We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 24 August 2009

Tam Tòa: Sóng đổ về đâu?

Bảo Giang

VietCatholic News (23 Aug 2009 19:36)




Cùng một đề tài này, ngay sau vụ Toà Khâm Sứ nổ ra và đich thân Nguyễn tấn Dũng đến tham quan khu vực của khu phố nhà chung, rồi đến thăm vị Tổng Giám Mục thành Hà Nội, tôi là một trong số những người, không có lấy một chút tin tưởng nào vào cái thiện chí của nhà nước này nên đã khẳng định là: Chẳng bao giờ nhà nươc này sẽ trao trả khu đất ấy cho Tòa Gám Mục một cách êm thắm. Bởi trả lại như vậy thì còn gì là bản chất cộng sản. Còn gì là cái xã hội chủ nghĩa Việt cộng ở trên đất nước Việt Nam!


Kết qủa, sự kiện TKS nay đã như một chuyện ván đóng thuyền rồi. Chỉ khác là chúng không dám cướp lấy mảnh đất ấy để chia lô, bán kiếm tiền chia nhau. Nhưng cũng không trả lại TGM vì kẹt vào nhiều mắt móc ngoặc nên đành, dùng kế “ mượn hoa cúng phật”. Cướp đất của nhà chung làm công viên cho dân để lừa dân, rồi muốn đến đâu thì đến!


Phương cách rất Việt cộng này được nhà nước tái áp dụng tại Thái Hà, nhưng đoạn kết có nhiều hỉ nộ hon. Chúng bắt tám giáo dân đưa ra tòa với tội danh “phá rối trật tự và phá hoại tàn sản của công” như một cách để dằn mặt những cuộc xuống đường đòi Công Lý, đòi Tự Do tôn giáo. Kết qủa, hàng vạn người xuống đường với ngành vạn tuế trong tay. Nhà nước Việt Cộng trắng mắt, vội khép lại phiên toà với những án treo như là một phương cách giải quyết êm thắm cho câu chuyện của hai mảnh đất TKS và Thái Hà.


Ở đây tưởng cũng nên nhắc đến một điểm chung là, trong cả hai vụ, đều có những quan chức hàng đầu của nhà nước xuống tận nơi xem xét và chỉ đạo công việc. Theo đó, chuyện Thài Hà, Tòa Khâm Sứ không hề mang tính cách bùng nổ của địa phương, nhưng được tổ chức với những âm mưu lớn từ trung ương. Nhà nước muốn nhờ TKS và Thái Hà cứu chúng ra khỏi cơn nguy khốn áp lực về chuyện Trung Cộng đặt nền hành chánh trên Hoàng Sa, Trường Sa. Bởi lẽ, việc phản đồi, điều dân quân đi biều tình thì cả cái bộ chính trị, chứ chẳng trừ một ai, đều sợ bị vả gẩy răng, táng mạng. Mà yên lặng mãi thì lòi ra mặt chuột và không thể lừa dân chúng qua những khẩu hiệu Độc Lập Tự Do Ấm No Hạnh Phúc được nữa. Nên nhà nước đã phải đưa ván cờ Toà Khâm Sứ và Thái Hà lên bàn cân. Việc gỉai quyết chắc chắn là mất lòng dân, gây phẫn uất, bị coi là kẻ tráo trở giữa đường, nhưng không mất lòng quan thầy Trung cộng thì không đáng lo. Thêm vào đó là một lý luận chủ quan rằng: Chuyện đồng bào Công Giáo đi cầu nguyện kia tuy có đông thật đấy, nhưng tất cả chỉ là đi cầu trong bình an thôi. Họ không thể trở thành mối nguy cho chế độ, hoặc gỉa, không có khả năng triệt tiêu được quyền lực của giai cấp lãnh đạo hiện nay. Như thế, phải dùng TKS, Thái Hà làm kế giải vây cho Hoàng Sa Trường sa!


Kết quả, người người rúng động, bàng hoàng trước sự kiện chưa từng thấy trong mấy chục năm qua đã xảy ra ở Thái Hà và Tòa khâm Sứ khi thấy hàng hàng lớp lớp người anh dũng tiến lên. Họ sẵn sàng hy sinh vì đạo giáo. Nhưng Việt cộng đâu có thể nào để cho họ chết để làm cớ cho việc tiêu ma cái sự nghiệp gian ác của nhà nước. Trái lại, cầm chừng, nay mạnh mai nhẹ, lại có lúc làm như chúng săn sàng ra tay bắt vị Tổng Giám Mục thành Hà Nội đến nơi. Nhưng rồi chuyện đâu rồi cũng vào đấy. Chúng bắt người, đưa ra toà, cốt làm cho câu chuyên ầm ỹ lên để chúng thoát cái nợ Hoàng Sa Trường Sa mà thôi. Nay nhìn vào sự việc đã qua, có thể nói là Việt cộng lại thắng một ván cờ lừa lớn. Đã giải vây được vụ Trường Sa, Hoàng Sa, còn cướp được đất của nhà chung, biến đất ấy thành công viên cây xanh để lừa dân. Nhìn qua phương cách gỉai quyết này. Có lẽ nhiều ngưòi dân thành phố, vì lý do này hay lý do khác, hài lòng về việc làm của chúng và vội quên đi cái tội Việt cộng bán đất dâng biển Trường Sa, Hoàng Sa cho Tàu cộng!


Rồi cách đây chứng hai ba tháng, một hiện tượng dây chuyền đang lan ra trên cả nước. Hầu như không có một nơi nào, từ chợ búa, đến nhà thờ nhà trường qúan cà phê, hàng ăn, tiệm giải khát, mà người ta không to nhỏ chuyền tai nhau câu chuyện về người Tàu sang chiếm cứ và khai thác Bauxite Tây nguyên. Lại có nhiều nơi, nhiều giáo xứ tổ chức canh thức cầu nguyện cho Tây nguyên. Rồi có cả những tổ chức gọi là khoa học, kinh tế, các nhà nghiên cứu hội thảo bàn bạc về Bausite Tây nguyên. Thậm chí, ngay trong hàng ngũ quân đội nhân dân, cánh tay che chở cho chế độ Việt cộng cũng bị chấn động vì bản tin Bauxite Tây Nguyên, mà lá thư của Võ nguyên Giáp như một khởi đầu làm cho dòng máu nóng của tiền nhân bất ngờ chuyển động cuồn cuộn lên, trong quân dội đã có nhiều người đã đặt vấn đề về cuộc bành trướng của bắc phương. Đã thế, qua các trang mạng và tin tức từ hải ngoại càng lúc càng làm cho nhà nước Việt cộng phát cuồng về những bản đồ Biển Đông và chất độc hại từ Bauxite Tây Nguyên. Cả nước như chuyển mình vào một vận hội mới, đứng lên chống Xâm lăng, làm cho Việt cộng như đứng trưóc một cuộc diệt vong! Chúng muốn ngừng khai thác Bauxite để thay đổi cục diện. Nhưng chủ nhân Tàu không cho ngừng. Không còn đường chọn lựa. Tam Tòa nổ ra như một kế sách cần phải có..


Như thế, Tam Tòa đã không nổ ra theo tiến trình tự nhiên, dù nó cũng bắt nguồn từ sự kiện đòi Công Lý và tự do tôn giáo của người dân, nhưng đuợc cài đặt và tính toán thật kỹ bởi những kẻ lừa dân bán nước ở trong cái gọi là chính trị bộ của Việt cộng, hơn là những quan chức tại địa phương Quảng Bình. Bởi lẽ muốn giải quyết chuyện Bauxite Tây nguyên, chúng đã làm ít nhất hai chuyện sau: Tận diệt một con cờ. Thứ hai, mở ra một mặt trận đủ sức át tiếng nói về tây nguyên.


1. Tận diệt một con cờ. Võ Nguyên giáp, một đại công thần của chế độ cộng sản tại Việt Nam, là người có nhiều liên hệ với tàu, nhưng cũng là người từ lâu nay không còn một ảnh hưởng nào trong guồng máy của chế độ. Bỗng nhiên, nhờ vụ Bauxite, Giáp toan tính đánh bóng trở lại cái tên của mình bằng một là thư gời cho Nguyễn tấn Dũng, đệ đạt lên ý kiến xin cấp trên xem xét lại quyết định khai thác bauxite tây nguyên. Lá thư dù không có kết qủa, vẫn làm sôn xao dư luận. đặc biệt là chiếm được lòng tin trở lại của dân Quảng Bình, quê hương của Giáp và những đồng chí cũ, đến nhiều thành phần trẻ nhiệt huyết trong quân đội và có thể lan rộng ra, gây ảnh hưởng đến nhiều thành phần xã hội, trong đó có các tổ chức của tôn giáo. Dĩ nhiên, Việt cộng không muốn những thế lực này sẽ nắm lấy tay nhau, liên kết hành động. Trưóc là đòi ngưng vụ bauxite độc hại, sau đến chủ quyền quốc gia và rồi tiến đến tiến trình xây dựng Tụ Do Dân Chủ và Công Lý để đào thải chế độ hiện tại. Theo đó, Việt cộng phải tiên hạ thủ vi cường.


Chuyến đi thăm của Dũng đến tận nhà Giáp, gọi là chúc thọ và mừng 55 năm ngày chiến thắng điện biên, đã là một chứng cứ cho cuộc diệt khẩu này. Giáp biết, toan tính của mình không dài hơn chuyến đi của Dũng nên đành chờ ngày được hưởng nghi lễ quốc táng hơn là góp chuyện về Tây Nguyên. Bịt miệng Giáp chưa đủ, Dũng còn muốn nhờ những tay “côn đồ của nhà nước ở Quảng Bình” là bà con thân nhân, ngươi đồng hương của Giáp ở Quảng Bình ra đòn với khối người công giáo ở đây để kết thúc câu chuyện về Giáp. Nghiã là nhà nước Việt cộng đẩy nhóm của Giáp vào cái thế không thể nối được liên hệ với người công giáo và các nhóm hoạt động khác. Bỏi lẽ, trước kia bộ đội của Giáp về Quỳnh Lưu tận diêt cuôc nổi dậy của đồng bào. Nay lại đến người đồng hương của giáp trở thành những kẻ thù của người công Giáo Việt Nam!


2. Mở một mặt trận đủ lớn. Đức Giám Mục Cao đình Thuyên, Giám Mục Giáo Phận Vinh năm nay 82 tuổi. Ngài đã trổi vượt lên như một vì sao sáng trong dãy ngân hà đi đòi Công Lý và Tự Do tôn giáo cho người dân, bằng một lời phát biểu lẫy lừng khi đi thăm Thái Hà: “Việc của Thái Hà cũng là việc của Giáo Phận Vinh”. Câu nói này như một hơi thở truyền thêm sức mạnh, lòng tự tin đến tận tâm hồn của người đi tìm Công Lý, làm cho họ thêm vững mạnh bao nhiêu thì chế độ này sôi gan tím ruột bấy nhiêu. Nhưng cùng lúc cho nhà nước thấy rằng, đụng đến Giáo phận Vinh thì câu chuyện hẳn nhiên là không nhỏ!

Cơ hội đã đên, Ngài đi Rome triều yết Đức Giáo Hoàng, Việt cộng tính đánh úp Tam Tòa và khi Ngài trở vê, kết qủa có ra sao thì cũng coi như là câu chuyện đã rối.


Thật vậy, Tam Tòa đã bừng sống lên trong niềm tin mãnh liệt của đồng bào công giáo tại địa phương. Một cuộc sống dậy làm kinh hoàng tất cả mọi người, một cuộc sống dậy với bước chân của hàng trăm ngàn người vang vọng khắp nơi có thể làm át tất cả mọi thứ tiếng, làm át tất cả mọi tin tức vào lúc này. Chuyện về Bauxite tây nguyên bỗng dưng chìm xuống như qủa bong bóng đã xì hơi! Người ta không còn nhắc đến Bauxite và tàu cộng nữa. Người ta cũng không còn nhắc đến những thuyền đánh cá Việt Nam bị thuyền lạ đuổi bắt và đòi tiền chuộc nữa. Và đi đâu cũng chỉ thấy nói về đoàn người đông đảo, không ai còn dếm được con số, đã đổ về Vinh trong trật tự để tham dự thánh lễ mừng quan thày của Giáo phận. Và đi đâu cũng chỉ nghe nói đến bước đi vì Công Lỳ vì Niềm Tin. Nhưng kết qủa của những bước chân anh dũng tiến lên ấy sẽ đi về đâu? Có phải là sóng trưóc đổ đâu, sóng sau đổ đấy hay không?


Vào lúc này, chưa ai đoán được là sự việc sẽ ra sao. Nhưng người ta biết chắc một điều là lòng người lúc này vô cùng sắt son. Sắt son như chính DGM Cao đình Thuyên xác nhận sau ngày trở về với đàn chiên là: Những văn thư của Xã Đoài là ý của Ngài và rồi Giáo phận Vinh không phải chỉ có một Cao đình Thuyên mà có tời 500,000 Cao Đình Thuyên! Dũng cảm thay, người con của Đức Tin. Cam đảm thay, người cha già đáng kính. Với sự can đảm ấy, Việt cộng muốn dùng những tên “côn đồ nhà nước” ở Quảng Bình đánh úp người công giáo như năm 1954-55 không phải là một chuyện dễ. Trái lại, nếu trong cả nước có cái nhìn toàn diện để cùng tiến lên để tìm Công Lý, Tự Do, Nhân Quyền thì những bưóc chân này là bước chạy đà thuận lợi. Và biết đâu, từ vùng đất này, Việt cộng đang đào lỗ để chôn mình. Trái lại, nếu sau những bước chân ấy không có một “cuộc chuyển minh, thay đổi toàn diện”,Tam Tòa khó bảo vệ được chính mình.


Thật vậy, về địa lý, Tam toà là một sứ đạo nhỏ, thuộc thị xã Đồng Hời tỉnh Quãng Bình, nằm bên bờ sông Nhật Lệ. Đây là nơi từng là chứng nhân của cuộc chiến quốc cộng 54-75. Nếu không có chuyện “ côn đồ nhà nước” đến phá lán trại của giáo dân Tam Tòa dựng tạm lên trên nền nhà thờ cũ, cũng không có chuyện côn đồ nhà nước đánh úp hai Linh Mục Công giáo và giáo dân Tam Toà. Sau đó, lại bắt đưa về đồn công an giam giữ thì người ta thật khó mà nhìn được tấm biểu ngữ treo trên cổng toà Giám Mục Xã đoài và nhiều nơi khác, kêu gọi giáo dân cầu nguyên cho Tam Tòa với hàng chữ: “ Câu nguyện cho giáo dân Tam Toà bị công an Quảng Bình đánh đập và bắt giữ” thì mấy ai biết đến Tam Tòa.


Khi đọc hàng biểu ngữ này người ta thấy gì? Phía người nhân bản thì cho rằng cái nhà nươc Việt cộng ấy phải rước lấy tủi nhục, tủi nhục mà chết! Nhưng về phía nhà nước, có lẽ chúng chỉ cười thôi! Vậy đã ăn thua gì, cuộc đấu tố năm 1954 nhà nước này đã giết đến 170000 người, nhờ đó, nhà nước đã đứng trên đỉnh vinh quang thì há phải… chết vì cái biểu ngữ ấy chăng? Theo đó, một vài biểu ngữ ấy, không phải là đối thủ của khoảng 700 tờ báo nhớn nhỏ do Việt cộng lãnh đạo trên toàn quốc hôm nay. Mặt trận tuyên truyền, Tam Tòa khó thắng. Mặt bất nghĩa vô đạo, Tam Tòa càng không phải là đối thủ của nhà nước Việt cộng.


-Vậy Tam Tòa, rồi ra sẽ ra sao? Phía sau những bước chân rộn rã của hàng trăm ngàn người kéo nhau về đây, mang theo những ước nguyện gì?


Tôi không tin khát vọng trong lòng của những bươc chân rộn rã về Tam Toà kia chỉ là một đơn giản: Đòi nhà nước trả tự do cho một số giáo dân bị bắt. Cũng không phải chỉ đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho những giáo dân bị đánh đập và bị bắt giam. Và cũng không chỉ nằm trong một đòi hỏi là nhà nước phải đưa những thành phần bất hảo, hay những tên công an gỉa dạng thành phần bất hảo kia ra trước tòa án để nhận công lý. Hoặc gỉa, cũng không chỉ nằm trong mục đích là đòi nhà cầm quyền Quảng Bình phải trả lại toàn bộ diện tích của nhà thờ và của giáo xứ Tam Tòa cho giáo dân Tam Tòa xử lý theo nhu cầu tôn giáo mà nhà cầm quyênViệt cộng đã công bố là tôn trọng. Nhưng chính là sự kiện, nhà nước phải trả lại Tự Do, Nhân Quyền, Dân Chủ và Công Lý cho toàn dân Việt Nam.


Mục đích này có điểm đến hay không?



Có hai lối đi dẫn đến câu trả lời:


A. Đi lên đòi lại tất cả những gì đã mất. Công Lý, Tự Do, Nhân quyền sẽ đến với toàn dân khi người người thay đổi Tư Duy. Người người thay đổi lối sống, hành động. Nghĩa là tất cả mọi người Việt hôm nay, không kể trong hay ngoài nước, không kể lương, cũng không kể giáo, không kể là dân thường hay cán bộ đảng viên đang tại chức hay đã về hưu, phải thật sự thay đổi tư duy, thay đổi hành động. Nghĩa là họ phải nhìn thấy cái họa mất nước, nhìn thấy chế độ cộng sản là một chế độ vô đạo cần phải thẳng tay gạt bỏ ra khỏi đất nước hơn là cố ôm lấy chúng. Đây qủa là một việc làm rất khó khăn, không phải chỉ cho riêng một ai, nhưng cho mọi người. Đặc biệt, đối với những người đã sống, đã cộng tác với cộng sản trong qúa khứ và có thể ở cả trong tương lai còn khó hơn nhều lần. Nhưng nếu ta không thắng chính ta được một lần, thế hệ mai sau còn gặp nhiều khó khăn hơn.( trong Tạo Niềm Tin)


Bởi lẽ, nhà nươc này mỗi ngày cạo sửa đi một phần của lịch sử. Từ lịch sử lập quốc đến lịch sử chống xâm lăng. Như thế, trẻ em ngày mai không còn được biết đến lịch sử chân chính của đất nước nữa. Tệ hơn thế, chúng lý luận và đề cao vai trò của bắc phương tràn xuống phương nam là một điều kiện để vực dậy nền kinh tế qùe quặt, tàn lụi là tàn dư của chủ nghĩa Mác lỗi thời (thế là mất nước). Và khủng khiếp hơn, chúng tạo ra thêm những cơ sở tôn giáo để tôn thờ kẻ bạo ác như việc chúng đã xây chùa để hình tượng HCM ngồi trưóc cả thần phật ở Bình Dương. Rồi sẽ chỉ đạo cho các tôn giáo khác cũng phải làm chuyện tương tự trong tương lai. Rồi phụ họa cho việc cạo sửa lịch sử này, học đường sẽ là nơi để chúng tập huấn cho trẻ những tư tưởng vô nhân, vô đạo của HCM, dân tộc ta sẽ đi về đâu?


Ngày nay, còn nhiều bậc trưởng thành nói cho đàn em biết chuyện ấy. Nhưng nếu như năm mươi năm sau, có sách vở nào nói về chuyện này, có lẽ nó còn khôi hài hơn là một câu chuyện cổ tích! Theo đó, nếu mọi người cùng có khát vọng như đoàn ngừoi đi tìm Công lý từ TKS, dến Thái Hà và nay là Tam Tòa và cùng chung nhau hành động. chuyển thể từ cá nhân riêng rẽ ra tập thể và từ tập thể đến toàn diện thì Tự Do Công Lý Dân Chủ và Nhân Quyền đã nằm sẵn trong tầm tay. Trái lại…


B. Khoanh tay đi qua cửa hẹp. Lửa Tam Tòa không nóng tời Phát Diệm, Bùi Chu, Hải Phòng, Hà Nôi, Cao Bắc Lạng, Sơn Tây. Không chiếu quang đến Huế Đà Năng Nha Trang Phan Thiết Sài Gòn. Lại qúa xa với Đồng Nai, Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Còn xa hơn nữa với Mỹ Tho, An Giang, Cần Thơ, Cà Mâu, Trà Vinh, Rạch Giá… và Tam Tòa ở mô? Thôi sống chết mặc bay, phần ta, lửa chưa đến cứ ăn ngon ngủ kỹ, cứ rưọu chè thoải mái thì Tam Tòa ơi, nước mắt này không phải cho Tam Tòa mà có lẽ cho ta và người mai sau:


Tam Toà ơi, Tam Tòa ơi,

Nước mắt này cho mẹ cho cha.

Nước mắt này cho em cho chị?


Không, nước mắt này là cho toàn dân ta!

Mẹ đã khóc bằng niềm tin rướm máu.

Cha đang khóc bằng giọt đắng trong tim.

Còn em, khóc vì bàn chân nhuộm màu.

Phần chị, khóc bằng máu chảy trên người!


Còn anh?

Người cán binh, viên chức cán bộ

Anh khóc bằng dùi cui, liềm búa,

Hay khóc bằng lòng dạ thú, bất nhân?


Như thế, ta hờ hững với Tam Tòa thì tìm đâu ra ngày mới? Bởi lẽ.



Việt cộng không bao giờ cùng lúc mở nhiều mặt trận để trấn áp toàn dân, nhưng chúng sẽ khoanh vùng, làm từng đợt, từng bước để khoá trái lại các cánh cửa, để ngay hàng xóm cũng không thể cứu giúp được nhau. Sự kiện Tam Tòa hôm nay là một bằng chứng: Nguời ở trong nước biết rất ít về những bước chân của Giáo Phận Vinh đi lên vì Tam Tòa vì Công Lý. Phía nhà nước thì lại đưa ra những bản tin dối trá và chẳng có một chỉ dẫn là họ sẽ giải quyết vụ Tam Tòa theo Công Lý và ý của dân là nhà nước sẽ trả phần đất Tam Tòa về cho giáo xứ, để người dân Tam Tòa xây dựng lại trên phần đất tang thương ấy một ngôi nhà thờ mới, nhưng vẫn giữ lại cái tháp chuông bị tàn phá kia, như một chứng cứ để xóa đi những thù hận trong chiến tranh, và làm đối lòng người. Nhưng cũng không có dấu hiệu để Việt cộng dứt điểm Tam Tòa theo kiểu một đêm như đã làm với TKS trưóc kia. Nhưng sẽ là một cuộc dằng co kéo dài. Càng kéo dài, nhà nước càng thủ lợi. Bởi vì:


1. Khi Trung cộng chưa đặt đưọc nền móng vững chắc tại Tây Nguyên, Việt cộng vẫn cần những điểm thu hút thị hiếu của nhiều người. Như thế chúng đã chọn đúng mục tiêu rối đấy.


2. Càng kéo dài, giáo dân càng thua nặng. Giáo dân hôm nay kéo về 200000, nhưng vài tháng sau chắc chỉ còn vài chục, chừng ba tháng nữa còn năm ngàn và sáu tháng một năm sau thì khéo mà…. chả ai còn nhắc đến Tam Tòa nữa. hoặc giả có nhắc đến thì cũng chỉ chửi xéo nhà nườc Việt cộng vài câu cho khỏi tức là hết chuyện.


Tại sao lại có thể có cái kết qủa bi quan như thế nhỉ? Đơn gỉan thôi. Đòi chúng trả lại cái khuôn viên nhà thờ Tam Tòa ấy có khác gì Đòi chúng từ bỏ cái bản chất gian manh độc ác của cộng sản. Kế đến, những bưóc chân nôn nóng buổi đầu sẽ không thể kéo dài vì những thực tế. Ngưòi dân cũng cần phải đi làm mỗi ngày để lo cho cơm áo. Niềm tin không bỏ nhưng tuần nào cũng quần là áo lượt để tụ họp nhau lại như những ngày đầu qủa là một nan đề, nếu như không muốn nói là khi nhìn sang hàng xóm, thấy họ bình chân như vại thì đi vài lần cũng thấy…. mệt!. Ấy là chưa kể đến một nhu cầu hết sức thực tế, bọn “côn đồ nhà nước” rình rập quanh nhà, quanh xóm suốt ngày đêm. Rồi Đúc Gám Mục của Gíao phận nay đã trọng tuổi, Ngài phải có một người kế vị…. Chuyện kế vị, nhất thời còn phải liên hệ với nhà nước, trừ trường hợp Ngài truyển chức cho vị kế nhiệm mà không cần ý kiến của Việt cộng thì lại là một chuyện khác!


Tóm lại, không ai nhìn cảnh đồng bào như thác lũ kéo nhau về TGM Xã Đoài để biểu lộ Niềm Tin, tình con thảo mà không cảm động và thán phục. Hơn thế, nhiều người đã rưng rưng ngấn lệ theo dấu chân của đồng bào trên đường. Nhưng nếu chỉ có thế thôi, những bưóc chân ấy dần sẽ bị quên lãng và khó có thể trở thành bước chân hiện thực của lịch sử được. Bỏi vì Việt cộng gian ác vẫn còn kia, Tháp chuông u buồn vẫn còn đó, như chứng nhận một cơn đau, mất đất mất nhà, bị ức chế, hơn là một biểu tượng phải khởi công lại, xây dựng lại những tan hoang đổ vỡ để từ những u buồn đắng cay ấy, chồi Tự Do, hoa Nhân Quyền, qủa Công Lý sẽ rực rỡ trên quê hương Việt Nam.


Theo đó, thay đổi Tư Duy là điều kiện tiên quyết để thay đổi cuộc sống và thể chế hiện tại của đất nước. Có thay đổi được lối suy nghĩ, mới có thể thay đổi được Hành Động. Thay đổi từ đơn phương sang tập thể và rồi toàn diện ở mọi nơi mọi chốn. Có thay đổi hành động toàn diện như thế mới có hy vọng nhìn thấy một ngày mai. Có thế, nhưng bước chân của đồng bào Vinh hôm nay không cô lẻ, không bị rơi vào quên lãng, nhưng là những bước chân đã lên đường, khai mở cho một ngày mai tươi sáng trong Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý. Trái lại, chúng ta lại rơi vào thế bị động trong cơn lốc xoay chiều của Việt cộng và ngày mai, chưa phải là ngày có thực.



Bảo Giang

Những người mang tên Hồ Chí Minh (Tai Liệu Vê Hô Chí Minh)

SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Ái Quấc - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, những cái tên của những con người bí ẩn trong lịch sử. Viết về những người này, có quá nhiều dữ liệu cần phân tích, cần rất nhiều trang lý luận với nhiều chủ đề khác nhau, việc này cần nhiều thời gian xin dành cho các sử gia chuyên nghiệp. Còn tôi, trong khi chờ đợi các sử gia lên tiếng, tôi xin viết một số ý nhỏ, một cách thật đơn giản sao cho mọi người đều có thể hiểu được. Trong bài viết hạn hẹp này, tôi chỉ đề cập tới Hồ Chí Minh.

NHÃ THANH SỬ

NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh“, theo như công bố của đảng Cộng sản, là “một người” đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 và mất ngày 02/09/1969. Sự thật, “Hồ Chí Minh” không phải là một người, mà tất cả là “5 người gồm 1 Thật và 4 Giả“.

NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH: 1 THẬT - 4 GIẢ
HCM thật bị CS xóa hình Hồ giả 1Hồ giả 1 Hồ giả 2 Hồ giả 3 bị CS xóa hình Hồ giả 4

HỒ CHÍ MINH Thật
02/09/1945 - 02/1946

.Là người Việt.
.Đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 với tên là Hồ Chí Minh.
.Giải tán đảng Cộng sản.
.Thành lập Chính phủ Liên hiệp, đa đảng.
.Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước.
.Thiên về Mỹ, dân chủ dân quyền.
.Bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh.

HỒ giả 1
03/1946 - 1953

.Là người Việt.
.Ký Hiệp định sơ bộ mời Pháp trở lại Việt Nam.
.Tiêu diệt các đảng phái không Cộng sản. Vụ án Ôn Như Hầu.
.Thiên về Liên sô, độc tài đảng trị.
.Vợ là Tăng Tuyết Minh.
.Nghiện thuốc lá nặng.

HỒ giả 2
1953 - 1965

.Là người Tàu.
.Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam.
.Cải cách ruộng đất giết dân Việt.
.1958 gài bẫy Phạm Văn Đồng ký công nhận lãnh hải của Trung Quốc.
.Dâm và ác. Giết nhân tình Nông Thị Xuân.
.CÂM (nghĩa bóng): Nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh.

HỒ giả 3
1965 - 02/09/1969

.Là người Tàu.
.Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam.
.Công khai cho mọi người thấy mình là người Tàu, do đó bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh.
Hồ giả 3 bị CS xóa hình
.CÂM (nghĩa bóng): Nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh.

HỒ giả 4
1969

.Là người Tàu.
.Làm người mẫu vẽ Hình chân dung giả mạo Hồ Chí Minh.

hình vẽ giả mạo HCM

HỒ CHÍ MINH Thật

- Người đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, được gọi là “Hồ Chí Minh thật”.
- Ngày 06/01/1946 người dân bầu cử Quốc hội đầu tiên. Sau đó Quốc hội bầu “Hồ Chí Minh thật” làm Chủ tịch nước.

Với một người nổi tiếng như thế, chúng ta rất mong muốn được biết mặt mũi ra sao, nhưng tìm mãi trong tất cả tài liệu mà Cộng sản công bố đều không nhìn ra được chân dung của “Hồ Chí Minh thật”.

Xem những phim tài liệu có nhắc đến ngày đọc Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945 chúng ta chỉ có thể nhìn thấy cảnh “Hồ thật” và những người cùng đứng trên lễ đài ở xa xa, không rõ mặt (hình a và b). Trong khi những người dân thì được ưu tiên quay cận cảnh rõ ràng (hình c và d).
(a) (b) (c) (d)

Tương tự với những đoạn phim tài liệu về ngày Quốc hội bầu Chủ tịch nước, hình ảnh “Chủ tịch nước” và các thành viên Chính phủ cũng xa xa, không rõ mặt mũi.

Chắc chắn trong ngày đọc Tuyên ngôn độc lập quan trọng ấy, những người quay phim phải trân trọng ưu tiên quay cận cảnh chân dung của Hồ Chí Minh và những người tham gia. Đồng thời họ phải cẩn thận quay rõ khuôn mặt của Chủ tịch nước và các thành viên trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng tại sao chúng ta không nhìn thấy những cảnh quay này, chính vì Cộng sản đã che dấu tất cả. Lẽ ra Cộng sản phải vui mừng phổ biến chân dung của “Hồ Chí Minh thật” nhưng tại sao lại che dấu ?

Hãy xét lại những gì “Hồ Chí Minh thật” đã làm:
- “Hồ thật” đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 với nội dung bình đẳng dân chủ dân quyền và 5 lời thề chống Pháp.
- 11/09/1945 quân của Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc Việt Nam. 23/09/1945 quân Anh Pháp vào miền Nam Việt Nam.
- Tháng 10/1945 “Hồ thật” viết thư gửi lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân các Bộ, Tỉnh, Huyện và Làng “… rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các Làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới sự thống trị của Pháp, Nhật”.
- 11/11/1945 “Hồ thật” tuyên bố giải tán đảng Cộng sản Đông Dương.
- 01/01/1946 thành lập Chính phủ Liên hiệp gồm 3 thành phần, đa đảng.
- 06/01/1946 tổ chức cho người dân bầu cử Quốc hội đầu tiên. Sau đó Quốc hội bầu “Hồ Chí Minh thật” làm Chủ tịch nước.
- 28/02/1946 Chủ tịch nước “Hồ Chí Minh thật” gửi thư có chữ ký cho Tổng thống Mỹ, yêu cầu hỗ trợ.

Nếu “Hồ thật” là đảng viên Cộng sản từng ở Liên sô và Trung Quốc, đã yêu chủ nghĩa Mác - Lê nin, thì tại sao trong Tuyên ngôn độc lập lại chỉ nhắc đến Hiến pháp của Mỹ ? Tại sao nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam viết thư yêu cầu Tổng thống Mỹ giúp đỡ ? Vậy còn Hiến pháp của Liên sô đâu, Chính phủ Liên sô đâu, mà một đảng viên Cộng sản như “Hồ thật” lại quên ? Những việc làm của “Hồ thật” có vẻ thiên về nước Mỹ, thiên về một Chính phủ Cộng hòa Dân chủ và Dân quyền, không thấy quan tâm gì đến Liên sô, một Chính phủ độc tài đảng trị. Có thể vì thế “Hồ Chí Minh thật” mới bị Cộng sản âm thầm loại trừ và thay thế bằng một “Hồ giả” đi đúng đường lối của Cộng sản.

Thời gian tồn tại của “Hồ Chí Minh thật” quá ngắn ngủi, chỉ trong vòng vài tháng.

* Làm giả PHIM cảnh “HỒ đọc Tuyên ngôn độc lập”: Nếu làm phim tài liệu mà không cho người dân thấy chân dung của người đọc Tuyên ngôn độc lập thì cũng kỳ quá, cho nên Cộng sản đành phải làm giả.

Trong phim tài liệu “Hình ảnh về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” sản xuất năm 1960, có đoạn phim Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khoảng 7 giây.

Hãy so sánh các hình liên tiếp 25:11 - 25:18. Chú ý có 3 phần: cái bàn, mây và cây, Hồ và micro.
(a) 25:11 - 25:12: cái bàn đứng yên, mây và cây di chuyển nhanh hướng xuống và qua trái, micro cũng đi xuống và qua trái. (Hay nhỉ, trong 1 giây mà mây bay rất nhanh, cái cây cũng biết đi, micro cũng chạy luôn)
(b) 25:14 - 25:15: cái bàn đứng yên, mây và cây đi qua phải, micro cũng qua phải. (Lạ quá, trước đó mây bay qua trái, bây giờ bay qua phải kéo theo cái cây cũng bay qua phải, micro cũng qua phải)
(c) 25:15 - 25:16: cái bàn đứng yên, mây và cây đi lên, micro cũng đi lên. (Ủa, mây bay lên trời, cây và micro cũng lên trời)
(d) 25:16 - 25:17: cái bàn đứng yên, mây và cây đi xuống, micro cũng đi xuống. (Ôi, mây rơi xuống đất, cây và micro cũng chui xuống đất)
(a) (b)
(c) (d)

Như vậy đây chính là cảnh cắt ghép các hình, gồm hình phông nền mây và cây, hình cái bàn, hình micro, và các hình Hồ với tư thế khác nhau, sau đó di chuyển vị trí các hình rồi dựng lại thành đoạn phim. Vì đây là cảnh giả nên chắc chắn Hồ này cũng giả nốt.

Tuy nhiên, Cộng sản đàn em thấy Cộng sản đàn anh bị sai lộ liễu quá, nên trong các phim tài liệu làm sau này, đã cắt bớt các cảnh chung quanh, chỉ phóng lớn hình Hồ, và chỉ lấy 1 giây phim để cho người xem khó nhận ra sự giả tạo.

Trong phim tài liệu “Hồ Chí Minh chân dung một con người” sản xuất năm 1990, đoạn phim Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập chỉ khoảng 1 giây, bị cắt không còn cái bàn với mây và cây nữa. 1 giây thì người xem chẳng còn nhận ra được cái gì nữa !

* Làm giả HÌNH cảnh “HỒ đọc Tuyên ngôn độc lập”: Sau này, Cộng sản còn vẽ tranh làm giả Hình chụp cảnh Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập.

Hình giả có nhiều điểm sai như sau:
- Microphone trong hình có dạng tròn và dẹp, có lưới chụp ở mặt sau. Thực tế, thời gian 1945 thì microphone to cồng kềnh có độ dài trên 10 cm. Microphone chỉ có lưới chụp ở mặt trước, còn mặt sau không có lưới chụp. Từ xưa đến thế kỷ 21 cũng chưa có ai sản xuất microphone dạng tròn và dẹp như vậy.
- Lá cờ đỏ sao vàng ngay trước mặt Hồ. Trong phim tài liệu chúng ta thấy chỉ có cờ đỏ sao vàng nằm ở tầng bên dưới, còn trước mặt Hồ không có cờ đỏ sao vàng (hình a). Hơn nữa, không ai treo cờ bằng cách bẻ gập xuống phần nền đỏ phía trên của ngôi sao. Đỉnh của ngôi sao còn nhô lên khỏi mặt vải, thật vô lý. Chính vì tác giả bức tranh muốn cho người xem thấy cờ đỏ sao vàng nên mới vẽ gán ghép như vậy.
- Cảnh nền phía sau lưng Hồ không có một người nào, lại có bóng đổ từ sáng trắng đến tối mờ giống như bức tường đứng sát lưng Hồ. Trong phim tài liệu thì sau lưng Hồ có rất nhiều người và không có bức tường nào.
- Bóng trên mặt Hồ và trên thân bên phải, bóng đường biên áo giữa ngực là sai. Hồ đang đứng ngoài trời nắng, nên khi chụp hình không có bóng quá đen và rộng như vậy. Nhất là không thể có bóng đường biên áo giữa ngực như vậy được.
- Túi áo và khuy áo quá to không đúng thực tế. 3 đường rãnh để cài khuy áo quá rộng và quá dài thì thật vô lý. Nút áo giữa lại nằm lệch khỏi đường rãnh cài. Túi áo phải lại bị xéo quá nhiều.
- Thân hình ngực Hồ bị méo và bị dẹp. Chân dung Hồ này chẳng giống bất kỳ chân dung nào của Hồ.
- Tranh vẽ Hồ mặc 1 áo kaki trắng. Trong hình trích từ phim tài liệu thì “Hồ thật” mặc 2 áo, một áo trắng bên trong và một áo ngoài sẫm màu (hình b và c).
- Ngoài ra, hình giả và đoạn phim giả có microphone không giống nhau, trong phim giả là khối trụ dài còn trong hình giả thì tròn dẹp. Chứng tỏ là do các tác giả khác nhau dàn dựng ra, đúng là Tổ trác !
- Thực tế đây là một tranh vẽ quá dở, mà dám dối gạt là Hình chụp Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, rồi đem treo ở bảo tàng và phổ biến khắp nơi.

(a) (b) (c)


HỒ giả 1

- Xuất hiện khoảng đầu tháng 03/1946.
- 06/03/1946 “Hồ giả 1″ ký “Hiệp định sơ bộ” với Pháp, mời Pháp trở lại Việt Nam. “Hồ giả 1″ không cho các lực lượng quốc gia chống lại Pháp, còn hợp tác với Pháp để tiêu diệt các lực lượng quốc gia.
- 15/05/1946 quân của Tưởng Giới Thạch rời Việt Nam.
- 27/05/1946 ”Hồ giả 1″, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng đi Pháp dự hội nghị La Fontainbleau, cử cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Nam thay quyền Chủ tịch nước.
- 12/07/1946 vụ án phố Ôn Như Hầu. Phe Cộng sản đồng loạt tấn công các trụ sở của các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng với lý do là để đập tan âm mưu đảo chính của họ cấu kết với thực dân Pháp.
- 14/09/1946 “Hồ giả 1″ ký “Tạm ước” với Pháp.
- 31/10/1946 “Hồ giả 1″ lập chính phủ mới, các thành phần Quốc gia bị loại trừ khỏi chính phủ Việt Minh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng chết.
- 19/12/1946 “Hồ giả 1″ tuyên bố hiệu triệu toàn quốc kháng chiến chống Pháp.
- 10/03/1952 “Hồ giả 1″ cử Nguyễn Lương Bằng sang Liên sô làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

“Hồ giả 1″ là tên cuồng tín Cộng sản, ngu trung với Quốc tế Cộng sản, và nhất mực trung thành với Liên sô cái nôi của Cộng sản. Sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa “Hồ giả 1″ với đàn anh Liên sô làm đàn em Trung Quốc khó chịu, đây có thể là nguyên nhân làm “Hồ giả 1″ biến mất. Sự biến mất bí ẩn của “Hồ giả 1″ đánh dấu bước mở đầu cho quá trình “Cộng sản giết Cộng sản” một cách công khai với truyền thông bị bịt miệng, kế tiếp là “Cải cách ruộng đất” tàn khốc, và sau này tiếp diễn cho đến tận ngày nay.

“Hồ giả 1″ có khuôn mặt rất xấu xí, cặp mắt gian tà. Ban đầu khi mới xuất hiện thì tỏ vẻ e dè, khi đã quen với quyền lực thì gian ác.

Trong phim tài liệu ngồi cùng bàn ăn với Phạm Văn Đồng, cảnh “Hồ giả 1″ ngồi co ro khúm núm, cái đầu gật gù, che dấu hai bàn tay, ánh mắt sợ sệt, lo lắng bị phát hiện là đồ giả mạo. Xem 2 đoạn phim (Hồ & Phạm Văn Đồng - Hồ đầu gật gù mắt lấm lét) (chú ý phim và hình có bản quyền Getty Images).

Khuôn mặt “Hồ giả 1″ hớn hở khi ký Hiệp định sơ bộ với Pháp.

“Hồ giả 1″ sang Pháp ký Hiệp ước. Hình chụp ngày 14/07/1946 tại Paris, Pháp.
(chú ý hình có bản quyền Getty Images)

“Hồ giả 1″ có vẻ không khôn ngoan, thích thể hiện những việc làm ngu ngốc. Hồ bảo nên tiết kiệm từng nắm gạo, đôi dép nhưng lại xài phung phí những thước phim tài liệu đắt tiền vào những cảnh quay không đáng như: Hồ đan giỏ, Hồ câu cá, Hồ chia thức ăn, Hồ chơi bóng chuyền, Hồ dùng khăn lau mình, Hồ trần trụi đi lông nhông v.v…

Hãy xem Hồ đan giỏ, Hồ câu cá.

Hồ chia thức ăn.

Hồ chơi bóng chuyền.

Hồ đi cầu khỉ, Hồ chẻ củi.

Hồ mắc mưa cởi quần áo.

Hồ dùng khăn lau mình.

Hồ trần trụi đi lông nhông, mắt còn nhìn lén máy quay phim nữa chứ !

Trong những năm ban đầu, “Hồ giả 1″ mặt rất xấu xí rất gian tà, nên trong phim tài liệu Cộng sản thường xóa hết những cảnh quay chính diện chân dung. Thật tức cười khi thấy rõ khuôn mặt của những người dân, còn khuôn mặt của “Hồ giả 1″ thì không rõ. Một ví dụ như “Hồ giả 1″ gặp Việt kiều ở Pháp:

Tại sao không quay phim tài liệu cảnh Hồ lãnh đạo Chính phủ, cảnh Hồ họp bàn kế hoạch kháng chiến với các tướng lãnh ? Thực chất Hồ này ngu như bò, không biết suy nghĩ gì, chỉ là con rối bù nhìn, mọi việc đều do kẻ khác giật dây quyết định.

Hồ này không nghĩ ra được những tư tưởng cao cấp, mà chỉ nghĩ ra được những ý tưởng nhỏ hẹp, cởi áo cởi quần, tầm nhìn thấp kém, làm những việc tầm xàm và sai lầm đủ thứ. Những cảnh đóng kịch trước máy quay phim làm tôi ghê tởm Hồ này, vì sự giả dối một cách trơ trẽn không một chút xấu hổ của hắn.

Vợ là Tăng Tuyết Minh, hình thời trẻ và hình lúc tuổi già mòn mỏi đợi chờ với ảnh Hồ trên tường.
Tháng 05/1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Quốc), bà Tăng Tuyết Minh (1905-1991) nhận ra đây là người chồng tên Lý Thụy đã kết hôn với bà ngày 18/10/1926 tại thành phố Quảng Châu, hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12/04/1927.
Sau đó bà đã báo cáo với tổ chức và gởi mấy lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời.

Một cán bộ lãnh đạo Quảng Châu đã tới gặp bà, trao cho lá thư của bà Thái Sướng (một trong những người đã tới dự tiệc cưới năm 1926 cùng với bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ của Chu Ân Lai) chứng thực Hồ Chí Minh chính là Lý Thụy cũng tức là chồng Tăng Tuyết Minh. Cán bộ này cũng giải thích lí do tại sao không tiện liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hy vọng Tăng Tuyết Minh hiểu và lượng thứ việc này, yên tâm công tác. Sau năm 1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối.

Bà Tăng Tuyết Minh về hưu năm 1977, rồi mất ngày 14/11/1991 tại Quảng Châu.


HỒ giả 2

- Xuất hiện khoảng cuối 1953, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Là người Tàu. Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam.
- 19/12/1953 “Luật cải cách ruộng đất” được “Hồ giả 2″ phê chuẩn và chính thức ban hành. Thực chất đây là quá trình giết hết những thành phần yêu nước Việt Nam kể cả Cộng sản, để xây dựng lực lượng lệ thuộc Trung Quốc.
- “Hồ giả 2″ còn trẻ, sung sức nên có ham muốn tình dục, không được thỏa mãn công khai, nên Dâm đãng. Có nhân tình trẻ Nông Thị Xuân từ năm 1955, sanh một đứa con 1956, rồi bị giết 1957.
- 1958 gài bẫy Phạm Văn Đồng ký công nhận lãnh hải của Trung Quốc.
- 1959 tỏ ý muốn cưới vợ Tàu người Quảng Đông, nhưng không thành công.
- “Hồ giả 2″ có gương mặt khá đẹp nên được Cộng sản quay nhiều phim tài liệu.
- Đặc điểm của “Hồ giả 2″ là bị CÂM. Nói “Hồ giả 2″ CÂM là nói theo nghĩa bóng, vì chúng ta không bao giờ thấy phim ảnh có tiếng nói của “Hồ giả 2″, mà chỉ toàn nghe người khác nói dùm những lời phát biểu của hắn. Nguyên nhân là vì “Hồ giả 2″ nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh.
- Giữa năm 1965 “Hồ giả 2″ tìm cách quay về Trung Quốc, rồi lấy cớ sức khỏe yếu kém không chịu quay sang Việt Nam nữa.

“Hồ giả 2″ chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ.

Vui mừng rơi lệ khi ôm được lãnh tụ Tàu.

“Hồ giả 2″ lấy khăn lau mắt tự phê bình Cải cách ruộng đất, lòng tiếc nuối “Phải chi dân Quỳnh Lưu đừng nổi dậy chống lại, thì Hồ ta còn tiếp tục giết thêm nữa”. Những người miền Bắc hôm nay phải biết ơn người dân Quỳnh Lưu hy sinh tính mạng để chặn bước chém giết của Cải cách ruộng đất.

Các cảnh đóng kịch khóc khác. Khóc trong nước.

Khóc ngoài nước.

Khóc đến nổi ông Tây cũng ngạc nhiên.

Vì còn trẻ, sung sức nên có ham muốn tình dục, không được thỏa mãn công khai, nên Dâm đãng.
Hồ giơ ngón tay giữa biểu thị cái tục trước mặt cô gái.

Hồ gặp gái, thấy có cơ hội là ôm hôn liền.

Hồ Tàu ôm và hôn người đẹp Trà Giang.

Nông Thị Xuân, người tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng, được đưa về Hà Nội sống lén lút với Hồ năm 1955, lúc đó cô Xuân 22 tuổi. Xuân có với Hồ một người con trai năm 1956, đặt tên Nguyễn Tất Trung. Bà Xuân muốn công khai hóa mối liên hệ, và đòi chính thức nhìn nhận đứa con nhưng Hồ vẫn không cho bà vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cưới. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công an chính phủ Hà Nội, đã giết bà Xuân ngày 11/02/1957, bằng cách cho người đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư, ngụy tạo tai nạn xe ô tô. Xem hình ngôi nhà bà Xuân đã ở số 66 phố Hàng Bông - Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nội.
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi Trung bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng nuôi. Năm Trung 5 tuổi (1961) được chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Khi Hồ qua đời ngày 02/09/1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.

1959 “Hồ giả 2″ muốn cưới vợ người Quảng Đông, được sử gia William J. Duiker nhắc tới, và cũng được công bố bởi một tờ báo Trung Quốc.

2 lần về thăm quê nhà Kim Liên 1957 và 1961, nhưng không lần nào vào thăm mái nhà xưa hay viếng mộ mẹ, mộ anh, mộ chị.

Nhà đây, mộ mẹ, mộ anh, mộ chị ở đây, tại sao không bao giờ Hồ đến thăm viếng và thắp một nén nhang ? Tại sao bất hiếu vô tình bạc nghĩa vậy ? Tại vì nó là Tàu nên không chịu bái lạy tổ tiên người Việt, sau này về Tàu làm sao ăn nói với tổ tiên thiệt của mình. Đơn giản vậy mà còn hỏi !

Tại Hà Nội, trong nhà sàn của Hồ, không hề có bàn thờ cha mẹ anh chị, thậm chí một tấm hình của một người thân cũng không có ? Tại sao bất hiếu vô tình bạc nghĩa vậy ? Tại vì nó là Tàu nên không chịu treo hình tổ tiên người Việt, sau này về Tàu làm sao ăn nói với tổ tiên thiệt của mình. Đơn giản vậy mà còn hỏi !

Mời các bạn xem hình, cha Nguyễn Sinh Sắc, anh Nguyễn Sinh Khiêm, chị Nguyễn Thị Thanh. Chắc bây giờ họ đã biết đó là Hồ giả rồi.

Trung Quốc, đây mới chính là quê hương của “Hồ giả 2″.
Trở về quê nhà ở Trung Quốc, gặp lại người thân (a) (b). Lưu lại chứng tích làm Hồ Chí Minh, cha già dân tộc Việt Nam (c). Ngôi nhà yêu dấu (d).
(a) (b)
(c) (d)


HỒ giả 3

- Xuất hiện khoảng giữa năm 1965.
- Là người Tàu. Theo lệnh Trung Quốc, khống chế Việt Nam.
- Khi “Hồ giả 2″ không chịu quay trở lại Việt Nam, sự việc quá bất ngờ khiến Trung Quốc không kịp chuẩn bị trước tìm người thay thế. Đành phải lựa chọn tương đối một người còn trẻ nhưng không giống “Hồ giả 2″. Vì không giống “Hồ giả 2″, nên “Hồ giả 3″ phải đeo kính to và đội nón để che dấu sự khác biệt.
- Từ 1965 đến 1969 luôn trốn khỏi Hà Nội, lẩn tránh mọi người. Nhiều lần về Trung Quốc để giải phẫu sửa đổi khuôn mặt cho già.
- Tuy nhiên “Hồ giả 3″ này còn trẻ nên kiêu hãnh dám công khai cho mọi người thấy mình là người Tàu. Đội mũ Tàu, mặc áo quần Tàu. Do đó bị Cộng sản xóa tất cả hình ảnh.
- Thăm Vạn Lý Trường Thành, thăm quê nhà Khổng Tử.
- Đặc điểm của “Hồ giả 3″ là bị CÂM. Nói “Hồ giả 3″ CÂM là nói theo nghĩa bóng, vì chúng ta không bao giờ thấy phim ảnh có tiếng nói của “Hồ giả 3″, mà chỉ toàn nghe người khác nói dùm những lời phát biểu của hắn. Nguyên nhân là vì “Hồ giả 3″ nói giọng Tàu lơ lớ nên bị Cộng sản xóa âm thanh.
- 02/09/1969 bị Cộng sản giết chết làm xác ướp.

Các hình trích từ phim tài liệu “Hồ giả 3″ công khai là người Tàu trong buổi lễ ra mắt “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Hai bên “Hồ giả 3″ là Phạm Văn Đồng và Tôn Đức Thắng. “Hồ giả 3″ nghe em thiếu nhi nói tiếng Việt không hiểu mặc dù cố gắng kề tai sát gần miệng em. Xem 01:30 phút đầu (00:30 - 00:40 Hồ giả 3, 00:51 - 00:58 Hồ giả 2, 01:13 - 01:19 Hồ giả 3) sau đó là linh tinh khác http://v.ifeng.com/his/200905/76de3ecb-897a-4722-9e5e-5af70e25680c.shtml (chú ý phim và hình có bản quyền ifeng.com).



Nhìn “Hồ giả 3″ biết ngay là Tàu chính gốc !

Nhìn kỹ “Hồ giả 3″ không đeo kính nhé ! Thật ra hắn có bị cận thị gì đâu, chẳng qua ngụy trang trước chỗ đông người mà thôi.

Đi thăm Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, “Hồ giả 3″ không cần đeo kính mà đi nhanh hơn mọi người.

Không cần đeo kính ngụy trang làm gì !

Từ 1965 đến 1969 “Hồ giả 3″ luôn trốn khỏi Hà Nội, lẩn tránh mọi người. Nhiều lần về Trung Quốc để giải phẫu sửa đổi khuôn mặt cho già.
Ngày nào khuôn mặt giống với một ông già, thì ngày chết sẽ đến, “Hồ giả 3″ không biết những ngày Vinh quang chỉ là ảo ảnh.

“Hồ giả 3″ đang nằm oằn oại trước cái chết từ từ thê thảm và những màn kịch chung quanh. Sao không mời bác sĩ Liên sô qua cứu chữa, đúng là giả dối !

Để trở thành xác ướp, “Hồ giả 3″ bị mổ bụng, moi hết lục phủ ngũ tạng (tim, gan, thận, ruột, dạ dày, thực quản, khí quản, phổi, tụy tạng, lá lách, bàng quang…) và não, hành tủy, và tủy sống. Máu cũng được hút sạch. Khắp cơ thể được chích hóa chất dưới da, mặt, tay, chân, ngón tay, ngón chân, tai, mũi, môi, ngực, bụng, mông, hông, lưng, bắp tay, bắp chân, đùi… Hai quả cầu thuỷ tinh được đặt vào hốc mắt. Môi cũng được khâu lại. Nguồn ánh sáng đỏ chiếu vào khuôn mặt và hai bàn tay để che dấu vẻ nhợt nhạt của thi hài, làm cho khuôn mặt của “Hồ giả 3″ ánh lên màu hồng và tạo được ấn tượng đang ngủ.

Hàng năm xác Hồ được chở qua Nga để tu bổ, ngâm chìm trong dung dịch hóa chất 30 ngày, và tẩy rửa, khâu, dán, thay thế những chỗ bị nấm mốc hủy hoại bằng những vật liệu nhân tạo như sáp, nhựa dẻo. Năm 1976 các chuyên viên Trung Quốc qua Việt Nam quan sát học hỏi cách ướp xác Hồ Chí Minh, để sau đó ướp cho Mao Trạch Ðông đã cho biết một bên tai trái xác Hồ đã bị long, rụng ra, và được dán lại bằng một loại keo đặc biệt. Phần sống mũi, sụn mũi bị hủy hoại, teo co lại và sụp xuống, được đắp vá, và tái tạo bằng sáp nhân tạo, và râu cằm đã bị rơi rụng ra.

Xem hình lau rửa xác ướp Lê nin bị mổ bụng. Hình thấy ghê rợn quá nên khuyến cáo Cấm trẻ em và người yếu tim !
Lenin As He Is Today (9 hình) / Washing Lenin Mummy (11 hình) / Xác-ướp-Lê-nin-được-chăm-sóc-như-thế-nào (11 hình)

Hiện nay xác “Hồ giả 3″ đã bị hủy hoại nhiều, bị đặt vào trong hầm lạnh đông cứng và được che giấu. Cái xác được trưng bày ra cho người xem là xác giả làm bằng thạch cao, nhằm đánh lừa người dân và du khách.

Những người dân viếng Lăng thăm xác Hồ, nhưng là Hồ Tàu, mà lại còn bằng thạch cao nữa. Toàn là giả dối !

Ngày nay, Lăng Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình là nơi chứa đầy sự lừa dối công khai được bạo lực Cộng sản bảo vệ, và cũng là một biểu tượng ô nhục kéo dài trong Lịch sử dân tộc Việt Nam.


HỒ giả 4

- Là người Tàu. Làm người mẫu vẽ Hình chân dung giả mạo Hồ Chí Minh.
- Năm 1969, lo sợ Hồ chết thì không còn biểu tượng dùng để cai trị dân Việt Nam, Trung Quốc tổ chức tìm kiếm và tuyển lựa những người Tàu có gương mặt hao hao “Hồ giả 2″, và tìm được một ông già Tàu có khuôn mặt khá đẹp lão nhưng mặt tròn và mắt ti hí.
- Chúng cho ông già làm người mẫu, để họa sĩ vẽ làm giả Hình chụp chân dung Hồ Chí Minh. Nhưng các họa sĩ Cộng sản Tàu không quen vẽ chân dung nên vẽ rất xấu, nhìn là biết tranh vẽ, không thể dùng giả làm hình chụp, không lừa gạt được người xem. Tuy cố gắng vẽ đi vẽ lại nhiều lần, nhưng cho đến ngày tang lễ Hồ cũng chưa vẽ được đẹp, đành phải đem ra trưng bày. Do đó trong phim tài liệu tang lễ Hồ Chí Minh do Nhật quay được, chỉ thấy có hình tranh vẽ Hồ Chí Minh chứ không có hình chụp. Tranh vẽ này Hồ Chí Minh có mắt hơi ti hí.

Sau ngày tang lễ, Cộng sản nhờ họa sĩ Liên sô vẽ lại một chân dung khác, sửa mắt ti hí thành mắt to, mặt tròn thành mặt dài, thay đổi áo, sửa lại tóc và râu v.v… cuối cùng tạo ra một chân dung rất đẹp.

Cộng sản đem tranh vẽ này làm giả thành Hình màu chụp chân dung Hồ Chí Minh để lừa gạt người dân Việt Nam. Rồi từ Hình màu này, Cộng sản làm ra hình trắng đen, để dùng trong bảo tàng, hay trong một số trường hợp cần giả cổ để lừa gạt mọi người.

Tuy nhiên, chính vì biết đây là đồ giả mạo nên truyền thông báo chí truyền hình ở nước ngoài không bao giờ sử dụng các hình này.

Chính phủ Việt Nam cũng không dám sử dụng các hình giả mạo này khi giao tiếp với nước ngoài. Hãy xem một áp phích của Chính phủ Việt Nam cổ động kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh dùng hình chụp thật !

Điều đáng buồn là Chính phủ Cộng sản không dám lừa gạt người nước ngoài nhưng lại tàn nhẫn lừa gạt người dân của mình.


NHÀ TRƯNG BÀY HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI TÀU

Nhà trưng bày Hồ Chí Minh là người Tàu ở đâu ? Dĩ nhiên là nằm ở bên Tàu rồi, lựa là phải hỏi !

Sau khi “Hồ giả 2″ quay về quê hương Trung Quốc đã trở thành anh hùng. “Hồ giả 2″ viết chữ Việt và ký tên Hồ Chí Minh, để lưu lại chứng tích xác nhận mình chính là Hồ Chí Minh và là một người Tàu. Trung Quốc cho chụp ảnh, thu âm và làm các phim tài liệu về Hồ Chí Minh Tàu này.

Trung Quốc cho xây dựng “Nhà trưng bày Hồ Chí Minh” phân chia ra 2 khu vực.

“Khu vực 1 trưng bày Hồ Chí Minh là người Tàu” là nơi trưng bày hình ảnh, âm thanh, phim tài liệu và các hiện vật chứng tích xác nhận quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh Tàu tại Việt Nam. Nơi này dành cho các cán bộ Trung Quốc đến tham quan và học tập kinh nghiệm của Hồ Tàu.

“Khu vực 2 trưng bày Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Hoa” là nơi trưng bày những bằng chứng về tình hữu nghị Trung - Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam và là bằng hữu của Nhân dân Trung Hoa, những ký kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc. Ngoài văn bản ký kết của Phạm Văn Đồng công nhận lãnh hải của Trung Quốc năm 1958, còn quan trọng nhất là văn kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh xác nhận Việt Nam chính là 1/2 tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, sẽ được Lê Duẩn kế thừa Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu giao trả dần Bắc phần đến Trung phần cho Trung Quốc kể từ ngày 19/05/2005 ngày kỷ niệm 115 năm sinh nhật bác Hồ. Văn kiện này được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết tại Quảng Tây, Trung Quốc.

Những lãnh đạo Cộng sản cao cấp tại Việt Nam được cho tham quan “Khu vực 2 trưng bày Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Hoa”, sau khi tận mắt thấy tai nghe chúng không nghĩ cách cứu nước mà còn theo lệnh Trung Quốc gây chia rẽ Cộng sản với Công giáo để dễ dàng đưa quân đội Tàu vào Tây Nguyên.

“Hồ giả 2″ thật hạnh phúc, hắn là một con dân Trung Quốc, một cháu ngoan Mao Trạch Đông, nhưng là một Cha già dân tộc Việt Nam. Tên tuổi Hồ Tàu sẽ được ca ngợi mãi mãi trong sử sách Trung Quốc và trong sử sách Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, Nhân dân Việt Nam đã biết những văn kiện bán nước là do “Hồ giả” ký kết nên không có giá trị gì. Chỉ đau buồn cho non sông đất Việt, là đảng Cộng sản vẫn cố tình bịt miệng sự thật, sẵn sàng để mất nước mà không chút bận lòng.


TỔNG KẾT

Viết về những người cùng mang tên Hồ Chí Minh, thật không dễ vì có quá nhiều dữ liệu. Tuy vậy, Tôi cũng cố gắng chọn ra một số điểm đặc trưng của mỗi người để người đọc có thể nhận ra được từng nhân vật. Qua bài viết này, người đọc sẽ nhận ra mình đã từng bị lừa đảo khi quá tin tưởng vào những tài liệu mà Cộng sản làm giả.

Những ai là Cộng sản, có thắc mắc thì gửi email đến các website của Chính phủ VN - Quốc hội - đảng CS, hay trực tiếp đi hỏi các cán bộ lãnh đạo địa phương, hay bét nhất là trong các buổi họp đảng. Còn nếu không dám mở miệng thì phải biết bản thân đã bị đảng CS biến thành con gì rồi, không còn là con người. Chú ý đảng CS sẽ bắt vô tù những ai dám tìm hiểu sự thật.

Một thực tế đáng buồn là trong nước Việt Nam có Nghệ Sĩ Nhân Dân làm phim tài liệu lừa dối Nhân Dân, hay Nhà Sử học nổi tiếng thì lại luôn ca ngợi Hồ Tàu.

Điều hơi khó khăn khi viết là phim và ảnh tài liệu phải chịu sự chi phối của Luật Bản quyền. Tôi cũng xin nhắc các bạn chú ý điều này.

Những bí ẩn chung quanh cái tên Hồ Chí Minh rồi sẽ dần được nhiều người khám phá và công bố.

Bài Xem Nhiều