We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 2 September 2009

Phản kháng các cơ quan truyền thông nhà nước tuyên truyền sai sự thật về tình hình Giáo Hội tại Việt Nam

Ngày 27/8 và những ngày sau đó các cơ quan truyền thông do nhà nước kiểm soát tại Việt Nam đã trích đăng/dịch bài “Ambassador meets with Vatican representative” của VOVNews - một bản tin với nhiều chi tiết sai lạc về tình hình Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam.

Trong bản tin, VOVNews cho biết Đại Sứ Việt Nam tại Ý là ông Đặng Khánh Thoại hôm 22/8 đã có cuộc tiếp xúc với Đức Ông Ettore Balestero, bí thư Bộ Quan Hệ Với Các Dân Tộc của Tòa Thánh. Trong buổi làm việc với Đức Ông Balestero, ông Thoại “tái khẳng định chính sách kiên định của Việt Nam là tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo của dân chúng.”

Bản tin cho biết thêm: “Ông Thoại cũng thông báo với vị đại diện Tòa Thánh Vatican về những cải thiện và sự phong phú trong đời sống tôn giáo của các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam nhờ những nỗ lực của các cấp chính quyền.”

Điều này không đúng sự thật. Những gì diễn ra tại Việt Nam trong thời gian gần đây thôi chứng minh điều ngược lại. Cho tới nay, quyền tự do tôn giáo của người dân tại Sơn La thuộc giáo phận Hưng Hóa, Đồng Hới thuộc giáo phận Vinh và nhiều thôn bản vùng Cao Nguyên Trung Phần thuộc giáo phận Đà Lạt, Kon Tum, và Ban Mê Thuột vẫn không được tôn trọng. Đáng buồn hơn người Công Giáo tại Việt Nam bị tấn công cả về tinh thần lẫn thể lý.

Việc hàng trăm người Công Giáo bị đánh đập tại Tam Tòa, Đồng Hới; việc các linh mục Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Đình Phú bị đánh đập trọng thương; việc các linh mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Phượng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Ngọc Nam Phong bị bôi nhọ và gán ghép những tội danh nguy hiểm trên tờ Hà Nội mới số ra ngày 24 tháng 8 (và trên một số cơ quan truyền thông khác những ngày sau đó); việc tiếp tục giam cầm linh mục Nguyễn Văn Lý là không thể chấp nhận được và đe dọa nghiêm trọng những tương quan giữa Giáo Hội và nhà nước vốn đã rất căng thẳng.

Nhân đây, chúng tôi yêu cầu các cơ quan thông tin của nhà nước phải biết tự chế trong lãnh vực chuyên môn của mình, nhất là không làm thay chức năng tòa án.

Bài báo trên tờ VOVNews nói rằng “The Catholic Church in Vietnam has also been given permission to organise the Year of Saint 2010.” Chúng tôi không hiểu bài báo muốn nói gì trong cụm từ “the Year of Saint 2010” vì cụm từ ấy vô nghĩa. Trong Giáo Hội Công Giáo vị thánh nào cũng có tên đàng hoàng - không có vị thánh nào mang "bí số" 2010. Giáo Hội có thể cử mừng "the Year of Saint Paul" (Năm Thánh Phaolô), "the Year of Saint Peter" (Năm Thánh Phêrô), chứ không mừng "Năm Của Thánh Bí Số 2010". Cơ quan truyền thông nhà nước thể hiện gương mặt quốc gia không nên viết cẩu thả như vậy. Còn nếu hiểu là “Năm Thánh 2010” (Jubileum - Holy Year) thì tự bản tin của VOVNews cũng đủ nói lên thực chất việc “tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo của dân chúng”. Giáo Hội ở các nước khác trên thế giới, ngay cả tại Trung Quốc và Cuba, không cần ai “cho phép” để tổ chức Năm Thánh.

Những thông tin như thế thiết nghĩ chỉ làm trò cười cho thế giới và làm ô nhục quốc thể đất nước chúng ta.

Bản tin VOVNews cũng nói rằng “Đại Sứ Đặng Khánh Thoại nói rằng ông đồng ý với tuyên bố của Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong buổi gặp gỡ với các Giám Mục Việt Nam tại Rôma. Trong bài diễn văn ngài đã kêu gọi người Công Giáo Việt Nam đóng góp vào sự phát triển của đất nước coi đó như một nghĩa vụ và là cống hiến quan trọng trong thời điểm khi Việt Nam phát triển quan hệ với cộng đồng thế giới.”

Thủ đoạn cắt cúp những câu nói để phỉ báng Giáo Hội Việt Nam là điều không thể chấp nhận và không đóng góp vào cuộc đối thoại giữa Giáo Hội và nhà nước Việt Nam.

Thực tế là ở miền Bắc sau năm 1954, và ở miền Nam sau năm 1975, hơn 2250 trường đại học, trung học, tiểu học, bệnh viện, viện mồ côi, nhà dưỡng lão và các cơ sở hoạt động bác ái xã hội khác đã bị nhà nước tịch thu và dung vào những mục đích khác, kể cả để kinh doanh và ban phát cho cán bộ.

Giáo Hội bị cấm không được hoạt động trong các lãnh vực giáo dục, y tế trừ một số cơ sở chăm sóc cho người cùi và những bệnh nhân nhiễm HIV mà nhà nước không muốn dính líu tới.

Các Giám Mục Việt Nam đã liên tục yêu cầu được dự phần tích cực trong các hoạt động vốn là sở trường của mình như giáo dục và y tế. Giáo Hội tại Việt Nam dù trong hoàn cảnh bị cấm đoán vẫn luôn luôn tìm cách này cách khác đóng góp cho sự vươn lên của đất nước.

Việc cắp cúp diễn văn của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo tinh thần của thế giới Công Giáo là một điều bất kính và chắc chắn sẽ bị vạch trần trước công luận thế giới.

Nhân đây chúng tôi xin nhắc lại một vài điểm đã nêu trong tài liệu “Quan điểm của Hội đồng Giám mục Việt Nam về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay” được đưa ra tháng Chín năm 2008.

“…đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi những người làm công tác truyền thông phải tôn trọng sự thật. Trong thực tế, đã có những thông tin bị bóp méo hoặc cắt xén, như trong trường hợp tranh chấp đất đai tại Tòa Khâm sứ cũ. Vì thế, chúng tôi đề nghị những người làm công tác truyền thông đại chúng phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể. Nếu đã phổ biến những thông tin sai lạc thì cần phải cải chính. Chỉ khi tôn trọng sự thật, truyền thông mới thực sự hoàn thành chức năng của mình là thông tin và giáo dục nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Mong rằng những xuyên tạc sai sự thật về tình hình Giáo Hội tại Việt Nam phải được nhanh chóng chấm dứt, những bài báo, bản tin phỉ báng Giáo Hội Việt Nam, các linh mục và giáo dân phải được cấm đoán để tạo cơ sở cho một cuộc đối thoại tích cực và có hiệu quả giữa Giáo Hội và nhà nước Việt Nam.

Nguyễn Xuân Hương
Nguồn: DCCT


Hồn nước còn mãi




Lần đầu tiên khi về xã Long Kiến ở miền Cù Lao Ông Chưởng, theo dòng Cửu Long đi cho tới xã Hòa Hảo, tôi bỗng cảm thấy con người ta cũng đang sống giữa cõi linh thiêng. Ðời sống hàng ngày hòa vào thế giới thiêng liêng. Nói thiêng liêng, không phải là thiên đường hay tiên cảnh, mà chính là cái tâm cung kính hiện ra trong cõi hạ giới này. Mỗi buổi chiều nghe tiếng Sấm Giảng ngâm nga vang đi khắp thôn xóm. Trong đó là những lời dậy của tiên tổ bao đời của giòng giống Việt đang cất lên như những lời ru của mẹ. Chúng ta cảm thấy như phước đức ông bà làm lành lánh dữ từ bao đời phảng phất trong không gian. Gặp những cô bác nông dân mặc áo nâu bước theo nhau đi về phía nhà nhà giảng, nghĩ tới những ông Bụt trong chuyện cổ tích đến từng nhà khuyến thiện.

Ở một làng quê Bắc Ninh nơi tôi sống những năm dưới mười tuổi, tôn giáo không chiếm một không gian tinh thần sâu và rộng như vậy. Nhưng đời sống cũng nhuốm vẻ thiêng liêng vì thái độ cung kính của mọi người khi đối xử với nhau. Ra ngoài đường gặp những cụ già tóc bạc chống gậy bước đi là tất cả mọi người cúi đầu, chào lớn tiếng và dừng chân nhường bước. Từ bao nhiêu thế hệ, tiếng trẻ ê a đọc sách trong nhà cụ đồ, hay trong những ngôi trường chỉ có một lớp học, đã là dấu hiệu của một xã hội có lễ nghĩa. Nền trật tự trong làng xóm đặt trên căn bản đạo nghĩa truyền lại tự nhiều đời. Mọi người đều đồng ý tuân theo các quy tắc sống, chỉ vì tổ tiên đã sống với nền nếp thuần mỹ như vậy. Ai làm sai đạo nghĩa thì làng xóm chê cười và tự biết xấu hổ. Trong làng có nhà thờ hay chùa chiền, nhưng cha mẹ dậy con cái về luân lý có thể không viện dẫn lý do tín ngưỡng. Người ta phải ăn ở với nhau như thế, như thế, vì làm người thì phải sống vậy. Một nền luân lý chỉ dựa trên con người, trên bổn phận giữa con người với nhau, không thần thánh nào can thiệp. Niềm tin chung chia sẻ với nhau về đạo làm người đã khiến cuộc sống của mỗi người trở thành có phẩm giá, đáng được tôn kính, giống như trong tôn giáo nói cuộc sống đã được thánh hóa, trở thành thiêng liêng. Ði tới đâu gặp người Việt Nam ai cũng sống trong nền nếp như vậy, chúng ta thấy hồn dân tộc.

Trong vùng đồng bào Hòa Hảo sống, cõi thiêng liêng cũng không phải hoàn toàn do tôn giáo ngự trị. Ði tới nơi nào chúng ta cũng thấy những miếu nhỏ dựng bên đường. Mà bên trong tấm màn đỏ che cửa miếu, không thấy hình tượng tôn giáo mà chỉ có một tấm bản đồ Việt Nam. Không ai thờ tấm bản đồ như một vị thần. Ðó là hình ảnh nhắc nhở sợi dây liên kết mỗi người với tất cả mọi người cùng chung giòng giống Việt Nam. Trong cảnh sống đó, nói đến “hồn thiêng dân tộc,” người ta biết hồn thiêng đó có thật, đang sống trong chính mình.

Không biết bây giờ ở nơi nào trong nước Việt Nam người ta có thể cảm thấy một tình tự sâu xa như vậy? Hơn ba chục năm sống xa quê nhà có lúc tôi chớt sống trở lại kinh nghiệm cũ, khi thấy người dân một nước chia sẻ với nhau một tâm hồn. Thái Lan là một xứ nhiều thần thánh. Ði quẹo một góc đường lại thấy một cái tháp, với hình một ngôi đền thu nhỏ, trông như các bàn thờ “Ông Thiên” trong sân nhà ở miền Nam Việt Nam. Trong những “chùa một cột tí hon” đó thường bầy tượng Phật, cũng có khi là hình những vị thần linh Ấn Ðộ Giáo. Trong khu campus của Ðại Học Mahidol cũng có những ban thờ như vậy ở đầu cầu hay góc sân. Mấy sinh viên đi qua cũng nhiều người dừng chân lễ chiêm bái. Không biết họ có cầu khấn chuyện nhân duyên hay thi cử hay không. Nhưng nhìn hai cô cậu mặc đồng phục xanh trắng nắm tay nhau vừa bước từ trên cầu xuống bỗng buông ra, chắp tay, cúi đầu cung kính, rồi quay đi tay lại nắm tay, nói cười ríu rít tự nhiên như trước, người ngoại quốc có cảm tưởng dân tộc này vẫn giữ được một nền văn hóa riêng đáng kính trọng.

Văn hóa một dân tộc gồm cả con người và các thần linh. Tạ Trí Ðại Trường đã viết một cuốn sách nghiên cứu với tựa đề “Thần, Người, và Ðất Việt.” Niềm tin ở các giá trị thiêng liêng không nhất thiết thuộc về một tôn giáo nào. Tôn thờ các thần thánh vì đó là những giá trị đáng gìn giữ cho mọi người sống thuận thảo, chứ không phải do lòng sợ hãi gây ra. Người ta có thể sợ các ông công an khu vực, nhưng không ai đem hình họ ra thờ cả; đem tiền hối lộ chắc ăn hơn. Người nông dân miền Bắc lễ những pho tượng ở gốc cây đa, gốc đề cũng không phải muốn hối lộ thần linh để xin xỏ ân huệ. Lòng sùng kính các vị thần, dù là Trời, Ðất hay là Tiên, Phật, thành hoàng, Thánh Mẫu, có thể phát xuất từ một ước vọng trong lòng: Muốn hòa cá nhân mình vào trời đất, vũ trụ. Muốn nối kết cá nhân nhỏ bé của mình với bầu trời, mặt đất, núi sông, với gia đình, tổ tiên, làng xã, dân tộc. Một khát vọng vươn lên cao, vượt trên cái thân phận hèn mọn, hữu hạn và vô thường của mình, bằng cách hòa mình vào một cộng đồng lớn gồm cả con người lẫn thiên nhiên, giữa hiện tại với quá khứ và tương lai. Ðó là một tình cảm rất cao quý, khi mọi người cùng chia sẻ chúng ta có một hồn thiên dân tộc.

Người Thái không chỉ dâng hoa, dâng trái cây trước các ban thờ Phật ngoài đường như vậy, mà còn đặt hoa trước những bức hình quốc vương nữa. Ở làng Hòa Hảo người Việt thờ bản đồ Việt Nam, ở Thái Lan họ thờ hình ông vua, cũng là tượng trưng cho dân tộc họ. Hình quốc vương trưng bầy khắp nơi, dọc các đại lộ, các góc đường, trước cửa vào đại học, có khi cả quốc vương và hoàng hậu. Trong những quán ăn bên đường cũng treo hình các hoàng đế Ramaa IV hay Rama V. Dân vẫn tôn kính các ông vua anh minh từ thế kỷ 19, cùng thời với vua Thiệu Trị, Tự Ðức ở nước ta, nhưng họ đã gửi con qua Âu Châu du học hoặc quan sát lâu ngày. Họ có cách nhìn thế giới khác hẳn các ông vua nhà Nguyễn chỉ biết tôn thờ văn hóa và pháp độ độc tài của nhà Thanh bên Trung Quốc. Dân tộc Thái được hưởng phúc hàng thế kỷ nhờ hòa bình liên tục, hồn thiêng dân tộc của họ có thật.

Có lẽ mỗi quốc gia đều phải tạo ra và chia sẻ với nhau một tấm lòng tôn kính trang nghiêm như vậy, đối với các định chế, biểu tượng hay niềm tin tưởng chung. Ít có quốc gia nào phức tạp như hai nước Mỹ và Canada. Người Mỹ theo đủ các tôn giáo, gay go tranh cãi về chính trị, nhưng hầu hết ai cũng hãnh diện khi nói tới Washington, Lincoln; ai cũng kính trọng bản hiến pháp giống như các tín đồ tôn kính thánh thư. Người Canada không đồng ý với nhau về địa vị nữ hoàng, vị quốc trưởng chính thức, người nói tiếng Pháp và nói tiếng Anh không ngừng tranh đấu đòi tiếng nói và văn hóa của mình phải được tôn trọng. Nhưng tất cả mọi người Canada đều muốn quốc gia phải thể hiện tinh thần công bình; người công chức phải chính trực; người dân phải tôn trọng luật pháp; và ai không thể hiện lối sống lễ độ, đức hiếu khách thì chưa phải là “người mình.” Khi có người ngoại quốc chê bai hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân của Canada thì từ chính trị gia bảo thủ đến cấp tiến đều lên tiếng phản bác. Vì cả nước họ hãnh diện về định chế công cộng này.

Trong một quốc gia mà mọi người cùng kính trọng một số định chế và giá trị chung, thì mỗi người cũng cảm thấy mình được chia sẻ giá trị đó, chính mình trở thành có giá trị. Mọi người cùng tôn trọng thể thống quốc gia, phát triển tinh thần công dân đặt công ích lên trên tư lợi, nhờ thế cũng tôn trọng luật pháp.

Một dân tộc cần những giá trị thiêng liêng giúp giảm bớt tinh thần cá nhân, óc vị kỷ, một cách tự nhiên. Từ người trí thức đến người dân quê đều tôn trọng những quy tắc đạo lý chung, dù bắt nguồn từ những nguyên do khác nhau, thần linh hay thế tục. Nhờ thế người ta mới tạo nên một “hồn nước.”

Mối tương quan giữa con người và quốc gia ở nước Mỹ và nhiều nước Âu Châu có tính cách thuần lý, như đã được ký kết trong những bản hợp đồng. Hồn nước của họ không cần các thần linh, dù sống hay chết, mà nối kết qua tinh thần trọng pháp luật. Tại những nước Á Châu người dân không sống với truyền thống văn hóa thuần lý như vậy.

Dân Thái Lan may mắn, họ chia sẻ một tấm lòng chung. Họ đều kính trọng một ông vua, nhờ thế cũng tôn trọng kỷ cương của quốc gia, mặc dù ông vua không bao giờ phải hô khẩu hiệu hay đọc những bài diễn văn hùng hồn nẩy lửa. Họ mời các thần linh đến ở từng góc phố, để trẻ em đi qua cũng biết vái lạy. Người trí thức được tự do thảo luận, báo chí được tự do phê bình chính phủ, nhiều gia đình còn giữ nếp đưa con trai gửi vào chùa, cạo đầu làm sư trong một năm. Trong nền nếp đó, nhiều kẻ nổi máu gian tham có khi cũng biết xấu hổ mà chùn lại, không dám phá vỡ cái trật tự tinh thần chung của dân tộc. Ở Mỹ và Canada không có những “đại gia” khoe khoang của cải và ăn chơi để dọa đời, trong khi ai cũng biết họ chẳng có tài cán nào ngoài cái địa vị được nắm tiền công quỹ trong tay! Vì người ta biết xấu hổ, và xã hội tự do khiến cái gì xấu cũng được phơi bầy.

Nước Việt Nam chúng ta chưa bao giờ mất hồn nước, nhưng hiện nay hồn nước rất yếu ớt sau nữa thế kỷ tai họa vì một chủ nghĩa ngoại lai và một chế độ độc tài chuyên chế làm bất cứ việc ác nào cũng không ngại, vì họ lấy cứu cánh “giải phóng giai cấp vô sản thế giới” biện minh cho mọi thủ đoạn tàn ác. Cộng Sản Việt Nam đã phá vỡ nhiều giá trị thiêng liêng trong xã hội. Họ nuôi ảo vọng xây dựng xã hội mới, con người mới, từ tín ngưỡng đến gia đình, đạo lý. Cho nên không ngần ngại cắt đứt những sợi dây vô hình ràng buộc dân tộc trong cuộc sống chung. Ðó là một tội lớn. Phải mất hàng thế hệ nữa mới hy vọng phục hồi hồn nước.

Gần đây đã có những tin mừng. Trong nước mới nổi lên nhưng phong trào hướng về tổ tiên để kêu gọi lòng yêu nước, bảo vệ giang sơn. Không biết đến bao giờ thì ở mỗi góc phố có ban thờ treo một tấm bản đồ Việt Nam, như đồng bào ta vẫn làm ở vùng Hòa Hảo hồi xưa? Nhiều bạn trẻ ở đô thị đã dùng mạng lưới dõng dạc đòi cho dân Việt có những quyền sống tư do căn bản của con người. Ðó là những cuộc vận động tinh thần, để tạo nên những khát vọng chung, nhưng niềm tin tưởng chung, cho mọi người cùng giòng giống Việt Nam, chứ không nên chỉ coi đó là những hành động chính trị. Giới trẻ Việt Nam đang muốn thắp lên những ngọn lửa thiêng liêng, muốn hướng về những lý tưởng vượt lên trên cuộc sống tầm thường hàng ngày. Những bạn trẻ đứng lên kêu gọi đó cũng khiến chúng ta tin tưởng giống như khi nhìn thái độ im lặng thản nhiên của các thiền sinh trẻ tu học ở Bát Nhã, Lâm Ðồng. Họ sẽ đóng góp phần phục hồi những giá trị thiêng liêng, trong hồn nước Việt Nam. Những giá trị tinh thần là có thật. Mỗi người hãy phục hồi lại các giá trị trong gốc rễ của chính mình. Sẽ đến ngày tất cả cùng nhìn thấy hồn thiêng sông núi Việt Nam lại trở về, không một chủ nghĩa nông cạn, không một chế độ hẹp hòi nào phá được.

Ngô Nhân Dụng

Hậu Tuyên Ngôn Ðộc Lập

“Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Trời cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra câu ấy có ý nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Hậu Tuyên Ngôn Ðộc Lập

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, ông Hồ chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Việt Nam. Bản Tuyên Ngôn có nội dụng như sau:

“Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Trời cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra câu ấy có ý nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Ðó là những lẽ phải không ai chối cải được. Thế mà hơn 80 năm nay bọn Thực Dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào...

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân...

Về kinh tế chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều...

Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu của dân ta.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta phát triển. Chúng bốc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn...

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” (1)

Hơn 55 năm sau, nếu chúng ta thay thế chữ Thực Dân Pháp bằng Cộng Sản thì nội dung của bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập không có gì khác biệt, thậm chí còn tệ hại hơn những lời cáo buộc của ông Hồ Chí Minh. Việt Nam dưới sự cai trị của Ðảng CSVN tàn độc và khắc nghiệt hơn cả Thực Dân Pháp.

- Về chính trị, đảng CS tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng lập ra điều 4 Hiến Pháp để hợp pháp hóa vị trí độc quyền lãnh đạo.

- Chúng bưng bít dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng làm chủ và kiểm soát các phương tiên thông tin, báo chí và truyền thông đại chúng. Chúng kiểm duyệt tất cả các phương tiện in ấn.

- Về kinh tế chúng nắm giữ các công ty xuất và nhập cảng. Chúng độc quyền khai thác và sang nhượng đất đai, hầm mỏ, hải đảo, bờ biển, và các tài nguyên quốc gia khác.

- Chúng hoàn toàn đánh mất quyền tự chủ và độc lập quốc gia. Chúng dâng Hoàng Sa và Trưòng Sa cho ngoại bang (2). Chúng cam tâm bán nước, cắt đất cho ngoại bang, tự nguyện làm tay sai, nô lệ hòng tiếp tục giữ vững vị trí độc tôn lãnh đạo. (3)

- Chúng đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Chúng bắt bớ và giam cầm các nhà tu hành. (4)

- Chúng ra sức vơ vét của công, thâm lạm ngân quỹ và đục khoét tài sản quốc gia. Ðất nước càng ngày càng lụn bại trong khi cán bộ đảng viên càng lúc càng giàu vì tham nhũng. (5)

So sánh phần luận tội trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập thì đối với tội trạng của đảng Cộng Sản, những tội của Thực Dân Pháp không thấm vào đâu cả. Trầm trọng nhất, tội đánh mất quyền độc lập, tự chủ quốc gia, tội bán nước của CSVN trời không dung đất không tha, sẽ đưa dân tộc và đất nước Việt Nam vào những hậu quả không lường được. Bốn mươi ba năm trước, ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Ðồng với tư cách Thủ Tưóng Chánh Phủ nước VNDCCH đã ra văn thư gửi Chu Ân Lai xác nhận:” Chính Phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”

Việc chính thức công nhận hải phận của Trung Quốc dài 12 hải lý là hành động bán nước có văn kiện lần thứ nhất của đảng CSVN. Quyết định đó mặc nhiên thừa nhận các hải đảo như Trưòng Sa, Hoàng Sa trực thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Vì vậy, tháng 1 năm 1974 Hải quân Trung Quốc đã tấn công và chiếm giữ các đảo thuộc Hoàng Sa do Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. Sau 1975, năm 1988 Hải Quân Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam đã đụng độ tại vùng đá ngầm Johnson thuộc khu vực Trường Sa. Hơn 70 thủy thủ Việt Nam đã bị thiệt mạng, và hai tàu chiến đã bị chìm. Việc này đã được phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Zhu Bangzao tuyên bố: “Trung Quốc đòi hỏi Việt Nam phải lập tức rút quân ra khỏi các vùng đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc đã bị Việt Nam chiếm giữ bất hợp lệ, dẹp bỏ những căn cứ xây cất và phải đãm bảo là không để những hành động tương tự xảy ra trong tương lai” (6)

Ngày 30 tháng 12 năm 1999 và 25 tháng 12 năm 2000 vừa rồi, Lê Khả Phiêu, Tổng Bí Thư Ðảng CSVN đã ký hai Hiệp định “Hiệp Ðịnh về Biên Giới Trên Ðất Liền VN-TQ” và “Hiệp Ðịnh Phân Ðịnh Vịnh Bắc Bộ”. Trong cả hai Hiệp định, Việt Nam đã nhường đức cho Trung Quốc hàng trăm cây số dọc biên giới phía Bắc và hàng ngàn cây số trong vùng biển thuộc vịnh Bắc Bộ. Ông Ðỗ Việt Sơn cán bộ 54 tuổi đảng đã cáo giác trong bức thư gửi Quốc Hội và đảng CSVN như sau: “ Suốt 4000 năm lịch sử kể cả thời Bắc thuộc cho đến hơn 100 năm độc lập tự chủ, nhiều triều đại phong kiến lúc yếu cũng chưa bao giờ nhượng cho phong kiến Phương Bắc một tấc đất, một hòn đảo.....Thế mà ngày nay, theo Hiệp định biên giới Việt Trung mới đây ta đã nhượng bộ cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất liền và hàng ngàn cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ.... Qua lời thông báo của một vị lãnh đạo của thành phố Hải Phòng tại Câu Lạc Bộ Bạch Ðằng tháng 2/2001 thì Vịnh Bắc Bộ chia đôi ta được 53%, Trung Quốc 47%”

Vì quyền lợi chính trị, tập đoàn CSVN đã bán nước lần thứ hai. Tội ác này đã làm rúng động các tầng lớp đảng viên cán bộ còn chút ít nhất điểm lương tâm. Với khả năng kiểm soát mọi phương tiện truyền thông và bưng bít tin tức. Sự việc cắt đất dâng Thiên Triều của Hà nội chưa được quảng đại quần chúng biết đến. Tuy nhiên, cũng giống như lần bán nước đầu tiên của Phạm Văn Ðồng, và lần này qua Lê Khả Phiêu. Vết nhơ “bán nước” của đảng CSVN cho dù có bưng bít thì muôn đời cũng không dấu diếm và gột rửa được. Quyền lực đã và đang làm những nhà lãnh đạo đảng mê muội, ích kỷ. Ðảng CSVN đã đặt quyền lợi đảng phái lên trên quyền lợi dân tộc, cam tâm bán rẻ đất nước để đổi lấy an toàn chính trị. Ðảng phái và Nhà nước chỉ là phương tiên tạm thời. Ðất nước và Dân Tộc mới là cứu cánh và vĩnh cữu. Vì vậy, mọi thế lực đi ngược lại nguyên lý trên đều phải bị nguyền rủa và đào thải theo thời gian.

Căn cứ theo tinh thần của bảng Hiến Pháp nước CHXHCNVN năm 1992, đảng CSVN đã và đang vi phạm nghiêm trong các điều 1, điều 3, điều 12, điều 13 do chính đảng đặt ra.Ðiều 1 khẳng quyết nước Việt Nam là: “ một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo vùng biển và vùng trời” Ðiều 3 xác định “nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ Quốc và của nhân dân”. Trong khi đó điều 12 qui định: “ Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và Pháp luật. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.” Và điều 13 khẳng định như sau: “Tổ Quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật.”

Ðã đến lúc nhân dân Việt Nam phải truy tố đảng CSVN về tội bán nước cho Trung Quốc, tội đã đánh mất chủ quyền một nước độc lập. Tội đã có hành động xâm phạm Tổ Quốc Việt Nam thiêng liêng, có hành động và mưu đồ chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Ðã đến lúc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của năm 1945 phải được viết lại để ghi rõ những tội ác mà đảng CSVN đã và đang vi phạm để lịch sử được công bằng.

Ngô Hoàng Minh
(1) Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Chính phủ VNDCCH
(2) Văn thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai ngày 14/9/1958
(3) Hiệp định về biên giới trên đất liền VN - TQ và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ
(4) Tòa án Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên xử L.M Nguyễn Văn Lý 15 năm tù ngày 19/10/2001.
(5) Ðơn xin thành lập hội chống tham nhũng
(6) Taiwan Security Research

Lời kêu gọi số 6 Ðừng dạy và đừng học chủ nghĩa cọng sản



LỜI KÊU GỌI SỐ 6
HỞI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM
ÐỪNG DẠY VÀ ÐỪNG HỌC
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
VÀ LỊCH SỬ ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA!
- Xét rằng: Những điều khoản cơ bản nhất về Nhân quyền về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do thông tin liên lạc, tự do lương tâm, tự do tôn giáo như điều 18, điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10-12-1948 mà Cộng Sản Việt Nam (CSVN) xin gia nhập năm 1977; và đã được lặp lại rõ hơn tại điều 18 và điều 19 trong Công ước Quốc tế về Nhân quyền ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký tên gia nhập ngày 24-9-1982, không bao giờ được CSVN tuân giữ nghiêm túc đầy đủ cả: muốn đọc thư ai là đọc; muốn giữ thư tín ai là giữ; muốn hủy bỏ bất cứ tài liệu gì con người trên hành tinh nầy gửi cho nhau là toàn quyền định đoạt; muốn nghe lén điện thoại ai cũng được; muốn cắt điện thoại, điện thư ai là CSVN ngang nhiên làm mà không hề sợ một Tổ chức Quốc Tế nào can thiệp hết; muốn cấm tài liệu nào lưu hành là cấm, muốn cho phép tài liệu nào lưu hành mới được phổ biến, như ở Việt Nam hiện nay Lời Kêu Gọi nầy làm sao ai dám in ấn, sao chụp? Trong khi Công Ước Quốc Tế Về Nhân quyền của Ðại hội đồng Liên hiệp quốc, ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký kết xin gia nhập ngày 24-9-1982 đã ghi rõ như sau:
Ðiều 19
1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.
2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giơí, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.
(Các Văn Kiện Quốc Tế Về Quyền Con Người, do Trung Tâm Nghiên Cứu Quyền Con Người xuất bản, NXB TP HCM, 1996, trang 117)
- Xét rằng: CSVN đã gieo rắc sự sợ hãi vô cớ quá lâu năm, đã áp bức tư tưởng / thông tin / ngôn luận quá nhiều, khiến lẽ ra mọi công dân văn minh tiến bộ nào của Việt Nam hôm nay đều phải có quyền hiên ngang tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến tương tự như tài liệu nầy, thì trong thực tế: nguyên việc đọc nó mà thôi cũng có thể phải chịu bao nhiêu phiền toái đàn áp rồi; đến nỗi nhiều đảng viên và nhân viên Nhà Nước CSVN hôm nay vẫn không ngờ rằng mọi công dân VN thực sự có quyền như thế nầy. Ôi lạc hậu và bị áp bức bưng bít đến chừng nào!!!
- Xét rằng: Khi đưa ra 3 mục tiêu: độc lập, tự do, hạnh phúc cho Ðất Nước Việt Nam vươn tới, Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) lại dùng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để thực hiện, thành ra người CSVN tự mâu thuẫn ngay từ đầu. Giải pháp độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam đã và sẽ không bao giờ thành tựu bao lâu người CSVN còn mê muội cố bám vào phương pháp xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, bởi vì tự bản chất, 2 chủ nghĩa nầy bao hàm sự độc đoán toàn trị, nên không thể bao hàm ý niệm tự do chân chính và đầy đủ trong đó được. Ngày nay chính nhiều người cộng sản thành tâm thiện chí cũng đã đủ điều kiện để tự khẳng định được điều nầy.
- Xét rằng: Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) và Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH) chỉ là 2 lý tưởng quá cao vời, chúng rất cao đẹp trong lý thuyết, nhưng chúng hoàn toàn ảo tưởng trong thực hành, khiến con người cộng sản thực sự chưa bao giờ xuất hiện trên trái đất, như người ta vẫn nói: "20 tuổi mà không yêu CNXH là người không có con tim, nhưng 30 tuổi mà vẫn yêu CNXH là người không có đầu óc!" hoặc như báo Văn Nghệ VN đã đăng lời than phiền của các bà mẹ nuôi VN từ lâu: "đảng viên thì nhan nhản mà cộng sản không có một người!"; làm cho trên hành tinh nầy hiện nay chỉ còn 4 nước vẫn cố tình ngoan cố đeo đuổi là Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam mà thôi.
- Xét rằng: CNXH không tất yếu là cần thiết và phải đem áp dụng bằng mọi giá vì các nước khác ngay trong vùng Ðông Nam Á nầy hoàn toàn xa lạ hoặc thẳng tay tẩy chay nó, thế mà các nước nầy ngày nay giàu có hơn VN rất nhiều. CNXH cũng không ưu việt chút nào, bằng chứng rõ ràng là hơn 2,5 triệu người Việt đã phải liều chết vượt đại dương, rời bỏ quê hương tìm không khí tự do mà thở!
- Xét rằng: (Cộng Sản Việt Nam) CSVN buộc mọi học sinh, sinh viên phải học và yêu CNXH trong khi hầu như chẳng còn ai thích dạy và cũng chẳng còn ai thích học chủ nghĩa này. Lẽ ra chỉ có 3 triệu đảng viên và 5 triệu đoàn viên cộng sản nên học (nếu còn tin vào CNXH) và đem ra áp dụng nó trong thực tế sao cho hiệu quả về kinh tế, xã hội để dân chúng được no ấm hạnh phúc. Còn toàn dân có quyền nghiên cứu, phê phán xem việc xây dựng CNXH có thực sự đạt đến lý tưởng nó đề ra hay chỉ là ảo tưởng? Chắn chắn buộc mọi mọi công dân phải học và yêu một chủ nghĩa đã phá sản tại quê hương nó là nước Nga và thất bại thê thảm tại Việt Nam là áp bức tư tưởng quá thô bạo rồi!
- Xét rằng: Cách trình bày về lịch sử ÐCSVN như hiện nay trong các sách vở, tài liệu và giáo trình giảng dạy / học tập tại các trường / lớp ở Việt Nam hoàn toàn không trung thực, đầu độc bao thế hệ lớp trẻ Việt Nam. Thực tế đã thật sự xảy ra là:
- ÐCSVN đã góp công giành độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, nhưng sự nghiệp nầy không phải chỉ một mình người CSVN làm cho thành công, mà có sự đóng góp của rất nhiều người Việt và rất nhiều người thành tâm khác, của nhiều đảng phái khác mà ÐCSVN đã tiêu diệt họ để cướp công như thể chỉ có một mình ÐCSVN làm được điều nầy mà thôi;
- ÐCSVN có sai lầm lớn là đem CNCS và CNXH vào Việt Nam, làm cho Việt Nam lạc hậu lùi lại hơn cả thế kỷ, trở nên một trong vài nước nghèo đói nhất thế giới hiện nay;
- ÐCSVN có tội lỗi lớn là dùng mọi thủ đoạn gian trá để thủ tiêu hết các lực lượng yêu nước cùng giành độc lập cho Việt Nam thời thực dân Pháp;
- ÐCSVN đã tiến hành cải cách ruộng đất một cách bạo tàn rùng rợn ở miền Bắc trong những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX làm hơn 300,000 người Việt chết oan;
- ÐCSVN đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam từ 1960 - 1975 để áp đặt cho bằng được CNCS lên toàn Việt Nam, làm hơn 2 triệu thanh niên cả 2 miền Nam - Bắc chết thê thảm mà vẫn cứ lường gạt dư luận thế giới rằng đó là cuộc chiến chống Mỹ cứu Nước giải phóng miền Nam; tàn bạo nhất là giết dân hàng loạt lên đến hàng trăm ngàn trong vụ Tết Mậu Thân 1968 tại Huế bằng cách chôn sống và các hình thức thô bạo tàn nhẫn khác thế mà ở Huế vẫn ngang nhiên có một con đường tên là Xuân 68! CSVN đã dùng súng lớn bắn vào dân để giết chết hàng loạt cũng lên đến hàng trăm ngàn trong vụ đánh chiếm Quảng Trị 1972 trên chặng đường Quảng Tri - Diên Sanh được gọi là Ðại Lộ Kinh Hoàng.
- ÐCSVN đã đàn áp thô bạo và tiêu diệt tàn nhẫn hàng chục vạn những người đối lập khắp cả nước Việt Nam và nhất là trong hàng trăm Trại Tập trung từ Bắc chí Nam từ những năm 1930 đến nay.
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích dối trá, thủ đoạn làm băng hoại các giá trị đạo đức mà các Tôn Giáo và Dân tộc VN ra công bồi đắp giữ gìn bao nhiêu đời, đến nỗi hiện nay ở Việt Nam ai không biết nói dối là không thể sống bình thường được, kể cả một số Chức Sắc cao cấp trong các Giáo hội cũng phải biết nói dối nhiều ít để được xuôi thuận công việc; đặt bút xuống viết một đơn hành chánh đã phải cúi đầu viết dối "tự do - hạnh phúc" mặc dù chính người viết biết rõ làm gì có tự do - hạnh phúc?
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích đấu tố, căm thù, khiến chính các đảng viên xét lại hay sai phạm cũng không chịu nổi sự căm thù của các đồng chí cũ của mình!
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa đề cao vô thần, khiến một bộ phận dân chúng mất phương hướng để thực hiện chính sứ mạng làm người chân chính của mình.
Vì vậy, nhân danh các quyền chính đáng của mọi con người văn minh tiến bộ trên hành tinh nầy, khi bước vào thiên niên kỷ mới, tôi thiết tha kêu gọi: HỞI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM
ÐỪNG DẠY VÀ ÐỪNG HỌC
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
VÀ LỊCH SỬ ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA!
Kêu gọi tại Nhà Thờ Nguyệt Biều - An Truyền - Huế, ngày mồng 3 Tết Tân Tỵ 25 tháng 01 năm 2001.
Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý
Quản Xứ An Truyền

Tìm Hiểu Sự Thật Về Ngày Quốc Khánh 2-9 của CSVN .




Khi nói tới ngày 2 tháng 9, đảng CSVN luôn ca ngợi là ngày Quốc Khánh hay ngày Độc Lập, chúng ta thử tìm hiểu những hình ảnh trong ngày 2-9 của CSVN như thế nào .

Lịch sử : Đảng CSVN trong 50 năm đã trình chiếu cuộn phim ngày độc lập 2-9-1945, trong đó có hình ảnh, lời HCM đọc tuyên ngôn độc lập, một số hình ảnh rất đông đồng bào tham dự và tung hô .

Sự thật đây chỉ là những tấm hình, phim ảnh giả, với kỹ thuật hiện đại hôm nay, chúng tôi xin đưa ra vài chi tiết như sau về ngày 2-9-1945:

Báo Công An CSVN đưa ra 2 tấm hình , hình đám đông và lá cờ đỏ sao vàng , sao vàng hình bầu dục hơn, đây là lá cờ đảng CSVN 1945-1954 . HCM đọc tuyên ngôn với một Microphone hình củ khoai thẳng đứng . Điều nầy bị sai với đoạn phim tuyên ngôn độc lập . Trong đoạn phim tuyên ngôn độc lập trên you tube :
http://www.youtube. com/watch? v=9n1TNfx9LaQ , đúng phút 4:49 là hình lá cờ đỏ sao vàng thẳng nét, cờ nầy được dùng từ năm 1954 trở về sau chứ không phải là cờ 1945 như lá cờ trong hình báo công an .

Hình (1) Microphone HCM nói hình củ khoai và cờ đỏ sao vàng bầu dục của năm 1945 .
link:
http://www.cadn. com.vn/News/ Print.ca? id=13288


Hình (2) Báo Phú Thọ và báo Nhân Dân đưa ảnh ngày 2-9-1945 với hình HCM già hơn và Microphone hoàn toàn khác với hình Báo Công An đưa ra .
Hơn nữa lá cờ đỏ phía sau lưng hoàn toàn không có trong đoạn phim 2-9
link:
http://www.baophuth o.org.vn/ baophutho/ vn/website/ tin-tuc-su- kien/100CFB8155A /2009/7/114B9700 81D/



Hình (3) trong đoạn phim 2-9-1945 , HCM đọc tuyên ngôn trong bộ đồ Màu xậm và dùng Microphone khác .



Hình (4) báo chí CSVN đưa lên nhiều nhất, HCM nhìn sạch sẽ hơn với Microphone hình tròn và có luôn cờ đỏ trước mặt .
Hình nầy hoàn toàn khác với những tấm trước kể cả trong phim 2-9 .



Hình (5) Đây là tấm hình 2-9 khác, cột cờ được ráp thêm phía sau, hình nầy cùng một góc cạnh với tấm hình (3) không có cột cờ .



Đây là tấm hình trong phim 2-9, lá cờ được lắp ráp bằng cờ sao vào thẳng nét chứ không phải sao vàng bầu dục như tấm hình (1) phía trên .
Hơn nữa đoạn phim được ghép lại làm ra cho đông người hơn, phía dưới là lằn đỏ cho thấy đoạn phim ghép lại từ 2 bức hình .



Hình đỏ chỉ ra đường ghép của hai tấm phim, quí vị nhìn kỹ trong đoạn phút 4.49 của youtube
http://www.youtube. com/watch? v=9n1TNfx9LaQ sẽ thấy . Hình khoanh tròn là hai người giống nhau được quay 2 lần và ráp lại .

Đoạn phim trong (1)
http://www.youtube. com/watch? v=OTglNbmS3- 8 là đoạn phim phổ biến trước đó , hình ảnh rất mờ có thể là do lắp ráp chưa chuẩn nên làm mờ cho bà con không nhìn ra, một đoạn phim sau được phổ biến gần đây thì được làm lại rõ hơn, được lắp ráp, cắc xén từ những đoạn phim khác nhau : http://www.youtube. com/watch? v=9n1TNfx9LaQ

Tất cả những hình ảnh 2-9 và những đoạn phim chắp vá mà đảng CSVN đã tuyên truyền ru ngủ toàn dân trong nhiều năm nay cho thấy ngày 2-9 có thể không có thật, có thể không có xảy ra vì tất cả chỉ là dàn dựng lên để quay phim . Đảng CSVN vì có nhiều đạo diễn khác nhau cho vỡ tuồng 2-9 nên hình ảnh đã trở thành "râu ông nó cắm cằm bà kia" . Điều trớ trêu nhất là họ dùng nhiều loại microphones và quần áo khác nhau cho ông HCM trong ngày 2-9 . Người dân có thể bị lừa trong thời trước đây nhưng với kỹ thuật tân tiến của thế kỷ 21 thì những sự lừa gạt của đảng CSVN đối với nhân dân ngày càng lộ ra ánh sáng .

Thu Hiền & Lan Anh (Quốc Nội)
Vietland Staffs

Thảm kịch Việt Nam hôm nay hay Bài học lịch sử do chính trí thức tạo thành

Bài học lịch sử do chính trí thức tạo thành Trước cách mạng 1789, nước Pháp dưới triều vua Louis XVI, lúc nào cũng tự coi mình là đấng con trời, vì nắm hết moi quyền lực trong nước, lại thêm có sự tiếp tay của ba thế lực đương thời, đó là giai cấp tăng lữ, quí tộc và bọn trí thức giàu có, sống nhờ hút máu đồng bào hèn nghèo bé miệng...

...Có thể coi xã hội Pháp thời đó, y chang như thiên đàng Việt gian CSVN ngày nay, quyền lực do đảng nắm giữ, đứng vững nhò sự tiếp tay của một thiểu số trí thức sa đọa vì quyền lực và phù phiếm cuộc đời. Đó là lý do, khiến cho mọi tầng lớp xã hội, mà hầu hết là giới nông dân thợ thuyền, qua luồng gió dân chủ, tự do của Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire, đã đứng dậy đập tan chế độ bạo tàn, đưa cuộc cách mạng 1789 đến chỗ thành công. Ngày nay người Pháp, không ai quên được cái đêm 14-7, cảnh dân chúng Ba Lê phá vỡ ngục Bastille, kế tiếp là ngày 21-1-1793 đã bắt vua Louis lên đoạn đầu đài xử tử, vì tội rước giặc về, để bảo vệ cái ngai vàng của mình, mà dày xéo quê hương tiên tổ. Do kết quả trên, từ đó về sau, thế giới coi cuộc chính biến năm 1789, là một cuộc cách mạng vĩ đại. Nước Pháp sau đó, đã đổi mới toàn diện về chính trị, thay đổi hiến pháp, cải cách xã hội... mở đường cho cuộc cách mạng 1848 tại Âu Châu, hoàn thành chủ thuyết Dân Tộc Tự Quyết, cải thiện đời sống củagiới lao động, thợ thuyền.

Tại Châu Á, năm 1888, Minh Trị Thiên Hoàng, cũng đã làm một cuộc cách mạng cho nước Nhật, sau khi bị Mỹ làm nhục. Năm 1853, Nhật đã canh tân đất nước toàn diện, thay đổi một quốc gia phong kiến lạc hậu, chia năm xẻ bảy bởi nạn sứ quân, thành hợp nhất, cải tổ kinh tế, quân sự, chính trị, làm cho nước Nhật trở thành một cường quốc. Nhờ vậy, chẳng những người Nhật được thế giới, trong đó có Hoa Kỳ kính nể, mà còn chiến thắng Trung Hoa năm 1894, buộc người Tàu phải ký hiệp ước Simonoseki (Mã Quan), trả độc lập cho bán đảo Triều Tiên, đồng thời nhường cho họ, quần đảo Bành Hồ và đảo Đài Loan. Tiếp đến Nhật còn thắng Nga năm 1905, ở biển nam đảo Sakhaline, chiếm Mãn Châu, Triều Tiên và đường xe lửa trong vùng.

Như vậy, cách mạng qua các thành tựu trên là một sự bỏ cũ thay mới, loại cái xấu cái tồi để thực hiện những điều hay tốt, làm cho an dân lợi nước. Trong dòng lịch sử VN cận đại, tài liệu có nhắc tới cách mạng mùa thu tháng 9-1945, cộng sản đệ tam quốc tế, qua bình phong Việt Minh, đã cướp được chính quyền, lúc đó đang bị rơi rải ngoài đường vì cả Nhật-Pháp, hai chủ nhân ông củaVN đã buông tay, còn Chính phủ đương thời Trần Trọng Kim, lại bị bọn Việt Gian nằm vùng lúc đó, đoạt quyền... cho nên cũng hữu danh vô thực. Tại VNCH, ngày 1-11-1963 cũng có một cuộc cách mạng, lật đổ nhà Ngô. Như vậy, nếu từ căn nguyên và ý nghĩa của cách mạng, mà tượng trưng là những năm 1789, 1848, 1853..chúng ta sẽ không bao giờ dám nghĩ rằng, những biến cố chính trị vào năm 1945 hay 1963 tại miền Nam VN, là một cuộc cách mạng như một vài người đã tự gán. Đúng hơn, đó chỉ là những biến cố quân sự để cướp quyền lực, dành địa vị,thay vua, đổi màu cờ, tên nước... Bởi vì sau đó, mọi sự cũng chẳng có gì mới mẻ, ngoài các nhân vật cũ nhưng mới nhờ có kèm theo chức vụ hay lon lá to hơn, khi còn trong chế độ cũ, tạo nên một cuộc đổi đời long trời lở đất, mở đường đưa lối, giúp VC cưỡng chiếm được toàn thể VN, tạo nên những thảm kịch thiên cổ, có một không hai trong dòng sử Việt.

‘Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh...’


Hai câu thơ cổ trên, được trích từ bài thơ ‘chính khí ca’ của Văn Thiên Tường (1236-1282), một đại quan thời mạt Tống cũng là một sĩ phu trí thức, một nhà nho lỗi lạc, có tình yêu nước nồng nàn. Khi đất nước lâm nguy, dù làm quan tột đỉnh tới Thừa tướng Khu Mật Sứ, người trí thức sĩ phu, đã quên mình, dấn thân ra chiến trường, cầm quân chống kẻ thù Mông Cổ. Cuối cùng ông và vua Tống Đoan Tông, đều bị bắt tại Quảng Đông vào năm 1278. Tại Yên Kinh, người sĩ phu trí thức, thà chịu tù đầy, hận nhục nhưng lòng băng sơn son sắt, quyết không hàng giặc. Vì vậy Ông bị giặc giết, trước khi lìa đời, đã viết bài ca chính khí, cảm động và rung động lòng người.

‘Thâm tâm nhất phiến, từ châm thạch
bất chỉ nam phương, bất khẳng hưu
tòng kim biệt khúc Giang Nam lộ
hóa tác Đổ Quyên, đái huyết quy...’


Tại miền Nam VN, từ 1960-1975, trong lúc Việt gian cộng sản Bắc Việt ngày đêm không ngớt tấn công gây chiến khắp mọi miền đất nước, làm cho đồng bào lầm than, người lính trường sa ngày đêm thương vong, chết tủi. Rồi cũng nhờ máu xương của lính, mua thêm thời gian tồn tại của VNCH, nên mới có phản chiến, xuống đường, đêm bàn thờ ra phố chợ, làm ô uế bậc thần linh tôn kính. Tóm lại chính vì miền Nam quá tự do, cho nên mới có đất, để bọn Hippy tại Mỹ, qua cái gọi là The Beatles, múa may cuồng ngạo. Mới có trí thực, vô hồn không óc, chạy theo Bertraud Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse... tuy ăn cơm và sống nhờ bàn tay che chở củangười lính Quốc Gia, lại lợi dụng tự do, dân chủ, công khai tán tụng cộng sản xâm lăng Hà Nội, hô hào hòa bình giả mạo, bắt quân dân miền Nam buông súng đầu hàng kẻ thù. Cũng vì tự do dân chủ, mới có thơ văn và âm nhạc phản chiến, công khai chống lại chính phủ mình. Mới có Trịnh Công Sơn, Thích Nhất Hạnh, Nguyễn Văn Trung, Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Chân Tín, Lý Chánh Trung... Mới có Hành Trình, Đất Nước, Tin Văn, Trình Bày, Đối Diện, Vấn Đề... mới có một số lớn con cái của các cán bộ tập kết ra Bắc, để vợ con ở lại sống bằng sự chắt chiu đùm bọc của người Miền Nam. Tới khi trưởng thành, lại trở mặt, nằm vùng chống lại người ơn của mình, mà điển hình nhất là Phi Công Nguyễn Thành Trung trong KQ/VNCH, hiện đang múa may quay cuồng, không có một chút gì là hổ thẹn và hối hận.

Ngày 22-5-1974, Hạ Viện Mỹ phủ quyết đề nghị gia tăng ngân sách viện trợ, cho VNCH năm 1975. Cuối tháng 10-1974, trước bất lợi của VNCH, nên Việt gian CSBV quyết định cưỡng chiếm miền Nam bằng quân sự. Và trong lúc non nước nguy khốn với thù trong giặc ngoài, thì trí thức miền nam, qua báo chí, rầm rộ biểu tình chống chính phủ, đòi tổng thống từ chức. Ngày 10-10-1974, lại ký giả đi ăn mày, do Vũ Hạnh, Kiên Giang, Nguyễn Văn Bổng, giựt dây xúi giục. Trong lúc giặc Bắc đã mở màn cuộc xâm lăng, bằng trận đánh lớn đầu tiên, chiếm Thượng Đức (Quảng Nam) sau khi đã cùng Mỹ, trân trọng ký vào bản hiệp ước ngưng chiến, để hòa bình tại hai miền VN.

‘Không ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng sông‘. Bởi vậy, sau ngày 30-4-1975, VN hoàn toàn bị cộng sản nhuộm đỏ, đã không còn biểu tình, chống đối, cho nên đảng cầm quyền, một trời một chợ, bán đất nhượng biển, tham nhũng, gây nên đại họa thiên cổ, mà không một sử gia hay chữ nghĩa nào, ghi cho hết được.

1-NHỮNG LỜI NÓI DỐI CỦA LỊCH SỬ :

Chiến tranh VN xưa nay là một đề tài, cũng như phương tiện, giúp cho nhiều người nổi tiếng và làm giàu. Tại Hoa Kỳ, có giáo sư sử học Joseph. J. Ellis, củaTrường Đại Học Mount Holyoke, nức tiếng trong ngành sử học, nên đã nhận được giải văn chương báo chí Pulitzer vào tháng 4-2001. Tuy nhiên trên đời này, không điều gì có thể dấu được, khi hầu hết các bí mật lịch sử, gần như đã được khai quật. Cho nên, sự việc thần tượng Joseph, bị nhà báo Walter V.Robinson hạ bệ, qua bài báo mang tựa ‘Professor’s past in doubt ‘, đăng trên tờ Boston Globe, số ngày 18-6-2001. Qua đề tài ‘quá khứ hoài nghi một giáo sư sử học‘, đã vạch trần những hồi ức, mà nhà sử học dùng làm tài liệu, để chứng thực rằng ông ta có chiến đấu tại VNCH. Thế nhưng qua lời bạn bè, một thời từng chiến đấu trong thập niên 1960, đều xác nhận đượng sự, tuy có ở trong quân đội Hoa Kỳ nhưng chưa bao giờ tới VN chiến đấu, mà chỉ phụ trách dạy lịch sử, tại Học Viện Quân Sự West Point. Tóm lại nước Mỹ sẽ còn phải đối mặt với nhiều năm tháng, qua những ám ảnh về chiến trường VN, mà nhiều nhà báo trước đây, vì háo danh và vô nhân đạo, đã bẻ cong ngòi bút, khi viết sự thật lịch sử.

Chưa hết việc làm và ghép ảnh giả, để khai thác cái hồn và làm tăng độ tin của những bài viết bôi lọ, nhục mạ QLVNCH, cũng được nhà báo Mỹ và Tây Phương khai thác một cách tận tuyệt. Mới đây trong tác phẩm ‘những lời khoắc lác’ của Custis Mc Dougall, gần như vạch trần những sản phẩm, một thời được rêu rao, bây giờ bị lật mặt nạ là bịp bợm.

Nói chung sự bưng bít lịch sử, trong thế giới cộng sản thật là dễ sợ. Bởi ngay bây giờ, vẫn còn nhiều nhà báo quốc tế, như đang ngủ trong mây, qua những vấn đề có liên quan tới VN. Tóm lại, chẳng những cả nước bị bịt mắt bắt dê, mà ngay tới những thành phần trí thức tại Bhutan, Panama, Nigeria... gần như không hiểu một chút gì về cái chế độ độc tài, đảng trị, có một không hai trong lịch sử Việt.

Cho nên cũng đừng lạ, khi biết được mới đây, đài CBS lại bị tố cáo là loan tin thất thiệt, qua một bài tường thuật về đời quân ngũ của đương kim tổng thống Hoa Kỳ G.B.Bush. Sự kiện quan trọng trên, khiến cho thiên hạ giờ đây hết tin nổi, những cái gọi là truyền thông nước Mỹ như NBC, CNN, The New Republic, The Washington Post, USA Today, The New York Times, và những đài ngoại quốc có chương trình Việt Ngữ như BBC Luân Đôn, RFA, VOA... Một tổng thống quyền hành bao trùm cả thế giới, mà còn bị báo và truyền hình bôi nhọ, chụp mũ, thì cái sự Lịch sử thời VNCH bị dựng đúng, bẻ cong, cũng là điều bình thường.

A-TỔNG THỐNG THIỆU VÀ 16 TẤN VÀNG :

Căn cứ vào một số tài liệu mật được giải mã tại các văn khố quốc tế cũng như của Hoa Kỳ, đã khẳng định được một điều, là trong suốt cuộc chiến Bắc Việt xâm lăng VNCH, hầu hết tầng lớp người Việt sống tại Miền Nam VN, nếu không bị áp buộc, gây nguy hiểm đến mạng sống và gia đình họ, thì chẳng có ai ưa thích VC, ngoài một số trí thức no cơm ấm cật, giàu sang thừa mứa, nhờ gốc gác từ địa hào, địa chủ thời Pháp thuộc, quen đứng núi này nhìn non nọ, ngủ trên mây, nên bị cộng sản tuyên truyền lừa phỉnh, đi vào bước đường cùng sau ngày 30-4-1975, tàn mùa chinh chiến. Chính những trí thức thiên tả trên, đã lợi dụng tự do dân chủ của chế độ, để biểu dương lập trường đối lập của mình, đã vô tình hay cố ý tiếp tay với giặc, mang ách nô lệ Mác-Lê từ Nga-Tàu, về dày xéo quê cha đất tổ.

Sau ngày 30-4-1975, qua phút huy hoàng ngắn ngủi, cũng là thời gian mặt nạ những kẻ nằm vùng, đâm sau lưng người lính VNCH được lột, cũng là sự kết thúc vai trò làm hề của trí thức miền nam. Từ đó, tất cả đều chung niềm tân khổ, nhưng người dân và lính chỉ hận hờn vì đầy đoạ, trái lại người trí thức phản bội năm nào, mới là thành phần bị thiệt thòi nhất, vì vừa bị mất hết những đặc quyền đặc lợi mà chế độ cũ dành cho lớp người khoa bảng, luôn được ngồi trên đầu dân đen miền Nam, lại phải mang thêm sự bóp nát lương tâm vì hối hận và trên hết đã thấu rõ nguyên tắc của xã nghĩa:’ TRÍ THỨC THUA CỤC PHÂN VÌ VÔ DỤNG VÀ PHẢN TRẮC LẬT LỌNG.

Nhưng người trong nước thì an lòng chịu đựng, ngược lại có một số loạn thần, nhanh chân chui được vào lòng máy bay Mỹ, chạy ra hải ngoại lúc đó, hay mới đây qua các diện vượt biên, đoàn tụ, tù nhân chính trị... vẫn tiếp tục to miệng làm hề, dù rằng nay đã biển dâu, ông bà sư cố... cũng y chang xếp hàng như me Mỹ, Ba Tàu Chợ Lớn và bần dân xóm biển. Màn chửi rủa, đổ tội, vu khống Miền Nam vì tham nhũng bất tài, nên thua VC... được chấm dứt, khi thành đồng tổ phu Mac Lê, tan hoang, sụp nát vào năm 1990, chẳng những ở Đông Âu, khắp năm châu, mà còn ngay tại Tổng Đàn Nga Sô Viết. Cũng từ đó, xã nghĩa thiên đàng thu gọn tại Tàu Cộng, Viêt Cộng, Hàn Cộng và Cu Ba. Rồi các dĩnh cao tại Bắc Bộ Phủ vì cái ăn bản thân cùng sự sống của đảng, đã muối mặt, mở cửa đổi mới, trải thảm đỏ, lạy mời những kẻ thù năm nao như Mỹ, Pháp, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan... kể cả Liên Xô, Âu Châu... vào, để cùng nhau hợp sức, kết đoàn, làm nhanh sự sụp đổ của một quốc gia mang tên VN, từng liệt oanh lừng lẫy dưới trời Đông Nam Á.

Cũng nhờ mở cửa, những tin tức bán nước, hại dân và đại họa tham nhũng cả nước, từ lớn tới bé của Cộng Đảng... bị quốc dân rõ rỉ phanh phui, tràn lan khắp chân trời góc biển và ngay trên mạng truyền thống quốc tế từng giờ, đã khóa kín những cái miệng thúi của bọn trí thức bợ bưng VC, vẫn còn lẩn quẩn, trong tập thể người Việt hải ngoại, đợi dịp và cơ hội, đâm sau lưng đồng bào, như chúng từng làm, khi còn sống tại VNCH, trong cảnh no cơm ấm cật, ai chết mặc bay, vô luân vô tích sự.

Theo tin của Nguyễn Hữu từ Paris, được đăng trên tờ Việt Nam Hải Ngoại, số 132 ngày 31-1-1983, thì Nguyễn Văn Hảo, nguyên phó thủ tướng trong triều vua Dương văn Minh hai ngày, nhờ bảo vệ được ‘16 Tấn Vàng, tài sản của quốc dân Miền Nam’, để dâng cho tập đoàn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ,Phạm văn Đồng... ngay khi chúng vào được Sài Gòn, buổi trưa ngày 30-4-1975. Theo nguồn tin từ các hàng thần VC, ngay khi vào Sài Gòn trưa đó, thì 16 tấn vàng trên, được Duẩn-Thọ, dùng máy bay chở về dấu tại Côn Sơn-Hải Dương. Sau đó đảng nhóm, tự chia chác ăn xài. Cũng nhờ công lao hãn mã trên, nên Hảo Tiến Sĩ, được VC cho xuất ngoại công khai sang Pháp. Tại Ba Lê, Y ngự trong một khách sạn sang đẹp, mà chủ nhân cũng là chủ của Nhà Hàng Đồng Khánh tại Chợ Lớn năm nào.
Sự việc Nguyễn Văn Hảo xuất ngoại bằng thông hành chính thức và liên hệ thường trực với tòa đại sứ VC tại Pháp, cho thấy Y ra ngoại quốc với sứ mạng bí mật. Hiện nay Hảo được Cao Thị Nguyệt, vợ góa của tướng Hòa Hảo Ba Cụt, bảo lãnh sang Mỹ, trước đó ở Texas.

Tuy VC đã cưỡng chiếm được miền Nam gần 30 năm qua, nhưng duới đống tro tàn của quá khứ, vẫn còn âm ỷ các sự kiện nóng bỏng của cận sử VN, trong đó ác nhất là chuyện ‘Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tẩu tán 16 tấn vàng y của Ngân Hàng Quốc Gia VN, khi chạy ra ngoại quốc, vào những ngày cuối thàng 4-1975‘. Đây là một sự kiện lớn của người Việt Quốc Gia, trong và ngoài nước. Và dù nay mọi sự đã được sáng tỏ, số vàng trên được Nguyễn Văn Hảo giữ lại và chiều ngày 30-4-1975, đem dâng cho Lê Duẩn, chở ngay về Bắc.

Theo tài liệu của Nguyễn Tiến Hưng, trong tác phẩm ‘Bí Mật Dinh Độc Lập‘, cũng là người chủ xướng trong việc, dùng 16 tấn vàng dự trữ tại Ngân Hàng Quốc Gia, theo thời giá lúc đó là 120 triệu Mỹ Kim, để mua vũ khí đạn dược, cung cấp cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu, chờ xin viện trợ của nước khác, vì Hoa Kỳ qua đảng Dân Chủ phản chiến, đã chấm dứt giúp đỡ miền Nam.

Ai cũng biết, từ tháng 4-1975, miền Nam đã mất tinh thần, vì sự tan rã của hai quân đoàn 1 và 2 khi triệt thoái, theo lệnh củaTT Nguyễn Văn Thiệu. Thêm vào đó là sự việc Hoa Kỳ cố ý cắt đứt hết viện trợ, trong lúc đồng minh của mình đang dần mòn thoi thóp chiến đấu trong tuyệt vọng, vì cạn kiệt đan súng, nhiên liệu. Do trên, liên tiếp qua nhiều phiên họp tại dinh Độc Lập, Nguyễn Tiến Hưng đề nghị dùng số vàng dự trữ, để mua súng đạn. Song song là việc tăng cường canh gác, bảo vệ trụ sở Ngân Hàng trung ương, tại Bến Chương Dương-Sài Gòn, đề phòng cộng Sản Bắc Việt thừa dịp đánh cướp, vì tin tức các cuộc họp kín, chắc chắn đã bị điệp viên nằm vùng ngay dinh tổng thống, báo về Bắc Bộ Phủ. Và lần này, VC đã xuống tay trước, để chúng không bị hố như hồi tháng 8-1945, để mất toi số vàng bạc châu báu dự trữ, tại Viện phát hành giấy bạc Đông Dương (Institut d’Emission) ở Hà Thành.

Như vậy theo kết quả buổi họp, có đủ các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang... số vàng trên sẽ được gởi ra ngoại quốc. Người nhận chỉ thị thi hành là Lê Quang Uyển, Thống Đốc Ngân Hàng VNCH. Ông có nhiệm vụ thuê mướn may bay chuyên chở (hàng hàng không Mỹ TWA,Pan Am) và hãng bảo hiểm quốc tế Lloyd’s tại Luân Đôn, Anh Quốc. Nhưng kế hoạch bất thành, vì tin mật bị lộ ra ngoài, với sự xuyên tạc đầy ác ý: ‘Thiệu mang 16 tấn vàng theo ra ngoại quốc, sau khi từ chức’. Tin trên khiến các hãng máy bay cũng như công ty bảo hiểm từ chối chuyên chở, vì sợ bị phạm pháp.

Cuối cùng Chính Phủ VNCH phải nhờ Bộ Ngoại Giao Mỹ, qua Đại Sứ Martin giúp. Sự việc kéo dài tới khi TT Thiệu từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế. Ngày 26-4-1975, Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, mới cho biết, đã tìm được một hãng bảo hiểm số vàng trên nhưng giá trị chỉ còn 60.240.000 Mỹ kim, mất đi nữa nếu tính theo thời giá. Riêng việc chuyên chở, cũng phải hoàn tất trước ngày 27-4-1975 vì phi cơ đang đậu sẵn tại phi trường Clark, Manila, Phi Luật Tân, sẵn sàng tới Sài Gòn chuyển vàng.

Nguyễn Văn Hảo bấy giờ là Phó Thủ Tướng, phụ trách kinh tế, được ủy nhiệm thi hành công tác trên. Nhưng Y đoán biết VNCH sẽ thất thủ trong nay mai. Do trên đã manh tâm phản bội, thừa cơ hội lập công dâng cho VC, để mong vinh thân phì gia. Y vào gặp thẳng TT.Trần Văn Hương, hăm đoạ và áp lực đủ điều. Rốt cục Hương vì sợ trách nhiệm, nên đành giao số 16 tấn vàng trên cho Nguyễn Văn Hảo giữ lại, chờ giao nạp cho VC. Nhờ thế, sau ngày 30-4-1975, tên trí thức trở cờ, ăn cơm quốc gia lật lọng, hàm tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, được những người chủ Rừng Xanh, trả ơn cho chức ‘Cố Vấn Kinh Tế’, trong chính phủ Ma Miền Nam. Sau đó không lâu, tiến sĩ giấy cũng theo vận nước, tàn với mặt trận. Rồi cũng như bao kẻ khác, bò tới Mỹ, trốn nhủi tại một vùng nào đó ở TX, ôm hận và xú danh muôn thu ngàn kiếp trong sử Việt.
B- KHẮP THẾ GIỚI THAM NHŨNG-CHẲNG RIÊNG VNCH :

Thì ra không riêng gì VNCH, mà hầu như tất cả các nước trên thế giới, kể cả đại siêu cường Hoa Kỳ, hiện luôn phải đối diện với nạn tham nhũng hoành hành. Nói chung tham nhũng ngày nay không phân biệt giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, đều là mối đại họa, từng làm sụp đổ nhiều chính quyền, đảng phái. Đặc biệt tại VC ngày nay, ngoài việc cướp hết tài sản cả nước, còn công khai bán đất dọc biên giới, nhường biển, chia cắt vùng đánh cá cho Trung Cộng, để vừa có thưởng lại được che chở, bảo vệ cái ngai vàng từ bảy mươi năm qua, xây trên núi xương biển máu.

Tại các nước Nam Á, do nạn tham nhũng bòn rút hằng triệu triệu Mỹ kim, khiến cho nền kinh tế Ấn Độ, Pakistan, Bangadesh... bị điêu đứng, làm hằng trăm triệu người đói chết. Tại Philippine, qua báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới (WB), nạn tham nhũng đã làm thủng một nửa ngân khoản thu nhập của nước này. Cuối cùng ngày 7-12-2000, Tổng thống Phi Estrada, đã bị Thượng viện truất phế và giam giữ chờ đền tội. Tại Thái Lan, theo Ủy Ban Phát Triển Xây Dựng, thì khoảng 10% ngân sách, tức từ 5-8 tỷ đô la, đã lọt vào túi tham quan. Theo cưụ chủ tịch thượng viện Thái là Ruchupan, cho biết chính Hải Quan nước này, mới chính là ổ tham nhũng lớn nhất với 60 tỷ Bath. Riêng nước Indonesia thì càng kinh khiếp, tham nhũng vì chẳng những đã làm cho đảng cầm quyền Golka mất địa vị, mà ngay chính TT Suharto, cũng bị kết tội tham nhũng tới 10 tỷ đô la, mất chức, đền tội. Tiếp tới TT Wahid cũng thân bại danh liệt vì tham nhũng.

Nước Nhật giàu có văn minh, cũng không thoát khỏi nạn tham nhũng tàn phá, mà tai tiếng nhất là sự vỡ nợ gần 1000 tỷ đô la, tiền đầu tư xây dựng tại các Ngân hàng, đã lọt vào tay các băng đảng Mafia Nhật Bản. Đặc biệt nhất là Đại Hàn, hai cựu tổng thống Chu Đô Hoan và Rô The U, cùng nhiều cựu viên chức của chính phủ, cựu chủ tịch tập đoàn Kim Woo Choong của tập đoàn Daewoo, cũng ra tòa vì dính líu tới tham nhũng. Tuy nhiên tất cả các nước trên, nếu so sánh với tệ nạn tham nhũng củaTrung Cộng, thì chẳng nhằm nhò gì. Tính chung từ năm 1990 đổi mới mở cửa, đã có 277.000 vụ tham nhũng lớn nhỏ. Những nhân vật chóp bu tại Bộ Chính trị như Trần Hy Đồng, Thành Khắc Kiệt, Từ Bỉnh Tùng, Dương phương Lâm... là chánh phạm, đại diện chế độ. Ngay tại Mỹ, chính cựu TT Bill Clinton, cũng bị mang tiếng rất nhiều vì tiền bạc khi còn tại chức, nhất là vụ biến Tòa Bạch Ốc, thành khách sạn, để lấy tiền.

http://www.tinparis.net/icone/puce_rs.gif VỤ RỬA 10 TỶ ĐÔ LA CỦA NGA
Tháng 8-1999, cơ quan FBI của Mỹ đã khám phá được một vụ án có liên quan tới chuyện rửa tiền, do mafia Nga và đường dây tội phạm quốc tế chủ xướng. Trong vụ này, cơ quan điều tra đã khẳng định là bọn tội phạm Nga đã lọt được vào cơ cấu tài chánh của Tây Âu. Nhờ vậy, chỉ trong vòng 1 năm từ tháng 3-1998 tới tháng 3-1999, qua Ngân Hàng Âu Châu, Mafia đã chuyển rửa hàng tỷ đô la vào Ngân Hàng Bank Of New York. Do số tiền rửa lên tới 10 tỷ đô la, nên cả TT Clinton và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), cũng phải nghi ngờ, đó là số ngân khoản của chính phủ Nga, đã vay từ Qũy IMF, để hồi phục và cải cách kinh tế NHƯNG chính miệng tổng thống Nga lúc đó là Eltsin phủ nhận và cho rằng tin đồn, chỉ là một âm mưu chính trị.

Tại Mỹ, ngân khoản trên thuộc về công ty Venex do một người Nga có quốc tịch Hoa Kỳ là Peter Berlin làm chủ. Theo báo cáo, chỉ từ tháng 10-1998 tới tháng 3-1999, đã chuyển tiền vào Bank Of New York, gần 4,2 tỷ đôla. Điều lạ, là ngân hàng này không bao giờ báo cáo chuyện chuyển tiền nghi ngờ này, cho cơ quan Bài Trừ Tội Phạm của chính phủ Mỹ. Theo hồ sơ của FBI, giám đốc công ty Venex là Peter Berlin, chỉ là thuộc hạ của Trùm Mafia Nga là Semen Mogilevich. Số tiền rửa gần 10 tỷ đô la, bằng nửa ngân sách của Liên Bang lúc đó. Nội vụ được điều tra và cũng chìm dần vào bóng tối, không thấy báo chí Hoa Kỳ nhắc tới khi Putin lên chức TT Nga.
** CHUYỆN TÀI SẢN CỦA MARCOS **
Trước khi bị hạ bệ vì tham nhũng, TT Philippine là Estrada do lợi nhuận, đã ra lệnh ngưng chiến dịch của chính phủ, đã kéo dài từ 12 năm qua, trong việc di tìm chứng cớ để thu hồi lại kho tàng của Marcos, tích lũy từ những năm làm tổng thống Phi. Do sự cố trên, mà vợ của Marcos là Imelda, không còn phải đóng kịch, trái lại to miệng xác nhận là vợ chồng bà ta đã có một tài sản rất lớn tới vài trăm tỷ, hiện do bằng hữu thân tín, đứng tên giùm. Đã vậy, Imelda còn lớn lối cho biết, đã đệ đơn đòi hợp thức hóa và thu hồi số kho tàng trên. Hành động trên, đã được nhiều quan tòa tại Manila xem đây là trò điên loạn, của một người đàn bà đang dựa vào quyền lực của TT Estrada, để làm sống lại một bi kịch của đất nước, bị bọn sâu bọ đục khoét tận tuyệt.

Mới đây trên tờ The Philippine Daily Inquirer: ’nếu còn đếm được tiền, thì đừng nói là mình giàu‘. Ngoài ra còn công khai cho báo chi biết, mình có cổ phần 12,8 tỷ đô la, đã đầu tư trong các đại công ty lớn của nước Phi như Manila Electric Co, Philippine Airlines và Tập đoàn San Miguel Corp. Tất cả cũng đều do bàn tay cuả TT Estrada tạo thành, vừa để trả ơn cho Imelda cũng như Chủ tịch tập đoàn San Miguel Conjuangco, qua những số tiền to lớn ủng hộ, giúp ông ta thắng cử. Tóm lại, TT Estrada đã lợi dụng quyền lực của mình, đã làm không biết bao nhiêu tội ác, nhỏ là bao che cho tập đoàn bọn nhà giàu trốn thuế, chạy tội ác. Nhưng quan trọng nhất là Y vì lợi nhuận được hứa hẹn chia chác, đã nhắm mắt làm càn, bao che cho tội ác, giúp cho Imelda Marcos công khai, lấy lại kho tàng, mà chồng Y thị đã ăn cắp trong khi làm tổng thống. Cuối cùng Estrada đã đền tội cũng nhu thân bại danh liệt một đời.

http://www.tinparis.net/icone/puce_rs.gif SĂN TÌM HÀNG TỶ ĐÔ LA CỦA BẠO CHÚA NIGÉRIA
Sani Abacha là tổng thống của Nigéria, một quốc gia ở Tây Phi, có nhiều dầu lửa. Trong 5 năm cầm quyền, Abacha gần như là một bạo chúa, độc tài và tham ô, đã vơ vét gần hết tài sản của đất nước, lên tới 5 tỷ đô la. Số tiền tham nhũng trên, bạo chúa đả tẩu tán khắp các ngân hàng phương tây và được bao che can thận.

Ngày 8-6-1998, lúc mới 53 tuổi, Abacha đã bị chết bất đắc kỳ tử, vì dâm dục quá độ. Theo tài liệu Abacha chết vì thượng mã phong, trong lúc hành lạc với ba kỷ nữ người Ấn Độ. Sau đó, Abacha bị dân chúng Nigéria tố cáo vì tội tham nhũng, đánh căp tài sản của đất nước. Tháng 7-1998, Maryam là vợ góa của Abacha, muốn đi cầu nguyện cho chồng tại thánh địa Saudi Arabia. Nhưng cuối cùng Y thị đã bị chận bắt tại phi trường Kano, với 39 valy đầy bạc. Theo báo chí quốc tế, đây là một cuộc săn tìm kho tàng lớn nhất của tên bạo chúa Abacha.

Đây cũng là hậu quả sai lầm của người Mỹ, quen dùng tiền để nuôi dưỡng những tên hôn quân bạo chúa, cúi đầu làm theo ý mình. Tại VNCH, suốt 20 năm chinh chiến, cứ nói là chính quyền bợ đít Mỹ nhưng thật ra, tất cả cũng vì muốn có viện trợ, có súng đạn, có gạo cơm, để chống cuộc xâm lăng của cộng sản đệ tam quốc tế. Thảm kịch tháng 4-1975, Hoa Kỳ bán đứng miền Nam bằng cách cúp viện trợ và VNCH mất nước. Bài học của lịch sử còn đó, chẳng lẽ không làm xúc động và thức tỉnh người Việt Quốc Gia, trước đại họa thiên cổ của Dân Tộc Hồng Lac hay sao?

2. TỪ HỒ CHÍ MINH TỚI NĂM CAM, BẢN CHẤT củaMỘT CHẾ ĐỘ HUNG TÀN

Theo tổ chức phi chính phủ Transparency International, có trụ sở tại Berlin, thủ đô của nước Đức, qua báo cáo cho thấy VN xã nghĩa hiện nay, bị xếp gần mức chót của những nước mang tiếng tham nhũng nhất thế giới hiện nay như Bangadesh, Nigéria, Trung Cộng và thu nhâp bình quân đầu người, dưới Kampuchia chỉ ngang hàng với Lào, là quốc gia coi như nghèo nhất thế giới. Như Peter Eigen, chủ tịch tổ chức trên, thì tham nhũng hiện nay tại Cộng Hòa Xã Nghĩa VN, đã trở thành một đại dịch, không biên giới, không chừa bất cứ một ai, từ những đỉnh cao nhất trong Bộ Chính Đảng VC, cho tới hàng cán bộ thôn xã, kể luôn những thành phần chầu rìa bưng bợ. Nói chung tham nhũng bây giờ, không phân biệt món hàng, đối tượng. Cho nên tại VN ngày nay, những người có quyền trao đổi hay bán buôn tất cả mọi thứ trong tầm tay. Vì vậy, không mấy ai ngạc nhiên thấy đảng VC ngang nhiên đem đất đai biên giới, cũng như hải phận, đảo biển vùng đánh cá của Dân tộc VN, để trao đổi với Trung Cộng lấy lợi nhuận và chỗ dựa cho đảng cũng như địa vị của một vài cá nhân trong chính trị bộ.

Chống tham nhũng hiện nay là quốc sách sinh tử của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới mà điển hình nhất là Trung Cộng, cũng là quốc gia bị tham nhũng hành hạ tận tuyệt. Trái lại tại VN, cái gọi là chánh phủ được cầm đầu bởi những người vốn xuất thân từ giới bần cùng trong xã hội. Cho nên thay vì chịu chết đói, họ đã đi làm giặc, để cách mạng cuộc sống bản thân. Bởi vậy lúc nắm được quyền lực quyền hành, những Nam Cam ngày nay, đâu có khác gì hiện thân của Nguyễn Tất Thành, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Tô Ký, Đồng văn Cống... dựng sự nghiệp bằng cái đấm và sự hung tàn của hành động. Đảng tính chỉ là phương tiện để thực hiện nhưng chính cái chất du côn, coi thường mạng người như lá rụng, tàn nhẫn thà giết oan 3000 người hơn tha lầm 1 mạng sống và ghê gớm nhất là lời tuyên bố của Võ nguyên Giáp: ‘hy sinh vài triệu bộ đội miền Bắc, để đốt rụi dãy Trường Sơn, dọn đường vào cưỡng chiếm miền Nam, thì đảng VC cũng làm’. Đó mới là cứu cánh để VC trở thành Trùm cả nước tới nay.

Nhìn chung, những năm đổi mới tại VN từ 1990 tới nay, chỉ tạo đuợc một nếp sống mới cũng như một giai cấp đỏ giàu có, nổi bật trong hàng hàng lớp lớp phận nghèo khắp nước, chẳng những tại miền quê, xóm biển, vùng sơn cước, hải đảo... mà ngay chính trong lòng các đô thị lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẳng, Cần Thơ, Phan Thiết... Đó cũng là sự mâu thuẫn giữa cái mới lố lăng đước vá viu vội vàng từ cặn bã của nền văn minh thừa mứa Âu Mỹ, và nếp cũ tạp bánh lù, trong nền văn hóa cổ của VN, suốt mấy chục năm qua, bị VC nấu cháo heo, từ chủ nghĩa Mác Lê vô thần và tư tưởng Hồ Ly Tinh lượm nhặt khắp các hè phố, bến tàu, trên mọi nẻo đường tha phương cầu thực. Nói chung đổi mới từ những con số tăng trưởng trong việc xuất khẩu gạo, nông phẩm, hải sản, dầu khí và người, để đảng trao đổi, bán chát, làm giàu. Đổi mới cũng được tính bằng số lượng tỷ triệu phú VN trong giới mafia đỏ, hiện có mặt khắp các ngân hàng thế giới

Nói chung nhờ đổi mới, mà người VN đã có mặt khắp mọi nẻo đường, trong các động đĩ tại Kampuchia, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, Hải Nam. Nhờ đổi mới mà phụ nữ VN bị bán làm vợ hờ rất nhiều tại Vân Nam, Quảng Tây, Đài Loan và thảm nhất là việc người phụ nữ VN bị triển lãm chung với thú vật, trong hồ cá tại Tân Gia Ba, để gạ bán rẻ rúng còn hơn giá trị của hàng gại gọi tính bằng phút của Mỹ. Làm công ở đợ cho Đại Hàn, Mã Lai và ngon nhất là con cái cán bộ đảng, du học trên giấy tờ nhưng thực tế là ra nước ngoài mua chồng tậu vợ, chuẩn bị mái ấm, chuyển rửa bạc vàng, lo cho cái ngày đổi đời sắp kế, im re, không sợ bị ai trả thù. Riêng đồng bào cả nước, đổi mới cũng là đổi đời lần nữa, sạch nhà sạch đất vì các lần theo đảng nuôi tôm, nuôi cá, trồng cao su, cà phê, nuôi gà... rốt cục món nào cũng sạch tiệm, vì không ai tắm hai lần trong một dòng nước, nên đâu gạt được ai nhiều lần.

Trong nước, từ khi cải cách và đổi mới, đã có một luồng gió mới từ phương tây thổi vào làm sống dậy một nền kinh tế, đã say ngủ giấc cô miên trong vũng bùn xã nghĩa từ mấy chục năm qua nhưng đồng thời cũng đã làm băng hoại truyền thống tư tưởng quốc gia dân tộc, đã ngự trị trong tư tưởng và tâm hồn người Viêt, suốt mấy ngàn năm qua.

Những năm gần đây, do đảng và nhà nước, nhắm mắt chạy theo lợi nhuận, kiếm tiền bỏ túi, bừa bãi cấp giấy phép hay cho nhập lậu thực phẩm, đồ uống từ Trung Cộng, thiếu vệ sinh, được tạo từ những hợp chất hóa học, gây cho con người nhiều bênh nan y, trầm kha như ung thư, sinh non, dị tật... khiến cho nhiều người phải thảng thốt, tự hỏi đến bao giờ VC mới chấp nhận sự thật, để cứu mạng người?

Theo dư luận quốc tế cũng như người trong nước, tất cả đều biết tham nhũng ngày nay là một đại họa của dân tộc VN, không ai chế ngự nổi, trừ phi đập tan cái chế độ cũ, để thay vào đó một xã hội mới có công pháp và nhân tính. Dù hằng ngày, ai cũng nghe bộ máy tuyên truyền củađảng, không ngớt lên án, tố cáo, đưa ra tòa, thậm chí còn xử bắn những kẻ bị tội tham nhũng. Mặt thật đó chỉ là tuồng hát ‘đem dê tế thần’, trét phấn bôi son’ vào cái thần tượng của đảng VC, đả bị mục rữa bao năm, che lấp những tội lỗi hại dân bán nước, ức hiếp tầng lớp người nghèo khắp nước hiện nay. Nói như Lý Quang Diệu, thì tham nhũng ngày nay tại VN, không còn thuộc phạm trù về mặt đạo đức, nghĩa là không ai còn phải sợ xấu hổ về hành vi tham nhũng của mình. Trái lại người ta còn công khai khoe thành tích, bởi vì cả nước ai cũng giống nhau, cán bộ thường thì đầy túi, cán bộ có chức, địa vị thì tham nhũng theo chức địa vị..

Tất cả cũng đều do độc quyền độc đảng, lạm quyền và tham nhũng tràn lan, không cần hậu quả. Tại VN, đãng là thần linh tối cao, đứng ngoài pháp luật và lãnh đạo truyền thông báo chí, nên đảng viên lớn nhỏ, còn sợ gì ai, mà không dám tham nhũng? Người dân sống trong xã nghĩa thiên đàng, vì muốn yên thân để sống, nên chỉ còn một cách là đi cửa hậu, bắt giò và chung tiền cho cửa quyền. Nói chung VN ngày nay chống tham nhũng một mất một còn, như đảng đã chống diễn biến hòa bình nhưng đến nay chỉ mới thấy có Năm Cam và băng đảng cùng một ít cán thấp đem ra làm vật bung xung thế thôi, khiến cho trời có mắt cũng phải nhắm lại, kẻo bị đâm mù.

Nhiều câu chuyện tham nhũng làm rơi nước mắt người đọc, như vụ mới xảy tai nghĩa trang VC ở Quảng Bình, san bằng mộ thật của người chết, để lấy ngân khoản làm ma giả và mua quan tài. Tất cả chỉ có tiền, không cần biết đó là đê điền, kinh đập, cầu cống, kể cả nhà máy điện nguyên tử, xưởng lọc dầu... những nhu cầu cấp thiết, nếu cẩu thả sẽ đưa tới những đại họa cho đồng bào. Thế nhưng ngày thứ bảy 17-8-2002, tổng thanh tra nhà nước cho biết, chỉ mới ghé mắt vào 20 dự án, trong số 427 công trình, thuộc 57 tỉnh, đã khám phá ra cán bộ đảng, đã nuốt tài sản củađồng bào, hơn 4,691 tỉ đồng, tương đương khoảng 305 triêu đô la. Cho nên những vụ cầu hầm chui Văn Thánh 2 ở Sài Gòn bị sập vào tháng 7-2002 hay vụ Đập ngăn nước Hàm Thuận-Bình Thuận, chưa bàn giao đã bể..chỉ là chuyện nhỏ, đối với vấn đề tiền triệu kiếm được ở các mỏ dầu hay qua công trình xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất-Quảng Ngãi.

Kiểm tra, thanh tra, báo cáo ghê gớm như vậy nhưng rồi đâu cũng vào đó, vì bức giây động rừng, thanh tra đúng mức, sẽ lòi ra tất cả bê bối và những số tiền khổng lồ, thuộc ngân quỹ nhà nước hay tiền viên trợ, từ năm này sang năm khác, đã là một đại dịch tàn khốc, không bút mực nào ghi cho trọn vẹn. Riêng đời sống của người dân, từ nghề biển, trang trại cho tới ruộng đồng, ngoài thuế má ngập đầu phải đóng cho nhà nước, còn phải điêu đứng khổ sở vì vật giá leo thang. Trong lúc đồng lương cố định, giá thành sản phẩm tuỳ tiên qua sự định đoạt của đảng, khiến cho đồng bào ngày nay, làm thì mệt mà cái ăn không biết ở đâu mà mò.

Cá, tôm, cà phê xuất khẩu lận đận lao đao tại thị trường Mỹ, chưa giải quyết xong, thì mới đây lại khám phá đường dây, bắt giò quota dệt may, làm cho Hoa Kỳ vốn đã mất niềm tin về VN, lại càng có cớ kiếm chuyên, gây thêm khổ cho đồng bào.

Lạ nhất là không thấy trí thức khoa bảng nói gì.

Ngày 1-7-2004, Việt gian CSVN tuyên bố Việt Kiều hải ngoại đã gởi về nước gần 2,7 tỷ đô la. Số tiền trên tuy to nhưng cũng vẫn là riêng tư của thân nhân họ và thành phần may mắn này cũng chỉ là thiểu số, giống như hạng con ông cháu cha bác đảng. Trong lúc đó, gần như cả nước ngày nay từ nam tới bắc, đầy rẩy triệu triệu nhà nông ngoài đồng, trên nắng mưa, dưới đĩa mòng, vậy mà thu nhập cả tháng có là bao. Người làm biển Bình Thuận ngày nay, hải sản khô hạn, muốn câu mực phải ra tận đảo Phú Quý, cách bờ Phan Thiết hơn 100 hải lý. Còn cá, tôm, mon ngon thứ lạ, thì phải sắm tàu to, máy lớn, để tới Trường Sa mới có.

Còn mấy ai biết tới những bà già còm cõi, mà ngày ngày phải buôn gánh bán bưng, moi bao bì rác rưởi, để bán ký mà sống. Có ai biết tới cảnh đoạn trường của những cô gái quê, gái biển, bỏ nhà lên tỉnh làm điếm giúp cha mẹ già, mặc cho tấm thân vàng ngọc bị dầy vò trong nỗi mưa gió cuộc đời. Có những đứa trẻ bơ vơ không nhà cửa, hành khất, trộm cướp, hút sách... để mà sống... Hỡi ơi tất cả những bi kịch đời hôm nay, do ai gây ra, lại bắt đồng bào VN vô tội gánh chịu?

Thế giới ngày nay đã mỏi mệt quá rồi về những câu chuyện nhân đạo, có liên quan tới VN, ngoài sự tới đó để kiếm ăn, chia phần. Riêng người trong nước cũng quá mệt mỏi vì miếng ăn cái mặc, còn nước mắt đâu mà khóc cho thân phân mình. Bởi vậy nay đã đến lúc mọi người phải đoàn kết thực sự, chứ không phải bằng miệng.

‘Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng nước’ nhưng cảnh đổi đời lần nữa tại VN, chắc chắn phải có. Lần này do đồng bào quyết định bằng trái tim và linh hồn, chứ không phải như những bóng ma trơi, trước ngày 30-4-1975, mang tiếng là trí thức nhưng thật ra chỉ là những kẻ bội bạc, ăn cơm quốc gia, làm đầy tớ cho giặc. Rốt cục chỉ vì một chút hư danh hẻo, mà làm cầu rước VC qua sông, gây thảm kịch đoạn trường, cho cả một dân tộc.
Cái lạ của những tượng đá vô tri này, là đến nay vẫn sống trên mây và cứ ngỡ mình còn là những kẻ danh giá như khi chưa bị đời lột mặt nạ.


Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Hồ Đinh

Xóm Cồn 4-2005

Khi giả thuyết đã trở thành sự thật !

Ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội (QH) vừa viết bài „Bàn về phân công quyền lực nhà nước“ đăng trên Tuần VN điện tử ngày 21.8, một tờ báo của Bộ Thông tin và Truyền thông. Ông An đã viết bài này vào dịp kỉ niệm 64 năm „Cách mạng tháng 8“ dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Nhưng mục tiêu chính có lẽ ông An nhắm tới Đại hội 11(ĐH) của ĐCSVN sẽ diễn ra vào tháng 1.2011 và hiện nay không khí chuẩn bị đang rất xôi động trong nhiều giới, cả trong nội bộ đảng cũng như ngoài xã hội. Ai ở, ai đi tại những cơ quan trung ương trong Đảng và Nhà nước, nhất là các ghế hái ra tiền, đang được chạy đua và giành giật. Cho nên đây là một vấn đề rất thời sự mà còn rất quan trọng không chỉ cho ĐCSVN mà cho cả nước!

Trước khi bàn về nội dung và ẩn ý bài của Nguyễn Văn An, thiết tưởng cần biết qua tiểu sử của ông. Ông An đã được bầu làm Ủy viên (UV) chính thức trong Trung ương Đảng (TUĐ) từ Khóa 6 (1986), rồi nhẩy lên Bộ chính trị (BCT) từ Khóa 8 (1996), cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng và chế độ; nhiều năm làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, tức là cơ quan cao nhất của đảng phụ trách công tác đào luyện, tuyển chọn và tiến cử các cán bộ chủ chốt vào những chức vụ then chốt cho Đảng, Chính phủ và QH. Trong Khóa 9 (2001) Nguyễn Văn An được tiếp tục bầu vào BCT, sau đó được BCT cử làm Chủ tịch QH (2001-2006). Như vậy qua nhiều năm đảm nhận những chức vụ quan trọng ở cấp cao nhất, cho nên ông An tất phải biết rõ nguyên tắc tổ chức và cách vận hành của cơ chế quyền lực của chế độ ở các cấp cao nhất từ trong Đảng (như BCT, Ban Bí Thư, TUĐ và các Ban TU), tới Chính phủ (CP) và QH. Do đó, những nhận định của ông trong bài „Bàn về phân công quyền lực nhà nước“ phải coi là cách rút kinh nghiệm của chính bản thân về lí thuyết, thực tiễn và hậu quả của việc phân công quyền lực giữa Đảng với Nhà nước. Từ Nhà nước hiểu theo ngôn ngữ của chế độ này bao gồm: Hội đồng Nhà nước (nay thường gọi Chủ tịch nước), QH và CP, Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao (VKSNDTC), tức Công tố viện.


Khi giả thuyết đã trở thành sự thực
Trong bài trên Nguyễn Văn An đã trình bày ba lãnh vực: Thần linh pháp quyền, Đảng làm thay hậu quả sẽ khôn lường, Phân công rành mạch. Trong phần „Đảng làm thay hậu quả sẽ khôn lường“ ông An đã đưa ra một „giả thiết“ về một trường hợp xấu nhất cho đất nước khi ban lãnh đạo Đảng „trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước“. Trong trường hợp đó ông khẳng định là ban lãnh đạo Đảng đã „làm… trái Hiến pháp“. Dưới đây là nguyên văn giả thiết và kết luận của ông An:
„Nếu cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước thì điều gì sẽ xẩy ra? Đây là một câu hỏi mang tính chất của một giả thiết, để thử phân tích hậu quả khi chức năng quản lý nhà nước bị vi phạm.
Trong trường hợp chủ trương lãnh đạo của Đảng chưa được luật hóa, và Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước, thì Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước.
Trước tiên, việc làm như giả thiết nêu trên là trái với Hiến pháp, vì tại Điều 4 Hiến pháp đã ghi rằng ... Đảng ...là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, chứ không ghi Đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước. Chúng ta đều biết rằng, lãnh đạo là chức năng của Đảng, còn chỉ đạo và quản lý là chức năng của nhà nước, cho nên không thể lẫn lộn hai chức năng đó được.“
Nếu căn cứ vào giả thiết và kết luận rất rõ ràng trên của Nguyễn Văn An để đối chiếu với cách lãnh đạo và chỉ đạo của cấp đứng đầu Đảng đang diễn ra một cách thực tế đã làm cho nhiều giới rất quan tâm, nhất là những người quan sát tìm hiểu chế độ này.
Thực vậy, căn cứ vào hiện trạng xã hội VN từ khi ĐCSVN cầm quyền trong 64 năm xuyên qua nhiều lãnh vực từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, pháp luật, giáo dục, báo chí tới tôn giáo…thì những điều ông An mới chỉ cho là „giả thiết“, nhưng quả thực đã là một hiện thực trong suốt trên 60 năm qua. Trong đó „cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước“. Vì các „chủ trương lãnh đạo của Đảng chưa được luật hóa, và Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước“. Như vậy, vẫn theo lí luận trên đây của Nguyễn Văn An „thì Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước.“ Nghĩa là trong mấy thập kỉ qua những người lãnh đạo Đảng đã „làm… trái Hiến pháp“.
Thí dụ chứng minh mới nhất và đang trở thành một đề tài rất bức xúc và nóng bỏng là vấn đề ngoại giao, quốc phòng, kinh tế và môi trường trong việc để cho Bắc kinh khai thác bauxit ở Tây nguyên. Trong đó QH chưa có một lần nào được hỏi ý kiến và QH cũng chưa có biểu quyết, mặc dầu theo Hiến pháp 1992 thì QH là cơ quan quyền lực cao nhất của nước!
Việc khai thác bauxit mới được ghi một cách rất tổng quát trong Báo cáo chính trị của ĐCSVN tại ĐH 10 (2006). Nhưng trước áp lực của Bắc kinh (BK) muốn chiếm lãnh và khai thác tài nguyên VN để đưa Trung quốc sớm trở thành cường quốc kinh tế, nên Nông Đức Mạnh, người đứng đầu ĐCSVN, đã thỏa thuận riêng với Hồ Cẩm Đào khi thăm Trung quốc 5.08. Mặc dầu cho tới thời điểm đó việc này chưa được bàn trong QH lẫn Chính phủ. Vài tháng sau đó Nguyễn Tấn Dũng, người cầm đầu chính phủ, cũng tới BK phải làm công tác thông qua quyết định đã xong giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cầm Đào. Từ cuối năm 2008 nhiều giới am tường những thiệt hại về kinh tế, môi trường và nguy hiểm về an ninh quốc phòng cho VN đã lên tiếng công khai phê bình quyết định vi Hiến của Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng. Việc này khẩn thiết và nguy hại đến nỗi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một đại công thần cuối cùng còn sống của chế độ, dù gần 100 tuổi cũng đã phải ba lần công khai lên tiếng phản đối và đòi hủy bỏ quyết định sai trái và cực kì nguy hiểm này. Nhiều sĩ quan cao cấp, lão thành cách mạng (LTCM) và hàng ngàn nhà khoa học và nhân sĩ cũng đã công khai lên tiếng chống lại việc làm sai trái Hiến pháp này.
Trước tình thế bất đắc dĩ, những người cầm đầu đảng đã phải đưa ra QH trong kì họp thứ 5 vào cuối tháng 5 vừa qua. Nhưng trong buổi điều trần vào giữa tháng 6, đại diện chính phủ là UV BCT Phó TT Thứ nhất Nguyễn Sinh Hùng chỉ thông tin lấy lệ cho QH và còn tìm cách lấp liếm, ngụy biện một việc làm đã xong. Tuy thế, một số đại biểu đã lên tiếng phản đối, nhưng chưa có một cuộc biểu quyết toàn thể và công khai trong QH. Thế nhưng khi kết thúc cuộc họp của QH (giữa 6.09) Nguyễn Phú Trọng, UV BCT, Chủ tịch QH- người được coi là có quyền hành rất lớn và thần phục Bắc kinh, đã dối trá nói rất trắng trợn là: „Qua theo dõi, tôi có một cảm nhận là các ý kiến đều nói đồng ý về chủ trương và tán thành với kết luận của Bộ Chính trị“ việc để cho BK khai thác bauxit ở Tây nguyên. Ba ông Mạnh, Dũng và Trọng đều là Ủy viên trong BCT, cơ quan lãnh đạo của ĐCSVN, và đều giữ trọng trách đứng đầu Đảng, chính phủ và QH. Như vậy thật là rõ ràng, trong quyết định để cho BK khai thác bauxit ở Tây nguyên, ba nhân vật này không chỉ làm công tác lãnh đạo mà còn làm cả công tác chỉ đạo trực tiếp trong các cơ quan nhà nước! Chính phủ và QH chỉ là người thừa hành, tay sai của Đảng. Nói cho đúng ra các cơ quan nhà nước chỉ thi hành chỉ thị của một số người có quyền lực trong BCT mà thôi. Nhân dân hoàn toàn không được hỏi ý kiến. Những phản biện của Tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều nhà khoa học và nhân sĩ có uy tín hoàn toàn không được xét tới!
Như vậy thật là hết sức rõ ràng, nếu theo lí luận trên của cựu Chủ tịch QH Nguyễn Văn An, thì trong việc để cho Bắc kinh khai thác bauxit ở Tây nguyên mới chỉ là một „ chủ trương lãnh đạo của Đảng“, nhưng tới nay „chưa được luật hóa“. Mặc dầu vậy, những người cầm đấu Đảng đã vẫn ngang nhiên „trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước“. Như thế, vẫn theo lí luận trong bài trên của ông An thì Đảng CSVN –mà ở đây chính là một vài người có quyền lực nhất đã hống hách và chuyên quyền „tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước.„ Cũng vẫn theo lí luận của ông An thì những người này hiển nhiên đã „làm… trái Hiến pháp“. Như vậy là họ đã chống và vi phạm luật pháp cao nhất của nước. Đây là một tội lớn nhất, nhưng những người này tới nay chẳng hề hấn gì, vẫn tiếp tục lãnh đạo và chỉ đạo! Chẳng những thế họ còn đang ra tay bôi nhọ và bắt giam những ai lên tiếng tố cáo những hành động chà đạp pháp luật của họ!
Một dẫn chứng khác liên quan tới việc vi phạm phân công rất trắng trợn trong lãnh vực luật pháp giữa Đảng và Nhà nước. Trong vụ tham nhũng PMU 18 mà Tướng Giáp trong thư gởi cho BCT đầu năm 2006 đã gọi là „vụ tham nhũng cực kì nghiêm trọng“. Trong đó nhiều nhân vật trong TUĐ, bộ trưởng Giao thông vận tải đã toa rập với các nhà thầu rút ruột hàng ngàn tỉ đồng tài sản của nhân dân trong các công trình xây dựng. Báo chí trong nước đã cho biết cả con rể của Nông Đức Mạnh cũng dính líu. Khi ấy các cơ quan như Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao và nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã xác nhận việc này. Chính ông Khải đã cách chức bộ trưởng Giao thông và Viện KSNDTC đã cho bắt giam Thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến. Một vụ tham nhũng cực kì nghiêm trọng như thế nhưng đã không được thảo luận công khai trong ĐH 10, mặc dầu Tướng Giáp, nhiều LTCM và đảng viên đã công khai đòi hỏi. Không những thế, sau ĐH 10 Nguyễn Việt Tiến còn được tha, nhưng một số cán bộ công an điều tra vụ này và một số nhà báo tố cáo tham nhũng đã bị đưa ra tòa. Nghĩa là trong vụ tham nhũng cực kì nghiệm trọng này, những người có quyền lực trong BCT thấy nguy hiểm cho an ninh và địa vị của họ, thì họ đã lợi dụng quyền hành, sử dụng không từ mọi thủ đoạn nham hiểm cho tới đê tiện nhất để biến chuyện con voi thành con kiến, biến có thành không, biến đen thành trắng; người có tội thì được tha và người tố cáo và điều tra thì lại bị tù tội. Đúng như nguyên UV TUĐ và Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Hiện đã từng cho biết, Tòa án nhân dân xử thế nào cũng được! Như vậy trong vụ tham nhũng cực kì nghiêm trọng PMU 18 đã cho thấy, cả một hệ thống đã thối nát ngay từ nóc trở xuống. Vì quyền lợi cá nhân, gia đình và vây cánh, cho nên những người lãnh đạo đảng ở trong Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo trực tiếp và hết sức trắng trợn để bẻ gẫy Điều lệ Đảng, đạp lên pháp luật do chính họ làm ra để củng cố quyền hành! Chẳng thế mà Nông Đức Mạnh đã vẫn nắm tiếp tục chiếc ghế Tổng bí thư, hiện nay còn kiêm cả „Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM“ và thường không ngượng miệng rao giảng đạo đức là "Học Bác là nói đi đôi với làm"!
Cả vụ việc Tổng cục II và T4 mà Tướng Giáp và nhiều cựu UV BCT đã phải xác nhận đó là “Vụ án chính trị siêu nghiêm trọng” cũng là một bằng chứng cho thấy một số người lãnh đạo Đảng đã biến cơ quan của Nhà nước thành tay sai phục vụ ý đồ riêng. Khi nắm chức Bộ trưởng Quốc phòng từ cuối thập niên 80 của Thế kỉ trước, rồi sau đó nhẩy lên làm Chủ tịch Nước, Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên BCT, đã biến Tổng cục II trở thành một bộ phận tình báo cho riêng cá nhân và vây cánh nhằm triệt hạ các đối thủ chính trị ngay trong TUĐ và BCT –trong đó nhiều người có công lớn với chế độ- Trong các vụ việc này Lê Đức Anh, do các động lực cá nhân và vây cánh, kể cả liên hệ với BK, bằng những thủ đoạn quỉ quyệt và vô đạo đức nhất đã đạp lên kỉ cương của Đảng và pháp luật của nhà nước. Khiến cho dư luận đã phải kết luận là cơ quan này đã trở thành siêu chính phủ, đứng trên chính phủ. Nhiều LTCM và cả Tướng Giáp đã viết thư công khai tới BCT và TUĐ đòi phải đưa ra xét xử nghiêm minh. Nhưng cả hơn chục năm nay vụ này vẫn im lìm và Tổng cục II vẫn tiếp tục lộng quyền. Ở đây không chỉ phép nước đã bị gẫy, mà cả luật pháp Nhà nước, kỉ cương điều lệ của Đảng cũng đã bị một vài người có thế lực vứt vào sọt rác! Những vụ việc này ông An phải biết, vì khi đó ông đang giữ các chức vụ then chốt trong Ban Tổ chức Trung ương, hoặc trong BCT và Chủ tịch QH.
Trong khi đó, gần đây theo lời hứa của những người cầm đầu chế độ cũng như được Hiến pháp và luật pháp nhìn nhận, nhiều người dân –đặc biệt là các nhà khoa học, nhân sĩ và giới trẻ- làm phận sự phản biện, tố cáo những sai lầm của chế độ, tham nhũng của một số nhân vật thì liền bị chụp mũ là „chống chế độ, nói xấu lãnh đạo, phá hoại đoàn kết, cấu kết với bên ngoài“….Họ để cho công an mật vụ tổ chức các vụ đấu tố, hay cho công an làm du côn đánh đập nhân dân. Người cầm đầu cơ quan tư tưởng, UV BCT Tô Huy Rứa, thì ra lệnh bịt miệng báo chí, bắt báo chí chỉ được phép tô hồng những việc gì họ muốn và tô đen những ai họ ghét. Nhiều người dân chủ đã còn bị bỏ tù. Gần đây một số trí thức trẻ không chỉ bị bắt mà còn bị nhục mạ bằng cách ép buộc nhận tội và xin khoan hồng. Những hành động bạo ngược và phạm pháp này đã được họ giao cho công an mật vụ, một công cụ tàn nhẫn khát máu của chế độ, dựng đứng lên và thổi phồng rồi để cho đài và báo dưới quyền tự do xuyên tạc và chụp mũ những người trẻ chính vào dịp kỉ niệm „Cách mạng Tháng 8“ để đánh lạc dư luận bất mãn của nhân dân trước vụ bauxit Tây nguyên và sự nhu nhược, đầu hàng của những người cầm đầu ĐCSVN trước những đòi hỏi hống hách và ngang ngược về biển Đông của Bắc kinh. Họ đang hâm nóng vụ này và mở rộng cuộc đàn áp những người dân chủ để hi vọng giữ ghế chia phần trong ĐH 11 vào đầu tháng 1.2011. Cần để ý rằng, không chỉ bắt người trái luật pháp mà họ còn cho sử dụng cả các hành động nhục mạ danh dự và chụp mũ cho những người trẻ vừa bị bắt. Mặc dầu chế độ này đã hết kí Công ước Quốc tế về chính trị, kinh tế và nhân quyền, cấm tra tấn và nhục mạ tù nhân… và mặc dầu trong Hiến pháp 1992 cũng nhìn nhận các quyền công dân căn bản !
Nếu liệt kê những vụ việc mà những người cầm đầu Đảng và Nhà nước trong suốt 64 năm qua đã giết hại, đàn áp nhân dân vô cùng tàn bạo bất chấp kỉ luật Đảng, luật pháp và đạo đức lương tri thì không thể nào tưởng tượng được: Hàng trăm ngàn nông dân đã bị đấu tố, trả thù và giết hại trong phong trào Cải cách Ruộng đất giữa thập niên 50 của Thế kỉ trước; cuộc đàn áp thô bỉ và tàn bạo các trí thức và những văn nghệ sĩ thời kì Nhân văn Giai phẩm cũng vào cuối thập niên 50; cuộc đàn áp và thanh trừng nhiều cán bộ và sĩ quan cao cấp trong vụ án „xét lại chống đảng“ trong thập niên 60. Sau khi chiếm được miền Nam bằng bạo lực thì những người cầm đảng Đảng lúc đó đã nuốt lời hứa với nhân dân VN và thế giới, thay vì hòa giải dân tộc, họ đã bắt mấy trăm ngàn binh sĩ, công chức, trí thức, tu sĩ và những người hoạt động chính trị miền Nam giam cầm nhiều năm trong các „Trại cải tạo“. Tịch thu toàn bộ các xí nghiệp, công ti của tư nhân và đẩy hàng trăm ngàn „tư sản mại bản“ về những vùng „kinh tế mới“ trong những khu rừng thiêng nước độc. Do các chính sách kì thị và cực đoan đàn áp chính trị, tôn giáo khiến mấy triệu dân miền Nam đã phải bỏ nước ra đi tìm tự do bằng những chiếc thuyền mong manh. Hàng trăm ngàn người đã bỏ mình ngoài khơi. Cuộc di cư của hàng triệu thuyền nhân VN đã làm chấn động lương tâm nhân loại. Trong khi đó những người cầm đầu Đảng không chỉ lặng thinh mà còn để cho cán bộ và chính quyền nhiều địa phương bắt các thuyền nhân phải nộp vàng, bạc, tiền và các tài sản khác!
Đây là những chứng cớ rất rõ ràng liên tiếp diễn ra trên 60 năm qua, đại đa số đảng viên và nhân dân ai cũng biết, trong đó bao nhiêu triệu người đã từng là nạn nhân ! Nó cho thấy, một số người có quyền lực ở trong Đảng, vì lợi ích riêng, vì tham quyền-tiền đã chỉ đạo trực tiếp các cơ quan của Chính phủ, của Viện KSNDTC và TANDTC phải có những quyết định có lợi cho họ, trong đó không đếm xỉa gì tới Điều lệ Đảng, luật pháp Nhà nước và đạo đức cũng như luân lí của xã hội!

Nguyên nhân từ đâu mà có
Tất cả những vụ việc như khinh thường kỉ luật Đảng, luật pháp Nhà nước và thái độ ngạo mạn trên đây của một số người có quyền lực lớn nhất trong ĐCSVN từng thời kì không phải chỉ một lần mà là đã lập đi lập lại thường xuyên và trường kì diễn ra trong trên 60 năm qua ở VN trong chế độ độc đảng.
Vì thế, hai câu hỏi xuyên suốt nhất và quan trọng nhất phải được nêu ra là, có thể chờ đợi một chế độ độc đảng có sự phân công rành mạch và minh bạch được không? Có thể chờ đợi những người ở cấp lãnh đạo trong một chế độ độc đảng biết tôn trọng pháp luật và đạo lí được không?
Trong tất cả chế độ độc đảng từ cựu Liên xô tới các nước CS Đông Âu trước đây, Trung quốc, Bắc Hàn và VN hiện nay đều có một căn bệnh chung rất kinh niên là sự phân công quyền lực giữa ĐCS và Nhà nước chỉ có trên giấy tờ chứ hoàn toàn không có trên thực tế. Những người cầm đầu các chế độ toàn trị này luôn luôn lợi dụng, lạm dụng quyền lực để củng cố địa vị và tiền bạc cho bản thân, vây cánh. Nếu một khi thấy nguy hiểm cho an ninh và địa vị của họ thì họ sẵn sàng dùng tất cả các phương tiện để triệt tiêu, ám hại những ai có thể gây nguy hiểm, đồng thời tìm cách ém nhẹm các tội ác; không những thế, còn bắt các cơ quan thông tin báo chí dưới quyền đưa tin và viết bài ca tụng „sự lãnh đạo sáng suốt“ hay „lòng nhân đạo“ cũa họ nữa!
Ông An có thấy một ngoại lệ nào không thì xin chỉ giáo, ngay cả trong thời gian ông là Ủy viên BCT và Chủ tịch QH?
Sở dĩ một sự phân công rành mạch và minh bạch đã không có và sẽ không thể có trong một chế độ độc đảng, bởi vì quy luật quyền lực từ cổ chí kim, từ đông sang tây đã chứng minh là: Quyền lực có mãnh lực rất mạnh, ai có quyền lực cũng đều muốn đòi hỏi có nhiều hơn và sẵn sàng đạp bỏ mọi thứ từ luật pháp tới đạo lí để đạt được độc quyền! Chính các chế độ độc quyền cá nhân (của các triều đại phong kiến trước đây) và các chế độ độc đảng hiện nay là mụ đỡ và kẻ che chở của những tên độc tài, là nguồn gốc để cho những ung nhọt tàn bạo, bất công và thối nát nhất trong xã hội tự do sinh sôi nẩy nở !
Trở lại trường hợp của VN hiện nay dưới chế độ độc đảng, chúng ta thấy có những đặc điểm nào?
Xuyên suốt từ khi cướp được chính quyền cho tới nay đã 64 năm, cơ quan lãnh đạo có quyền hành cao nhất trong ĐCSVN không phải là Trung ương đảng như ghi trong Điều lệ Đảng, mà là BCT. Nhưng thực tế, ngay trong BCT trong mỗi thời kì không phải tất cả mười mấy người trong BCT đều có quyền hành, mà thực ra chỉ một vài người có thế lực nhất đã lèo lái, bao biện mọi việc từ trong Đảng tới Nhà nước.

Cách tổ chức và vận hành quyền lực trong Đảng, Nhà nước của chế độ CSVN có những đặc điểm sau đây: Từ trước tới nay các Chủ tịch nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng, Chánh án TANDTC và Viện trưởng Viện KSNDTC hầu như chỉ do các Ủy viên BCT, Ban Bí thư hoặc TUĐ đảm nhiệm. Theo Điều lệ của ĐCSVN thì các đảng viên phải trung thành tuyệt đối với Đảng và người lãnh đạo. Ở cấp cao nhất thì hoạt động theo nguyên tắc „tập trung dân chủ“, mà thực tế là chỉ một vài người có thế lực nhất bao biện tất cả. Nghĩa là đa số các Ủy viên BCT chỉ chạy theo, làm theo mà thôi. Chính sự hoạt động mất dân chủ này ở ngay trong cơ quan cao nhất của Đảng đã bị cố Ủy viên BCT và TT Võ Văn Kiệt đã nhiều lần xác nhận trong các thư gởi cho các đồng nghiệp của ông khi ông còn làm TT cũng như khi không còn giữ chức vụ gì trong Đảng. Ông Kiệt đã kết án gay gắt cách tổ chức và điều hành phản dân chủ này, đồng thời yêu cầu hủy bỏ lề lối vừa đá bóng vừa thổi còi này. Nhưng các người có quyền hành không thèm để ý tới những đòi hỏi này.

Chính vì thế, đòi hỏi của Ông An là phải có sự „phân công rành mạch“ giữa Đảng với các cơ quan Nhà nước cũng chưa hề có, như các chứng minh trên đây. Trong thực tế, sự phân công trong chế độ toàn trị hiện nay ở VN không phải là sự phân công giữa các cơ quan độc lập và bình đẳng (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp) như trong một thể chế Dân chủ Đa nguyên (DCĐN), mà chỉ là sự phân công về mặt nhân sự giữa một số ủy viên BCT của một đảng duy nhất. Chính điều này Ủy viên BCT và Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng đã từng nói trong nhiều dịp khác nhau. Các nhân vật trong cùng một đảng tất phải chấp nhận một kỉ luật chung và nguyên tắc lãnh đạo chung của đảng mình, điều này lại càng cứng rắn hơn nữa trong chế độ độc đảng. Từ đó, theo qui luật của quyền lực, tất nhiên dẫn tới lạm dụng quyền hành của một số người có quyền lực lớn nhất !
Trong thực tế ở các nước theo chế độ độc đảng như hiện nay ở VN, sự phân công quyền lực chỉ giới hạn trong tay một vài người có quyền lực mạnh nhất trong BCT (chứ không phải tất cả các Ủy viên trong BCT). Cho nên họ thường lấn át và bao thầu tất cả mọi hoạt động trong Đảng, Chính phủ và Quốc hội. Qui luật lấn chiếm địa bàn của những người có quyền lực và qui luật ngậm miệng của đại đa số là một đặc điểm chung của các chế độ độc tài! Sự phân công giữa một vài nhân vật có quyền lực lớn nhất của một đảng độc quyền không thể lẫn lộn với sự phân công quyền lực giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp trong một xã hội DCĐN được, vì nền tảng triết lí, nguyên tắc tổ chức và điều hành giữa hai chế độ độc đảng và DCĐN hoàn toàn khác nhau như trắng với đen. Vì thế, những đòi hỏi hay chờ đợi của ông An là phải có sự „phân công rành mạch“ giữa Đảng và Nhà nước trong chế độ độc đảng như ở VN hiện nay là hoàn toàn không tưởng !
Rút kinh nghiệm tai hại của các chế độ độc tài, nên nền tảng triết lí của thể chế DCĐN là phủ nhận, chống đối và ngăn cấm sự độc quyền của một cá nhân hay của một đảng. Cho nên trong các chế độ này sự phân công của ba quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp là độc lập và bình đẳng; quyền này không được phép xâm phạm vào quyền kia. Nếu xẩy ra những trường hợp như vậy thì sẽ bị các cơ quan pháp luật cao nhất xét xử và báo chí cũng như dư luận theo dõi kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên. Trong khi đó, triết lí của chế độ toàn trị là ca tụng, tôn trọng và bảo vệ sự độc quyền của một đảng và thần thánh hóa lãnh tụ!

Ngay trong các xã hội DCĐN đã trưởng thành và ba quyền được độc lập và phân công rành mạch, nhưng đôi khi vẫn xẩy ra lạm quyền hay tham nhũng của những người có quyền lực lớn, nhất là trong cơ quan Hành pháp (tổng thống hay thủ tướng). Nhưng khác biệt quan trọng ở đây là, trong một nước theo thể chế DCĐN, nếu các vụ lạm quyền, tham nhũng hay bê bối đạo đức bị bại lộ thì thủ phạm bị các cơ quan pháp luật trừng trị nghiêm túc, từ cách chức tới bị tù, bất kể người đó đang giữ chức vụ gì. Việc TT Nixon phải từ chức vì vụ Watergate, hay TT Clinton bị QH Mĩ điều tra vì bê bối đạo đức, việc Thủ tướng Kohl (Đức) và đảng cầm quyền CDU bị mất quyền và bị kết án trong vụ vi phạm luật tài chánh của các chính đảng ở Đức (cuối thập niên 80 đầu thập niên 90) là những dẫn chứng rõ ràng về qui luật của quyền lực luôn luôn có khuynh hướng lạm dụng và độc đoán ngay cả trong một xã hội theo DCĐN. Nhưng khác biệt căn bản nhất ỏ đây là, trong chế độ DCĐN thì những ai lạm dụng quyền lực thì bị trừng trị đích đáng bất cứ nắm giữ chức vị gì như một số dẫn chứng trên đây. Còn trong các chế độ độc đảng, như ở VN hiện nay, thì những người lãnh đạo lạm dụng quyền lực và tham nhũng không bị luật pháp trừng trị; mà ngược lại, chính những người này còn nhân danh luật pháp ra tay đàn áp và giam giữ những ai tố cáo và chống đối họ, như các điển hình đã dẫn chứng ở phần đầu trong bài này!


* * *

Nói tóm lại, nhận định của Nguyễn Văn An gọi là „giả thiết“ cho rằng, nếu ban lãnh đạo Đảng „trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước“ là „làm… trái Hiến pháp“. Trong thực tế, nếu dám nhìn thẳng và nói thật về thực chất của xã hội VN hiện nay thì phải thấy rằng, đây không còn nằm trong giả thiết mà đã trở nên một sự thật phũ phàng, xẩy ra hàng ngày, đang đưa lại những hậu quả rất tại hại cho VN suốt trên 60 năm qua!

Ông An, cũng như bất cứ ai, nếu xem xét một cách nghiêm túc các việc làm của những người cầm đầu ĐCSVN trong trên 60 năm qua đều phải thừa nhận rằng, tuyệt đại đa số những chủ trương của Đảng đều không được luật hóa, hay chỉ được luật hóa hình thức. Nhưng nó đã trở thành mệnh lệnh bắt các cơ quan Nhà nước phải thi hành. Chính vì thế nó đang gây ra những hậu quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước! Bởi vì những người có quyền lực trong Đảng đã lợi dụng địa vị sử dụng quyền hành để sai khiến từ các cơ quan của Đảng tới các cơ quan Nhà nước như một tài sản riêng của mình, nhào nặn túy ý, cho ai sống, bắt ai chết là quyền sinh sát của họ.

Sỡ dĩ tình trạng như vậy đang diễn ra ở VN là vì chế độ độc đảng đang ngư trị và tôn sùng từ trên 60 năm qua. Những độc hại của nó đang đè nặng trên mọi lãnh vực. Nếu ông An hiểu được qui luật quyền lực trong chính trị thì ông không thể đòi hỏi và chờ đợi là phải có sự „phân công rành mạch“ giữa Đảng và Nhà nước trong chế độ độc đảng của ĐCSVN. Kêu gọi hay chờ đợi như thế hóa ra là khờ dại, ngây ngô, ngồi chờ sung rụng! Mong một tên đồ tể tự trở nên thánh thiện! Nhưng nếu Nguyễn Văn An biết nguyên nhân của tình trạng tha hóa và tàn bạo này mà lại lên tiếng bề ngoài để ru ngủ mình mà ru ngủ người khác thì đây là một cái tội. Tội của những kẻ biết mà không dám nói, hay nói mà không dám làm !/-

Âu Dương Thệ

Bài Xem Nhiều