We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 7 August 2009

“TỰ DIỄN BIẾN” TRONG NỘI BỘ ĐẢNG

“TỰ DIỄN BIẾN” TRONG NỘI BỘ ĐẢNG

LÀM TAN RÃ HỆ THỐNG VIỆT CỘNG

LÝ ĐI NGUYÊN

Trước áp lực dư luận quốc tế và mạnh nhất là Quốc Hội Mỹ đòi Việtcộng phải tôn trọng Nhân Quyền và Tự Do Tôn Gìáo, nhưng Việtcộng cứ bỏ ngoài tai, chúng vẫn thẳng tay đàn áp các Tôn Giáo, và những người đấu tranh đòi Dân Chủ. Cụ thể mới đây chúng đàn áp khốc liệt giáo dân Tam Tòa của địa phận Vinh. Nguy hiểm hơn nữa Công An Việtcộng còn đóng vai côn đồ của xã hội đen để tấn công những linh mục và giáo dân tới cầu nguyện trên nền nhà thờ Tam Tòa đã bị chiến tranh tàn phá. Để có cớ cho hệ thống truyền thông cộng sản tuyên truyền, gọi đó là phản ứng của Lương Dân đối với Giáo Dân muốn xóa đi di tích lịch sử tội ác của Mỹ. Có nghĩa là nhà cầm quyền Việtcộng chủ trương tạo ra một cuộc Xung Đột Tôn Giáo tại Việtnam, để các tôn giáo bị cuốn vào không khí “Thánh Chiến”, không còn tâm trí đâu chống lại những hành động độc tài, tham nhũng, bán nước của chúng cho bọn Bành Trướng Bắc Kinh nữa.

Vì thấy rõ bọn Mancộng cầm đầu đảng đã ngoan ngoãn theo xuôi Trungcộng, nên trong nội bộ cộng đảng, chính quyền, quân đội đã phát sinh phản động lực gay gắt, khiến cho Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Tri, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương. Kẻ lãnh đạo tư tưởng của đảng, nắm vận mệnh báo giới, trực tiếp điều khiển một ‘bộ biên tập’ những bài viết, ký tên thật, tên ma, nhằm đánh phá uy tín những người chống cộng trong, ngoài nước, mà ta thường bắt gặp trên mạng, để lập công lớn với bọn quan thầy Bắckinh, qua việc tuyên truyền “Hán Hoá Cộng Đảng Việtnam” và giúp Trungcộng tiến hành đồng hóa Dân Tộc Việtnam vào với Đế Quốc Đại Hán. Nhằm tranh chức Tổng Bí Thư thay Nông Đức Mạnh về hưu với Nguyễn Chí Vịnh, hiện nắm Tổng Cục II, tay sai đắc lực cho Tình Báo Hoa Nam của Trungcộng. Nên ngày 03/08/09, Tô Huy Rứa đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Việtnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. Đồng thời xác định đường lối chính trị trước Đại Hội XI là chống ‘tự diễn biến’.

Theo đó, Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ, thậm chí còn cao hơn ‘diễn biến hòa bình’. Tô Huy Rứa kêu gọi: “Cần chủ động phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động diễn biến hoà bình, gây bạo loạn, lật đổ, hình thành lực lượng đối lập của các thế lực thù địch”. Rứa tiếp: “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên các địa bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”. Tuy nhiên Rứa vẫn kiên trì theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chết tiệt. Nhưng lại nhắc rằng: “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta”. Có nghĩa là Tô Huy Rứa, kẻ lãnh đạo tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa cũng vẫn mù mờ, chưa sáng tỏ, chưa hiểu rõ, hay không dám hiểu nhận thức, quan niệm về CNXH đã lỗi thời, và con đường đi lên CNXH đã bế tắc, mà Rứa đã phải thú nhận “Đảng cũng đang tự mình từng bước tìm đường, cố gắng chỉnh sửa trong bối cảnh đối nội và đối ngoại”.. Đúng là thằng đui, dắt lũ mù đang đi trên con đường Tư Bản Chủ Nghĩa, mà cứ dối mình, dối người, đó là con đường đi lên Chủ nghĩa Xã Hội.

Trước đó, ngày 27/07/09, Vietnam Net đưa lên mạng về cuộc tọa đàm với tựa đề: “Động lực để đổi mới: Quyết định là ở cán bộ lãnh đạo”. Có sự tham dự của Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ Tướng, nguyên Bí Thư Trung Ương Đảng, và Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Ban Tổ Chức Trung Ương, nguyên Trưởng Ban Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trung Ương. Có nghĩa là hai nhân vật từ trong ruột, trong tim, trong óc của Trung Ương Cộng Sản Việt Nam. Những lời nói của họ đã khiến Tô Huy Rứa cho đó là “tự diễn biến” tối nguy đối với vận mệnh cộng đảng. Ông Hương nhận định rằng: “ Cách chọn nhân sự trong các kỳ Đại Hội Đảng là chưa dân chủ. Lâu nay ở Việtnam công tác tổ chức cán bộ là công tác bí mật, giữ bí mật đến phút cuối cùng thì khi ra đại hội cứ thế mà bầu”. Ông đề nghị: “Phải để Đại Hội trực tiếp bầu Tổng Bí Thư, Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư. Ở tỉnh, Đại Hội trực tiếp bầu Bí Thư và Thường Vụ”… “phải có nhiều ứng viên để Đại Hội lựa chọn”. Đề nghị này tránh việc các bàn tay ma quái bí mật tạo ra kẻ lãnh đạo đảng, rồi buộc Đại Hội phải hợp thức hóa. Lâu nay Trungcộng nhờ phương pháp giữ bí mật vào phút chót này, đã tạo ra các Tổng Bí Thư bù nhìn của họ như Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh... Ông Vũ Khoan nhấn mạnh: “Nhà nước phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gì đi chăng nữa cuối cùng cũng để phục vụ con người. Nếu phát triển công nghiệp, nhưng chất lượng cuộc sống không cải thiện thì cũng không phải là mục tiêu của đất nước này”. Nói thế, có nghĩa là cái đảng mà ông Vũ Khoan phục vụ từ trước tới nay, chỉ vì đảng, chứ không vì dân, không phục vụ con người của đất nước này rồi!

Trước Đại Hội X, cựu tướng Võ Nguyên Giáp ngày 03/01/2004 đã gửi thư cho Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng về vụ án “siêu nghiêm trọng” của Tổng Cục II. Lần này trước Đại Hội XI, ngày 10/06/2009, ông lại gửi 2 bức thư: Bức thứ Nhất lưu ý các nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười và các nguyên Ủy Viên Bộ Chính Trị về Tổng Cục II: Bức thứ 2 gửi cho Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, về thư tố cáo đề ngày 16/12/2008, “của trung tá Vũ Minh Trí một cán bộ, đảng viên đang công tác ở Tổng Cục II, tố cáo Nguyễn Chí Vịnh đã lũng đoạn, phá hoại Tổng Cục II toàn diện. Đồng chí ấy cho rằng, Thực trạng của Tổng Cục II cho thấy Quân đội ta, Đảng ta, Nhà nước ta đang gặp phải một hiểm họa vô cùng to lớn, ngay từ bên trong, ngay từ bên trên”. “Tôi không hiểu sao Nguyễn Chí Vịnh trước có những khuyết điểm, khi đó đồng chí Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh nói với tôi là không thể lên trung tướng và chưa biết đưa đi đâu để rèn luyện, nhưng thực tế không làm như vậy, mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng Cục trưởng, hiện nay đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng làm cho ai cũng phải ngạc nhiên, lo lắng và không làm rõ thì chắc sẽ còn lên nữa”.

Nguyễn Chí Vịnh chắc sẽ còn lên nữa, nếu không là Tổng Bí Thư khóa XI, thì cũng phải là Đại Tướng bộ trưởng Bộ Quốc Phòng. Vì ngay tướng Giáp, và các tướng lãnh, cũng như những người theo đảng cộng sản, mà còn có lương tri, biết nuối tiếc công sức đấu tranh giành Độc Lập Dân Tộc, thì cũng thừa hiểu Nông Đức Mạnh chỉ là con rối của Trungcộng, mà Nguyễn Chí Vịnh là tên nằm vùng của Hoa Nam Tình Báo Trung Cộng, nhằm thao túng toàn đảng, toàn quân để thực hiện mưu đồ Hán Hóa Việt Cộng, Đồng Hóa Việt Nam của Bắckinh. Chính vì vậy mà cuộc “tự diễn biến” trong nội bộ đảng có khả năng làm tan rã hệ thống Việtcộng, hay ít ra là loại được tay sai Bắckinh ra khỏi vị trí quyền lực. Nếu không vậy, thì Tổ Quốc lâm nguy. Little Saigòn

Advanced NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH


o_reilly_doing_it_wrong


Thư Bill Laurie gởi O’Reilly: Việt Nam bị sụp đổ vì tham nhũng?

Sau đây là bức thư cuả Sử Gia Bill Laurie gửi nhà báo O’Reilly, FoxNews, khi ông này tuyên bố như trên.
(Đồ Biển phỏng dịch)

Thưa ông O’Reilly,

Chính ông, lại một lần nữa đã tin tưởng vô căn cứ là Việt Nam Cộng hòa bị đánh bại bởi tham nhũng. Đó là một vấn đề nghiêm trọng nhưng không phải là đầu mối nguyên nhân thất bại này, hoặc là bất cứ những gì liên hệ. Tôi ở VN 3 năm. Ông thì không ở đó. Xin vui lòng đoc bài này và giải toả những những truyền thuyết tam sao, thất bản.

Trong những tháng cuối cùng cuả năm 1975, 3 trong 4 vị tư lệnh Vùng là những sĩ quan không hề mang điều tiếng, và là những nhà chiến thuật tài ba. Người thứ tư có dính líu vào một thiểu số tham nhũng, tuy vậy ông ta là một cấp chỉ huy xuất sắc mà binh sĩ dưới quyền đều thưà nhận như vậy. Vị sĩ quan phụ tá ông cũng được biết là một người tài đức vẹn toàn, nhận xét tinh tế, và thao lược về quân sự.

Binh sĩ miền Nam không phải chiến đấu đề bảo vệ chế độ tham nhũng, nhưng để bảo vệ một đất nước dân chủ đang đà phát triển mà họ lưạ chọn. Như một TQLC/VNCH dạn dày máu lưả chiến trường đã nói với tôi: “Sau khi chúng tôi dẹp xong quân Bắc Việt, chúng tôi sẽ về quét dọn đám tham nhũng tại Sài Gòn”. Tham nhũng được coi như một bệnh kinh niên như bệnh tiểu đường. Chúng ta không đón nhận nó và chẳng thú vị khi mắc phải nó, vì nó cũng khó làm cho chúng ta chết. Cộng Sản Hà Nội mới chính là một bản án tử hình

Nhớ lại nhà Việt Nam “học”, Douglas Pike đã lý giải rằng lý do tại sao Hà Nội và quân Bắc Việt thua trận Muà Hè Đỏ Lưả năm 1972, rằng Quân Lực VNCH áp đảo quân Bắc Việt. Hãy nhớ lại Chiến dịch Tổng Tấn Công 1972, Cộng sản Bắc Việt huy động tới 150,000 quân so với 84,000 quân trong dịp Tết Mậu Thân 1968

Khoảng 275,000 binh sĩ VNCH đã bị tử trận, trong tổng số dân là 17 triệu, Nếu so với số dân 200 triệu cuả nước Mỹ, thì con số này lên đến (200 chia cho 17 và nhân với 275,000) tức là 3,235,000 người. Hãy nhớ lại tổng số binh sĩ Mỹ tử trận trong Đại Chiến thứ II là 292,000 so với số dân Mỹ vào thời kỳ này là 135 triệu.

Trong một tháng binh sĩ VNCH chết nhiều hơn binh sĩ Mỹ. Trong trận tái chiếm Huế, 384 Binh sĩ Việt tử trận so với 214 binh sĩ Mỹ.

Những lý do khai tử Nam Việt Nam đơn thuần do sự cắt viện trợ một cách tàn độc, hèn hạ và thô tục, trong khi đó để cho Liên Xô và Trung Cộng cấp cho Hà Nội một hoả lực hùng hậu. Mọi chuyện xảy ra là do do việc cắt giảm tệ hại về tiếp liệu cho QLVNCH. Vũ khí, đạn được và đồ phụ tùng, thuốc men, nhiên liệu, tất cả mọi thứ… Không một lực lượng Nam Việt Nam trong tình trạng “đói” võ khí đạn dược như vậy mà có thể đẩy lùi quân cộng sản Bắc Việt trang bi vũ khí đến tận răng. Trung bình theo tiêu chuẩn một lính bộ binh Mỹ được phát 400 viên đạn cho khẩu súng cơ hữu cuả anh ta, trong khi đó vào đầu năm 1975, một binh sĩ Nam Việt Nam được phát cho có 60 viên đạn cho một tuần. Xin lập lại 60 viên M16 trong một tuần. Đạn trọng pháo bị cắt 90%, xe tăng và phi cơ bị cho nằm ụ vì thiếu cơ phận thay thế (chúng trở thành những bức tượng điêu khắc bất động).

Cronkite thì mù mờ về tình hình Việt Nam. Đường mòn HCM là con đường huyết mạch tiếp tế vũ khí, đạn dược nuôi dưỡng cả ba chiến trường Việt, Miên, Lào cuả Cộng Sản Hà Nội. Bắt đầu từ năm 1962, nếu không nói là sớm hơn, có nhiều yêu cầu lập đi, lập lại là phải cắt đứt, chiếm giữ đường mòn HCM để bóp nghẹt cuộc chiến tranh do Hà Nội gây ra. Tham Mưu trưởng Liên Quân đề nghị, Chính phủ VNCH yêu cầu, Chính phủ Thái đòi hỏi. Tất cả đều bị BT Quốc Phòng Mac Namara và TT Johnson thẳng tay từ chối.

Cho đến ngày hôm nay, một vài viên chức cuả nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội thưà nhận rằng, cắt đứt đường mòn HCM, ngay tức khắc sẽ giáng một đòn chí tử cho nỗ lực chiến tranh cuả Hà Nội. Cronkite chưa bao giờ đả động đến việc này.

Ông nói Miền Nam Việt Nam bị sụp đổ là do tham nhũng, không khác nào một giảo nghiệm viên tử thi báo một bệnh nhân chết vì sưng phổi mà hoàn toàn không đả động gì đến những lỗ đạn và một con dao đâm lút cán người bệnh.

Ông là người rất thông minh, nhưng ông không được thông tin đầy đủ về động lực lịch sử căn bản, nguyên nhân và hậu quả, gây tác hại ghê gớm mang lại chết chóc và đau khổ cho nhân dân 3 nước Việt, Miên, Lào. Người ta có thể tin ông vẫn là một người thông minh nếu ông hiểu rõ vấn đề ngay từ bây giờ.

Những bậc trí giả đang cười vào sự ngu dốt đáng hổ thẹn cuả ông, nó bộc lộ sự giả dối khi ông lao đầu vào cái hình ảnh huyễn hoặc, ngớ ngẩn cuả Walter Cronkite.


Lá Cờ Thấm Máu Phục Quốc Quân
Triều Giang


Lá cờ thấm máu phục quốc quân

Thư viện/Bảo tàng viện Lyndon Johnson đã nhận được một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà do gia đình ông Lộc Nguyễn, một người Mỹ gốc Việt đang sinh sống tại Austin gửi tặng. Lá cờ vàng 3 sọc đỏ được làm bằng loại vải mềm. có màu vàng lạt hơn những lá cờ khác vì thời gian. Trên lá cờ còn có những vệt máu thâm đen.

Theo ông Lộc Nguyễn, thì đây là cờ được treo trên đỉnh của một tiền đồn tại tỉnh Đà Nẵng cho đến giờ cuối cùng trước khi tiền đồn bị thất thủ vào tháng 3 năm 1975. Vì lý do bảo mật để tránh sự nguy hiểm cho một số người liên hệ còn đang sống tại VN, ông Lộc không thể nói rõ hơn về địa điểm của tiền đồn cũng như tên tuổi của những người liên hệ. Cha ông, vị sĩ quan chỉ huy tiền đồn đã không chịu đầu hàng. Ông và một số binh sĩ của ông đã trốn vào rừng để tiếp tục chiến đấu. Ông đã mang lá cờ này theo toán phục quốc quân vào trong rừng. Từ tháng 3 năm 1975 cho tới năm 1978, lá cờ này đã theo toán phục quốc quân ẩn sâu trong rừng. Khi liên hệ được với người liên lạc là mẹ ông Lộc, cha ông đã gửi gấm cho mẹ ông lá cờ với lời nhắn nhủ người con trai duy nhất trong gia đình rằng; ông Lộc hãy gìn giữ lá cờ máu này và hãy tìm mọi cách để đưa lá cờ ra khỏi VN để nói cho toàn thế giới biết về sự đau thương của VN dưới sự cai trị hà khắc của CS, và sự chiến đấu quyết không đầu hàng của những chiến sĩ phục quốc quân.

Do đó, từ năm 1978 tới năm 1994, lá cờ đã được giầu dưới giường của mẹ ông Lộc. Trước khi chết, mẹ của ông Lộc đã cho con trai biết về lai lịch lá cờ và cái chết của người cha. Cũng theo lời trăn trối của mẹ ông Lộc, cha ông cho bà biết vết máu trên lá cờ là của một trong những chiến sĩ phục quốc quân. Bà không hỏi rõ là vết máu cuả chiến sĩ phục quốc từ vết thương trong một trận giao tranh hay là do bị thương trong lúc leo lên cột cờ để hạ lá cờ xuống trước khi đem vào rừng cùng với toán quân.

Cái chết tức tưởi của một phục quốc quân với lời trăn trối:
Dùng lá cờ để nới lên chính nghiã của Nam VN

Toán quân sau đó đã bị theo dõi và bị bắt vào năm 1982. Cha ông Lộc đã vào tù cùng với các chiến hữu của ông, nhưng lá cờ có thấm máu của người chiến sĩ phục quốc đã được con trai ông vâng lời cha, trong một chuyến về thăm VN, bất chấp nguy hiểm, ông Lộc đã bí mật chuyển sang Mỹ vào năm 1998.

Mẹ ông Lộc không được biết những gì xảy ra sau đó cho những chiến sĩ phục quốc quân, kể cả ngày chết cuả chồng. Ông Lộc cho biết từ khì cha ông bị bắt vào năm 1982, mẹ ông hàng tháng đi thăm nuôi, nhưng không bao giờ đưọc gặp chồng. Mỗi khi đến trại tù, những người cai quản trại tù bảo bà đưa đồ tiếp tế cho họ để họ chuyển cho chồng bà và bà ra về. Bà đã đi thăm nuôi chồng trong tăm tối như thế trong suốt 7 năm trời. Mãi đến năm 1989, một người quen cùng trong trại tù với chồng bà đã nhắn cho bà biết chồng bà đã bị đánh đập và bị hành hạ cho tới chết trong tù đã nhiều năm qua. Lúc đó, người chỉ huy của toán phục quốc quân này đang ở tuổi trên 60 và ông đã chiến đấu trên 30 năm cho lý tưởng tự do, dân chủ của đất nước, dân tộc.

Năm 2004, qua sự giới thiệu của người bạn là một cựu chiến binh Mỹ, ông Patrick Reily, ông Lộc đã tặng lá cờ cho Thư viện Lyndon Johnson với ước nguyện hoàn thành được lời trăn trối cuối cùng của người cha. Đó là dùng lá cờ để nói cho cả thế giói biết đến sự hà khắc của chế độ CSVN và sự chiến đầu anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Ông Lộc Nguyễn hiện lập gia đình với bà Thu Minh Nguyễn và có 3 người con gái và một con trai. Ông bà đã xin phép cho các con nghỉ học một buổi để các cháu có thể được nhìn lá cờ mà ông bà nội cuả các cháu đã dùng mạng sống cuả họ để gìn giữ nó.

Hiện Viện Bảo tàng Lyndon Johnson chưa có chưong trình trưng bày lá cờ này trước công chúng, nhưng nếu có khách thăm viếng yêu cầu, thư viện sẽ đưa ra để cho khách được chiêm ngưỡng. Để tiện việc sắp xếp, xin gọi điện thoại trước cho quản thủ thư viện đang có trách nhiệm gìn giữ lá cờ, ông Michael Mc. Donald, điện thoại số: (512) 721-0199. Hoặc Email về địa chi: michael.macdonald@....

Thời Chinh Chiến / 34 Năm Nhìn Lại - Tháng Tư Đen 1975 / 26 Tháng Tư 2009
Monday, March 23, 2009
NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH

Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.
Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.
Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.
CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG
Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.
Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.
Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.
Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.
Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.
Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.
Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.
Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào :
- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi :
- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.
Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.
Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “ Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn :
- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn....
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.
Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người Thương Phế binh cộng sản trên đường phố.
Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.
Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.
Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.
Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống cộng sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.

AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn phỉ cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.
Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.
Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.
Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến cới anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người Nước Nam.
Phạm Phong Dinh
Subject: Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của QLVNCH
Author: comay

[ Long Điền ]
Bài nầy viết để vinh danh những “Anh Hùng Vô Danh” Địa Phương Quân và Nghĩa Quân trong cuộc chiến 1954-1975,họ là những người chịu nhiều đau thương nhất ,tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong QLVNCH, đồng thời họ chịu nhiều sĩ nhục từ phiá Cộng sản .Vì chính CSVN xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của VC thời đó: ...
“Ngàn hai bắt được thì tha.
Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”
(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ lực quân,900 là lương của Dân Vệ /Ngĩa Quân)
thực tế CSVN chỉ tuyên truyền vậy thôi,thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai thì hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm gì có tha ai đâu.

- Giới thiệu sơ lược :

Địa phương quân, thời kỳ đầu được gọi là Bảo an đoàn, là lực lượng vũ trang địa phương của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Bảo an đoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng Bảo chính đoàn, Nghĩa dũng đoàn, Việt binh đoàn do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ năm 1955 đến 1964, lực lượng Bảo an đoàn trực thuộc Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an ở từng địa phương.

Từ 1964, Bảo an đoàn được chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa và đổi tên thành Địa phương quân. Địa phương quân tổ chức thành các đại đội (khoảng 100 người). Trong thời gian từ 1968 đến 1972, lực lượng này phát triển mạnh từ 895 lên 1.823 đại đội, tương ứng với số quân 132.000 lên 301.000. Cuối 1972, một số đại đội Địa phương quân được gộp lại thành tiểu đoàn. Phần lớn các đồn lớn là của Địa phương quân, do tiểu khu và chi khu điều khiển. Các đồn nhỏ do phân chi khu (xã), giao cho Nghĩa quân phụ trách. Bộ chỉ huy Quận hay còn gọi là Chi Khu thông thường do lực lượng Nghĩa Quân bảo vệ.

Chi khu trưởng và ban tham mưu chi khu đa số là những cấp chỉ huy xuất sắc của Chủ Lực Quân đưa sang nên họ đã huấn luyện ,hướng dẫn các đơn vị ĐPQ/NQ những phương thức hữu hiệu để tiêu diệt Cộng sản mà họ đã có được kinh nghiệm khi còn chỉ huy các đại đơn vị tinh nhuệ như Nhảy Dù,Biệt Động,Thủy Quân Lục Chiến v.v…Do đó có nhiều trung đội Nghĩa Quân đánh giặc hữu hiệu không thua gì các đơn vị chủ lực. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.

Phiá Cộng sản xem họ là kẻ thù nguy hiểm,nhưng báo chí Miền Nam Việt nam thời đó cũng tỏ ra có nhiều ngộ nhận không ít về họ. Có báo thì cho là lính ma, lính kiểng, có báo thì cho là binh chủng lạc hậu và đặt tên là “Con Rùa chậm tiến” chỉ vì họ không được trang bị hiện đại bằng các binh chủng khác, luôn luôn được trang bị chậm và thiếu các loại vũ khí tối tân như M16, M79 phóng lựu. Và thông thường phương tiện di chuyển hay hành quân họ thảy đều dùng đôi chân của mình chớ không có phương tiện cơ hữu như quân xa, máy bay. Họ đánh giặc theo kiểu nhà nghèo. Lương thì ít ỏi không đủ sống, vì vậy đôi khi NQ còn được trợ cấp thực phẩm, có 2 câu thơ truyền miệng:
“Dân Vệ Đoàn vì dân trừ bạo
Hai bao gạo một thùng dầu ’’
(chú thích :Gạo của Hoa Kỳ trợ cấp loại 10 ký / bao,dầu là loại dầu ăn hột cải 4 lít)

Đã đành là hèn…

Tháng 6 năm 2004, hiệp định vịnh Bắc Bộ được quốc hội Cộng Sản Việt Nam phê chuẩn và có hiệu lực thi hành, cùng lúc với hiệp định đánh cá chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các quan chức Cộng sản Việt Nam lúc đó đã không ngớt lời tán tụng cái gọi là “sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam cũng như đối với quan hệ hai nước Việt – Trung“ của hai hiệp ước này. Nhưng cũng kể từ đó thì ngày càng có nhiều ngư thuyền, ngư dân ta bị “tàu lạ” rượt đuổi, bắt bớ; bị cướp bóc ngư cụ ngư sản, thậm chí bị bắn giết ngay trên những vùng biển của đất nước mình. Đến tháng 6 năm nay, tức là 5 năm sau những lời tán tụng hồ hỡi vừa nêu trên, thì phần lớn ngư dân miền Trung Việt Nam đã không dám ra khơi đánh cá xa bờ vì sợ bị tàu Trung Quốc đâm chìm hoặc bị bắt đòi tiền chuộc.

Trước những hành vi ngang ngược và tàn bạo trong chủ trương lấn chiếm của Bắc Kinh như vừa kể, nhà cầm quyền Hà Nội đã làm gì để bảo vệ ngư dân và chủ quyền quốc gia, vốn là nhiệm vụ chính yếu của một nhà nước. Ngoài những lời tuyên bố chiếu lệ của phát ngôn viên bộ ngoại giao Lê Dũng (vốn đã bị Trung Quốc vứt vào sọt rác từ lâu), và lí nhí XIN Trung Quốc CHO ngư dân Việt Nam được đánh cá trên vùng biển của Việt Nam; họ đã chẳng làm gì cả. Thậm chí không dám dùng đến những nguyên tắc ngoại giao căn bản để chính thức phản đối, hoặc dùng đến những cơ chế quốc tế sẵn có để đa phương hoá vấn đề, hầu nếu không giải quyết được, thì ít ra cũng tìm thêm sự hậu thuẫn của những quốc gia cùng có mối lo chung về hiểm hoạ bành trướng của Trung Quốc. Tại sao Hà Nội chấp nhận im tiếng như vậy?

Hà Nội vẫn thường khoả lấp cho sự hèn hạ của họ là phải khéo léo ngoại giao, không nên chọc giận và đối chọi với sức mạnh của Trung Quốc. Khi khoả lấp như vậy, Hà Nội quên rằng trong suốt giòng lịch sử chưa bao giờ Việt Nam mạnh hơn Trung Quốc, nhưng tổ tiên Việt Nam chưa bao giờ hèn hạ, quỵ luỵ nước Tàu như hiện nay. Hơn thế nữa, trong cuộc chiến Việt Nam mấy chục năm trước, Cộng sản Việt Nam không hề mạnh hơn Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà. Thế nhưng tại sao họ vẫn quyết đánh cho đến người Việt Nam cuối cùng, cho dù phải “đốt cả dãy Trường Sơn”?

Tệ hơn nữa, lãnh đạo đảng CSVN ngày nay còn cố tình xóa hoặc làm nhòa bớt đi những hy sinh của chính người Việt trong các cuộc chống quân Trung Quốc xâm lăng trong 30 năm qua. Trong trận hải chiến Trường Sa 21 năm về trước, hơn 60 chiến sĩ Hải Quân Việt Nam đã nằm xuống trong lòng biển mẹ trong nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc. Dù rằng sau đó phía Trung Quốc đã phổ biến đủ loại tài liệu, phim ảnh trong mục đích làm nhục Hải Quân và dân tộc Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay, trong mọi tài liệu, báo cáo, sử sách; điển hình là quyển “Lịch Sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam 1955-2005” của Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, lãnh đạo Đảng vẫn không dám cho ghi đích danh kẻ xâm lược là Trung Quốc, mà phải đổi thành “hải quân lạ”, “đối phương”, “tàu chiến nước ngoài”,... Phải chăng, khi không xác định rõ kẻ thù, giới lãnh đạo Hà Nội đồng thời cũng không muốn xác định rõ mục tiêu bảo vệ tổ quốc của trận chiến? Hay nói cách khác, phải chăng đây là cách giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam phủ nhận sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam để làm vừa lòng quan thầy phương Bắc? Và còn nhiều thí dụ khác nữa quanh việc Hà Nội xóa đi nhiều khu mộ binh sĩ Việt Nam dọc theo biên giới Việt-Trung trong lúc Bắc Kinh cho xây đủ loại cổng tưởng niệm. Tại sao Hà Nội chấp nhận tự muối mặt như vậy?

Tương tự, trong những vụ ngư thuyền Việt Nam bị “tàu lạ” húc chìm; bị hải tặc “nước lạ” cướp bóc ngư cụ, ngư sản; bắt bớ đòi tiền chuộc bằng đồng Nhân dân Tệ của “nước lạ” v.v... đài truyền hình “nước lạ” huyênh hoang chiếu cảnh mấy chiếc “tàu lạ” to lớn hùng hổ bao vây rượt đuổi chiếc thuyền nhỏ bé đáng thương của ngư dân ta; hình ảnh ngư dân ta van lạy lính “nước lạ” (chỉ thiếu hình ảnh xác một ngư dân ta ướp đá được đưa về bến là không được họ chiếu lên)... Tức là kẻ cướp đã tự nhận họ là quân đi ăn cướp... Thế nhưng báo đài của nhà nước vẫn im thin thít. Thoang thoảng nhắc đến thì phải gọi là “tàu lạ”. Trong khi công an thì khoác lác về tài bắt “khủng bố”, như thể không cái gì tránh khỏi được sự... ”nhanh nhạy” của lực lượng an ninh; nhưng chưa bao giờ cảnh sát biển hay lực lượng phòng duyên bắt được một “tàu lạ” nào, khi mà chúng nhan nhản ở ngoài khơi để thường trực ức hiếp ngư dân ta. Trong các bài báo lớn tiếng tuyên bố công an hết lòng bảo vệ ngư dân, người ta chỉ thấy những tấm hình của các quan chức công an ĐỨNG TRÊN BỜ. Tại sao lãnh đạo Đảng lại giao việc bảo vệ ngư dân cho công an trên bộ chứ không giao cho hải quân?

Đã đành việc lãnh đạo Đảng CSVN vô cùng hèn yếu trước Trung Quốc là một điều hiển nhiên không thể chối cãi, nhưng nhìn cách họ đối xử với dân tộc Việt Nam thì hầu hết các tổ chức nhân quyền và chính phủ thế giới đều phải kinh ngạc về mức độ hung bạo và ác hiểm của họ, đặc biệt là trong những vụ việc liên quan đến Trung Quốc. Công an CSVN thẳng tay đàn áp sinh viên, thanh niên khi những trái tim trẻ này biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước. Công an theo dõi thường xuyên và bắt bớ, trù dập bất cứ ai động đến Bắc Kinh, ngay cả khi họ phản đối tại nhà riêng: Việc cô Phạm Thanh Nghiên toạ kháng tại nhà với biểu ngữ “Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam” là lập tức thành người có tội; việc cô Quỳnh Như mặc áo mang biểu hiệu yêu nước cũng bị xem là có tội; mà trong đó công an phải đặc biệt đưa hai chuyên viên Trung Quốc đến để xử lý dữ kiện trong máy vi tính của Quỳnh Như hầu.... “bảo vệ an ninh cho Việt Nam”.... Còn nhiều, nhiều nữa những dẫn chứng nhục nhã, hèn hạ tương tự. Nhưng lý do nào khiến cộng sản Việt Nam hành xử hèn hạ và đốn mạt như vậy?

Sự lên tiếng của ông Dung Danh Dy trong cuộc phỏng vấn ngày 2 tháng 7 vừa qua trên đài Á Châu Tự Do đã hé mở cho người ta thấy phần nào những nguyên nhân này.

Trong cuộc phỏng vấn này, ông Dương Danh Dy đã cho biết, lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam đã có một số điều hứa về biển Đông với Trung Quốc. Mà nguyên nhân giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đưa ra lời hứa là do họ dốt, không biết gì cả (*) (những thậm từ ’dốt’, ’không biết gì cả’ là nguyên văn lời của ông Dương Danh Dy). Ông Dương Danh Dy là một nhà ngoại giao lão thành, từng là đại sứ của Hà Nội tại Bắc kinh, cho biết thêm rằng, ông biết rất rõ những điều hứa đó, nhưng lại không tiện nói ra trong cuộc phỏng vấn vừa nêu.

Đến đây thì hẳn người ta đã hiểu vì nguyên nhân nào mà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam lại nhu nhược, hèn hạ đến thế. Sự tiết lộ cuả ông Dương Danh Dy cũng giúp giải toả phần nào những nghi vấn về sự thậm thụt ký kết các hiệp ước biên giới trên bộ và trên biển giữa Cộng Sản Việt Nam với Trung Quốc, mà giới quan sát cho rằng, có thể còn có những mật ước hoặc điều kiện gì phía sau, để đến nỗi gần 10 năm sau khi ký kết mà Hà Nội vẫn chưa đưa ra được các bản đồ liên hệ, lẽ ra phải đi kèm với các hiệp ước. Và đến đây thì người ta cũng hiểu tại sao trong khi đồng bào ngư dân đang triền miên bị Trung Quốc ức hiếp, bắt bớ, bắn giết, mà giới lãnh đạo đảng lại muối mặt liên tục sang Tàu để tươi cười ôm hôn thắm thiết các đồng chí cộng sản của họ.

Một đất nước bị một đảng độc quyền cai trị, mà thành phần lãnh đạo của đảng đó vừa nhu nhược, hèn nhát, ngây thơ với ngoại bang nhưng lại vô cùng hung tợn, ác hiểm, thủ đoạn với dân tộc, thì tương lai của nước đó như thế nào thiết tưởng đã quá rõ.

Trong cuộc toạ đàm về Biển Đông ở Sài Gòn vừa qua, Giáo sư Nguyễn Nhã đã khẩn thiết nói lên nhu cầu về sự đồng thuận dân tộc, nếu không thì viễn ảnh Việt Nam trở thành Tây Tạng hay Tân Cương chẳng chóng thì chầy sẽ trở thành hiện thực... Sự đồng thuận của mọi thành phần dân tộc cả ở trong lẫn ngoài nước trước hiểm hoạ Trung Quốc là điều đang và chắc chắn sẽ hình thành. Vấn đề còn lại là, với một đảng và nhà nước cai trị quốc gia, có thành phần lãnh đạo đang bị Trung Quốc nắm thóp, thỉnh thoảng bị Bắc Kinh bắt chẹt, bằng cách dọa dẫm sẽ công bố những điều mà do sự ngu dốt giới lãnh đạo Hà Nội đã hứa... thì liệu rằng đảng đó và nhà nước đó có đồng thuận được với dân tộc hay không? Và ngay cả khi họ hồi tâm có ý hướng muốn đồng thuận, thì liệu rằng Bắc Kinh có cho phép họ đồng thuận với dân tộc, để Việt Nam có cơ may trở nên hùng cường, làm đối thủ cản trở mộng bành trướng của họ hay không?

Trả lời nhưng câu hỏi vừa nêu, người Việt Nam sẽ thấy rất rõ ưu tiên của dân tộc là gì, để đất nước không trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương sau này.

(*) Nguyên văn lời ông Dương Danh Dy: “Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.”. (chữ ’chúng ta’ ở đây là giới lãnh đạo đảng CSVN)


Lê Vĩnh

Trông người mà ngẫm đến thân phận dân ta


Kami, X-Cafe 06.08.2009

Ngày 4/8/2009 cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton đã bất ngờ đến thăm bắc Triều tiên trong một chuyến đi ngắn ngủi hai ngày mà lịch trình được bí mật tới phút cuối.Tin tức chỉ được được công bố vài giờ trước khi ông Bill Clinton có mặt ở thủ đô của Bắc Triều Tiên.

Chuyến thăm này được thực hiện sau nhiều tháng có những lời đồn đoán rằng Washington sẽ cử một đặc sứ để xin trả tự do cho hai nữ ký giả Mỹ bị giam giữ, nhiều người cho rằng chuyến thăm này là một dấu hiệu tích cực và có tầm quan trọng không chỉ đối với số phận của hai tù nhân này, Laura Ling và Euna Lee.

Hai nữ ký giả này làm việc cho kênh truyền hình Current TV bị các binh sĩ Bắc Triều Tiên bắt ở khu vực biên giới với Trung Quốc hồi cuối tháng 3 khi đang thực hiện một chương trình cho đài gần biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Bắc Triều Tiên đã kết án họ 12 năm lao động khổ sai vì đã xâm nhập trái phép vào đất nước họ và thực hiện điều mà Bình Nhưỡng mô tả là "những hành động thù nghịch nghiêm trọng” chống lại nước nhà nước Bắc Triều tiên.

Và kết quả của chuyến đi của ông Bill Clinton thành công tốt đẹp như người ta đã dự đoán, người ta thấy cùng trở về với ngài cựu tổng thống Hoa kỳ trên chuyến bay còn hai ký giả Laura Ling và Euna Lee. Kết quả này được nhiều người cho rằng chuyến thăm này là một dấu hiệu tích cực và có tầm quan trọng không chỉ đối với số phận của hai tù nhân này.




Trong bài viết này tôi không đề cập tới các vấn đề liên quan khác liên quan đến vấn đề quan hệ ngoại giao giữa Hoa kỳ và Bắc Triều tiên, mà chỉ muốn nhắc đến sự kiện nữ hai ký giả sau vài tháng bị giam cầm với bản án 12 năm lao động khổ sai đã được sự bảo lãnh của cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton với tư cách cá nhân của ông ta.

Cũng cần nhắc lại một chút về hai nữ ký giả vừa được trả tự do này họ là những người Mỹ gốc Triều tiên Laura Ling và Euna Lee làm việc cho kênh truyền hình Current TV của cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore, có trụ sở tại California. Họ bị bắt vào tháng 3 vừa qua khi đang tác nghiệp tại biên giới CHDCND Triều Tiên - Trung Quốc.

Ông cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton và hai ký giả Laura Ling và Euna Lee cùng là công dân Mỹ nhưng họ không có chung một dòng máu, ngay cả màu da họ cũng khác nhau người da trắng, kẻ da vàng. Ông Bill Clinton là người Mỹ gốc châu Âu còn hai nữ ký giả trên là người Mỹ gốc Triều tiên đại loại cũng mũi tẹt da vàng như người Việt Nam ta vậy.

Vậy lý do, nguyên nhân và động cơ gì khiến ông Bill Clinton đã làm những việc ngoài chức phận của ông ta, tuy ai cũng biết rằng bà Hallary Clinton Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính quyền Obama nhưng theo tôi đó là trách nhiệm của một người có tên tuổi và uy tín như ông Bill Clinton đã không cho phép ông thờ ơ với sinh mệnh với số phận của người đồng bào ông.

Cái đó ta gọi là tình người.

Nghĩ chuyện này tôi lại chạnh nghĩ tới số phận 12 bà con ngư dân Quảng Ngãi vẫn bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc từ ngày 16/6,khi hải quân Trung Quốc đã bắt giữ 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, đưa về đảo Hoàng Sa, sau đó đã thả 25 ngư dân.

Cùng một sự việc là công dân của quốc gia mình bị nước khác bắt giữ của Việt Nam và Mỹ, nhưng tính chất sự việc đặc biệt quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia lại hoàn toàn khác nhau một trời một vực, nếu khi nói đến và so sánh quan hệ Mỹ-Bắc Triều tiên và Việt Nam-Trung Quốc.

Quan hệ giữa Mỹ và Bắc Triều tiên thì ai cũng biết đó là mối quan hệ mang tính thù nghịch, đối kháng một mất một còn. Ngược lại quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ hữu nghị đặc biệt đồng chí tốt láng giềng tốt được đảng cộng sản và chính quyền hai nước khẳng định bằng 16 chữ vàng và 4 điều tốt.

Vậy mà đến hôm nay sau gần hai tháng bị bắt giữ, số phận của 12 bà con ngư dân Quảng ngãi vẫn còn mờ mịt. Sau động thái phản đối, giao thiệp và gần đây nhất là Bộ Giao thiệp đã buộc phải gửi công hàm phản đối chính quyền Trung Quốc.

Chúng ta không dám đòi hỏi người lãnh đạo đương nhiệm hay những vị tiền nhiệm trước đó của nhà nước Việt Nam có đủ trình độ và uy tín lớn lao như ông cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton mặc đù các ông ấy vẫn nói rằng họ là "đỉnh cao trí tuệ", nhưng vẫn phải tự đặt một câu hỏi cho những người lãnh đạo đất nước về trách nhiệm của họ đối với đồng bào của mình khi lâm nạn như 12 ngư dân Quảng ngãi đang bị chính quyền Trung Quốc cầm giữ.




Đảng CSVN và nhà nước Việt Nam vẫn thường quảng cáo họ là chính quyền của dân, do dân và vì dân và xã hội XHCN của họ đang theo đuổi tốt đẹp bằng vạn lần cái chủ nghĩa tư bản thối nát của đế quốc Mỹ, sao họ không nhân lúc này làm cái việc mà ông cựu tổng thống Bill Clinton đã làm vừa qua đối với chính quyền Bắc Triều tiên để buộc họ phải trả tự do cho những người đồng bào không cùng dòng máu với ông ta. Hãy cho một người lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước Việt Nam có đủ uy tín và trình độ sang Bắc kinh để can thiệp với người có trách nhiệm của chính quyền Trung Quốc buộc họ phải thả ngay, thả hết vô điều kiện 12 ngư dân Quảng ngãi đã bị hải quân Trung Quốc bắt giữ trái phép.

Ở đây chúng ta muốn đánh thức tình người và trách nhiệm của họ với tư cách người lãnh đạo quốc gia đối với số phận của các công dân quốc gia mình đang bị nước ngoài bắt giữ.Đồng thời nhắc họ đừng bỏ quên những người cùng chung dòng máu với mình đang lâm nạn.

Việc làm này là thước đo trình độ, khả năng và uy tín của những người lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam và một điều đặc biệt là thử thách mối quan hệ đặc biệt 16 chữ vàng của hai đảng và chính quyền Việt Nam và Trung Quốc có thực sự là đồng chí tốt, láng giềng tốt như họ vần thường nói hay không?

Trông lãnh đạo nước người mà nghĩ đến lãnh đạo đảng và nhà nước ta về thái độ của họ đối với con dân của mình mà băn khoăn nhiều lắm.

Không biết họ có suy nghĩ gì về việc làm đầy tình người của cựu tổng thống Mỹ trong chuyến viếng thăm Bắc Triều Tiên hay không?

Hay mẩu tin này họ không được biết?

Hay họ biết mà họ không làm?

Hay họ muốn làm mà không được?

Tôi rất muốn có từ họ một câu trả lời và tốt nhất là một hành động cụ thể!

Tài liệu Do Ban Nghiên Cứu Tập Thể CSVNCH/HN Tổng Hợp


View Image

Tài liệu Do Ban Nghiên Cứu Tập Thể CSVNCH/HN Tổng Hợp

-Ban Truyền Thông Phổ Biến-


TAM TÒA VÀ TOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

Kính gửi qúy chiến hữu và qúy thân hữu

Trước những biến cố chính trị trong nước, đang mỗi ngày một tiêu cực hơn vì ảnh hưởng thế lực ngoại xâm Trung Quốc, và hiện nay qua tình hình nhà cầm quyền cộng sản thẳng tay đàn áp giáo dân xứ Tam Toà, Quảng Bình, gây thảm cảnh máu đổ lệ rơi, nỗi oan chồng chất, chúng ta cần nhận rõ phương hướng để hành động. Hội Đồng Đại Diện đã chỉ thị Ban Nghiên Cứu của TTCS qua chiến hữu Đỗ Thái Nhiên tổng hợp tài liệu chính trị về tình hình đất nước và Ban Truyền Thông của TTCSVNCHHN phổ biến để các chiến hữu tri tường và có hành động thích ứng.

Nhận thấy ngay khi cuộc đàn áp tôn giáo có đổ máu tại giáo xứ Tam Toà vừa xẩy ra hôm 20/7/2009, Toà Giám Mục Giáo Phận Vinh đã khẩn thiết phổ biến lời kêu gọi mọi người thiện chí hiệp ý cầu nguyện và thể hiện tình liên đới. Hưởng ứng lời kêu gọi, các cộng đồng người Việt quốc gia ở khắp mọi nơi với sự góp sức của các đoàn thể quân cũng như dân, đã khởi sự chiến dịch hiệp thông. Tại nhiều nơi, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đã có các cuộc lễ đốt nến cầu nguyện cho các nạn nhân và bầy tỏ tình liên đới với giáo xứ Tam Toà, Giáo Phận Vinh. Là những cựu quân nhân của QLVNCH, CSQG và chương trình XDNT cùng với những thế hệ tiếp nối, lúc này hơn lúc nào hết chúng ta phải bầy tỏ một cách mãnh liệt lòng tin vào một tương lai tươi sáng cho quê hương, không có bóng dáng Cộng Sản, nhân quyền được tôn trọng, và như thế chúng ta cần tích cực tham gia vào những phát động ở khắp mọi nơi, lên án những tội ác, hại dân phản quốc của đảng cộng sản VN, và hiệp thông cầu nguyện cho nguời dân đang bị bách hại dã man bởi chế độ hiện hành trên đất nước.

Cuộc đàn áp tại Tam Toà xảy ra đúng vào ngày Đức Cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, vị giám mục của Giáo Phận Vinh đặt chân tới Hoa Kỳ, sau khi ngài vừa kết thúc chuyến viếng thăm mộ hai Thánh Phêrô và Phaolô, và yết kiến Đức Giáo Hoàng tại La Mã. Là giám mục hiệp thông Toà Thánh La Mã, ngài có cương vị để liên hệ với các giám mục ở các giáo phận trên xứ này để kêu gọi sự đồng tình ủng hộ. Trong tuần lễ tới, Đức Cha sẽ tới miền Bắc Cali và cùng với một số nhân sĩ vùng này chúng tôi sẽ tới thăm ngài để nói lên sự quyết tâm của người Việt tỵ nạn cộng sản luôn luôn chia sẻ nỗi thống khổ của người dân trên đất nước, nhiệt tình cứu trợ và liên kết hiệp thông để đóng góp vào cuộc tranh đấu chung của dân tộc đòi hỏi cho Tư Do và Nhân Quyền cho quê hương.

GS Nguyễn Xuân Vinh

Nhận Định của Ban Nghiên Cứu

Ngày 20/07/2009 tại Đồng Hới, tỉnh Quãng Bình, tháp chuông của thánh đường Tam Tòa đã bất ngờ biến thành trận địa của cuộc thư hùng giữa Đức Tin tôn giáo và các loại bạo lực ma quỷ từ phía nhà cầm quyền Hà Nội. Biến cố này đã thực sự gây chấn động dư luận trong cũng như ngoài nước. Xung khằc giữa CSVN và quần chúng Đồng Hới, chung quanh tháp chuông Nhà Thờ Tam Tòa đã âm ỉ trong nhiều thập niên qua. Tại sao lúc này lại là thời điểm tháp chuông kia bị bủa vây bởi máu, nước mắt và vô số bộ mặt hung hãn của công an? Câu trả lời sẽ được tìm thấy trong toàn cảnh chính trị Việt Nam.

Toàn cảnh chính trị Việt Nam hiện bị đè bẹp dưới đại họa xâm lăng đến từ Bắc Kinh. Đại họa ở đây là đại họa hiểu theo nghĩa đen, đại họa ngay trước mắt. Sau đây là hai trọng điểm của đại họa vừa kể:

Xâm lăng trên nội địa Việt Nam:

Những năm 1999, 2000, Việt Nam mất Ải Nam Quan, mất Thác Bản Dốc, mất rất nhiều đất đai dọc theo biên giới Việt Hoa. Thời gian gần đây CSVN mở cửa cho Trung Quốc mượn cớ khai thác bauxite mang hàng vạn công nhân Trung Quốc vào Việt Nam chiếm giữ Tây Nguyên. Tiếp đó nhiều vạn công nhân khác (có thể là binh sĩ trá hình) chia ra làm nhiều đơn vị, mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người , với danh nghĩa “trúng thầu xây dựng”, lập những khu người Hoa, sinh sống rải rác từ Bắc vào Nam Việt Nam. Trong chiến tranh chống Pháp, nương vào nhu cầu vận chuyển chiến cụ cho CSVN, Trung Quốc thiết lập rất nhiều tuyến giao thông trên lãnh thổ Việt Nam, dọc theo biên giới Việt Hoa. Sau 1975, khi xảy ra tranh chấp biên giới Việt Hoa, Trung Quốc mạnh mẽ khẳng định với CSVN: “ Đường của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy” (RFA phỏng vấn Dương Danh Dy ngày 02/07/2009). Ngày nay, trên lãnh thổ của Việt Nam, chẳng những Trung Quốc có đường xá, mà còn có bauxite Tây Nguyên, có vô số “tụ điểm 2000 công nhân” … Đó là cội nguồn căn bản giải thích tại sao Trung Quốc có thừa khả năng chiếm giữ toàn bộ nội địa Việt Nam, không cần một tiếng súng.

Xâm lăng biển và đảo Việt Nam:

Năm 2009 Trung Quốc công khai xâm chiếm biển Đông bằng ưu thế hải quân. Trung Quốc ngang ngược chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Trung Quốc tùy tiện bắn giết ngư dân Việt, bắt giam ngư dân Việt để đòi tiền chuộc. Mới đây nhất, tại phần phụ lục của bài viết đề ngày 26/07/2009, tác giả Hà Sĩ Phu cho biết: Trung Quốc đang thực hiện việc cắm mốc ranh giới quanh Côn Đảo. Trên những cột mốc kia có bốn chữ: “ Thổ địa giới tiêu”. Hành động vừa nêu của Trung Quốc nhằm xác định Côn Đảo là lãnh thổ của Trung Quốc. Điều này hoàn toàn chứng tỏ thái độ khiếp nhược trước Trung Quốc của chế độ Hà Nội.

Không còn hoài nghi gì nữa, tổ quốc Việt Nam đang thực sự lâm nguy. Tình trạng lâm nguy này bắt nguồn từ hai lý do:

Một là trong hơn ba thập niên qua, CSVN mãi mê tham ô và thối nát, hoàn toàn bỏ bê công cuộc canh tân và củng cố quốc phòng.

Hai là do tham vọng nắm chính quyền để tiếp tục tham ô, CSVN nhắm mắt chạy theo chủ trương “Thà mất nước còn hơn mất đảng”.

Mùa hè 2009 họa mất nước đã hiện ra rất rõ. Toàn dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước vô cùng căm hờn chế độ Hà Nội độc tài, tham ô và bán nước. Trước hiện tình đen tối của Việt Nam, CSVN cần tìm phương cách để đánh lạc hướng quan tâm của dư luận về đại họa Bắc Kinh. Đồng thời, tạo chia rẽ trong nhân dân, làm cho nhân dân mất khả năng nổi dậy lật đỗ chế độ. Từ đó, các kịch bản sau đây ra đời:

Đàn áp những thành phần chống đối trong nước như bắt và tống giam LS Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, cựu trung tá CSVN Trần anh Kim…thâu hồi chứng chỉ hành nghề của LS Lê Trần Luật, gây thương tích trầm trọng cho dân oan Hồ Thị Bích Khương…

Các ngày 28 và 29/06/2009 công an CSVN tấn công 400 tăng ni tại chùa Bát Nhã Bảo Lộc với lý do vu khống rằng 400 tăng ni đã chiếm ngụ bất hợp pháp chùa Bát Nhã.

Đặc biệt ngày 20/07/2009 công an Đồng Hới rầm rộ tấn công giáo dân Tam Tòa viện cớ giáo dân ở đây đã gây rối an ninh trật tự công cộng.

Điều đáng quan tâm là mỗi lần quyết định tấn công những người bất đồng chính kiến hoặc các tổ chức tôn giáo bất phục chế độ, công an CSVN bao giờ cũng giả dạng thường dân để vừa ném đá dấu tay, vừa tạo chia rẽ giữa nhân dân với nhân dân nhằm thủ tiêu hiểm họa nhân dân lật đổ chế độ.

Công việc khảo sát biến cố Tam Tòa trong toàn cảnh chính trị Việt Nam đã nêu bật chân lý rằng chế độ Hà Nội đã phạm tội phản quốc bằng cách đánh phá sinh hoạt chính trị , tôn giáo của công dân. Đồng thời, hủy diệt tình đoàn kết dân tộc với hậu ý tạo cơ hội dễ dàng cho Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Chân lý kia là lời khẳng định rằng mọi người Việt Nam đều có quyền và có nghĩa vụ tích cực tiếp tay với lịch sử nhanh chóng đào thải đảng CSVN ra khỏi guồng máy quyền lực của Việt Nam./.

Ban Nghiên Cứu, TTCSVNCH/HN

Bài Xem Nhiều