We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 4 September 2009

Viên Đạn Cuối Cùng


Lữ Đoàn 3 Dù ở Mặt Trận Thường Đức.


Tháng 8- 1974, một trận đánh lớn xẩy ra tại Thường Đức giữa hai Lữ đoàn Nhẩy Dù của Quân lực VNCH và 3 Sư Đoàn quân Bắc Việt, trận chiến rất khốc liệt, sau 3 tháng quần thảo, số tổn thất của hai bên rất to lớn. Tháng 8 năm nay 2009, trận chiến đã trôi qua 35 năm, nhưng những người lính Nhẩy Dù năm xưa vẫn không quên âm vang của trận đánh và những đồng đội đã nằm xuống. Xin mời đọc câu chuyện của một người Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù tham dự trong trận đánh này tại Thường Đức.Tâm Anh bước những bước nhẹ trên hè đường Tự Do, cơn gió lạnh cuối năm khiến nàng khoanh hai tay lại suýt xoa, những chiếc lá me khô lăn tròn như điệu nhạc luân vũ dưới chân nàng, Sài gòn năm nay được hưởng một cái lạnh khác thường, gần Noel rồi còn gì, ngang qua Brodard, nhiều cặp mắt trong đó nhìn nàng, còn anh trong đó nữa đâu, vậy là anh vĩnh viễn xa em rồi, phải chi anh đừng mê đời lính, phải chi anh đừng mê súng đạn thì giờ này em đâu có cô đơn như thế này.

Tâm Anh nhớ lại, cũng là Broadard này một ngày nào đó, ngày hai người còn quấn quýt bên nhau, khi đang ngồi uống nước, ngắm thiên hạ qua lại, bất chợt Chương nắm tay nàng:- Em, anh đã suy nghĩ kỹ rồi, anh sẽ nhập ngũ, vào Võ Bị Đà Lạt.Cái ống hút rời khỏi đôi môi xinh xắn, nàng không ngạc nhiên nhưng có bàng hoàng, Tâm Anh chờ đợi ngày này sẽ đến và bây giờ nó đến, vậy mà vẫn không tránh được, nàng hiểu tính Chương, thời gian gần đây, Chương luôn than phiền về một cái gì đó, không rõ ràng, có lúc Chương bảo sao chàng thấy thành phố này ngột ngạt quá, chỉ muốn xa khỏi đây, có lúc Chương đứng sững nhìn một người lính phía bên kia đường, lẩm bẩm: " vậy mà Trung nó chết cũng được nửa năm rồi", Trung là một trong ba người bạn thân của chàng, cùng đang học Đại học, rồi cả ba bỏ đi lính, khi mãn khóa, Trung chọn binh chủng Nhẩy dù, hai người kia chọn bộ binh và đổi đi xa, chỉ có Trung thỉnh thoảng về phép, rủ Chương và nàng đi chơi như ngày xưa, ngày mấy người còn vui chơi với nhau chung một nhóm, Trung đen hơn nhưng rắn rỏi, mỗi lần về, Trung say sưa kể về một trận đánh nào đó mà anh tham dự, nàng bắt gặp ánh mắt Chương rực sáng khi nghe Trung nói chuyện, thế rồi Trung không còn dịp về nữa để kể chuyện chiến trường cho Chương nghe, anh đã hy sinh trong một trận đánh ở đâu đó, nàng không nghĩ Chương lại nối gót theo mấy người kia sớm tới như thế.Nàng bất chợt hỏi Chương:

- Anh bỏ đi như vậy, còn tình yêu chúng mình, còn em thì sao?- Thì tình yêu mình cũng vẫn còn đấy chứ em, biết đâu sự xa cách này chẳng là một thử thách cho đôi ta, nếu mình vẫn giữ vững được, nếu mình vẫn chỉ nghĩ đến nhau thì cuộc hôn nhân mới thực bền vững.Chương gặp Tâm Anh trong dịp sinh nhật đứa em họ tên Dung, Tâm Anh và Dung học chung một lớp, Première ở Marie Curie, mấy năm trước hồi còn lớp dưới, Dung học cũng thường thường thôi, nhưng năm lên đệ nhị, Dung khá hẳn lên, Tâm Anh hỏi lý do, Dung cho biết nhờ ông anh họ kèm toán, ông đang học ở Kiến Trúc.- À, Kiến Trúc thì giỏi toán rồi, mày nói ông ấy dạy kèm tao với được không! - Được, để tao nói xem sao, nhưng đẹp như mày thì chẳng phải nhờ mà khối người tình nguyện dạy cho mày, sinh nhật tao sắp tới, tao sẽ mời ông ấy cho mày làm quen, à quên, để ông ấy quen mày. & nbsp; Tâm Anh là hoa khôi của lớp nhưng trong buổi tiệc Chương chú ý nhất là nụ cười của nàng, chàng thấy chung quanh như rực sáng lên theo cùng nụ cười, sau này, khi hai người đã yêu nhau Chương mới nói:- Em đẹp, ai cũng biết, nhưng hôm đó anh chú ý đến em không phải vì cái bộ mặt kiêu căng thấy ghét, anh chỉ thích nụ cười của em, mỗi lần em cười, anh thấy cái ly trong tay em nó cũng cười, cái bàn trước mặt em nó cũng cười, thế rồi anh biết là đến mê em mất thôi.- Chỉ khéo nịnh, hôm đó anh thấy ghét , cứ nhìn người ta chằm chằm, em bị nhiều người nhìn em như thế rồi nhưng sao ánh mắt anh làm em luống cuống, em đã phải la thầm em: cái con nhỏ này, sao vậy, rồi em bảo cái ông này mà dạy kèm mình, thế nào ông ấy cũng dê mình thôi.- Không phải dê, em nói tiếng Việt lộn xộn quá, phải nói là ông ấy thế nào cũng mê mình thôi, em vẫn học thêm chương trình Việt văn đấy chứ.- Vẫn, anh có muốn em đọc Chinh phụ ngâm cho anh nghe không.Câu nói vô tình thế mà giờ lại là sự thật, tại sao mình lại chỉ thuộc cuốn Chinh phụ Ngâm thôi, đấy, cho đáng, giờ ráng mà: lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi. Ôi cô Tiểu thư khuê các giờ vò võ tấm thân theo mãi bóng ai đi.Tâm Anh là con nhà giầu, bố mẹ có cửa hàng xuất nhập cảng len sợi ở đường Gia Long, xét theo vậy, nàng có cả một tương lai tươi sáng trước mặt, nàng còn có một giọng hát rất hay, luôn được mời gọi trong các buổi party, bao kẻ theo đuổi nhưng nàng dửng dưng trước những lời tán tỉnh, cho đến khi gặp Chương, cái tánh tàng tàng lạ lùng của chàng khiến Tâm Anh chú ý, khi Chương kèm toán cho nàng một thời gian, một hôm Tâm Anh hỏi Chương về việc gửi chàng học phí, Chương không trả lời, nhìn nàng bằng một ánh mắt khó hiểu, Dung hốt hoảng khi nghe


Tâm Anh nói điều đó, đợi Chương về, Dung nói như gắt:- Con gà tồ này, sao không hỏi tao mà tự nhiên phát ngôn bừa bãi!- Gà tồ là cái gì, tao nhờ ông ấy dạy kèm thì tao phải trả tiền cho ông ấy chứ.- Thật là gà tồ, mày không biết rằng mày là ưu tiên số một, trên hết mọi người khác không!Nào Tâm Anh hiểu được mình là ưu tiên số một như Dung nói, rồi những lần đi chơi, cử chỉ của Chương săn sóc nàng thì Tâm Anh hiểu thế nào là ưu tiên số một, tình yêu đến nhẹ nhàng như sương, như khói, và bây giờ, khi đang ngụp lặn trong đắm say thì Chương đòi bỏ đi Đà Lạt.Ngày mai Chương đi, tối đó, hai người đi chơi với nhau lần cuối, Chương đưa nàng vào Tự Do, phòng trà mà nhiều lần họ từng vào đây, bước qua cửa vừa lúc Strawberry Four đang hát bài Hey Jude, một bản nhạc nổi tiếng của Beetles, tới khuya, Chương đưa nàng về, cả hai đi bộ về nhà nàng ở đường Gia Long, cũng gần đấy, nhiều lần trong những lúc đi chơi khuya về, dưới bóng tối cây me che khuất ánh đèn đường, Tâm Anh kiễng chân hôn Chương trước cửa nhà với lời thì thầm: " bonne nuit" rồi quay vào.Tối nay thì khác, vẫn là yên lặng, vẫn dưới bóng cây me, Tâm Anh không kiễng chân hôn Chương như mọi lần, nàng ôm Chương thật lâu, khi Chương nói: thôi vào đi em, anh về, thì Tâm Anh lắc đầu, nàng ôm chặt Chương hơn, một lúc, Tâm Anh nói trong nước mắt:- Em không vào, tối nay em muốn đi với anh, còn lâu lắm chúng ta mới gặp lại nhau, anh tập cho em quen có anh ở bên cạnh, anh dạy cho em thế nào là nỗi nhớ thương, giờ anh đùng đùng bỏ em đi, đi anh, hãy đưa em đi bất cứ đâu, miễn là có anh bên em, bố mẹ em đi vắng không có nhà, có phải bề trên đã sắp xếp cho chúng ta được bên nhau tối cuối cùng này không.Tối đó, Tâm Anh đã cho Chương tất cả, tình yêu không làm nàng suy tính thiệt hơn, sự tuyệt vời của đụng chạm xác thịt nam, nữ mà lần đầu nàng được biết càng làm nàng yêu Chương nhiều hơn.Chương nhập học khóa 25 Võ Bị Đà Lạt cuối năm 1968, thời gian đầu hết sức vất vả, nhất là tám tuần sơ khởi:" Ai có dí súng sau lưng các anh bắt các anh vô đây đâu, giờ than than thở thở, kêu ca cả với thợ giặt, bộ họ cứu các anh được hả."Đúng thế, chẳng có ai bắt mình vô đây cả, tự mình thôi, ngay cả Tâm Anh khóc lóc nhưng giọt nước mắt ấy có giữ được chân mình đâu, khi con đại bàng đã muốn tung bay, giọt nước mắt đó chỉ là những sợi tơ trời, tơ trời cùng lắm giữ được con ruồi, con muỗi chứ sao giữ được cánh chim khao khát gió mưa.Bốn năm thụ huấn, những dịp hè, Tâm Anh lên thăm Chương, chàng trông mạnh khỏe ,có hơi đen đi một chút, khi Chương ra trường cuối năm 72, Tâm Anh đang học năm thứ hai Dược, theo bước Trung, người bạn năm xưa, Chương chọn Nhẩy Dù, một binh chủng nổi danh với những trận đánh khốc liệt.Cuối năm 1972, chiến trường đã qua đi những trận đánh lớn, tháng giêng 1973, Hiệp định Paris được ký kết đúng với sự mong đợi của Hoa Kỳ và VC, về phía Hoa Kỳ, có người bảo nhiệm vụ của họ đã xong, tức chiến lược toàn cầu của họ đã hoàn tất, giờ Mỹ có thể rút hết quân về nước, để hai bên VN giải quyết với nhau, đúng ra phải nói là để miền Bắc giải quyết miền Nam vì Mỹ không giữ lời cam kết là sẽ yểm trợ chính phủ VNCH, trong khi miền Nam đơn độc chiến đấu thiếu cả về vũ khí lẫn viện trợ kinh tế thì CS Bắc Việt lại được sự yểm trợ to tát của toàn khối CS.Về phía Bắc Việt, ký kết Hiệp định Paris là cơ hội để họ xâm chiếm miền Nam, khi người Mỹ bắt đầu rút quân thì cũng là lúc CS đem quân ồ ạt vượt qua vĩ tuyến 17, chúng hoàn thành con đường đông Trường Sơn để chuyển quân và vũ khí được nhanh hơn, xe cộ và bộ đội rầm rộ chuyển vào như chỗ không người, trước đây chúng không dám ngang nhiên như vậy vì sợ B52 và quân ta phục kích.

Hiệp ước Paris qui định ai ở đâu thì yên đó nhưng với VC, có khi nào ta tin được chúng, kinh nghiệm cái Tết Mậu thân còn đó. Tuy quân VC gia tăng nỗ lực chuẩn bị cho cuộc chiến nhưng chúng vẫn chưa nắm vững không biết người Mỹ có quay trở lại hay không nếu chúng mở các cuộc tấn công lớn. Qua nhiều cuộc lấn chiếm thăm dò, Mỹ vẫn giữ thái độ im lặng, chúng quyết định mở một cuộc tấn công và nơi chúng lựa chọn cho cuộc thử thách này là Thường Đức, nếu chúng thắng cuộc chiến ở đây, chúng sẽ đưa quân thẳng ra biển, chia cắt miền Nam làm hai và sự sụp đổ của VNCH chỉ đếm từng ngày.Thường Đức là một quận nhỏ thuộc tỉnh Quảng Nam, được tách ra từ Quận Đức Dục, nằm phía Tây Đà Nẵng trên liên tỉnh lộ 4, cách Quốc lộ 1 khoảng 40 cây số. Đây là một điểm chiến lược quan trọng, coi như tiền đồn của của Đà nẵng. Thường Đức trước kia là một trại LLĐB Mỹ, xây dựng kiên cố với những hầm ngầm bê tông cốt sắt.Quân trú phòng tại Thường Đức có 2 ĐĐ Địa phương quân, 14 Trung đội Nghĩa quân, tháng 6, 1974, tin tức tình báo cho biết VC đang chuẩn bị lực lượng có thể tấn công Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 BĐQ được tăng cường thêm cho Chi khu này, gọi là Chi khu nhưng nó có tính cách chiến lược hơn là yếu tố kinh tế, dân thì toàn là gia đình của binh sĩ trú đóng tại đây, đất đai khô cằn sỏi đá, ba hướng bao quanh là núi cao dốc đứng, chỉ có hướng Đông để ra QL1 là bằng phẳng.VC tấn công Thường Đức với SĐ 304( SĐ Điện Biên ), SĐ 324 và nhiều Trg Đoàn tăng cường cùng các đơn vị Pháo và xe tăng, quân trú phòng chống cự mãnh liệt, TĐ 79 BĐQ chiến đấu dũng cảm, gây thiệt hại to lớn cho quân tấn công, phía trú phòng cũng bị thiệt hại, Trung Tá Quân Trưởng bị thương nặng, Th/T TĐT /79 BĐQ cũng bị thương và gọi pháo bắn ngay trên đầu, sau gần 10 ngày chống cự, với quân số địch quá đông và các họng pháo ở những ngọn đồi chung quanh bắn trực xạ vào Thường Đức, Quận bị thất thủ.Lo sợ cho Đà Nẵng, Tướng Trưởng xin Bộ TTM cho SĐ Dù tham chiến, Lữ đoàn 1 gồm 3 TĐ: 1,7 và 9 được không vận từ SG bằng C130 xuống Đại Lộc.Trung Úy Nguyễn thanh Chương, khóa 25 VB Đà Lạt lúc này là ĐĐT của TĐ 1 Nhẩy Dù tham dự cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù cũng chuẩn bị vào vùng từ Huế.Đường vào Thường Đức rất bất lợi cho quân giải tỏa, chỉ có một con đường độc đạo là liên tỉnh lộ 4 từ ngoài Đại Lộc tới Thường Đức mà hai bên đường có nhiều ngọn đồi mà VC đã chiếm, thiết lập công sự phòng thủ kiên cố trong vách đá, trong đó có ngọn đồi 1062, từ đây chúng có thể kiểm soát mọi sự di chuyển trên LTL4, VC đã chiếm ngọn núi này trước khi chúng tấn công Thường Đức vì chúng biết thế nào phía ta cũng đem quân giải cứu Quận lỵ này.

Lữ đoàn 1 dàn quân xuất phát mà ưu tiên phải chiếm được ngọn đồi 1062, họ biết là quân VC đã sẵn sàng đợi họ ở đây. Tiểu Đoàn 1 của Chương được chỉ định chiếm ngọn đồi này, đường tiến quân rất khó khăn vất vả, phải băng qua những khoảng trống mà pháo của chúng đã có tọa độ sẵn, rồi các đồi đá phải vượt qua,bứng những chốt Cộng quân cài chung quanh để cầm chân bước tiến của quân Dù. Khi gần tới được gần 1062, TĐ1 đã bị một số tổn thất nhưng nhiệm vụ trước mắt vẫn là làm sao phải chiếm cho được ngọn đồi này để kiểm soát con đường nằm phía dưới dẫn vào Thường Đức.TĐ1 dàn quân dưới chân đồi 1062, một cái lưng yên ngựa phải vượt qua trước khi tới sát được dưới chân đồi, địch từ trên cao có lợi thế hơn và hầm hố chúng xây dựng trong hốc đá kiên cố với nhưng cây cổ thụ to được chúng cưa làm nóc hầm. Cả hai Đại Đội Dù được pháo binh yểm trợ xung phong chiếm mục tiêu nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt của địch, cối 120 ly và hỏa tiễn 122 ly được địch bắn xối xả vào vị trí quân Dù, những mục tiêu tác xạ chúng đã tiên liệu trước và tiền sát của chúng từ những ngọn đồi chung quanh gọi pháo chính xác, suốt một ngày, Dù bị cầm chân, Đại Đội Chương mất mất một Th/U Trung đội trưởng và 5 binh sĩ cùng khoảng một chục bị thương.Lệnh từ TĐ cho ĐĐ Chương lùi lại, bố trí tuyến phòng thủ đêm lấy sức cho cuộc tấn công ngày hôm sau, rạng sáng, ĐĐ Chương, bọc qua hướng khác, nơi có nhiều dốc đá thẳng đứng, hướng này địch có lơ là vì không nghĩ Dù sẽ chọn để tấn công, pháo ta dồn dập đổ xuống đỉnh đồi, địch co cụm trong hầm hố tránh pháo, lính Dù bám từng hốc đá âm thầm leo lên ,khi gần tới đỉnh đồi, họ đồng loạt khai hỏa xung phong, Dù dùng lựu đạn ném xuống hầm, bị bất ngờ, chúng hốt hoảng bung hầm chạy, ĐĐ Chương chiếm được đồi 1062 nhưng ngay lập tức, địch pháo kích dữ dội với đủ loại pháo từ những ngọn đồi chung quanh, lính Dù nhờ có hầm hố kiên cố sẵn của bọn chúng, tránh được nhiều thiệt hại, ĐĐ Chương được lệnh bố trí giữ ngọn đồi, sáng hôm sau sẽ có một ĐĐ bạn lên tăng cường nhưng tối đó, Chương không thể giữ được ngọn đồi mà suốt ngày hôm nay đã đổ bao xương máu mới chiếm được, mới chập tối, địch pháo tàn sát ngọn đồi rồi cho nguyên một Trung đoàn xung phong tái chiếm, ở tuyến phòng thủ phía Tây, Th/U Thành, một Trung đội trưởng xuất sắc của Chương gọi máy cho biết địch rất đông, đang tràn ngập mục tiêu, Thành xin pháo binh bắn ngay trên đầu, TĐ cho lệnh Chương rút xuống, Chương gọi máy cho lệnh, không có tiếng Thành trả lời, tuyến của Thành bị tràn ngập, Thành bị nguyên một băng AK nát hết người, khi lính của ĐĐ rút hết, Chương xuống sau cùng, chàng gọi pháo dập xuống đỉnh 1062, lúc Chương đang lao xuống gần chân đồi, một trái pháo nổ ngay cạnh Chương, không biết của ta hay của địch, Chương thấy tối tăm mẵt mũi và rồi không biết gì nữa.Ngày hôm sau, một ĐĐ khác được lệnh tấn công tái chiếm ngọn đồi, họ gặp Chương nằm trên vũng máu, người lính mang máy và cận vệ của anh nằm chết bên cạnh, Chương bị thương rất nặng, pháo cắt đứt một chân anh, mặt phủ đầy máu, Chương được tải thương ngay lập tức, suốt mấy ngày ở bệnh viện, Chương ở trong biên giới giữa cái sống và cái chết.Cuối cùng, người ta đã cứu được Chương thoát lưỡi hái của tử thần nhưng không cứu được cái chân của anh, và khuôn mặt, một mảnh pháo chém sạt một bên má. Khi tỉnh lại, Chương biết mình bị thương nặng lắm, cái đầu cuốn trong băng trắng xóa và đau nhức khủng khiếp, Chương cũng biết mình mất mất một chân, các Bác Sĩ khi thấy Chương đã đủ khỏe, họ cho anh biết sự thực về khuôn mặt, họ nói sẽ cố gắng đắp vá cho anh nhưng không thể nào có được hình hài như xưa.

TĐ cho một người lính thân cận của Chương ở hẳn Bệnh viện để chăm sóc anh cùng với chiếc xe jeep, Đầy, người Hạ sĩ theo Chương từ ngày Chương gia nhập Nhẩy Dù, Đầy là người lo cho anh từ cái ăn, cái ngủ như người mẹ hiền, giờ vẫn cạnh ông thầy khi ông thầy bị thương quá nặng, vẫn chăm sóc anh từng li, từng tí, Chương không cho Đầy báo gì Tâm Anh biết, cho đến một ngày, Chương dặn dò Đầy đến cho Tâm Anh biết tin nhưng là một cái tin Đầy thấy khó khăn để nói.Gần hai tháng nay, Tâm Anh không nhận được thư từ hay tin tức gì của Chương cả, nàng có nghe về những trận đánh xẩy ra với đơn vị Nhẩy Dù ở đâu đó, một buổi trưa, một cái xe jeep đỗ xịch trước cửa nhà, nàng thấy Đầy bước xuống, Tâm Anh chạy vội ra:- Chú Đầy, Trung Úy không về hả, có thư không vậy chú ?Đầy không nói gì cả, anh bước vào trong nhà, tay cầm chiếc mũ béret đỏ xoay xoay trong tay.Nhìn cử chỉ khác thường của Đầy, Tâm Anh biến sắc, nàng đưa tay lên ngực: gì thế này, có chuyện gì xẩy ra cho Chương rồi sao, đừng nói gì không may nghe chú Đầy, sao mặt chú lại buồn thế kia, đừng, chắc không có gì đâu, có gì nói đi, nói đi chú Đầy.Sau một chút ngập ngừng, Đầy lên tiếng:- Xin cô bình tĩnh, mời cô ngồi xuống, Trung Úy Chương đã hy sinh, ở mặt trận Thường Đức, quân địch tràn ngập mục tiêu, chúng tôi không lấy được xác Trung Úy, Trung Úy đã chiến đấu dũng cảm nhưng địch đông quá....Tâm Anh choáng váng mặt mày, nàng buông rơi mình trên ghế, không còn nghe những gì Đầy đang nói tiếp, thế đấy anh ơi, sao giản dị quá: Trung Úy đã hy sinh, câu nói thật đơn giản mà như đất trời sụp đổ, bao nhiêu người đã được nghe những câu đơn giản như thế này, bao nhiêu cõi đời tan nát?Hạ sĩ Đầy đã hoàn thành nhiệm vụ được Chương trao phó, một nhiệm vụ khác thường trong bao nhiêu việc Chương đã bảo anh làm trước đây, công việc chút nữa đã không hoàn thành khi Đầy nhìn thấy sự đau khổ tột cùng trên gương mặt Tâm Anh, nhờ là một người lính tác chiến sắt đá nên đã kềm chế được mình vì anh hiểu những gì ông thầy mình muốn cho quãng đời còn lại của ông ấy và nhất là cho Tâm Anh, Đầy cũng thương ông Trung Úy của mình không kém gì Tâm Anh, có điều hai tình thương khác nhau, với Đầy, Chương là một cấp chỉ huy gương mẫu, can đảm và thương yêu binh sĩ hơn cả tình đồng đội, những ngày ở Bệnh viện, đã bao lần Đầy ngăn nước mắt khi nhìn Chương trong hình hài không còn nguyên vẹn.Tâm Anh bỏ ngang việc học, nàng không còn tâm trí để nghĩ đến sách vở, nàng đi hát để tìm quên, nhờ làn hơi thiên phú, chỉ trong thời gian ngắn, tiếng ca nàng vút cao trong nền ca nhạc ở Sài Gòn, nhiều nơi săn đón mời nàng hát cho phòng trà của mình, Tâm Anh chọn chỉ hát độc quyền cho Tự Do, một phòng trà mà lúc còn sống Chương rất thích, ở đây, nàng như thấy Chương của một ngày nào: Hey Jude, don't let me down, ngày hai người quấn quýt bên nhau với tiếng hát của Billy Shane, của Strawberry Four. Nàng cũng thuộc lòng câu thơ Chương làm cho nàng trong một lần lên Đà Lạt thăm Chương về:Anh cứ sợ rồi mình sẽ quên nhaunhư con đường nơi đónhư ngày nao trên thềm phố chợsáng Chủ Nhậtem chờ anhvẫn trên cao là những nhánh thông xanhvà dưới thấp là mặt hồ yên lặngcó phải mùa Thu làm mắt em xa vắngrồi mình sẽ quên nhauTâm Anh rưng rưng nước mắt, đấy, anh ơi, đang yêu nhau mà anh cứ nghĩ đến chuyện cách chia, giờ ta xa nhau thật rồi, xa nhau vĩnh viễn, em giờ đây như rừng thu...Anh đang yên nằm ở đâu, sao người ta không đem anh về cho em, Tâm Anh vẫn buốt lòng mỗi khi nghĩ tới Chương.Chương ở trên một căn gác nhỏ, có Đầy lo cho mọi chuyện, thời gian đầu khi còn phải tới lui bệnh viện cho các Bác sĩ tái tạo lại khuôn mặt, Đầy vẫn lái xe chở Chương trên cái xe jeep mà TĐ cung cấp, khuôn mặt chỉ làm đỡ được phần nào trong sự tàn phá của trái pháo, khi soi gương, Chương cũng không nhận ra mình, chiến tranh ghê gớm quá.Cứ mỗi tối, đúng 10 giờ, Tâm Anh xuất hiện trên sân khấu Tự Do, sau lời giới thiệu, nàng bước ra trong chiếc áo dài lộng lẫy, Tâm Anh cúi chào khán giả, mái tóc ngang vai xõa xuống che khuôn mặt u buồn, nàng hất mái tóc ra phía sau, giọng hát cất lên, nàng hát như gửi hồn vào một thời nào đó, có lúc nức nở như gửi tiếc thương cho một ai ở nơi xa xôi.Xong bài hát, người bồi mang lại mảnh giấy nhỏ đưa cho Tâm Anh, nàng liếc nhanh:" Người đi qua đời tôi, cám ơn."

Quái lạ, mấy tuần nay, cứ đúng thứ bẩy, nàng lại nhận được mảnh giấy yêu cầu bài hát Người đi qua đời tôi, chắc vẫn là người khách này. Tiếng hát cất lên : người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu... Giọng Tâm Anh như nức nở : anh đi qua đời em, có nhớ gì không anh ?Hết phần trình diễn của mình, Tâm Anh ra về, nàng ngập ngừng trước cửa : vị khách kia chắc có một tâm sự buồn lắm, cùng tâm trạng như mình, nàng đưa tay nhìn đồng hồ, để hôm nào mình phải gặp vị khách đó để thăm hỏi xem sao.Một lúc sau, một chiếc xe jeep chạy tới, đậu gần nơi cửa, Đầy xuống xe bước vào phòng trà, cũng sắp hết giờ, anh tiến lại phía chiếc cột khuất trong bóng tối, nghiêng xuống nói với một người ngồi ở đấy : Trung Úy để em đỡ ra xe. Chương chống tay xuống bàn, đứng dậy, Đầy dìu ông thầy ra xe, gió đêm thổi làm Chương thấy bớt ngột ngạt.Sáu tháng sau, Tâm Anh lấy chồng, cũng một người trong Quân đội, trong căn gác nhỏ, Chương nghĩ thôi thế cũng xong, mình đã chẳng từng cầu mong Tâm Anh được hạnh phúc hay sao, ngày rồi cũng lụi tàn, mình coi như đã chết trong Tâm Anh và nàng coi như đã xa khỏi đời mình- Chương bật cười- như cái chân nó cũng xa khỏi đời mình. Chương nhớ đồng đội khôn tả, nhớ những lúc băng mình trong lửa đạn, nhớ tiếng reo hò xung phong chiếm mục tiêu.Rồi tình hình chiến sự trong những ngày kế tiếp hết sức khẩn trương, Ban mê Thuột có thể thất thủ, Chương theo dõi báo chí và tin tức trên đài phát thanh, Đầy chạy đi chạy về hậu cứ Tiểu Đoàn cho Chương biết TĐ hiện đang ở đâu, làm gì, tình hình càng ngày càng xấu đi, Lữ Đoàn đang chống giữ tại Khánh Dương, rồi đang đánh nhau ở Long Khánh, Chương giật mình, Long Khánh à, vậy là gần quá rồi, sao mà lại nhanh như vậy, mới đây thôi, mình còn làm cho chúng tan hoang ở Thường Đức mà.29 tháng Tư, Đầy chạy vội lên căn gác:- Ông thầy, Tiểu Đoàn mình đang giữ cầu xa lộ, VC với xe tăng đang tiến từ biên Hòa xuống, chắc sẽ đụng lớn ở đây.Chương nhỏm dậy, với tay lấy bộ quần áo hoa dù mặc vào người, dắt theo khẩu colt hấp tấp hỏi Đầy:- Có đúng Tiểu đoàn đang ờ cầu xa lộ không?- Đúng ông thầy, em mới gặp thằng Tư Đen nó nói vậy.- Chú lái xe đưa tôi ra đó ngay, đi, nhanh lên.Chiếc xe Đầy lái chạy như bay qua ngã ba Hàng Xanh, quẹo theo hướng xa lộ, dọc đường, Chương thấy dân chúng nhốn nháo, có người sách cả đồ đạc như chạy loạn, chiếc xe chạy tới giữa cầu thì ngừng lại, lính Dù bố trí dọc theo hai bên thành cầu, có pháo rớt chung quanh. Chương chống nạng tới chỗ có mấy cái cần ăng ten, Trung Tá TĐT Tiểu đoàn Dù mà Chương phục vụ trước đây đang nói chuyện trên máy, Chương bước tới đứng nghiêm chào vị TĐT, người cách đây mấy tháng đã cùng anh xông pha trong lửa đạn ở Thường Đức.- Trời ơi Chương, cậu tới đây làm gì, lui xuống dưới kia, tụi nó sắp tới, có cả tăng nữa, lui xuống.- Không đích thân, đích thân cho tôi được chiến đấu với anh em lần cuối, Nhẩy Dù cố gắng mà đích thân.

Vị Tiểu Đoàn Trưỏng Dù nhìn Chương trừng trừng, môi ông run run, một người vào sinh ra tử cả bao nhiêu trận, bỗng dưng thấy lòng chùng xuống, ông chào Chương, một thượng cấp chào thuộc cấp, chưa bao giờ Chương gặp trường hợp như vậy, chàng lọc cọc chống nạng bước đi, cúi nhặt khẩu M16 của ai vứt cạnh đó cùng sợi dây ba chạc, có tiếng Đầy:- Ông thầy chờ em, em đi cùng với ông thầy.Hai thầy trò xách 2 cây súng, ngồi dựa vào thành cầu, những người lính Dù đang nhắm súng vào hướng địch, có tiếng súng nổ từ hướng bên kia đầu cầu, tiếng đạn AK mà cả hai đã từng nghe quen, Chương lẩm bẩm: bài hát sao mà đúng thế, tai nghe quen đạn thù, chàng cao giọng:- Nhẩy Dù cố gắng nghe Đầy.- Dạ, Nhẩy Dù cố gắng ông thầy.Tiểu Đoàn Dù đã thiết lập được hai lô cốt tạm ở đầu cầu hướng về phía nhà máy xi măng Hà Tiên, bộ binh địch bắt đầu xông lên nhưng chạm phải Dù bắn trả, chúng lùi lại rồi xốc tới, một lần rôi hai lần, chúng bị chặn lại, chưa bao giờ đánh nhau mà không được một sự yểm trợ nào cả như lần này, từ pháo binh tới phi cơ, Chương và Đầy nhắm vào toán VC gần chân cầu, lâu rồi Chương mới cầm khẩu M16 mà bắn như vậy, không còn lệnh lạc, không còn chỉ huy, chỉ còn nhắm quân thù mà bắn.Buổi tối, địch thôi tấn công, đêm yên lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng pháo kích hướng Tân sơn Nhất và những tràng đạn nổ ở đâu xa nghe như pháo tết, Đầy kiếm được bịch gạo sấy và hộp thịt ba lát, Chương không ăn, hai thầy trò nằm cạnh nhau, trời trong và đẹp, những vì sao trên cao không sáng bằng sao ở Thường Đức, Đầy kể cho Chương nghe về những người người lính trong Đại Đội đã hy sinh ở đấy, về những người bạn ĐĐT và Trung đội Trưởng đã nằm xuống, Chương nhớ vô cùng những người lính trong ĐĐ trước đây, mỗi lần nói chuyện với họ, Chương luôn thấy ấm áp và một sự khoan khoái trong lòng, những người mà mới chuyện trò với họ hôm qua, hôm nay đã hy sinh, chịu đựng gian khổ và hiểm nguy, để được gì ngoài tình yêu quê hương.Đêm mấy tháng trước ở đó đâu có yên lặng như thế này, mà chắc cũng không yên được lâu đâu, chúng đang chuẩn bị đấy, khi chúng im lặng là chúng đang chuẩn bị cho cuộc tấn công tiếp theo.Không biết cả hai thiếp đi được bao lâu, có tiếng súng nổ ran từ phía đấu cầu, trời mờ sáng, chúng bắt đầu tấn công, Chương và Đầy gom mấy dây đạn lại, chúng xuấy hiện ngay dưới chân cầu, những người lính Dù chuyển đổi vị trí ẩn nấp, có tiếng ì ì từ xa, xe tăng địch tới, chẳng còn gì ở đây cả, chỉ còn ít cây M72, mấy ngày nay, Dù vừa di tản vừa phải chiến đấu, đạn dược, lương thực đã cạn, chưa được tiếp tế, hai chiếc xe tăng địch đi đầu khai hỏa, địa thế trống trải, chúng bắn dọc theo cầu, pháo tăng nổ cấp tập trên mặt cầu, quân Dù rút dần về phía đầu bên này, một viên đạn pháo xe tăng nổ ngay chỗ Đầy nằm cách Chương mấy thước, Chương bò tới, Đầy bị trái pháo nát bấy người, nhìn thấy Chương, anh chỉ kịp thều thào:Trung Úy rồi ra đi, Chương nắm tay Đầy, vuốt mắt cho người lính thương yêu, người đã sống chết với anh bao lâu nay nơi chiến trường và săn sóc Chương trong những ngày đau đớn, chiến tranh chưa ngưng, còn tàn hại tới giây phút cuối cùng, chàng nắm cây M16 nghiến răng bắn một loạt về phía mấy tên VC đi đầu, tiếng tăng mỗi lúc mỗi gần, Chương tuyệt vọng, mấy tháng trước mình đã không chết ở Thường Đức, giờ mình chết ở đây, cũng không sao, Chương rút khẩu colt, lên đạn, tiếng xe tăng nghe càng rõ dần, nhìn Đầy nằm bên cạnh, anh thì thầm: thầy trò mình có nhau, Đầy ạ. Một tiếng vang lên, không phải Chương đang lao xuống từ ngọn đồi 1062, anh đang lao xuống một vực sâu, sâu lắm.Trưa 30 tháng Tư, sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, dân chúng xuôi ngược trên cầu xa lộ nhìn thấy xác hai người lính Nhẩy Dù, trong đó có một người cụt mất một chân và tay họ nắm chặt lấy nhau.VIẾT THÊM CHO LỜI KẾT -

Trận Thường Đức có thể nói là trận đánh lớn nhất của SĐ Nhẩy Dù, hơn 3 tháng quần thảo với hai SĐ cộng quân là SĐ 304 và 324, thêm nhiều Trung đoàn tăng cuờng cùng các Trung đoàn pháo, Cộng quân rút khỏi Thường Đức, ngọn đồi 1062 trước xanh tươi, giờ trơ trụi cây cối,được chiếm đi chiếm lại nhiều lần của hai bên, số thiệt hại như sau :- Sư Đoàn Dù có 2 Lữ Đoàn 1 và 3 tham dự với 7 TĐ thay phiên nhau xa luân chiến, 500 tử thương , khoảng hơn 2000 bị thương, số tổn thất bằng 50% quân số.- Cộng quân, ba Trung đoàn 24, 26, 66 coi như xóa sổ, hơn 2000 bị chết, 5000 bị thương.Trong số những người hy sinh của SĐ Dù, có nhiều ĐĐT và Trung đội trưởng, Đại Úy Ngụy văn Đàng, một ĐĐT của TĐ 3 Dù đã phải gọi pháo binh và phi cơ dội ngay trên đầu mình vì địch quá đông, tràn ngập điên cuồng trong chiến thuật biển người, khi tìm được xác anh, ĐU Đàng chết trong thế ngồi, mắt mở trừng trừng, người đầy vết đạn, anh chết mà chúng vẫn tiếp tục bắn vào anh, người bạn thân cùng khóa 25 Võ Bị với Chương là Đại Úy Võ Thiện Thư, Đại Đội trưởng ĐĐ34 cùng Trung Úy Tô văn Nhị khóa 26 lên tiếp cứu cho Đàng cũng đã chiến đấu dũng mãnh, địch xử dụng 1 Trung đoàn, cuồn cuộn biển người, cuối cùng, cũng như Đàng, Thư đã gọi pháo binh bắn ngay lên đầu khi bị địch tràn ngập, cả hai hy sinh.


Khóa 26 VB về Nhẩy Dù 10 Sĩ Quan thì nội trong trận Thường Đức cũng đã hy sinh 5 người. Các Sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt phải trải qua một hành trình 12 năm ở Tiểu học và Trung học, 4 năm tại Trường Võ Bị, tổng cộng 16 năm, tốt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy, những người sẽ là rường cột của Quân Đội sau này, nhưng chỉ cần một viên đạn, ngay trận đánh đầu tiên, đã hy sinh, có uổng phí không? không, người Sĩ Quan Hiện dịch là như vậy, cần được tôi luyện trong khói lửa.Hơn 5 tháng sau trận đánh tàn khốc này, miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Một sự thật đau lòng bởi sự phản bội của người Mỹ, cả một Quân đội hùng mạnh bị trói chân, trói tay trong cuộc chiến tuyệt vọng. Ở Thường Đức, Nhẩy Dù đã anh hùng chiến đấu giữ vững được bờ cõi, những năm tháng trước đó, ở Quảng Trị, Bình Long, Kontum, Qưân lực VNCH đã chiến đấu dũng cảm, rồi bao trận đánh oai hùng năm xưa. Khi người Mỹ đã xong công việc, họ gọi là cuộc rút quân trong danh dự, thật ra đây là cuộc rút quân nhục nhã, cuộc rút quân phản bội, chỉ tội nghiệp, ta đã hy sinh uổng phí, mấy trăm ngàn người chết để đổi lấy một kết cuộc bi thảm.Bây giờ bỗng dưng nổi lên có những người mà năm xưa khi khói lửa chiến tranh, họ còn nhỏ, chưa phải cầm cây súng, chưa biết thế nào là chết chóc, chưa có cảm giác khi đồng đội ngã xuống bởi đạn thù, tóm lại, họ chẳng phải hy sinh gì hết, giờ họ lớn tiếng hỏi các Tướng lãnh( Quân Đội ) đã xin lỗi nhân dân chưa? câu hỏi thật lạ, chính họ phải xin lỗi những người đã nằm xuống vì đất nước, vì sự an toàn cho họ, họ phải xin lỗi vì sự nhởn nhơ ngoài vòng chiến mà bao người khác đã chết thay cho họ, những Don Quichotte thời đại cầm kiếm múa may, họ nghĩ rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm trong việc miền Nam bị mất mà họ thì không chăng?

Một Don Quichotte khác lớn tiếng thóa mạ các Tướng Lãnh hèn nhát, làm mất nước, lạ một điều, những người này chưa hề cầm súng chống lại quân thù trong cuộc chiến vừa qua, những người này khi đất nước chìm trong lửa đạn, họ vắt mũi chưa sạch, nhưng giờ họ làm như thể nếu họ chỉ huy thì ta sẽ không thua, các Tướng có hèn nhát không? Tướng Nguyễn viết Thanh, Tướng Đỗ cao Trí, Trương quang Ân ... đã hy sinh tại mặt trận, 5 vị Tướng đã tuẫn tiết không đầu hàng giặc, còn bao nhiêu Sĩ Quan khác nữa mà họ là những anh hùng trong bóng tối, họ có hèn không?Chương, cho đến khi dành viên đạn cuối cùng cho mình, nằm xuống mà vẫn không hiểu tại sao miền Nam lại mất, bao nhiêu bạn bè, đồng đội anh cũng đã nằm xuống mà không biết mình bị phản bội, giá biết được, liệu họ có liều hy sinh cho một điều vô lý như thế? Họ là những người lính, mà người lính lúc nào cũng nghĩ tới nhiệm vụ và thi hành lệnh. Xin kính chào những người lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống cho quê hương.

TRẦN NHƯ XUYÊN
Người Anh Hùng Mũ Đỏ

Tôi còn nhớ ngày nầy năm tháng cũ .Nơi quê hương lá đổ cuối mùa Thu .Anh dừng bước giữa biên thùy gío hú .Súng ghìm tay anh cố chận quân thù.Trời hôm đó đêm về mưa lạnh lắm .Pháo từng cơn , lửa cháy nát rừng xanh .Địch tràn lên tình thế thật mong manh .Anh thà chết chứ không hàng quân giặc .Địch bao quanh , bảo anh hàng sẽ sống !.Anh trả lời , sống nhục , có đáng không ?.Rồi đưa súng, bắn vào đoàn quân Cộng.Viên cuối cùng, anh trả nợ núi sông !.Người anh Hùng , người chiến sĩ trận vong.Anh vẫn sống , muôn đời anh vẫn sống .Sống trong em và trong cả muôn lòng ./-

Bác sĩ N T T

Chuyến Xe Tang Về Quê Chồng


Giao Chỉ - San Jose
(Viết theo lời kể lại của Lệ Hà)

Cố Trung Úy Nhảy QUÁCH VĂN SỞ
Khóa 24 Trường VBQGVN

Chuyến Xe Tang V Q Chồng
San Jose ngày 29 tháng 04 năm 2009. Em là Trần Thị Lệ Hà, quê Cần Thơ, hiện cư ngụ tại San Jose, xin kể lại cho bác Lộc và các bác niên trưởng trong quân đội câu chuyện 34 năm về trước. Nếu miền Nam và Sài Gòn gọi ngày 30 tháng Tư 75 là ngày tang của đất nước thì ngày tang của Trần Thị Lệ Hà đến sớm hơn một ngày. Ðó là ngày 29 tháng 4 năm 1975. Ðêm 28 tháng 4 cách đây 34 năm trung úy Quách Văn Sở, Khóa 24/Võ Bị Ðà Lạt, từ giã vợ con vào trại Hoàng Hoa Thám sinh hoạt với tân binh Nhảy Dù. Trung úy mũ đỏ Quách Văn Sở rất có tinh thần trách nhiệm, đã có giấy lên đại úy nhưng còn chờ lễ đeo lon. Quá nửa đêm 28 qua sáng 29 thì Việt cộng pháo kích vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm 29 tháng 4 lính Nhảy Dù chạy về báo tin anh Sở, chồng của Lệ Hà đã chết. Cùng một lúc khu trại gia binh Nhảy Dù phải di tản. Em lúc đó 25 tuổi, con trai đầu lòng được 7 tháng. Chẳng có ai thân thuộc. Mẹ con ôm nhau chạy qua nhà ông cậu bên thành Lê Văn Duyệt. Chồng chết ra sao cũng không biết. Ðường xá kẹt hết. Chuyện chiến tranh, trận mạc nhà binh từ khi lấy nhau tất cả đều do anh Sở quyết định. Nay bỗng nhiên trời sập, ôm đứa con dại, em ngồi khóc một mình. Không biết xác chồng nằm ở nơi đâu. Chung quanh Sài Gòn náo loạn, ai mà lưu tâm đến người vợ trẻ mất chồng vào cuối tháng 4. Phải mà anh Sở chết sớm hơn một tháng thì truyền thống lính Nhảy Dù đã đưa xác về tận nhà. Tang lễ uy nghi, có đơn vị trưởng chứng kiến lễ gấp cờ, như em đã thấy tại sân Hoàng Hoa Thám. Nhưng sao anh Sở lại chết vào cuối tháng tư, giờ thứ 25 của cuộc chiến.
Trải qua một đêm dài thảm kịch. Thằng bé Quách Vĩnh Hưng ôm mẹ nằm trên đất lạ. Cả mẹ con đều không thấy tương lai.

Xác anh, giờ ở phương nào ?

Sáng hôm sau, nhờ cậu em họ dẫn đường vào trại Hoàng Hoa Thám để tìm xác anh Quách Văn Sở. Doanh trại đã di tản. Ở một vài nơi quân ta còn kháng cự và quân địch chưa tiến vào. Khu bị pháo kích chỉ còn di tích đổ nát, thương binh tử sĩ Nhảy Dù chẳng còn thấy nữa. Nghe nói các chiến binh mũ đỏ đã tản thương anh em vào đêm 29 và đưa xác tử sĩ lên nghĩa trang Biên Hòa.

Trên trời máy bay trực thăng ồn ào chở người di tản suốt ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975, Sài Gòn đổi chủ, em chẳng hề quan tâm. Nhờ người gởi con một nơi, lấy xe máy lên tìm chồng tại nghĩa trang Biên Hòa. Ðây là lần đầu tiên em tìm về nơi chôn cất tử sĩ miền Nam. Khu đơn vị chung sự Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đầy xác chết và quan tài đủ loại. Có người phe ta còn làm việc nhưng mặc đồ dân sự. Lính cộng sản xuất hiện nhưng xem chừng còn ngại ngùng không kiểm soát. Phe ta mạnh ai nấy tìm xác người thân và than khóc. Tử sĩ miền Nam vẫn còn đầy đủ quân phục, danh tính cấp bậc. Trên quan tài vẫn còn đèn nến và vàng hương. Thân nhân ngồi khóc bên các tử sĩ từ các nơi chở về. Sau cùng em tìm được xác anh Quách Văn Sở, đã được tẩm liệm và cho vào quan tài. Một bác mặc đồ dân sự nói rằng chị yên tâm, tôi sẽ ghi dấu quan tài của ông Trung úy Nhảy Dù. Tôi cũng là lính Việt Nam Cộng Hòa. Ðã hơn 30 năm rồi, em vẫn còn nhớ hình dáng của người lính bên ta lo việc mai táng vào lúc mà toàn quân cùng với quốc gia không còn nữa. Sau khi thấy rõ tên tuổi di tích của anh Sở nằm đó, em trở về Sài Gòn bắt đầu tìm xe thuê chở xác chồng về quê. Năm xưa, vợ chồng từ Hậu Giang lên Sài Gòn, bây giờ anh đã vĩnh viễn nằm xuống, em nhất định phải chở anh về với gia đình, về nơi anh đã ra đời.

Quê em ở Cần Thơ, quê chồng ở Rạch Giá. Giờ này mẹ và các anh em họ hàng bên anh Sở vẫn chưa biết là anh đã hy sinh. Suốt mấy ngày đầu tháng 5, em tìm mọi cách để thuê xe chở quan tài. Trong những ngày giờ đó, chẳng quen biết ai, làm sao mà thuyết phục được chủ xe chở xác sĩ quan Dù về tận Rạch Giá. Sau cùng khi tìm được lại phải cùng với chủ xe đi mua xăng. Tiền bạc không đủ, phải trả cả bằng nữ trang và nhẫn cưới đầy kỷ niệm.

Chuyến xe tang về quê chồng.

Ðưa xe tải về nhà, dọn những gì có thể đem đi được, từ giã cư xá gia binh, chấm dứt đời vợ lính. Mẹ ôm con lên xe trở lại nghĩa trang. Ðó là ngày 3 tháng 5 năm 1975. Nghĩa trang đã thay đổi. Tất cả các xác chết đã bị Việt cộng bắt chôn tập thể. Nhưng may thay những quan tài có người nhận từ hôm trước vẫn còn. Vàng hương và tên tuổi cấp bậc thì vứt đống dưới đất. Người lính chung sự Việt Nam Cộng Hòa mặc đồ dân sự vẫn còn đó. Ông nói rằng quan tài này của Trung Úy Dù tôi vẫn ghi dấu là đã có thân nhân đến nhận. Xin thưa với bác là em cũng chẳng biết tên ông lính đó là ai, nhưng ơn nghĩa tử sinh thì em ghi nhớ suốt đời. Nếu không có ông này, chắc xác anh Sở cũng phải nằm chung trong mồ tập thể. Rồi nhờ mỗi người một tay, quan tài anh Quách Văn Sở được khiêng lên xe hàng. Mẹ con ôm nhau ngồi bên xác anh suốt quãng đường dài. Ðó là chuyến xe tang về quê chồng tháng 5 năm 1975.

Bác hỏi em quang cảnh bên đường ra sao. Bác ơi, vợ lính 25 tuổi, ôm thằng bé chưa được một tuổi. Lòng dạ nào mà nhìn thấy hai bên đường. Mắt em mở nhưng chỉ thấy toàn kỷ niệm quá khứ. Em là nữ sinh Ðoàn Thị Ðiểm, Cần Thơ.

Anh Sở là sinh viên đại học Cần Thơ. Gặp nhau, hẹn hò, yêu đương. Từ đại học Cần Thơ anh vào Khóa 24/Võ Bị học suốt 4 năm. Em ra trường làm công chức, đổi từ Cần Thơ lên Sài Gòn. Bốn năm Ðà Lạt, Sài Gòn tình yêu thơ mộng biết chừng nào. Ra trường anh đi lính Nhảy Dù đóng tại trại mũ đỏ Hoàng Hoa Thám, em làm công chức tại văn phòng phủ thủ tướng. Ðâu có quen biết ông lớn nào đâu. Sở công vụ cho đi đâu thì làm đó. Chiến tranh ở đâu thì không biết nhưng Sài Gòn, Cần Thơ và Rạch Giá là những miền đất đầy hạnh phúc của một gia đình trẻ với đứa con trai.

Từ đầu tháng tư mẹ em ở Cần Thơ rất lo sợ cho con rể, con gái và cháu ngoại. Mẹ anh Sở ở Rạch Giá cũng đang cầu nguyện cho con trai, con dâu và cháu nội.

Chuyến xe đau thương của em ghé Cần Thơ. Mẹ thấy con gái về bèn ôm cháu ngoại hỏi rằng còn thằng Sở đâu. Con gái mẹ kêu khóc mà nói rằng: Anh Sở chết rồi. Con đưa xác về đây. Mẹ đi với con qua Rạch Giá. Mẹ già tất tả vừa khóc vừa gói quần áo theo con gái lên xe. Cả xóm tuôn ra nhìn theo, chiếc xe tang về quê chồng lại lên đường. Xe tải chở theo bà xui Cần Thơ đi theo con gái. Nước mắt góa phụ trẻ bây giờ thêm nước mắt mẹ già. Thằng rể quí của bà đi lính Nhảy Dù mấy năm không chết mà đến ngày cuối cùng lại tử trận.

Người lính mũ đỏ đất Kiên Giang.

Năm 1971 có anh sĩ quan Nhảy Dù xuất thân Võ Bị làm đám cưới ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ, tiệc bên nhà gái xong là rước dâu về Rạch Giá. Ðoàn xe hoa cũng đi theo con đường này. Qua đến năm 1975, xe hàng chở quan tài người lính chiến về lại quê xưa, cũng có bà xui đại diện cho nhà gái trong chuyến đi cuối cùng. Xe về đến Rạch Giá, cả nhà họ Quách ra đón mừng, thấy quan tài con trai út bà mẹ té dài ngay trên bậc cửa.

Mẹ của anh lính Dù có hai người con trai. Mấy năm trước người anh tên là Quách Hải đã tử trận. Còn cậu út nhất định đi Võ Bị rồi theo Nhảy Dù, bà tưởng rằng gởi gấm được ông tướng Dư Quốc Ðống vốn là thân quyến thì cũng đỡ nạn binh đao. Ai ngờ anh sĩ quan Nhảy Dù chết ngay tại trại Hoàng Hoa Thám vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến.

Mặc dù lúc đó cộng sản 30 tháng 4 tại Kiên Giang đã làm khó dễ nhưng người góa phụ trẻ hoàn toàn không có kinh nghiệm trong cuộc sống đã một mình đơn độc đem xác chồng về chôn tại quê nhà. Câu chuyện làm xúc động bà con lối xóm nên đám tang rất đông người dự để tiễn đưa người lính Dù cuối cùng của đất Kiên Giang trở về quê mẹ.

Nước non ngàn dặm ra đi.

Sau đó em trốn tránh quanh quẩn tại Hậu Giang vì muốn dấu lý lịch vợ lính Dù, lại làm công chức phủ thủ tướng. Qua năm 1979 trở về Cần Thơ vượt biên với má và thằng con trai. Nhờ anh Sở phù hộ, tàu qua Mã Lai bị kéo ra biển nhưng rồi cố lết qua được Indo. Ở bên Nam Dương một năm thì vào Mỹ, đến ngay San Jose. Mấy năm sau, em gặp ông xã sau này, hai bên lập gia đình và có thêm hai cháu.

Thưa với bác Lộc rõ, em có duyên số với Võ Bị và Rạch Giá. Ông xã hiên nay của em cũng là người quê Rạch Giá, cùng vượt biên năm 1979 trong một chuyến khác. Qua đây mới gặp nhau. Ông ấy ngày xưa cũng dạy trường Võ Bị Ðà Lạt. Con cái của gia đình em, nói để các bác mừng cho, tất cả đều thành đạt và hạnh phúc. Các cháu cũng đã lập gia đình và có thêm các cháu nội ngoại.

Ông xã em bây giờ hết sức tế nhị và thông cảm. Chính ông đã làm một bàn thờ tại gia để ghi nhớ hình ảnh của trung úy Nhảy Dù Quách Văn Sở, ba của cháu Quách Vĩnh Hưng. Năm nay cháu 35 tuổi.

Chút di sản muộn màng, gửi tương lai vĩnh cửu.

Ðã 34 năm qua, em còn lưu giử hồ sơ của anh Sở. Một tờ khai gia đình của khu gia binh Sư Đoàn Nhảy Dù, căn cứ Hoàng Hòa Thám. Có chữ ký của thượng sĩ Trần Văn Linh, trưởng trại gia binh. Kiến thị bởi trung tá Nguyễn Văn Tư, chỉ huy trưởng căn cứ và chữ ký của gia trưởng trung úy Quách Văn Sở. Ngoài ra còn giấy chứng nhận bằng Nhảy Dù, thẻ căn cước dân sự, thẻ căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ. Trên các thẻ căn cước, chỗ nào cũng có tên mẹ của anh Sở là Dư Thị Kim Thoa, bà là vai cô của tướng Dư Quốc Ðống. Trung úy Sở còn tờ giấy nghỉ phép 5 ngày từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1975. Cầm giấy phép, nhưng anh Sở không đi phép. Vì lo tân binh Nhảy Dù mất tinh thần nên tối 28 tháng 4 năm 1975 anh vào trại. Trận pháo kích sau cùng đã làm thay đổi vận mệnh của cả gia đình. Người thanh niên Kiên Giang, trải qua 4 năm sinh viên Võ Bị Ðà Lạt, 5 năm sĩ quan Nhảy Dù, từ giã cuộc đời năm 30 tuổi. Anh để lại tấm thẻ bài hai mảnh. Gia đình còn giữ suốt 34 năm qua. Nay đã đến lúc chia tay đôi ngả. Một tấm đi theo quân bạ vào viện bảo tàng. Còn một mảnh xin giữ làm kỷ niệm cho con cháu họ Quách đời sau. Với đầy đủ tên họ, số quân và loại máu.

Tâm nguyện cho tương lai.

Thưa bác, kể xong chuyện ma chay cho người chồng chiến binh 34 năm về trước, trao được các di vật cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose, em rất yên tâm. Xin cảm ơn nhà em ngày nay, nguyên là giáo sư Võ Bị ngày xưa đã thông cảm, sẽ thông cảm thêm. Con trai của anh Sở nay đã 35 tuổi, sẽ hiểu biết thêm chuyện gia đình và chiến tranh. Những đứa con sau này ra đời tại San Jose bây giờ mới biết ngày xưa mẹ sống trong trại lính Dù có tên là Hoàng Hoa Thám. Anh em Khóa 24/Võ Bị Ðà Lạt biết thêm về người con gái miền Tây làm dâu Võ Bị hai lần. Người Rạch Giá cũng biết thêm về cô gái Cần Thơ hai lần lấy chồng xứ Kiên Giang. Và em tạ ơn trời đất còn có ngày nay. Trước sau em cũng chỉ là người vợ lính đã từng sống trong trại gia binh.

Em cám ơn các bác đã nghe hết câu chuyện 29 tháng 4 của em 34 năm về trước.

Giao Chi - San Jose

Tản mạn về sự dối trá tầm cỡ ‘quốc tế’ nhân ngày 2/9 Alfonso

Nhân đọc ‘Hồi ký của một thằng hèn’ của nhạc sĩ Tô Hải vào dịp 2/9 này, đoạn kể về cái khí thế hừng hực của những ngày đi theo cách mạng năm xưa. Dân chúng tay cũng cầm cờ đỏ sao vàng miệng hò hét điên cuồng “đấu tranh này là trận cuối cùng… quyết phen này sống chết mà thôi…” mà chẳng ai ý thức được mình đang làm gì, lợi hại / xấu tốt cho ai bỗng làm tôi cảm thấy ‘nổi da gà’ khi nhớ lại bản nhạc này: ‘Quốc tế ca’ với những lời lẽ cực kỳ phản động đã khuấy động cuộc sống bình yên của dân chúng miền Nam sau 1975. Nhưng nay thì… không biết nó đã bị Csvn âm thầm quẳng vô cái xó xỉnh nào rồi. Chung số phận với nó còn là vô số những khẩu hiệu “Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng” cũng được treo lủng lẳng khắp các ngã 3 ngã 4 đường phố Sàigòn khi ấy.

Tôi nhớ có một cái bảng rất lớn như vậy đặt ngay Ngã 6 Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) choán hết cả một khoảng đất trống tại nơi nay là cửa hàng đại lý Honda. Thế rồi bỗng chỉ sau một đêm khoảng đầu những năm 90s, (chắc lại là cái đêm giống như lời một bài thơ của Phan Khôi “hai mươi bốn năm xưa, Một đêm vừa gió, vừa mưa…”?) một sáng ngủ dậy đi làm ngang qua đây cảm thấy trống vắng thiêu thiếu mất cái gì!? Nhớ lại thì ra chính là nó: cái tấm bảng “bách chiến bách thắng” ấy đã ‘rút quân’ không kèn chẳng trống hồi nào không ai hay biết?

Về bản ‘Quốc tế ca’ hồi ấy tôi đã từng thắc mắc vì sao một bản nhạc một khi được tất cả các chính thể cộng sản tôn vinh lên tới hàng ‘quốc tế’ hẳn phải là có gì đó vĩ đại và cao quí lắm! Vậy mà chưa bao giờ được hân hạnh nghe mấy bác đảng mấy anh đoàn nói về lý lịch của nó bao giờ. Kể cũng lạ! Chỉ mãi đến sau này nhờ có internet thắc mắc này mới được tự mình đi tìm lời giải đáp.

Hóa ra đúng như người ta thường bảo “tốt khoe xấu che”. Quốc tế ca vì có những chuyện chẳng hay ho ngay từ thủa nó mới chào đời, vì thế quốc tế cộng sản đã phải ém nhẹm luôn cái bản lý lịch đen của nó.

‘Quốc tế ca’ và những điều còn ít người biết đến

Bản nhạc này từng có thời được phe XHCN xem như một di sản tinh thần quí giá tượng trưng cho tinh thần đoàn kết vô sản của giữa các nước. Vì thế, nó chỉ được xướng lên trong các buổi lễ lớn tầm vóc quốc tế với đầy đủ các nghi thức trang trọng bậc nhất.

Quốc tế ca còn vinh dự được Liên bang Xô Viết, đàn anh lớn nhất trong khối cộng sản chọn làm quốc ca trong hơn 20 năm, từ 1922-1944 dưới thời lãnh tụ J.Stalin.

Về khía cạnh âm nhạc, có một chi tiết đáng chú ý, đó là về tác giả của nó, Pierre De Geyter (1848-1932) một người Pháp, mặc dù chỉ là một người chơi nhạc nghiệp dư không tên tuổi, nhưng không hiểu nhờ nguồn cảm hứng nào mà ông ta đã viết ra được một bản nhạc giai điệu khi sâu lắng lúc hùng hồn, rất phù hợp với cảnh quằn quại bi thương của những số phận thân nô lệ, khiến cho người ta khi nghe nó rất dễ bị… ‘điên tiết’ lên với lũ tư bản bóc lột.

Có thể nói, đây là trường hợp thành công hiếm thấy trong lịch sử âm nhạc thế giới khiến nhiều người từng ngạc nhiên.

Một trường hợp thành công khác không phải là nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp đó chính là bản ‘Silent Night’ mà chúng ta vẫn còn được nghe vào mỗi dịp Noel.

Tác giả của bản nhạc này, Franz Xaver Gruber tuy chỉ là một thầy giáo dạy nhạc trường làng nhưng trước lời khẩn khoản đề nghị của bạn là thầy tu Joseph Mors cần phải sáng tác gấp một bản nhạc mừng Noel vào năm 1818 cho nhà thờ Hallein (Salzburg-Áo), do chẳng may cây đàn organ đã của nhà thờ này bị lũ chuột cắn khiến hư hỏng nặng, nhưng lại được phát hiện quá trễ. F.Bruber và J.Mors cả hai đều là dân chơi nhạc amater thôi vậy không hiểu sao đã làm nên chuyện. Ngày nay với nhiều người, Noel mà thiếu ‘Silent Night’ là chưa trọn vẹn.

Nhưng không giống như sự êm đềm của Silent Night, sự bất ngờ được nổi tiếng của bản ‘Quốc tế ca’ đầy chất bạo lực cũng đã nảy sinh ra một loạt các ‘điểm đen’ khác trong bản lý lịch của nó: Một cuộc chiến giành giưt bản quyền giữa chính hai anh em ruột thịt của tác giả trong nhiều năm trời. Tuy nhiên, chuyện xấu xa bỉ ổi này đã bị các lãnh tụ cộng sản quốc tế lờ đi mà không bao giờ kể ra cho dân chúng biết.

Phải chăng cái sự khởi nghiệp của chủ nghĩa cộng sản vì có dính dáng với điều trái đạo lý từ sự ra đời bản quốc tế ca này, đã trở thành điềm báo về những bất hạnh và sự tàn ác mà nó gây ra cho nhân loại trong gần suốt thế kỷ 20 vừa qua?

Thời thế tạo… nhạc sĩ?

Nguồn gốc ra đời của bản nhạc này có gắn liền với biến cố “Công xã Paris” vào năm 1871 mà theo các tài liệu thì “…đó là một nhà nước vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người, gồm đại biểu công nhân, tiểu tư sản và trí thức tiến bộ. Công xã đã ban hành sắc lệnh thủ tiêu quân đội và cảnh sát thường trực của chế độ cũ, thành lập các đơn vị vệ quốc quân; tách hoạt động của nhà thờ khỏi chính quyền và giáo dục, tổ chức hệ thống giáo dục mới; chuyển quyền quản lí xí nghiệp vào tay công nhân, thi hành một số biện pháp cải thiện đời sống dân nghèo về lương bổng, nhà ở, hoãn trả nợ, hạ giá vé xem nghệ thuật”.

Những trích dẫn từ Tự Điển Bách Khoa Việt Nam như trên cho thấy đó chính xác là một vụ cướp chính quyền thực sự do phe chủ nghĩa xã hội (socialism) Pháp, tiền thân của quốc tế cộng sản sau này, lợi dụng tình thế rối ren của nước Pháp khi chính phủ Adolphe Thiers vừa bị bại trận trước quân Phổ (Đức) đã nhanh tay chớp lấy thời cơ tiếm quyền.

Nhắc lại bản quốc tế ca cùng sự kiện Công xã Paris vào những ngày tháng Tám này còn là dịp để chúng ta thấy rằng, những gì xảy ra với nước Pháp năm 1871 và với Việt Nam ta năm 1945 với việc Việt Minh “cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim 1945 không khác nhau là mấy. Ở bất cứ đâu chủ nghĩa xã hội leo lên nắm quyền là ở đó liền xuất hiện một loạt những việc làm ngu xuẩn, kênh kiệu và tàn ác như trên. Thậm chí cả với Sàigòn 1975 sau này cũng vậy. Bảo là ‘giải phóng’ mà lại trục xuất dân chúng ra khỏi thành phố đến các vùng ‘kinh tế mới’ rừng sâu nước độc để nhường nhà cửa cho họ vào ở.?!

Ở chỗ khác chúng tôi còn đọc được “Tất cả tài sản của các giáo hội trở thành tài sản quốc gia, giáo dục cũng tách khỏi nhà thờ.” Nếu Công xã Paris ngày ấy mà thành công không chừng nước Pháp cũng sẽ có những vụ Thái Hà, Tòa Khâm, Tam Tòa y hệt như VN ta hiện nay.

Nhưng rất may cho nước Pháp, quốc gia này xứng đáng là một trong những cái nôi văn minh của nhân loại, nhờ có trình độ cao hơn nên dân chúng không dễ nghe lời đường mật của cộng sản như dân VN mình. Sau một loạt những biểu hiện cai trị ‘quái gở’ trên, nhà nước vô sản của “Công xã Paris” chỉ tồn tại được đúng hai tháng đã bị dập tắt tức thì.

Sau vụ cướp chính quyền bất thành, một thủ lĩnh phe xã hội tại Lille một tỉnh nhỏ miền Bắc nước Pháp đã nhờ nhạc sĩ nghiệp dư tên Pierre De Geyter phổ một số bài thơ do Eugène Edine Pottier viết trong “tuần lễ máu” (22/5 – 28/5) cuối cùng của Công xã Paris để công chúng tưởng nhớ các “đồng chí” của họ đã ngã xuống và một trong số các ca khúc đó là “Quốc tế ca” (L’Internationale / The Internationale) được Pierre sáng tác vào năm 1888.

Khi nhận lời phổ nhạc những bài thơ của Eugène, anh nhạc sĩ nghèo miệt tỉnh lẻ Pierre De Geyter chắc chắn không nghĩ đến điều gì khác ngoài việc “ủng hộ cách mạng”. Bởi nếu không vì lý do này thì chắc Pierre đã phải giữ lấy bản thảo. Và cả sự sốt sắng của ông ‘cán bộ’ đặt hàng Gustave Delory có lẽ cũng vậy, “lý tưởng” vẫn là trên hết. Một sự giác ngộ lý tưởng cộng sản “trên cả tuyệt vời” không xa lạ gì với với nhiều trí thức VN mình trước 1975!

Thế nhưng ‘trời xui đất khiến’ không may làm sao bản nhạc này bỗng dưng được nhiều người yêu thích (có thể do dân Pháp khi ấy đã quá chán loại nhạc ủy mị chăng?) khiến nó trở nên rất nổi tiếng. In ra bao nhiêu cũng không đủ bán đã khiến nhiều nhà xuất bản muốn mua đứt bản quyền để tính chuyện kinh doanh lâu dài. Và thế là cách mạng thì thất bại nhưng một cuộc ‘đấu đá’ mới để đòi ăn theo bản nhạc tưởng nhớ các chiến sĩ cách mạng đã nảy sinh. Oái oăm hơn nữa là nó lại xảy ra ngay trong gia đình tác giả đã sáng tác ra nó.

Âm nhạc chân chính đâu thể nảy sinh tội ác!

Thấy tiền liền tối mắt! Vào năm 1901 không ai khác mà chính một ngưòi anh em ruột của tác giả, Adolphe De Geyter, người mà Pierre trong khi phổ nhạc hay nhờ vả anh này chơi thử trên chiếc kèn Bugle cho mình nghe thử, đã nhanh tay chớp thời cơ tuyên bố chính anh ta mới là tác giả của Quốc tế ca.

Khi Pierre hay tin anh này anh chợt nhớ đến ông bạn ‘cán bộ’ nhân chứng Gustave Delory ngày trước đã đến nhờ mình phổ nhạc hồi năm 1888, vì chỉ có mỗi mình ông ta là người biết rõ đầu đuôi câu chuyện, may ra có thể giúp chứng minh mình mới là tác giả. Nhưng trớ trêu thay, khi Pierre đến xin gặp ông ta để đề nghị thì liền bị ông ta phủi tay vì đã… ‘lỡ’ ủng hộ Adolphe De Geyter rồi! (nghe sao mà giống cái cách giải quyết của đảng ta bây giờ đang làm thế nhỉ: lịch sử đã làm ‘lỡ làng’ cả rồi, nên nhà nước ta xin khóa sổ bằng nghị quyết 23/QH-11/ 2003 và hẹn gặp các nạn nhân ở kiếp sau để trả nợ đất đai vậy!)

Và thế là Pierre sau hơn chục năm đeo đuổi kiện tụng trong vô vọng, đến năm 1914 đành phải ‘ngậm đắng nuốt cay’ tuyên bố bỏ cuộc chơi vì ‘lực nay đã bất tòng tâm’, anh biết chắc không còn thể nào chứng minh cho mọi người biết chính mình mới là tác giả. (Điều có lẽ là an ủi duy nhất với Pierre là ‘lọt sàn xuống nia’ mình không thắng thì em mình cũng hưởng chứ còn ai vào đây, thôi thì… thua cũng được?).

Tưởng đã xác định vậy và bỏ xứ đi nơi khác làm ăn là xong chuyện, thì nào ngờ đến đầu năm 1916 Adolphe De Geyter bất ngờ treo cổ tự tử để lại bức thư tạ lỗi cùng ông anh Pierre và tiết lộ chuyện cướp công là do bị áp lực của người khác.

Mặc dù các tài liệu về vụ án tranh giành tác quyền này mà chúng tôi truy tìm không thấy nêu ai là đồng phạm của Adolphe, nhưng nhìn vào điều xấu xa sự tệ hại ngấm ngầm xảy ra trong các xã hội cộng sản, chúng ta có thể suy đoán nếu không phải là ông ‘cán bộ’ Gustave Delory thì ‘còn ai trồng khoai đất này?’.

Do chuyện tử tự của Adolphe xảy ra vào thời điểm bùng nổ Chiến Tranh Thế Giới I, Pierre lại không có mặt ở Pháp nên phải mãi đến năm 1922 sau khi chiến tranh kết thúc anh mới nhận được thư của người em và khi ấy tác quyền mới được chuyển sang cho anh.

Rõ khổ! Chỉ vì tiền mà anh em Geyter bị lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn, nhưng ngẫm nghĩ các kết cục thảm thương của họ chẳng phải không có lý do ‘chính đáng’.

J.S.Bach (1685-1750) người được thế giới xem là nhạc sĩ vĩ đại của mọi thời đại từng nói một câu ngụ ý ‘Âm nhạc là quà tặng hết sức đẹp đẽ Thiên Chúa ban tặng cho con người, nhưng nếu không biết dùng chúng sẽ nghe không khác gì những tiếng phèng la than khóc từ nơi địa ngục’.

Nếu Pierre De Geyter không dùng khả năng âm nhạc Chúa ban cho anh để đi viết ra cái loại nhạc xách động quần chúng “vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian…” vô tình tạo thêm vây cánh cho cộng sản quốc tế có thêm phương tiện đi gieo gắc tội ác, mà để sáng tác ra những ca khúc thánh thiện nhân từ như Silent Night “Đêm thánh vô cùng, giấy phú tưng bừng…” thì chắc đâu đã có chuyện gì xảy ra như chúng ta thấy đấy, ngay cả khi đồng tác giả của bản Thánh ca này là Franz Xaver Gruber và Joseph Mors chỉ là hai người dưng nước lã với nhau.

Xin xem thêm: L’Internationale http://www.youtube.com/watch?v=EpgrO-tieGM, http://en.wikipedia.org/wiki/The_Internationale .

Sàigòn, 02/9/2009
Alfonso Hoàng Gia Bảo

Tự do mới tạo được niềm tin

Cô cháu nội tôi còn bé mà đã biết phát biểu ý kiến không hề sợ hãi. Có chuyện gì không hài lòng, cháu lên tiếng một cách quả quyết, “Oe oe! Oe oe!” Và cứ như vậy nhất định không ngưng trước khi được người trên chú ý.

Mẹ cháu dỗ dành, “Mế Mế!” Anh trai cháu cũng phụ họa, “Mế Mế!” (Muội muội, đọc theo lối Hán Việt, tức là em bé gái). Ông nội thử đoán ý cháu, “Nhân dân phản kháng chắc vì khát nước đấy.” Mẹ cháu cho con uống nước. Uống xong, “nhân dân” lại tiếp tục phản kháng không khoan nhượng, “Oe Oe! Oe oe! Oe oe!”

Cuối cùng mẹ cháu đưa giả thuyết là nhân dân đang làu bàu vì đói. Bố cháu ghé xe vào một tiệm ăn. Nhưng vào trong tiệm, Mế Mế lại không màng gì đến thức ăn. Cháu chỉ chạy tung tăng nhìn quanh từng bàn, lũn cũn bước từ bàn này sang bàn khác, miệng cười tươi làm quen với hết người nọ đến người kia.

Giới lãnh đạo nhất trí kết luận là Mế Mế không khát nước mà cũng không đói, cháu chỉ muốn ra khỏi chiếc xe tù túng để được chạy qua chạy lại cho đỡ cuồng cẳng! Nhờ lên tiếng một cách cương quyết và dai dẳng, cuối cùng cuộc tranh đấu của cô bé đã thành công vẻ vang. Nếu không lên tiếng thì làm sao bố mẹ biết được ý nguyện của mình! Mà đối với tầng lớp nhân dân tuổi mới 18 tháng, phương pháp lên tiếng có hiệu quả nhất chỉ là “Oe Oe! Oe Oe!”

Bài học cho người lớn là: Khi được tự do phát biểu ý kiến (Oe Oe), một đứa trẻ cũng biết nó muốn gì. Và đứa trẻ hơn một tuổi cũng có những nhu cầu khác ngoài chuyện thức ăn, nước uống: Nhu cầu được tự do. Trong việc tề gia, chúng ta theo nhiều đường lối khác nhau. Có nhà theo lối “mẹ lãnh đạo, bố quản lý, các con làm chủ”. Nhà khác thì “bố lãnh đạo, mẹ quản lý, các con cứ yên phận làm con!” Những mô hình này cũng có khi dùng trong việc trị quốc.

Ở Việt Nam hiện nay, mô hình thứ nhì đang áp dụng. Công an lãnh đạo, đảng và nhà nước lo việc quản lý. Còn nhân dân, muôn đời vẫn là nhân dân. Ðảng và nhà nước đối xử với nhân dân như con cháu, chút chít trong nhà, không hơn.

Nhưng nghe đảng bảo ban ra lệnh mãi có lúc nhân dân cũng muốn lên tiếng phản kháng “Oe Oe” mấy tiếng chứ? Có, hiện nay nhiều người đang lên tiếng. Trong mấy năm qua nhiều nhà trí thức đã lên tiếng về các vấn đề chung. Nghe những tiếng nói đó, tinh thần cả xã hội đã phấn khởi một thời gian, cho đến khi bị dập tắt trở lại.

Khi báo chí chính thức không được phép lên tiếng thì người ta dùng các phương tiện truyền thông mới. Bị bịt miệng không cho nói thì có người bày tỏ ý kiến bằng cách “mặc áo!” Anh Lê Minh Phát đã mặc chiếc áo trên đó có những lời phản đối việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã bảo đó là một chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Cho nên anh Phát bị làm việc lên, làm việc xuống, cuối cùng anh được lệnh không được mặc cái áo “Oe Oe” nữa. Anh phản đối việc Trung Quốc chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng đảng và nhà nước không muốn ai làm mất lòng các đồng chí Trung Quốc. Nhân dân có muốn “Oe Oe” cũng không được!

Các đồng nghiệp của chúng tôi là Bùi Thanh Hiếu, còn gọi là Người Buôn Gió và nhà báo Phạm Ðoan Trang đã bị bắt chỉ vì muốn“Oe Oe” trên mạng cho mọi người cùng nghe. Họ đều bị công an sách nhiễu, bắt bớ, thẩm vấn như những kẻ phạm tội. Người Buôn Gió đã bị bắt rồi, công an còn tịch thâu cả máy vi tính của anh. Công an còn đến tận nhà cha mẹ anh để lục soát, cho thấy chế độ hiện nay vẫn không khác gì vua quan thời phong kiến: con bị tình nghi thì cha mẹ cũng bị nghi ngờ! Nhà báo blogger nổi tiếng Huy Ðức chủ trì mạng Osin từ bao năm. Anh bị mất việc làm trong Sài Gòn Tiếp Thị, một tờ báo của đảng. Những nhà báo Huy Ðức, Bùi Thanh Hiếu, cũng như chư tăng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân chỉ muốn góp sức xây dựng một nước Việt Nam có tín nghĩa, có luật lệ rõ ràng. Bao giờ thì họ được tự do lên tiếng? Nếu không ai được nói ngoài các nghị quyết của đảng thì làm sao xây dựng được xã hội chính trực, ngay thẳng?

Chế độ độc tài nào cũng sợ người dân lên tiếng nói vì họ biết dân chỉ tin những lời nói trung thực, thẳng thắn, không còn ai tin lời nói của bọn cầm quyền nữa. Vì đảng đã quen nói một đằng, làm một nẻo từ lâu, nhưng bây giờ họ thực hiện chính sách đó trên căn bản tư tưởng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang tự chuyển hóa biến các cán bộ cao cấp thành những nhà tư bản. Họ không còn là những “đảng Cộng Sản” như họ vẫn hô khẩu hiệu đi theo các ông Marx và Lenin nữa. Trong thực tế, xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện nay là tư bản hoang sơ nhưng vẫn còn di sản của thời phong kiến. Ðảng Cộng Sản muốn làm kinh tế tư bản trong khuôn khổ một xã hội phong kiến! Trong chế độ tư bản người dân còn được lên tiếng. Còn trong chế độ phong kiến thì khác, vua quan là cha mẹ của dân, không đứa nào được phép “Oe Oe” một tiếng. Tuyên bố theo Marx Lenin, nhưng hành động theo phương pháp Tần Thủy Hoàng. Ðó là đường lối “nói một đàng, làm một nẻo” ở trình độ căn bản nhất.

Những lương dân đọc Người Buôn Gió, đọc Ô Sin, chỉ muốn đề đạt lên các nhà lãnh đạo đảng một câu hỏi là: Tại sao quý vị không thành thật một lần trong đời, trong đời sống cá nhân cũng như đời sống đảng, bằng cách tuyên bố thẳng rằng quý vị đã ngưng, stop, thôi hẳn, từ nay không theo đuổi chủ ngãi Mác Lê nin nữa? Hơn 20 năm trước ông Hà Sĩ Phu đã dõng dạc tuyên bố “Chia tay ý thức hệ” mà không ai chịu nghe, bây giờ cứ làm theo cũng chưa muộn.

Khi một đảng chính trị tự đặt mình vào tình trạng phải tự mâu thuẫn với chính mình; cương lĩnh, lý thuyết mâu thuẫn với hành động thực tế, thì chỉ làm cho người dân khinh bỉ. Nguy hiểm hơn, thái độ dối trá đó sẽ làm hư hỏng luôn giềng mối tinh thần của cả quốc gia. Khi một ông vua hay một đảng cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo, thì trong xã hội không còn ai thấy cần tôn trọng chữ Tín nữa. Không lấy chữ Tín làm căn bản của mọi tương quan, mọi giao tế xã hội, thì xã hội đó không còn một hệ thống giá trị để chia sẻ cùng nhau. Hơn thế nữa, xã hội không có chữ Tín thì cũng không thể phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, là nền tảng của mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị trong thế giới hiện đại. Tái lập chữ Tín trong xã hội là điều quan trọng và đáng theo đuổi hơn là thực hiện bất cứ một chủ nghĩa mơ hồ và không tưởng nào.

Sự thay đổi trong đường lối căn bản này là hệ quả của những biến chuyển căn để trong xã hội. Chế độ toàn trị (totalitarian) đã biến dần sang một chế độ độc tài (authoritarian) bình thường. Guồng máy của đảng và nhà nước không hoàn toàn kiểm soát được toàn thể đời sống xã hội nữa. Ðời sống mỗi cá nhân được giải phóng một phần nào, không còn hoàn toàn tùy thuộc vào sự xếp đặt của đảng và nhà nước. Xã hội công dân đang tự tách rời khỏi chế độ chính trị.

Một vấn đề lớn là guồng máy quản lý xã hội cũ vốn được các ông Stalin, Mao Trạch Ðông vẽ ra để trị dân trong một tương quan kinh tế đơn giản, dưới xin, trên cho, có cấp bậc trên dưới rõ ràng. Nay guồng máy đó không còn thích hợp để cai quản một xã hội phức tạp, các tương quan cũ bị đứt, vỡ, và các tương quan mới đang ra đời. Tương quan cũ dựa trên quyền hành, bây giờ thêm tương quan mới đặt trên lợi lộc. Ðảng Cộng Sản không dám xóa bỏ hệ cấp quyền hành, nhưng vẫn phải chấp nhận hệ thống duy lợi trên con đường tự tư bản hóa. Hệ thống duy lợi dựa trên tiền bạc, nhưng chưa đặt ra các luật lệ ràng buộc, kiểm soát việc kiềm lời như trong các nước thị trường tư bản lâu đời. Hai mạng lưới chính trị dựa trên quyền hành và kinh tế dựa trên lợi lộc chồng chéo lên nhau, đẻ ra tham nhũng. Ý thức hệ được tuyên dương thì đề cao một xã hội bình đẳng, mà trong thực tế thì chính chế độ đó lại nuôi dưỡng tình trạng giầu nghèo chênh lệch, tham nhũng, bất công. Người dân còn biết tin cái gì?

Kể từ khi chiếm chính quyền, Cộng Sản Việt Nam đã nỗ lực xóa bỏ giềng mối cũ của xã hội cổ truyền, những “quan hệ sản xuất” và “quan hệ xã hội.” Họ thấy không cần những quy tắc hiếu đễ, tiết nghĩa trong xã hội cũ. Họ xóa bỏ những tương quan mà xã hội cũ vẫn tôn trọng. Từ tình hàng xóm láng giềng cho đến niềm tin tôn giáo, tương quan vợ chồng, cha con, bằng hữu, vân vân, cần dẹp bỏ hết để đảng Cộng Sản xây dựng một xã hội mới trong đó điều quan trọng nhất là lập trường chính trị. Chế độ cộng sản không cần đạo lý, không cần pháp luật, chỉ cần chính trị. Nước Việt Nam đang đứng trước cảnh đã mất nền tảng cũ, lại mất luôn cả cái nền tảng mới mà đảng chưa hoàn thành. Ðó là thảm cảnh của một dân tộc: Vô pháp, vô thiên, “Trên không có trời, dưới không luật lệ.” Ðảng Cộng Sản phá giỏi, nhưng không xây dựng được nền tảng đạo lý mới. Muốn thay đổi tình trạng đó thì phải cho mọi người được sống tự do, xã hội công dân phải tự do phát triển, nhà tu được tự do xây nhà thờ, tự do lập am miếu, chùa chiền, và nhà báo phải được viết tự do.

Ðiều đáng lo nhất là lo cho thế hệ tương lai, những em bé bây giờ đang lớn, từ các em bé bằng tuổi cô cháu nội của tôi bây giờ. Nhìn cháu mình, không ai tránh khỏi không nghĩ đến những đứa cháu đang sống thiếu thốn. Có cháu mới 9 tuổi đã đảm đang đóng vai làm mẹ cho em mình. Một câu chuyện đáng kể lại làm gương cho trẻ em khắp thế giới. Nhiều trẻ em may mắn sống trong các xã hội bình an và thịnh vượng sẽ không hiểu nổi tại sao có những nơi một em bé phải cực nhọc như thế.

Cô cháu nội tôi số gặp may. Bữa trước bố mẹ cho cháu đi coi một sở thú ở thành phố Madison, tiểu bang Wisconsin. Khi trở về thành phố Dubuque, tiểu bang Iowa, cách xa hai giờ lái xe, mới biết cái nón của Mế Mế rớt đâu mất. Cái nón rẻ tiền nhưng cháu đội đã quen, rất thích. Lâu lâu cháu lại chỉ tay lên đầu, nhìn bố, nhìn mẹ, như hỏi: “Mũ đâu rồi?” Ði ngoài đường nắng quá, đội cho cháu cái mũ của Mẹ, cháu lắc đầu không chịu. Cái mũ của ông nội, cháu cũng không chịu. Ðúng là một đứa bé tí xíu cũng dám bầy tỏ ý kiến muốn cái gì, nếu được tự do, không sợ hãi. Hôm sau, tìm không đâu thấy mũ con, bố cháu gọi điện thoại tới sở thú hỏi. Ấy thế mà có người đã thấy cái mũ đó và văn phòng họ vẫn giữ! Không những giữ hộ, nhân viên ở sở thú còn đồng ý sẽ gửi cái mũ qua bưu điện về địa chỉ cha mẹ cháu ở thành phố New York, cách xa cả ngàn cây số. Và họ không đòi tiền cước phí. Cô nhân viên cho biết nếu cha mẹ cháu muốn thì cứ gửi tiền tặng cho quỹ sở thú, để góp phần giữ gìn một nơi cho mọi người, người lớn và con nít cùng du ngoạn và học hỏi!

Tại sao trong một xã hội con người có thể đối xử với nhau tử tế như vậy? Bao giờ thì trẻ em trong nước Việt Nam được thấy chung qunh toàn những người tử tế như vậy? Bao giờ thì Bùi Thanh Hiếu, Huy Ðức, được tự do lên tiếng để cùng mọi người Việt Nam xây dựng một xã hội có đạo lý và có pháp luật?


Ngô Nhân Dụng

Thông báo số 12/09 của Tòa Giám mục về Gx. Tam Tòa và những vấn đề liên quan


TÒA GIÁM MỤC XÃ ĐOÀI
Nghi Diên - Nghi Lộc - Nghệ An
Số 12/09 TB.TGM
----------------------
Xã Đoài, ngày 04 tháng 9 năm 2009

Kính gửi : Quý Cha, quý tu sỹ, chủng sinh và anh chị em giáo dân Giáo phận Vinh,

Thưa quý Cha và anh chị em thân mến,

Từ ngày 20 tháng 7 năm 2009, sau khi 19 anh chị em giáo dân tại Tam Tòa bị đánh đập, bắt giữ; Thánh giá, tài sản của Giáo Hội và của giáo dân Tam Tòa bị chiếm đoạt bất công, toàn giáo phận đã hiệp thông cầu nguyện cho Tam Tòa.

Để nhắc nhở mọi người phải hết lòng cậy trông Chúa và thể hiện tình liên đới, các nhà thờ trong giáo phận đã treo biểu ngữ:

“CẦU NGUYỆN CHO GIÁO DÂN TAM TÒA,
BỊ CÔNG AN QUẢNG BÌNH ĐÁNH ĐẬP VÀ BẮT GIỮ”.

Tới nay tất cả 19 giáo dân Tam Tòa bị bắt giữ đã được thả về. Chúng ta cám ơn Chúa. Các giáo xứ dỡ biểu ngữ.

Tuy nhiên, tới nay tài sản của Giáo Hội và của giáo dân Tam Tòa vẫn chưa được trả hết, chúng ta yêu cầu chính quyền Quảng Bình phải bảo đảm công bằng.

Những anh chị em đã bị đánh đập, bắt giữ, nhất là 2 Cha đã bị đánh đập tàn nhẫn tại Đồng Hới, Quảng Bình bị tổn thương nặng về thể lý và tâm lý, đang cần được chữa trị. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện, giúp đỡ để quý Cha và giáo dân Tam Tòa được mau bình phục, sớm ổn định cuộc sống.

Xin cám ơn quý Cha cùng tất cả anh chị em.

Thân mến,

Mười Anh Nông Dân

Đó là các “anh”: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và Sáu Dân (tức Võ văn Kiệt). Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh năm 1917, xuất thân trong một gia đình bần cố nông, nguyên là Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 6 năm 1991 đến tháng 12 năm 1997. Lê Đức Anh, sinh năm 1920, là Chủ tịch nước từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997.

Võ Văn Kiệt, sinh năm 1922, tên thật là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và sau đó là Thủ tướng nước CHXHCNVN từ ngày 8 tháng 8 năm 1991 cho đến ngày 25 tháng 9 năm 1997. Võ Văn Kiệt qua đời ngày 11 tháng 6 năm 2008.

Nông Đức Mạnh, sinh ngày 11 tháng 9 năm 1940, là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2001 và hiện là Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ ngày 22 tháng 4 năm 2001 đến nay.

Nói là mười anh nông dân chứ thật ra chỉ có bốn. Mười Anh Nông Dân bây giờ chỉ còn có một là Nông Đức Mạnh. Trong số bốn anh nông dân này thì anh nông dân chính gốc Nông Đức Mạnh là tương đối trẻ nhất, còn trị vì, còn ba anh kia thì Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã quá già không thể “ngoan cố” bám víu quyền hành được nữa nên đã phải về vườn ... thượng uyển của riêng mình, còn anh Sáu Dân thì đã về chầu Bác năm ngoái. Chỉ cần một anh nông dân nắm quyền sinh sát trong tay là đủ bất hạnh cho dân mình rồi, đàng này đất nước Việt Nam có đến Mười Anh Nông Dân thay nhau cai quản guồng máy đảng và nhà nước làm cho dân tình đa đoan, dân tộc điêu linh và đất nước điêu tàn.

Nông (dân) Đức Mạnh sẽ có mặt tại Úc vào tuần tới. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đang chuẩn bị “chào đón” Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sẽ có hai cuộc biểu tình rầm rộ xảy ra, một vào ngày Thứ Hai 7 tháng 9 trước toà nhà Quốc Hội ở Canberra vào lúc 9 giờ sáng và một vào ngày Thứ Ba 8 tháng 9 trước toà nhà Quốc Hội NSW (Sydney) vào lúc 4 giờ 30 chiều.

Nông Đức Mạnh và tập đoàn CSVN vẫn đang vùng vẫy tiếp tục áp đặt một chế độ độc tài, độc đảng, phản quốc và phi nhân bản. Vì vậy sự có mặt của Nông Đức Mạnh ở Úc là một thách thức lớn lao đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc Châu. Đồng bào Úc Châu sẽ tiếp tục lên án chế độ CSVN đã phản quốc dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng, đã khiếp nhược im lặng trước mưu đồ xâm lăng bá chủ của Trung Cộng để mặc cho chúng chiếm đóng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và khai thác Bauxite trong vùng Tây Nguyên. Đồng bào Úc Châu sẽ cực lực lên án chế độ CSVN đàn áp các tôn giáo, mà gần đây nhất là vụ đàn áp dã man gây thương tích cho nhiều giáo dân vô tội tại giáo xứ Tam Tòa đồng thời tố cáo nhà cầm quyền CSVN cướp đoạt đất đai, tài sản của các Giáo Hội và của người dân oan vô tội trong nhiều thập niên qua, tố cáo nhà cầm quyền CSVN đàn áp và giam cầm những người bất đồng chính kiến đang đấu tranh đòi dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Cũng như sự hiện diện của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị APEC ở Sydney năm 2007 và chuyến công du 2 ngày của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng tại Úc tháng 10 năm 2008, sự có mặt của Nông Đức Mạnh lần này không phải là một cái cớ để cho Cộng Đồng biểu tình chống CSVN. Người Việt Hải Ngoại nói chung và Người Việt Úc Châu nói riêng đã chống cộng không ngừng nghỉ bao năm qua kể từ ngày tìm đường thoát khỏi thiên đường bánh vẽ của cộng sản. Do đó sự có mặt của Nông Đức Mạnh ở Úc là một động lực, một yếu tố làm bùng nổ sự tức giận của Người Việt Hải Ngoại đối với sự cuồng bạo, hèn hạ và dã man của chế độ cộng sản đối với đất nước, đối với dân tộc. Cuộc biểu tình những ngày sắp tới không phải chỉ là nhắm vào đảng CSVN mà còn là để gióng lên tiếng nói thiết tha, thành khẩn để đánh thức lương tâm, để cảnh tỉnh người dân Úc về một chế độ bất nhân ở Việt Nam, tố cáo những vi phạm nhân quyền trầm trọng của CSVN trước công luận quốc tế, đồng thời yêu cầu Thủ Tướng Kevin Rudd và chính phủ Úc phải lưu tâm đến vấn đề nhân quyền và các giá trị nhân bản trong mối bang giao giữa Úc và Việt Nam.

Tất cả những phái đoàn Việt cộng từ trước tới nay, khi ra ngoại quốc tiếp xúc với những đối tác nơi những quốc gia tự do có đồng hương Việt Nam tỵ nạn thường phải đi bằng cửa hậu, ngoại trừ nơi nào không có lối sau, đành phải đi bằng cửa hông hay cửa trước băng qua rừng cờ vàng ba sọc đỏ. Ấy thế mà báo chí trong nước không ngượng nghiụ rêu rao rằng Thủ tướng và Chủ tịch nước luôn được đón tiếp nồng nhiệt và trọng thể. Đón tiếp nồng nhiệt và trọng thể như thế nào? Nồng nhiệt và trọng thể là hàng trăm hàng ngàn người gồm đủ mọi lứa tuổi ở khắp mọi nơi đã đồng loạt bỏ cả công ăn việc làm, bất kể ngày đêm hăng hái tề tựu về phản kháng với cả rừng cờ vàng ba sọc đỏ và biểu ngữ à? Một điều hiển nhiên là phái đoàn của các ông đi tới bất cứ chỗ nào cũng đều gặp đông đảo đồng hương Việt Nam tỵ nạn cộng sản “dàn chào” với rừng cờ vàng ba sọc đỏ và biểu ngữ chứ không phải chỉ có một số ít người cực đoan quá khích chống đối như các ông vẫn thường muối mặt rêu rao. Tuyệt nhiên không có lấy được một người Việt nào cầm cờ đỏ sao vàng để hoan hô đón tiếp như báo chí truyền thông của các ông đã bịa đặt, đã bịp bợm đồng bào trong nước. Đoàn xe của các ông đi thường cũng không dám cắm cờ Việt cộng. Có khi các ông còn phải đi nhờ xe của cảnh sát hay xe của an ninh để tránh né hay đánh lừa người biểu tình.

Sự hiện diện của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị APEC 2007 ở Sydney tháng 9 năm 2007 đã không gây nên một sự chú ý nhỏ nào đối với giới truyền thông và dư luận. Ông ta đến lặng lẽ mà đi cũng lặng lẽ, không cờ không quạt đúng theo nghi thức tiếp đón dành cho một nguyên thủ quốc gia. Chẳng ai biết ông đến lúc nào đi lúc nào, tạm trú ở đâu, có xuống phố Việt để ăn bát phở không hoặc ít nhất có ra đường tiếp xúc với “cộng đồng người Việt” như ông từng ao ước. Ông Triết cũng đã không dành một giờ nào cho những “khúc ruột ngàn dặm” mà chế độ của ông đang kêu gào như là một thành phần không thể tách rời của dân tộc. Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng tháng 10 năm ngoái tại Úc cũng vậy, kiều bào Úc Châu đã tiếp đón Thủ tướng nồng nhiệt và trọng thể quá nên ông phải tới lui và vô ra phòng tiếp tân toàn bằng cửa hậu. Đường đường là Chủ tịch một nước, đường đường là Thủ tướng một nước mà phải lén lút như vậy quả là nhục!!!

Trong suốt 34 năm tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại cũng như tại Úc Châu, mặc dầu chúng ta có nhiều đoàn thể, tổ chức đấu tranh và đường hướng đấu tranh khác nhau, nhưng mục tiêu chung cũng vẫn là một - đó là giải thể chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam. Những cuộc biểu tình chống Nguyễn Minh Triết, chống Nguyễn Tấn Dũng và nay sắp phải chống Nông Đức Mạnh nói lên điều đó.

Người Việt Ly Hương Úc Châu
4 tháng 9 năm 2009


NHẠC SĨ TÔ HẢI TÁC GIẢ HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN BỊ CẮT INTERNET


Tin Saigon - Cũng trong vài ngày qua, đường truyền Internet vào nhà nhạc sĩ Tô Hải bị cắt, và được giải thích là đường truyền bị mục, lúc nào có sẽ cho biết. Nhạc sĩ Tô Hải viết trong một điện thư nhờ bằng hữu chuyển cho bạn bè của ông ở hải ngoại và cho biết đúng ngày 2 tháng 9 ở Việt Nam mừng lễ Quốc Khánh độc lập tự do, thì ông lại mất độc lập tự do và bị cắt Internet. Hai ngày đi khiếu nại thì được giải thích việc này sẽ kéo dài không hạn định. Ông nói đây là một sự ngụy tạo lý do không thể chấp nhận nổi vì các căn khác ở cùng chung cư ai cũng vẫn có Internet. Nhạc sĩ Tô Hải là người đã cho phát hành cuốn Hồi Ký Của Một Thằng Hèn, kể lại cuộc đời của người thanh niên Tô Hải đã bị tuyên truyền lừa gạt theo cộng sản, sống trong sự kiểm soát, kìm kẹp chặt chẽ, cho đến cuối đời mới dám nói ra điều nghĩ trong đầu suốt mấy chục năm. Có thể nói cuốn hồi ký của Tô Hải xuất hiện như một quả bom đánh thẳng vào thành trì hàng ngũ đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ cuối năm 2007, người ta đã thấy ông theo chân những người trẻ tuổi đến biểu tình trước trụ sở Tổng Lãnh Sự Trung Cộng ở Saigon, phản đối quyết định của Quốc Vụ Viện nước này ra nghị quyết thành lập thành phố biển Tam Sa trực thuộc tỉnh đảo Hải Nam. Tam Sa là tên mới cho ba nhóm quần đảo trên biển Ðông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cụ già Tô Hải đã bị gọi đi thẩm vấn, tra khảo về chuyện tham dự biểu tình, nhưng ông lại là một người có nhiều công trạng với chế độ, được thưởng nhiều huy chương nên giở trò hung bạo với ông cũng phải dè dặt. Trang blog của ông có hơn 400,000 người xem và tăng lên từng ngày, ông không còn ngồi được và phải nằm rồi nhờ con đánh máy để phơi bày tâm sự của mình, nhưng nay cũng bị cắt đứt Internet không còn vào được nữa.

Bài Xem Nhiều