We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 23 August 2009

Ðã Ðến Lúc Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại Cần Có Một Lãnh Tụ



Một lòng vì nước, vì dân

Một lòng vì nợ tang bồng năm xưa

( Xin tặng cho những nhà tranh đấu không mỏi mệt vì tha nhân)


Người Việt lưu vong hay tha hương ra nước ngoài thấm thoát đã 34 năm, thời gian đủ để gầy dựng một thế hệ thứ hai đầy đủ trí tuệ và bản lãnh Việt Nam, lớp tre già măng mọc có đồng bộ nhưng chưa hoàn toàn đồng sàn, sự phân hóa trong cộng đồng làm giới trẻ có cái nhìn thiên kiến đối với lớp người đi trước, chưa có một nhân vật tầm cỡ nào có thể đứng lên đại diện cho sức mạnh cộng đồng người Việt tỵ nạn làm cho các nước có người Việt định cư phải chú ý lắng nghe, thời gian đã chín muồi, đã đến lúc cộng đồng Việt Nam cần có một lãnh tụ để thống nhất tinh thần quốc gia và lãnh đạo cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cho đồng bào trong nước.

Chưa có một sắc dân nào tại Hoa Kỳ mà có lòng yêu nước hào hùng và kiên trì như cộng đồng người Việt Nam, chưa có một sắc dân nào mà thành tựu rực rở một cách nhanh chóng như cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ. Con số trên 300,000 trí thức trong số 1,5 triệu người Việt, còn nhiều hơn cả nước Việt Nam cộng sản với dân số trên 80 triệu người. Người Việt thành công và góp mặt trên hầu hết các lãnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội, và cả không gian nửa. Ðặc biệt là giáo dục, có rất nhiều giáo sư đại học người Việt có mặt tại các trường đại học nổi tiếng Hoa Kỳ. Nhưng tại sao tiếng nói của cộng đồng Việt Nam ít được chính giới Hoa Kỳ tôn trọng, và những gì mà họ hứa hẹn với ta hoàn toàn có tính cách chiếu lệ. Một thí dụ, trước khi qua Việt Nam tham dự hội nghị OPEC năm 2007, Tổng Thống Bush không mời cộng đồng mà mời 4 đại diện đảng phái và tổ chức đấu tranh vào họp để lắng nghe ý kiến đề nghị. Rồi năm sau, trước khi Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt cộng qua thăm Hoa Kỳ, ông Bush cũng mời vài tổ chức đấu tranh và đảng phái vào họp tại Tòa Bạch Ốc. Cho vui vậy thôi. Có thấy đề nghị về nhân quyền nào của ông Bush được Việt Nam lắng nghe và sửa chữa đâu. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta chưa có một lãnh tụ tầm cỡ làm cho Hoa Kỳ phải biết lắng nghe, và áp lực thực sự với Việt cộng.

Ông Bush không thèm mời cộng đồng Việt Nam mà chỉ mời các thành phần kể trên, chứng tỏ ông ta "doesn't care" cộng đồng Việt Nam, và những gì mà chính phủ Hoa Kỳ làm đều là vì quyền lợi của Hoa Kỳ cả. Nói ra xin đừng tự ái. Nên nhớ điều này. Cộng đồng Việt Nam bị phân hóa và có nơi bể làm đôi, ai cũng muốn làm lãnh tụ cả. Tại Hoa Kỳ có hai tổ chức nhất định đòi đại diện cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, một tổ chức nằm ở Houston thì không nghe nói có cộng đồng nào tham gia, còn tổ chức kia hiện nay ở New York có khoảng 40 cộng đồng. Chưa thấy hai cộng đồng này làm được điều gì ngoạn mục thuyết phục được chính giới Hoa Kỳ cả. Có hai tổ chức Tổng đại diện cho quân đội hoạt động giống nhau, một ở Houston gọi là Tổng Hội Cựu Chiến Sĩ không có quân, và một ở San Jose gọi là Tập Thể Cựu Chiến Sĩ tuy có quân nhưng không thấy có hoạt động nào khả dĩ thống nhất anh em quân đội được. Có hai Tổng hội sĩ quan Thủ Ðức, một ở New Jersy có quân và chịu họp hợp nhất, một ở Canada không có quân nhưng tự ái đùng đùng không chịu họp thống nhất tình đồng môn. Ngay trong các hội học sinh trung học, có nơi cũng bể đôi. Tôn giáo thì còn đau lòng hơn nửa, nhiều nơi bị chia đôi, thậm chí chia ba nửa. Ðặc biệt, đã có lúc tại nam California có hai tổ chức kiểu chính phủ cùng song song tồn tại, một của ông Nguyễn Hữu Chánh hoạt động một thời gian khá dài rồi tự rút lui gần đây, và một của ông Ðào Minh Quân hoạt động mổi năm đúng một lần, chỉ vào dịp Tết, đó là lên chúc Tết đồng hương, rồi thôi. Ở Little Saigon, có lúc có đến 03 tổ chức đại diện cho cộng đồng Việt Nam nam California, và một của bà Mai Công hoạt động chuyên về xã hội tại Quận Cam. Người Mỹ địa phương cũng khôn lắm, đi cốc phiếu thì đến ba cộng đồng kia, còn yễm trợ ngân sách hoạt động xã hội thì cho cộng đồng của bà Mai Công. Kẻ viết bài này đã có lúc cùng một thời gian, chạy show phóng sự về tin tức hoạt động của cả ba cộng đồng nói trên, rất đông vui hao.

Thực sự mà nói, chính giới Hoa Kỳ nhiều khi muốn nói chuyện với cộng đồng cũng không biết tìm ra ai là người đại diện thực sự có uy tín đối với cộng đồng để mà bàn việc lớn, mời ông A thì thế nào cũng bị bà B móc, mời đảng C thế nào cũng bị tờ báo D móc. Có nhiều người đã ví von rằng tại Việt Nam ta có truyền thống chia rẻ từ thời lập quốc, có 100 người con lại chia đôi, nửa lên núi theo cha, nửa xuống biển theo mẹ, nhưng dầu xuống biển hay lên núi gì cũng là Việt Nam, lúc quốc biến thì đoàn kết đấu tranh dành lại độc lập dân tộc như Hội Nghị Diên Hồng đời Nhà Trần, cho nên dân tộc Lạc Việt vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, và người Việt lưu vong ra nước ngoài mặc dù có lúc chống nhau, nhưng vẫn mang chung một khát vọng dân tộc trường tồn, tự do dân chủ.

Các tổ chức đấu tranh hay cộng đồng đều là người tỵ nạn, đều muốn đặt tinh thần quốc gia lên hàng đầu và tranh đấu cho tự do dân chủ cho quê hương là mục tiêu chính. Nhưng mạnh ai nấy làm, đôi khi còn dẵm chân lên nhau nửa. Nhưng đặc biệt, mặc dù có bất đồng, nhưng không bất hòa lâu làm trở ngại công cuộc tranh đấu chung. Nhiều khi có việc lớn, thì hai cộng đồng cùng danh xưng người Việt quốc gia tạm ngưng chống nhau, và tạm ngồi lại với nhau, chống cờ máu như vụ Trần Trường tại Bolsa năm 1999. Nhiều khi họ bỏ cả công ăn việc làm để đi biểu tình, tranh đấu, tất cả chỉ vì tha nhân. Người hiểu được việc này thì ít mà chỉ trích thì nhiều.

Tấm lòng của người Việt quốc gia thật bao la, họ chấp nhận mọi chỉ trích để tranh đấu tõ tấm lòng đối với quê hương. Nhưng đa số các cuộc tranh đấu đều rời rạc, khi cần mới có tham mưu vẽ ra kế hoạch, chứ chẳng có chuẩn bị gì trước cả, thấy đâu đánh đấy, nghe tin phái đoàn cộng sản đến đâu thì nơi đó mới lên kế hoạch đối phó, nên luôn ở thế bị động. Chúng ta có hàng ngàn Gia Cát Lượng, nhưng không có một lãnh tụ Ðinh Bộ Lĩnh thống lãnh quần hùng. Tại sao vậy.

Nếu bây giờ có ai mớm ý, cử ông X làm lãnh tụ thì ngay hôm sau sẽ có hàng tá ý kiến bơi móc, bới bèo ra bọ trên internet hay trên báo chí ngay. Cái khó của cộng đồng Việt Nam là ở chỗ này. Nhân vô thập toàn, không thể lấy khuyết điểm của người này trong quá khứ mà kết luận bản chất được.. Ai cãm thấy mình không có tội hảy ném đá người đàn bà này trước, không có ai dám ném đá cả. Nhưng trong cộng đồng ta, hể mà ai mới nổi lên một chút thôi tất sẽ bị người khác kéo xuống. Tình trạng này đang xảy ra trong cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Vậy thì đến bao giờ chúng ta mới có lãnh tụ.

Ðã đến lúc chúng ta phải tìm ra một lãnh tụ, dầu có tam cố thảo lư cũng phải tìm cho được, đừng sợ chống đối. Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẫn, vừa đại diện Việt Nam Cộng Hòa vừa lên tiếng kêu gọi cộng đồng và các tổ chức đấu tranh ký vào tuyên cáo lãnh hải Việt Nam đệ trình cho Liên hiệp Quốc trước ngày 13/5/2009, thì lập tức có gần 300 tổ chức đấu tranh, cộng đồng các tiểu bang, đảng phái, tôn giáo, cựu tướng lãnh, cựu dân biểu nghị sĩ, cựu viên chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, và một số ít nhân sĩ lập tức hưởng ứng. Rõ ràng những nhân vật ký tên này đủ mọi thành phần của một quốc gia. Không phải họ tuyên dương ông Nguyễn Bá Cẩn lên làm lãnh tụ, nhưng mà vì ông Cẩn xuất hiện đúng lúc chúng ta cần người đại diện chính thức khiếu nại vụ biển đông với Liên Hiệp Quốc, thế mà có kẻ còn xuyên tạc nói là làm hộ cho Việt cộng. Rồi hai ngày sau khi ông Nguyễn Bá Cẫn đã nằm xuống, một tờ báo net cũng không tha, quên mất câu nghỉa tử là nghỉa tận của người Á đông, bơi móc ông Cẩn với mục đích chính là "chửi xõ và làm mất danh dự của các hội đoàn và tổ chức đã tham gia ký tên vào tuyên cáo này nhiều hơn là bơi móc ông Cẩn". Sự kiện này cho chúng ta thấy những kẻ có tâm huyết thường bị đánh phá chụp mũ, với mục đích chính là"Làm Cho Cộng Ðồng Việt Nam Không Thể Nào Có Một Lãnh Ðạo Thực Sự", cũng giống như các cuộc bầu cử dân biểu nghị sĩ quốc hội hay tại California, bất cứ người Việt nào ứng cử cũng đều bị chính truyền thông báo chí của người Việt đánh phá với mục đích chính là "Làm Cho Cộng Ðồng Việt Nam Không Có Ðại Diện Chính Thức Trong Quốc Hội Tiểu Bang Hoặc Liên Bang". Cộng đồng Việt Nam muốn có người lãnh đạo, muốn có đại diện trong các cơ quan chính quyền và quốc hội; và những kẻ phá thối vẫn bới bèo ra bọ để đánh phá với mục đích gì đây thì ai cũng rõ.

Trường hợp lớn nhất mà cộng đồng Việt Nam bầu hoặc tìm ra được một lãnh đạo, rồi vị này bị đánh phá, tự nhiên tất cả chúng ta đều biết được kẻ đánh phá là ai, phục vụ cho ai? Chỉ -có -Việt cộng - mới- sợ -chúng -ta -có -lãnh -tụ -nên -mới -cho -tay -sai -đánh -phá -hoặc -ngăn -chận, không cho người Việt quốc gia có người lãnh đạo tranh đấu chống lại bọn chúng. Chẳng lẽ người Việt quốc gia muốn quang phục quê hương lại không muốn có lãnh tụ giương ngọn cờ đại nghỉa à? Việt cộng đã và đang âm mưu chia rẽ cộng đồng và các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, qua nghị quyết 36, vì thế đã cho tay sai ngăn chận, bàn ra không cần lãnh tụ, bôi nhọ các nhà tranh đấu, và rất "ngây thơ cụ" đề nghị cộng đồng chờ cho...minh chúa tự nhiên xuất hiện!!! Những điều này đích thị phục vụ cho một âm mưu chia rẽ những nhà đấu tranh với cộng đồng, và làm cho những người có tâm huyết nãn lòng không muốn ra giúp nước. Ðừng lo, ở hải ngoại này, tất cả ai mà nổi tiếng thì trước sau đều bị xuyên tạc hoặc chụp mũ, và đã có một câu nói có thể gọi là rất chính xác để minh chứng cho điều này là "Ai mà nổi tiếng, ai tranh đấu mà không bị chụp mũ thì chưa trưởng thành". Không một lãnh tụ ở cõi thế gian này mà hoàn toàn được (No one is perfect. Nhân vô thập toàn). Bọn phản động cứ ra chiêu bài đánh phá, và chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn cứ đi.

Sự kiện gần 300 tổ chức, đảng phái, tôn giáo, hội đoàn đấu tranh, mà trong đó có cả nhiều tổ chức cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, chịu ký tên chung trong tuyên cáo lãnh hải, là hi hữu và độc đáo nhất trong lịch sử tỵ nạn của cộng đồng Việt Nam. Ðây rõ ràng nói lên cái khao khát có một lãnh tụ phát ra hiệu lệnh thiên hạ, chứ không phải tại vì có A hoặc ông B. Tổng hợp mạnh nhất tinh thần bất khuất của người Việt hải ngoại để tranh đấu cho sự tồn tại của một quốc gia, là một việc cần phải làm, mặc dù đã 34 năm trôi qua nhưng không quá trễ để có người lãnh đạo cộng đồng.

Tình hình Việt Nam hiện nay đang sôi sục như một hỏa diệm sơn sắp sửa phun lửa, lửa beauxite tây nguyên, lửa đông hải, và lửa bạo quyền đàn áp tôn giáo. Qua vụ bauxite, Việt cộng đã tuyên chiến với giới trí thức Bắc Hà, với các cựu công thần nhà nước. Qua vụ bán biển đông, Việt cộng đã tuyên chiến với giới Luật sư và những người trẻ yêu nước. Qua vụ đàn áp giáo dân Tam Tòa, đánh trọng thương hai vị linh mục tại Ðồng Hới, gây ra phẩn nộ dây chuyền với 500,000 giáo dân biểu tình hoặc hiệp thông cầu nguyện. Việt cộng luôn coi tôn giáo là thuốc phiện, Việt cộng không sợ những cuộc đấu tranh lẽ tẻ, nhưng sợ nhất là tôn giáo nổi lên tử vì đạo, nên tôn giáo bị đàn áp mãnh liệt nhất.

Toàn dân đã và đang sôi sục căm hờn cả Việt cộng lẫn Trung cộng về việc Việt cộng đàn áp tôn giáo, dâng Tây Nguyên và biển đông cho quan thày. Còn Trung cộng thì hầu như nắm toàn bộ kinh tế Việt Nam và tiếp tục khiêu khích biển đông, vạn bất nhất mà chiến tranh xảy ra thì cộng đồng người Việt hải ngoại không thể ngồi yên trước việc Trung cộng xâm lược Việt Nam. Rồi thì mạnh ai nấy quyên tiền trợ giúp chống Trung cộng, và đồng hương vì lòng yêu nước sẳn lòng mở hầu bao mà không bao giờ biết số tiền quyên góp sẽ đi về đâu. Phải có một lãnh tụ mới quyết định được đường lối đúng đắn cho cuộc đấu tranh sắp đến, mà nó có thể sẽ giống hệt như quốc gia và Việt minh cộng sản hiệp lực chống thực dân Pháp trước năm 1954, nay thì biết đâu lại dám rơi vào cái thế bắt buộc phải hiệp lực với...Việt cộng chống bá quyền Trung cộng (bất cứ một nổ lực nào chống Trung cộng trong lúc bọn khát máu này đánh nhau với đệ tử là Việt cộng, rất dễ bị bọn Việt gian tay sai chụp mũ là bắt tay với Việt cộng). Chỉ có một lãnh tụ sáng suốt, đại diện cho toàn thể đồng hương hải ngoại, đề ra một quyết sách, trưng cầu dân ý, mới giải quyết được vấn nạn đau đầu này, mà không bị lịch sử phê phán là bắt tay với Việt cộng. Không có lãnh đạo thì rất khó thực hiện thành công các cuộc tranh đấu phức tạp như trên (vẫn còn đó kinh nghiệm máu xương việc cộng sản lúc yếu thì kêu gọi quốc gia hợp tác chống Pháp, xong rồi bọn chúng ra tay tiêu diệt các lược lượng quốc gia để độc quyền thống trị dân ta)

Chúng ta hiện nay có hàng ngàn chứ không phải hàng trăm tổ chức hoặc liên minh có cùng mục đích chống độc tài cộng sản đem lại tự do dân chủ cho đồng bào trong nước, mạnh ai nấy ra tuyên cáo, rõ ràng không có sức mạnh tổng hợp. Có nhớ đệ nhất cộng hòa đã kết hợp được quân đội các giáo phái trở thành quân đội quốc gia hay không? Nếu có lãnh tụ thì chắc chắn có thể kết hợp tất cả các hội đoàn thành một sức mạnh tổng thể, cùng một chí hướng, cùng một tinh thần, cùng một kỷ luật giống như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một thí dụ về lãnh tụ cộng đồng Tây Tạng lưu vong, ông đi đến đâu đều được các quốc gia kính trọng. Tại sao chúng ta không có được một lãnh tụ như vậy, trong khi chúng ta đã làm được một điều kỳ diệu là ngăn cản không để lá cờ đỏ khát máu xuất hiện bất cứ nơi nào tại Hoa Kỳ, tại Canada hoặc tại Úc châu. Ðặc biệt hơn nữa là "cộng đồng người Việt quốc gia" tại Pháp hầu như đã "đồng hóa" được cái "cộng đồng người Việt thiên tả" mà Nguyễn Dy Niên, cựu bộ trưởng ngoại giao Việt cộng gọi là "Binh chủng đặc biệt" vốn có cảm tình với Việt cộng trước năm 1975 tại Paris. Sau ngày Việt Nam bị nhuộm đỏ cả nước, đồng bào vượt biên đến Pháp khá nhiều, bọn thiên tả mới sáng mắt ra, rồi lần lần chịu phép, và cờ máu tự nhiên không còn nữa, chỉ thấy rừng cờ vàng xuất hiện trong các cuộc tranh đấu và các ngày lễ lớn. Mặc dù Việt cộng là thành viên của Liên Hiệp Quốc, nhưng tại hầu hết các nước tự do, thì cờ vàng lại làm bá chủ, điều kỳ diệu này chỉ có chúng ta thực hiện được so với các cộng đồng ngoại quốc cùng cảnh ngộ mất nước như chúng ta.. Trong cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm tại New York, cờ Ðài Loan xuất hiện yếu ớt bên cạnh rừng cờ Trung cộng, trong khi không có một lá cờ máu nào của Việt cộng được phép xuất hiện ngoại trừ rừng cờ vàng của cộng đồng Việt Nam. Chính nghỉa quốc gia đã thắng lớn tại hải ngoại, nơi nào có cờ vàng thì không có cờ đỏ, nơi nào mà cờ đỏ lén lút xuất hiện thì trước sau cũng bị dẹp. Tại sao tinh thần quốc gia lên cao như vậy, mà chúng ta không có lãnh tụ biết phát huy sức mạnh này để giúp nước?

Không thể đòi hỏi một lãnh tụ phải pure, phải hoàn toàn perfect được, vì nhân vô thập toàn mà. Chúng ta chỉ cần có một lãnh tụ có uy tín, có khả năng, và một tình thần quốc gia vững chắc là được rồi. Một tổ chức có uy tín, đại diện thống nhất cho người Việt tại Hoa Kỳ là khả hữu. Nhưng ai là người dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm trọng đại này đây?

Ðã đến lúc các tổ chức cộng đồng, các đảng phái chính trị, các hội đoàn đoàn thể, và các nhân sĩ cần phải ngồi lại với nhau, để tìm hay bầu ra một lãnh tụ. Vị lãnh tụ này sẽ lập ra một ban tham mưu hay một ban chấp hành theo luật lệ sở tại, nếu không tiện mang danh xưng nội các. Nếu chúng có một lãnh tụ có tinh thần quốc gia, có uy tín trong cộng đồng và chính giới Hoa Kỳ, thì sẻ giải quyết được hàng núi công việc của chúng ta tại hải ngoại. Thí dụ kêu gọi toàn thể đồng hương ghi danh và đi bỏ phiếu, đại diện cộng đồng Việt Nam hải ngoại yêu cầu Liên Hiệp Quốc áp lực Hà Nội ngưng đàn áp đồng bào trong nước, kêu gọi liên tục với Liên Hiệp Quốc về vấn đề Trung cộng âm mưu chiến biển đông làm của riêng, lên tiếng kêu gọi các nơi về Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế hàng năm do cộng đồng New York đứng ra tổ chức, kêu gọi không du lịch tại Lâm Ðồng và Ðăk Nông để tránh bị ung thư bauxite, hoặc xin chính quyền tiểu bang trợ cấp sinh hoạt cho các trung tâm sinh hoạt cộng đồng giống như của bà Mai Công ở Quận Cam một năm được cấp hàng trăm ngàn Mỹ kim...(Hiện nay các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia hầu như không xin fund được, mà chỉ có các hội cao niên mới có chút ít fund từ liên bang).

Có rất nhiều vấn đề cộng đồng mà chỉ có một lãnh tụ xuất sắc và một ban tham mưu tài giỏi mới làm được hoặc giải quyết được. Không thể nói rằng 34 năm qua chúng ta vẫn sống, vẫn làm nhiều việc có ích cho quê hương và đồng bào bên nhà mà, đâu cần có lãnh tụ đâu. Nên nhớ, chúng ta là cộng đồng tỵ nạn, vì tự do nên mới lưu lạc ra xứ người, chúng ta đã từng quyên góp cho kháng chiến, đã từng quyên góp cho thương phế binh, đã từng đi biểu tình "Giương Ngọn Cờ Vàng Hạ Cờ Máu" khắp nơi trên thế giới. Nhưng đấu tranh mà không có lãnh tụ thì sức mạnh kia bị chia năm xẻ bảy vì đánh tùm lum, giống như đánh vào không khí, như những vết cào sướt vô hại trên lưng kẻ thù, còn tổng hợp được sức mạnh sẽ như mủi dao toàn lực đâm thẳng vào tim địch.

Cứ nhìn cộng đồng Do Thái tại Hoa Kỳ mà biết được sức mạnh của họ, tại sao mà Hoa Kỳ phải hết lòng bảo vệ Do Thái tại Trung Ðông, vì người Mỹ gốc Do Thái ảnh hưởng nhiều lãnh vực tài chánh và ngân hàng của Hoa Kỳ, và lãnh đạo cả Hollywood nữa.

Cộng đồng chúng ta mạnh sẽ làm các dân cử địa phương áp lực được chính phủ trung ương thật sự giúp chúng ta, chứ không phải hứa miệng để lấy phiếu trong các kỳ bầu cử. Cộng đồng chúng ta có lãnh đạo uy tín thì chắc chắn cựu Tổng Thống Bush đã phải can thiệp không ít thì nhiều cho các nhà tranh đấu được thả ra khỏi ngục tù cộng sản. Nên nhớ một năm Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam hơn một tỷ đô, viện trợ hoặc huấn luyện cho tất cả các sinh hoạt mang tính quốc gia tại Việt Nam về đủ môi phương diện, kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, hành chánh, quốc hội, và cả quốc phòng nữa. Nội việc giao thương với Hoa Kỳ, nhập siêu của Việt Nam năm 2008 đã lên đến hơn 10 tỷ đô. Hoa Kỳ hiện nay là nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, và Hoa Kỳ là nơi mà Việt Nam xuất cảng nhiều nhất so với các quốc gia khác, có thể áp lực một số vấn đề nhân đạo được chứ?

Chúng tôi xin nêu một thí dụ về sức mạnh của cộng đồng nếu chúng ta có một lãnh tụ có tầm cở, để yêu cầu Tổng Thống Obama áp lực Việt Nam thả Luật sư Lê Thị Công Nhân, Luật sư Nguyễn Văn Ðài, và Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nếu không thì toàn thể cộng đồng chúng tôi sẽ bỏ phiếu cho đảng cộng hòa vào kỳ bỏ phiếu tới. Nếu chúng ta có một lãnh tụ có khả năng, được cộng đồng thương yêu và tin tưởng, thì khi vị này lên tiếng kêu gọi về một nguyện vọng chính đáng có lợi cho chúng ta, hay cho đồng bào ở quốc nội, thì chắc chắn đồng hương sẽ ũng hộ nguyện vọng này hết mình như đã làm trong quá khứ. Chúng ta sẽ diễn tập một lần về việc "chỉ bỏ phiếu cho một đảng thì sẽ biết hiệu quả ngay". Hảy tưởng tượng nguyên cả đảng dân chủ không có một lá phiếu nào của người Việt vào năm 2010, thì liệu bà Loretta Sanchez hay ông Lou Correa có hộc tốc bay về Washington DC vấn tội ông Obama hay không? Theo tình hình hiện nay, chúng ta chưa thể làm điều này, vì không có một lãnh tụ tầm cở có thể ban hiệu lệnh thiên hạ, nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra người này.

Người làm việc lớn thì thường bỏ qua những tiểu tiết, kẻ làm việc nhỏ thì lại chú ý những tiểu tiết này để chống phá, nên chúng ta chưa có được một lãnh tụ. Nhưng ra ngõ gặp anh hùng là tục ngữ nói về truyền thống bất khuất của dân tộc ta, khi bị trị tự nhiên xuất hiện vị cứu tinh của dân tộc. Canh khuya không dám dang chân ngủ - Vì sợ sơn hà xã tắc xiêu. Hai câu thơ khẩu khí này của Lý Công Uẫn lúc làm chú tiểu trong chùa, sau này trở thành vua, lãnh đạo dân chúng đánh tan quân Tống xâm lược nước ta. Anh hùng xuất thiếu niên, vị lãnh tụ của cộng đồng Việt Nam có thể là lớp người trẻ, cũng có thể là thế hệ thứ nhất, vị này sẽ làm các công việc chắc chắn lớn hơn và không dẫm chân lên các công việc mà các cộng đồng địa phương đang làm, nhưng người này có uy tín thì sẽ có khả năng hợp nhất cộng đồng và đoàn thể lại không còn đấu đá nhau nữa, hợp nhất lại các tổ chức quân đội, không để tại một địa phương mà có đến hai lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6 như tại San Jose nữa. Vị lãnh tụ này chắc sẽ có khả năng hoà giải những bất đồng, và thống nhất sức mạnh tập thể để làm các công việc chung, giống như Ðinh Bộ Lĩnh ngày xưa thu phục 12 sứ quân vậy.

Hãy lấy vụ nộp hồ sơ hải đảo cho Liên Hiệp Quốc tháng 5 vừa rồi mà làm tiền đề cho việc tìm người lãnh đạo. Ðây là một vấn đề serious và có thể, chứ không phải là không tưởng. Hãy nhớ lại gần 50,000 đồng hương già trẻ lớn bé ngồi lại với nhau tay vẫy cờ vàng trong một đêm cao điểm đấu tranh 53 ngày chống cờ máu trong vụ Trần Trường năm 1999 tại Bolsa, Little Saigon, thủ phủ của người Việt lưu vong. Hãy nhớ hàng triệu Mỹ kim mà đồng hương nức lòng quyên góp cho thương phế binh trong những đại nhạc hội gây quỹ hàng năm. Hãy nhớ hàng chục triệu đô la mà đồng hương quyên góp cho kháng chiến, dầu cho thực chất cuộc kháng chiến này dzõm và để lại quá nhiều tai tiếng, nhưng đây là một quyết tâm đoàn kết vô bờ bến, vì dân vì nước của người Việt quốc gia mà nhiều đời sau sẽ còn nhắc nhở.

Bài này chúng tôi viết ra hoàn toàn không đề cao người nào, chỉ trích ai, không lobby ai, chỉ nêu một số thí dụ có thực đã xảy ra trong quá khứ của cộng đồng Việt Nam mà ai cũng biết rõ ràng, mong quý vị đóng góp ý kiến để tìm ra một người lãnh đạo chung, có như thế chúng mới không phải hy sinh nhiều thời gian, nhiều công sức mà chỉ đạt được những kết quả nhỏ nhoi.

Song Hoài

Trở Về Quê Hương

Rồi mai đây, ta về quê hương
Lặng nhìn sông núi tỏ niềm thương
Ðàn con viễn xứ nay về Tổ
Dựng lại quê hương, phá ngục tù

Nước non chinh chiến tự ngàn thu
Chẳng thấy yên vui chỉ hận thù
Giặc từ ngoài Bắc vào xâm lấn
Chồng chất bao nhiêu nợ máu xương

Rồi mai đây, ta về quê hương
Cờ vàng ba sọc đỏ yêu thương
Bay trong nắng ấm tình dân tộc
Rạng tiếng hoan ca khắp phố phường

Rồi mai đây, ta về quê hương
Hòa cùng cây cỏ thở hơi sương
Nén hương thắp lại mồ chiến sĩ
Ðể nhớ ơn xưa thuở chiến trường

Ðể cùng Thương Tiếc bao đời lính
Vị quốc vong thân để tiếc thương
Rồi mai đây, ta về quê hương
Hồn lâng lâng nhẹ gót phong sương

Cho đời thôi bớt sầu ly xứ
Trả mộng tang bồng đỡ vấn vương.

Để Trò Hề ‘Nhận Tội’ Từ Nay Không Còn Sân Diễn!

Để Trò Hề ‘Nhận Tội’ Từ Nay Không Còn Sân Diễn!
Alfonso Hoàng Gia Bảo



Như chúng ta đã biết, chỉ trong vòng hai tháng qua đài truyền hình Việt Nam VTV đã có tới hai lần ‘hào phóng’ hy sinh giờ phát sóng ‘vàng ngọc’ vào đầu các buổi tối, để trình chiếu cho khán giả cả nước xem những thước phim “cúi đầu nhận tội” của “lũ phản động”. Lần đầu là hạ tuần tháng Sáu với Ls.Lê Công Định và mới đây nhất là vào ngày 19/8 với các anh Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim.

Nhưng đúng như những gì người ta thường nói “cái gì cũng có giá của nó”. Sự chịu thiệt của VTV đã tỏ ra chẳng hề uổng phí chút nào, khi mà ngay sau cả hai lần phát sóng, lập tức trên khắp các diễn đàn, tên tuổi các ‘diễn viên’ chính của hai đoạn phim trên, nhất là Ls.Lê Công Định, đã phải hứng chịu bao cơn ‘phẫn nộ’ từ khắp nơi vì anh đã khiến họ bị thất vọng. Còn đối với dân chúng trong nước thì xin… miễn bàn! Vì chỉ với thứ thông tin ‘lề phải’ họ càng giận dữ chửi rủa Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung thậm tệ.

Mới hai hôm trước tình cờ gặp lại anh bạn giáo sư đại học, trong lúc chuyện trò anh bỗng nhắc đến bản tin ‘nhận tội’ trên VTV rồi kết luận bằng câu ‘trách yêu’: “sao chúng nó thằng nào nào nấy học hành giỏi giang, vợ đẹp con ngoan, nhà ở Phú Mỹ Hưng, công ăn việc làm ngon lành tương lai sáng sủa như thế mà tại sao lại đâm đầu đi làm những chuyện hết sức dại dột … mình mà được một góc của ‘thằng’ Lê Công Định cũng hạnh phúc lắm rồi, chẳng còn muốn gì hơn !!! ”

Kể ra chuyện này như thế để chúng ta thấy tác động của những đoạn phim ‘nhận tội’ ấy đã “thành công mỹ mãn” ra sao!

1./ Nhập nhằng hai chữ ‘nhận tội’

Đài RFA hôm 21/9 cho biết một thành viên của diễn đàn X-càfé có nick là Nguoiviet83 than thở: “Híc, chán quá! … Ngày mai không biết ăn nói thế nào với lũ bạn cùng công ty đây, lỡ nói với chúng nó về Nguyễn Tiến Trung giống như một người anh hùng rồi…! híc”

Thật tội nghiệp! ‘Nguoiviet83’ chắc là nickname của một em nhỏ tuổi đời chỉ mới ngoài 20. Còn non nớt, suy nghĩ ‘chưa tới’, thôi thì sự sụp đổ ‘thần tượng’ như thế đối với chúng ta cũng không là điều gì quá khó hiểu. Nhưng trong ‘cơn lốc’ phẫn nộ và thất vọng chúng ta còn thấy thấp thoáng những tên tuổi khá quen thuộc từng có những quan điểm nhận định có vẻ am hiểu thời cuộc nghe rất chững chạc. Thậm chí có người từng bị đi tù trước đây nhưng chưa để lại ‘tì vết’ gì về nhận tội nay nhân cơ hội này tự ngầm tâng bốc mình bằng cách ra điều chê trách các vị trên là ‘hèn quá! yếu vía quá, thế mà đòi làm chính trị chính em v.v…”

Vâng, đúng là họ có lý khi chê trách! Vì ngay cả lúc này đây, ít ra cũng đang có tới 2-3 cái ‘tượng đài’ đấu tranh khác như Lm.Nguyễn Văn Lý, Ls.Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài vẫn cứ sừng sững mà không thấy dấu hiệu nào họ sẽ ‘nhận tội’. Đó là sự thật và chúng ta cũng cầu chúc họ tiếp tục giữa được ý chí vững vàng ấy.

Tuy nhiên, cũng xin mọi người đừng quên nguyên tắc suy luận căn bản về mối tương quan giữa hiện tượng và bản chất sự việc sau đây:

Việc chúng ta không thấy (hay chưa thấy) không nghe (hay chưa nghe) ai đó ‘nhận tội’ hoàn toàn không đủ căn cứ cho chúng ta biết khi còn ở trong tù trước đây (hoặc hiện nay) họ có bị ép phải ‘nhận tội’ hay không? Và nếu có, thì mức độ bị gây áp lực ấy ‘ghê gớm’ tới cỡ nào? Và vì thế, nếu chúng ta có ‘lỡ’ thấy ai đó ‘nhận tội’ thì cũng không thể chỉ dựa vào cái sự thấy sự nghe ấy mà vội kết luận họ hèn nhát tự ý sớm ‘buông súng’ đầu hàng!

Mươi, mười lăm phút xuất hiện trên TV nhận tội của họ có thể làm choáng chúng ta nhưng xin nhớ rằng quãng thời gian ấy không đủ phản ánh hết những gì đã xảy ra trong tù dài 1-2 tháng.

Quãng thời gian ngắn ngủi ấy, chỉ có thể ví như việc chúng ta chỉ thấy được có mỗi cái ngọngốc của nó tròn méo ốm mập ra sao, trồng trong loại chậu kiểng nào thì không tài nào biết được.

Vạn vật luôn thay đổi, mọi giá trị hành động chỉ mang ý nghĩa tốt / xấu một cách tương đối và tạm thời. Những gì chúng ta cho rằng đúng hôm nay nhưng ngày mai thì chưa chắc đã còn là chân lý.

Do vậy, thật hết sức sai lầm nếu đem việc ngồi tù cũng do đấu tranh đòi dân chủ lúc còn sơ khai của ai đó mấy năm trước diễn ra êm ả đem ra so sánh với việc phải vào tù của những người khác vào năm 2009 này trong bối cảnh tình tình biển đông căng thẳng, bauxite Tây Nguyên, các vụ phản đối chống bất công của đạo công giáo lan tràn, tình hình suy thoái kinh tế … khiến Csvn mạnh tay hơn trong đối phó, để từ đó đánh giá ai anh hùng hơn ai.

Và đó là còn chưa buồn nói đến sự khác biệt về nhân thân của từng bị can trong mắt cai tù. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua việc tuy cùng bị ghép tội vi phạm điều luật 88 nhưng cách Csvn đưa tin giữa người này người nọ với những mức độ nghiêm trọng hoàn toàn khác nhau.

Tôi không hề có ý tâng bốc và cũng không xem bất cứ nhà đấu tranh nào là ‘thần tượng’ cả. Tuy nhiên, một cách công bằng, thì nếu có ai đó tự cho rằng mình anh hùng hiên ngang vượt qua nhà tù cộng sản mà chỉ trích những người đang bị lâm vào hoàn cảnh phải ‘nhận tội’ vừa qua có khi cũng nên xem lại giá trị ‘con tin’ của mình so với họ một chút.

2./ Giải mã “nhận tội’

Mấy phân tích nhận định trên là để giúp chúng ta dễ nhận ra ý đồ của nhà cầm quyền Csvn qua chiêu ‘nhận tội’ vừa qua. Có thể nói chỉ bằng một phát đạn ‘nhận tội’ nhưng Csvn đã nhắm tới mấy ‘con nhạn’ sau:

1. Các chính khách nước ngoài: Việc LS.Lê Công Định nêu đích danh khoảng 4-5 tên tuổi các nhà ngoại giao Mỹ khi xuất hiện trên VTV tối 19/8 (xin lưu ý trong bản tin của TTX Việt Nam trên mạng đã bị cắt bỏ đi đoạn này) trong đó có cả thứ trưởng ngoại giao thứ nhất John D.Negroponte, Csvn muốn nhắn nhủ các chính khách nước ngoài: Quí vị hãy cẩn thận khi quan hệ với các ‘nhà dân chủ’ của đất nước chúng tôi. Họ ‘bèo bọt’ và ‘mềm yếu’ như tàu lá chuối chứ chẳng cứng rắn như quí vị trông đợi đâu! Giúp họ chẳng khác nào quí vị ‘nuôi ong tay áo’, vì khi bị bắt họ sẵn sàng khai tên tất cả quí vị ‘tuồn tuồn tuột’ chẳng chừa bất cứ ai.

Tuy nhiên chung quanh chuyện này cũng cần phải nói thêm, nếu Csvn không có được hoàn cảnh thuận lợi Mỹ bị TQ ép sân ở biển Đông khiến nước này đang phải o bế lấy lòng Hà Nội cho ‘thêm bạn bới thù’, chắc chắn Csvn đã chẳng dám nói năng kênh kiệu như chúng ta thấy dạo gần đây.

2. Giới trí thức trong nước: Khác xa với những vụ bắt bớ trước, lần cất lưới này nằm gọn trong rọ là ba con cá bự: Ls.Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức. Những người mà có lẽ khỏi cần nói thêm về tiểu sử ai theo dõi tin tức cũng đều đã biết, họ là những trí thức đấu tranh sáng giá và thành đạt nhất bị bắt từ trước cho đến nay. Mà mối quan hệ giữa giới trí thức và nhà nước mấy năm gần đây ra sao chắc chúng ta đều đã biết. Họ đang trở thành mối lo cho csvn nhiều hơn là niềm tự hào hay hy vọng khi mà gần đây trí thức khắp nơi đã làm dấy lên phong trào phản biện. Như Ts Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS, các mà việc ra đời trang www.bauxitevietnam.info do các trí thức là giáo sư GS Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Phạm Toàn và GSTS Nguyễn Thế Hùng khởi xướng đã khiến hàng ngàn trí thức khác bỗng ‘giật mình’ nhìn khi nhìn lại thực trạng đất nước và đã tham gia vào, là những bằng chứng rất sống động. Ngoài ra còn phải kể đến những chiến sĩ trí thức khác như Ls. Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật v.v…

Bằng việc dàn dựng và trình chiếu phim ‘nhận tội’ của một trí thức cỡ Ls.Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung, thông điệp mà Csvn muốn gởi đến giới trí thức cả nước là hãy nhìn vào đây mà liệu hồn! Cỡ một Lê Công Định, một Nguyễn Tiến Trung từng tung hoành dọc ngang khắp nơi, quen biết toàn các quan chức Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu v.v… mà cũng chẳng làm ăn được gì huống chi quí vị quanh năm suốt tháng chỉ chỉ quanh quẩn ‘xó bếp’. Đấu tranh chống lại chế độ là tự đẩy mình đến chỗ chết mà thôi. Cứ xem gương Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung bị thiên hạ chửi rủa những ngày qua ra sao ắt rõ!

3. Và đối tượng cuối cùng là lời nhắm gởi đến giới trẻ lăm le đòi dân chủ trong nước: như Tập hợp Thanh Niên Dân Chủ, Diễn đàn X-Cafevn… rằng “thần tượng” của chúng bay chỉ là ảo tưởng. Miệng họ nói hay vậy nhưng thực chất cũng chẳng khá hơn gì mấy em đâu v.v…

3./ Làm sao để trò hề ‘nhận tội’ từ nay chấm dứt?

Tóm lại, đòn ‘nhận tội’ có lẽ chỉ mới được quân sư nào đó của Csvn vẽ ra gần đây và đã trở thành ngón đòn cực kỳ lợi hại như những cú hạ ‘knock out’ trong các trận đấu quyền Anh.

Ngay sau Csvn tung ra ngón đòn nhận tội đầu tiên ‘thần tượng’ Lê Công Định bị sụp đổ ngay tức thì. Cú tiếp theo họ lôi nốt Nguyễn Tiến Trung lập tức ra khỏi những cái đầu còn đang bị choáng vì những cú đấm ‘knock-out’ này.

Chỉ bằng một phát đạn ‘nhận tội’ Csvn đã khiến tới những ba ‘con nhạn’ là đà vì trúng kế, giãy đành đạch lên với nhau, còn Csvn ngồi rung đùi khoái chí.

Bởi vậy, nếu mọi người không cảnh giác với thủ đoạn ‘nhận tội’ này mà cứ tiếp tục mắc bẫy họ khi đưa ra những phát biểu ảm đạm, tiêu cực. Thay vì đúng ra là phải cùng nhau dấy lên phong trào lên án hành vi phạm pháp của đảng Csvn khi họ bày ra trò ‘nhận tội’, vì chuyện các bị cáo nhận tội hay không, theo luật, chỉ được phép xảy ra tại tòa án.

Nếu không cảnh giác, lần tung cú knock-out tiếp theo của Csvn sẽ không còn là ai khác ngoài chính Giáo hội Công giáo chúng ta vì những căng thẳng diễn ra gần đây, mà rất có thể một lúc nào đó chúng ta bỗng thấy một linh mục nào đó đã từng tranh đấu xuất hiện trên màn hình TV “cúi đầu nhận tội” xin sớm được hưởng khoan hồng để đánh đổi lại bằng việc giúp Csvn gởi thông điệp này cho hơn 6 triệu giáo dân: Đấy người công giáo hãy nhìn đi, đến cha cố với thầy tu mà cũng còn bị khuất phục thì giáo dân chúng bay là cái ‘đinh rỉ’ gì mà đòi tụ tập cầu nguyện!?

Sàigòn, 22/8/2009
Alfonso Hoàng Gia Bảo
của một cây mới nhú cao qua khỏi bờ tường nhà bác hàng xóm sáng nay, để biết rằng, cạnh bờ tường nhà mình có một cái cây đang lớn. Tuy nhiên,







Bọn VTV1 thật phản động
http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/355





“Bác” Hồ bảo: Ráng Học Sử Tàu !

Thi Ca Hải Ngoại

“Bác” Hồ bảo:
Ráng Học Sử Tàu !




Dân ta phải học sử Tàu

Phải biết Mã Viện đè đầu Trưng Vương

Biết Minh khai hóa tưng bừng

Biết quan Tô Định tự dưng giết ngưòi

Biết Việt nhược tiểu trây lười

Nên phải Hán hóa đến người cùng đinh!

Biết Trần hưng Đạo chúng mình

Đánh Nguyên, Minh, Hán thiệt tình ...khó coi!

Cần nhiều Ích Tắc cưỡi voi

Cùng Lê chiêu Thống coi mòi rất hay

Phục tùng như “bác” có ngày

Sẽ thành Thái Thú, trong tay lắm quyền

Sử Việt, ta hãy cứ quên!

Sử Minh, sử Hán hãy chuyên học hành

Học luôn ngoại ngữ đàn anh

“Cái lày hẩu lớ”, để thành Hán bang

Quên đi cáí tiếng Ố nàm (1)

Truyện Kiều, Trê cóc...chụm làm củi thôi!

Học lầu Văn hóa của người

Mao, Giang sự cố ...xây đời đẹp tươi!

Hoàng, Trường Sa biển dâng người

Nam Quan, Bản Giốc tuyệt vời bức tranh

Rồi ra dâng cả Hà Thành!

Dâng Sàigòn, Huế, đàn anh hài lòng!

“Bác” dâng khắp cả ngoài trong

Dâng rượu, dâng gái, dâng lòng thủy chung!

Miễn sao giữ tiếng anh hùng

“Bác” làm cách mạng cả vùng Đông Dương!

Mao xoa đầu bác:”Ngổ thương

Ngổ lây nhận hết, ngổ lương cần dùng!”

Lất lai, ngổ vốn rất ưng!

Nếu ngổ chưa lấy cũng lừng cho ai

Bọn Hoa thịnh Lốn bất tài

Chớ theo tụi nó có ngài tai ương!

Ngộ thương, ngộ chỉ con lường!



Xuân Vũ Trần Đình Ngọc



(1)Người Tàu gọi dân Việt là Ố nàm zần,

người Tàu không nói được chữ đ,

đường nói ra lường.



“Biêu” Không Lo Trả !


Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC



Truyện thằng Lớn 1

Thằng Lớn vừa từ chợ Xép về. Nó đã bán xong 200 tấm vé số hôm nay, bán sớm sủa nên nó quá mừng. Mọi hôm chỉ 100 tấm cũng trầy trợt mà hôm nay 200, nó nhẩm tính thấy có được một số tiền lời nhỏ nhỏ cho gia đình.

Nó lội vào con hẻm vì nhà nó ở mãi cuối hẻm. Con hẻm nước mới rút một chút nhưng cứ khoảng 3 giờ sáng nước ở con kinh lại dâng lên, hôm thấp ngập bàn chân, hôm cao thì lên đến gần đầu gối.

Nước lên mang theo rác rến, giấy báo, cả xác súc vật thối rữa trông đến sợ. Nhưng ba anh em thằng Lớn không làm gì hơn được. Ba má Lớn cũng như những người khác trong hẻm còn chả làm được gì huống hồ nó, thằng bé mới 13 tuổi đầu.

Tám tuổi Lớn mới được cắp sách đến trường vì ba má Lớn nghèo quá. Học được ba năm, Lớn phải bỏ học vì tiền học phí tăng quá ba Lớn không có tiền đóng cho nó. Từ dạo đó, Lớn phải đi bán vé số để có thêm chút tiền mua rau. Mỗi ngày Lớn phải cầm đi bốn xấp, mỗi xấp 50 vé, phải ráng bán cho hết dù đi đâu cũng được. Buổi trưa Lớn có quyền mua ổ bánh mì không 500 đồng ở dọc đường nhai, kiếm cái vòi nước máy nào đó uống một hơi căng bụng rồi đi bán tiếp.

Ngày nào nó gặp được một người Mỹ hay người ngoại quốc ở đâu đó đến du lịch thì coi như nó trúng số. Cũng có những người Việt làm ăn ở ngoại quốc về thăm quê hương, Lớn gặp họ, nài nỉ họ mua vé số, có nhiều người mua và cho Lớn tiền nữa.

Bữa nay cũng là trường hợp đó. Lớn đang đi lảng vảng ở khu bến xe Bình Tây này thì chợt trông thấy một người đàn ông khoảng gần 60 tuổi, có dáng vẻ là một người từ ngoại quốc về đi cùng hai người con, một gái, một trai.

Lớn sợ bị mất mối với một thằng bán vé số khác, nó băng ngang đường để tới chỗ ông ta đang đứng với hai đứa trẻ. Ba cha con đều ăn mặc đẹp.

Lớn vội quá nên không nhìn thấy một cái xe Dream có hai người ở trên đang chạy nhanh từ phía Sàigòn phóng tới. Thế là cái xe Dream đâm vào Lớn. Lớn nằm lăn kềnh ra đường, xấp vé cầm ở tay tung toé ra mặt đường.

Chiếc xe cán người bị nằm nghiêng qua một bên, hai người trên xe cũng té nằm xoài. Trong khi Lớn còn nằm vì bị cái húc khá đau thì hai người trên xe Dream bò dậy, người lái xe mắng Lớn và chửi thề ỏm tỏi nhưng ngay đó, hai người này lại cho máy nổ và rồ máy lao đi, chẳng cần biết Lớn bị thương vì cú húc ra sao. Cảnh sát giao thông lúc này không có một người.

Người đàn ông vừa nói, chính là một ông Việt kiều chạy tới đỡ Lớn dậy và dìu Lớn vào hè đường. Ông ta và hai người con nhặt hết những tấm vé số trên mặt đường trao lại cho Lớn. Lớn nói cám ơn. Ông ta hỏi Lớn:

“Cháu có đau không? Đứng lên bác coi xem có bị gẫy xương không?”

Lớn đứng lên. Ông này bắt Lớn giơ tay, đi đi lại lại, cúi người để xem có bị gẫy xương không. May quá, Lớn chỉ trầy da ở hai đầu gối và bàn tay vì chà xát xuống mặt đường chứ xương không sao. Ông ta hỏi:

“Cháu tên gì?”

“Thưa bác, cháu tên Lớn.”

“Nhà cháu ở đâu?”

“Nhà cháu trong hẻm 16, quận Tám, thưa bác.”

“Cách đây bao xa?”

Lớn ngẫm nghĩ:

“Cháu đi bộ nhanh cũng phải hơn nửa tiếng, thưa bác.”

Thấy thằng bé bán vé số lễ phép, ông Việt kiều có cảm tình:

“Vì sao cháu băng ngang đường?”

“Thưa bác, cháu thấy bác là người Việt kiều ở ngoại quốc về, cháu nghĩ là cháu có thể bán cho bác ít vé số. Vì vậy cháu băng qua đường mà không ngó gì cả.”

Ông Việt kiều ân cần:

“Cháu phải nhớ nhiều người chạy xe phóng nhanh lắm, nếu cháu không để ý là mất mạng như chơi.Từ giờ phải rất cẩn thận, ngó trước ngó sau,ngó ngang ngó dọc hết rồi mới băng qua chậm chậm nghe không?”

“Dạ.”

“Muốn bác kiếm xe đưa cháu về nhà không?”

“Thưa bác, muốn, nhưng cháu phải đi bán cho hết mấy xấp vé số này mới được về.”

“Ba má cháu đâu?”

“Ba cháu lái xe ôm, tối mịt mới về; má cháu đi làm thuê, giờ này không có nhà, chỉ có hai em cháu ở nhà.”

“Đưa vé số cho bác coi.”

Lớn dùng hai tay trịnh trọng đưa cả 4 xấp vé ra.

“Chỗ này còn bao nhiêu vé?”

“Thưa bác, cháu mới bán được 20 vé, đây còn 180 vé.”

Người đàn ông và hai đứa con ông ta đứng nhìn mấy xấp vé số, có in giá tiền mỗi vé trên đó. Cô bé con ông ta khoảng 16, 17 tuổi nói tiếng Anh với cha, rồi cả thằng em cũng nói líu lo. Lớn nghĩ đó là tiếng Mỹ vì cha con ông này có vẻ Việt kiều từ Mỹ về. Người đàn ông cũng trả lời con bằng thứ tiếng đó. Họ nói nhanh và trơn tru.

Người đàn ông bảo Lớn:

“Bác mua hết mấy xấp vé số này cho cháu để cháu về nhà sớm một buổi.”

Ông Việt kiều tính ra tiền đô đưa cho Lớn, ông bảo:

“Số tiền 50 đô này đổi ra được 950, 000 theo thời giá hiện tại. Tiền vé số của cháu là 540,000. Số còn dư bác tặng cháu.”

Lớn cầm 50 đôla bỏ vào túi trong mà tay run run vì cảm động. Nó lấy cái kim băng gài miệng túi lại cho chắc ăn. Chỗ trầy da đã bớt đau. Nó chỉ còn hơi nhức đầu vì đầu đụng vào đâu đó lúc bị xe húc.

Ông Việt kiều lại nói một tràng tiếng Anh với hai đứa con, sau đó ông bảo Lớn:

“Đi, lại phía tiệm ăn kia bác đãi tô phở rồi hãy về.”

Lớn dạ nhỏ trong miệng, đi theo ba cha con ông Việt kiều. Đó là một tiệm phở Bắc, buổi trưa người ăn khá đông.

Người bồi bàn hỏi ông Việt kiều mấy người, ông đáp 4. Anh bồi bảo phải chờ chừng 10 phút, rồi một đám khách đứng lên, anh bồi mời ông Việt kiều và đám trẻ vào bàn.

Đã lâu lắm Lớn mới được thưởng thức một tô phở bò ngon lành như thế này. Ngày hai bữa cơm rau giưa còn chật vật dù ba má Lớn và Lớn đã làm hết sức mình, đâu dám nghĩ đến những món quà ngon như phở, mì, bún bò giò heo!

Ăn xong tô phở lại còn một li lớn sữa đậu nành, Lớn nghĩ ngày nào cũng được ăn như thế này thì chả mấy chốc mà mập như thằng Cồ con một nhà giầu trong xóm.

Ông Việt kiều ra trả tiền ở “két”, xong ba cha con ông và Lớn ra khỏi tiệm phở. Ông bảo Lớn:

“Bây giờ cháu về nhà, đưa ngay tiền cho bố hay mẹ cháu nhé. Thôi bây giờ cha con bác phải đi. Hãy nhớ lời bác là sang qua đường phải rất cẩn thận kẻo tai nạn xẩy ra bất ngờ, nguy hiểm lắm, nghe không?”

“Dạ, thưa bác” rồi nó rụt rè, “ bác có thể cho con biết tên bác không?”

“Tên bác là Tú, bác Tú, con gái bác đây là Jennifer, con trai là John. Ba cha con bác ở Mỹ về vì bà ngoại của Jennifer và John bị bệnh. Thôi bác đi nhé.”

Ông Tú vời một cái taxi, xe ép sát vào lề. Ông Tú xoa đầu thằng Lớn rồi lên xe. Hai người con của ông Tú giơ tay vẫy vẫy Lớn và nói:

“Goodbye.”

Dù mới chỉ quen trong vài tiếng đồng hồ, Lớn cảm thấy thật buồn khi ông Tú và hai người con lên xe đi, không bao giờ có thể gặp lại, nhất là ông Tú đối xử với Lớn tử tế chưa bao giờ Lớn gặp ở một người khác từ khi có trí khôn.

Lớn lẩn thẩn bước đi, lòng trĩu buồn khi chiếc xe taxi đã khuất ở cuối đường. Lớn về nhà sớm một bữa xem má về chưa. Từ đầu con hẻm xấp xấp nước, Lớn lội vào, càng vào nước càng sâu. Tới giữa con hẻm, Lớn thấy người lớn, trẻ con đứng bu đông nghịt trước nhà bà Chín Chuối. Người ta đang thầm thì bàn tán một điều gì có vẻ bí mật. Lớn lại gần đứng sau đám người nghe ngóng xem chuyện gì?

Thì ra người con trai lớn của bà Chín là Ba Chừng vừa ở nhà thương về, hai tay hai nạng, một bên tai bị băng bó. Ba Chừng là tay anh chị đám du đãng khét tiếng quận Bình Thạnh. Cách đây hai tuần Ba Chừng bị một đám du đãng ở cầu Tân Thuận trả mối thù khi xưa Ba Chừng và đồng bọn đã chém gẫy chân một đồng bọn của chúng. Theo luật giang hồ, chúng không hạ sát Ba Chừng nhưng chỉ chém gẫy chân và đứt một tai của Chừng để cảnh cáo. Ngày hôm nay, Ba Chừng được bệnh viện cho về vì thương tích đã bớt. Đám đàn em của Ba Chừng đưa Ba Chừng về nhà, ngồi bàn tán tính chuyện trả thù nhân có mấy lon la de và vài xị đế, chúng nói to quá khiến người trong xóm bu đông nghe.

Sau khi rõ sự tình, Lớn dời đám đông lội tiếp vào trong ngõ. Má Lớn đã về và hai đứa em cũng đang ở nhà. Thoáng thấy bóng Lớn từ ngoài sân, bà Cải, má Lớn hỏi vọng ra:

“Mầy đã về hả Lớn?”

“Dạ, con đây má”

“Vé số bán hết không?”

Lớn bước vào cái cửa chính đã ngập nước khoảng hai bàn chân dựng lên nhau, mở cái kim băng cài miệng túi, lấy 50 đô đưa cho bà Cải:

“Ông Tú là Việt Kiều từ Mỹ về, ông mua cho con 180 tấm vé số, đưa cho con 50 đô, bảo số tiền còn dư ổng cho con.”

Xong Lớn thuật lại từ đầu câu chuyện với lời phê bình:

“Con chưa thấy ai tốt như ông Tú đó má. Ông còn cho con vào tiệm ăn phở với ông và con ông, xong lại uống sữa đậu nành ngon lắm má!”

Bà Cải bỏ 50 đô la thằng con vừa trao vào túi trong, cài kim băng cẩn thận.

“Mày lấy dao gọt củ năng với em đi Lớn!”

Hai đứa em Lớn, con Ti và con Tí nhận củ năng từ các nhà hàng về gọt, mỗi kí gọt xong sạch sẽ được trả 1 ngàn. Nếu ngày gọt được 10 kí thì cũng được 10 ngàn, khoảng hơn 50 cent Mỹ. Thời buổi khó khăn, có cho mà gọt sau khi đi học về là cũng phúc lắm rồi, chẳng hơn không có. Tuy nhiên, đi lấy củ năng và đi giao củ năng thì người nhận gọt cũng phải làm luôn. Công tác này giao cho ba của mấy đứa nhỏ. Ông ta sẽ nhắm chừng tiện một chuyến xe ôm đưa khách nào đó, giao củ năng và lấy tiền luôn.

Lớn lội nước trên nền nhà lẹp xẹp, nó vào bếp kiếm được con dao nhỏ toan trở lại cái bàn hai em nó đang gọt năng thì cảm thấy đầu nặng chịch. Nó cố gượng bước tới cái ghế và ngồi phịch xuống trong khi mắt nó hoa ra những vầng hào quang. Nó vứt con dao lên bàn gục đầu xuống bàn rồi nó mê đi không biết gì nữa.

Má Lớn nhờ người lối xóm khiêng Lớn ra xe taxi chở ngay vào bệnh viện. Sau khi nghe kể tự sự, một bác sĩ khám bệnh cho Lớn và hai cô y tá làm những động tác cấp cứu vì tim Lớn ngừng đập. Khoảng hơn nửa giờ sau, vị bác sĩ ra cho vợ chồng bà Cải hay, Lớn bị nứt sọ vì chấn thương quá mạnh. Số tiền 50 đô đóng lúc vào không đủ trang trải từ lúc vào đây, tiền còn nợ bệnh viện là 200 đô. Muốn lấy xác thằng Lớn về chôn thì phải đóng 200 đô đó.

Đến lượt bà Cải ngất xỉu ngay tại văn phòng bệnh viện sau khi nghe cô văn phòng cho biết số tiền phải đóng.



o0o



Qua một ngày chạy long tóc gáy cầm cái xe, sáng sớm ngày thứ ba, ba má thằng Lớn được phép chở xác Lớn về vì ba Lớn đến năn nỉ người quen cùng chạy xe ôm cầm thế cho cái xe lấy 200 đô để đóng cho nhà thương.

Hai vợ chồng chú Cải phải lấy mền quấn kín thằng Lớn làm như người bệnh rồi gọi taxi bởi không có xe nào chịu chở người chết mà họ cho là xui.

Một cái taxi trờ tới, chú Cải nói về hẻm, đường đó rồi hai vợ chồng ôm thằng con leo lên băng sau. Ông tài xế không nghi ngờ gì cả, ông chạy vèo vèo vì đường sáng sớm xe cộ còn thưa.



Chú Cải bồng thằng con vẫn quấn mền kín mít vào nhà. Rác, xác thú vật, đủ thứ trôi lềnh bềnh trong cái hẻm nhỏ trông như con lạch. Mấy nhà chuyên bán thức ăn ở lề đường cho thợ thuyền điểm tâm như bánh canh, cháo huyết, bánh cuốn đang chộn rộn sửa soạn, dao thớt băm rổn rảng. Mùi hành mỡ phi thơm lừng cả xóm.



Con Ti và con Tí còn ngủ. Thím Cải đập cửa và gọi to con Ti mới dậy. Nó ra mở cửa. Hai đứa đêm rồi ngủ ở nhà một mình. Trước khi đi, thím Cải đã dặn hai đứa tối đóng cửa lại rồi lên giường ngủ, ba má đêm nay không biết anh Lớn bệnh có về được không. Giờ này hai đứa thấy ba chúng bồng anh Lớn đặt vào giường, anh nằm không động đậy, mặt xám ngoét. Nhìn một lúc nữa, chúng thấy Lớn không cụ cựa, nhúc nhích, chúng nghĩ Lớn chết rồi.





Buổi sáng có mấy người lối xóm nghe tin Lớn chết, họ đến chia buồn với chú thím Cải. Họ mạc của hai vợ chồng chú ở dưới Hậu giang cả, ở đây chỉ có mấy người xóm láng giềng. Chú Cải hỏi ý bác Cư và anh Tuỳ, họ bảo để họ đóng cái hòm sau đó họ sẽ tới giúp chú tẩn liệm và nhập quan cho thằng Lớn.



Việc đầu tiên và hệ trọng nhất chú Cải phải làm ngay là cầm tờ giấy chứng tử của bệnh viện ra Phường xin giấy phép chôn cất. Ông Phường trưởng không có đấy nhưng cô thư ký ngó tờ giấy rồi bảo phải đi xin bác sĩ bệnh viện công chứng tử nữa mới được.



Chú Cải hỏi được địa chỉ bệnh viện công, sắp hàng suốt buổi sáng vào đến văn phòng thì cô thư ký nói ông bác sĩ ra Hà nội họp, một tuần nữa mới về. Chú Cải toát mồ hôi, chú xin cô thư ký giúp vì nhà quá nghèo. Cô cong cớn nói:

“Nhà đứa đ. nào vào đây cũng than nghèo, cả nước nghèo. Tui không biết nghèo với giầu gì. Cứ đúng lệnh lạc mà mần thôi. Đi đi cho người khác hỏi!”



Không biết sao hơn, chú Cải phải ra ngoài. Có một anh thanh niên cà rà tới hỏi chú sự tình, chú nói thực là cần giấy phép an táng thằng con trai bị đụng xe. Anh này bảo chú, sao anh “kém tắm” thế (tiếng lóng, ý nói chậm hiểu, dốt), việc dễ ợt mà nghĩ không ra, cứ đợi đến 12 giờ trưa khi cô thư ký ra lấy xe đi ăn trưa thì gặp cô là xong, mà phải thế đó thế đó mới được.

Chú Cải nghe lời, đợi ở bãi đậu xe, mong thời gian đi cho chóng đến 12 giờ trưa. Quá là may, cô thư ký ra thực. Chú Cải chạy vội lại:

“Thưa cô, xin cô thương coi lại giấy tờ dùm tôi. Tôi cần cái giấy phép chôn thằng con!”

Cô thư ký không ngạc nhiên lắm:

“Ờ, cái gì nữa đây?”

Chú Cải trao tờ giấy của nhà thương chứng tử, trong đó chú đã kẹp vào...



Cô thư ký liếc mắt, cầm tờ giấy bỏ túi rồi bảo:

“Ông bác sĩ trưởng phòng thì đi thật rồi nhưng tui giúp anh vì thấy anh khổ sở quá. Chiều mai anh đến văn phòng tui lấy giấy phép, ông bác sĩ phó trưởng phòng sẽ ký cho anh.”

Chú Cải lại vò đầu vò tai:

“Thưa cô, cô đã thương thì thương cho trót. Con tôi bị tai nạn từ hôm qua, trời nóng nên mau hư thúi lắm, để lâu không được.”

Cô ta chì chiết:

“Anh đúng là ông cố nội tôi rồi! Thôi 6 giờ chiều nay, tại văn phòng lúc nãy! Nghe kịp chưa?”

Chú Cải thở phào nhẹ nhõm:

“Dạ, nghe kịp. Cám ơn cô thật nhiều.”

Xin chôn con mà cũng khó, chú lẩn thần nghĩ. Thực ra chú “kém tắm” nên nhớ không ra chứ mấy cái hình trên tờ giấy bạc ký cho chú đấy, thảo nào chú bị cô thư ký nói mắc nói mỏ!



Đến cái vụ đi mua đất chôn mới là gay cấn. Chú Cải xuống nghĩa trang Bình hưng Hoà. Mấy người làm cho nhà quàn ở đó nói họ chỉ nhận trọn gói, không có lẻ tẻ. Vả lại bây giờ người ta hoả thiêu nhiều, đất đâu mà chôn? Chú Cải hỏi thế hoả thiêu thì hết bao nhiêu? Một người đáp, có nhiều giá lắm, ba ngàn đô, hai ngàn đô, ngàn rưởi, năm trăm đô, vài ba chục triệu không chừng. Chú Cải không còn biết nghĩ ra sao bởi chú làm gì có từng ấy tiền mà hỏi. Chú buồn rầu chậm chạp bước ra cổng tính lên xe buýt về bàn tính với bác Cư, anh Tuỳ xem sao. Chú đang đi thì một nhân viên vừa nãy đi từ ngoài vào, anh này hỏi chú:

“Vụ chôn cất xong chưa?”

Chú dừng lại:

“Tiền nhiều quá mà gia đình tui thì nghèo, không cách gì có tưng ấy tiền để đóng.”

Người này bảo:

“Tôi thấy anh khó khăn quá tôi cũng thương. Vào văn phòng tôi hỏi chi tiết xem có cách gì giúp anh không?”

Chú Cải theo vào. Người này trỏ một cái ghế, xong anh ta hỏi:

“Anh lo được khoảng bao nhiêu?”

Chú Cải ngọng miệng vì chú chẳng có đồng nào trong túi ngoài vài ngàn để đi xe buýt.

“Thưa anh tôi chẳng có tiền bạc gì!”

“Hừm, không tiền bạc mà anh dám đi hỏi đất chôn con? Anh có biết chôn cất bây giờ tốn phí lắm không?”

“Dạ, biết.”

“Thế anh có xe cộ, nhà đất gì không?”

“Thưa anh chiếc xe của tôi đã cầm thế để trả tiền nhà thương rồi...”



Người kia chận ngang:

“Còn nhà thì sao?”

“Nhà tôi cũ kỹ ọp ẹp lắm, trong con hẻm...”

“Anh có giấy tờ căn nhà không? Mua từ bao giờ?”

“Thưa tôi có giấy tờ, mua từ chế độ cũ.”

“Anh đưa ngay giấy tờ xuống đây cho tôi coi. Ông chủ công ty đi vắng nhưng tôi sẽ thay mặt ổng mà giúp đỡ cho anh.”

Chú Cải không còn cách gì hơn đành cám ơn anh nhân viên xong ra xe buýt về nhà. Vợ chú thấy chú thì hỏi việc đã đi đến đâu nhưng chú không buồn trả lời. Chú lục được tờ giấy nhà liền chạy vội ra bến xe buýt để trở lại nghĩa trang cho kịp. Nhưng khi chú vào đến văn phòng thì cũng sắp tối. Công ty làm cả buổi tối vì nhiều xác được thiêu buổi tối nên may mắn anh nhân viên chú Cải đã nói chuyện còn ở đó.



Chú trình tờ giấy nhà cho anh này. Anh coi một chút rồi nói, có thẻ đỏ chưa? Chú đáp chưa. Anh kia nói như thế nhà chưa phải nhà của anh. Chú Cải năn nỉ xin anh ta thương vì chú không còn cách nào khác. Suy nghĩ mãi rồi anh ta nói:

“Tôi thương tình làm phúc cho anh vì tôi thấy anh cùng cực vất vả quá. Tôi bằng lòng cho anh thế chấp căn nhà nhỏ này khi nào anh có tiền thì xuống đây chuộc lại. Tiền lời tôi chỉ lấy anh rất nhẹ, một phân một tháng trong khi người ta là phải hai phân hay xanh xít đít đui, tức một triệu phải 200 ngàn lời một tháng. Số tiền hoả thiêu thằng con anh, vì nó bé, tôi chỉ lấy 4 triệu là rẻ lắm rồi đó, không bằng lòng thì cầm giấy về.”



Chú Cải nghe 4 triệu toát mồ hôi hột. Mỗi ngày chạy xe được vài trăm ngàn (ấy là khi còn xe), còn phải xăng nhớt, ăn uống, lại đưa về cho vợ con chút đỉnh. Bốn triệu thì bao giờ trả nợ xong, lại còn tiền lời. Nhưng nếu không chịu thì biết đi hỏi nơi đâu khác? Mùa nóng, xác chết mau thúi lắm, hàng xóm kêu ca la rầy cũng khổ, mà chắc gì Phường họ để yên. May mấy bữa nay không thấy anh công an khu vực, nghe nói anh về thăm quê ở Quảng Ngãi. Nếu anh ta có ở đây thì còn rắc rối nhiều hơn. Nghĩ vậy chú Cải đành tặc lưỡi:

“Dạ, tôi bằng lòng. Nhưng thưa anh, có còn cách nào khác rẻ hơn không, xin anh giúp?”

Anh kia ngần ngừ:

“Còn một cách nữa rẻ hơn một chút nhưng không biết anh có ưng không? Đó là chôn đứng!”

Chú Cải sửng sốt:

“Tôi chưa nghe nói bao giờ. Chôn đứng là sao, thưa anh?”

Anh kia gắt lên:

“Đúng là anh kém tắm thiệt. Chôn bình thường là chôn nằm. Chôn đứng là dựng quan tài lên cho xuống lỗ chứ còn sao nữa!”

Chú Cải tỉnh ra, chú nói:

“Chôn thế này thì tốn ít đất!”

“Đúng, vì tốn ít đất nên tốn ít tiền. Ít hơn cả hoả thiêu nữa...”

Chú Cải mừng quá xuýt bật ra:

“Sao anh không bảo tôi từ sớm mà bây giờ mới nói” nhưng chú kịp kềm được. Lòng hơi vui, chú hỏi:

“Thế chôn đứng thằng bé con tôi mới 13 thì khoảng bao nhiêu, thưa anh?”

Anh kia đáp không suy nghĩ:

“Tôi chỉ lấy anh một triệu thôi!”

Chú Cải mừng ra mặt. Ở hiền gặp lành, may mà anh ta nói ra cái kiểu chôn đứng này. Chú thở phào nhẹ nhõm như người mới chết sống lại.

“Thưa anh, cái hòm của cháu bé và ngắn lắm vì nó vất vả, ăn uống kém nên người nhỏ nhắn lắm. Xin anh hạ bớt cho, gia đình tôi đội ơn anh suốt đời.”

Anh kia gắt lên:

“Anh này thật lằng nhằng. Nó đứng khoảng đến đâu anh?”

Chú Cải đứng lên, giơ tay ra khoảng bên trên rốn:

“Cháu thấp, nhỏ lắm, chưa đến ngực tôi đâu!”

“Thôi được, đây là giá chót nhé. Cấm kỳ kèo lôi thôi. Tám trăm ngàn, đây anh ký vào đây là tiền anh nợ nhà quàn Đồng Hoà. Khi nào có tiền xuống đây gặp tôi lấy lại giấy nhà!

Sáng mai tôi sẽ cho phu đào lỗ sẵn, khi anh chở quan tài tới tôi chỉ chỗ cho mà chôn!”



***



Vài người lối xóm như vợ chồng bác Cư, anh chị Tuỳ, chú cô Giỏi, thím Rạt quây vào giúp mỗi người một tay với những đồng tiền hạn hẹp của họ để đưa thằng Lớn ra mồ cao mả dài.

Bác Cư ngay sáng đó đem cưa cái phản gỗ cũ long đinh của bác làm thành cái săng vừa với thân người bé nhỏ của thằng Lớn. Anh Tuỳ bỏ buổi làm phụ hồ để phụ bác Cư, hai bác cháu cưa kẹo, lắp ráp cả vài tiếng mới xong. Coi cũng tạm, chả hơn bó chiếu.



Để chuẩn bị tẩn liệm cho thằng Lớn, thím Cải đã gom hết quần áo cũ của Lớn, bộ tốt thì mặc cho nó, bộ tàng tàng thì chận hai bên hông cho xác khỏi xê dịch. Thím vừa làm vừa khóc nức nở thương thằng con trai độc nhất. Anh Tuỳ và chú Giỏi khiêng xác thằng Lớn đặt ngay ngắn vào trong hòm, nó vẫn nhắm mắt như đứa đang ngủ mặc dù cái mặt cau lại. Chắc là trước khi chết nó đau đớn lắm.



Bác Cư đã có sẵn đinh và búa nhưng trước khi đặt tấm ván thiên lên, bác bảo vợ chồng chú Cải và hai đứa em thằng Lớn nhìn mặt nó lần cuối kẻo sau này chẳng bao giờ còn thấy nó nữa. Thím Cải đang lúi húi dưới bếp, nghe gọi thím chạy vội lên, thím gọi Ti và Tí cùng đứng với thím để nhìn anh chúng. Nước mắt thím lã chã rơi xuống mặt thằng Lớn. Chú Cải đứng thừ người nhìn con.

Anh Tuỳ và chú Giỏi khiêng tấm ván thiên nhẹ hều đặt lên ngay ngắn. Bác Cư đóng đinh. Tiếng búa nện trên đinh nghe chát chúa làm mấy đứa trẻ hàng xóm lội nước bì bõm đứng bu trước nhà, ồn ào. Chúng bảo nhau, thằng Lớn chết rồi chúng mày à!



Đóng đinh xong, chú Cải kiếm hai cái vại mẻ đặt cái hòm lên trên, đốt hai cây nến, chân nến là hai cái chén ăn cơm úp xuống. Tấm ảnh của Lớn (hồi mới 8 tuổi) để trong cái khung không có kính để giữa hai cây nến cháy leo lét.

Thím Rạt về nhà đơm một bát cơm trắng trên có quả trứng luộc bóc vỏ, đôi đũa đặt trên thành bát, đem sang đặt trên quan tài, phía ngoài khung hình.





Chú thím Cải đi đạo ông bà, thờ linh vị tổ tiên và thân sinh chú Cải nhưng dăm tháng nay, thằng Lớn mang về nhà một cỗ tràng hạt bên Công giáo, chẳng biết ai đã cho nó. Cứ mỗi tối nó bỏ cỗ tràng hạt ra ngồi ngắm nghía, làm dấu Thánh giá rồi đọc vài kinh nó thuộc.

Con Ti và con Tí thấy lạ, hỏi:

“Anh làm cái gì vậy, anh Lớn?”

“Mày con nít biết gì mà hỏi?” Lớn đáp tỉnh queo.

Con Tí không nói gì nhưng con Ti bảo:

“Hứ, anh thì lớn lắm đấy! Hơn tui 3 chứ mấy. Anh biết được thì tui cũng biết được. Đừng tưởng lớn làm tàng!”

Thằng Lớn nghe đến đó thì dịu giọng. Nó nhớ lại lời Sơ Têrêsa Ngà dạy nó và các bạn, cả anh huynh trưởng Đạc cũng dặn như vậy ở nhà thờ Vinhsơn Liêm là lớn thì phải nhẹ nhàng, lịch sự, hay giúp đỡ với nhỏ; còn nhỏ thì phải tôn trọng, lễ độ với lớn; cần nhất là đừng chửi thề, nói tục. Nó bảo hai đứa em:

“Ừ, cái này bên Công giáo người ta cho. Khi nào tao thấy thuận tiện, sẽ dẫn tụi bây đến đó coi cho biết. Cỗ tràng hạt này là bà Sơ Têrêsa Ngà cho tao đó.”



Con Ti và con Tí chỉ trố mắt nhìn, rất lạ lùng vì chúng chưa thấy cái vật lạ này bao giờ nhưng nghe Lớn giải thích và hứa cho đi coi thì cũng thích. Cái ngày thuận tiện Lớn hứa với hai em chưa đến thì Lớn bị tai nạn. Trong khoảng thời gian từ lúc nó hứa đến lúc bị tai nạn, nó chỉ đến nhà thờ Vinhsơn Liêm được 3 lần vào các chiều Chủ nhật. Ngày nào cũng phải đi bán vé số, tối khuya mới về vì phải bán cho bằng hết mới kiếm được dăm chục ngàn, nào nó có giờ đâu mà đến nhà thờ gặp Sơ Têrêsa và anh huynh trưởng Đạc? Vả lại, có lúc nó cũng hơi ngại vì quần áo rách nát, người ngợm dơ bẩn chưa kịp tắm rửa, mùi mồ hôi xông ra quá đậm chính nó cũng thấy tệ.



Con hẻm nhà nó nước dơ chan chứa dưới chân, dưới rãnh, ngập gầm giường, gầm tủ nhưng nước uống, nước tắm giặt thì hiếm vô cùng. Cái phông-tên công cộng ở đầu xóm, chảy nhỏ giọt, cả tiếng mới đầy một thùng mà vò, thùng, can nhựa, cả chai lọ đủ mọi thứ có thể chứa được nước sắp một hàng dài cả vài trăm thước, ai có can đảm đứng chờ đến lượt mình?



Mẹ Lớn vài ngày phải ra đầu xóm mua một can nhựa nước để nấu cơm nấu canh. Thím san ra ba bốn cái vò nhỏ nữa để hai con Ti và Tí ì ạch khiêng về. Đó là nước ăn uống, còn tắm giặt chưa biết tính sao! Chú Cải đi xe ôm nên gặp cái hồ, ao nào có thể được là ngó trước ngó sau nhào xuống tắm vội ba phút rồi lên, thỉnh thoảng chú vẫn kể cho vợ con nghe chuyện “tắm chui” khỏi tiền bạc gì!



Thím Cải biết thằng con quý cỗ tràng hạt, thím lại chỗ Lớn để, lấy ra trao cho chồng:

“Thằng Lớn mấy tháng nay đi lễ nhà thờ mấy lần (thím không hiểu nên nghĩ nó đã vào đạo). Người ta cho nó cỗ tràng hạt này, ngày nào nó cũng bỏ ra vân vê rồi đọc kinh kệ gì tôi không hiểu. Anh bỏ lên cạnh tấm hình của nó cho nó vui lòng.”



Chú Cải trịnh trọng đặt cỗ tràng hạt ngay truớc khung hình của Lớn. Chú dựng đứng cây thập tự vào tấm ảnh rồi đứng nhìn, rưng rưng nước mắt. Chỉ vì nghèo mà mất thằng con trai độc nhất của dòng họ. Tía chú khi xưa chỉ có chú là con trai, hai ông bà nắn nút cho chú khôn lớn, cho đi học hết tiểu học rồi về phụ gia đình làm ruộng rẫy, nuôi cá ao, nuôi gà vịt, heo chuồng kiếm sống. Chú nghĩ vợ chồng chú thua cha mẹ chú khi xưa rất xa. Cha mẹ chú cũng bắt chị em chú mần công mần việc ruộng nương, chăn nuôi nhưng thực phẩm lúc nào cũng dư, quần áo bộ này bộ khác khi có đình có đám, đêm ngủ thẳng giấc không lo sợ bất cứ cái gì.



Lúa, bắp, khoai, mì, tôm cá cứ chịu mần là có, chẳng thiếu thứ gì. Nước mưa trữ vào lu vào khạp uống quanh năm. Sông lớn thì mỗi chiều ra tắm thoải mái, hồ ao đánh cá, bắt tôm cua sò ốc hến. Dăm ba bữa lại bắt vài con cá lóc lớn, nướng trui, cuốn bánh tráng. Rau lúc nào cũng ngập rổ, rau đắng, bông điên điển, rau lang, rau diếp, rau đọt dừa, rau xà lách xoong, lá xoài non, lá sắn non ...cứ thế cuốn với cá chấm với nuớc sốt bà già đã chưng có thịt ba chỉ, đầu cá, mắm thái v.v...ăn quên thôi.



Ngày nay vợ chồng chú làm quần quật tối ngày không ngơi nghỉ để nuôi thân và nuôi ba đứa con. Chúng được những gì? Nhiều lúc nhìn chúng mà đứt ruột. Con Ti và con Tí, tuổi này là phải đến trường vậy mà không có tiền đóng học phí, không có tiền biếu thầy biếu cô, chúng phải ở nhà gọt củ năng phụ mẹ kiếm ngày vài ngàn. Con Ti còn đọc chậm chạp được, viết chút đỉnh còn con Tí đã 8 tuổi, chưa xong lớp 1 thì phải nghỉ học vì nhà trường bắt đóng tiền phụ phí ba trăm ngàn một niên khoá. Tí đọc chưa thông và viết chưa thạo.



Thằng Lớn vì thương gia đình, vì cố giúp một tay cho cha mẹ nó kiếm bữa ăn hàng ngày mà vong mạng. Nghe thằng Rinh xóm bên kể lại thì thằng Lớn đã quá vội vàng khi phóng sang bên kia đường để đón mối ông Việt kiều mà ra cớ sự. Chiếc xe gắn máy trên chở hai người có lỗi là phóng quá nhanh, không kịp thắng khi thấy thằng Lớn nên tông vào nó làm nó lộn đi nhiều vòng. Tông nó rồi lại bỏ nó đi, đáng lẽ phải hỏi han nó và chở nó vào ngay bệnh viện. Ôi thôi, xứ này mạng người quá rẻ, tháng cả ngàn chết vì tai nạn giao thông. Rủi ráng chịu!



o0o



Cô Giỏi mang sang mấy cây hương nhưng chẳng có chỗ cắm, thím Cải phải dùng cái chén ăn cơm đổ gạo vào lưng lưng rồi cắm hương. Cô nhìn thấy tượng Chúa liền hỏi thím Cải, ở đâu mà có tượng Chúa vậy? Thím Cải phải kể lại từ đầu. Con Ti và con Tí đứng ngó cảnh tượng, mặt mày buồn so. Chúng mất thằng anh hay bênh vực chúng mỗi khi có trẻ hàng xóm bắt nạt. Chúng cũng mất một người bạn, Lớn có đồ chơi gì cũng cho chúng chơi chung. Hai đứa không thể tưởng tượng nổi anh Lớn chết nhanh thế! Mới buổi sáng Lớn còn đưa vé số đi bán, rồi Lớn về Lớn khoe bán hết vé số cho một ông “Việt kiều”, ổng lại cho Lớn ăn phở và uống sữa đậu nành và 50 đô. Chỉ ít phút sau, Lớn gục xuống, chở đi nhà thương và bây giờ là nằm bất động!



Tối mịt hôm đó, chú thím Cải và hai đứa con gái được mỗi người một gói mì ăn liền, xong chú Cải bảo thím và hai đứa con đi ngủ. Khoảng ba giờ khuya, chú sẽ gọi thím dậy ngồi canh cái hòm đến sáng cho chú ngủ một lát, mai mới có sức đi chôn thằng con, không thì quỵ. Người bình dân không dám ngủ, e con mèo nhảy qua, họ tin vậy, nếu chưa đóng tấm ván thiên thì người chết ngồi bật dậy đi quanh nhà như quỷ nhập tràng, còn nếu đã liệt ván thiên thì cũng nhiều lôi thôi lắm.



Sáng hôm sau, lúc 9 giờ, bác Cư, cô chú Giỏi, anh chị Tuỳ, chú thím Rạt tụ tập tại nhà chú thím Cải. Hôm qua anh Tuỳ đã đi kêu cái xe ba gác của anh Vầng, nhà ở hẻm 330, hẻm kế. Mới đầu anh Vầng đòi năm trăm ngàn tiền mướn xe nửa ngày, sau khi nghe anh Tuỳ nói tự sự, Vầng không lấy tiền xe nhưng tình nguyện đạp xe chở cái hòm đi.





Cái xe ba gác chở hòm thằng Lớn ra khỏi con hẻm vào lúc 10 giờ vì mấy người đều muốn đi ra nghĩa trang tiễn biệt Lớn nhưng không có xe. Hai chiếc xe của anh Tuỳ và chú Giỏi thì đã chở hai người vợ của họ. Bàn đi tính lại, bác Cư bảo chị Tuỳ và cô Giỏi khỏi đi, hai chỗ đó dành cho thím Cải và hai đứa con gái. Chú Cải ngồi trên xe ba gác kế cái hòm.

Không có tiếng khóc vì thím Cải là người khóc nhiều nhất nhưng thím đã hết nước mắt. Chiếc xe ba gác vào đến nghĩa trang Bình hưng Hoà cũng hơn 12 giờ vì đường quá kẹt xe.



Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

(tiếp theo) 2

Hồ chí Minh CM sao y “chang” bản chánh Cách mạng vô sản của Trung Cộng !

1/ "Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không" (Tưởng Vĩnh Kính, sách HCM tại Trung Quốc, trang 356 - 357). Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với cán bộ thân tín rằng "Thà để cho thực dân Pháp đô hộ thêm 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một Nước Việt Nam độc lập ! "Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) mâu thuẫn đã dựng cờ, trong khi đó lại còn bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập Dân tộc chân chính khác... Ông rất cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào tranh thủ quần chúng.....” (Sách đã dẫn, trang 373).
Những năm gần đây, càng ngày càng có nhiều học giả khám phá thêm nhiều tài liệu lịch sử, làm sáng tỏ nhiều vấn đề từ trước tới nay ít người biết. Các sử liệu ấy đã đánh đổ nhiều huyền thoại về Hồ Chí Minh, mà đảng CS của ông đã thêu dệt, bịa đặt để thần thánh hóa ông ta. Sự thật ông Hồ không có sáng kiến gì cả. Cái gọi là "sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác Lê", chẳng qua là sự sao chép, cóp nhặt, vay mượn của người khác. Nếu không có cuộc cách mạng vô sản ở Trung Cộng, liệu ông Hồ có thành công ở Việt Nam hay không ?
Ông Hồ chỉ học lớp 7 trung học phổ thông. Ông chưa biết hết khái niệm thông thường của khoa học thường thức. Tuy nhiên, vì ra đời sớm, tự lập để mưu sinh b1ng đủ thứ nghề : bồi tàu hạng bét, phu quét tuyết trên đường phố Luân Đôn, bồi khách sạn, thợ rửa ảnh.... ông Hồ có nhiều mưu gian mẹo vặt và thủ đoạn gian hùng. Ông sáng trí trong việc bắt chước. Ông không bao giờ nêu về vấn đề gì có liên quan đến xuất xứ của mình. Đó là thái độ thiếu minh bạch.
Hơn 20 năm làm cán bộ tình báo, gián điệp (1924 - 1944), ông Hồ ăn lương, lãnh phụ cấp, giấy thông hành của Liên Xô để qua các Nước Á Châu hoạt động. Liên Xô không trả tiền để ông đi “giải phóng Dân tộc” Việt Nam của ông. “Ai chi tiền, người ấy chỉ huy”, đó là một định luật. Ông Hồ ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Những từ ngữ “đi tCm đường cứu Nước”, “giải phóng Dân tộc” là những huyền thoại mà đảng CSVN thêu dệt, bịa đặt thêm sau này, để tôn ông lên hàng "cha già Dân tộc". Sự thật thủy chung ông Hồ vẫn là một cán bộ CS quốc tế, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa CS sang các Nước. Ông phải ngụy trang dưới chiếc áo Dân tộc, để lừa gạt mọi người. Ông tới Trung Hoa trước sau 5 lần. Mỗi lần ông ở lại một thời gian khác nhau và lấy những bí danh khác nhau, để hoạt động gián điệp trá hình, và xuất cảng chủ nghĩa CS theo lịnh của Nước chi tiền.

ÔNG HỒ KHÔNG THIẾT THA GÌ ĐẾN “ĐỘC LẬP DÂN TỘC" :
Những ai từng nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của HCM cũng nhận ra một điều quan trọng : Đối với ông, không có tình yêu Nước hay Dân tộc. Tuy nhiên, lúc nào ông cũng ngụy trang, nép mình dưới chủ nghĩa Dân tộc để truyền bá chủ nghĩa cộng sản. Đó chính là lý tưởng suốt đời của ông. Nó thôi thúc ông trong bữa ăn, trong giấc ngủ. Nó biến thành một bản năng mãnh liệt.
Vào năm 1941, từ biên giới Trung Quốc, ông lén lút về hoạt động, ngụ tại hang Pác Bó (Cao Bằng). Thấy mình chưa có địa vị và quyền hành gì trong đảng CSVN, ông đã nghĩ ra mưu sâu kế độc “tiêu diệt trung ương đảng ở tại Nam Kỳ”. Ông bí mật chỉ điểm cho Pháp hốt trọn ổ trung C6ơng Đảng ở Nam Kỳ, rồi lập ra trung ương Đảng mới, cử Trường Chinh làm tổng bí thư. Theo sự nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: "Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó, không phải là "vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không ?”
Với thực lực còn yếu kém, cho nên vào các năm 1942 - 1943, ông Hồ đã nghĩ đến việc phải thương lượng bắt tay với kẻ thù chính là Pháp. Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 của HCM và Pháp sau này đã manh nha từ mấy năm trước.
Khi tiếp xúc được với đ i diện phái bộ Đồng minh đi tìm phi công bị bắn rơi, ông Hồ tìm cách lợi dụng họ. Ông luôn che giấu bộ mặt thật CS của mình. Ông còn tuyên truyền lừa bịp rằng "Việt Minh là một sự liên minh của các đảng phái quốc gia.....?"
Ông gấp rút lập một căn cứ địa trong rừng núi Việt Bắc để đón tiếp "phái bộ không trợ trên mặt đất của Mỹ” để xin viện trợ, xin cung cấp võ khí và huấn luyện. Đổi lại, Việt Minh có cứu được vài phi công dẫn qua biên giới, trao cho đại diện của Đồng minh. Tại căn cứ, ông Hồ tỏ ra thân thiện với phái bộ Mỹ. Ông đã dùng điện đài của một viên trung sĩ Mỹ tại căn cứ này để liên lạc với đại diện của phe De Gaulle t1i Côn Minh để xác nhận :
- Pháp phải hứa với ông (có giấy bảo chứng) sẽ trả độc lập cho VN từ 5 tới 10 năm nữa, thì ông sẽ cộng tác với Pháp.
- Yêu cầu Pháp giúp vũ khí và huấn luyện.

Cũng qua các cuộc thoại đàm, HCM hứa sẽ thân thiện với Tây phương, đặc biệt là Pháp và Mỹ. Đồng thời ông tố cáo đảng Đại Việt (Đại Việt Duy Tân thân Nhật) đang chĩa mũi nhọn vào người Pháp. Ông tiếp "Việt Minh sẽ ra lệnh cho hai triệu đảng viên và dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng để đề phòng cẩn mật, cùng ngăn chặn kế hoạch phạm pháp này của=2 0đảng Đại Việt......” (Đối với Việt Minh, đảng Đại Việt đang chống Pháp là "phạm pháp", còn VM thì bắt tay và ủng hộ Pháp!). Xem "HCM tại Trung Quốc, của Tưởng Vĩnh Kính, trang 359).
"HCM nói xấu và bán rẻ đảng Đại Việt, không những để tranh thủ ân sủng của người Pháp, mà còn gián tiếp phản Hoa...." (Sách đã dẫn trang 359)...Trong một đoạn khác cùng tài liệu đã dẫn, cho biết : "Trước ngày Nhật đầu hàng không lâu, John (Người Mỹ trong phái bộ Đồng minh đến căn cứ của ông Hồ) đã dùng điện đài của hắn đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ :
”Đảng Đại Việt (chống Việt Minh) đang trù tính gây cuộc khủng=2 0bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh..." (Sách đã dẫn, trang 358).

Như vậy trong thâm tâm ông Hồ chẳng thiết tha gì đến độc lập Dân tộc. Đó chỉ là chiêu bài để ông sử dụng trong giai đoạn này. Ông chỉ băn khoăn lo sợ rằng các đảng phái quốc gia sẽ phỏng tay trên ông, cướp chánh quyền trước, cho nên ông sẵn sàng liên kết với kẻ thù để tiêu diệt anh em cùng chung một mục đích. Đó là mưu kế gian manh, phản trắc của ông Hồ và tập đoàn đảng CSVN.
HCM suốt đời chỉ ôm ấp một giấc mộng đem chủ nghĩa CS du nhập vào Nước ta, và biến Dân tộc này trở thành chư hầu của Liên Xô, cho nên đi20đâu và lúc nào nhìn ở đâu ông cũng thấy hình ảnh Các Mác, Lenin, Engels.... Khi về ẩn náu trong hang Pác Bó, ông đặt tên ngọn núi phía sau hang là "núi Các Mác", suối trước mặt là "Suối Lenin", còn rừng xung quanh là "rừng Engels", hoa dại ven rừng là "hoa vô sản"... Nhìn đâu, ông cũng thấy các lãnh tụ cộng sản, các lý thuyết gia cộng sản. Chủ nghĩa CS đã thâm nhập vào đầu óc ông ta mấy mươi năm, cho nên ông đâu có màng gì đến độc lập, tự do của Dân tộc ? Nước ta đang bị hai tầng áp bức bốc lột của Pháp Nhật, dân chúng nhất là miền Bắc và Trung đang rên xiết, oằn oại dưới sự bốc lột của thực dân, ông đâu có đau khổ......? Ông chỉ mượn các thảm cảnh ấy làm chiêu bài đấu tranh giai đoạn mà thôi.
Ít ai ngờ rằng ông Hồ từng tâm sự với các cán bộ thân tín rằng "Thà để cho thực dân Pháp đô hộ VN thêm 5, 10 năm nữa, còn hơn để các đảng phái quốc gia giành được chánh quyền một nước Việt Nam độc lập” (Sách đã dẫn).

Nếu như không có cuộc “chiến tranh giải phóng” ở Trung Quốc, để đưa toàn dân Trung Hoa vào quỹ đạo cộng sản, liệu ông Hồ có tìm ra cái khuôn mẫu để tổ chức kháng chiến ở Việt Nam hay không ?
Ngụy trang dưới chiêu bài quốc gia Dân tộc, giấu bộ mặt thật CS để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi tiến hành cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam, giết biết bao nhiêu người vô tội cũng chỉ vì yêu Nước, theo kháng chiến, lập nhiều chiến công, rồi lại bị quy chụp là "giả vờ kháng chiến, leo cao, chui sâu vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại....” Đó là cách kết tội những người đi theo kháng chiến trước khi hạ sát họ. Chiếm được phân nửa Đất nước miền Bắc, ông Hồ dựng lên chiêu bài "Chống Mỹ cứu nước" (Lại bắt chước Trung Cộng "Kháng Nhật cứu nước") để lừa bịp toàn Dân vào cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, chiếm cho bằng được miền Nam, mệnh danh là "giải phóng Dân tộc?"
Chữ nghĩa đã bị CS làm thay đổi ý nghĩa nguyên thủy. Nếu như không sống với CS thì không thể hiểu đư c tâm địa và mặt mũi họ. "Giải phóng" gì mà một Nước nghèo nàn lạc hậu, dân trí thấp, đời sống cơ cực... đem quân chiếm một nước giàu có, phồn thịnh hơn mình để cướp của, cướp tài sản.... thì gọi là "giải phóng Dân tộc đó ư?"

MẶT TRẬN VIỆT MINH (1914) VÀ "MẶT TRẬN GPMN", SAO Y BẢN CHÁNH CỦA TRUNG CỘNG :
Năm 1938, từ Liên Xô, ông Hồ chạy qua Trung Quốc lần thứ 3. Tại căn cứ địa Diên An, ông Hồ gia nhập làm đảng viên của Trung Cộng do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Rồi ông gia nhập quân đội của Mao để làm lính đánh thuê cho Mao. Muốn thấy rõ tiến trình hoạt động của ông Hồ , chúng tôi xin nhắc lại giáo điều của CS Quốc Tế :
“HCM đã lập khuôn các giáo điều của CSQT, đem cuộc vận động cách mạng VN chia làm 2 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Dùng chủ nghĩa Dân tộc làm chiếc áo che ngoài, và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản (Chính phủ liên hiệp hồi 1946 và "chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN" 1973).
Giai đoạn 2 : thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồi đó báo "Thanh Niên" do "Đồng chí hội" phát hành, cũng là "tiếng nói của giai đoạn 1”. Nó không hề nói đến chủ nghĩa Mác Lê một cách trực tiếp, mà các lu=E 1n đề thảo luận trước tiên về chủ nghĩa Dân tộc, rồi khéo léo xen vào một vài giáo điều cơ bản cùng quan điểm của Lênin, để “chuẩn bị chuyển hướng đến giai đoạn 2”. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ, ông Hồ công khai nói rõ chủ nghĩa Mác Lê....." (Sách đã dẫn, trang 96).
Nên nhớ vào năm 1935, trong kỳ Đại hội CSQT kỳ 7, đã chỉ thị cho Trung Cộng: “Phải thay đổi đường lối là sau khi Mao Trạch Đông chạy thoát cuộc bao vay của Quốc Dân Đảng, còn gọi "Vạn lý trường chinh", là phải thành lập "Mặt trận Dân tộc", rồi dùng chiêu bài "Kháng Nhật cứu Nước". Tất cả các tổ chức "cứu quốc" của ông Hồ đều mô phỏng y chang tB chức của Trung Cộng mà thôi.... “Mặt trận Dân tộc”, các tổ chức “Cứu quốc”, rồi căn cứ địa, khu giải phóng.... đều được ông Hồ bê y chang đem về VN để lập “Mặt trận Việt Minh”, và các tổ chức phụ thuộc cùng tên gọi với các tổ chức của Trung Cộng. Khi Nhựt vào VN, uy hiếp Pháp, ông Hồ lợi dụng thời cơ lập ra cái gọi là "Mặt trận Việt Minh", để xây dựng chính quyền địa phương và chuẩn bị cướp chính quyền y chang như bên Trung Cộng.
Trong thời gian làm lính đánh thuê cho Trung Cộng, ông Hồ học được nhiều kinh nghiệm về tổ chức huấn luyện cho binh sĩ, tổ chức các khóa học chính trị, và lập ra các tổ chức bịp bợm, ngụy trang dưới hình thức chính nghĩa.20Ngoài ra, ông Hồ cũng học kinh nghiệm cùng phương pháp xâm nhập, cùng các tổ chức khác, để phá hoại lôi cuốn người của họ về phe mình.

Có thể nói Mặt trận Việt Minh (1941 - 51) rồi "Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960 - 1975) cũng như khẩu hiệu "chống Mỹ cứu Nước" chính là bắt chước các tổ chức của Trung Cộng mà thôi. Sách lược của tổ chức này, ngoài mặt "kêu gọi đoàn kết rộng rãi các Dân tộc và đảng phái”, nhưng ý đồ sâu kín của họ là phân hóa hàng ngũ những người quốc gia, tiêu diệt các đảng theo hệ phái Dân tộc chủ nghĩa, đồng thời khuếch xung lực lượng của riêng CS lớn mạnh thêm. Trước khi chọn danh xưng"Mặt trận Việt Minh", ông Hồ giả bộ thảo luậ n để chọn lựa từng chữ : “trước cục diện mới, vấn đề đoàn kết Dân tộc càng quan trọng. Chúng ta cần phải cân nhắc kỹ để thành lập một mặt trận mà hình thức và tên gọi sao cho tuyệt đối phù hợp với cục diện đó”. “Chữ Việt Minh” do “VN Độc lập đồng minh”). (Sách đã dẫn, trang 186).

Từ đó, ông Hồ tìm sự mập mờ giữa các đảng “VN cách mạng Đồng Minh Hội” và “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” của những người quốc gia, có trước bên Trung Hoa, để lập ra “VN độc lập Đồng Minh” tức “Việt Minh”, rồi lại định nghĩa "Việt minh là sự liên minh các đảng phái quốc gia...."
Tưởng cũng nên nhắc lại rằng "VN Cách mạng đồng minh hội" là một tổ chức hợp pháp của các đảng theo xu hướng chủ nghĩa Dân tộc, của các nhà cách mạng VN sống lưu vong tại Trung Hoa năm 1942. Thực chất "Việt Minh" là CS trá hình nhằm ngụy trang để lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân. Khi mặt trận “Việt Minh” ra đời, ông Hồ đem các tổ chức “thanh niên cứu quốc”, “phụ nữ cứu quốc”, “công nhân cứu quốc”, “nông dân cứu quốc”......(đều bắt chước Mao) làm nồng cốt, núp dưới mỹ từ chính nghĩa "cứu quốc".
Các tổ chức mệnh danh là "cứu quốc" thật ra khủng bố đồng bào trong các vùng, họ chưa thiết lập được chính quyền. Các tổ chức "cứu quốc" còn tranh công v i phe quốc gia đang xả thân kháng chiến, rồi tìm cách tiêu diệt người quốc gia tiểu tư sản, bằng cách vu khống, chụp mũ, rồi thủ tiêu....
Khai sinh ra "Mặt trận Việt Minh" thì ông Hồ nhằm mục đích lợi dụng danh nghĩa “VN Độc Lập Đồng Minh Hội”, để chiêu tập tổ chức quần chúng của tổ chức này, và đồng thời chiêu dụ tàn quân của phe thân Nhật. Ông Hồ lợi dụng danh nghĩa "VN Độc Lập Đồng Minh Hội” để lôi cuốn phe thân Nhật, cũng giống như việc ông lợi dụng danh nghĩa “Giải Phóng Đồng Minh Hội” của Trung Quốc, để lôi cuốn phe thân Hoa. Mục tiêu thật sự của ông nhằm phân hóa hàng ngũ đối phương và xây dựng thêm lực lượng riêng của ông ta. Có thể nói không nhầm lE1n rằng : khi lập Mặt Trận "Việt Minh", ông Hồ muốn che giấu bộ mặt thật CS của mình và tổ chức của mình. Lý do hai chữ "cộng sản" đã bị dân chúng ghét bỏ vì nó đã tàn sát dã man người Việt trong vụ "CS dậy năm 1940", mà sách của CS gọi "Nam Kỳ khởi nghĩa". Mặt trận "Việt Minh" là sự ngụy trang chủ nghĩa Dân tộc, bắt chước tổ chức "Mặt trận dân tộc" tung khẩu hiệu "Kháng Nhật cứu Nước", thì mục đích chính của nó không phải đánh Nhật, mà chỉ làm tiêu hao lực lượng của chính phủ Quốc Dân Đảng, đồng thời khuếch trương lực lượng của riêng ông ta. Theo cách đó, ông Hồ lập “Mặt trận Việt Minh”, kêu gọi đoàn kết chống Pháp, nhưng mục tiêu thật sự của nó nhằm phân hóa hàng ngũ của phe quốc gia, để tiêu diệt họ. Khi mặt trận "Việt Minh" ra đời rồi, ông Hồ cũng bắt chước phương pháp của Trung Cộng để tiến hành :
- Cho cán bộ thụ huấn về chính trị ở Tỉnh Tây làm nòng cốt.
- Củng cố và phát triển căn cứ địa.
Ông nói : "Muốn củng cố thì phải lấy huấn luyện chính trị làm cơ bản. Muốn phát triển phải tuyên truyền. Trong chế độ cộng sản, sự tuyên truyền (lừa bịp) là quốc sách hàng đầu....Khi chính phủ lâm thời tự phong đầu tiên trong rừng Thái Nguyên, ông Hồ có lập Bộ Tuyên Truyền, giao cho Trần Huy Liệu làm Bộ Trưởng. Cách tổ chức "chiến khu" thời kháng Pháp l0 bắt chước phương thức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thời kháng Nhật. Hai chữ "chiến khu" thời kháng chiến như có ma lực, quyến rũ nhờ cách tuyên truyền qua các bài hát thịnh hành lúc đó :
"Chiều nay nhớ chiến khu, "Trong rừng chiều....

Tôi chắc rằng quý vị ở cái tuổi cổ lai hi hôm nay, nhiều người còn nhớ bài hát rất được thanh niên ưa thích này. Chính sách của Việt Minh gồm hai mặt : điểm và diện. Nói chỗ này nhằm tấn công chỗ khác. Nói thẳng mình là cộng sản, và muốn làm cách mạng vô sản thì phần đông dân chúng chán ghét, sẽ thất bại. ông phải “nói một đàng, làm một nẻo". Muốn vậy phải học tập chính trị, nhồi=2 0sọ "chính nghĩa giai đoạn" cho mọi cán bộ. Cán bộ sẽ bảo đảm thi hành đúng đường lối và chính sách của đảng đề ra. Trong sách “HCM tại Trung Quốc”, tác giả Tưởng Vĩnh Kính có nhắc tới : “Ông Hồ tỉ dụ : “Cuộc vận động cách mạng (không phải kháng chiến giải phóng Đất nước như họ đã tuyên truyền), giống như thủy triều lên. Các phần tử trung kiên giống như hàng cọc đóng xuống đất cát ; khi thủy triều xuống, hàng cọc này sẽ chận giữ đất cát lại, không để cho trôi đi” (Sách đã dẫn, trang 210).

Phương pháp tuyên truyền của VC trước sau như một : trước hết dùng lời lẽ ngọt dịu để quyến rũ. Sau đó, tới giai đoạn làm áp lực, buộc thanh niên nam nF gia nhập các tổ chức. Ai không theo bị gán tội "Việt gian" sẽ bị giết chết và tịch thu gia sản bất cứ lúc nào. Vì lẽ đó, thời kháng chiến chống Pháp, nhiều gia đình trung lưu phải bỏ vùng "giải phóng", để ra vùng Pháp chiếm mới bảo toàn được sinh mạng, tuy bị mang tiếng phản bội.
Hồi mới về tuyên truyền lập các căn cứ du kích tại vùng của dân tộc Nùng, Thái đâu biết gì đến “độc lập” “tự do”. Họ chỉ biết có một điều “cơm no, áo ấm", và cán bộ Việt Minh bảo họ cứ theo "Kê Hồ" tức có đủ hai thứ đó, thế thì nhiều người theo. Tuyên truyền với Dân tộc thiểu số rất dễ dàng, và ông Hồ nhờ đó mà có được thành công bước đầu.
Chẳng những ông Hồ nhọc nhằng giữa danh xưng các tổ chức có sẵn để lợi dụng, mà ông còn xâm nhập vào các tổ chức có trước, để lũng đoạn, phá hoại. Khi ở Liễu Châu (1942 - 1944), ông Hồ tìm cách gia nhập “VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” (lập 10 - 1942) để tìm viện trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng....Tuy nhiên, ông chỉ gia nhập với tư cách cá nhân, chớ không đem cái mặt trận Việt Minh của mình theo. Về chiến thuật này, ông Hồ từng nói với cán bộ : "Ta phải lợi dụng cơ hội đó mà gia nhập "VN Cách Mạng Đồng Minh Hội” để biến tổ chức của địch làm tổ chức của ta. Ta cũng lũng đoạn tổ chức của họ, khiến nó phân hóa”. Thủ đoạn này được ông Hồ áp dụng triBt để trong thời chiến tranh Quốc Cộng Nam Bắc 1954 - 1975.

Sách lược của ông Hồ là bất luận phe phái nào, tổ chức nào, miễn có lợi cho quyền lợi riêng của đảng CS, thì ông không bao giờ bỏ qua. Ông lợi dụng triệt để, để tiến hành công tác riêng của đảng CS.
Vì không biết rõ tâm địa của Hồ Chí Minh, nhiều trí thức, đảng phải quốc gia chỉ trích ông ta “trước ở hải ngoại thì cùng chung tranh đấu giành độc lập, nay về Nước thì phản bội". Thật sự, chủ trương của ông Hồ chỉ giả vờ “đoàn kết”, thế thôi, ông Hồ “đoàn kết cuội”, để lừa dối họ, chớ đâu có thiết tha gì đến đ=E 1c lập !
Nỗi ưu tư lớn nhất của ông Hồ là làm sao nắm chính quyền hợp pháp. Cướp chính quyền tháng 8 - 1945, chỉ có giá trị bằng sức mạnh, nhưng thiếu tư cách pháp lý để quốc tế nhìn nhận. Ông cần tư cách ấy, để kết tội những kẻ chống đối bằng những tội trạng bịa đặt, vu khống rồi tiêu diệt hoặc thủ tiêu. Sau đó mượn chính nghĩa "Kháng chiến" giành độc lập để tiến hành cuộc cách mạng vô sản, để trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, chư hầu của Nga, Tàu.
Nói tóm lại, thái độ của ông Hồ và đảng CS thay đổi như cái chong chóng : Khi thân Hoa, khi thân Mỹ, khi thân Pháp....có lúc lại biến20tất cả thành kẻ thù. Lại có khi "liên hiệp" với các đảng quốc gia, nhất cử nhất động của ông ta, đều là những cử chỉ, thái độ giả trá. Mục đích của ông là làm sao cho Việt Minh cướp được chính quyền. Khi có danh chính ngôn thuận, tư cách chính phủ hợp pháp, ông Hồ liền loại tất cả những ai không ở trong tổ chức Việt Minh. Sau khi bầu cử quốc hội cuội xong, ông Hồ, với tư cách chủ tịch nước, được quốc hội phê chuẩn, liền dùng mánh khóe, chụp mũ, vu cáo "những người quốc gia làm loạn", giết người cướp của....rồi hạ lệnh cho bọn "tự vệ", "cứu quốc" lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu. Mặt khác, ông Hồ liên tục cho mở các khóa huấn luyện chính trị cho cán bộ, để làm cái nhân của Việt Minh CS. Lẽ ra. "kháng chiến", một cu=E 1c chiến tranh chống xâm lăng như dưới đời nhà Trần, nhà Lê, nó đâu cần "nhồi nhét" lý thuyết chính trị vào đầu óc cán bộ, binh sĩ. Kháng chiến tự nó đã có chính nghĩa, chớ không phải “có chính nghĩa giai đoạn” như Việt Minh đề ra. Vai trò làm bình phong và cũng để lừa gạt dư luận của các trí thức như các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đăng Khoa, Trần Thiện Lộc, Bùi Bằng Đoàn, Hoàng Minh Giám, Đặng Phúc Thông.... bị gạt bỏ, khi sự lừa bịp đã bị phơi bày rõ ràng. Hồi mới sang sảng kêu gọi, thúc giục toàn dân kháng chiến của ông Hồ, thanh niên cứ đinh ninh có một điều : “ta chiến đấu để đuổi quân thù ra khỏi Đất nước, để Nước nhà độc lập, rạng rỡ và vinh quang. Nào ngờ, cuộc kháng chiến cứ đi ngoằn ngoèo từng giai20đoạn. Đó là “chỉnh huấn”. Đó là "rèn cán chỉnh quân". Đó là "Cải cách ruộng đất”. Rồi phải học tập chỉ thị của đảng “đi theo cách mạng” (không còn kháng chiến nữa) là để cải tạo tư tưởng thối tha, để xứng đáng “là người của đảng, của xã hội mới”, chớ không phải kháng chiến để mong tới ngày độc lập như họ đã hứa, đã tuyên truyền mấy năm trước ! Những cán bộ sau khi thụ huấn ở Tỉnh Tây về, trở thành những kẻ giảng dậy cho binh sĩ tân tuyển. Huấn luyện xong, cán bộ, binh sĩ trở thành "những kẻ bảo vệ quyền lãnh đạo của đảng”. Họ được đưa vào Nam, để thay thế các chức vụ then chốt mà những người có tài, có khả năng, được binh sĩ, dân chúng kính trọng nắm gi=E 1.... Xin nhắc lại nỗi bận tâm duy nhất của ông Hồ và đảng CS tức là Việt Minh không phải là vấn đề “VN có sớm được độc lập hay không, mà là vấn đề bản thân Việt Minh có thể đoạt thủ chính quyền hay không? ” (sách đã dẫn, trang 357). Vì thế, khi Nhật đầu hàng, các đảng quốc gia từ Trung Quốc kéo về, bị Việt Minh liên tục chận đánh và tiêu diệt dọc đường. Từ tháng 5 - 1945, Việt Minh cũng đổi thái độ từ thân ra thù với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, vì sợ chính phủ Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, sẽ giúp người quốc gia "hãm Việt Minh vào thế bất lợi."
Mở các khóa huấn luyện, ông Hồ bí mật cho phân loại thành phần xã hội những người đã theo Việt Minh để=2 0kháng chiến. Binh sĩ, cán bộ thuộc các gia đình tiểu tư sản, con cháu quan lại cũ, công chức thời Pháp, các gia đình điền chủ.... đều cảm thấy không còn chỗ đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa. Họ đã vì yêu nước mà theo Việt Minh, đã lập nhiều chiến công để Việt Minh nổi tiếng, bây giờ đến lúc “phải anh dũng hy sinh trong các trận đánh với Pháp”. Mỗi khi lâm trận, con em các gia đình tiểu tư sản bị dồn ra phía trước, làm bia đỡ đạn. Họ là những thành phần "phải xung phong trong chiến thuật biển người" của CS. Lợi dụng kẻ thù hy sinh cho đảng, hưởng lợi là sách lược trước sau như một. Chính sách này còn được tiếp diễn trong cuộc nội chiến Quốc Cộng (1954 - 1975) và tới cả ngày nay. Những người tị nạn CS, chạy thụt mạng trên biển 9 0ông, bây giờ, trở thành "Việt kiều yêu Nước", đem tiền bạc, trí tuệ về "xây dựng quê hương", tức vỗ béo cán bộ, đảng viên CS !
Từ khi Mặt Trận Việt Minh ra đời (5 - 1941) cho tới khi chiếm được chánh quyền (2-9-1945), đảng CS và bản thân ông Hồ, đều ngụy trang dưới hình thức chủ nghĩa Dân tộc. Trong tiến trình khuếch trương lực lượng để cướp chính quyền, ông Hồ có quá nhiều kẻ thù : Pháp, Nhựt, Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Mỹ.... và các đảng phái quốc gia. Ông Hồ quỷ quyệt dùng nhiều thủ đoạn nay bạn, mai thù, sớm chơi tối đánh, khi thân, khi chống.... Ông còn giả vờ hợp tác với các đảng quốc gia trong “chính phủ liên hiệp”, để phá hoại và tiêu diệt đối phương. 9 0ời ông chỉ có hai Nước mà thủy chung ông vẫn tôn thờ, sùng bái là Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, lãnh tụ các nước ấy khinh bỉ ông ra mặt. Năm 1949, Mao Trạch Đông là chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông Hồ cũng là chủ tịch nước Việt Nam 4 năm rồi. Vậy mà ông Hồ cầm đầu một phái đoàn đi xin viện trợ, phải băng rừng lội suối đến biên giới. Nhà cầm quyền Trung Cộng dùng một chiếc xe hàng (truck) chở phái đoàn lên Quảng Tây, bất chấp nghi thức ngoại giao không kèn, không trống. Sau đó, ông đi Liên Xô. Ông Lê Phát, thành viên của phái đoàn này kể lại: "....Sau này khi xem cuốn hồi ký "Memoires Inedites" của Nikita Kroutchev do nhà xuất bản Pierre Belfont dịch và in ở Paris, tôi biết thêm về chuyến "vi hành đầy gian khổ của ông Hồ. Tác giả (Nikita Kroutchev) kể lại :
0A
"Tôi nhớ HCM đã đến Moscou để xin viện trợ vật chất và vũ khí để chống Pháp. Staline không tin vào cuộc chiến ở VN, nên đối xử với ông Hồ một cách nhục mạ. Tôi không thấy ở ông ta chút cảm tình nào đối với một người CS như Hồ......” Đáng lẽ phải kính trọng, biết ơn.... Tôi còn nhớ một việc khác xúc phạm đến Hồ. Staline nói với chúng tôi là Hồ xin được đón với tư cách là chủ tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Staline không chấp nhận, đã trả lời Hồ : "Cơ hội ấy đã qua rồi. Ông đến Moscou không ai biết, không thể thông báo việc ông đến được”.......Hồ chỉ đề nghị Staline cho một máy bay và chuẩn bị diễn văn đón Hồ, có th từ trên máy bay xuống, để được đón như chủ tịch nước. Staline từ chối và ông ta cười khoái trá khi kể cho chúng tôi nghe về việc ấy......" (Hồi ký Lê Phát, Quê Mẹ, số 140).
Chúng tôi xin mượn lời kết của Tưởng Vĩnh Kính : "Nhằm tranh thủ quần chúng, ông (Hồ) dựng cờ chống Pháp và đấu tranh giành độc lập Dân tộc, trong khi đó, ông lại bán rẻ và bài trừ các đảng phái chống Pháp và tranh thủ độc lập Dân tộc chân chính khác. Khi cần thiết, ông thà từ bỏ nhu cầu độc lập, để mưu cầu sự sinh tồn và phát triển cho bản thân ông. Ông cũng tuyên truyền đấu tranh chống Nhật, nhưng lại kết hợp, lợi dụng vào các thế lực thân Nhật, thậm chí cùng với Nhật hành độ ng song hành, hiệp trợ nhau chống lại những kẻ địch khác, chỉ cốt mưu cầu bành trướng thế lực của bản thân ông. Ông cũng bày tỏ thái độ thân Hoa, nhưng chỉ là lợi dụng tổ chức thân Hoa này, để bài trừ hoặc tiêu diệt các đảng phái thân Hoa khác. Lúc cần thiết, ông lại thực thi các hành động bài Hoa để đạt mục đích mà ông cảm thấy là rất cần cho bản thân ông. Ông rất cần ngoại viện, nhưng ông không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào nhận ngoại viện. Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cho cá nhân hoặc đảng phái nào khác tranh thủ quần chúng. Ông lớn mạnh không phải từ những hô hào về chủ nghĩa cộng sản. ông đã dùng rất nhiều tên giả, lấy chủ nghĩa Dân tộc để ngụy trang, lợi dụng tất cả các cơ hE1i có lợi, để bảo tồn và phát triển lực lượng bản thân ông. Ông cũng lợi dụng những nhược điểm của đối phương để làm cho lực lượng đối phương yếu đi, hoặc bị tiêu diệt hẳn... Bởi vậy, mỗi một hành động của ông đều cho thấy ông là một người theo cơ hội chủ nghĩa, chỉ biết lấy sự sinh tồn, lợi hại của bản thân mình mà làm mục tiêu chính." (Sách đã dẫn, trang 373). @
GS. Hứa Hoành
Các bí danh của HCM tại Trung Quốc :
- Lý Thụy, Vương Sơn Nhi, Vương Đạt Nhân, Lão Vương, Tống Văn Cơ, P.C. Lin, Hồ Quang, Lão Trần, Hồ Chí Minh, Hoàng Quốc Tuấn, Thu Đại Gia...
Tài liệu tham khảo :
- Sách "HCM tại Trung Quốc" của Tưởng Vĩnh Kính, do Thượng Huyền dịch, nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, 1999.
- Hồi ký Lê Phát.
- Tư liệu của tác giả.

Bài 2. HCM gây nội chiến và chủ trương chiến tranh trường kỳ
Đến đây (1949) cuộc kháng chiến chống Pháp, không còn là kháng chiến nữa. Nó trở thành cuộc đấu tranh giai cấp trường kỳ...
8 0Kháng chiến chống Pháp là hình thức cao rộng của đấu tranh giai cấp, nghĩa là cuộc đấu tranh lớn lao trên thế giới giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản”. (Tổng Bí Thư Trường Chinh)
“Ông Hồ cứ đổ vạ cho người khác (Pháp) trong khi chính ông chủ trương gây nội chiến và trường kỳ kháng chiến để nắm quyền hành và làm cách mạng vô sản”.
Khác với những tài liệu, sách báo do Việt Cộng viết ra “...Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh nầy chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập... Nước Việt Nam cần kiến thiết, Nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm...”. (“Bác Hồ, những ngày tháng Chạp 1946”, báo Nhân Dân số ra ngày 15/12/1986).
Tất cả sách báo bên nhà viết ra đều theo đúng lập trường như trên. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu lý thuyết Mác Lênin và những hoạt động của Lênin hồi cách mạng vô sản tháng 10/1917 tại Nga, thì chúng ta nhận ra một sự thật trái ngược. Ông Hồ không những không muốn tránh chiến tranh, mà còn cám ơn Pháp đã xâm lăng Việt Nam, để ông có cơ hội cho đảng CS nắm chặt quyền bính, cũng như ông đã chủ trương gây nội chiến để triệt hạ tất cả những thành phần đối lập, thuộc20giai cấp tiểu tư sản.
Bằng mọi thủ đoạn lừa dối, gian xảo, một nhóm đảng viên CS vô nghề nghiệp (thực chất lúc đó chỉ có 8 người), tụ tập giữa rừng sâu (Tân Trào), tự phân chia vai vế với nhau (16/8/1945), âm thầm kéo về Hà Nội vào ban đêm (24/8/1945), dùng báo tuyên truyền bịa đặt chuyện “Quốc Dân Đại Hội Tân Trào” bầu ra chính phủ lâm thời. Vừa nắm chính quyền bất hợp pháp, ông Hồ thi hành một chính sách hai mặt :
1. Về công khai, ông kêu gọi mọi người “đoàn kết với Việt Minh” để ủng hộ chính phủ lâm thời do ông lãnh đạo.
2. Trong bí mật, ông thi hành một chính sách khủng bố dã man, dùng như sách lược của Lênin trong thời cách mạng vô sản ở Nga. Chính sách đó là “bắt cóc, ám sát, thủ tiêu, mổ bụng, cắt tiết, buộc đá thả trôi sông, xảy ra như cơm bữa từ thành thị đến thôn quê” (Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, trang 88, Văn Hóa xuất bản 2002).
Những tháng kế tiếp, các ban ám sát Việt Minh đêm ngày lùng sục bắt bớ những cán bộ các đảng phái yêu nước theo chủ nghĩa Dân tộc, những người có chút tiếng tăm hay gia sản. Việt Minh chụp cho họ cái mủ “Việt Gian” để biện minh cho những vụ thảm sát20vô nhân đạo ấy”.
HCM gây nội chiến.
Xin quý độc giả nhớ rõ một điều lúc nào Việt Cộng cũng xưng tụng “Chủ tịch HCM là một người học trò trung thành nhất của Lênin, mới rồi báo Nhân Dân còn ca tụng “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin còn sống mãi”. Những gì Lênin đã làm cho Dân tộc Nga hồi cách mạng vô sản 1917, đều được ông Hồ đem áp dụng vào trường hợp Việt Nam.
“Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và Nhân dân Việt Nam không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng l i cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng Sản”. (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, các trang 126 - 127).

Ngay từ khi mới chiếm được chính quyền, quan niệm của Lênin rất rõ : “Phe Bolchevik cướp được và giữ được chính quyền là điều ưu tiên lớn nhứt, mọi việc khác đều phụ, đều là thứ yếu, đều vặt vãnh...” (Thành Tín, Về Ba Ông Thánh, trang 54). Còn ông Hồ ? Tưởng Vĩnh Kính, trong tác phẩm nghiên cứu “HCM tại Trung Quốc”, sau khi phân tích tỉ mỉ, đã đưa ra nhận xét : “Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó (1945/1946) đã không phải là vấn đề : có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là v5n đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không ?”. (Tưởng Vĩnh Kính, sách đã dẫn, trang 356-357).
Hồi đó (1917 - 1918) vừa nắm chính quyền, Lênin liền tiến hành “chiến tranh giai cấp, tiến hành nội chiến để tiêu diệt kẻ thù giai cấp”. (Thành Tín, sách đã dẫn, trang 56). Còn trong “Mác Anghen tuyển tập, NXB Sự Thật, Mátxcơva 1978, tập I, trang 555 thì nói rõ : “Cuộc đấu tranh cho giai cấp vô sản, dù về mặt nội dung không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình trước đã” (Dẫn lại của LS Nguyễn Văn Chức). Như vậy buổi đầu mới nắm chính quyền, ông Hồ ngụy trang trong mặt trận Việt Minh để mọi người lầm t ởng họ không phải là cộng sản. Tuy nhiên trong hành động, thì Việt Minh hiện nguyên hình là “đấu tranh giai cấp” dùng bạo lực để củng cố chính quyền.”

Liền sau khi tuyên bố độc lập (2/9/1945) một chiến dịch khủng bố bắt đầu :
Trước đó một ngày 1/9/1945, VM đem quân đánh một căn cứ Đại Việt ở Ninh Bình.
Ngày 5/9/1945, ký sắc lệnh giải tán các đảng Quốc Gia Xã Hội, Thanh Niên Ái Quốc, Đại Việt Quốc Dân Đảng.
Ngày 6/9/1945 bắt thủ lãnh Thanh Niên Ái Quốc Võ Văn Cầm. Cùng ngày này trong Nam cũng xảy ra khủng bE1, bắt cóc.
Ngày 10/9/4195, Trần Huy Liệu họp báo thanh minh : “Đó không phải là khủng bố, vì bị bắt bao giờ cũng là những kẻ do sự điều tra, nhận thấy có phương hại đến chính quyền của Nhân dân.”
Ngày 12/9/1945 bắt nhiều cán bộ, các đảng quốc gia : Bùi Trần Thường, Đào Chu Khải, Lê Ngọc Vũ...
Ngày 13/9/1945 bắt hai lãnh tụ VNQDĐ Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp, bắt hụt Nhượng Tống... sau đó cắt tiết hai ông Sơn và Nghiệp ở Chèm Vẻ, thả trôi sông.
Ngày 15/9/1945, ông Hồ ký sắc lệnh an trí những người nguy hiE1m cho cách mạng... (Xem Chính Đạo. Việt Nam Niên Biểu, tập 1A, từ trang 255 tới 261).
Như vậy những gì ông Hồ đã làm chính là sao chép cái phương pháp của Lênin đã áp dụng cho Dân tộc Nga.
Nếu quý vị là thành viên hay lãnh tụ các đảng phái yêu Nước theo chủ nghĩa Dân tộc, bị khủng bố như vậy, liệu quý vị có phản ứng lại hay không ? Các đảng phái của những người yêu Nước theo chủ nghĩa Dân tộc buộc lòng phản ứng lại, chống lại Việt Minh để sinh tồn, tức nội chiến xảy ra. Ai gây ra nội chiến ?
Để thấy những việc làm của ông Hồ chính là cái bản sao cE1a Lênin trong thời gian mới chiếm được chính quyền ở Nga, xin nhắc thêm : “Nhiều giấy tờ, chỉ thị mang bút tích của Lênin đều xác nhận chính Lênin chủ trương “tiến hành nội chiến” để “tiêu diệt kẻ thù giai cấp”. Điều này cũng đúng với lý thuyết của Mác Anghen như đã dẫn ở trên.
Chúng tôi xin dẫn chứng thêm trên báo Cờ Giải Phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương đảng CS Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội ngày 5/10/1945, có đăng bài “Kỷ Niệm Lần Thứ 28 Cách mạng tháng 10” đã cổ võ nội chiến như sau : “Giữa cơn bão lửa gầm thét khắp năm châu, Lênin, ... lên tiếng. Những lãnh tụ vô sản này đã kêu gọi quần chúng Nhân dân các Nước quay súng lại, bAn vào đầu bọn tư bản trong Nước, đổi “chiến tranh chống đế quốc ra nội chiến”. Như vậy thâm ý của ông Hồ thay vì chuẩn bị kháng chiến chống xâm lăng, chống đế quốc Pháp, thì ông quay ra gây nội chiến trước, đúng sách lược của Lênin. Và như vậy, thực dân Pháp chỉ là kẻ thù phụ, thứ yếu, còn kẻ thù chính là giai cấp tiểu tư sản mà ông Hồ phải “tiêu diệt đương nhiên và trước hết.”
Trong việc đấu tranh giai cấp để giành giật chính quyền, ông Hồ có mô phỏng cái phương pháp lừa dối của Mao Trạch Đông hay không ?

Nên nhớ, từ năm 1938 - 1941, ông Hồ phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc. Ông khoe đã hDc được kinh nghiệm ấy như sau : “Nếu muốn giới thiệu những kinh nghiệm của đảng CS Trung Quốc, ngay những ngày (tôi) ở tại Diên An thôi, thì dù có dùng đến vài cây số giấy, cũng không thể viết hết được”. (Tưởng Vĩnh Kính, sách đã dẫn, trang 152). Mà kinh nghiệm đó là gì ? Là nhờ Nhật xâm lăng, để CS Trung Quốc hô hào kháng chiến chống Nhật, không phải đánh Nhật, mà nhằm làm tiêu hao lực lượng chính phủ Quốc Dân Đảng để nắm quyền... Trong cuộc hội kiến lần đầu tiên với TT Nixon ngày 21/2/1972, Mao thú nhận : “Nhật Bản đã làm một việc có lợi cho đảng CS Trung Quốc là tấn công vào Trung Quốc hồi thế chiến thứ hai, tạo nên sự hợp tác giữa Quốc Dân Đảng và CS, làm cho đảng CS mở rộng được thanh thế về sau giành thắng lợi lớn.E2
“Đến tháng 9/1972, Mao tiếp thủ tướng Nhật Bản Kakuei Tanaka tỏ lời xin lỗi về cuộc xâm lược của Nhật Bản, Mao liền đáp lại là chính nhờ vào việc tấn công ấy mà đảng CSTQ giành được thắng lợi, để bây giờ có cuộc gặp lịch sử nầy.” (Thành Tín, Về Ba Ông Thánh, trang 120).
Rập khuôn theo sách lược của Mao, ông Hồ dựng cờ chống Pháp buổi đầu, không phải thực sự chống Pháp, mà bí mật hợp tác với Pháp để tiêu diệt những đảng phái yêu Nước khác Việt Minh. Có thể nói ông Hồ cám ơn Pháp, vì nhờ có cuộc xâm lăng ấy, nên Việt Minh mới có cơ hội kháng chiến, mới có chính nghĩa để nắm quyền, mới thi hành chính sách “đấu tranh giai cấp”, mới tiến hàn h “nội chiến” để tiêu diệt “kẻ thù giai cấp”, đúng như chỉ thị của học thuyết cách mạng vô sản”... Đương nhiên và trước hết giai cấp vô sản phải thanh toán giai cấp tư sản Nước mình trước đã” (Sách đã dẫn ở trên).
Nhờ đánh nhau với Pháp, ông Hồ mới có dịp “dựng cờ độc lập”, để vận động quần chúng ủng hộ Việt Minh. Thời gian từ năm 1938 - 1941, ông Hồ được CS quốc tế phái về hoạt động tại Diên An, rồi lần xuống Quảng Tây, Vân Nam. Ông là một thành viên của đảng CS Tàu, rút được ý nghĩa thật sự của chiêu bài “Kháng Nhật cứu quốc”, mà mưu đồ thật sự của họ không phải đánh Nhật, mà làm tiêu mòn lực lượng của chính phủ Quốc Dân Đảng, để cho lực lượng của mình lớn mạnh lên. Cũng giống như vậy, khi lập “Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”, với chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, thật sự không phải để đánh Mỹ, mà nhằm phân hóa, lôi kéo các phần tử bất mãn chính phủ VNCH gia nhập MTDTGPMN. Đối với Pháp, ông Hồ cũng áp dụng cái công thức đó, cho nên buổi đầu ông chỉ tuyên bố đánh Pháp hùng hỗ bằng... miệng, nhưng lại bí mật tiếp xúc với Pháp, xin cộng tác. Kết quả của sự cộng tác ấy là “Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/46”. Ngày nay theo các tài liệu lưu trữ có thể thấy rõ hơn, hai điều sai lầm bỉ ổi nhứt của phái Bolchevik hồi ấy (1917), là “làm mọi cách để Nước Nga thua trận”, đi ngược lại nguyện vọng củ a Nhân dân và tổ quốc Nga, đâm đao vào lưng người lính Nga đang chiến đấu gian nan chống đế quốc Đức bành trướng, rắp tâm thổi phừng lên ngọn lửa nội chiến...” (Thành Tín, sách đã dẫn, trang 37).

Điều này cũng được ông Hồ áp dụng tại VN :
Thứ nhất ông cố tránh giao chiến với Pháp, rồi còn ký hiệp ước “thân thiện rước quân đội Pháp vào VN...” là một sự đầu hàng nhục nhã, bị dân chúng Hà Nội biểu tình, lên án, gọi ông Hồ là “Việt gian bán Nước”. Ông Hồ cho lính đàn áp, phản biểu tình vào lúc 4 giờ chiều trước Nhà hát lớn, tuyên bố “Tôi thà chết chứ không bao giờ bán Nước”. (Chính Đạo, VN Niên Biểu, tập 1A, trang 319). Đó là một thủ đoạn, gây đau khổ tang tóc cho đồng bào, nhưng ông vẫn cam tâm chấp nhận miễn có lợi cho đảng CS.
Thứ hai, trong lúc Nhân dân, chiến sĩ Nam Bộ chiến đấu đẫm máu, hy sinh nhiều sinh mạng để chống Pháp trở lại xâm lăng, thì ông Hồ lại “hòa với Pháp”, ông còn đưa nội dung nghị trình cho quốc hội (3/4 là Việt Minh) thảo luận chấp thuận :
Bảo vệ sinh mạng và tài sản của người Pháp sống ở VN.
Nhân dân VN không có thù oán gì với công dân Pháp (đang sống ở VN).
Để biện hộ cho hành động phản quốc này, Việt Cộng cho rằng ký hiệp ước 6/3/1946 là để “nhằm mục tiêu tạo điều kiện đi tới một cuộc thỏa hiệp với Pháp. Mục đích trước mắt và ngay sau đó chưa phải đấu tranh cho một nền độc lập hoàn toàn”. (Hoàng Văn Hoan, Giọt Nước Trong Biển Cả, trang 274). Một lý do ngụy biện khác nữa là để chuẩn bị công cuộc kháng chiến (?). Theo Võ Nguyên Giáp “để đuổi quân Trung Hoa...” mà sự thật thì Pháp Hoa ký hiệp ước 28/2/1946, để quân Trung Hoa rút về !.

Tóm lại, những điều VC ngụy biện chối tội, đều hoàn toàn không có cơ sở. Lý do chính của việc thương thuyB At với kẻ thù, thông đồng với giặc Pháp, phản bội tổ quốc của ông Hồ là để tiến hành cuộc nội chiến, tiêu diệt các đảng đối lập, tiêu diệt kẻ thù giai cấp.”
Sau này tôi còn nghe vài dư luận về phía Việt Cộng biện hộ hành động bán Nước bằng “hiệp ước 6/3/1946” ô nhục, chống chế, cho rằng “cần chịu thiệt để có thời gian củng cố lực lượng, chấn chỉnh hàng ngũ cách mạng”. Sự thật mà họ đưa ra là “đây không phải đầu hàng, không phải phản quốc, mà là sự cần thiết để cúu chế độ Xô Viết vừa mới thành lập.”
Qua đó, chúng ta thấy rằng thay vì yêu Nước, tận d ng mọi khả năng chuẩn bị tổ chức kháng chiến chống xâm lăng, thì ông Hồ nhứt định gây nội chiến. Từ đó ông thà chịu “gạt bỏ lòng yêu Nước chân chính, danh dự quốc gia và khái niệm về nhân đạo” để lao vào tội ác khủng khiếp đối với Dân tộc. Đối với ông, lòng yêu Nước, nếu có phải đặt dưới mục tiêu cách mạng vô sản. So sánh hai cuộc đời của hai lạnh tụ Lênin và HCM cũng có điểm giống nhau : sau 30 năm bôn ba làm tay sai cho kẻ thù, cho cộng sản quốc tế, thì đến năm 1945, ông Hồ trở lại Hà Nội với cương vị Chủ tịch Nước, để nhìn thấy tận mắt đồng bào của ông bị xiềng xích trói chặt, bị khủng bố dã man bởi chính đồ đệ của ông và chính mệnh lệnh của ông. Từ đó, những người làm cách mạng vô sản chuyên nghiệp chẳng còn nghĩ gì đến quyền lợi Nhân dân và Đất nước. Đối với họ chỉ có quyền lợi của quốc tế cộng sản. CS đã nắm tất cả quyền lực để đè bẹp tất cả mọi đối thủ.

Hồ Chí Minh chủ trương chiến tranh trường kỳ
Tất cả những lạnh tụ CS tốt nghiệp một trường : trường dậy phản bội tức “Học viện thợ thuyền Đông phương” (thành lập 4/1921) tại Nga, và thuộc nằm lòng những huấn thị của CS như một thứ kinh thánh. Họ nhắc nhở cho nhau phải thực hiện cho kỳ được. Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp là một sách lược của Cđấu tranh giai cấp”, của học thuyết CS. Đấu tranh giai cấp là một cuộc chiến trường kỳ, dai dẳng không ngừng nghỉ, cho đến bao giờ thắng lợi hoàn toàn, tức xây dựng được thế giới đại đồng. Mấy chữ “cuộc thánh chiến” được dùng trong chiến tranh chống Pháp (1945 - 54) cũng là mô phỏng cuộc cách mạng vô sản ở Nga năm 1917. Đó là kế hoạch do Stalin đệ trình cho chính quyền Bolchevik để đối phó với ngoại xâm. Tất cả những gì ông Hồ mô phỏng để thực hiện việc cướp chính quyền và giữ chính quyền đều được đảng CS ca tụng “đi theo con đường cách mạng tháng 10 Nga”. Còn nói về sự giả bộ hợp tác với các đảng yêu Nước theo chủ nghĩa Dân tộc khác (Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội) thì trong “HCM toàn tập, tập 4 Lênin có nói : “Đối với kẻ thù khi cần phải hợp tác thì cứ hợp tác, và người CS không được tỏ ra ngại ngùng trước chuyện phản bội.”
Một chỗ khác, cũng do sự nghiên cứu, đã đưa ra nhận xét: “Người CS kể cả VC, khi cùng đối phương liên hiệp, không bao giờ chịu tôn trọng địa vị của đối phương, mà chỉ biết lợi dụng đối phương làm công cụ của họ. Họ cũng không muốn thế lực của đối phương tồn tại hoặc phát triển, vì mục đích tối hậu của họ chỉ nhằm tiêu diệt đối phương”. (Tưởng Vĩnh Kính, HCM tại TQ, trang 206)
Chủ nghĩa CS xuất hiện là một thảm kịch của nhân loại. Từ lúc nó ra đời (1917), cho đến khi giẫy chết (1991), đã có hằng trăm triệu nạn nhân đã chết vì nó. Gần đây một quyển sách mới xuất bản “Sổ đen của chủ nghĩa CS : tội ác, khủng bố, đàn áp” do một tập thể tác giả gồm những học giả danh tiếng như Stephane Courtoire, Nicolas Werth, Jean Louis Pane, Andrej Paverkowski... vạch trần tội ác của CS : riêng tại Liên Xô đã có trên 20 triệu người bị giết. Nếu tính toàn thế giới, có đến 85 triệu sinh linh bỏ mạng vì nó, cao hơn số người chết trong hai trận thế giới đại chiến cộng lại. Sở dĩ CS thắng được trong một thời gian dài, là nhờ kỹ thuật tuyên truyền lừa bịp. Cán bộ CS, khi mở miệng thì nói toàn “hòa bình, độc lập tự do, hạnh phúc, no ấm...” nhưng khi hành đ ộng thì làm ngược lại.
Sau đây là một vài thí dụ để chứng minh.

Khi mới kéo về Hà Nội, cái chính phủ tự phong của ông Hồ trong rừng, liền quảng cáo : “Khắp trong khu Việt Bắc ai cũng hiểu rằng UBND là chính quyền do dân chúng lập ra, để tự cai trị lấy mình. Ai cũng hiểu rằng nhờ có Việt Minh chỉ bảo, mà dân chúng mới lập được chính quyền dân chủ ấy. “Ngay khi chính quyền của giặc Pháp bắt đầu tan rã, tổ chức của Việt Minh ở địa phương liền đứng lên hiệu triệu quần chúng già trẻ, trai gái hội họp để bàn các công việc, rồi bầu ra UBND xã. Các thứ thuế cũ của giặc P háp đặt ra, để bóp cổ dân chúng đều bãi bỏ”. (Cứu Quốc, Đi thăm các UBND tại chiến khu” số ra ngày 27/8/45). Sự thật đối với những lời tuyên truyền ấy ra sao ?
Ông Tưởng Vĩnh Kính viết trong “HCM tại TQ”, do Thượng Huyền dịch, trang 329 :
“Sau khi thành lập chính quyền địa phương (UBND), Việt Minh dùng chính sách khủng bố để thống trị. Các phần tử của các đảng khác, hoặc không thuộc đồng đảng, hoạt động trong phạm vi thế lực của mình, đều bị Việt Minh giết hại thê thảm. Những người bị thảm sát, đều bị Việt Minh gán tội “Việt gian”, “làm gián điệp cho địch”, hoặc “thân Nhựt”...Cái cách thức đó của Việt Minh cũng lại hoàn toàn giống với Trung Cộng=2 0trong “khu giải phóng” của họ.” Còn khi tuyên truyền về cái chính phủ “được quốc dân đại hội Tân Trào (bịp) “bầu ra” thì ông Hồ viết : “Tóm lại trái với chính phủ của bọn thực dân, là chính phủ áp bức bốc lột dân chúng, nên dân chúng chỉ đợi cơ hội để lật đổ đi, còn chính phủ Nhân dân (tức cái chính phủ ông Hồ tự phong trong rừng kéo về) mưu độc lập, tự do hạnh phúc cho dân chúng... dân chúng nhiệt liệt ủng hộ, thiết tha âu yếm như người mẹ đối với đứa con yêu, có thể cùng chết cùng sống với đứa con đó...” (Báo “Cứu Quốc” số ra ngày 27/8/45, bài “Chính quyền nhân dân”).

Còn cùng một vấn đề, những kẻ khác thì làm xấu xa , CS làm thì đúng. Thí dụ như “sự chuyên chính (dùng bạo lực) thì “Chuyên chính của tư bản là chuyên chính của thiểu số người, đi áp bức bốc lột, đè nén số đông Nhân dân , để duy trì chế độ người bốc lột người. Trái lại chuyên chính vô sản là chính quyền của số đông Nhân nhân, dựa vào võ lực để đàn áp sức phá hoại của đám người đi áp bức bốc lột vừa bị lật đổ. (Báo “Cờ giải phóng”, cơ quan tuyên truyền cổ động của trung ương đảng CSĐD, xuất bản tại Hà Nội ngày 11/11/1945).
Muốn thấy rõ ý đồ thầm kín chủ trương chiến tranh trường kỳ của ông Hồ, chúng ta nhìn qua vài điểm căn bản của chủ thuyết Mác xít. Duy vật biện ch=E 1ng pháp chủ trương tìm hiểu mọi tiến trình giải quyết mâu thuẫn để tiến bộ. Theo mô thức ấy, xã hội tư bản có hai mâu thuẫn lớn, giai cấp tiểu tư sản (TTS) và vô sản. Giai cấp vô sản phải làm cuộc cách mạng lật đổ TTS để tiến tới thiên đường CS. Trong cuộc cách mạng bằng bạo lực ấy, giai cấp vô sản là tiền phong, lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp liên tục, không ngừng nghỉ, cho đến khi đạt tới thắng lợi. Như vậy chủ thuyết của Mác xít trong cứu cánh, đâu có “độc lập”, “tự do”, “hòa bình” ? Những từ ngữ đó chỉ là “sáng kiến riêng của ông Hồ”, để vận động quần chúng làm cuộc cách mạng ấy. Nói theo chữ nghĩa của VC “Đảng ta chớp được thời cơ” là việc Pháp trở lại xâm lăng hồi cuối năm 1945, và ông Hồ liền “dựng cờ độc lập”, rồi dùng chiêu bài “giải phóng” để lừa bịp toàn Dân. Như vậy, đối với ông Hồ, Pháp không phải là kẻ thù chính, mà là ân nhân, đã giúp đảng CSĐD có cơ hội “làm cách mạng vô sản để nắm chính quyền”. Như vậy, nếu Pháp xâm lăng, là kẻ thù của Dân tộc VN, thì với ông Hồ, là đồng minh. Trong thâm tâm, ông Hồ đã cảm ơn Pháp làm cuộc xâm lăng nầy. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để đảng CSĐD làm cuộc cách mạng vô sản, nhưng lại ngụy trang dưới hình thức “cuộc kháng chiến chống xâm lược”. Nhờ đó đảng mới khoác áo chính nghĩa, mới được toàn Dân ủng hộ. Nhưng tất cả một Dân tộc bị đảng lừa dối. Cả một Dân tộc bị đảng đem làm bia đỡ đạn, đem hy sinh, để thực hiện chỉ thị của quốc tế cộng sản.
Vì thế khi cuộc kháng chiến thành công rồi (1954), hay sau 30/4/1975, CS đâu có dừng lại đó, để xây dựng Đất nước. CS phải thực hiện mục tiêu tối hậu, tiến lên tiêu diệt thế giới tư bản. Cuộc chiến tranh đánh sang Campuchia, được đảng mệnh danh là “làm nghĩa vụ quốc tế”, với trên 50.000 quân hy sinh trên chiến trường.
Mỗi khi gặp khó khăn, CS đổi chiến thuật, mục tiêu vẫn giữ y nguyên : Các chính phủ lâm thời (16/8 và 2/9/1945), chính phủ liên hiệp (2/3/1945), giải tán đảng CSĐD (11/1945), tái lập đảng Lao Động (1/1951), lập MT Dân Tộc GiA 3i Phóng Miền Nam (1960), rồi những năm gần đây (thập niên 1990) có “phong trào thống nhứt Dân tộc và xây dựng dân chủ”, rồi “Hòa hợp, hòa giải”... rồi “đổi mới” (đổi mới nhưng không đổi màu).

Hiện nay cuộc đấu tranh giai cấp đang tiếp diễn. Không có kẻ thù cụ thể, “đảng ta” phải “sáng tạo ra kẻ thù”, các thế lực thù địch, “diễn tiến hòa bình”... để hù dọa, bắt dân chúng phải sống trong nỗi sợ hãi. VC luôn luôn dùng những tập họp từ ngữ “sự độc lập của ta đang bị đe dọa”, quyền lợi của Nhân dân đang bị thử thách...” để răn đe, chụp mũ, khủng bố những cá nhân hay đoàn thể nào muốn tranh đấu cho Tự do Dân chủ, hay tB 1 do Tôn giáo. Các vị lãnh đạo các tôn giáo như Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, cụ Lê Quang Liêm (Hòa Hảo), cùng rất nhiều vị khác đang tranh đấu cho Dân tộc được hưởng chút tự do đã được đảng long trọng ghi lên hiến pháp từ nửa thế kỷ qua, nhưng không thi hành. Đó là các ông : Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang... đang trở thành tù nhân của chế độ.

Ở Trung Quốc, sau khi chiếm được chính quyền rồi (1950), không còn kẻ thù xâm lăng nữa, Mao sáng tạo ra phong trào “Trăm hoa đua nở”, “cải cách ruộng đất”, “Bước nhảy vọt”, rồi “cuộc đại cách mạng văn hóa...” tất cả chỉ là những thủ đoạn dùng bạo lB Bc củng cố quyền hành. Hồi xưa, trong lịch sử các chế độ phong kiến, những bạo chúa hành xử ra sao, các lãnh tụ CS làm giống hệt như vậy, chỉ có khác là những tên gọi các hành động ấy. Nhân dân bị lừa, bị họ tráo “tội đồ Dân tộc” bằng “công lao với Nhân dân, quần chúng”. Những gì Mao làm cho Dân tộc Tàu, cũng như Lênin, Stalin làm cho Dân tộc Nga đều được ông Hồ làm cho Dân tộc VN.
Hồi năm 1945 - 1946..., ông Hồ cũng biết nhiều thuộc địa cùng hoàn cảnh như VN, khôn ngoan thương thuyết giành độc lập không đánh nhau, hay chỉ đánh nhau vài ba năm (Indonésia)... nhưng ông cứ một mực “trường kỳ kháng chiến” giành độc lập, tự do... chứ không chịu thương thuyết. Ông luôn luô n che giấu ý đồ nuôi dưỡng chiến tranh, và nói ngược lại : “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình, và nếu người ta (Pháp) buộc chúng tôi phải làm (chiến tranh), thì chúng tôi sẽ làm” (Bác Hồ những ngày tháng Chạp 1946), Nhân Dân số ra ngày 15/12/86). Ông cứ đổ vạ cho người khác, trong khi sự thực thì chính ông và đảng của ông chủ trương gây chiến tranh trường kỳ để nắm chính quyền, để làm cuộc cách mạng vô sản. Ông biết trước cuộc chiến tranh với Pháp sẽ khốc hại, nhưng ông sẵn sàng đưa dân tộc VN ra chịu đựng, rồi còn giả vờ ngây thơ tuyên bố “thà chết chứ không chịu mất Nước”.
Còn nói về vấn đề độc lập cho VN, xin nhắc lại nhE1ng sự kiện chính :
Ngày 8/3/1949, tổng thống Pháp Vincent Auriol ký hiệp định Elysée với quốc trưởng Bảo Đại, trả độc lập cho VN từ Nam Quan tới Cà Mau.
Ngày 20/7/1949, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho vương quốc Lào.
Ngày 8/11/1949, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho vương quốc Cao Miên. Như vậy cả 3 nước Đông Dương đều độc lập trong năm 1949. Tuy nhiên ông Hồ không nhận, vì nếu nhìn nhận nước VN độc lập từ 8/3/1949, CS không còn lý do gì để kháng chiến nữa. Mà không kháng chiến thì làm sao nắm giữ chính quyền và làm cách mạng vô sản20? Mời độc giả nghe nguyên văn hai câu tuyên bố của ông Hồ và Trường Chinh về cái gọi là “kháng chiến” như sau : “Kháng chiến là một bộ phận của mặt trận dân chủ Nhân dân (tức CS) thế giới, do Liên Xô lãnh đạo” (HCM).
Còn Trường Chinh thì : “Kháng chiến là một hình thức cao rộng của đấu tranh giai cấp, nghĩa là cuộc đấu tranh lớn lao trên thế giới, giữa tư bản thế giới và vô sản thế giới tức QTCS”. (Nguyễn Kỳ Nam, Tài liệu lịch sử 1945 - 1954, trang 83).

Tới đây chúng ta thấy mục tiêu kháng chiến không còn đi tới “độc lập”, “Tự do” nữa, mà trở thành cuộc đấu tranh giai cấp do QTCS lãnh đạo. Cuộc k háng chiến VN không phải để đánh Pháp nữa, mà trở thành một bộ phận của “mặt trận dân chủ Nhân dân” (mấy chữ mới ám chỉ QTCS) do Liên Xô lãnh đạo. Nói ngắn gọn, cuộc kháng chiến chống Pháp không phải của VN đánh đuổi Pháp, mà Nhân dân VN nhận chỉ thị của Liên Xô để làm cách mạng vô sản !
Từ ngày nước Pháp ký hiệp định long trọng trao trả độc lập cho VN là 8/3/1949 đến ngày CS chiến thắng trận Điện Biên Phủ (7/5/1954), ông Hồ phải liên tiếp chiến đấu 6 năm ròng, hy sinh hàng triệu binh sĩ, đồng bào vô tội, tài sản vật chất khổng lồ, nhưng rồi ông Hồ vội vã ký hiệp định Genève 20/7/54, để nhận một nửa VN độc lập (VN chia đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giB Bi), đó là thiệt hại lớn lao của Dân tộc nhưng là “thắng lợi riêng cho đảng CSĐD của ông Hồ... Người bàng quan, lấy công tâm nhận xét, cũng như người quốc gia, thấy chuyện “Kháng chiến, hy sinh xương máu do ông Hồ chủ trương quá vô lý, nhưng người CS thấy nó chí lý, vì đảng CSĐD “đã thắng lợi” là giành được quyền thống trị phân nửa nước VN, để đưa toàn dân vào quỹ đạo CSQT sau đó.

Đối với CS không có độc lập, tự do. Những gì họ nói chỉ là tuyên truyền lừa bịp, mị dân. Với CS cũng không có quốc gia, Dân tộc, chỉ có quốc tế vô sản. Từ đó CS đâu có tranh đấu cho quốc gia Dân tộc, mà c hỉ tranh đấu cho quyền lợi quốc tế vô sản. Khi đảng của họ lâm nguy, họ kêu gào “Đất nước lâm nguy”, “tự do Dân tộc bị lâm nguy”... rồi kêu gào mọi người “cứu Nước” tức cứu đảng CS !

Hứa Hoành

Bài Xem Nhiều