

Bài Xem Nhiều