We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 25 August 2009

Gx Thái Hà bị đánh phá, Gx Hà Hồi – Gp Hà Nội, hiệp thông Thái Hà

Mấy ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng, cách riêng VTV1 tiếp tục đánh phá các linh mục thuộc giáo xứ Thái Hà, với những lời kết án hết sức nặng nề, rằng: “Một số linh mục tại giáo xứ Thái Hà muốn lật đổ chế độ?”
Ðây là lần đầu tiên kể từ khi vụ Thái Hà nổ ra, các cơ quan truyền thông một chiều, dưới sự chỉ đạo của Ban Khoa giáo, dùng những luận điệu nhuốm màu chính trị như vậy để kết án giáo xứ Thái Hà.



Mục tiêu của đợt đánh phá bất ngờ này, theo nhận định của nhiều người, là chính quyền Hà Nội đang muốn khép các linh mục vào chuyện chính trị nhằm kiếm thêm một linh mục “cúi đầu nhận tội” cho đủ các thành phần xã hội trong tấn tuồng “cúi đầu nhận tội” được phát trên tivi những ngày qua.

Thật thương cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà vì “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”. Năm qua, những đóng góp cho việc dựng xây đất nước của họ thật đáng trân trọng, nhưng những thế lực xấu, những nhóm quyền lợi đang phá nát đất nước, tiếp tục hằn học tìm cách trả thù. Sự hằn học ấy thể hiện cách rõ ràng trong các bản tin thời sự, các bài báo trên các tờ Hà Nội mới, VietnamNet… trong những ngày qua.

Không nói thì ai cũng biết những bản tin ấy khiến người giáo dân bức xúc thế nào. Còn nhớ hồi Thái Hà gặp nạn cách đây vừa đúng một năm, cũng các phương tiện truyền thông một chiều này, đã cùng nhau lên đồng tập thể, toa rập, kết án, nói xấu, bôi nhọ giáo xứ Thái Hà; nhưng cũng nhờ những phương tiện này mà sự kiện Thái Hà được mọi người biết đến và muốn tới hiệp thông.

Lần này cũng vậy, ngay khi truyền thông, nhất là VTV1, đưa tin Thái Hà tới tận các vùng sâu vùng xa, thì người giáo dân các nơi cảm thấy có gì đấy không ổn đang diễn ra ở Thái Hà. Nhiều người tức tốc gọi điện hỏi thăm, chia sẻ. Sáng nay (25/8/2009), hơn 200 giáo dân giáo xứ Hà Hồi cũng đã đến Thái Hà để hiệp thông chia sẻ và cùng cầu nguyện cho Thái Hà, cho quê hương đất nước, cho những người đau khổ, những người đang phải chịu một sự đàn áp bất công.


Hình ảnh các giáo dân quây quần bên các linh mục để lắng nghe, để chia sẻ giữa cái nắng gay gắt cuối hè thật đẹp và xúc động. Hình ảnh ấy nói lên rằng: chẳng có thế lực nào dù gian xảo tới đâu, dù gay gắt như cái nắng cuối hè, lại có thể thắng được sự hiệp nhất trong tình yêu, trong niềm tin, trong chân lý và trong sự thật.

Chúa có con đường của Chúa. Chặn lối Ngài, Giáo hội, Ðất nước, con người sẽ tiêu vong.

25/8/2009
Hà Thạch

Hiệp hội nhân quyền quốc tế kêu gọi công luận ủng hộ tu sĩ Việt Nam ở Bát Nhã

Bản tin lưu ý thái độ "không can thiệp" của nhân viên Nhà nước và công an trước tình trạng người tu hành ôn hòa bị "quấy rối", còn phái đoàn Giáo hội Phật giáo đến thăm thì bị "tấn công bằng gậy đá và phân súc vật".

Phân hội Mỹ của Hiệp hội Nhân quyền quốc tế nhấn mạnh rằng chính Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận là các tu sĩ bát Nhã phải rời tu viện, hạn chót là 2/9 tới.

Trong một chiến dịch "chống đàn áp tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam", bắt đầu từ 19/8, Hiệp hội nhân quyền quốc tế kêu gọi công luận vận động lãnh đạo hành pháp Hoa Kỳ và Quốc hội lưỡng viện yêu cầu can thiệp với chính quyền Việt Nam.

Sau đây là nhân định của ông Vũ Quốc Dụng, tổng thư ký Hiệp Hội Nhân quyền quốc tế:

"Chúng tôi cho rằng những việc xảy ra đối với gần 400 tăng ni Phật giáo ở tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc là đặc thù của chính sách tôn giáo của Việt Nam. Từ nhiều tháng nay các tăng ni này đã bị những người lạ mặt tấn công bằng vũ lực, bị đốt am, vứt đồ đạc ra đường, cắt nước, cắt điện, xích cổng chùa, không cho tiếp tế thức ăn.

Chúng tôi có bằng chứng rằng nhân viên chính quyền Việt Nam đã có mặt tại hiện trường, khi xảy ra những hành vi bạo lực đối với tăng ni. Chúng tôi nhấn mạnh rằng 400 tăng ni này rất ôn hoà, đã không đánh trả khi bị côn đồ tấn công vũ lực, cho nên phải được bảo vệ.

Chính quyền Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về an ninh của những con người sống trên lãnh thổ Việt Nam. Hơn nữa, là người nắm chủ quyền trong tay, chính phủ Việt Nam phải tìm được một cách giải quyết có tình có lý cho họ và ít nhất là phải đúng pháp luật.

Đứng về mặt nhân quyền, chính quyền Việt Nam vẫn bị coi là vi phạm nhân quyền khi dung dưỡng cho các hành vi bạo lực hoặc khi không có khả năng bảo vệ cho các tôn giáo, cho dù hành vi bạo lực này xuất phát từ cái gọi là "quần chúng nhân dân". Chính quyền phải can thiệp ngăn chặn những hành vi phạm pháp, vi phạm nhân quyền và phải cho điều tra, truy tố, trừng phạt những kẻ phạm pháp dù đó là thường dân hay viên chức Nhà nước.

Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế của chúng tôi đang nghiên cứu về cách chính quyền dùng quần chúng để đàn áp tôn giáo tại Việt Nam. Những vụ dùng quần chúng để đàn áp Phật giáo, Tin Lành và Công giáo ngày càng gia tăng trong 2 năm qua cho thấy tính chất nghiêm trọng và có hệ thống của những hình thức vi phạm nhân quyền này."

http://www.rfi.fr/actuvi/articles/116/article_4696.asp

Tú Anh

Chân Dung Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa

Lời giới thiệu: Bài này được viết để tưởng niệm những người vợ lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những phụ nữ can đảm chưa bao giờ được vinh danh. Trong thơ văn chỉ có được một bài Chinh Phụ Ngâm Khúc, trong làng nhạc chỉ có được một hợp khúc Hòn Vọng Phu mà cũng chỉ có bài số 2 thôi... Sau các trận chiến, khi thu xác thì những phụ nữ can trường và bất hạnh này cũng không được phủ lên quan tài lá quốc-kỳ. Hy vọng rằng, sau này khi viết lại quân sử cuộc chiến Việt Nam, người ta không quên nhắc đến những hy sinh và đóng góp của các vị này.

Trong cuộc sống, sự thành công hay thất bại nào cũng có cái giá của nó. Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là những đồng đội đã hi sinh, những đồng đội khác đã để lại một phần thân thể trên khắp miền đất nước, và hệ lụy dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những người vợ vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc, là sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi công. Nhưng, hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại có trách nhiệm trang bị cho các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự hi sinh không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm nơi chiến trường, rất xứng đáng được chúng ta kính trọng.

Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến công việc gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc các con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm sóc tình bạn bè bằng hữu. Ðể rồi, những giờ phút yên tĩnh về đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!

Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Sau lời tuyên bố của vị tổng thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng bào, quân nhân, viên chức, cán bộ, bỏ của chạy lấy người, tị nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần tương tự như vậy gồm 222,809 người, lũ lượt bị lừa vào 200 trại tập trung trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng thù hận tột cùng của nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia đình còn lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng vì cuộc sống trên đất người với biết bao xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội nhập. Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ độc tài trên toàn cõi Việt Nam!

Cảnh đời thứ nhất.

Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cháu có cơ hội bên nhau, cùng chia sẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong thân phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp, nay phải cùng chồng từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!

Cảnh đời thứ hai.

Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau, của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng! Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn miệng huênh hoang là “dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản”, lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền miên với những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!

Cảnh đời thứ ba.

Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn tệ hơn nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn đất sét và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt. Ðồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày, lo nuôi chồng từng tháng!

Những bà vợ chúng ta, hải ngoại hay trong nước, thật sự là Những Người Ðàn Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua nỗi đau nỗi nhục đó! Ðau đến nỗi không còn nước mắt để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử hỏi: “Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?” Với tôi, không ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng của nó! Xin những ông chồng diễm phúc, hãy nhìn lại đôi nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ trong cuộc kể lại:

Một cảnh đau thương.

Một bà vợ cùng con cầm giấy phép “gánh gạo” nuôi chồng trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gỡ! Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ “nhà vắng chủ”. Ðau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa! Bà cùng gia đình định cư tại Houston, Texas từ Tháng Tư năm 1991.

Một cảnh đau thương khác.

Một bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an phường ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng như vậy. Một hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải quyết. Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. “Ôi! Còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!” Bà xiêu vẹo trên đường về nhà cách đó mấy dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng Bắc California từ năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.

Một cảnh đau thương khác nữa.

Một bà vợ có chồng bị giam trên đất Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống... Bà bị tai biến mạch máu não, nằm bất động một chỗ. Nhiều tháng sau đó, bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy cho phép bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số (khám Chí Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả hai “chồng đứng đó vợ liệt toàn thân”, chỉ biết nhìn nhau, òa khóc...! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời! Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả những bà vợ có chồng bị Cộng Sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng bại liệt đó theo bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng rồi bà đã từ trần năm 2004!

Sài Gòn-Hà Nội 1,736 cây số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của hai băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người, 1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy, băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hỗn độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết bao là nhọc nhằn gian khổ!

Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến những hành khách nằm cong queo trong cái gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình, liệu có cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được cả!

Tôi hình dung những bà vợ chúng ta qua hình ảnh trên đây mà chính tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung cùng với 90 “bạn đồng tù”, từ Nam Ðịnh về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi Tháng Chín năm 1987.

Trên đây là một cố gắng dựng lại hình ảnh “Những Bà Vợ Chúng Ta”, nếu không rõ nét thì ít ra cũng là những nét chính của hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:

Hai hợp phần trong chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà chồng đang chiến đấu.

Hai hợp phần sau chiến tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những trại tập trung nghiệt ngã!

Những cảnh đời bi thương, những khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ hôi, được khơi lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong những năm dài thật dài!

Quyển “Chân Trời Dâu Bể” của Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và quyển “Giữa Dòng Nghịch Lũ” của Duy Năng, kể chuyện trên quê hương Việt Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó, có thể xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày thua trận, dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất. Với tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết, bà nói:

“...Các anh trong tù, khổ về vật chất và đau về tinh thần đến vạn lần, điều đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các anh có biết không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề cao tất cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính trọng. Và Họ, chính là Vợ của các Anh”.

Vì vậy mà một số bạn đồng tù chúng tôi trong trại tập trung, đã không quá lời khi nói với nhau rằng:

“Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng mình”.

Bây giờ nhìn lại, trong một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Ðến ngày Việt Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là trọn vòng trái đất như đã tự hứa, phải không quí vị?

Với nét chân dung đó, tôi quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng được vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí vị đồng hương đồng ý với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:

“Chúng ta cùng vinh danh Những Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh nghiệt ngã của chế độ độc tài Cộng Sản, nhưng đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm Con”.

Vinh danh bằng những tiếng nói ân tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Ðiều đó luôn nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường ngày, phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau đi suốt chiều dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao tặng vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp bạn có được những giây phút sống lại những năm tháng mặn nồng trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người dùng chung một tên./.

Phạm Bá Hoa

Xã hội sa đọa, chế độ tiêu vong


Tệ nạn xã hội Việt Nam trong nước hiện nay đã đến mức tận cùng, không còn gì để bàn cãi, không còn gì cứu chữa. "Xã hội sa đọa, chế độ phải tiêu vong" đó là quy luật lịch sử chung của toàn nhân loại chớ không riêng gì ở Việt Nam.

Trong lịch sử thế giới, các vua chúa ăn chơi sa đọa, đục khoét công quỹ, xây dựng các công trình giải trí làm chết hàng ngàn nô lệ. Nhưng xét cho cùng thì các vị vua thời đó dù bị ghép là bạo chúa cũng chưa bằng một phần ngàn (1/1000) tội ác mà bọn đầu não đảng Cộng Sản Việt Nam đã gây ra cho dân Việt. Bên Tàu thì Kiệt, Trụ tàn ác khủng khiếp cũng thua xa, bên Tây phương thì Hoàng Ðế Néron của La Mã, một bạo chúa giết mẹ, đốt cả kinh đô cũng không sánh được với bọn Bộ Chính Trị Cộng Sản về nếp sống ăn chơi sa đọa. Kèm theo đó là chúng đã dung dưỡng, bao che cho thuộc hạ, hậu duệ ăn chơi sa đọa, lại còn đầu độc dân tộc bằng mua bán xì ke ma tuý, ngay trong bộ máy công quyền lại là kẻ chủ mưu!

Từ trước đến nay theo thống kê của báo chí Bộ Công An trong nước thì tê nạn xã hội ngày một gia tăng, muốn hiểu rõ thực chất tệ nạn xã hội gia tăng đến mức độ nào xin đọc các bài phân tích của báo chí trong nước sau đây:

"Quan trọng hơn cả, giới ưu tú của Việt Nam trong tương lai là thành phần sinh viên học sinh thì lại chiếm tỷ lệ cao trong các tệ nạn xã hội! Ðó là một điều đau lòng cho những ai lo nghĩ cho tiền đồ dân tộc. Nhưng trong môi trường sinh ra và lớn lên họ bị nhồi nhét các học thuyết chính trị vô bổ, các bậc cha chú lại làm gương xấu về đạo đức cho lớp trẻ. Ðộng cơ thăng tiến trong xã hội không phải là phục vụ cho quần chúng mà là đua đòi ăn diện, chạy theo nếp sống xa hoa Tây Phương (như làm lễ truy điệu tốn kém cho ca sĩ ở Mỹ, Michael Jackson, mà không hề quan tâm đến âm mưu lấn đất, giành biển của Trung Cộng). Những thành phần có học thì khi đỗ đạt ra trường lại mong kiếm 1 chiếc thẻ đảng viên để tha hồ có địa vị ưu đãi để dễ bề tham nhũng chứ không phải để phục vụ cho một lý tưởng nào cả.

Cán bộ cấp cao ăn chơi xả láng, từ bộ trưởng, thứ trưởng trở lên thì tài sản giấu đút, chuyển ra nước ngoài mỗi tên từ vài trăm triệu dollar đến hàng tỷ USD, trong khi đó đại đa số nông dân, công nhân khốn khổ vô cùng. Hành động đó khuyến khích bọn trung cấp trở xuống "thượng bất chính, hạ tất loạn" tranh ăn, vơ vét, cướp đoạt công khai đất đai của nông dân, thâm chí các bậc "có công" với Cách Mạng, các "bà mẹ chiến sĩ" cũng bị cướp đoạt công khai. Sự chênh lệch giàu nghèo, nếp sống sa hoa, vương giả của các "đại gia" bên cạnh sự bần cùng của đại đa số người dân đã gây ra bao sự chia rẽ trầm trọng trong các thành phần của xã hội.

Bây giờ thì mọi sự đảo ngược so với thời mà Cộng sản lường gạt toàn dân, hô hào kháng chiến chống "Mỹ Ngụy", lúc đó thì đảng cộng sản hô hào đấu tranh giai cấp, gây chia rẽ trong các tầng lớp trung nông, phú nông với dân nghèo. Nào là "thắt lưng buộc bụng", nào là "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm", chống bọn phe phẩy (con buôn), hiện nay bọn bóc lột sức lao động của dân nghèo, bọn ăn chận tiền lương của công nhân, bọn làm tiền "lao động nước ngoài" lại chính là bọn cầm quyền, bọn đảng viên trung cấp, cao cấp!.

Bây giờ thì mọi điều học sinh, sinh viên được giảng dạy thảy đều giả dối. Bọn bóc lột, bọn bán nước, buôn dân lại là lớp người ra rả giảng dạy triết lý "hy sinh của người Cộng Sản". Chính bọn trí thức thực dụng, bọn cơ hội cướp đoạt tài sản của người dân. Bọn người mang thẻ đảng viên chỉ để cướp đoạt tài sản của dân nghèo! Báo chí của đảng tha hồ nói láo, kẻ bị bóc lột biến thành tội phạm, bọn tội phạm diệt chủng trở thành công thần, đại biểu quốc hội, sử gia! Hiện nay bọn chúng đang ra sức chạy tội, bôi xóa lịch sử vì chúng có quyền hành trong tay, nhưng tội ác tày trời kia làm sao xoá được?

Xã hội ăn chơi sa đọa, lan tràn trong mọi giới, giàu thì hư hỏng do nhiều tiền lắm của xì ke ma tuý thả dàn, bà lớn, bà bé, nhân tình của ông lớn tha hồ đú đởn, không còn gì để nói cho cái xã hội nhầy nhụa nầy. Mấy ngàn năm văn hiến chưa hề xảy ra, ngày nay đàn bà Việt Nam mua dâm đĩ đực Mỹ Ðen để thoả mản tình dục!!!

Tất cả các tệ nạn xã hội như xì ke ma tuý ngày càng gia tăng, bệnh HIV còn cao hơn cả Thái Lan là nước chuyên khai thác du lịch tình dục. Phụ nữ Việt Nam bây giờ vào quán ăn mà kêu nước ngọt giải khát thì là hiện tượng lạ trong năm! Ai cũng nhậu, việc gì cũng nhậu: áp phe, tiệc vui, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới v.v... nhậu, tất cả nhậu, thầy trò cụng ly, cha mẹ và con cái nhậu, nhậu tới bến, chớ không phải uống chừng mực cho tiêu hoá. Văn hoá nhậu và chửi thề bây giờ phụ nữ Việt Nam không biết đúng hàng thứ mấy trên thế giới!

Trong nước thì chích hút tập thể, ăn chơi trác táng hàng ngàn người một lúc! có sự tham gia và tiếp tay của Công An.

Ði ra nước ngoài ,tiếng là để "lao động hợp tác" thì đem theo lũ đầu gấu, du côn trồng cần sa tập thể làm nhục lây Cộng Ðồng người Việt vốn chăm chỉ học hành, cần cù làm ăn !

Báo chí, truyền thanh, truyền hình thì khai thác tối đa kích thích nhục dục, quảng cáo tình dục, nếp sống thác loạn, buông thả, phim ảnh khiêu dâm.

Không cần đả động đến chính trị, không cần bàn đến sự khiếp nhược, hèn nhát trước ngoại bang. Không cần bàn đến các vụ đàn áp các tôn giáo một cách dã man, dùng xã hội đen đánh các vị tu hành, không cần bàn đến bỏ lơ biên giới kinh tế để cho Trung Cộng tràn ngập hàng hoá tới tận hang cùng ngõ hẻm, chỉ cần nói đến tệ nạn xã hội thì ai cũng đều đồng tình là phải giải thể cái chế độ thối nát kia đi (CSVN).

Chỉ cần đưa ra trước thanh thiên bạch nhựt cái xã hội tha hoá hết thuốc chữa nầy, cái nếp sống sa đọa tận cùng nầy thì bất cứ ai có lòng với Ðất Nước thảy đều lắc đầu ngao ngán: họ lo mai sau thời "Hậu Cộng Sản" không biết phải bỏ bao nhiêu thập kỷ để uốn nắn lại được xã hội thối tha nầy ngỏ hầu sánh vai cùng năm châu bốn bể. Một câu hỏi nhức đầu cho những ai còn nghĩ đến tiền đồ Quê Hương. Càng nghĩ càng đau cho dân, cho nước chớ không phải để cười khinh bĩ chế độ, hay cười trên sự đau khổ của đồng bào tôi.

Ngày tàn của Cộng Phĩ đã điểm, nhưng chưa ai biết con ác quỷ nầy sẽ còn lôi kéo đất nước mình đi về đâu sau khi nó sụp đổ? Thời điểm nầy, trước hoạ mất nước gần kề, không phải ngồi tính toán ai công ai tội, vì lịch sử sẽ cân phân sau nầy. Phải lo cái thây ma chết mà chưa chôn trước đã! Giải được bài toán nầy, chỉ có những người có tấm lòng bao la như biển cả, biết dùng nhân nghĩa mà thu phục nhân tâm, thương dân như thương gia đình mình, đảng phái, phe nhóm dẹp qua một bên, chỉ lo cho Dân Tộc mà thôi. Khốn nổi 30,40 năm chiến tranh Quốc Cộng, 3,4 thập niên bị kềm kẹp, triệt hạ nhân tài theo chủ trương của đảng CSVN, bây giờ tìm được một người như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đâu phải dễ!!!

Long Ðiền,

19.8.2009, viết từ quốc nội

Tìm phương thức phù hợp trong việc cứu quốc

Mũ xanh Delta.81.BCND
Là người quân nhân ̣được đào tạo trong khuôn thước, gắn bó với súng gươm hơn là làm chính trị và tôi cũng không có được cái năng khiếu đó, là một quân nhân trong QLVNCH thì bổn phận và trách nhiệm là đặt Tổ Quốc lên trên hết, nhưng đã là con người thì có được mắt thấy tai nghe, nghe để suy-nghiệm luận bàn, thấy để phân định, minh chứng thế nào cho hợp lý, hợp tình, những lời sau đây không có ý ngạo mạn khuyên dạy một ai mà đây chỉ là những chia sẽ để tìm thêm phương thức cho được phù hợp trong việc cứu quốc.
Trong suốt thời gian khá dài trên con đường tranh đấu với một ước nguyện thật là đơn giản nhưng luôn gập phải những gian nan khó giải quyết đó là làm cách nào để quang phục quê hương nhanh chóng ? Tai thì nghe nhiều nhân vật tiếng tâm của nhiều tổ chức, đoàn thể thường buông lời kêu gọi với cái danh từ ĐOÀN KẾT để diệt kẻ thù chung (CSVN) nhưng tôi không biết trong số người đó họ có nhận thức được thế nào về phẩm chất của sự đoàn kết hay không ? Từ cái suy luận đơn thuần này nên tôi đành phải mạo muội dùng đến ngòi bút đã khô mực từ lâu. Đối với một người không có năng khiếu làm chính trị như tôi thì tôi cảm thấy lời kêu gọi đoàn kết khơi khơi trong khi chưa tạo được cũng như chưa tìm được quan điểm đồng thuận thì lời kêu gọi này có thể làm mất đi thời gian tính. Chúng ta những người Việt trong và ngoài nước muốn giải thể được cái chế độ độc tài đảng trị CSVN thì điều trước tiên là tìm và tạo một nguyên tắc đồng thuận trên mọi vấn đề đặt ra có được vậy thì kết qủa của sự đoàn kết sẻ được minh định rõ ràng hơn. Trong bất cứ một trò chơi tiêu khiển nào cũng phải có sự đồng thuận đôi bên hai đối thủ chứ đừng nói chi một việc làm trọng đại như trong công cuộc đấu tranh cứu quốc. Trong cái công cuộc đấu tranh để giải thể cái tập đoàn lảnh đạo bán nước, buôn dân của đảng CSVN không phải là chuyện đùa vui cho qua ngày hết tháng. Muốn tạo lực để đấu tranh, muốn kêu gọi đoàn kết và đoàn kết được thì lúc nào cũng có ít hoặc nhiều, nhưng điều quan trọng cần chú tâm là sự đoàn kết đó có được tồn tại hay không ? và tồn tại được bao lâu ? 5 ngày, 10 tháng hay ngược lại bị rạn nức sau một thời gian ngắn bởi sự nghi kỵ hay đố kỵ lẩn nhau vì chỉ có lực nhưng chưa có phẩm. Tạo sự đoàn kết đây không có nghĩa là tổ chức nào, đảng phái nào, cá nhân nào cũng được thừa nhận không cần tìm hiểu và chọn lọc, nếu như minh định được điều này thì sẽ đạt được ít nhiều hy vọng hơn trong việc đoàn kết (chọn mặt gởi vàng).
Riêng cá nhân tôi người lính rừng không hơn chẳng kém, luôn đề cao cảnh giác và có quan niệm là thà muộn màng nhưng vĩnh cữu, còn hơn sớm nhanh mà trách nhiệm không hoàn thành, tôi thiết nghĩ muốn tạo được sự đoàn kết có kết qủa lâu bền thì điều trước tiên là chúng ta phải tìm một điểm đồng thuận cho nhau trên nhiều khía cạnh thực tế nhất, có nghĩa
là phải dứt khoát tư tưởng, mạnh dạng loại bỏ những thành phần đón gió trở cờ, phải cảnh giác và tố cáo những mầm móng len lỏi vào tổ chức có ý đồ làm lợi cho bọn CSVN, phải vận dụng mọi khả năng, thực thi những nghị quyết đã có của Liên Hiệp Quốc và phải hiểu rõ những nghị quyết của bọn CSVN đưa ra. Hiểu được điều này, đồng thuận được điểm này và làm được những dự kiện này thì đương nhiên kết qủa của sự đoàn kết được lâu bền hơn. Ngoài cái tinh thần và nghị lực ra, tình cảm và sự chân thật cũng rất là quan trọng trong việc tạo lực đấu tranh.
Những điều kiện thì dể tạo và lúc nào cũng có thể có, nhưng điểm thuận lợi thì khi có, lúc không, bởi lý-niệm này nên khi đã viết thì phải viết cho hết mực, cạn lời. Tiện đây tôi xin được chia sẻ trên bốn khía cạnh khác nhau trong việc TÌM PHƯƠNG THỨC PHÙ HỢP TRONG VIỆC CỨU QUỐC. Thứ nhất nói đến sự nổi dậy của người dân trong quốc nội, thứ hai nói về cộng đồng VN tại hải ngoại, thứ ba là vai trò của người quân nhân QLVNCH và sau cùng là có lời nhắn nhủ đến các cán binh, cán bộ CSVN những người đang thừa hành cái ước vọng ngông cuồng, đốn mạt, đê hèn và khiếp nhược của tập đoàn lảnh đạo CSVN trước dã tâm xâm lược của bọn thảo khấu Tàu cộng ngoại bang.
Điểm thứ nhất:
Nói đến sự nổi dậy của người dân trong quốc nội, nói đến những hình thái trong những cuộc biểu tình lớn nhỏ từ trước đến nay để có được một phương thức đấu tranh tâm lý hầu được hoàn mỹ hơn. Dẩu biết rằng trong bất cứ cuộc biểu tình chống đối nào cũng có lợi cho công cuộc đấu tranh, nhưng nếu có được cái nhận thức sắc bén, tinh vi hơn thì càng hữu hiệu hơn và đạt được kết qủa nhanh chóng hơn. Phương thức biểu tình này ra sao thì cũng chẳng có gì phức tạp và khó hiểu, có nghĩa là trong những cuộc xuống đường bạo động hay bất bạo động thì trong đoàn người biểu tình không nên cầm trên tay những lá cờ máu (cờ đỏ sao vàng) hay dùng những tấm biểu ngữ, những chiếc áo thung, những chiếc nón đội, những cây dù che nắng có hình thái màu sắc của lá cờ máu vô nghĩa sát nhân. Nói chung quy là chúng ta không nên dùng các tấm biểu ngử có nền đỏ chử vàng vì nó có sắc thái biểu tượng cho lá cờ của bọn CS (nền đỏ sao vàng) mà ngược lại chúng ta nên dùng các tấm biểu ngử có nền vàng chử đỏ để biểu tượng cho lá cờ của dân tộc (nền vàng ba sọc đỏ) nền vàng biểu thị cho sự thống nhất, ba sọc đỏ biểu thị cho ba miền, Nam, Trung, Bắc và còn biểu thị cho tinh thần dân tộc, tinh thần quốc gia, tinh thần đoàn kết và hơn nửa có tính đặc trưng về mặt khác là biểu thị cho lòng yêu chuộng Tự do, Dân chủ và Nhân quyền. Lá cờ dân tộc này đã có trên 117 năm về trước, lá Quốc kỳ VN chính thống nền vàng ba sọc đỏ này được Vua Thành Thái ban hành chỉ dụ năm 1890 chứ không phải đến nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa mới có lá cờ vàng ba sọc đỏ này. Còn lá cờ máu tanh hôi nền đỏ sao vàng của đảng CSVN thì không phải là lá cờ của dân tộc mà nó chỉ là lá cờ dành riêng cho đảng CSVN do tên tội đồ Hồ chí Minh đem ra
trong buổi lễ tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 mà thôi. Bởi thế người VN cần nên hiểu rõ về nguyên thủy để biết được cội nguồn của lá cờ dân tộc VN được khởi điểm từ đâu.
Điều quan trọng cần nên biết là khi chúng ta cầm trên tay những vật dụng có màu sắc tượng trưng cho chế độ CS vô nhân đó là chúng ta gián tiếp chấp nhận cái chủ nghĩa vô thần CSVN, mặc dù chúng ta đang trực diện chống đối lại nhà cầm quyền CSVN hiện nay. Những cuộc biểu tình chống CS phải được dẩn chứng cụ thể, trực tiếp, thực tiển là người dân VN không chấp nhận cái chế độ ươn hèn, thối nát, bán nước, buôn dân vô nhân bản đó. Nhất là trong các cuộc biểu tình chống ngoại bang Trung cộng trong vấn đề lãnh thổ, lãnh hải Hoàng sa, Trường sa mà tên tội đồ dân tộc Hồ chí Minh cũng như Phạm văn Đồng đã ký bán vào năm 1958 và mới đây nhất là vấn đề tập đoàn lảnh đạo CSVN cho phép Trung cộng tự do đưa người vào đất nước VN khai thác Bauxite tại Tây Nguyên.
Nói tóm lại là trong bất cứ cuộc nỗi dậy lớn nhỏ nào người dân trong quốc nội không nên cầm trên tay những gì tượng trưng cho màu sắc lá cờ máu của đảng CSVN. Có được vậy chúng ta mới dẩn chứng cho thế giới thấy rằng là người dân VN đang trực tiếp đòi cái quyền làm người, đòi quyền lợi chung của dân tộc và hơn thế nữa là người dân VN không chấp nhận chế độ chủ nghĩa đê hèn bán đất giết dân do nhà cầm quyền CSVN đã và đang thực hiện, dẩn chứng được điểm này thì trong mọi hình thức xuống đường chống đối mới có được ý nghĩa và hữu hiệu hơn, người dân trong nước cần phải biết là chính lá cờ máu này là nguyên nhân bán nước, mất nước và cũng chính lá cờ máu này đem đến mọi oan khiên, nghiệt ngã cho dân tộc VN suốt nữa thế kỷ qua. Vì những lý lẽ trên nên chúng ta không thể cầm lá cờ bán nước đó để tỏ lòng yêu nước, không cầm lá cờ phi nghĩa đó để đòi chính nghĩa và cũng không cầm lá cờ tội ác đó để đòi dân chủ . Trong bất cứ cuộc đấu tranh nào cũng cần phải có sự nhận thức chính đáng, cần phối họp mọi thành phần đãng phái, mọi giới, mọi giai cấp xã hội và cần dứt khoát tư tưởng kế đến là sự hy sinh, hy sinh không giới hạn. Trong mọi cuộc đấu tranh nhất là đấu tranh chống CS thì điều khó có thể tránh được là sự đổ máu, đổ máu để đem lại kết qủa nhanh chóng, đổ máu để đạt được nguyện vọng tồn vong, đổ máu để bảo vệ tín ngưỡng, bảo vệ giáo đường thánh thất thì những giọt máu đào này luôn được có gía trị và lợi ích hơn là cúi đầu lẩm bẩm bài kinh thánh Kitô hay là những giọt nước mắt thầm lặng không ai nghe, biết đến. « Đối mặt với hoàn cảnh, trong đó những người đối lập với tôn giáo họ không chỉ tìm cách làm giảm tiếng nói của nó thành câm lặng, nhưng họ còn tìm cách thay thế bằng tiếng nói của họ, thì các tín hữu phải luôn nhận thấy điều cần thiết là phải hợp lý với những nguyên tắc và niềm tin của mình ». Tồn vong hay diệt chủng là do lòng yêu nước, can đảm hy sinh để cho tương lai của thế hệ nối tiếp được vương cao hay chấp nhận cúi đầu làm nô lệ bọn giặc nội, ngoại xâm tất cả đều do lòng cương quyết, đều do sự nhiệt tâm của người
Việt trong quốc nội, nếu không can đảm đứng lên “tự cứu ta” thì chẳng bao giờ ta có khả năng để cứu QUỐC.
Hiện tại quê hương VN trước cảnh dân nghèo, nước yếu, xã hội bất công, văn hóa suy đồi, đạo đức biến thái, sự sinh tồn của dân tộc, vận mệnh của quốc gia đã đến giai đoạn diệt vong vì chưa bao giờ người dân VN sống khổ cực, bần cùng hóa như ngày hôm nay, nước VN chưa bao giờ tụt hậu, nghèo đói nhất thế giới như ngày hôm nay. Vậy thì mỗi người dân Việt trong nước hảy mạnh dạng cùng nhau chung sức đứng lên, vận động tinh thần chung yểm trợ cho mọi hành động xuống đường của mọi giới không phân biệt tôn giáo, gia cấp hay đảng phái. Điển hình hiện nay có ít nhất nửa triệu tín hữu thuộc 178 giáo xứ của giáo phận Vinh ngược xuôi cùng nhau về tham dự thánh lễ cầu nguyện cho giáo dân Tam Tòa, tay cầm cờ Tòa Thánh, vươn cao biểu ngữ ”Cầu nguyện cho giáo dân Tam Tòa ”. Dựa trên yếu tố nổi dậy một cách mảnh liệt của các giáo dân này ( Thái Hà, Tam Tòa không chỉ có một đức cha Phao-lô Maria Cao Đình Thuyên, Giám mục giáo phận Vinh mà phải có thêm những người lãnh đạo tinh thần khác nhận ra sức mạnh của lòng tin, của tình đoàn kết và chấp nhận hy sinh, như thế sẽ có một sức sống tinh thần mãnh liệt hơn, không chỉ cho Giáo Hội Công Giáo, nhưng cho tất cả các tôn giáo, cho cả Dân Tộc Việt Nam ) thì tất cả các đãng phái, gồm các đạo giáo như: (Phật Giáo,Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo v…v…), giới nhân công bị bóc lột, các dân oan bị cướp đoại tài sản ruộng nương hảy cùng nhau chung sức đồng loạt đứng lên khắp nơi trên 64 tỉnh, những ngọn lửa thiêng, các đợt sóng thần này phải được liên tục tiếp nối như thế sẽ gây nên những khó khăn trầm trọng có thể nói là tạo sự bất lực cho bạo quyền CSVN, làm cho chúng không kịp trở tay điều động , bố trí, tăng cường nhân lực công an đầy đủ ở mọi nơi để dập tắt ngọn sóng biển người đòi dân chủ tự do, bằng không con số nửa triệu tín hữu thuộc 178 giáo xứ của giáo phận Vinh sẻ bị dập tắt trong nay mai, rồi chuyện đâu vào đấy như các việc đã sảy ra trước đó tại Tây Nguyên, Tây Bắc và nhiều vùng sâu với các chức sắc và giáo dân của các tôn giáo Cao Đài, Tin Lành, Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo, Giáo phái Tin Lành Menonnite, nhà nguyện Tin Lành của Giáo Hội Phúc Âm huyện Cần Giờ, , Giáo xứ An Bằng thuộc Giáo phận Huế, Thái Hà và các Giáo phái độc lập, nhất là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất v…v…
Hảy lấy những chuyện xưa, tích cũ làm căn bản cho công cuộc đấu tranh tự do tôn giáo. Giống như năm 1963 có Thượng tọa Thích Quảng Đức và sau đó cũng có một số nhà sư khác theo gương TT/TQĐ thì ngày nay cũng phải có những vị tu hành tương tự, không phân biệt các vị này thuộc giáo phái nào, tử vì đạo là việc cần làm và nên làm nếu như muốn bảo vệ chân lý. Các Tăng ni, Sư sải, Linh mục, Giám mục phải hiểu và nhớ cho rằng: chính pháp là ngọn đuốt soi sáng thế nhân, còn thân ngủ uẩn chỉ là giả tạm. Tấm hình chụp của phóng viên Malcolm Browne về hành động tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức đã làm tăng sức ép của quốc tế, hàng động tự thiêu của TQĐ được coi như một bước ngoặt trong cuộc xuống
đường của Phật giáo VN và từ đó đưa tới cuộc đảo chánh bằng quân sự vào tháng 11 năm 1963. ( Tôi không đi vào chi tiết sự kiện Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu do động lực nào ? vì có nhiều tài liệu đề cập và có thể tìm biết trên nhiều ấn phẩm đủ loại khác nhau. Nhưng có một điểm có thể khẳng định rằng dù khác nhau hay bình luận thế nào đi chăng nửa, sự kiện năm 1963 không có thể phai nhạt trong ký ức và lịch sử dân tộc trong vấn đề tôn giáo, việc nên làm là lấy ra bài học lịch sử này để ứng xử, kết quả ra sao thì ai ai cũng đã thấy). Cũng như Đại Giáo chủ Ruhollah Khomeini người lãnh đạo cuộc cách mạng Hồi giáo tại Iran vào năm 1979, ông từng nói « nước ta sẽ là quốc gia đầu tiên chứng minh cho Mỹ biết rằng là họ không thể làm được tất cả mọi thứ ». Vậy thì hôm, ngay trong thời điểm này các vị Giáo chủ trong các Giáo hội VN hảy đồng tâm can đảm lớn tiếng hô to là : «Giáo dân VN trong mọi giáo phái sẽ chứng minh cho tập đoàn lãnh đạo CSVN biết rằng là đảng CSVN không thể nào đàn áp, dập tắt được tinh thần cũng như nguyện vọng của giáo dân và dân tộc», người xuất gia vì đạo cần phải nhớ một điều là chủ trương bất bạo động, không có nghĩa là thụ động đợi sự tiêu diệt mà không có phản kháng, đi liền với bất bạo động là giáo lý vô úy, có nghĩa là càng bị dồn ép thì sức bật vô úy càng được đẩy cao. Tự do tín ngưởng, tự do tư tưởng là linh hồn và lẽ sống. Không một ai có thể lấy chủ thuyết chính trị, cách thức cai trị độc tài mà gội tẩy máu thịt của tâm hồn.
Thời xưa Mạnh Tử đã nói: « Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh » có nghĩa là quyền tự do căn bản của người dân phải được tôn trọng sau mới đến luật pháp và cuối cùng mới đến giai cấp quan quyền. Vậy thử hỏi cái quyền căn bản của người dân được quy định bởi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10 tháng 10 năm 1948 ở đâu ? mà hiện nay người dân trong nước bị tập đoàn lãnh đạo CSVN khinh miệt, đàn áp thô bạo, dã man, những hành động này đi ngược lại lương tri của con người thì chúng ta phải đứng lên chống lại sự đàn áp đó bằng mọi cách, mọi hình thức, bằng bất cứ phương tiện nào để lật đổ cái chế độ độc đoán, độc tài CSVN.
Trong lịch sử Đông Tây xưa nay chưa từng có một thể chế chính trị nào tồn tại vĩnh cửu mà chỉ có dân tộc là trường tồn. Sức mạnh của dân tộc không nằm trong tay thiểu số của cấp lãnh đạo CSVN, tương lai của dân tộc không nằm trong tay của bọn phản quốc hiến đất giết dân.
Cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại cũng như các quốc gia chống CS trên thế giới có tiếng nói mạnh hay không qua những nghị quyết, qua các thỉnh nguyện thư kêu gọi quốc tế xét lại những hành vi vô nhân bản của nhà cầm quyền hiện tại đối với người dân trong nước có hiệu lực hay không là do dự kiện đứng lên đòi hỏi nhân quyền của người dân trong quốc nội đối với đảng CSVN, thành công hay thất bại là do sự cương quyết dũng mãnh, chấp nhận hy sinh của người dân trong quốc nội. Muốn VN có dân chủ hóa thì bắt buột phải giật sập cái chế độ ươn hèn, độc tài, độc đảng vô nhân hiện nay để thực hiện con đường cứu quốc
và kiến quốc, muốn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội VN thì phải lật đổ cái chế độ thối nát độc tôn, độc đoán, bá quyền của bọn CSVN càng sớm càng tốt.
Chỉ một phương cách duy nhất, nhanh chóng nhất này đem lại kết qủa mỹ mãn trong công cuộc giải thể đảng CSVN. Đây chỉ là một trong những phương cách đấu tranh của người dân trong nước, còn có nhiều phương cách khác cũng rất là hữu hiệu: Có nghĩa là trong một đất nước băng hoại đã 34 năm qua thì làm sao tránh khỏi xã hội đen, những tay dao to, búa lớn, giang hồ nợ máu, đâm chém thanh toán lẩn nhau để tranh dành quyền lực ở góc phố đầu vùng, thì những tay giang hồ anh chị này ít nhiều gì cũng có bản chất anh hùng tính, trong giới giang hồ không phải ai cũng trở thành anh chị được mà một khi đã là anh chị rồi thì cũng biết được lẽ phải để diệt bạo trừ gian. May mắn hơn nếu có những tay giang hồ anh chị này ra tay nghĩa hiệp, thanh toán vài tên công an CS để đem lợi ích lại cho người dân tay lấm chân bùn không đủ phương tiện để thực thi những việc làm ngoài khả năng sẳn có. Theo ước tính hiện nay là trên đất nước VN có 64 tỉnh, thì mỗi tỉnh như vậy thanh toán chừng 1, 2 tên nợ máu, 64 tên bán nước hại dân hay 128 tên trong 1 tháng, nhân lên cho 12 tháng trong 1 năm thì cũng khá nhiều chứ không phải ít. Có được vậy bọn CS mới biết sợ và thấy rõ nổi câm hận của người dân. Khi tôi đặt đến phương thức đấu tranh này thì chắc có lẽ ít nhiều gì cũng có người muốn hỏi là tại sao tôi chỉ đưa ra phương thức mà không tự tay làm, nếu như có ai đó đặt câu hỏi này thì tôi xin được thưa rằng:
Trong công cuộc đấu tranh chung mỗi người có một vị trí và hoàn cảnh thuận lợi khác nhau, kẽ hải ngoại, người trong nước, chứ thật ra việc làm như tôi vừa nêu trên không có gì nan giải đối với người chiến sĩ mũ xanh thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù trong thời binh lửa, đạn thù bắn ra tứ phiá, quân thù lấp ló ở khắp mọi nơi, thế mà những bóng ma mang số 81 còn băng mình trong đêm tối, còn nhảy vào tận những nơi mà bọn CS thường tự cho là những vùng bất khả xâm phạm như: (Cô Tô,Ashau,Ia Drang thung lũng tử thần dưới chân núi Chu Pong,Tchepone,Tam Biên,Đường mòn HCM số 9 v…v…) để nhổ chốt, phá kiềng đánh tan hậu cần căn cứ địa của địch và bắt sống tù binh thì nói chi đến việc thanh toán, cho đi mò tôm vài tên cán bộ CS Việt gian.
Điểm thứ hai :
Riêng về cộng đồng người Việt tại hải ngoại thì trong bất cứ cá nhân, tổ chức hay đảng phái chính trị nào chúng ta cũng cần nên dè vặt trong các vấn đề quyên góp, ủy lạo cứu trợ nạn tai như: bảo lục hay giúp trẻ em mồ côi hoặc những người thương tật trong nước, vì đây là những chiêu bài của đám vô hậu lạm dụng lòng vị tha, từ bi bác ái của cộng đồng để kiếm chút vốn nuôi thân và đi đêm với CS trong chiêu bài hòa hợp hòa giải, cũng từ điểm này bọn CSVN chúng đào tạo thêm những kịch sĩ giả đui, giả câm, giả điếc, khóc mướn để chiêu dụ,
để đánh động nhân tâm, gợi cảm lòng từ bi của người Việt quốc gia tại hải ngoại. xin Quý vị nên suy-nghiệm lại nếu Quý vị có vài phút giây rảnh trong ngày.
Vượt biển, vượt biên rời bỏ thiên đường xã hội chủ nghĩa mà chẳng may bất thành thì khi bước chân vào tù bọn CS gọi là: những kẻ phản quốc, bọn lười biếng, loại mê beurre thừa sửa cặn của đế quốc Mỹ, nhưng một khi thoát được thì vài năm sau đó trở thành người thanh lịch khăn gói về làng. Thật là đau lòng và cười ra nước mắt, từ kẻ phản quốc nay được trở thành khúc ruột ngàn dậm một bộ phận không thể tách rời của nước VN. Song song những lời tán tụng khúc ruột ngàn dậm đó, nhà cầm quyền CS lại tìm cách phá bỏ di tích thuyền nhân tại Đông Nam Á, vậy thì thử hỏi liệu khúc ruột ngàn dậm này có đúng, có thực tâm không ? Hay là khúc ruột thừa không hơn chẳng kém. Chiêu bài hòa hợp hòa giải dân tộc kêu gọi chung sức cứu nước giúp dân mà bọn ma đầu CSVN đã dùng bấy lâu nay chỉ là để củng cố ngai vàng và làm giàu trên nổi thống khổ bất hạnh của người dân. Việc làm nhân đạo này không phải là vai trò của người VN tỵ nạn CS, việc đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm Tàu cộng là trách nhiệm và bổn phận của nhà cầm quyền CSVN hiện tại, Xin tất cả hảy nhìn lại qúa khứ, nhìn lại những tấm gương anh dũng của người chiến sĩ VNCH trong qúa trình cuộc chiến đấu chống làn sóng xâm lăng của kẻ thù phương Bắc, nếu như không có máu xương của người chiến sĩ VNCH dùng để đấp xây thành lủy, giống như trận hải chiến vào tháng giêng năm 1974 mà chính quyền miền Nam VN của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã dùng Hải Quân QLVNCH để bảo vệ lảnh hải của hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dù trên phương diện quân sự không được tương đồng, nhưng tinh thần và khí tiết của dòng máu liệt oanh, người chiến sĩ Hải Quân VNCH đã quên mình cứu nước, ngăn chận bước tiến cộng thù, chấp nhận hy sinh nhưng không để cho bọn giang tặc cướp nước giết dân một cách dể dàng.
Có như thế người VN trong nước nhất là giới trẻ cũng như các cán binh, cán bộ CS mới nhận thấy rõ hơn cái yếu hèn, khiếp nhược và sự bán nước buôn dân của tập đoàn lảnh đạo CSVN mà thường khi chúng luôn rêu rao đánh Mỹ cứu nước rồi nay chúng bán nước, đánh dân để phò Tàu. Từ đó người dân của ba miền mới có được những quyết định mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn, can đảm và quyết liệt hơn trong các cuộc nổi dậy ở toàn miền trên lảnh thổ VN. Đây là cuộc khởi nghĩa thiết thực bằng lương tri, bằng hành động, bằng tiếng nói và bằng những cuộc tổng nổi dậy liên tục chứ không cần phải dùng đến súng ống đạn bom. Trong bất cứ cuộc cách mạng nào dù lớn nhỏ cũng phải trả bằng máu lệ, thương tật hay tù đày nhưng vì quyền lợi của dân tộc, giang san gấm vóc của tổ tiên, vận mệnh quốc gia và tương lai của thế hệ mai sau thì sự hy sinh phải được đặt để ở hàng đầu trong lẽ sống.
Nói như thế không có nghĩa là người Việt quốc gia nơi hải ngoại làm ngơ trước ý đồ xâm lược của kẻ thù truyền kiếp Bắc kinh, không có nghĩa là không màng đến hiện tình đất nước và nỗi khổ đau của dân tộc, không có nghĩa là bỏ mặt cho bọn Tàu cộng cướp đất giết dân và cũng không phải là chúng ta quên giòng máu Lạc Hồng. Nhưng đây là một phương
cách (độc trung chi độc) lấy độc trị độc hữu hiệu nhất và đây cũng là dịp may ngàn năm một thuở để chúng ta dồn cái trách nhiệm này cho bọn vô tướng bất tài, vô lương thú tính và từ đó chúng ta xé được cái tình thân hòa hữu nghị giữa bọn CSVN và bọn TC cũng như tạo sự bất mãn nội bộ giữa các đảng viên CS : Kẻ phò Tàu, đứa dựa Nga, thằng theo Mỹ rồi cũng từ đó trong hàng ngũ của đảng CSVN sẽ có sự thanh trừng lẩn nhau. Chúng ta nên nhớ rằng muốn bẻ gảy bó đủa dể dàng thì việc trước tiên là phải chia bó đủa đó ra làm nhiều đôi, nhiều chiếc. Giữa giặc ngoại xâm và giặc nội xâm chúng ta cần phải dồn toàn lực lượng ̣đánh một trong hai, chúng ta phải biết rằng ngày nào đất nước VN còn bị đảng CSVN thống trị thì ngày đó dân tộc VN còn điêu linh và lảnh thổ VN còn phải bị dâng hiến. Vậy thì vịệc trước tiên và hữu lý nhất là phải tiêu diệt sạch bọn Việt gian CSVN. Tôi tin rằng hàng triệu người quốc gia chân chính chung bước cùng nhau, cùng hướng với mục đích chung là tiêu diệt bọn việt gian Cộng Sản để dành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Dựa trên những dẩn chứng này nên chúng ta không thể nào liên minh được với bọn mặt người lòng thú CSVN và đám tay sai vô loại ở hải ngoại này dù trên bất cứ hình thức nào, chiêu bài nào. Chúng kêu gọi vào lòng yêu nước của dân tộc để che đậy cái trò bán nước và sự yếu hèn nhu nhược của chúng và hơn nửa mưu đồ của chúng là muốn lá cờ máu có mặt ở hải ngoại cũng như được đứng chung với lá cờ chính nghĩa quốc gia (cờ vàng ba sọc đỏ) trong những cuộc biểu tình chống Trung cộng. Chúng cố ý tạo cho thế giới thấy là lá cờ đỏ sao vàng được chính thức nhìn nhận trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại này. Đây là cái trò lừa bịp gian xảo của bọn vô loại CSVN và đám tay sai đầy tớ đón gió trở cờ, cúi mặt, ngữa tay đón nhận những chén cơm thừa canh cặn của bọn Việt gian CSVN.
Chúng ta đã mất qúa nhiều thời gian cùng mồ hôi và công sức trong suốt 34 năm qua hầu bảo tồn ngọn cờ chính nghĩa VNCH nơi hải ngoại này, cộng đồng người Việt quốc gia đã hội kiến khấp mọi nơi để được các quốc gia sở tại, đất xứ mà chúng ta ̣đang tạm dung nhìn nhận cũng như cho phép chúng ta vươn cao lá cờ vàng ba sọc đỏ trên 12 tiểu bang cũng như trên 133 thành phố tại đất xứ Hoa Kỳ và các quốc gia khác có cộng đồng người Việt quốc gia cư trú, trong khi đó lá cờ máu của bọn CSVN chỉ được treo tại xứ quán CS của chúng mà thôi. Bọn CSVN đã thấy rõ những điểm bất lợi này nên chúng dựa vào chuyện hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng mướn bọn du học sinh trên nhiều hình thức ( trả chút tiền ăn kẹo bánh « tại Pháp là 20 euros », hâm dọa sẽ trả về lại VN …v…v..) cầm cờ đỏ sao vàng biểu tình trước xứ quán Trung cộng ở hải ngoại này, trong khi đó tại VN nhà cầm quyền CS thẳng tay đàn áp, đánh đập dã man, bắt bớ giam cầm những con dân vô tội trong nước khi họ lên tiếng chống đối việc xâm lược của Trung cộng vào lãnh thổ VN. Cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại cần phải sáng suốt hơn, cần phải dùng mọi phương cách hữu hiệu hơn để chặn đứng sự bành trướng của lá cờ máu vô nghĩa, vô lương, chúng ta cần phối họp chặc chẻ hơn, nghiêm khắc hơn đối với đám tay sai vô loại đang ẩn mình núp bóng dưới lá cờ vàng
chính nghĩa kính yêu, hảy can đảm vạch mặt chỉ tên bọn vô lương đang đội lớp người quốc gia thờ ma già Hồ này.
Trong hiện tại và tương lai số người Việt nơi hải ngoại cũng cần nên hạn chế việc đi du lịch về VN, về VN thăm gia đình để tỏ lòng kính quý, nhớ thương nhưng đây là việc làm gián tiếp cho sự an nhàn thụ hưởng trên nổi khổ đau của dân tộc, của những người kém may và tiếp hơi, thêm sức cho tập đoàn lảnh đạo CSVN ngày thêm vững mạnh do những đồng dollar đem về chi dùng và tài trợ cho gia đình đôi khi qúa đáng, việc giúp đở gia đình là chuyện cần làm nhưng làm thế nào cho họp tình hữu lý, chớ nên tạo điều kiện để người thân ỷ lại để rồi từ đó làm giảm đi phần nào nhiệt tâm phấn đấu hay trở thành người lười trong việc tìm kế sinh nhai và cũng từ đó họ không cần nghĩ đến đất nước và sự sống còn của dân tộc kể cả chính bản thân họ, tương lai con cháu của họ.
Không có một binh pháp nào vừa đánh địch vừa yểm trợ cho địch. Nên đừng bao giờ đặt câu hỏi là tại sao 34 năm rồi mà CS vẩn còn tồn tại và trở thành những nhà tư bản đỏ, con cháu của chúng tiêu xài cả vài ngàn dollar trong một đêm, cả trăm ngàn dollar qua một canh bạc, xây cất những ngôi biệt thự tráng lệ nguy nga, xe thì 5, 6 chiếc với các hiệu như Lamborghini, Rolls-Royce, Mercedes, BMW kiểu mới nhất v…v… Trong khi đó trung bình người dân bình thường chỉ kiếm được có 1 dollar hơn trong một ngày để sống, còn riêng những vùng thôn quê hẻo lánh thì người dân bụng đói, tay cày mà còn chưa kiếm ra được nửa dollar để có được bửa ăn với cá đồng rau dại. Cái sự thật phủ phàng, cay đắng này không ai có thể phủ nhận được, bọn CSVN chúng sống trên nhung lụa không phải tự nhiên chúng có, mà đây là những số tiền do kiều bào nơi hải ngoại trực tiếp hay gián tiếp cung phụng hàng năm qua nhiều hình thức khác nhau. Cái lổi này do chính bản tính nhẹ dạ và sự thiếu quan tâm đầy thiển cận của người VN nơi hải ngoại.
Nói để nói, nói để cảnh giác, nói để mọi người ý thức được việc làm đúng sai chứ không phải để quy dồn trách nhiệm. Tinh thần dân tộc không cho phép một ai làm ngơ trước cảnh nước mất, nhà tan. Ai ai cũng mường tượng được cái diển ảnh là Trung cộng có thể đánh VN bất cứ lúc nào chúng muốn, trường hợp này đã sảy ra trận chiến biên giới Việt Trung vào năm 1979, mà tất cả ai cũng thấy và biết là đảng CSVN bất tài vô tướng, khiếp nhược bần hèn sẽ không đủ khả năng cũng như không có tinh thần yêu nước để đối đầu với bọn Tàu cộng ngoại xâm giống như QLVNCH nói chung và sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ Hải Quân VNCH nói riêng vào tháng giêng năm 1974 tại Hoàng Sa và Trường Sa của 35 năm về trước. Nhà cầm quyền CS hiện tại không hề có tinh thần và lý tưởng bảo quốc an dân, chúng sẽ dâng, sẽ bán hết những gì của Tổ tiên để lại, chúng sẽ chuyển hết những tài sản chúng cướp được sau 34 năm ra hải ngoại bằng hình thức cho con cháu của chúng ̣̣đi du học hay lập gia đình với Việt kiều ở nước ngoài. Vấn đề này không ai, không biết.
Bổn phận và trách nhiệm của cộng đồng người Việt tại hải ngoại là luôn nâng cao ý chí phấn đấu, viết hay phổ biến những kháng thư gởi đến các giới chức, cơ quan quốc tế nhân quyền để tố cáo hàng động sát nhân của nhà cầm quyền CS đã và đang đàn áp tôn giáo và các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, người Việt quốc gia tại hải ngoại phải thật sự đoàn kết, đoàn kết để hổ trợ tiếng nói và hành động xuống đường của đồng bào trong quốc nội, hãy vinh danh tiếng nói của dân oan trong nước, của các giáo dân, giáo phái, giáo xứ phát nguồn từ lòng yêu tổ quốc, yêu tự do. Đây là bổn phận của cộng đồng người Việt tại hải ngoại trong việc hiệp thông với hàng trăm ngàn giáo dân trong nước bước đi những bước kiêu hùng trong lịch sử hiện đại, những bật phụ huynh cần tuyền đạt kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình cho con em thấu rỏ hơn về những tội ác ngút ngàn của đảng CSVN.
Điểm thứ ba :
Vai trò của người quân nhân QLVNCH là phải giử một nguyên tắc bất di, bất dịch trong lằn ranh quốc cộng, là người quân nhân QLVNCH phải có lập trường tư tưởng dứt khoát, người quân nhân QLVNCH chỉ mang một tâm niệm duy nhất là trung với nước, hiếu với dân, tinh thần và ý chí quật cường tiêu diệt kẻ thù chung, người quân nhân QLVNCH không lệ thuộc vào bất cứ một đảng phái chính trị nào bất luận đảng phái đó từ đâu ra, ở đâu tới, Tổ quốc không tùy thuộc vào đảng phái mà tùy thuộc vào lòng dân và ý nguyện của dân
Điểm thứ tư cũng là điểm cuối cùng trong lời kêu gọi TÌM PHƯƠNG THỨC PHÙ HỢP TRONG VIỆC CỨU QUỐC, điểm cuối này tôi muốn nhắn nhủ với những cán binh, cán bộ CS các cấp, các người một đời bị ru ngủ, hụp lặn trong chủ thuyết đi làm cách mạng để giải phóng nhân dân, mong các anh hảy vì tiền đồ dân tộc, vì sự sống còn của các anh và vì tương lai của con cháu Lạc Hồng trước hiểm họa diệt vong, trước hố sâu của tội ác, trước hành động ngang ngược lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải của quân giặc Hán triều và hơn nửa các anh hảy tưởng nhớ đến sự hy sinh cao cả sáng giá của những bật tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ v…v… Đây là những vị anh hùng, là những người có công to lớn nhất trong suốt dòng lịch sử VN cho sự trường tồn của dân tộc, những kiệt xuất vĩ nhân này luôn được suy tôn và lịch sử ghi nhận.
Cuồng vọng bá quyền của Bắc kinh chắc các anh đã thấy, mưu đồ bán nước cầu vinh của những tên lãnh đạo trong đảng CSVN chắc các anh đã rõ, Hồ chí Minh và đảng CSVN huấn dụ tấm lòng yêu nước của các anh trong thời đánh Pháp, chống Mỹ để chúng đem cái chủ nghĩa ngoại lai vào đất nước VN gây ra cảnh nồi gia xáo thịt, cảnh huynh đệ tương tàn, đất nước băng hoại và sẽ đi đến tình trạng diệt vong trong những ngày tháng tới nếu như các
anh vẫn còn cúi đầu làm công cụ, làm tay sai đắc lực trong việc bán nước buôn dân, nếu các anh không nhận định và thức tỉnh kịp thời. Chủ thuyết CS vô nhân này đã được dẩn chứng cụ thể trên dưới 60 năm, các anh là những người biết Cộng sản hơn ai hết, qua cái phong trào cải cách ruộng đất tại miền Bắc vào thập niên năm 50, (năm 1956 chỉ là đoạn cuối của giai đoạn 5 của phong trào này) có trên 172 ngàn người bị truy tố và tử hình mà trong số đó có khoảng 123 ngàn người dân lành bị mang những bản án oan nghiệt. Sau phong trào cải cách ruộng đất này các đảng viên CSVN đều phải nhìn nhận là dã man chưa từng có trong lịch sử VN.
- Như nhà thơ Tố Hữu lúc đó là trưởng ban tuyên truyền trung ương đảng mà sau này còn phải nói là không thể tả hết được những cảnh tượng bi thảm, hải hùng mà người bị nghi oan không phải là địa chủ ác bá mà thực ra là trung nông, trong số đó có những đảng viên CS trung kiên.
- Như nhà văn Dương Thu Hương trong cuộc phỏng vấn mới đây cũng nói là lý tưởng CS là một cái gì đó khủng khiếp và xa lạ.
- Như nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng trong một cuộc phỏng vấn tại sao ông muốn từ bỏ chủ nghĩa CS.
ông trả lời rằng : Bởi vì ông đã chứng kiến cảnh tượng phong trào cải cách ruộng đất này ở miền Bắc mà trong đó có gia đình ông là nạn nhân, phong trào cải cách ruộng đất là một cuộc diệt chủng như Pon Pot và Yeng Sari mà thời đó ông đã phải chứng kiến.
Sau lần cải cách ruộng đất thì đến chiến dịch Đông Xuân 67, 68 Tết Mậu Thân, những nạn nhân của quân đội giải phóng Bắc Việt là ai ? là những lương dân vô tội: Già có, trẻ có, nam có, nữ có, học sinh, sinh viên, trí thức, viên chức, tu sĩ đã bị giết chết bằng nhiều cách hết sức tàn bạo dã man như: đánh vỡ sọ bằng cuốc, bằng báng súng, trói người lại thành chùm rồi đạp xuống hố sâu, chôn sống tập thể hàng ngàn, hàng chục ngàn người dân vô tội trên 44 tỉnh lỵ lớn nhỏ từ vĩ tuyến 17 xuống tận vùng đồng bằng sông Cữu Long trong cái Tết đau thương này. Kế đến cũng có những vụ thảm sát tương tự và cũng thật là khủng khiếp, nạn nhân cũng gồm đàn bà, trẻ con Việt lẫn Miên ( Cambot ) bị thảm sát tại các Chùa, trường học tại làng Ba Chúc cách biên giới Việt - Miên khoảng 7 cây số, chỉ trong vòng một đêm dân làng Ba Chúc thuộc tỉnh An Giang bị thảm sát hơn 3157 người vào tháng 4 năm 1978. (chớ không phải 11 ngày như bạo quyền CSVN nói). Vậy mà mãi tận đến hôm nay vẫn chưa ai nghe được một lời nói nào tạ lỗi và cũng chưa ai thấy được một cử chỉ sám hối nào từ phía các tay đồ tể của đảng CSVN.
Tập đoàn lãnh đạo CSVN các anh đã cố tình hay làm ngơ trước những phần đất của Tổ tiên VN bị xâm phạm và mất dần vào tay loài giặc đỏ Bắc kinh, cụ thể là Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh hải Vịnh Bắc bộ, Ải Nam Quan, Bản Giốc nơi biên giới Việt Trung, khai
thác bauxite ở Cao nguyên Trung phần. Vậy tôi thử hỏi các anh có phải đây là da thịt, đất đai của Mẹ Việt Nam đang bị bọn giặc ngoại bang Tàu cộng cướp mất không ? Dân tộc VN đã và đang bị một cố hai tròng: giặc ngoài thì chiếm biển, cướp đất giết dân ngư phủ còn bên trong thì bị tập đoàn lãnh đạo các anh cưỡng chiếm ruộng vườn, giam cầm đánh đập, dẹp phá Thánh đường, đốt Chùa chiếm đất, tất cả những hành động dã man đầy thú tính này các anh nghĩ sao ??? Khi các anh luôn tự mãn các anh là QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN. Các anh quên rằng các anh đang thừa hành cái ác lệnh diệt chủng mà trong số những người lương dân, giáo xứ bị nạn đó có Anh, Chị, Em, Họ hàng, Cô, Chú, Bác của các anh, những người chỉ có hai bàn tay trắng với niềm tin, chỉ biết cúi đầu chấp tay khấn lạy trước Đấng thiêng liêng nơi giáo đường thánh thất. Đến giai đoạn này mà các anh vẫn chưa thức tỉnh hay sao ? Chưa nhận ra được bộ mặt thật của loài qủy đỏ hay sao ? Chưa thấy được máu và nước mắt của những người cùng chủng tộc với các anh hay sao ?. Các anh còn chờ đợi gì nửa mà không dùng đến những viên đạn AK sẳn có của những người được mệnh danh là QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ gióng nòi.
Trong hàng ngũ tướng lảnh, đảng viên cao cấp nhất trong đó có cả Đại tướng Võ nguyên Giáp của các anh, đa số họ đã thấy được những việc làm sai trái tán tận lương tâm của đảng CSVN, họ đã nhận diện được sự yếu hèn của cấp lảnh đạo và họ đã không tiếc lời phản đối, lên án chuyện bán nước giết dân này của tập đoàn lãnh đạo CSVN. Thời cơ, vận nước đã đến, các anh có dịp thi thố tài năng của đoàn quân được mệnh danh là quân đội nhân dân để chuộc lại những lầm lỡ trực tiếp hay giám tiếp của các anh trong thời gian qua, những viên đạn đồng AK đó các anh nên bắn thẳng vào đầu bọn vô lương phản quốc chứ đừng nên dùng để giết hại dân lành, đồng bào ruột thịt của các anh, dân tộc VN đã gánh chiụ biết bao muôn vạn trầm luân, đất nước VN đã trải qua gần 1000 năm đô hộ dưới ách cai trị của bọn giặc phong kiến Hán triều phương Bắc, bài học « Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu » vẫn còn nghe văng vẳng bên tai, không lẽ hơn 83 triệu dân Việt hôm nay nói chung và 3 triệu đảng viên CS nói riêng không có được một Ngô Quyền của năm 938.
Trên tư tưởng, trong chiến trận tôi với các anh là 2 phe đối địch nhưng trên tinh thần và trách nhiện của người cầm súng để bảo vệ quê hương thì quan điểm bảo quốc an dân tôi nghĩ là các anh cũng còn ít nhiều nhân phẩm đối với lương dân và những đấng tu hành. tôi ước mong và hy vọng các anh thức tỉnh kịp thời để nhìn thấy nổi khổ đau của dân tộc, để nhìn thấy đất nước VN hiện nay không vẹn toàn hình chử S và cũng để các anh ý thức được bổn phận và trách nhiệm của người con dân nước Việt trước hiểm họa mất đất của Tổ tiên đã có trên 4 ngàn năm từ thời Vua Hùng Vương dựng nước, có được như vậy các anh mới không hổ thẹn với lương tâm trước ngày giã từ đời.
Các anh cán bộ, các anh công an nhân dân, các anh quân đội nhân dân kia ơi, ngày trước đảng kêu gọi các anh ôm mìn, vác đạn, cầm súng đánh Pháp, chống Mỹ để giải phóng
nhân dân thế rồi ngày hôm nay một lần nửa đảng bảo các anh CỔNG RẮN CẮN GÀ NHÀ , GIẾT DÂN, GIAO NƯỚC cho bọn giặc ngoại xâm Tàu cộng có phải vậy không ? Trong suốt 34 năm nay chắc các anh luôn vui say trong chiến thắng nên các anh không cần tự vấn những tội ác của đảng CSVN, các anh quên nghĩ đến cuộc đời của các anh ngày mai sẽ ra sao khi chế độ thối nát, ươn hèn CS này bị giải thể. Các lãnh tụ tư bản đỏ chót bu của các anh có điều kiện cao bay xa chạy với bạc tỷ dollar sẳn có, ngược lại thân phận của các anh sẽ ra sao khó ai mà đoán lường được.
Trong chiến tranh kẻ bại trận được hưởng quy chế tù binh hay hàng binh theo những điều luật nhân đạo của các nước có dân chủ, nhưng một khi toàn dân khởi nghĩa đứng dậy lật đổ một bạo quyền thì các anh là tội phạm, tội đồ. Mà khi đã là tội đồ thì làm gì hưởng được quy chế hay lòng nhân đạo của toàn dân, đây là vấn đề cho những ai không phải là lãnh tụ, đảng trưởng cần nên suy gẩm. Các anh là những đảng viên, những tôi tớ trung thành của đảng Cộng sản VN, vậy tôi xin được hỏi trong cuộc đời đi làm cách mạng của các anh, các anh có bao giờ nghe qua những lời của những lãnh tụ đảng CS đàn anh nói về đảng CS của họ không ? mà chính họ, đảng CS của họ là tiền thân của đảng CSVN.
- Chủ tịch đảng CS Liên Xô Gorbachev, sau khi chính ông giải tán đảng CS Liên Xô ông tuyên bố : ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ MỘT NƠI TẬP TRUNG NHỮNG BÈ LŨ GIAN MANH LÁO KHOÉT, TÔI ĐÃ BỎ HƠN NỬA CUỘC ĐỜI ĐẤU TRANH CHO LÝ TƯỞNG CỘNG SẢN, NHƯNG NGÀY HÔM NAY TÔI PHẢI ĐAU BUỒN MÀ NÓI RẰNG : CỘNG SẢN CHỈ BIẾT TUYÊN TRUYỀN VÀ NÓI LÁO.
- Tổng Thống Nga Boris-Yeltsin cũng từng nói : CỘNG SẢN KHÔNG THỂ NÀO THAY ĐỔI, NGƯỢC LẠI CẦN PHẢI ĐƯỢC DẸP BỎ.
- Tổng Thống Nga Putin cũng là người đã từng là đảng viên CS thẳng thắn tuyên bố với những thành phần thân cộng ở Nga rằng : ĐỪNG MONG CÁI TRIỀU ĐẠI GIAN TÀ CỘNG SẢN CÓ CƠ HỘI SỐNG LẠI TRÊN ĐẤT NƯỚC NGA NỮA KHI DÂN TỘC NGA CÒN và ông còn phát biểu trong một buổi lễ tưởng niệm 70 năm tại thành phố Butovo nước Nga Năm 2007 vừa qua cho các nạn nhân Nga bị Staline sát hại trong cuộc thanh trừng giống như phong trào cải cách ruộng đất ở VN, ông Putin nói : Những người bị đảng CS, bị Staline thảm sát là những người ưu tú nhất, trí tuệ cao nhất và cũng là những người can đảm nhất, mạnh mẽ nhất, tài giỏi và yêu nước nhất.
Các anh thấy không, Liên Xô là thành trì của chủ nghĩa cộng sản, Stalin luôn được đảng CSVN tôn thờ là ngọn đuốc soi đường . Nhưng thành trì hay ngọn đuốc đó chỉ tồn tại vỏn vẹn 70 năm và chính nó bị hủy diệt ngay tại nơi nó được phát sinh ra. Các anh có nghe, có thấy, có biết được những chuyện này chăng ? chắc chắn là các anh chưa bao giờ được NGHE, THẤY và BIẾT, vì các anh làm sao NGHE, THẤY và BIẾT được khi hai chử
TỰ DO không có trong tự điển Việt ngữ dưới chế độ CS gian manh đó, các anh chỉ là những con ngựa bị che mắt để ra thân kéo chiếc xe thồ cũ kỷ cọc cạch chạy quanh co trên con đường hố cạn, hố sâu, loang lổ sình lầy không hơn, không kém mà thôi.
Những lời này không phải để khinh miệt hay hù dọa các anh, mà đây là những lời nhắn nhủ chân tình của người cũng một thời cầm súng như các anh nhưng không cùng chủ thuyết bán nước giết dân. Trong suốt 34 năm qua từ ngày các anh cho là đại thắng trong cuồng vọng cưỡng chiếm miền Nam có bao giờ các anh tự hỏi là các anh giải phóng chúng tôi hay chúng tôi giải phóng các anh ? Mặc dù tôi với các anh là người đối nghịch nhưng sự u mê dại dột của các anh làm cho tôi thương hại các anh hơn là oán hận các anh. Qua những lời chia xẻ trên tôi hy vọng các anh sáng suốt hơn, khôn khéo hơn và tỉnh ngộ nhanh chóng hơn để ngày mai đây các anh được sự khoang dung độ lượng của toàn dân khi họ thấy được các anh không phải là những tay đao phủ thủ đắc lực của tập đoàn lãnh đạo CSVN mà ngược lại các anh là những người thương dân, yêu nước.
Tôi luôn nguyện cầu Thượng Đế linh hiển dẩn lối đưa đường cho các anh thấy được đâu là cội phúc, đâu là chân lý, đâu là tinh thần và trách nhiệm của người cầm súng để bảo vệ quê hương để đưa dân tộc ra khỏi ách thống trị của tập đoàn lảnh đạo CSVN.

Việt Nam chữ S hình cong
Dựng lên từ thuở Vua Hùng tước Vương
Bao đời kiến quốc đau thương
Mê Linh Trắc tướng Nhị nương, hai Bà
Việt Nam Tổ Quốc, dân ta
Chưa lần quy phục quân tà Hán vương

Pháp Quốc 2009


Những gì đang xảy ra ở Việt Nam nói chung không có gì mới

Tôi cũng từng bị khủng bố như vậy khi ngồi tù hồi năm 1982, rằng nếu tôi chịu lên truyền hình thì tôi và gia đình sẽ được nhà nước cho xuất ngoại, sẽ được rút thời gian hưởng án… Công an còn nói dối tôi, rằng học trò của tôi đã bị bắt và họ sẽ xử lý học trò tôi nếu tôi không làm theo ý họ… Tôi không lung lay và không làm theo ý của công an, nhưng tôi không lên án những người đã không chịu nổi khủng bố bởi tôi biết họ phải chịu áp lực kinh khủng như thế n

Krzysztof Łoziński – Những gì đang xảy ra ở Việt Nam nói chung không có gì mới

Tôn Vân Anh

Về kinh nghiệm trong các „vụ đầu hàng”, Tôn Vân Anh trao đổi với ông Krzysztof Łoziński, ky giả, nhà giáo, hoạt động đối lập tại Ba Lan liên tục từ năm 1968 tới khi Ba Lan kết thúc thể chế cộng sản vào năm 1989. Nhiều lần bị bắt, bị trù dập, từng bị nhà cầm quyền cộng sản Ba Lanbỏ tù. Ông là tác giả cuốn sách mang tên Państwo Środka (Quốc gia của Trung điểm) nghiên cứu về Trung Quốc, ông cũng là nhân chứng của vụ thảm sát Thiên An Môn. Hiện ông là nhà báo tự do, sáng lập viên Hội Nhà báo Internet của Ba Lan. Ông liên tục tham gia các hoạt động ủng hộ cho cộng đồng Việt Nam tại Ba Lan, đặc biệt ưu ái với các nhà hoạt động dân chủ Việt Nam tại nước này.



Ông Krzysztof Łoziński, nhà hoạt động đối lập thời Ba Lan cộng sản

Tôn Vân Anh: Chỉ trong vòng 2 tháng, chúng tôi được chứng kiến trên đài truyền hình Việt Nam nhiều màn diễn với các nhân vật tích cực hoạt động dân chủ được nhiều người biết tới (Võ Tấn Huân, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim). Họ ở những độ tuổi khác nhau, người thì đọc lời viết sẵn trên giấy, người thì nói như thuộc lòng. Những đoạn video cho thấy cảnh họ thừa nhận „hành vi phạm tội” và xin khoan hồng. Các diễn đàn trên mạng nổ tung bởi các bình luận, người thì thất vọng, người thì nghi ngờ. Xin ông cho biết ở thời Ba Lan cộng sản có xảy ra những vụ việc tương tự không, thưa ông?

Krzysztof Łoziński: Có.Thời thiết quân luật mới thành hình (1981) và trước đó cũng có. Một số nhân vật từng đấu tranh dân chủ xuất hiện trên truyền hình, phát biểu ủng hộ thiết quân luật và dè bỉu những ai đòi đối lập. Nhân vật điển hình là ông Brunee, phát ngôn viên của Công đoàn Đoàn kết. Trở về Ba Lan sau chuyến công tác nước ngoài, ông lập tức bị bắt tại sân bay. Trong trại giam, ông bị đánh tới nỗi khi lên truyền hình nói „yêu Đảng Cộng sản”, người ta thấy mặt ông bầm tím. Những trường hợp bị thuyết phục đầu hàng thời Ba Lan cộng sản rất nhiều, người ta bị khủng bố về tính mạng, đe dọa gia đình. Tôi cũng từng bị khủng bố như vậy khi ngồi tù hồi năm 1982, rằng nếu tôi chịu lên truyền hình thì tôi và gia đình sẽ được nhà nước cho xuất ngoại, sẽ được rút thời gian hưởng án… Công an còn nói dối tôi, rằng học trò của tôi đã bị bắt và họ sẽ xử lý học trò tôi nếu tôi không làm theo ý họ… Tôi không lung lay và không làm theo ý của công an, nhưng tôi không lên án những người đã không chịu nổi khủng bố bởi tôi biết họ phải chịu áp lực kinh khủng như thế nào. Rất kinh khủng khi công an nói với bạn rằng chúng sẽ làm hại vợ, hại con bạn.

Tôn Vân Anh: Nhưng không vì sự thông cảm của ông với nạn nhân mà mấy màn diễn trên truyền hình trở nên vô nghĩa…

Krzysztof Łoziński: Cô muốn hỏi về giá trị của những cuốn video? Những màn diễn trên ti-vi hoàn toàn không thuyết phục bởi chúng chứng tỏ những người trong phim đã bị khủng bố. Ví dụ điển hình là ở Trung Quốc, đã có thời người ta sợ tới nỗi tự động viết bản tự kiểm điểm, tự viết ra những lỗi lầm người ta không phạm phải, tố giác láng giềng của mình rồi đem nộp cho nhà cầm quyền. Tất nhiên nhà cầm quyền lợi dụng những gì họ có để có thể đàn áp bất kì ai, bất cứ lúc nào. Nếu nạn nhân không bị khủng bố thì phải đặt câu hỏi bộ phim có bị ghép giả hay không. Nhất là trong điều kiện kĩ thuật thời nay, người ta có thể ghép vào phim cả những câu chữ mà người trong phim chưa bao giờ nói ra. Bản chất của cộng sản là dối trá, không nói dối thì không phải cộng sản. Cộng sản muốn dối trá trở thành thói quen. Những gì đang xảy ra ở Việt Nam nói chung không có gì mới mẻ.

Tôn Vân Anh: Thế dư luận Ba Lan trước kia phản ứng thế nào với những màn diễn đó? Có mẫu phản ứng chuẩn mực nào cho những tình huống như thế này không?

Krzysztof Łoziński: Tại Ba Lan thì đội ngũ dân chủ đã đạt mức mạnh mẽ và bao phủ. Ở Ba Lan xã hội đã hoàn toàn ngờ vực vào thể chế cộng sản. Cộng sản Ba Lan từng cho lên truyền hình cuốn video ghép hình Lech Wałęsa nói chuyện với em trai mình, trong đó người anh nói với người em là anh ta kiếm được không biết bao nhiêu tiền nhờ phong trào Đoàn kết, rồi nói chuyện bổng lợi thu được từ Nobel Hòa bình. Nhưng chẳng ai tin cuốn băng đó cả. Vì sao như vậy ư? Vì cộng sản đã phá sản niềm tin, dù có ghép hình khéo tới đâu. Có thể là ở Việt Nam người ta vẫn còn bán tín bán nghi, nhưng tình trạng này sẽ không kéo dài. Sẽ tới lúc người dân biết họ bị dối lừa và rồi người dân sẽ quay lại trừng trị chế độ. vì bị lừa dối. Tất nhiên, không chỉ có chế độ độc tài gánh chịu hậu quả, xã hội cũng sẽ phải chịu những hậu quả lâu dài mà dối trá đem lại. Tại Ba Lan, đã 20 năm từ khi nước này giành được dân chủ, nhưng thi thoảng các vết thương cũ vẫn bị nhói đau.

Tôn Vân Anh: Đó là dư luận. Thế còn đội ngũ đối lập đã làm những gì khi đồng đội lên ti-vi đầu hàng, một tình huống rất không có lợi cho đối lập?

Krzysztof Łoziński: Chúng tôi đính chính các thông tin, nói quan điểm chính thống của chúng tôi như thế nào. Công cụ truyền thông xưa kia của chúng tôi rất thô sơ, khiêm tốn, chúng tôi chỉ có báo chí in chui và mấy đài radio tự chế, so với hệ thống truyền thông khổng lồ của Đảng Cộng sản. Thế nhưng chúng tôi có niềm tin của xã hội. Một tờ báo hai trang của chúng tôi, có khi in bị nhòe rất khó xem mà cũng được nhiều người truyền tay nhau đọc. Chúng tôi có được niềm tin, nhưng với điều kiện là chúng tôi phải trưởng thành tới mức biết từ bỏ dối trá và không tin cộng sản.

Cuộc nói chuyện với ông Krzysztof Łoziński thực hiện tại Ba Lan ngày 21 tháng 8 năm 2009.

© 2009 Tôn Vân Anh

Bài Xem Nhiều