We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 11 August 2009

Nhà vệ sinh, trí thức và Đảng Nguyễn Hưng Quốc






Nói đến chuyện vệ sinh ở Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc trước năm 1975, không thể không nhớ đến Tô Hoài.

Trong cuốn hồi ký có nhan đề Chiều chiều xuất bản năm 1999, Tô Hoài kể nhiều chuyện liên quan đến hệ thống nhà vệ sinh ở Hà Nội trước và sau năm 1954.

Ông viết, thật chi tiết:

“Mấy lâu nay thành phố vận động các nhà làm hố xí hai ngăn. Việc ỉa đái của đất Kẻ Chợ từ thời Tây đã cứ không dưng như mưa nắng, như trời đất hết mùa hạ sang mùa thu. Hồi xửa xưa, chỉ độc mấy phố hàng Đào, hàng Gai, các nhà quan cách khá giả trổ ngõ sau ra phố tắt, ra vườn hoang, mọi đi lại, chợ búa, con cháu ở quê ra, người vào lấy phân tro đều đi cửa khuất ấy. Rồi quan đốc lý Tây cho thầu phân, các nhà làm hố xí đằng sau, nửa đêm có phu gọi cửa “đổi thùng! đổi thùng!” – mà người nghe lúc ngái ngủ nhầm là “đổ thùng!”. Nhà có cửa nách cho phu thùng, nhà chật chội thì mỗi đêm phu cứ xách thùng phân qua suốt các phòng ra cửa trước.”

“Năm 1956, về hoà bình rồi, buổi tối tôi vào hiệu vằn thắn phố Huế, đương ăn còn thấy người công nhân vệ sinh quảy đôi thùng phân đi ra, qua ngay giữa nhà. Đấy là nơi có phố, còn lều quán chưa thành phường thì vẫn ngồi nấp bờ đầm, bờ sông, bụi rậm. Làng tôi ở ven nội, người lớn trẻ con đều ra các chân tre đầu đồng, mỗi hôm có mụ “mũi thung” - những người đàn bà lam lũ trên mặt nổi vết chàm có lông như miếng da lợn, họ ở các làng vùng trong quảy thúng tro đi gắp phân về bán.”

“Nhà người Tây có hố xí máy, còn người ta ở Hà Nội thì cả trăm năm thuộc Pháp các phố cứ “đổi thùng” cho mãi đến những năm 1958.”

“Không biết ai cải tiến ra cái hố xí hai ngăn đến bây giờ còn người khen, người thì bài bác kịch liệt, đòi truy cho ra đứa có sáng kiến ấy để bỏ tù. Tôi là người đứng giữa có thực nghiệm với tư cách nhà có một hố xí hai ngăn và bây giờ trông nom hơn hai trăm cái hố xí hai ngăn của hàng phố, tôi thấy không phải tội ở người nghĩ ra mà tại những đứa xây và đứa cai quản với thói kẻ cắp bớt xén, thói lười biếng.”

“Lý nhẽ và lề lối nghe ra thuận tai, vẫn cái hố xí mọi khi đem chia thành hai ngăn. Đầy ngăn này, đậy nắp lại cho phân ngấu. Khi ngăn kia sắp ứ lên thì ty vệ sinh đến hốt hố bên. Hàng tuần, đem tro và mùn đất rắc vào hố phân, lại trát vôi cho khít nắp.”

[…]

“Cái tưởng là sẽ tốt đẹp ấy đều đặn tử tế được vài tháng đầu. Các người ở ngoại thành vào lấy trộm phân khốn khổ lắm. Công nhân vệ sinh bắt quang sọt, công an phạt tiền. Nhưng vẫn có người đi chui, có các nhà cho vào múc lậu.”

“Chỉ ít lâu, đến khi chểnh mảng chẳng thấy công nhân đưa mùn đất, không đến trát nắp, lại những thùng xe cũng đỗ bất thường. Cả hai hố đã phè ra, chủ nhà phải ngồi ở cửa hóng người hốt phân chui, lại phải dúi tiền để các bác ấy làm phúc vào lấy cho.” (tr. 300-302).

Một lần, với tư cách tổ trưởng khu phố, Tô Hoài đi điều tra về tình hình nhà vệ sinh trong khu phố. Đây là ghi chép của ông:

“Bẩn kinh khủng. Mùi hôi thối không trông thấy, nhưng có thể tưởng tượng như một cái cống, một cái bễ đương ngùn ngụt tuôn hôi thối nồng nặc ngạt thở. Hai bên tường, không quét vôi, lở lói dưới hàng gạch lâu đời đã vỡ khấp khểnh xanh xám nhờn nhợt […]. Dưới rãnh, những con dòi trắng hếu bò lổm ngổm. Nhưng không thấy nhặng xanh bay ngang mặt, có lẽ bí hơi quá, nhặng cũng không dám vào.”

“Đến cuối hẻm, tôi quay ra. Cảm tưởng vừa xuống âm ty. U ám, nhơn nhớt, nghẹt cổ. Ở Hà Nội, phố nào cũng đằng trước mặt hoa da phấn, đằng sau là cái lối vào chuồng phân như thế này, cả bao nhiêu năm nay thế.” (tr. 306-7).

Ở miền Bắc, trong các chuyến đi thực tế, các nhà văn nhà thơ làm gì?

Một trong những công việc chính của họ là đào hố phân rồi hằng ngày đi nhặt phân, từ phân người đến phân thú vật, về đổ vào các hố ấy, lại nhặt lá cây bỏ vào, trộn đều, ủ lại cho chúng ngấu lên.

Cũng theo lời kể của Tô Hoài, mỗi buổi sáng, nhà thơ Phùng Quán ở trong xóm đi ra, “gánh đôi quang lồng một, hai thanh tre gánh phân đặt trên mặt sọt.” Một buổi chiều, gánh phân về,

“Quán kể nông nỗi đi gắp phân như là đọc một mẩu chuyện trên báo. Các đường ngoắt ngoéo trong xóm trổ ra cổng đồng còn tối đất. Những con trâu con bò ra ruộng làm sớm, thói quen tự nhiên, tới rệ cỏ ven hào nước thì đứng lại ỉa. Đến khi sáng hẳn, trẻ con trong xóm mắt nhắm mắt mở lốc nhốc kéo ra ngồi bĩnh đấy. Hai thanh tre của Quán mở ra gắp lên sọt tuốt cả phân trâu phân người. Tìm ra những con đường phân này cũng chẳng phải tài giỏi riêng Quán, mà sáng nào cũng có người nhặt phân từ các ngõ xóm ra cổng đồng, đi muộn có khi hết.” (tr. 70).

Nhắc đến việc bắt giới văn nghệ sĩ đi nhặt phân, hốt phân, ủ phân trong cái gọi là “đi thực tế” ở miền Bắc trước đây, không thể không nhớ đến câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông: “Trí thức là cục phân.”

Thời kháng chiến chống Pháp, nhất là từ cuối thập niên 1940 đến đầu thập niên 1950, trong các buổi học tập chính trị, giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam phải tụng đi tụng lại câu nói ấy. Nhà văn Nguyễn Thành Long kể: “Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (In trong cuốn Cách mạng – Kháng chiến và đời sống văn học, 1945-1954 do Phong Lê chủ biên, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1995, tr. 527).

Tưởng chỉ có một mình Mao Trạch Đông nói “trí thức là cục phân”. Gần đây, đọc báo, tôi nghe tường thuật chính Lê Nin cũng từng nói thế. Năm 1922, ông bàn với Stalin về kế hoạch thanh tẩy nước Nga, trong đó có việc cải tạo giới trí thức, những kẻ theo ông, chỉ là đầy tớ cho bọn tư sản.

Ông nói về giới trí thức một cách hằn học: “Bọn chúng nghĩ bọn chúng là đầu óc của quốc gia. Thực sự bọn chúng không phải là đầu óc. Bọn chúng chỉ là cứt.”

Hồ Chí Minh có bao giờ nói câu tương tự hay không?

Thú thực, tôi không biết. Bạn đọc nào biết, xin chỉ giùm. Thành thực cảm tạ trước.


Lợi dụng dịch cúm heo, cán bộ CSVN làm tiền trắng trợn người Việt hải ngoại tại Tân Sơn Nhất

Lợi dụng dịch cúm heo (H1N1) đang hoành hoành trên thế giới và "Dịch cúm heo ở Việt Nam đã vào giai đoạn nguy hiểm" (Tuổi Trẻ Online ngày 28/04/2009), và theo TTOL thì mặc dù ông Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và môi trường (Bộ Y tế) đã khuyến cáo: "Người trở về Việt Nam từ vùng dịch nên ở tại nhà sau 7 ngày và theo dõi sức khỏe. Nếu có dấu hiệu bất thường, cần điều trị sớm và thông báo ngay với cơ quan y tế.", nhưng cán bộ kiểm dịch y tế Việt Nam tại phi trường Tân Sơn Nhất đã giở trò làm tiền người Việt hải ngoại về quê hương thăm thân nhân bằng cách giữ những người bị nghi ngờ mang bịnh cúm heo lại và đưa vào cơ quan y tế thành phố để kiểm tra. Tại đây, người bị nghi là có bịnh cúm heo phải đóng tiền nhập viện $250 USD. Sau khi xét nghiệm thấy có nhiệt độ bình thường phải đóng thêm $600 USD để được trả lại passport và visa và cho xuất viện. Nếu không chịu đóng sẽ bị cho nằm chờ không giải quyết. Nếu thắc mắc sẽ được cán bộ trả lời thẳng thừng: "Từ Mỹ về có nhiều tiền thì sá gì mấy trăm đô mà phải mất hết ngày giờ. Thôi đóng mẹ nó cho xong để còn về thăm thân nhân!".



Đo thân nhiệt hành khách từ Mỹ đến Tân Sơn Nhất (Ảnh: TTOL)



Vừa xuống Phi trường Tân Sơn Nhất, trời nóng nực.
Chưa ra khỏi Hải Quan thì bị tóm cổ kéo vô đây, đè ra đo nhiệt độ.



Già trẻ gì cũng không tha


Cô nhân viên của VN Airlines sợ bị tốn tiền, chạy trốn khi hành khách
hỏi nhờ mượn điện thoại để gọi cho thân nhân.



Nhân viên với giọng điệu tra hỏi khách hàng như đang tra hỏi tù nhân.
"Pát-po đâu?" "Cùi vé đâu?" "Mấy tuổi?" "Tên gì?"



Cán bộ kiểm dịch chỉ chỏ la ó làm cho hành khách lo lắng thêm.
Khi bị đo nhiệt độ xong cha rút ra hô to "38 chấm nhăm, phải đi bệnh viện thôi!"
Không tin nên hỏi cho coi, nhưng nhận được câu trả lời "Coi nàm gì? Anh không cần biết!"



Phi trường Los Angeles, Taipei nhiều du khách hơn và lớn hơn gấp mấy lần
phi trường TSN mà không thấy một nhân viên nào đeo khẩu trang.
Ở VN thì .... bình thường hiếm thấy nhân viên nở nụ cười,
bây giờ nhe răng cười cả ngày đi nữa cũng không ai thấy.



Anh đội mũ càm ràm, Chị áo xanh khóc lóc. Mình im lặng coi kế tiếp là trò khỉ gì đây.
Bị tống vào xe cứu thương như chở bò, ngồi trên giường bệnh khi xe thắng thì mọi người ngã ngiêng. Trời nóng, xe không mở máy lạnh, hú còi mà xe chẳng chạy, chậm còn hơn rùa bò. Gần nữa tiếng sau mới tới bệnh viện.


Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Tới nơi mồ hôi nhầy nhụa, bị đè ra đo nhiệt độ tiếp.
Lần này rút kinh nghiệm, coi nhiệt độ trước khi y tá tới, kết quả là 37.5c.
Xong rồi bị soi mũi họng để thử nghiệm cúm H1N1. Sau 24-48 tiếng sẽ có kết quả.
Trong thời gian đó bệnh nhân phải ở lại đây.
Mọi người hỏi bác sĩ cho mượn điện thoại để liên lạc với người nhà mà
ông bác sĩ lắc đầu bảo rằng không có điện thoại.
Ai cũng bức xúc hỏi tại sao bắt giam ở đây mà không cho liên lạc với người nhà.
Bà con đang nhốn nháo thì ông bác sĩ đáp lại rằng "Việc đó không phải của tôi!"


Mọi người bày kế lén lút viết giấy bo tiền bà y tá nhờ ra ngoài liên lạc với người nhà.
Người nhà phải đứng ngồi đợi ở ngoài, không được tới gần phòng cách ly.
Ăn uống bệnh nhân tự lo lấy, người nhà đem cơm nước vô thì phải bo tiền cho cảnh vệ đem vào đưa qua cửa sổ.


Trông chờ người nhà mà không thấy vì không liên lạc được

Nguồn: On the net

THƯ GỬI BỌN CHÓ ÐẺ

THƯ GỬI BỌN CHÓ ÐẺ

Bùi Bảo Trúc

Tao không thể dùng bất cứ một từ ngữ nào khác hơn để gọi chúng mày. Bởi vì chúng mày chính là một bọn chó đẻ.


Càng ngày những việc chúng mày làm và những việc chúng mày không dám làm đều cho thấy chúng mày là một bọn chó đẻ không hơn không kém.

Vừa có tin nói là chúng mày đang áp lực chính phủ Indonesia dẹp bỏ những di tích ở Galang, những chứng tích ghi lại thảm cảnh của mấy trăm ngàn người Việt, những người phải bỏ đất nước ra biển liều chết đi tìm sự sống. Những người tỵ nạn khốn khổ ấy trong khi bị chúng mày đối xử tàn tệ đến nỗi phải bỏ trốn đi thì lại được những người dân Indonesia giúp đỡ, bảo bọc trên đường lánh nạn. Thực là đau đớn và chua xót cho người dân Việt cùng da vàng máu
đỏ, cùng tổ quốc, giống nòi với chúng mày thì bị chúng mày ngược đãi đối xử như quân thù quân hằn trong khi ở Indonesia, những người xa lạ không cùng giòng máu Việt lại dành cho họ những đối xử tử tế, nhân đạo vào những lúc khốn cùng nhất.

Mấy tấm bia ghi lại những đối xử tốt đẹp ấy đã bị chúng mày tìm mọi cách để đục phá cho bằng được, để xóa hết những dấu tích xấu xa của chúng mày, nhưng lại là những ghi dấu lòng tử tế nhân đạo của người dân Indonesia không cùng huyết thống.


Chúng mày tuy phá được những tấm bia trên mấy hòn đảo năm 2005 nhưng những điều xấu xa của chúng mày thì vẫn còn nguyên. Chúng mày tưởng làm như thế là những chuyện xấu xa của chúng mày tan biến đi hết hay sao? Người dân ở các đảo nơi có những tấm bia bị phá đó sẽ còn nhớ mãi vì sao lại có những tấm bia đó, họ sẽ luôn luôn nhớ những con thuyền mỏng manh cập vào những đảo ấy, chở theo những thân tàn ma dại vì chúng mày mà phải bỏ nước ra đi.


Chúng mày phá được những tấm bia đó thì vẫn còn cả triệu người Việt ở hải ngoại ghi nhớ vì sao họ phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ quê hương, bỏ mồ mả tổ tiên đi tha hương tìm sống. Người Việt ở trong nước cũng sẽ còn nhớ mãi những điều đó. Chúng mày sẽ không thể xóa được những điều xấu xa đó. Không bao giờ.


Chúng mày làm đủ mọi cách để dẹp những tấm bia trên những hòn đảo xa lạ cách xa đất nước ngàn dặm, trong khi có rất nhiều điều chúng mày phải làm, nhưng lại không làm, và chắc là không dám làm ở ngay trong nước cũng như ở những nơi nằm sát cạnh Việt Nam.


Như khi những người dân Việt sinh sống bằng nghề đánh cá ở miền Trung mới đây bị một bọn vô lại khốn nạn ngang ngược cấm đánh cá ở ngay vùng biển của nước Việt Nam thì chúng mày tránh, né không dám lên tiếng. Chúng mày khiếp nhược, run sợ không dám nói tới quốc tịch của những chiếc tầu gây phiền nhiễu, tạo thiệt hại vật chất, sinh mạng cho người đánh cá Việt Nam trong khi ai cũng biết đó là những chiếc tầu của hải quân Trung Cộng, treo cờ Trung Cộng, thủy binh mặc đồng phục hải quân Trung Cộng, và chuyện đó chính báo chí Trung Cộng cũng công nhận, không thèm che giấu.


Nhưng chúng mày thì không dám hé miệng can thiệp, bênh vực cho nhũng người đánh cá Việt Nam khốn khổ đó.


Bọn tứ ngược, như chữ của Nguyễn Trãi dùng trong Bình Ngô Ðại Cáo, ngang nhiên đem quân chiếm lấy những đảo của Việt Nam thì chúng mày không dám hé môi nói được lấy một nửa tiếng để phản đối. Những hy sinh của các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa can đảm đánh lại bọn bá quyền Trung quốc trong vụ quần đảo Hoàng Sa thì bị chúng mày lờ đi không dám nhắc đến. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, người sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho chữ "Ngụy" trở thành đẹp đẽ biết là bao. Ngụy như thế thì chúng tao là Ngụy hết. Chúng tao là Ngụy, là những người cùng lý tưởng, cùng dòng máu anh hùng của hạm trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10.


Chúng mày lờ sự hy sinh cao quí của thiếu tá Ngụy Văn Thà đi để che dấu cái thái độ hèn nhát bán nước của chúng mày và cái công hàm mà tên thủ tướng mặt chó Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai để tặng không Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu đỏ. Gọi đó la bán nước thì cũng không đúng, vì đổi lại, chúng mày cũng không được bọn Tầu khốn nạn trả cho một cắc.


Ngày nay, ở Sài Gòn, chỉ cần mặc cái áo có hình quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng bị bắt vì phạm húy. Những ai lên tiếng về đất nước, về sự vẹn toàn của tổ quốc là bị đàn áp thẳng tay như đã thấy.


Sự im lặng của chúng mày, cách hành động của chúng mày trong vụ Bản Giốc, trong những tranh chấp ở biển Ðông chỉ là để che giấu những việc làm đê hèn của chúng mày.


Nay chúng mày đòi Indonesia dẹp chứng tích cuối cùng về giai đoạn bi thảm của Việt Nam trên đảo Galang cũng là vì chúng mày sợ sự thật, chúng mày sợ những dấu tích đó sẽ tiếp tục làm cho hình ảnh của chúng mày xấu đi.


Nhưng chúng mày có bao giờ tử tế và tốt đẹp đâu.


Chúng mày nhắm mắt để cho bọn chó má đem phụ nữ trẻ em Việt Nam bán cho các ổ điếm ở Campuchea, đưa đi làm tôi tớ ở các nước ngoài, tổ chức những vụ bán nô lệ như thời mọi rợ cho những thằng đàn ông Cao Ly, Ðài Loan, Malaysia … đến xem và mua về làm nô lệ tình dục, để mặc cho phụ nữ Việt bị nhốt trong những lồng kính ở Singapore cho khách mua dâm tới xem mà lựa chọn... Chúng mày táng tận lương tâm để cho bọn cai phu ngoại quốc đánh đập công nhân Việt Nam ngay ở trong nước, rồi còn để cho những thằng công nhân Tầu khốn nạn ngang nhiên kéo đến đánh đập những người dân Việt sống ở gần công trường xây cất ngay trên quê hương của mình.


Chúng mày im thin thít.


Nhưng chúng mày lại rất hăng hái, dùng đủ mọi thủ đoạn đê hèn nhất để tìm cách che giấu những việc làm chó má của chúng mày, nói là những di tích ấy bầy ra những hình ảnh không đẹp của chúng mày.


Ðể tao chỉ cho chúng mày một chỗ thực sự lăng mạ chúng mày coi chúng mày có dám làm gì không. Mới đây, tại cuộc lễ dâng đất cho bọn Tầu Cộng mà chúng mày gọi là cắm cột mốc biên giới, bọn Tầu khốn nạn dựng ngay gần nơi diễn ra cuộc lễ một bức tường với những hình ảnh của cuộc nổ súng ở biên giới miền bắc giữa hai bọn chó dại. Ðứng từ xa nhìn cũng thấy đó là những hình chụp bọn lính Tầu tiến đánh một số vị trí trong lãnh thổ Việt Nam. Trong trận này, bọn Tầu còn gây thiệt hại nặng cho cái hang chồn Păc Bó, cái mả tổ Cộng Sản của chúng mày. Ðó, có giỏi thì đòi Trung Cộng dẹp những bức hình đó coi có dám làm không.


Tao mong sao chúng mày chết đi sớm chừng nào may chừng ấy cho dân tộc Việt Nam. Chừng đó, tao bảo đảm mồ mả chúng mày sẽ không bao giờ được để cho nguyên vẹn, kể cả cái xác thối của thằng đại lưu manh chó đẻ ở Ba Ðình đang làm bẩn cái tên lịch sử Cần Vương quá đẹp của Ðinh Công Tráng và Phan Ðình Phùng này.


Lịch sử chắc chắn sẽ không nhẹ tay với bọn chó đẻ là chúng mày.


Ký tên:
Một người Việt Nam không Cộng Sản


(*) Với những đứa từng gọi "thằng Diệm" và "thằng Thiệu" thì cách gọi này dành cho chúng mày vẫn còn là nhẹ. Nếu có phải nói thêm điều gì về cách xưng hô này thì chắc phải là đôi ba lời xin lỗi mấy con chó vì cách gọi đó đã cho chúng mày được làm con những con chó ấy.

Trúng Yếu Huyệt Của VG Cộng Sản Rồi

Ha, Ha, Ha, Xin Mời Các bác xem
(Theo Báo điện tử ĐCSVN)




Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý

Gần đây, nếu để ý, người ta thấy trên một số trang web có địa chỉ nước ngoài xuất hiện những đoạn video với cái tiêu đề khá câu khách “Sự thật về Hồ Chí Minh” nhằm bịa đặt, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam được cả thế giới ca ngợi, ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể chắc chắn không thể hao tổn một chút uy tín nào trước sự vu cáo của những kẻ làm phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”.

Bộ phim được tung ra vào đúng dịp Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được sự hưởng ứng nhiệt liệt của đồng bào trong nước và nước ngoài đồng thời cũng là dịp toàn Đảng, toàn dân ta đang kỷ niệm 40 năm thực hiện bản di chúc vĩ đại của Người. Mục đích của những người làm phim đã rõ ràng, đó là thông qua việc xuyên tạc, bôi nhọ Hồ Chí Minh, họ hi vọng có thể làm suy yếu, đi đến làm sụp đổ Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Theo họ, trên thế giới hiện nay có 2 người cộng sản đã trở thành huyền thoại, có sức lôi cuốn mạnh mẽ mọi người, đó là Chê Ghêvara và Hồ Chí Minh. Họ rùm beng rằng sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam chưa sụp đổ vì còn dựa vào huyền thoại Hồ Chí Minh (?), nếu đánh đổ được huyền thoại này thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ theo (?). Tuy đó chỉ là ý đồ hoang tưởng của những kẻ cố tình ngoảnh lưng lại trước sự thật và chắc chắn sẽ thất bại, nhưng phim đã được tán phát lại đang được một số người ra sức tô son trát phấn. Bởi thế, cũng cần phải làm rõ những người làm phim là ai và họ đã nói gì?

Vậy những người đứng ra chủ trương phim video này là những ai? Họ là những người chống Cộng ai cũng rõ mặt. Nhiều năm nay, với tư tưởng thù hận, cay cú, họ đã không từ một việc làm nào hòng nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc hình ảnh và tình hình thực tế tại Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam. Dưới chiêu bài “Phong trào quốc dân đòi trả tên Sài Gòn” một tổ chức do họ nặn ra, Nguyễn Hữu Lễ, Trần Quốc Bảo và một số người khác đã dành hàng năm trời để kiếm tiền, chiêu binh mãi mã cho “bộ phim tài liệu” mà họ đặt vào đó rất nhiều kỳ vọng này.

Kịch bản bộ phim được họ dàn dựng dựa trên những tư liệu và vấn đề không có gì mới, chỉ có thể lừa mị những người chưa biết. Hầu hết các vấn đề được “các tác giả” “mông má” lên như là rất mới, thực ra đã được giải quyết từ lâu, có những vấn đề quan trọng về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam kết luận và công khai cho nhân dân biết đã hàng chục năm nay, đơn cử như ngày sinh và ngày mất của Người, các trước tác của Người, những vấn đề căn bản trong hệ thống tư tưởng của Người v.v... Cố tình xuyên tạc sự thật, nhóm những người làm phim lập lờ, tìm cách bưng bít những kết luận và thông tin đã được giới sử học trong và ngoài nước xác nhận rồi u loa lên bằng những “bằng chứng” bịa đặt, không có căn cứ.

Với dụng ý xấu như vậy, cho dù số tiền dành cho phim không ít, việc triển khai khá công phu, cuốn phim vẫn không được sự hưởng ứng của những nhà sử học, nhà nghiên cứu văn học nghiêm túc, có trách nhiệm. Để che lấp khoảng trống chết người này, nhóm làm phim đã tìm đến không ít người để “tổ chức phỏng vấn ghi hình” mong người xem nghĩ rằng họ khách quan, khoa học. Họ đã tìm đến ai ? Trước hết là những kẻ đào tẩu khỏi Tổ quốc, phản bội lý tưởng đã theo đuổi, nhiều chục năm nay không ngừng viết sách, viết báo, lên các đài phát thanh vu cáo, bôi nhọ; đã được các thế lực xấu khai thác đến mòn nhẵn như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần… Những điều xuyên tạc về Hồ Chí Minh chẳng qua là sự lặp lại đến nhàm chán điều họ đã vu cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những cuốn sách của mình nhưng hàng chục năm nay chẳng lừa được ai. Loại người thứ 2 là những “thây ma chính trị” như ông Bùi Diễn, từng là đại sứ tại Mỹ; ông Tôn Thất Thiện, từng là tổng trưởng thông tin trong chế độ cũ. Loại người thứ 3 là những người hoạt động chống cộng khét tiếng hoặc những người có quan điểm chống cộng, lâu nay không ai biết là ai, đột nhiên được dựng lên, được khoác áo nhà nghiên cứu, nhà biên khảo này nọ như các ông Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Trần, Trần Gia Phụng, Minh Võ, Trần Nhân Tuân, Vũ Ngự Chiêu cùng một số người khác, trong đó có một vài nhà báo nước ngoài. Được ghi hình, được nói một vài phút hẳn những người này mãn nguyện nhưng rồi họ chắc sẽ phải xấu hổ vì những điều họ nói để tiếng xấu về sau.

Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam được cả thế giới ca ngợi, ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể chắc không thể hao tổn một chút uy tín nào trước sự vu cáo của những người làm phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”. Tư tưởng Hồ Chí Minh, di sản Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn là ngọn đuốc sáng soi dọi con đường đi tới của toàn dân tộc, đó là chân lý. Rất tiếc cho nhóm làm phim đã cố tình chối bỏ chân lý đó để tung lên mạng những thước phim vừa trái sự thật vừa trái đạo lý thông thường với một vĩ nhân./.

(Theo Báo điện tử ĐCSVN)

Robert S. McNamara

Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara là một huyền thoại trong nội các của tổng thống John F. Kennedy. Một huyền thoại với nhiều giai thoại. Hai giai thoại về McNamara được nhiều sách sử ghi lại có liên hệ đến Chiến tranh Việt Nam. Năm 1961 tân đại sứ Frederick E. Nolting phàn nàn với McNamara là những kế hoạch và đường lối mà Hoa Kỳ muốn VNCH phải làm theo, không phù hợp với văn hóa và lề lối ở Việt Nam. Đại sứ Nolting nói, người Mỹ không thể gắn một đầu máy xe hơi Ford vào cổ xe bò Việt Nam và làm cho nó chạy! Nghe xong, McNamara trả lời, “chuyện đó khó.” “Nhưng chúng ta làm được.”
Sau khi đắc cử, tổng thống John Kennedy cho người liên lạc với McNamara để mời ông tham gia nội các. Kennedy nói McNamara có quyền chọn một trong hai chức vụ: Tổng trưởng Tài Chánh, hoặc Tổng Trưởng Quốc Phòng. McNamara từ chối, nói với người đại diện tổng thống là: ông không biết gì về tài chánh, và lại càng không biết gì về quốc phòng. Kennedy bèn đề nghị: Được, nhận việc hay không, đó là quyền của McNamara. Nhưng có thể nào McNamara đến tòa Bạch Ốc để gặp nhau một lần, vì Kennedy thật sự mến mộ tài năng và tên tuổi của McNamara. McNamara đồng ý và bay từ Detroit, Michigan, về Washington, DC, gặp Kennedy. McNamara thú nhận lần đầu gặp nhau, ông “thích người tổng thống trẻ tuổi này.” (lúc đó McNamara 46 và Kennedy 43 tuổi). Ngược lại Kennedy cũng thích lối nói chuyện thẳng thắn của McNamara. Khi chia tay, Kennedy một lần nữa mời McNamara về phục vụ cho chánh phủ. Về lại Detroit, sau vài ngày suy nghĩ, McNamara viết cho Kennedy một lá thư đồng ý nhận việc. Ông sẽ tham gia nội các Kennedy với hai điều kiện: (a) ông sẽ nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng, và ông muốn toàn quyền bổ nhiệm những phụ tá làm việc cho ông (thường thì phần lớn những phụ tá tổng trưởng đều do tổng thống bổ nhiệm). (b) Trong thời gian làm việc ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ông không muốn tham dự nhiều tiệc tùng do chánh phủ tổ chức hàng tuần, và cũng không muốn xuất hiện ở những tiếp tân có tính cách ngoại giao và xã hội. Nếu cho ông được hai điều kiện đó, thì ông sẽ nhận việc. Và nếu ông tổng thống đồng ý, thì ký tên vào lá thư, gởi lại cho ông. Chữ ký của Kennedy trong lá thư sẽ như là một khế ước giữa hai người. Tổng thống Kennedy đồng ý theo điều kiện của McNamara. Đó là hai giai thoại về McNamara.

*

Robert Strange McNamara sanh năm 1916 tại San Francisco, California. Học bậc cử nhân về môn kinh tế, toán, và triết học ở đại học Berkely; sau đó hoàn tất bậc cao học về quản trị thương mại ở đại học Harvard. Đang là giảng sư về môn kế toán ở trường Harvard thì Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật và Đức năm 1942. McNamara được trường điều động về làm giảng viên cho ngành xác xuất thống kê cho Không Lực Lục Quân (Army’s Air Corps. Đến năm 1947 Hoa Kỳ mới thành lập Quân Chủng Không Quân). Làm giảng viên được một năm, McNamara tình nguyện gia nhập quân đội và được nhiệm chức đại úy, phục vụ cho Không Lực 8 ở Luân Đôn. Đây là lực lượng phụ trách dội bom trên lãnh thổ Đức quốc. Nhiệm vụ của McNamara là nghiên cứu kết quả oanh tạc và điều nghiên phương pháp oanh tạc cho hiệu nghiệm để có thể triệt tiêu kỹ nghệ sản xuất của Đức. Với tài quản trị và lòng háo hức làm việc, McNamara được thăng thiếu tá nhiệm chức không đầy một năm sau. Giữa năm 1944, McNamara được thuyên chuyển về mặt trận Ấn Độ, phục vụ cho Không Lực 20 ở Calcutta. Đây là không lực phụ trách chuyển vận cho quân đội của Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa, và dội bom các căn cứ Nhật ở Đông Nam Á. Nhiệm vụ của McNamara là tiên liệu đường bay, số phi công cần thiết, ước lượng tổn thất, nhiên liệu, và hiệu quả các phi vụ. Dù với “tánh tình kiêu ngạo, nóng nảy, nhưng rất kỷ luật và muốn thấy kết quả,” McNamara chứng tỏ được khả năng với cấp trên. Phương pháp làm việc của McNamara là quan sát và thực hiện mọi kế hoạch qua sự tương quan của xác xuất, thống kê, và lượng định. Với McNamara, những con số là biểu tượng của mọi thực thể. Ở Calcutta, mang lon thiếu tá chưa đầy sáu tháng, McNamara được thăng trung tá.
Sau đệ nhị thế chiến, năm 1946 McNamara cùng 10 sĩ quan thân thiết, đồng gia nhập công ty xe Ford. Với tài quản trị của McNamara, chỉ 14 năm sau, năm 1960, ông được bầu làm Giám Đốc công ty Ford, một chức vụ mà giòng họ Ford chưa bao giờ giao cho người ngoài gia quyến. Năm đó McNamara được 44 tuổi, một trong những giám đốc trẻ nhất của các đại công ty trên đất Mỹ, nếu không nói là trên toàn thế giới. Khi gia nhập nội các Kennedy, McNamara có một phần nào lý tưởng. Ông phải lý tưởng vì sẽ hy sinh nhiều lợi lộc cá nhân để đi làm công chức cho chánh phủ Hoa Kỳ: Lương của Tổng Trưởng Quốc Phòng (TTQP) một năm (năm 1961) chỉ có 25 ngàn mỹ kim. Trong khi lương giám đốc công ty Ford ông đang lãnh là 410 ngàn; cộng thêm vào những tiền thưởng qua chứng khoáng và những hưu bổng khác, lương của ông có thể lên từ hai đến ba triệu mỹ kim một năm. Càng lý tưởng hơn khi ông bỏ lề lối làm việc quen thuộc để đi vào một thế giới hoàn toàn khác lạ. Thế giới thương mại, kinh tế mà McNamara từng quản trị khác với thế giới chính trị và quân sự McNamara sẽ đối diện. Với chức vụ giám đốc một công ty tư, ông có thể đuổi nhân viên lập tức; nhưng một TTQP không thể đuổi tướng lãnh hoặc chính trị gia bất đồng ý kiến với mình một cách dễ dàng.
Nhưng không giống như lúc quản trị công ty Ford, về chỉ huy Ngũ Giác Đài, thanh danh của McNamara bị ô uế. Với lối suy nghĩ chủ quan; với thái độ “tôi nói là phải đúng,” McNamara gây nhiều bất mãn cho giới tướng lãnh ngay những tháng đầu tiên ở Bộ Quốc Phòng. Theo nhiều nhân viên cao cấp có dịp hội họp với McNamara, đôi khi ý kiến và quyết định về quân sự của ông ngây thơ đến độ mắc cỡ được. Nhưng McNamara dựa vào thẩm quyền của chức vụ - và sự tin tưởng tuyệt đối của tổng thống Kennedy và Johnson vào ông - ông buộc các viên chức ở Ngũ Giác Đài phải đi theo kế hoạch của ông. Mới nhiệm chức năm 1961, để tiết kiệm ngân quỹ quốc phòng, McNamara ra lệnh cho Không Quân và Không Lực Hải Quân (Naval Air Force) phải mua cùng một loại oanh tạc cơ, thay vì như trước đây, mỗi quân chủng vẫn thường mua máy bay biến chế theo nhu cầu và chiến thuật riêng của họ. Máy bay của Hải Quân, vì phải đáp trên hàng không mẫu hạm, trọng tấn không được hơn 50 ngàn cân Anh (25 tấn). Trong khi đó, phía Không Quân, vì muốn có khả năng trang bị hai loại bom vừa nguyên tử và quy ước, nên trọng lượng tối thiểu của chiến đấu oanh tạc cơ nặng trên 63 ngàn cân. Hai quân chủng dùng mọi ảnh hưởng để làm áp lực cho McNamara hủy bỏ quyết định. Nhưng McNamara không nhường nhịn. Sau 5 năm phác họa - và nhiều xung đột giữa hai binh chủng Không, Hải Quân, vì bên nào cũng muốn phi cơ được phát họa theo ý riêng - phản lực cơ F-111 ra đời. F-111 kiểu của Không Quân thì “xài” được; kiểu F-111B của Hải Quân, vì quá nặng không thể đáp trên mẫu hạm, nên bị hủy bỏ. Giới chỉ trích (nhất là các đô đốc phụ trách không lực hải quân) coi chương trình F-111 là một thất bại lớn nhất trong các vũ khí chiến lược của Hoa Kỳ. Tên tuổi của McNamara bị nhắc hoài theo thất bại đó. Tuy lúc nào cũng chủ trương tiết kiệm ngân sách quốc phòng, nhưng trong thời gian McNamara ngự trị ở Ngũ Giác Đài, ngân sách quốc phòng hàng năm của Hoa Kỳ bằng tổng số ngân sách quốc phòng của Anh, Pháp, Tây Đức và Ý cộng lại.
Nếu sự lãnh đạo của McNamara ở Ngũ Giác Đài bị giới quân nhân chế nhạo, thì đường lối quản trị của McNamara trong cuộc chiến Việt Nam là một trò hề đối với các tướng lãnh. Năm 1964 ở Thượng Viện, khi một nghị sĩ nói về chiến tranh Việt Nam, và gọi đó là “Cuộc Chiến của McNamara.” McNamara không phản đối, trái lại ông trả lời, “Tôi rất vui khi tên được nhắc chung với cuộc chiến đó. Và tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể làm để thắng.” Nhưng dưới mắt của các tướng lãnh Hoa Kỳ thì McNamara khó thắng được cuộc chiến theo chiến lược của ông ta đưa ra. “Một chiến lược để thua,” tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương, Đô Đốc Grant Sharp, tuyên bố về chiến lược ở Việt Nam của ông tổng trưởng. “McNamara đã lừa dối quân đội; đã lừa dối chúng ta,” Ban Tham Mưu Liên Quân tuyên bố về thái độ ngụy tín của McNamara. Không những sự lãnh đạo và lối suy nghĩ của McNamara làm nhiều tướng lãnh bực tức, McNamara luôn luôn coi thường sự ước lượng và lời cố vấn của các tướng lãnh về kế hoạch quân sự. Sau một thời gian làm việc chung ở Bộ Quốc Phòng, dưới mắt các tướng lãnh McNamara là một tay mơ, chưa biết nhiều về quân sự. Trên lý thuyết, McNamara phải thỉnh cầu ý kiến của các tư lệnh quân binh chủng và Tổng Tham Mưu Trưởng Ban Tham Mưu Liên Quân (TTMMTBTLQ/ Chairman of the Joint Chiefs of Staff) khi quyết định về vấn đề quân sự. Nhưng trong nhiều trường hợp, McNamara đã có định kiến trước; ông chỉ hỏi các tư lệnh một cách lấy lệ. Theo bộ luật National Security Act of 1947, TTMT BTMLQ là cố vấn quân sự cho tổng thống. Theo hệ thống quân giai trong cơ cấu an ninh quốc phòng của Hoa Kỳ: tư lệnh các quân binh chủng trình bày ý kiến cho TTMT. Sau đó TTMT đưa ý kiến lên Tổng Trưởng Quốc Phòng - và Tổng Thống, nếu TTMT được tổng thống mời gặp. Từ đó, vấn đề còn lại là quyết định của tổng thống với sự cố vấn của TTQP. Nhưng dưới thời của McNamara, tổng thống Johnson chưa bao giờ nói chuyện mặt đối mặt với Đại Tướng TTMTBTMLQ, Earle Wheeler, cho đến năm 1966, sau khi Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện đề nghị tổng thống phải mời tướng Wheeler có mặt trong những buổi họp liên quan đến vấn đề quân sự.
Trong suốt thời gian đóng vai cố vấn tối cao về quân sự cho tổng thống Johnson, McNamara dùng mọi thủ đoạn để loại ra những lời cố vấn và ý kiến của các tướng lãnh. Thay vào đó là những ý kiến rất thiển cận, rất hạn hẹp của một cá nhân không biết gì về quân sự (trong ý nghĩa tác chiến và chiến thuật) như McNamara. Sự độc tôn của McNamara trong vai trò cố vấn cho Johnson không phải không có lý do. Sử gia nghiên cứu về thời khoảng Johnson và cuộc chiến Việt Nam giải thích sự thành công của McNamara khi ông vô hiệu hóa ý kiến của những tư lệnh quân đội: đó là thái độ yếu hèn của TTMT Earl G. Wheeler; thái độ “quân vương” của tổng thống Johnson (“imperial president,” ý nói về sự độc tài của Johnson trong các quyết định); và thái độ hai mặt ngụy tín, đi sau lưng của McNamara. Trước mặt BTMLQ, McNamara đồng ý và hứa sẽ chuyển ý kiến của BTMLQ về tổng thống. Nhưng khi họp với tổng thống, McNamara lại trình bày ý kiến của ông, và nói ý kiến đó đã được BTMLQ thỏa thuận - và McNamara có can đảm đóng bộ mặt ngụy tín đó trước công cộng. Một thí dụ: Tháng 6-1967, khi được mời ra tường trình trước Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện, BTMLQ phàn nàn với các nghị sĩ là chiến lược McNamara bắt họ phải thi hành ở Việt Nam không thành công; kế hoạch dội bom từng nấc thì hoàn toàn thất bại. Gần hai tháng sau, quốc hội lại mời McNamara tường trình và hỏi ông nghĩ sao về những báo cáo của BTMLQ. Với tài hùng biện; với những con số ăn khớp, McNamara trả lời cho ủy ban là, lúc nào ông cũng hoàn toàn chấp nhận cố vấn và ý kiến của BTMLQ; và kế hoạch oanh tạc Bắc Việt đem lại kết quả như tiên liệu; và ông sẳn sàng đón nhận thêm ý kiến của BTMLQ! Khi tuyên bố trước quốc hội như vậy, McNamara đã biết mình nói dóc: vì hơn ai hết, ông biết chiến dịch dội bom Rolling Thunder hoàn toàn thất bại. Sau hơn hai năm dội bom, bằng lối đánh bom nhỏ giọt, với phí tổn hơn một tỉ mỹ kim, Hoa Kỳ chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho miền bắc không tới 100 triệu mỹ kim.
Giới quân nhân chuyên nghiệp khinh McNamara không phải không có lý do. Sau khi Robert McNamara cho ra đời quyển hồi ký In Retrospect: The Tragedy and Lesson of Vietnam, điều đáng phỉ nhổ nhất về hành vi của McNamara là ông biết đường lối và kế hoạch của ông về cuộc chiến thất bại, nhưng ông vẫn tiếp tục theo đuổi. Trong sách ông thú nhận ông đã biết cuộc chiến Việt Nam không thể thắng về quân sự từ cuối năm 1966; ông nói tại vì Hoa Kỳ không có đủ chuyên viên về Đông Nam Á để hướng dẫn chánh phủ trong cuộc chiến.… Nhưng đáng khinh nhất là ông phủ nhận tất cả những quyết định của ông về Việt Nam. Quyển hồi ký của McNamara không có gì mới hay lạ: Năm 1971 khi Tài Liệu Ngũ Giác Đài được phổ biến trên báo chí, dân chúng và quân đội rất oán giận McNamara. Họ trách ông là từ những năm 1965-66, khi ông đã biết cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến không thể thắng - nếu Hoa Kỳ không đủ quyết tâm để thắng - thì tại sao một năm trước khi ông từ chức, ông vẫn còn thúc đẩy quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến mà chính ông là người thiếu tinh thần quyết chiến để đánh. Năm 1984, khi được trát mời ra tòa như một nhân chứng trong vụ kiện Westmoreland vs CBS, một trong những lời khai của McNamara là, “cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến không thể thắng từ năm 1965, 1966.”
Dù được Robert Kennedy gọi là “Người đáng sợ nhất trong nội các vì tài hùng biện, và thuyết phục,” nhưng chỉ đến giữa năm 1965, một số cộng sự viên hay viên chức giao thiệp với McNamara, đã nhận ra tư cách và tánh tình không thành thật và dối trá của McNamara. Lần lần, nhận xét chung từ báo chí, Bộ Ngoại Giao và BTMLQ là: đừng tin những gì McNamara nói.
McNamara là người háo hức, muốn giải quyết cuộc chiến Việt Nam theo kinh nghiệm quân sự rất non nớt của ông. Trong cuộc chiến Việt Nam - một cuộc chiến không thể tính theo xác xuất thống kê - McNamara cố gắng định lượng một vấn đề không thể lượng định được. Nhưng ông từ chối, không nhận đó là lỗi lầm của mình của mình cho đến hơn 25 năm sau. Tháng 11 năm 1964, sau khi Johnson đắc cử tổng thống, một người bạn gọi McNamara và khuyên ông nên từ chức để trở về đời sống dân sự như xưa. McNamara trả lời không. Ông muốn ở lại với chánh phủ để thấy cho xong cuộc chiến Việt Nam. Một lần nữa, McNamara tính sai: McNamara bỏ cuộc trước khi cuộc chiến chấm dứt; và gần 10 năm sau, với thêm 29.000 xác chết của quân nhân Mỹ, cuộc chiến Việt Nam mới “xong” - trong quan điểm của Hoa Kỳ.

- Nguyn Kỳ Phong

Bài Xem Nhiều