We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 3 September 2009

SINH VIÊN VN DU HỌC HIỆN NAY QUA NHẬN XÉT CỦA MỘT NGƯỜI TRANH ĐẤU

Qua các bản tin của cộng đồng, người ta được biết một số anh chị em du học sinh Việt Nam đã đến sinh hoạt một cách chân tình và cởi mở với tập thể người Việt Quốc Gia tại Texas. Những bài tường trình và hình ảnh trong những lần họp mặt nầy đã gây sự chú ý của nhiều người, và từ cơ hội nầy, tôi xin góp một vài thiển ý cùng quý thính cũng như độc giả nhằm bổ túc cho những bài viết của tôi trước đây về vấn đề du học sinh Việt Nam.

Trong thập niên vừa qua, số lượng thanh niên Việt Nam du học thật đông, nhìn chung đa số nằm trong chương trình trao đổi văn hóa với các xứ tự do Tây phương hoặc du học tự túc đối với những gia đình có khả năng và được nhà nước cho phép. Thừa cơ hội nầy cán bộ đảng viên, nói chung là thành phần lãnh đạo từ nhỏ đến lớn của đảng, đã ồ ạt gởi con em của họ ra ngoài du học. Trong đó, du học sinh gọi là "con ông cháu cha" thì đa số đều nằm trong kế hoạch "tẩu tán tài sản" và "đầu tư tương lai" cho gia đình dòng họ đảng viên và cán bộ nhà nước. Ngoài ra, một ít tư nhân có khả năng tài chánh hoặc có người nước ngoài bảo lãnh thì những gia đình nầy cũng tìm cách vận động con cháu ra hải ngoại để thoát những chương trình giáo dục nhồi sọ vừa lạc hậu, vừa nặng phần chính trị của cộng sản trong nước. Có thể xem đây như một hình thức "tỵ nạn văn hóa" của những gia đình biết nghĩ đến tương lai của con cháu. Thật khó nắm được con số du học sinh cho chính xác cũng như không thể ước tính được các thành phần khác nhau hiện đang có mặt tại các xứ tự do, tuy nhiên con số nầy có thể lên đến vài trăm ngàn mà đa số đều tập trung vào các nước lớn như Mỹ, Úc, Pháp, Canada…

Trước tiên phải nói rằng, đây là một điều vui mừng cho tương lai tuổi trẻ cũng như của Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam. Nguồn chất xám phong phú của thanh niên không thể bỏ phí hoặc đóng khung trong phạm vi hạn hẹp, một chiều, đi ngược với trào lưu tiến hóa nhân loại mà nhà nước cộng sản đã kềm kẹp và nhồi sọ thế hệ trẻ kể từ lúc đảng cộng sản nhập khẩu nền "văn hoá đỏ" của Mác-Lê-Mao vào đất nước không ngoài ngu muội hóa dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam thông minh, siêng năng đã ra sức xây dựng đất nước từ ngày lập quốc và anh dũng chống ngoại xâm cả ngàn năm lịch sử, nhưng thật bất hạnh, vì hơn 60 năm qua, chế độ cộng sản đã ngu muội hóa con người, đồng thời biến những bộ óc thông minh giới trẻ trở thành những khối thịt thiếu khả năng, vô tri giác và chỉ biết hưởng thụ. Mục đích của cộng sản là làm cho dân trở nên ngu dốt để dễ dàng cai trị, do đó, trên phương diện truyền thông, người trong nước không am hiễu gì về tình hình chính trị kinh tế cũng như những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang biến chuyển từng giây từng phút trên thế giới. Như vậy, trước trào lưu tiến hóa của nhân loại, nếu một dân tộc nào chỉ cần dậm chân dừng lại tại chỗ vài bước tức là họ đã đi thụt lùi một đoạn đường quá xa. Huống gì người Việt trong nước chẳng những bị cộng sản bịt mắt che tai mà còn nhồi vào đầu những lời tuyên truyền tráo trở, đồng thời bưng bít thông tin, bóp méo sự thật…thì hành động của nhà cầm quyền Việt Nam đã phản lại đà tiến triển của nhân loại và chắc chắn chế độ cộng sản sẽ bị đào thải theo định luật tự nhiên.

Sau ngày cộng sản Việt Nam tuyên bố mở cửa thu hút đầu tư và "vắt sữa" người Việt hải ngoại thì nhà nước cũng ồ ạt xuất khẩu giới trẻ ra nước ngoài theo chương trình du học. Con số du học sinh tăng vọt lên từng năm và bây giờ ra đường (nói riêng ở Paris), thoáng qua, người ta cũng thấy số du học sinh Việt Nam nhiều hơn giới trẻ sinh sống ở bên nầy. Nhưng đây cũng là một điều đáng mừng để thế hệ trẻ Việt Nam được dịp ra ngoài, có cơ hội tiếp xúc với thế giới văn minh, từ đó thanh niên Việt Nam có thể thấy được đâu là tự do thật sự của con người đồng thời hiếu thế nào về một nền văn hóa nhân bản chân chính ở các xứ không cộng sản. Những hình ảnh nầy sẽ khơi động trí óc cũng như con tim giới trẻ Việt Nam, đồng thời sẽ giúp họ suy nghĩ và so sánh với thế giới bên ngoài với những gì đã và đang xảy ra ở tại Việt Nam.

Thử xếp loại du học sinh hiện đang có mặt tại những nước lớn qua nhiều lý do xuất ngoại khác nhau, rồi từ đó, tìm hiểu tâm tư tình cảm và nguyện vọng của từng thành phần một, như vậy mới hy vọng nắm được những yếu tố riêng biệt trước khi có một lối nhìn và phán đoán trung thực :

A. Tạm chia thành phần du học sinh như sau :

A1. Thành phần con ông cháu cha : Đa số du học sinh Việt Nam hiện nay thuộc dạng nầy, được hưởng đặc quyền đặc lợi của đảng và nhà nước. Họ dư thừa điều kiện và thế lực để chiếm hết chỗ trong những chương trình trao đổi văn hóa với các nước Tây phương. Phải nói rằng đa số thành phần con ông cháu cha dưới thời nào thì cũng là cặn bã của xã hội. Nhưng dưới chế độ cộng sản thì chúng còn tồi tệ gấp trăm lần so với hàng ngũ con ông cháu cha của chính thể Việt Nam Cộng Hòa trước kia. Những điều thấy trước mắt, con ông cháu cha ngày nay là những du học sinh thiếu khả năng ngay từ trong nước. Không học vẫn thi đỗ hoặc để xuất ngoại thì xài bằng giả, bằng mua hay bằng chạy chọt. Chữ nghĩa đã kém mà trình độ ngoại ngữ không ra gì nhưng vẫn luôn luôn ưu tiên đi du học do ngân sách nhà nước đài thọ hay bởi tiền ăn cắp của dân. Khi ra xứ ngoài thì cậy tiền, cậy quyền, cậy thế không đến trường và phung phí tiền bạc. Đa số không đủ khả năng, vừa sinh ngữ vừa kiến thức để vào giảng đường thì chỉ còn cách tụ tập ở các nơi ăn chơi trác táng. Tiền của cướp của dân nghèo Việt Nam qua tay con ông cháu cha quá dư thừa. Thành phần nầy không xài tiền cắc, tiền đồng ($US) mà đơn vị tiền tệ căn bản của con ông cháu cha để đối thoại, trao đổi với nhau hoặc chi dùng mua sắm hằng ngày là ‘giấy’ (một giấy là 100 dollars) ! Tôi lấy một một trường hợp có thật 100% sau đây : Hai cô thuộc loại con ông cháu cha qua Pháp du học theo ngành kinh tế thương mãi. Sau vài giờ ở giảng đường thì phải bỏ lớp vì không đủ kiến thức và sinh ngữ để theo dõi bài học. Các cô quay qua việc ăn chơi du hý và tìm cách gầy dựng hôn nhân cho mình. Xin ghi nguyên văn điều kiện chào hàng kiếm chồng của hai cô : Phải là quốc tịch Pháp, bác sĩ chuyên môn hay kỹ sư cao cấp (?), đẹp trai và chính thức độc thân…Ai đủ tiêu chuẩn thì gia đình liên hệ sẽ được bù đắp xứng đáng bằng quà cáp và tiền bạc ! Hai cô thuê hai phòng trong một ngôi nhà lớn ở ngoại ô Paris. Vì theo thói tiêu xài phung phí nên xử dụng điện nước một cách bừa bãi. Chủ nhà than phiền và đề nghị tiết kiệm giùm thì hai cô đã trả lời một câu thật dễ thương như sau : Nhằm nhò gì, muốn mấy "giấy" nói đi ! "Bà" sẽ thí cho để trả thêm tiền điện nước ! (Người chủ nhà hiện sống tại ngoại ô Paris). Từ đó tôi có thành kiến với thành phần du học sinh con ông cháu cha.

A2. Dạng xuất khẩu lao động : Ngoại trừ những trường hợp tu nghiệp trong vài lãnh vực chuyên môn, số còn lại được nhà nước cài thành phần công an, điệp viên trong công tác địch vận, hoặc có những trường hợp chính tư nhân phải đóng tiền để được xuất khẩu dưới lớp vỏ du học sinh…như tu nghiệp uốn tóc, làm móng tay và làm việc trong các nhà hàng, tiệm chạp phô. Đối với tôi, ngoài thành phần con ông cháu cha ra thì cần phải cảnh giác nhóm tình báo, công an, tuyên truyền do nhà nước gởi đi lẫn lộn trong thành phần du học sinh theo kế hoạch của nghị quyết 36. Số còn lại là những du học sinh có tinh thần học hỏi, muốn mở mang thêm tầm hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp cũng như những người ra ngoại quốc dưới dạng xuất khẩu "lao động cao cấp" do hợp đồng ăn chia với nhà nước, thì người Việt hải ngoại cần tìm phải hổ trợ và nâng đở họ. Tôi đã gặp nhiều thanh thiếu niên làm việc trọn ngày trong tuần tại các siêu thị, quán ăn nhà hàng. Qua vài lần tâm sự thì biết họ chính là du học sinh trá hình, trả tiền cho nhà nước để ra ngoại quốc làm việc kiếm tiền giúp gia đình. Một vài năm, sau khi trừ "hụi chết" đóng cho các cơ sở ăn cướp họ cũng kiềm được một số vốn cho gia đình còn khá hơn là đi làm nô lệ tại các xứ Á châu như Đại Hàn, Đài loan, Mã lai…Những trường hợp nầy tôi đề nghị giúp đở họ để chống lại các ma đầu Tàu cũng như Việt đang ăn cướp mồ hôi của những người làm lậu, ép giờ giấc làm việc, bóp chẹt tiền lương trả cho nhân công theo thói quen của người Á châu thường khai man với sở thuế.

A3. Thành phần tỵ nạn văn hóa : Đây là một hình thức hình thức gởi thanh niên ra ngoại quốc mà đa số người trong nước đã cố gắng lo cho con em mình đi du học. Mục đích vì tương lai con cháu. Nếu không thuộc thành phần có liên hệ mật thiết với cộng sản thì dù có thông minh, học hành đổ đạt đến đâu…cũng không được xã hội trọng dụng so với lớp trẻ con ông cháu cha và tỷ phú đỏ. Và một điểm quan trọng không kém nữa, cho con cháu ra ngoại quốc học không ngoài mục đích để thoát khỏi chương trình giáo dục nhồi sọ đã lạc hậu, phản khoa học, yếu kém mà còn nặng mùi chính trị một chiều. Tôi đã gặp nhiều du học sinh thuộc thành phần nầy trong các thư viện, họ chăm chỉ học hỏi, nghiên cứu tìm tòi để sớm hoàn tất chương trình học vì các anh chị nầy thấy được giá trị đồng tiền, mồ hôi nước mắt mà gia đình phải thắt lưng buộc bụng để nuôi họ ăn học. Một điều cần ghi nhận thêm, thành phần nầy khá kín đáo trong giao tiếp và ít đề cập đến vấn đề chính trị, có lẽ vì sợ liên lụy cho gia đình một khi tiếp xúc với người Việt nước ngoài

A4. Thành phần hiếu học và cầu tiến : Khi nói về du học sinh Việt Nam thì không thể vơ đũa cả nắm. Giữa đa số thành phần xấu "con ông cháu cha" và tỷ phú đỏ, tôi đã gặp những anh chị em thật chăm chỉ và có tinh thần cầu tiến, ngoài giờ vào giảng đường thì họ đi làm thêm ban đêm hoặc cuối tuần dành trọn hai ngày để bán hàng trong các siêu thị cũng như phụ bếp hay phục vụ khách hàng ở các tiệm ăn. Họ có những nét dễ gây thiện cảm đối với người Việt hải ngoại hơn thành phần du học sinh con ông cháu cha và tỷ phú đỏ. Trong tiểu mục nầy tôi xin đề cao một số anh chị em du học sinh tiến bộ, vì sau khi giao tiếp với thế giới văn minh, hiểu được thế nào là nền văn hóa nhân bản, là hai chữ tự do đúng nghĩa, thì họ đã mạnh dạn công khai bày tỏ quan điểm về những sai lầm của nhà cầm quyền trong nước đồng thời kêu gọi giới trẻ hãy tỉnh giấc, đứng lên làm lại lịch sử.

B. Mục đích của đảng cộng sản trong việc gởi con cháu và nhân viên công an tình báo qua chương trình du học sinh :

B1. Đào tạo thế hệ đỏ : Đưa con "ông cháu cha" đi du học, mục đích của cộng sản là nhờ thế giới văn minh bên ngoài đào tạo một thành phần cai trị trẻ trung để có thể nối tiếp sự nghiệp đảng cộng sản sau nầy. Các ủy viên bộ chính trị trung ương đảng cũng biết rằng, cả thế giới đều xem họ là thành phần xuất thân từ rừng rú, có người chưa qua được bậc tiểu học trường làng nhưng đã dựa vào súng đạn để ngồi lên đầu người dân từ trên 60 năm qua và đã đưa đất nước cũng như dân tộc Việt Nam từ lạc hậu đến chỗ diệt vong. Ngày nay, chúng phải đào tạo cho con cháu một chút vốn kiến thức văn minh, học hỏi thêm những trò ma giáo của giới tư bản để mai kia tiếp tục nối tiếp sự nghiệp cai trị theo đường lối của chúng. Nhóm "con ông cháu cha" nầy đã nắm chắc trong tay tương lai tươi sáng của mình, dù có học được chữ nào ở hải ngoại hay không cũng không quan trọng, vì những chiếc ghế quyền lực đã được đánh số theo thứ tự ưu tiên. Đối với thành phần nầy thì "nhỏ thất học lớn cũng thành bộ trưởng" và rồi…tương lai đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu dưới tay những thứ cặn bã xã hội nầy !

B2. Tẩu tán tài sản và đầu tư tương lai : Vấn đề nầy quan trọng hơn việc cán bộ đảng viên cộng sản gởi con cháu ra nước ngoài học hỏi để mở mang kiến thức. Đó chính là việc "tẩu tán tài sản" và "đầu tư tương lai". Ngoài những bất động sản tại Việt Nam mà chúng không thể bứng đi, vàng bạc ngoại tệ chìm nổi cướp được không thể lưu lại hay đầu tư ngay trên đất nước vì ngày tàn của chế độ cộng sản đã điểm. Chúng bắt buộc phải tấu tán tối đa những gì có thể đưa ra nước ngoài mà sự hiện diện người thân của chúng ở trên khắp các xứ tự do là một thời cơ thuận lợi. Một khi có con cháu ở nước ngoài thì chúng có thể tạo được điều kiện hợp pháp để chuyển tiền bạc, mua nhà đất và thiết lập các cơ sở thương mãi. Đó chưa kể đến việc mang tiền bất hợp pháp của việc đi lại thường xuyên giữa gia đình và du học sinh, cũng như chuyển lậu dưới hình thức ngoại giao qua các tòa đại sứ Việt cộng. Tạm lấy một con số nhỏ để tính : Ví dụ 100.000 du học sinh ở nước ngoài một năm gia đình chuyển cho "tiền tiêu vặt" tệ nhất là 10.000 dollars mỗi người, dù chỉ nói sơ qua chuyện "tiêu vặt" của một du học sinh thì tổng số tiền cũng lên đến một tỷ mỹ kim (100.000 x 10.000). Đó chưa kể đến việc giữa con ông cháu cha và gia đình đi lại như con thoi giữa các năm học, mỗi lần cất giấu vài ba chục ngàn, trăm ngàn dollars thì số tiền chuyển lậu ra nước ngoài qua ngả du học sinh là bao nhiêu ? Tóm lại việc gởi con cháu đi du học của đảng viên cán bộ nhà nước chính là âm mưu "đầu tư tương lai" cho gia đình dòng họ. Ngoài ra, nhờ thành phần du học sinh nầy mà các cơ sở vật chất cũng như các điều kiện nhập cảnh đã được con cháu chuẩn bị chu đáo từ trước, do đó, một khi bị đá xuống ngựa thì gia đình giòng họ nội ngoại của cán bộ đảng viên cứ thong dong lên máy bay đi ra nước ngoài.

B3. Phá hoại cộng đồng : Thành phần phá hoại được cài trong dạng du học sinh ra nước ngoài để tham gia vào các sinh hoạt của người Việt ở các thành phố lớn. Nhóm nầy có mặt từ trong các trường đại học, câu lạc bộ trẻ, câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ văn hóa và nhất là những nơi đông người Việt như chợ Á châu, cửa hàng chạp phô cũng như các tiệm ăn. Thành phần nầy được huấn luyện chu đáo về các chương trình đặc công, "hành động", võ thuật, kiều vận, địch vận, thông tin tình báo…rồi cộng sản cho ra nước ngoài làm việc ở hai môi trường. Môi trường thứ nhất với tập thể người Việt, thì thu nhặt tin tức, lôi kéo, truyên truyền, điều tra, báo cáo theo chỉ thị cấp trên. Môi trường thứ hai đối với thành phần du học sinh, thì theo dõi, điều tra, hăm họa và "hành động" đối với anh chị em nào có tinh thần tiến bộ cũng như có liên hệ với người nước ngoài, nhất là đối với những ai mà cộng sản đã liệt kê trong sổ đỏ và đánh giá theo thứ tự qua 4 loại : nghi ngờ (1), theo dõi (2), nguy hiểm (3) và cực kỳ phản động (4).

B4 : Tiếp xúc và lôi kéo thành phần trẻ hải ngoại : Một vai trò quan trọng được đảng cộng sản giao cho du học sinh trong các trường đại học : Du học sinh phải tiếp xúc, len lỏi vào các sinh hoạt của sinh viên để lôi kéo giới trẻ hải ngoại theo âm mưu nghị quyết 36 của Hà Nội. Đây là môi trường mua chuộc giới trẻ hải ngoại thật hiệu quả, bằng chứng là một số sinh viên con cháu của những người thuộc thành phần tỵ nạn chính trị cũng vướng vào bẫy, trở mặt chống lại cha chú, ngang nhiên chống đối chính nghĩa quốc gia cũng như cộng cuộc tranh đấu của cộng đồng, điển hình là vụ Brian Đoàn với cuộc triển lãm hình già Hồ và cờ đỏ sao vàng tại Santa Anna !

B5 : Trồng-cấy người bằng hôn nhân : Cộng sản lợi dụng tình trạng hôn nhân để cấy và trồng người một cách rất hợp pháp. Kế hoạch của cộng sản là cứ đưa ra nước ngoài hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ chưa có gia đình, tạo cho họ những cơ hội giao tiếp giữa nam với nữ. Giới trẻ ở nước ngoài, dù thuộc thành phần gia đình đố kỵ với cộng sản, nhưng một khi chung đụng lâu ngày với du học sinh Việt Nam thì tình cảm vẫn nở ra. Hậu quả đã làm cho nhiều bậc cha mẹ thuộc giới tỵ nạn chính trị phải đau lòng. Trớ trêu là thời đại nầy, việc hôn nhân của con cháu ví như chuyện cái "cày đi trước con trâu", đôi khi nhiều bậc cha mẹ phải ngậm đắng nuốt cay gật đầu khi chuyện đã rồi ! Đó là bài học mà cộng sản nghiên cứu kỹ lưỡng khi đưa thanh niên nam nữ độc thân ra xứ ngoài trong kế hoạch cấy người qua hình thức hôn nhân. Một điều xin ghi nhận, khi một đảng viên cán bộ nào cưới hoặc gã được con cho một gia đình người Việt ở hải ngoại thì xem như được lên thiên đàng với nhiều lý do sau : Thứ nhất, cơ hội ngàn vàng để hợp thức hóa gia tài đang cất giấu ở nước ngoài dưới tên dâu, tên rể đồng thời có cơ hội mang tiền của ra đi qua lý do thăm con thăm cháu. Thứ hai, nhờ dâu nhờ rể để hy vọng bám được tình trạng tạm trú lâu dài và có thể nhập tịch sau nầy nhằm bảo đảm tương lai một khi bị đá xuống ngựa. Thứ ba, quan trọng hơn cả là khi một gia đình hải ngoại trở thành người nhà, cộng sản chẳng những đã giảm bớt được một số người chống cộng mà gia đình sui gia ở hải ngoại còn trở thành "thành viên" danh dự xã hội chủ nghĩa. Tự nhiên nhờ vấn đề hôn nhân mà hàng chục người liên hệ trong gia đình người Việt tỵ do hải ngoại phải ngậm miệng chống đối và còn có người hãnh diện được làm ông bà sui gia với các tay lãnh đạo cao cấp của chế độ cộng sản. Như chúng ta đã thấy, chỉ vì chuyện hôn nhân nhỏ nhặt nhưng đã đổi thế xoay chiều một số lớn người trong thành phần tranh đấu chống cộng. Nếu chừng 20% du học sinh (khoảng 20.000) thành công trong việc bắt được khế ước hôn thú với người nước ngoài thì xem như chính thức cộng đồng người Việt hải ngoại mất đi 40.000 người chống cộng (tính cha mẹ là vai chính mà thôi, chưa kể anh chị em dòng họ bạn bè…). Bởi vì những người kết sui gia với đảng viên cán bộ gộc cộng sản thì chắc chắn họ phải tránh né cộng đồng, ít xuất hiện trong các cuộc hội họp, biểu tình vì "sợ mất lòng" và "khó ăn nói" với gia đình ông bà sui !

Ngoài ra, âm mưu kết sui gia với gia đình người Việt nước ngoài còn là một hình thức rửa tiền dơ và chuyển tiền lậu qua hình thức qua lại hai chiều như sau : Gia đình nước ngoài (ông bà sui gia, con dâu hoặc chú rể) sẽ đứng tên, thành lập các công ty tại Việt Nam với số vốn hàng triệu, hàng chục triệu Mỹ Kim. Vốn nầy không phải mang từ nước ngoài vào mà là tiền do đảng viên cán bộ ăn cướp của Việt Nam đưa ra đầu tư. Các công ty nầy lúc nào cũng kết toán ma với thương số hàng tỷ và lời hàng trăm triệu. Mục đích của chúng để làm bình phong chuyển tiền lời ra nước ngoài theo đặc ân của đảng qua chương trình mở cửa. Đồng thời, giới cầm quyền trong nước mua cổ phần hay mở ngược trở lại ở xứ ngoài nhiều ngân hàng với hàng ngàn trương mục của người trong nước cũng như con cháu dòng họ đã ra đến ngoại quốc đứng tên, mục đích nhằm để chuyển tiền, vừa chính thức vừa lậu ra nước ngoài. Một khi những gia đình sui gia đã có cơ sở thương mãi với vốn đầu tư nước ngoài 100% tại Việt Nam và những ngân hàng ở ngoại quốc móc nối với nhau thì sẽ có trăm phương ngàn kế để chuyển tiền, rửa tiền một cách mờ ám và bất hợp pháp mà chỉ có đảng viên cộng sản, là những tên điếc không sợ súng mới dám thực hiện. Do đó đừng ngạc nhiên có nhiều gia đình người Việt hải ngoại tự nhiên "ăn nên làm ra một cách thần thánh" với Việt Nam khi trở thành sui gia với đảng viên cán bộ nhà nước !!!

Để chấm dứt phần trình bày về vấn đề hôn nhân, tôi không quên đưa ra vài trường hợp ngoại lệ của những cuộc cưới hỏi giữa người Việt hải ngoại với gia đình "thường dân" trong nước. Đây là những cuộc thành hôn đáng chia vui, vì nhờ cơ hội nầy, một số thanh niên nam nữ có dịp thoát được cái ‘địa ngục trần gian cộng sản’ để làm lại cuộc đời và tìm hạnh phúc ở những vùng trời tự do. Nhưng các gia đình hãy coi chừng bị móc túi, cần lưu ý các tòa lãnh sự nước ngoài cũng như cơ quan ăn cướp trong nước làm tiền cô dâu chú rể một cách trắng trợn chưa từng thấy. Riêng việc chi tiền máy bay đi về nhiều lần, xin vài con dấu trên tấm giấy hôn thú từ khóm, phường, quận, thành phố ra đến cơ quan trung ương thì đã thấy chóng mặt và mất khá nhiều tiền về cái gọi là thủ tục "đầu tiên" !

C. Vai trò các cơ quan ngoại giao cộng sản Việt Nam với Việt kiều và du học sinh :

C1. Vai trò của các toà đại sứ : Là cơ quan ngoại giao nhưng các tòa đại sứ, lãnh sự ở nước ngoài chính là những cơ sở kinh tài, ổ phá hoại và là nơi kiểm soát kềm kẹp du học sinh cũng như những ai mang trên người giấy thông hành quốc tịch Việt Nam. Những việc nầy xảy ra tại các tòa đại sứ Việt cộng ở các nước Đông-Âu, là nơi đa số thành phần lao động được cộng sản gài lại sau khi các quốc gia nầy thay đổi chế độ cũng như đi những người trong nước đóng tiền để được xuất khẩu đi bán mồ hôi, nước mắt và máu. Truyền thông báo chí thường phổ biến những tin tức cho thấy rằng thành phần du học sinh cũng như những người lao động cũ còn lại ở các xứ nầy đều bị những yêu sách làm tiền, kiểm soát kềm kẹp và gây khó khăn về tất cả mọi phương diện. Mục đích của cơ quan ngoại giao ở nước ngoài là bảo vệ quyền lợi công dân của họ, nhưng đối với cộng sản thì đây là nơi tập trung buôn lậu, ăn cắp, bán visa, kềm kẹp và làm tiền những ai còn mang quốc tịch Việt Nam. Trong đó thành phần du học sinh (ngoại trừ con ông cháu cha) cũng chẳng hơn gì thành phần lao động, là những nạn nhận bị chèn ép và hành hạ từ tinh thần đến vật chất.

C2. Làm tiền, khống chế và hăm dọa là nghề chính của các tòa đại sứ cũng như lãnh sự quán. Một câu chuyện xảy ra ngay trong tòa đại sứ Nhật Bản chừng vài tháng trước đây đã làm thế giới kinh ngạc tột độ : Đó là một người đàn bà có chồng người Nhật nhưng còn mang quốc tịch Việt Nam đến lãnh sự quán xin về phép thăm quê nhà. Nếu bà nầy để ông chồng ra mặt đóng tiền mua visa thì chắc không có chuyện gì xảy ra. Nhưng tại đây, bà nầy tiếp xúc với nhân viên sứ quán thì bị làm tiền một cách trắng trợn. Bà không chấp nhận một số tiền hối lộ quá lớn thì nhân viên tòa đại sứ ở đây đã giựt bóp lấy tiền và xô bà nầy té dập mặt bể đầu trước mặt ông chồng cũng như những người Việt cũng như người ngoại quôc đang sắp hàng "mua" visa. Đối với thành phần du học sinh thì tất cả các cơ quan ngoại giao không những là cơ sở "công an" để rình rập, theo dõi từ tư tưởng đến hành động từng du học sinh một mà còn là một lò kềm kẹp, khống chế du học sinh để bắt thành phần trẻ nầy phải vào khuôn phép và thi hành mệnh lệnh của trung ương. Nhìn lại những cảnh tòa đại sứ điều động du học sinh mang cờ đỏ xuống đường thì có thể hiểu được phần nào tổ chức của họ. Bọn "đầu gấu" thì giấu mặt chỉ huy, "con ông cháu cha" tập trung thành một nhóm được bảo vệ kỹ càng còn các em du học sinh thuộc thành phần "con chốt" bị đẩy ra thi hành nhiệm vụ, nếu có chuyện gì xảy ra thì chính thành phần đáng thương nầy sẽ lãnh đủ. Trong một cuộc biểu tình tố cáo tình trạng nhân quyền tại quảng trường Trocadéro cách đây hai năm, tôi được anh em báo cho biết là có hai em du học sinh trưng cờ đỏ sao vàng ra để chụp hình. Tôi vừa đi đến thì các tay "đầu gấu" ra hiệu cho hai em có sự hiện diện của tôi đang ở sau lưng. Hai em nhìn tôi có vẻ sợ, tôi cười và ôn tồn nói với hai em rằng : Ở đây chúng tôi chống chế độ các anh, chống cờ đỏ sao vàng thì các anh trương cờ đỏ sao vàng ra trong dịp nầy thấy không thích hợp chút nào cả. Các anh đến với chúng tôi, chúng tôi hoan nghênh nhưng xin cuốn cờ và cất đi để tránh những trường họp đáng tiếc xảy ra. Một em nhìn tôi nói nhỏ như phân trần : Mong bác thông cảm, cháu có nhiệm vụ phải chụp một vài tấm hình với cờ…để nạp cho tòa đại sứ. Bây giờ tôi mới thấy thấm thía thân phận của một du học sinh dưới chế độ cộng sản và tôi mỉm cười nói với hai em : Hai em cứ chụp vài tấm hình để nạp cho tòa đại sứ rồi cuốn cờ lại. Vậy có thể kết luận rằng vai trò của các cơ quan ngoại giao nước ngoài đối với du học sinh là việc kiểm soát từ tư tưởng đến hành động, chỉ huy và sai khiến du học sinh phải tuân theo kế hoạch kiều vận của chúng. Cúp học bổng, không gia hạn visa, đuổi về nước là những biện pháp đế hăm dọa, đàn áp những thành phần du học sinh có tinh thần học hỏi, yêu nước và có đầu óc tiến bộ.

C3. Vô trách nhiệm đối với du học sinh : Trong tiểu đoạn nầy, tôi xin đưa ra một chuyện thương tâm để chứng minh tinh thần vô trách nhiệm của các cơ quan đại diện cộng sản ở nước ngoài. Trước đây, một nữ du học sinh bị chết vì một nguyên nhân nào đó trong lúc cô không có thân nhân tại Pháp. Đáng lý các cơ quan ngoại giao sở tại phải có bổn phận cũng như trách nhiệm lo việc hậu sự cho cô du học sinh nầy, nhưng toà lãnh sự tại Pháp đã phủi tay trốn tránh trách nhiệm. Sự việc gây bất bình cho các anh chị em du học sinh cùng thời, trong đó có vài người nằm trong tổ chức "đầu gấu" (nhiệm vụ ngầm là theo dõi, kiểm soát và khống chế du học sinh) đã bất mãn, lên tiếng phản đối thì trong số nầy có một anh bị đuổi về lại Việt Nam !

D. Thái độ, suy tư và nguyện vọng của các thành phần du học sinh:

D1. Đối với thành phần con ông cháu cha thì chúng ta nhận ra rất dễ dàng : Đã quen thói mất nết từ trong nước và khi ra xứ ngoài thì chứng nào vẫn tật nấy. Chúng hống hách vì ỷ vào quyền lực và tiền bạc của gia đình, do đó xem thường tất cả mọi người, chẳng những với đồng môn du sinh với nhau mà còn đối với "Việt kiều cùng loại", khách đi đường cũng như người lạ mặt. Chúng phung phí tiền bạc một cách kịch cỡm như cha ông chúng nó, trong nước, dám thách đố nhau trước người đẹp bằng lối chơi của các công tử rừng xanh : Chúng "boa" (biếu) cho gái chạy bàn một xấp "giấy" (100 $/US) hay nhét vào áo lót của các em nguyên cả cây vàng, thì tại Paris người ta cũng gặp những tên mặt còn búng ra sữa nầy trong các nhà hàng ca vũ nhạc "De luxe" với những chai champagne giá cả ngàn euros ! Đầu óc thành phần cặn bã nầy chí có tiền và chỉ biết hưởng thụ, chúng chẳng có suy tư, mơ ước hay một ý niệm gì cho tương lai đất nước…Một mai nếu quê hương sẽ nằm trong tay thành phần nầy thì đây là một đại họa cho cả dân tộc cũng như quê hương Việt Nam. Đi du học nước ngoài thành công hay thất bại, có lấy được mảnh bằng gì hay không cũng không quan trọng với đám "con ông cháu cha" nầy, vì tiền bạc đang đầy túi và sau khi trở về nước thì chỗ ngồi đã có sẵn. Chỉ một điều duy nhất làm chúng nó lo sợ…đó là cuộc một "đổi đời" sắp đến và số phận quyền lực tương lai của gia đình dòng họ của chúng mà thôi !

D2. Mỗi thành phần du học sinh có tính hiếu học và có trí óc biết suy nghĩ đều có những trăn trở và nguyện vọng khác nhau về thân phận của họ, của gia đình cũng như tương lai đất nước. Nhưng những suy nghĩ cũng như hoạt động của các nhóm du học sinh nầy ngày đêm đều bị tổ chức "đầu gấu" theo dõi và kiểm soát. Do đó ngay giữa họ với nhau cũng đã có những e dè sợ sệt, vì trong mỗi tổ sinh hoạt không biết ai là công an, ai là "ăng ten" đang theo dõi. Nếu vô ý phạm một lỗi lầm nào theo những điều khoảng đã cam kết trước khi đi thì phải bị những hình phạt, từ hình thức nhẹ nhất là tự kiểm đến việc không được gia hạn chiếu khán, hăm dọa gia đình hoặc đuổi về lại Việt Nam. Thành phần thầm lặng nầy cũng chiếm đa số trong giời sinh viên, họ chăm chỉ học hành và làm việc thêm để phụ với gia đình vào các việc chi phí. Tuy nhiên gần đây người Việt hải ngoại vẫn đọc được rất nhiều bài viết trên các diễn đàn hay blogs cá nhân : Họ đã biễu lộ sự bất mãn bằng những tâm sự nhẹ nhàng mục đích nhắn nhủ với nhà cầm quyền, hoặc những bài viết phẫn nộ kêu gọi giới trẻ quốc nội đứng dậy giải thể chế độ.

D3. Tôi đã nhiều lần đến các thư viện kiếm cách làm quen với những thành phần du học sinh tiến bộ không ngoài mục đích tìm hiểu và tạo cảm thông với họ. Sau một thời gian khá dài tôi có thể tóm lược những quan điểm khác nhau từ các anh chị em du học sinh khi được hỏi về hiện tình đất nước cũng như sự hiện diện của chế độ cộng sản. Đây là bốn câu trả lời của họ :

1. Bảo vệ nhà nước hiện tại và duy trì chế độ cộng sản.
2. Muốn thay đổi một vài điểm trong đường lối cai trị nhưng phải giữ nguyên chế độ cộng sản.
3. Hòa giải hòa hợp với cộng sản để xây dựng đất nước.
4. Muốn có một cuộc cách mạng toàn diện để thay đổi hoàn toàn đường lối chính trị của Việt Nam.

Đi vào bốn câu 1, 2, 3, 4 trên, tôi xin trình bày quan điểm của tôi :

Thứ nhất : Quan niệm phải bảo vệ nhà nước hiện nay và duy trì chế độ cộng sản, thì theo tôi, không cần thiết phải bàn đến vì đây là chủ trương của nhóm du học sinh "con ông cháu cha" cũng như "tỷ phù đỏ". Nghĩa là họ thuộc thành phần sinh ra và trưởng thành đều do ân huệ của đảng và nhà nước thì dĩ nhiên họ phải bảo vệ lấy cha ông, bảo vệ lấy tài sản để tiếp tục nối nghiệp quyền lực và hưởng quyền lợi mà đảng và nhà nước đã dành cho họ.

Thứ hai : Muốn một vài thay đổi để cho dân chúng có được chút tự do, nhưng vẫn giữ nguyên chế độ cộng sản, là quan điểm của đảng đối lập cuội của Hoàng Minh Chính do một số du học sinh được đưa ra nước ngoài dưới danh từ "tập hợp thanh niên dân chủ", "nối vòng tay lớn". Mục đích của nhóm nầy là "cầu khẩn" và "van xin" nhà nước cộng sản nới tay ban phát một chút tự do cho người dân trong nước. Điều nầy thì người Việt tự do không bao giờ chấp nhận. Đối với cộng sản là phải đánh đổ chứ không thể đội lên đầu hoặc đặt chúng trên ngai vàng rồi quỳ lạy van xin như một kẻ ăn xin. Tự do dân chủ và nhân quyền của con người không thể chầu chực cầu khẩn mà có, mà phải tranh đấu, phải hy sinh từ mồ hôi nước mắt và xương máu mới dành lại được. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh, dân tộc ta phải hy sinh từ thế hệ nầy đến thế hệ khác mới đánh đuổi quân Tàu cũng như Tây để dành lấy độc lập. Ngoại trừ già Hồ, là tên đồ tể ngoại lệ, đã bán nước, đội quan thầy Nga Tàu lên đầu xin quyền lực về đàn áp dân tộc Việt Nam. Ngày nay nhóm du học sinh trẻ nầy bắt chước theo đường lối già Hồ, vận động giới trẻ trong ngoài nước quỳ lạy đảng cộng sản để xin một chút ít tư do dân chủ thì không thể chấp nhận được.

Thứ ba : Hô hào hòa giải hòa hợp để xây dựng đất nước, nghĩa là hợp tác với kẻ thù và dành cho cộng sản một con đường sống. Như tôi đã trình bày vấn đề nầy trong các bài tham luận từ mấy năm qua ; cộng sản là loại siêu vi khuẩn vô cùng độc hại, một khi đã diệt thì phải diệt tận gốc, nếu không, mầm mống cộng sản trổi dậy thì còn độc và nguy hiểm gấp trăm gấp ngàn lần. Nguy hiểm nầy có thể ví như một bệnh truyền nhiễm mà chích ngừa không đủ dung lượng hay bệnh nhân sắp chết lại uống nhầm phải thuốc giả. Ngoài ra còn một vấn đề nữa, tôi xin nhắc nhở, một khi chấp nhận hòa giải hòa hợp với công sản là người Việt hải ngoại đã mặc nhiên hợp thức hóa những gì mà đảng cộng sản cướp của người dân, hợp thức hóa những gia tài khổng lồ của chúng đang cất giấu trên thế giới và nhất là hợp thức hóa việc đảng cộng sản bán đất nhượng biển cũng như đồng lõa với cộng sản chấp nhận vai trò nô lệ mà chúng đã thỏa thuận ngầm trao giang sơn tổ quốc vào tay Tàu cộng.

Thứ tư : Một số lớn du học sinh tiến bộ thuộc thành phần thầm lặng thường dành nhiều thời giờ lo việc học hành thi cử. Họ ngập ngừng và hạn chế trả lời những câu hỏi chính trị có liên quan đến vấn đề đất nước cũng như vai trò của đảng cộng sản tại Việt Nam. Nhưng một khi đã đặt tin tưởng vào người đối thoại thì họ bày tỏ tâm huyết một cách chân thành. Tôi đã hân hạnh ghi nhận những suy tư thầm kín và tấm lòng trăn trở của tuổi trẻ trước hiện tình đất nước, đồng thời tôi cũng lợi dụng cơ hội để chia sẻ những khó khăn với giới trẻ có tâm hồn và trí óc, biết suy nghĩ đến tương lai đất nước. Trong nhiều lần tiếp xúc, họ đặt ngược lại vài câu hỏi làm cho chúng ta là những người Việt hải ngoại cần phải suy nghĩ. Nhân dịp nầy xin nêu lên hai vấn đề chính do một số du học sinh có tinh thần quốc gia đã đưa ra để hỏi tôi :

1. Nếu trong tương lai một cuộc "đổi đời" sẽ trở lại trên đất nước Việt Nam thì những cuộc trả thù của thành phần bị áp bức đối với cán bộ công nhân viên nhà nước có xảy ra không ?

2. Có hay không một cuộc tắm máu sẽ đến đối các thành phần lãnh đạo nòng cốt của đảng cộng sản sau khi bị hạ bệ ?

Tôi đã đắn đo rất nhiều về hai câu hỏi trên và tạm trả lời với anh chị em du học sinh như sau : Tôi không phải là một nhà lãnh tụ, cũng hoàn toàn không có tham vọng chính trị mà chỉ là một người tranh đấu thuần túy thật nhỏ bé trong lòng cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Một khi chế độ cộng sản bị giải thể xong xuôi thì tôi xem như hết bổn phận của một người công dân Việt Nam, do đó tôi không đủ tư cách để trả lời một cách chính thức hai câu hỏi trên. Tuy nhiên với tình cảm của một người dân Miền Nam, một người có tín ngưỡng và nhất là một người đã hấp thụ nền văn hóa nhân bản tự do, thì tôi nghĩ rằng, những gì tôi nói cũng có thể phản ảnh một phần nào chủ trương nhân đạo của những lãnh tụ trong khối tự do.

Câu trả lời thứ nhất : Trong lúc tranh tối tranh sáng cuộc của một chiến vừa chấm dứt thì làm sao tránh được những xáo trộn nho nhỏ có tính cách địa phương và bồng bột nhất thời của những người bất mãn đã hàng chục năm qua. Nếu sự việc có xảy ra, thì đó là chuyện cá nhân, nhất thời và ân oán cá nhân. Nhưng theo tôi thì không có gì trầm trọng, vì bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng quan tâm đến những vấn đề phức tạp nầy ngay trong thời điểm hậu chiến. Chắc chắn họ đã sẵn sàng những chương trình ngắn, trung cũng như dài hạn để bảo vệ người "thua trận" và vãn hồi an ninh trật tự theo tinh thần nhân đạo và đầy tình người của người dân miền Nam. Tôi nhắc lại, người quốc gia không có tâm địa căm hờn và trả thù dai dẳng như người cộng sản mà các anh chị em là những người đã chứng kiến tận mắt từ trên ba chục năm nay !

Câu trả lời thứ hai : Một cuộc tắm máu chắc chắn không bao giờ xảy ra. Những cuộc trả thù tràng giang đại hải trong nhà tù cũng như các trại tập trung cũng không xảy ra, mà có thể vì an ninh trật tự nhất thời, những kẻ đứng đầu chế độ sẽ bị cô lập trong tinh thần nhân đạo và trong một thời gian ngắn. Rồi sau đó, tùy theo tội phạm mà các cơ quan tư pháp sẽ công minh phán xét. Tôi nghĩ rằng, hành động cô lập nầy chỉ dành cho một số nhỏ đứng đầu trong giới lãnh đạo đảng mà thôi và sẽ không có chuyện đưa hàng chục triệu người đã phục vụ dưới chế độ cộng sản vào tù, vào trại cải tạo lâu dài như Hà Nội đã áp dụng cho các thành phần quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và gia đình của họ. Lịch sử đã chứng minh cho thấy sau khi Liên Bang Sô Viết cũng như các xứ cộng sản Đông Âu tan rã, người ta chưa bao giờ thấy một cuộc tắm máu lớn nhỏ nào xảy ra dưới các quốc gia vừa "đổi đời" từ cộng sản qua tự do. Đó chính là tình người và lòng nhân đạo của những ai đã hấp thụ một nền văn hóa nhân bản.

E. Du học sinh với tương lai đất nước

Qua tiếp xúc với một số du học sinh tiến bộ, tôi thông cảm nỗi suy tư thầm kín cũng như những xót xa ngấm ngầm của giới trẻ Việt Nam trong nước hiện nay. Dù họ được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ cộng sản, bị bưng bít ngăn cách thông tin với thế giới bên ngoài, bị nhồi sọ bởi một nền văn hóa đỏ cộng sản, nhưng hình ảnh đau lòng của xã hội cũng như những sai lầm trầm trọng của chế độ đã khơi động con tim và trí óc giới trẻ. Từ đó những bất mãn đã lớn dần và bộc phát mạnh mẽ qua sự chống đối của giới trẻ Việt Nam sau vụ Hoàng Sa Trường Sa và Bauxite. Một điều cũng nên ghi nhận rằng, ngay cả con cháu cán bộ, ngày nay cũng nhận biết những sai lầm trầm trọng do ông cha họ gây ra, nhất là ngay sau khi bộ mặt gian dối của đảng cộng sản rơi xuống và thần tượng già Hồ bị sụp đổ….

Tôi không đề cập đến các du học sinh thuộc thành phần con ông cháu cha mà hy vọng vào giới trẻ Việt Nam, nhất là những người đã có cơ hội du học ở nước ngoài, là những anh chị em thông minh, hiếu học, có tình người, biết yêu tổ quốc và nghĩ đến tương lai dân tộc. Các anh chị em nầy đã sống trong một thế giới tự do và đã hưởng một thời gian hoàn toàn cởi mở từ tư tưởng, lời nói đến hành động. Vậy họ đã biết đâu là tự do, đâu là quyền lợi của người dân và đâu là bổn phận và trách nhiệm của giới cầm quyền. Chính họ đã chứng kiến cảnh sát Tây phương bảo vệ cho dân chúng xuống đường biểu tình chống chính phủ hằng ngày. Tôi tin các anh chị em du học ở Pháp đã nghe vấn đề thanh liên của giới cầm quyền, như chuyện phu nhân tổng thống Nam Phi (xứ đứng đầu thế giới về sản xuất kim cương) biếu một cách công khai cho bà cựu tổng thống Pháp một viên hột xoàn nhỏ tí xíu (hình như trên dưới một cara gì đó, tôi không nhớ rõ) trong một chuyến công du. Sự việc chỉ đơn giản như vậy nhưng đã gây ồn ào từ cơ quan lập pháp đến hành pháp buộc vị cựu tổng thống phải lên tiếng ! Tôi tin các anh chị em du học tại Mỹ cũng biết, một cựu tổng thống chỉ vì nghe lén điện thoại mà phải tự động từ chức cũng như một vị cựu tổng thống trẻ ham vui "dung giăng dung dẻ" một chút với cô thư ký riêng mà chiếc ghế quyền lực phải sụp đổ sau đó. Tôi dài dòng như vậy để các bạn du học sinh thử nhìn lại và suy nghĩ những gì đã nghe, đã biết để so sánh với tội trạng ngập đầu của tập đoàn lãnh đạo Việt Nam từ địa phương lên đến trung ương !

Tôi hy vọng, dù trong một vài ba năm ở nước ngoài nhưng cũng đủ thời gian để anh chị em hồi tâm đánh thức con tim và trí óc của mình, vì giới trẻ Việt Nam, mà anh chị em du học sinh là thành phần nòng cốt, là rường cột của nước nhà thì phải biết suy nghĩ và hành động cho kịp thời.

Như vậy, đất nước sẽ nằm trong tay anh chị em thì tương lai Việt Nam phải do các anh chị em định đoạt. Thế hệ đi trước đã sai lầm đưa đất nước vào tình trạng yếu kém lạc hậu và trở thành nô lệ của một ngoại bang thâm hiểm, tàn bạo và độc ác…Mai đây khi đất nước rơi vào tay các bạn thì Việt Nam chỉ là một gia tài rách nát, nợ nần chồng chất, đạo đức vắng bóng, văn hóa sa đoạ, tình người thui chột…thì dù có tài giỏi đến đâu, các bạn cũng khó vực dậy một cổ xe đã mục nát đang nằm dưới đáy của vực thẳm. Vậy ngay từ bây giờ, cũng chưa muộn đâu, các anh chị em hãy can đảm đứng lên xóa hết cái cũ và xây dựng cái mới, làm một cuộc cách mạng theo gương tiền nhân, là những anh hùng đã dựng nước và giữ nước trong suốt hàng chục thế kỷ qua.

Xin Ơn Trên và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta.

Đinh Lâm Thanh
31 tháng 8 năm 2009

Cảm Nghĩ Về Nhạc Dân Gian (ANH BẰNG)



Tôi ra đời ở làng Điền Hộ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Khi lên 10 tuổi, tôi phải xa gia đình để đi học ở một trường dòng tu Công Giáo tên là Tiểu Chủng Viện Ba Làng. Trong các môn học thì như duyên tiền định, tôi yêu mến, thích thú môn âm nhạc. Khi tôi nghe tiếng nhạc hay tiếng đàn, tim tôi mê mẩn dạt dào. Điều linh tính đó đưa tôi đến gần âm nhạc hơn khi tôi khôn lớn.
Nhạc là một phạm vi bao la, bát ngát trong nếp nhân sinh. Trong bài viết này tôi chỉ muốn nói về âm nhạc dân gian, mà trong đó nhạc dân gian Bắc phần có ca trù, hay hát ả đào, và Quan họ Bắc Ninh. Tôi còn nhớ những năm khi quê hương miền Bắc loạn lạc, toàn dân chống thực dân Pháp, tôi tản cư về thành lánh bom đạn. Tôi có quen hai chị em thiếu nữ người Bắc Ninh, hai cô có làn hơi phong phú, hát ả đào, ngân giọng ca trù rất hay. Tôi đã gần gủi với nhạc dân gian, và từ đó tìm hiểu thêm về một góc đẹp văn hóa quê hương.
Huyện Nga Sơn, cảnh đẹp ven biển.
Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với một nền văn minh lâu đời, có một nền âm nhạc dân gian đa dạng như Việt Nam phải nói là thật phong phú. Những tiết tấu, âm điệu đặc trưng của dân ca phần lớn phát nguồn từ những câu đồng dao dù bình dị đơn giản, hay những câu ca dao thâm thúy khúc chiết và loại thơ vần như lục bát, thơ được gạn lọc, bổ sung qua nhiều giai đoạn thời gian rồi trở nên những thể loại ca hát dân gian khác nhau của từng địa phương, từng vùng đất nước, từng miền phương ngữ. Ví dụ như hát vi giao duyên của miền trung du bắc phần. Hát Chầu văn là hình thức hát nhạc thờ cúng, có tính chất tôn giáo linh thiêng, các thầy cúng chuyên nghiệp đánh đàn nguyệt, có giọng hát điêu luyện phụ họa thuộc nhiều điệu hát, và pha vào đấy là tiếng trống vỗ. Độc đáo phải kể về lối hát Quan họ Bắc Ninh, một lối hát rất phong phú về âm nhạc. Rồi lối hát Ả đào, một hình thức rất đặc biệt của nhạc dân gian Bắc phần. Về thành phần cho lối hát Ả đào gồm có một người hát hay đào nương, hai tay gõ phách, một nhạc công đàn đáy, một trống chầu dùng để người nghe hay quan viên thưởng ngoạn những âm giai, những giọng hát hay.
Mới đây anh bạn Việt Hải ngỏ ý là tôi hãy phổ nhạc một bài dân ca Quan họ, tôi bảo tôi chỉ phổ theo lối dân ca quê hương mà thôi. Vì dân ca Quan họ cần những quy tắc về điệu hát và nhạc cụ chuyên môn, nó không phải phạm trù chuyên môn của tôi. Bài hát Quan họ Việt Hải bàn luận là bài hát nổi tiếng mà nhiều người biết đến là Người Ở Đừng Về, đây là tên một bài hát dân ca Quan họ Bắc Ninh do Xuân Tứ cải biên từ bài Quan họ cổ điển Chuông Vàng Gác Cửa Tam Quan và bài hát được viết xuất xứ từ một bài thơ dân gian. Bài hát thường được cất lên vào lúc hội tàn, nhất là khi từ giã nhau. Trong ý thơ chan chứa lời hò hẹn, nhằn nhủ khi ta nghe câu ca "Người ơi! Người ở đừng về"...

ANH BẰNG

Ai mới là hèn ???

Kể từ tháng 4 năm nay, thiên hạ (nhất là các công dân mạng) xôn xao về cuốn “Hồi ký của một thằng hèn” đầy dũng cảm của nhạc sĩ Tô Hải. Tiếp đến, qua “Tuần kí số 11 ngày 05-07-2009”, cũng lại nhạc sĩ này bàn về cái hèn, trong đó ông phân loại: nào là cái hèn của báo chí, cái hèn của kẻ yếu, cái hèn giả vờ, cái hèn bất đắc dĩ…. Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, cái hèn tồi tệ nhất, đáng kinh tởm nhất, đáng khinh bỉ nhất là cái hèn được diễn tả qua thành ngữ “đánh kẻ dưới ngựa, bắn người sau lưng”. Nghĩa là cái hèn của kẻ có quyền lực trong tay (quyền lực chính trị, quyền lực tinh thần, quyền lực vật chất…), nhưng vì những toan tính xấu xa tàn ác, cuồng vọng thống trị độc tài, mà đã làm lắm điều bất nhân thất đức đối với những ai nằm dưới quyền của họ; hoặc vì khiếp nhược trước một quyền lực lớn hơn, họ lại phản ứng -theo lối mặc cảm bù trừ- bằng cách tàn hại những kẻ đang bị họ thống trị. Trên thực thế lịch sử, điều này được thấy rõ ràng trong các chế độ cộng sản.

Sau khi cướp được chính quyền (có lúc bằng gian manh xảo quyệt như tại Nga và Việt Nam), các đảng cộng sản đều che đậy thói đê hèn dưới mỹ từ “bạo lực cách mạng” hay “chuyên chính vô sản”, nghĩa là từ nay họ không thực thi quyền lực bằng lập luận dựa trên chân lý, bằng thuyết phục dựa trên công lý và thành quả, theo như lương tri và lương tâm thông thường của con người, mà bằng đàn áp với bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí. Họ trị nước thay vì bằng cơ cấu tam quyền phân lập thì lại bằng tam quyền phân công, biến Quốc hội -tạo ra sau những cuộc bầu cử đầy gian trá và áp bức- thành lũ gia nô chỉ biết đưa ra hoặc sửa đổi các luật lệ theo ý đảng, có lợi cho đảng; biến Pháp viện, tòa án -tạo ra từ những kẻ thông thạo luật rừng, luật đảng hơn là luật pháp, luật lương tâm- thành lũ đười ươi (từ của Lm Nguyễn Văn Lý) chỉ biết xét xử và tuyên phạt với các “bản án bỏ túi” nhận từ đảng bộ hay từ chính trị bộ; biến cả hệ thống Chính quyền -tạo ra từ các đảng viên hồng hơn chuyên, giỏi hoạnh họe tham nhũng thay vì phục vụ- thành đám tay sai nô bộc chỉ biết mù quáng thực thi mệnh lệnh của đảng ủy địa phương hay trung ương. Đảng CS còn hèn đến độ biến quyền lực công luận (báo chí) thành những cái loa tuyên truyền ầm ĩ và lếu láo, biến quyền lực bảo an (quân đội và cảnh sát) thành những công cụ mù quáng và tàn bạo, biến quyền lực tinh thần (giới trí thức, giới tu sĩ quốc doanh) thành những con hến ngậm miệng hay những con vẹt lải nhải bài tụng ca. Trong hoàn cảnh ấy, toàn thể nhân dân chỉ còn là kẻ dưới ngựa cho đảng đánh xuống, chỉ còn là người đưa lưng cho đảng bắn vào.

Bên cạnh cái hèn bằng sử dụng bạo lực nói trên, cộng đảng VN còn tỏ ra hèn bằng thái độ khiếp nhược trước các cộng đảng cầm quyền lớn hơn mạnh hơn, như Liên xô hay Trung quốc chẳng hạn. Hồ Chí Minh, dù biết cuộc cải cách ruộng đất ở Liên xô và Trung quốc đầy huyết lệ và thất bại, nhưng vì khiếp sợ Stalin và Mao, đã vẫn xin chỉ thị từ hai tên đồ tể này (xem lá thư gởi Stalin ngày 31-10-1952). Cũng năm 1952, vì hèn trước các cố vấn và chuyên viên cải cách của Trung cộng, Hồ Chí Minh đã để mặc cho tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên kết án tử hình bà Nguyễn Thị Năm, một ân nhân của đảng, người đã từng che chở, nuôi ăn chẳng những chính ông mà hầu hết các nhà lãnh đạo đảng. Cũng vì hèn mà Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước ngày 14-9-1958, lấy của Việt Nam Cộng Hòa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để dâng trên giấy cho ông anh vĩ đại, khiến ông anh này cứ mãi dựa vào đó để khẳng định chủ quyền. Cái hèn này đã lôi theo những cái hèn khác đối với Trung quốc, biểu lộ qua Hiệp định biên giới Việt-Trung ngày 30-12-1999 và Hiệp định lãnh hải Việt-Trung ngày 25-12-2000, dâng ngon ơ cho Tàu cộng hàng chục ngàn km2 đất và biển của Tiên tổ, qua Tuyên bố Việt-Trung tháng 12-2001 và tháng 06-2008, rồi qua Quyết định số 167 ngày 01-11-2007 cho phép TQ thực hiện dự án bauxite đầy nguy hiểm về văn hóa, sinh thái và an ninh trên vùng đất Tây Nguyên. Mới đây nhất, cái hèn của CSVN biểu lộ qua việc ký kết dâng Ải Nam quan và nhiều phần đất ở biên giới phía Bắc ngày 23-02-2009 với rất nhiều màu sắc và nghi lễ rộn ràng. Nhưng "vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu"! Và với mặc cảm bù trừ, CSVN quay lại cướp bóc đất đai của nhân dân và các tôn giáo cũng từ bấy nhiêu năm, hành hạ bỏ tù những ai đòi lại tài sản mình đã sở hữu chính đáng, dẹp tan các cuộc biểu tình của sinh viên, trí thức, dân oan, nhà dân chủ phản đối Trung quốc xâm lược.

Cái hèn vì khiếp sợ trước một quyền lực lớn hơn khác là quyền lực tinh thần (nhưng rồi phản ứng lại bằng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh) đã biểu lộ lần đầu tiên -xem ra thế- qua vụ luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức xuất chúng đương thời của Việt Nam. Sau khi mời luật sư cho ý kiến về cuộc Cải cách Ruộng đất vừa hạ màn ngày 20-07-1956 (với bài “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” đọc ngày 30-10-1956), Hồ Chí Minh đã hèn mạt báo thù bằng cách đày đọa cho đến chết nhân tài đặc biệt, nhân sĩ ưu tú ấy. Tiếp theo đó là một trò hèn khác nhắm vào các trí thức văn nghệ sĩ có khát vọng tự do dân chủ và đầu óc suy tư độc lập vốn đã lên tiếng phê bình về những sai lầm tàn ác trong CCRĐ cũng như về chính sách khống chế kiểm soát thành phần trí tuệ của Dân tộc. Trò hèn của những tên đa phần thấp kém về tri thức và nhân cách này (trong đảng CS) đã gây ra thảm kịch mang “vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm”! Vụ Mậu Thân với việc phản bội cam kết hưu chiến, giết hại dã man dân lành, loại trừ đồng đội trong “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” cũng là một trò hèn mạt của CS vốn còn ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc.

Thời gian gần đây, kể từ thế kỷ XXI, với việc nổi dậy của nhân dân đủ mọi tầng lớp, việc cất tiếng của tôn giáo đủ mọi giáo hội, việc đứng lên của các nhà đối kháng đủ mọi thành phần, việc lấn lướt ngày càng ngang ngược của ngoại thù phương Bắc, cái hèn của đảng CSVN càng bộc lộ một cách chói chang. Bằng chứng là những cuộc đàn áp dã man tại Thái Hà (Hà Nội), Tam Tòa (Quảng Bình), Bát Nhã (Lâm Đồng) với sự cấu kết giữa công an với bọn côn đồ (chưa hẳn là xã hội đen) mang tên “quần chúng tự phát” và sự đổ lỗi đê tiện cho đám công cụ tay sai này. Bằng chứng là những cuộc bắt bớ tùy tiện, xét xử vô luật, kết án với tội danh vu vơ những ai tranh đấu cho công lý và tự do. Điển hình là những bức ảnh quanh và trong phòng xử án các nhà dân chủ, mà đặc biệt là hình linh mục Lý bị bịt miệng và trói tay trong phiên tòa ô nhục tháng 3-2007 tại Huế. Để bảo đảm sự chiến thắng của đảng trong những phiên tòa này, CS đã đê hèn tước mất mọi quyền cơ bản của các bị can: không cho họ có luật sư cố vấn khi bắt đầu tiến trình thẩm vấn, để công an chấp pháp mặc sức khủng bố tinh thần và đưa vào tròng bẫy, không cho bị can được quyền thuê mướn những luật sư vừa ý, hoặc có cho thì chẳng để các luật sư đủ thì giờ gặp gỡ bị can, đủ điều kiện thu thập tài liệu, không cho các luật sư được trình bày cách tự do và đầy đủ bài bào chữa, hoặc có cho thì công tố và quan tòa vẫn chẳng thèm nghe, không cho thân nhân bạn hữu hay báo chí quốc tế tham dự phiên tòa, vì muốn tước mất sự trợ lực tinh thần mà bị can có quyền được hưởng (báo chí nếu có mặt thì bị nhốt trong phòng kín, theo dõi mọi chuyện qua màn ảnh truyền hình). Ở đây xin mở một dấu ngoặc để nói về cái “hèn” của nhiều bị can vốn đã nhận tội và xin khoan hồng khi còn đang giai đoạn thẩm vấn, kể từ vụ Trộm cổ vật ở Bắc Giang năm 2006, vụ Nguyễn Phong+Nguyễn Bình Thành năm 2007, đến vụ Lê Công Định tháng 6-2009, và gần đây nhất là vụ Tam Tòa với bị can Nguyễn Quang Trung tháng 7-2009. Nhiều người đã vội phê phán họ “đầu hàng quá nhanh” và kết án họ “tỏ ra quá hèn”. Xin lưu ý rằng lúc “nhận tội”, họ đang ở trong giai đoạn thẩm vấn, giữa bàn tay công an, vốn nổi danh sắt máu và nham hiểm, đang bị khủng bố và tra tấn về tinh thần (có khi về thể xác), như bị phong tỏa khỏi mọi liên hệ, nhất là thân nhân gia đình và luật sư cố vấn, như bị thẩm vấn đêm khuya, trong tình trạng mất ngủ khiến ý chí kiệt quệ, như bị buộc xem những bài báo công cụ mạt sát lên án họ… Đó là chưa kể công an và báo chí chẳng bao giờ được đóng vai công tố hay thẩm phán. Thành ra không thể và không nên kết án các bị can nói trên là “hèn”.

Trở lại với cái hèn của CSVN. Cái hèn này thời gian gần đây bộc lộ rõ nét qua vụ Trung cộng ngày càng ngang ngược trên biển Đông và quanh Hoàng Trường Sa quần đảo, ngày càng cấm cản, bắt bớ, phá hoại, tàn sát dân Việt đánh cá trên vùng biển nước Việt. Trước những thảm cảnh của dân lành, của đồng bào, lực lượng hải quân thì trơ mắt đứng nhìn, lãnh đạo cộng sản thì ngậm miệng làm thinh, thậm chí còn xun xoe nịnh bợ hay cung cúc van nài đại ca nước lớn, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao thì vẫn cứ một điệp khúc nhàm chán: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng về chủ quyền trên vùng đảo…., báo chí công cụ thì hoặc câm như hến, hoặc chỉ nói vu vơ là “tàu lạ”. Thật tự cổ chí kim và từ đông sang tây, chưa có một nhà cầm quyền nào hèn mạt đến thế!!

Cũng phải nói đến cái hèn của những kẻ đang nắm quyền lực tinh thần và đang có quần chúng sau lưng, bên dưới. Trước nguy cơ của đất nước vì mất nhiều vùng ở biên giới, ngoài hải phận, trên Tây Nguyên, trước thảm nạn chức sắc lẫn giáo đồ bị sách nhiễu, hành hung, điển hình là trong vụ Thái Hà và nhất là vụ Tam Tòa và vụ Bát Nhã gần đây, nhiều lãnh đạo tôn giáo cao cấp vẫn cứ câm như hến trước cường lực chính trị, vì sợ mất đi những ân huệ Nhà nước ban cho, đồng thời lại tìm cách bịt miệng bề dưới của mình, làm tê liệt sức mạnh tiềm tàng vô song của Giáo hội (x. bài “Tam Tòa? Chuyện nhỏ!” của Lm Nguyễn Ngọc Tỉnh và bài “Niềm đau vô tận” của Nguyên Chơn).

Như vậy, cái hèn đích thực tại Việt Nam hiện nằm nơi nhiều kẻ đang nắm quyền lực chính trị và quyền lực tinh thần, chứ không phải nằm nơi đám dân hèn đâu!!!

Mua một Cục Nước Đá Nhỏ để hạ nhiệt kế đo độ cơ thể Tại Phi Trường Tân Sơn Nhất Trị Giá $100 Đô .



http://vietland.net/main/attachment.php?attachmentid=147&stc=1&d=1251322085LTS: Tin quốc nội cho biết tình trạng hiện đang xảy ra là nhân viên y tế kiểm dịch H1N1 tại Tân Sơn Nhất đã làm tiền khách du lịch trắng trợn là đòi họ trả $100 USD để lấy cục nước đá nhỏ đắp vào chỗ đo của nhiệt kế để tránh "quá nóng" sẽ bị đưa lên xe y tế về khu vực cách ly . Nếu tới khu vực cách ly tDefaulthì khách du lịch sẽ tốn cả bạc nghìn đô để ra khỏi nơi đây .

Dưới đây là một bài viết than phiền từ một du khách về tình trạng đẩy đưa của các bệnh viện khám nghiệm dịch H1N1 tại Sài Gòn .

Con gái tôi là du học sinh từ Mỹ về tối 4-8-2009 trong tình trạng sức khỏe bình thường. Đến tối 5-8 cháu có biểu hiện sốt nhẹ (37.8 độC), gia đình chúng tôi hơi lo sợ nên cho cháu uống thuốc hạ sốt. Đến tối 6-8, cháu sốt cao 38.5-39.0 độ C. Lúc này tôi cũng bị sốt đến 38.0 độ C.

Sáng 7-8, chúng tôi đưa cháu đi khám tại Bệnh viện Thống Nhất (Saigon). Tại đây, chúng tôi được nhân viên bán vé khám bệnh ở quầy số 2 trả lời một cách lạnh lùng: “Ở đây không nhận khám bệnh cúm A/H1N1”. Nghe vậy tôi nói: “Ở đây theo lệnh của Bộ Y tế có nhận điều trị cúm A/H1N1” thì nhân viên nói trên bảo hết giường và chỉ chúng tôi đến Viện Pasteur. Tôi đưa con đến Viện Pasteur thì ở đây chỉ đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới!

Quá bức xúc, tôi điện thoại vào đường dây nóng tư vấn về cúm mà tôi được biết và được người trực đường dây nóng này cho hai số điện thoại tại TP. Saigon. Tôi gọi vào hai số máy được cho thì được các vị trực điện thoại khuyên nên đưa cháu đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới. Các vị này còn khẳng định với tôi: “Nếu cháu là Việt kiều, chắc là đúng cúm A/H1N1 rồi, anh lên đó có phòng khám cúm riêng biệt, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới sẽ tiếp nhận đầy đủ”. Nghe thế, tôi đưa con đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới nhưng nhận được câu trả lời: “Ở đây không nhận khám bệnh, chỉ nhận cách ly khi có dương tính với cúm A/H1N1”. Rồi Bệnh viện Bệnh nhiệt đới hướng dẫn chúng tôi đến khám ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.

Đến Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, chúng tôi mua phiếu khám tại phòng 102. Sau khi trình bày với bác sĩ phụ trách phòng khám, chúng tôi xin xét nghiệm tầm soát thì vị bác sĩ này bảo phải cách ly 24-36 giờ mới được xét nghiệm! Chúng tôi không chịu thì vị bác sĩ này giới thiệu chúng tôi quay về Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú vì “ở đó có làm xét nghiệm và sẽ thu tiền”.

Chúng tôi phải mất nhiều thời gian mới liên lạc được với vị bác sĩ có trách nhiệm của Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú và được tư vấn đầy đủ. Tuy nhiên vị bác sĩ này bảo nếu có lấy bệnh phẩm thì cũng gửi Viện Pasteur làm xét nghiệm miễn phí, chứ không như vị bác sĩ ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nói đâu!

Thật là một chuyến hành trình đầy gian nan từ Q.Tân Phú - Bệnh viện Thống Nhất - Viện Pasteur - Bệnh viện Bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch rồi quay về Trung tâm Y tế dự phòng Q.Tân Phú cũng không làm được xét nghiệm tầm soát cúm A/H1N1! Giả sử con tôi thật sự có nhiễm cúm, dương tính với A/H1N1 thì độ lây lan sẽ đến đâu? Và liệu tính mạng của con tôi có an toàn?

NGUYỄN PHƯỚC

Bài Xem Nhiều