We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 10 September 2009

Giặc Đến Tam Tòa Thì Giặc Phải Tan

Theo định luật tự nhiên của xã hội, nơi nào có áp bức, nơi đó tất sẽ có đấu tranh, lịch sử đấu tranh chống cộng của dân tộc ta từ khi có mầm mống cộng sản xuất hiện từ miền bắc Việt Nam, đã đưa đến các cuộc đàn áp mà trong đó tôn giáo bị đàn áp có thể nói là khốc liệt nhất lịch sử loài người, hơn hẳn bất cứ cuộc đàn áp tôn giáo nào trên thế giới.
Việt cộng đã tuân theo di chí của tổ tiên Hồ Chí Minh là Karl Maxc cho rằng "Tôn giáo là thuốc phiện". Câu nói này chỉ thị đệ tam cộng sản phải lưu tâm đến vấn đề tôn giáo và tiêu diệt bất cứ khi nào có thể. Thuốc phiện hay ả phù dung hể dính vào là bị mê hoặc, khó dứt ra được. Người có tôn giáo thì vĩnh viễn không bỏ đạo, cũng giống như người ghiền thuốc phiện thì khó dứt ra được. Đây là lập luận của cộng sản quốc tế, và Hồ tặc cùng đảng cộng sản Việt Nam lúc nào cũng tuân chỉ, và ra tay đàn áp bất cứ lúc nào.
Ngay trong thời chống thực dân Pháp, trong nam thì Việt cộng ra tay sát hại Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, tiêu diệt Phật Giáo Hòa Hảo là tôn giáo có Lực Lượng Dân Xã là lực lượng võ trang để bảo vệ đạo pháp và chống cộng. Ngoài bắc thì Việt cộng khủng bố Công Giáo, Đức Cha Lê Hữu Từ đã nhiều lần bị Việt Minh cộng sản mưu sát nhưng không được, và giáo khu Phát Diệm đã trở nên thành đồng chống cộng. Cuộc khởi nghỉa Quỳnh Lưu, Nghệ Tỉnh tháng 11 năm 1956, và bạo động ngay cả tại Nam Đàn là quê hương của Hồ tặc đưa đến kết quả Việt cộng tàn sát 6,000 người dân đa số là Công Giáo không có vũ khí trong tay. Cuộc di cư nội địa vĩ đại nhất lịch sử loài người sau Hiệp Định Genève 20/7/1954, có hơn 1 triệu đồng bào miền bắc mà hầu hết là các giáo xứ Công Giáo đã di cư vào nam tìm tự do lánh họa cộng sản.
Sau ngày cả nước bị nhuộm đỏ, Việt cộng thẳng tay đàn áp tôn giáo mà không còn sợ bị chống lại bằng bạo lực nửa. Hàng ngàn các vị lãnh đạo các tôn giáo như Giám Mục, Linh Mục, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Hiền Tài lần lượt bị đưa vào tù, gọi trá hình là các trại cãi tạo. Không những các vị Tuyên Úy quân đội bị đưa vào tù nhốt hàng chục năm, mà nhiều vị không phải là Tuyên Úy cũng bị đưa vào tù. Mục đích Việt cộng bắt nhốt các vị tu hành là để dằn mặt tất cả người dân trong nước rằng "Ngay cả nhưng người tu hành bất bạo động còn bị bắt, đừng có mong chống lại chúng tôi".
Tại sao Việt cộng ghét tôn giáo đến như vậy? Tại -vì -chúng -sợ -tôn -giáo -nhất. Điều này tất cả người dân nông thôn hay ngoại thành miền nam Việt Nam đều biết rành hơn dân thành thị. Sau ngày chiếm được miền nam, mổi tối Việt cộng đều "gõ kẻng" ép buộc bà con lên trụ sở xã ấp học tập chính trị, hoặc nghe khẩu hiệu ca tụng đảng, kẻng hồi lâu mới thấy bà con lần lượt xuất hiện, người thì tay xách nách mang con nhỏ, người thì chống nạng lên ngồi nghe cán bộ lên lớp, người thì ngồi ngáp lên ngáp xuống buồn ngủ sau một ngày lao động cật lực làm giàu cho đảng, bọn cán bộ xã ấp nổi xung quát mắng" Tại sao bà con nghe tiếng chuông nhà thờ là thức dậy đi lễ đông đủ, mà chúng tôi gõ kẻng hàng giờ mới chịu tập trung lên lớp, lại còn ngủ gục giửa giờ như thế". Việt cộng -thù -ghét giáo -dân, vì -họ -chỉ -nghe -Cha, nghe- Thầy, chứ -không -nghe -Cộng. Một cái lệnh của của các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo là giáo dân đều tuân theo tập họp đông đủ, thậm chí nhà nghèo cũng dốc tiền ra xây chùa hoặc sửa nhà thờ. Việt cộng ghét cay ghét đắng tôn giáo là thế. Tôn giáo là trọng tâm cần bị tiêu diệt hơn bất cứ cá nhân hay tổ chức chống cộng nào, vì tôn giáo có khả năng tập họp nhanh nhất, đông nhất, kỷ luật nhất, và nếu cần thì có thể tử vì đạo.
Tại sao Việt cộng lại sợ tôn giáo đến như vậy. Tại vì giáo dân là "hai nạn nhân" của cộng sản. Người dân lành không tôn giáo (thờ ông bà) dưới chế độ cộng sản đều bị áp bức, bị cướp đoạt quyền làm người như nhau. Nhưng người có đạo (giáo dân) thì có thêm một cái tội lớn hơn là có tôn giáo. Cho nên giáo dân chính là công dân hạng hai dưới chế độ cộng sản. Ngày cộng sản chiếm miền nam, các bàn thờ tôn giáo bị Việt cộng nói bóng gió phải dẹp qua một bên và phải để ảnh thờ Hồ tặc ở giửa bàn thờ hay ở nơi trang trọng nhất. Cộng sản Việt Nam xuất phát từ chủ nghỉa Tam Vô của cộng sản quốc tế là Vô Gia Đình -Vô Tôn Giáo -Vô Tổ Quốc đúng như lời kêu gọi tập hợp của quốc tế cộng sản "Bốn phương vô sản là nhà". Điều này rất rỏ đối với đồng bào Việt Nam.
Cộng sản chủ trương Vô Gia Đình, vì chúng cho rằng con người theo thuyết tiến hóa của Darwin, đã tiến hóa từ loài vượn lên người, cho nên cộng sản không ràng buộc gì đến gia đình. Thời toàn quốc chống thực dân Pháp, ai đi theo Việt minh cộng sản thì được chúng gọi là "thoát ly" tức là không còn ràng buộc gì gia đình, cũng như không đếm xĩa gì đến lời khuyên của gia đình khi thấy bản chất tàn bạo của cộng sản, có báo động cho con cái chúng cũng không nghe. Cho nên cuộc Cải Cách Ruộng Đất tại Việt Nam năm 1953-1956, cộng sản ra lệnh cho nông thôn đấu tố, con đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, tớ đấu tố chủ, đã tàn sát trên một trăm ngàn người dân vô tội. Chính Trường Chinh lúc đó là Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam cũng đưa ông bà cha mẹ mình ra đấu tố trong cải cách ruộng đất để làm gương. Ngày nay, tại Việt Nam, nhà nào có con em được tặng danh hiệu "Cháu ngoan bác Hồ" là nhà đó hết phước, vì chính các em sẽ theo sự giáo dục của đảng, nếu cần sẽ đem cha mẹ mình ra tố cáo lấy điểm tốt với đoàn. Từ trong việc giáo dục, cộng sản lập luận "Vật chất có trước" để bác bỏ tất cả sự hiện diện thuộc tâm linh và gia đình. Kết luận cộng sản Vô Gia Đình không sai chút nào.
Với khẩu hiệu "Bốn phương vô sản là nhà" cộng sản chủ trương Vô Tổ Quốc, việc này cả nước Việt Nam quá rỏ. Hồ Chí Minh vốn là quốc tế vô sản, theo lệnh của Lenin lập đảng cộng sản đông dương ngày 03/02/1930 và từ đó chỉ biết phục vụ cho quốc tế cộng sản. Việc tàn sát hàng trăm ngàn dân lành vô tội trong Cãi Cách Ruộng Đất 1953-1956, chính Hồ Chí Minh tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, rồi báo cáo công tác diệt chủng lên Stalin xin chỉ thị xem có nên làm tiếp hay không. Cộng sản ký hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954 làm cho trên một triệu đồng bào phải di cư vào nam lánh họa cộng sản. Việt cộng tàn sát trên 6,000 giáo dân Quỳnh Lưu thuộc tỉnh Quãng Bình 1956. Việt cộng ký công hàm ngoại giao dâng Hoàng Sa cho Tàu cộng năm 1958. Cộng sản tàn sát dã man gần 6,000 đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Chỉ trong 3 ngày,Việt cộng giết trên 3500 đồng bào và hầu hết là trẻ em Việt Miên tại làng Ba Chúc, thuộc tỉnh An Giang tháng 4/1978. Sau năm 1975, thống trị cả nước bằng hành động ác ôn côn đồ, cộng sản đã đẩy dân ra biển đông, tạo tra một cuộc vượt biên di cư vĩ đại nhất lịch sử loài người, hàng triệu người Việt Nam lênh đênh trên các con tàu định mệnh, vượt đại dương tìm tự do, vì không thể nào sống được với bạo tàn cộng sản. Cộng sản cắt đất dâng biển cho Trung cộng năm 1999, và năm 2000 qua các hiệp ước bất bình đẳng; và bắt giam người yêu nước chống Trung cộng xâm lược biển đông 2008. Việt cộng dâng Tây Nguyên cho Trung cộng khai thác bauxite năm 2009, và âm mưu biến Tây nguyên thành đặc khu kinh tế chính trị của Trung cộng trong vùng ba biên giới Việt Miên Lào gồm 3 tỉnh của Lào, 3 tỉnh của Miên, và 4 tỉnh của Việt Nam. Khi nghe Mao Trạch đông than vãn là nước lớn nhưng không có đường ra biển, chính Hồ Chí Minh đã bàn với Bộ Chính Trị rằng mình có mấy cái đảo ngoài biển đông chỉ có cứt chim, thôi thì cho Trung quốc để tỏ lòng biết ơn. Đây chính là nguyên nhân Phạm Văn Đồng dâng công hàm ngoại giao 28/01/1958 công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung cộng, việc này đã bật đèn xanh cho Trung cộng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1971, và Việt cộng đã im re đồng ý cho Trung cộng chiếm lãnh hải Việt Nam. Cho đến nay thì cả nước đều biết việc này, nên Việt cộng đã chống chế rằng Hoàng Sa là của miền nam Việt Nam, và công hàm của Phạm Văn Đồng chỉ phản ảnh quan điểm chứ không có giá trị pháp lý vào thời bấy giờ. Mới đây,Việt cộng giở trò "mèo mù khóc cá rán" làm ầm ĩ sáp nhập Hoàng Sa vào Đà Nẳng trên giấy tờ quốc nội. Nhưng khi nạp hồ sơ lãnh hải cho Liên Hiệp Quốc vào tháng 5/2009, Việt cộng lờ đi Hoàng Sa, và chỉ xác nhận Trường Sa là của Việt Nam. Hồ Chí Minh không bao giờ coi mình là người Việt Nam, nên khi chết đã trối trăn là về với Karl Marx và Lénin là hai ông tổ của cộng sản quốc tế, chứ không dám trăn trối là về với quốc tổ Hùng Vương, có lẽ sợ Đức Thánh Trần hiển linh vặn họng tên đại phản quốc Hồ Chí Minh trước khi tên này đi tàu suốt về với tổ tiên cộng sản của nó. Cộng sản Việt Nam không thể chối bỏ nguồn gốc vô tổ quốc của chúng.
Cộng sản chủ trương Vô Tôn Giáo, sau ngày chiếm miền nam, cộng sản bắt hàng ngàn các vị linh mục, đại đức, thượng tọa nhốt vào các nhà tù trá hình là trại cãi tạo, có người bị nhốt cả mười mấy năm như Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, như Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, như Linh mục Vũ Ngọc Đáng. Chúng lập ra Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước và các giáo hội quốc doanh để tung hô đảng, tôn giáo nào không chịu tất bị đàn áp như chúng ta đã biết. Việt cộng đã thẳng tay đàn áp tôn giáo, các tôn giáo như Hòa Hảo, Phật Giáo, và Cao Đài, Công Giáo, và Tin lành đều chịu cùng chung số phận. Các vị lãnh đạo tôn giáo lớp đang ngồi tù như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, đánh đập và bắt giam Mục Sư Nguyễn Công Chính, Mục sư Nguyễn Trung Tôn, hay quãn thúc tại gia như Hoà Thượng Thích Huyền Quang, như Hòa Thượng Thích Quãng Độ, như Cụ Lê Quang Liêm lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Nhiều tín đồ PGHH đã tự thiêu và chết thật thãm thương để bảo vệ đạo pháp như bà Nguyễn Thị Thu, như ông Trần Văn Út. Cộng sản đang phá bỏ các nhà thờ Tin lành tại Tây Nguyên, cấm giáo dân tụ họp quá 5 người. Cộng sản đã tịch thu đất đai, cơ sở, trường học của các tôn giáo khắp miền nam Việt Nam để chia chác cho cán bộ lãnh đạo, bị lên án dữ quá, chúng bèn biến các nơi này thành công viên như vụ Thái Hòa vừa rồi. Cộng sản đã thô bỉ đưa cả tượng Hồ tặc vào chùa Đại Nam ở Bình Dương để thờ chung với Đức Phật và Quốc Tổ Hùng Vương để ra cái điều có tôn giáo, nhưng bị dư luận lên án quá nên cuối cùng tháng rồi, Việt cộng đã phải dời tượng tên quốc tặc đi nơi khác. Cộng sản đã đàn áp giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, và đang đàn áp dã man giáo xứ Tam Tòa tại tĩnh Quãng Bình, đánh trọng thương mấy chục giáo dân trong đó có nhị vị Linh mục Ngô Thế Khải và Cao Thế Bình. Chưa bao giờ tôn giáo bị đàn áp khốc liệt như hiện nay. Bảo cộng sản Vô Tôn Giáo đâu có sai.
Đã có câu sấm dân gian truyền tụng "Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về - Giặc đến bồ đề thì giặc phải tan". Việt cộng đụng đến tôn giáo nặng như vậy trước sau gì cũng xãy ra việc Công Giáo khởi nghỉa giống như Quỳnh Lưu năm 1956 chống cãi cách ruộng đất, và Phật Giáo chính thống cũng như Phật Giáo Hòa Hảo cũng sẽ nhảy vào cuộc. Việt cộng đang chuẫn bị cho một cuộc đối đầu "hậu Quốc- Cộng" mà trong đó sẽ có tôn giáo tử vì đạo. Lịch sử đã chứng tỏ, 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam thời Nhà Nguyễn thà chịu chết chứ không chịu bỏ đạo. Giặc đến Tam Tòa thì giặc phải tan. Chỉ trong một đêm hiệp thông với giáo xứ Tam Tòa, trên dưới 500,000 đồng bào công giáo thuộc giáo phận Vinh đã tham dự. Chỉ một ngày Lễ Thánh Bổn Mạng giáo phận Vinh, có trên 200,000 đồng bào công giáo tề tựu tại Tòa Giám Mục mang theo một rừng biểu ngữ phản đối cộng sản đàn áp giáo xứ Tam Tòa. Giám Mục Giáo Phận Vinh, Đức Cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên đã dõng dạc tuyên bố " Không phải chỉ có một Cao Đình Thuyên mà có đến 500,000 Cao Đình Thuyên". Câu nói này sẽ đi vào lịch sử về tinh thần đoàn kết của 178 giáo xứ thuộc giáo phận Vinh cương quyết chống cộng sản độc tài đàn áp tôn giáo. Giáo phận
Vinh thuộc tỉnh Quãng Bình, nơi có truyền thống chống cộng sản áp bức qua vụ Quỳnh Lưu Khởi Nghỉa có lập lại lịch sử lần thứ hai chăng? Mặc dù cộng sản đàn áp dã man, nhưng các cuộc thắp nến hiệp thông bày tỏ thái độ diễn ra trong ôn hòa, điều này khiến Việt cộng rất lo sợ, vì không biết đối phương sẽ làm gì, nên đã cử một Phó Thủ tướng là Phạm Gia Khiêm vào đối phó.
Bề ngoài thì tình hình Tam Tòa có vẽ đang chìm lắng, nhưng bên trong của giáo phận Vinh bất khuất này chắc không ngủ yên, "Giặc đến Tam Tòa thì giặc phải tan", cả nước và hải ngoại đang hồi hộp theo dõi chuyện gì chắc chắn sẽ xảy ra sau vụ Tam Tòa.

Song Hoài

PHẬT VÀ BÁC !

-Bố ơi! Từ Tết này trở đi con không đi chùa nữa?
-Sao vậy?
-Hôm vừa rồi con đi chùa với mấy đứa bạn con thấy trong chùa bây giờ thờ cả ông Hồ Chí Minh nữa? Thế là thế nào hở bố?
-Bố cũng có nghe nói vậy. Con thấy thế nào?
-Con thấy không ổn bố à! Theo con hiểu thì chùa là để thờ Đức Phật, cũng như nhà thờ là để thờ Chúa Giê-su vậy. Cho Bác mình “ngồi” vào đó con thấy nó khiên cưỡng quá!
-Bác là anh hùng dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới, bác được nhân dân “phong” thánh sống thì ngồi đâu mà chả được?
-Con không tranh luận với bố về Bác, cứ cho là lời bố nói đúng đi nữa thì việc Bác ngồi vào chùa cũng không ổn, anh hùng dân tộc Việt Nam đâu chỉ có Bác? Việt Nam ta với lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước đã xuất hiện biết bao nhiêu anh hùng dân tộc, nếu tất cả các anh hùng đó đều ngồi hết vào chùa thì lấy đâu ra chỗ? Con thấy, thường thì các anh hùng dân tộc sẽ được xây Đền và được xem như Thành Hoàng Làng chẳng hạn! Bác đã có cái Lăng to đùng nằm giữa Thủ đô rồi còn gì?
-Con nói cũng có lý! Nhưng đây là do ý nguyện của nhân dân và đã được Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đồng ý.
-Chuyện bảo rằng Bác được nhân dân phong Thánh theo con là nói lấy được, muốn biết điều gì đó có phải là ý nguyện của nhân dân hay không thì phải “Trưng cầu dân ý” mới biết được chứ? Nói khơi khơi như vậy khó thuyết phục lắm bố à! Chuyện “thỉnh” Bác vào chùa “ngồi” nếu là quyết định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì cũng cần có văn bản được toàn thể các Hòa thượng, chư tăng, phật tử đồng ý mới được chứ? Mà theo con biết thì làm gì có cái văn bản nào như vậy đâu?
-Thế con không thấy phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là “Đạo pháp Dân tộc Chủ nghĩa xã hội” đấy sao?
-Con không phải là phật tử và cũng không hề muốn xúc phạm đến các bậc tăng lữ tài cao đức rộng nhưng con thấy mục tiêu thứ ba của Giáo hội Phật giáo có cái gì đó không ổn, đó là “chủ nghĩa xã hội”. Phật pháp và cộng sản có cái gì ăn nhập với nhau đâu ạ? Con cũng thấy việc Bác ngồi vào trong chùa là báng bổ Phật và cả... Bác nữa!
-Sao con lại nói vậy?
-Đạo Phật đã có cách đây 2500 năm, trong khi đó chủ nghĩa cộng sản mới có khoảng 100 năm. Đồng hành với nhau thế nào được? Mà chủ trương của cộng sản là tiêu diệt tôn giáo. Từ Stalin đến Bác Mao, Bác Hồ đều cho đập phá các nhà thờ, chùa chiền. Ông “giáo chủ” đầu tiên của Đạo Mác là Lê Nin đã nói rõ là “Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”, mà đã là “thuốc phiện” thì phải tẩy chay, tiêu diệt. Bác mình dù gì cũng là giáo chủ của Đạo Mác tại Việt Nam, như vậy ông “giáo chủ” của Đạo Mác lại ngồi cùng Phật Tổ một chổ e rằng cả hai ông đều không hài lòng, như vậy chả là xúc phạm cả Phật lẫn Bác hay sao?
-Cái đó con nói cũng có cái đúng, Đảng cộng sản có ưa gì mấy ông Thầy chùa đâu. Không những ngày xưa mà bây giờ vẫn vậy. Nhưng “thời thế, phải thế” con ạ, nếu không mang Bác vào chùa đặt mà xây riêng một cái đền, hay cái động gì đó để hoằng dương Đạo Mác thì cũng khó. Ai người ta vào? Đảng viên chỉ có 3 triệu người mà hầu hết có còn ai tin vào cộng sản nữa đâu? Đành cho Bác ngồi ké vào chùa vậy?
-Tại sao Đảng ta không mang Bác vào nhà thờ đặt luôn cho hết lượt ạ?
-Không được con à. Nhà thờ có những qui định rất nghiêm khắc và chặt chẽ và họ còn có Tòa thánh Vaticăng nữa chứ, đời nào họ để yên cho mình làm việc đó. Trong khi đó thì Đạo Phật lại “rộng lượng” hơn, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam lại nằm trong Mặt trận cho nên Đảng đề nghị lẽ nào họ lại từ chối? Mà con có biết không? Phật tử rất đông và cả những người không phải là phật tử nhưng vẫn đi chùa càng đông hơn nữa, cứ “tí, sửu, dần, mòn” rồi đến lúc nào đó các phật tử họ không còn nhận ra được là đi chùa thắp hương thờ Phật hay thờ Bác nữa, và như thế là Bác sống muôn năm.vạ Đảng ta cũng sẽ sống muôn năm. Một công đôi việc, vừa ít tốn kém lại còn hoằng dương được Đạo Mác nữa. Con thấy Đảng ta có tài tình và sáng tạo không?
-Thật là “quái” hết chổ nói. Ông nào nghĩ ra được cách này rất xứng đáng được nhận chức “giáo chủ” Đạo Mác.
-Thì bố đã bảo với con, Đảng ta còn sống dài dài nhờ các kiểu “ké” và “quá giang” mà lại...
-Thưa bố, vẫn chưa hết đâu ạ. Con thì chưa thấy nhưng mấy đứa bạn con đều nói rằng bây giờ các sư sãi của nhà Phật đều ăn mặn cả, không những thịt chó mà bất cứ thịt gì họ cũng đều xơi tuốt, lại còn rượu bia tu ừng ực như bố con mình vậy?
-Anh thấy lạ lắm à?
-Vâng! Theo con giới tu sĩ vốn được người dân kính trọng bởi vì họ đã từ bỏ những ham muốn rất đời thường của người trần tục, để trở nên thanh khiết và mọi người đều xem họ như là sợi dây nối giữa người thường với thánh thần, với thượng đế. Nếu họ cũng phàm tục như chúng ta thì việc gì chúng ta lại kính trọng họ? con thật không hiểu nổi!
-Có gì đâu mà không hiểu. Không phải sư nào cũng vậy cả đâu. Sư cũng có hai loại sư đó là “sư ta” và “sư địch”, sư địch thì họ đâu có ăn mặn. Còn “sư ta” là những người làm công tác Phật giáo, họ đều là những đảng viên trung kiên, đã được bồi dưỡng đầy đủ về lý luận của chủ nghĩa MacLênin. Nhiệm vụ của họ là dẫn dắt Giáo hội Phật giáo đi theo con đường của Đảng, nhà chùa cũng chỉ là nơi làm việc như mọi cơ quan khác mà thôi. Đạo Mác là theo chủ nghĩa duy vật, vì vậy đâu có cấm ăn nhậu.
-Trời đất! Thế này thì con cũng xin đi tu...
-Anh đừng có mà mơ! Loại “phản động” như anh còn lâu mới được “đi tu” nhé, đi tù thì có...
-???

Việt Hoàng

Quân tử Tầu và quân tử ta


Tưởng Năng Tiến


Quân tử có thương thì đóng cọc.
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay.

Cứ theo quan niệm giản dị của bà Hồ Xuân Hương thì
hễ có cọc, và đóng được, là (tính như) quân tử. Mấy chi tiết lẻ tẻ khác như tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều là chuyện nhỏ, và (e) chỉ là… đồ bỏ!

Bằng vào tiêu chuẩn rất tới (và cũng rất nới) này của nữ sĩ, đương nhiên, tôi được coi là lưỡng quốc quân tử: quân tử ta, và quân tử Tầu. Ai cũng nói tôi là dân Tầu lai, hay người Việt gốc Tầu mà.

Và không phải xứ sở nào cũng có cái may mắn, cũng như vinh dự, sản xuất ra được quân tử đâu nha. Làm gì có quân tử Uganda, quân tử Nga, quân tử Phú Lãng Xa, quân tử Ma Rốc, quân tử Mễ Tây Cơ, quân tử Ba Lan, quân tử Mỹ, quân tử Úc, quân tử Nam Dương, hay quân tử Ấn Độ?
Những nước đồng văn (hoá) với Trung Hoa – như Nhật Bản, Đại Hàn – cũng chả hề sản xuất ra được một chú quân tử Lùn, hay quân tử Củ Sâm (Cao Ly) nào cả. Còn đám láng giềng (lóc nhóc) thì khỏi cần nhắc đến làm chi, cho má nó khi. Có nghe ai nói tới quân tử Lào, quân tử Thái, quân tử Miên, hay quân tử Miến… bao giờ đâu – đúng không?
Tóm lại: quân tử là của hiếm – và là hàng độc – chỉ tìm được ở ta, hoặc ở Tầu. Còn đến cỡ như lưỡng quốc quân tử thì (ôi thôi) hiếm hoi và quí hoá không biết đến đâu mà nói.
Khối bà, khối cô chỉ (thầm) mong cho chồng – sau một đêm dài – sáng thức dậy bỗng biến ngay thành Tưởng Năng Tiến. Nếu không được vậy thì thành Tưởng Năng Thối cũng … tốt (thôi) miễn là có cái gốc Tầu, để có thể mệnh danh là lưỡng quốc quân tử – y như vị thế (giá trị) của tôi, hiện tại.

Có điều, tưởng cũng nên nói cho rõ: tôi tuy có thế nhưng lại sinh bất phùng thời, ra đời vào thời cách mạng. Ở thời buổi nhiễu nhương này, quân tử ở ta, cũng như ở Tầu, bị thiên hạ càu nhàu dữ lắm.

Mới đây, hay nói chính xác hơn là vào ngày 24 tháng 8 năm 2009, trên diễn đàn talawas, ông Phạm Toàn có đôi lời phàn nàn (hoặc nói đúng hơn là chì chiết) như sau:
"… bà Rebiya Kadeer, một phụ nữ Tân Cương, tuy đã được thả ra khỏi nhà tù và lưu vong ra tới nước ngoài rồi, ấy vậy mà vẫn còn bị chư vị quân tử của ‘cố quốc’ đuổi theo dọa nạt. Họ còn dọa nạt cả chính quyền nước chủ nhà đang đón tiếp bà Kadeer…"
"Các nhà điện ảnh đã làm một bộ phim tài liệu về bà Kadeer, và họ mời bà qua Úc, đến tận thành phố Melbourn dự liên hoan. Chính quyền của các bậc ‘quân tử’ đã hành xử thế nào? Có năm việc điển hình cho hành vi của các bậc quân tử có thể kể ra ở đây:"
"một, gọi bà Kadeer là ‘kẻ khủng bố’, và quy cho bà ngồi ở nước ngoài để chỉ đạo cuộc nổi dậy của dân Tân Cương hồi tháng 7-2009 vừa rồi;
"hai, gây ra một vụ xì-căng-đan có tên gọi là gián điệp thương mại và kinh tế và cho tóm luôn người đại diện của hãng Nhôm Rio Tinto của Úc đang thương thảo buôn bán với Trung Quốc;
"ba, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer vào Úc tham gia liên hoan phim mà bà là một nhân vật quan trọng của cuộc vui đó;
"bốn, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí; và
"năm, huy động các đồng chí Hoa kiều (yêu nước) đang sống ở Úc tiến hành chống phá các hoạt động của bà Kadeer ngay trên đất nước đang cho họ tá túc.
"Việc gọi bà Kadeer là kẻ khủng bố là một hành vi rẻ tiền, nhưng các ông quân tử vẫn cứ sử dụng, họ chẳng thấy chuyện đó có gì đáng hổ thẹn cả…"


Cách hành xử của quân tử Tầu, rõ ràng, có hơi (bị) tiểu nhân. Tư cách của đám quân tử ta, xem ra, cũng không khác mấy – theo như lời than phiền của ông Hà Sĩ Phu, trong bài tiểu luận
"Chia tay ý thức hệ":
"Nếu những phạm trù NHÂN,THIỆN, ĐỨC còn mang tính lý tưởng, hoặc còn chung chung, trừu tượng, thì phạm trù QUÂN TỬ đưa thiện-ác vào tới con người cụ thể, tới tình huống cụ thể,thái độ ứng xử cụ thể. Mỗi tình huống ấy là một cuộc thử thách quyết liệt : anh nói anh ‘thiện’, anh ‘đạo đức’ thì anh thể hiện ra đi, quyết định lấy một thái độ ứng xử đi ; hoặc là hành động một cách QUÂN TỬ, hoặc là hành động một cách TIỂU NHÂN!"
"Những bài học về QUÂN TỬ thiết thực lắm. QUÂN TỬ rất gần với TRƯỢNG PHU và THƯỢNG VÕ. Người ta thua trận,người ta nằm trong tay anh rồi, anh làm gì người ta cũng phải chịu, thì anh sẽ đối xử thế nào? Hoặc là anh học người xưa, đem tất cả sổ sách thù hận đốt đi để coi nhau như anh em, hay anh lục đống hồ sơ cũ ra, bới lông tìm vết để phân biệt đối xử ?"


Cái gì chứ "lục lọi," hay "bới lông tìm vết," hoặc "phân biệt đối xử" thì quân tử ta (bảo đảm, hay đảm bảo) là lúc nào cũng làm tới nơi, tới chốn. Bởi vậy, hàng triệu gia đình (thuộc phe "thua trận") đã phải liều mạng đâm sầm ra biển – ù té, bỏ của chạy lấy người. Chết đuối, chết trôi, chết chìm, chết sông, chết biển, chết dấm, chết dúi, chết bụi, chết bờ – tất nhiên – vô số.
Số còn lại lóp ngóp bò đến được những bến bờ xa lạ, hay những hải đảo xa xôi, thuộc những nước láng giềng. Họ được gọi là thuyền nhân và được đa phần nhân loại mở rộng vòng tay, nồng nhiệt đón chào, tạo cho cơ hội làm lại cuộc đời – rải rác khắp năm châu.
Trang sử thuyền nhân tuy đã được lật qua (vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX) nhưng những kẻ đi tị nạn, và đã thoát nạn, vẫn nhớ về chốn cũ – nơi đã cho họ một chỗ nương thân, giữa lúc đang bơ vơ giữa mênh mông trời cao và biển rộng. Tạp chí Thế kỷ 21 (số phát hành từ California, tháng 7 năm 2005) có bài viết của nhà báo Phạm Phú Minh, về vấn đề này – xin được ghi lại vài đoạn ngắn:
"… nhiều phái đoàn người Việt Nam tị nạn cộng sản từ khắp thế giới đã mở những cuộc ‘hành hương’ về những bến bờ đã đón tiếp mình từ tay biển cả trong các cuộc vượt biên xưa. Và như một cử chỉ cụ thể để tỏ lòng biết ơn các quốc gia đã cứu vớt mình, người Việt tị nạn cộng sản đã xin phép chính quyền sở tại đặt những tấm bia kỷ niệm tại nơi ngày xưa đã là trại tạm trú đầu tiên của những người đặt chân lên được đất sống."
"Với tấm lòng có trước có sau, người tị nạn chỉ ghi lại những lời tri ân hay lời tưởng niệm, là những thứ người ta nghĩ là có thể tồn tại với thời gian vì ý nghĩa nhân bản phi chính trị nhất thời của nó. Chẳng hạn lời dịch sau đây từ tấm bia viết bằng tiếng Anh, dựng trên đảo Bidong thuộc tỉnh Terengganu thuộc nước Mã Lai Á vào tháng Ba 2005:

"Tưởng nhớ hàng trăm ngàn người Việt đã thiệt mạng trên đường tìm tự do (1975-1996). Dù họ đã chết vì đói, khát, bị hãm hiếp, bị kiệt sức hoặc vì một nguyên nhân nào khác, chúng ta cầu xin rằng họ bây giờ được hưởng yên bình vĩnh cửu. Sự hy sinh của họ không bao giờ bị quên lãng. Các cộng đồng người Việt hải ngoại, 2005."


Và những dòng chữ mặt bia bên kia:


"Để nhớ ơn những nỗ lực của Phủ Cao Ủy tị nan Liên Hiệp Quốc, Hồng Thập Tự Quốc Tế và Hội Lưỡi Liềm Đỏ Malaysia và các tổ chức cứu trợ quốc tế khác, chính phủ và nhân dân Malaysia cùng các quốc gia đã cung cấp nơi tạm trú đầu tiên cũng như nơi tái định cư. Chúng tôi cũng xin bày tỏ tri ân đến hàng nghìn cá nhân khác từng làm việc hết mình để giúp đỡ người tị nạn Việt Mam. Các Cộng Đồng người Việt Hải Ngoại"


Cùng thời điểm này,
BBC (nghe được vào hôm 17 tháng 6 năm 2005) loan tin:
"Tấm bia trong trại tị nạn cũ ở Pulau Galang, Indonesia, có ghi những dòng chữ tưởng nhớ những người bỏ mạng trên đường vượt biển và ghi ân những ai giúp đỡ thuyền nhân, đã bị đục bỏ…Chính phủ Malaysia cũng đã ra lệnh dẹp bỏ tượng đài trên đảo Bidong tưởng niệm các thuyền nhân đã bỏ mình trên đường vượt biển trong thập niên 70, 80. Chính phủ Malaysia đã có quyết định này sau khi nhận được than phiền từ chính phủ Việt Nam."



Ủa, chớ chính phủ Việt Nam than phiền về chuyện gì vậy cà?

Bản tin thượng dẫn không ghi lại chi tiết này. Tuy thế, dù không phải là thầy bói, người ta cũng có thể đoán biết được rằng lời than phiền của họ (hoàn toàn) không dễ nghe, và (chắc chắn) cũng không được "quân tử" gì cho lắm!


Câu chuyện thời sự hôm nay, nếu ngừng ngang đây, tưởng đã đủ ớn chè đậu, và
có thể khiến cho lắm kẻ tiểu nhân (cũng) còn phải cau mày. Sự việc, tiếc thay, đã đi xa hơn như thế.

Nhật báo Jakarta Post, số ra ngày 01 tháng 8 năm 2009, vừa có bài viết (
"Vietnamese Refugee Camp Still Open’) đề cập đến yêu sách đóng cửa trại tỵ nạn (Galang) của nhà đương cuộc Hà Nội. Quí vị quân tử ta (rõ ràng) đã đi … xa quá. Sự quá quắt của họ khiến cho thiên hạ phải bất bình, hay phẫn nộ.
Bài báo thượng dẫn trích lời bà Nada Faza Soraya – Chánh sự vụ Phòng Thương mại của Nam Dương – nói rằng khu trại rất quan trọng đối với hướng dẫn viên du lịch, và họ không hề có ý muốn khai thác quá khứ đen tối của chính phủ Việt Nam. ("There was no intention of exploiting the gloomy past of Vietnamese gorvernment").

Từ Galang, phóng viên Hồng Nga của
BBC có bài tường thuật (nghe được vào ngày 5 tháng 8 năm 2009) về sự việc này. Xin được trích dẫn vài điểm chính:
"Hai thập niên hiện diện của người Việt tại đây khiến thông tin trại có thể sẽ đóng cửa vĩnh viễn, ngừng đón người tới thăm khiến người dân địa phương ngỡ ngàng."
"Lý do chính là từ khi ngừng hoạt động, trại tỵ nạn Galang cũ đã trở thành một địa chỉ du lịch khá phổ biến, mang lại thu nhập cho người bản địa."
"Dư luận địa phương bày tỏ bất bình, trong khi có cáo buộc chính phủ Việt Nam đã gây áp lực với Jakarta để làm công việc này."


Ông Trần Đông, đại diện tổ chức
Văn khố Thuyền nhân Việt Nam cũng đã lên tiếng chỉ trích yêu sách của quân tử ta là "âm thầm xóa bỏ dấu vết tội ác, hủy hoại di tích lịch sử và nhân đạo thế giới."

Ký giả
Bùi Bảo Trúc thì lớn tiếng thoá mạ: "Càng ngày những việc chúng mày làm, và những việc chúng mày không dám làm, đều cho thấy chúng mày là một bọn chó đẻ không hơn không kém."

Ý chèng ơi, sao mà nặng lời (với nhau) dữ vậy? Ở vào cái thế lưỡng quốc quân tử, tôi không tiện bênh ai, cũng không thể bỏ ai. Bởi há miệng (sợ) mắc quai nên tôi chỉ trộm nghĩ rằng: quân tử ta – xét cho cùng – đỡ (chó) hơn quân tử Tầu, chút xíu.


Trong vụ Tân Cương, theo lời ông
Nguyễn Quang Duy – đọc được trên talawas, vào ngày 24 tháng 8 năm 2009 – đám con bà Rebiya Kadeer (còn kẹt lại ở Trung Quốc) đã bị buộc phải lên đài truyền hình, của lể bên phải, để nhận tội … thay cho mẹ!

Cách hành xử của quân tử ta, xem ra, đỡ tiểu nhân hơn chớ. Ở ta, ai bị bắt thì chính kẻ đó sẽ bị đưa lên TV nhận tội. Không có, hay chưa có, cái vụ con cái (phải) nhận tội thay cho cha hay mẹ – như ở bên Tầu.


Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt: nếu phải từ bỏ song tịch, và buộc phải lựa chọn giữa quân tử ta và quân tử Tầu thì tôi sẽ xin về … tắm (ở) ao ta – cho nó chắc ăn. Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn. Nó hơn ở chỗ là khi tức, chửi thề bú xua còn có thằng nghe. Chớ (đ… mẹ) văng tục um xùm mà đám quân tử lạ cứ nghệch mặt ra – không hiểu gì ráo trọi – thì đứa bị tức là mình, chớ đâu phải tụi nó – đúng không? Mà bộ hết đứa chơi rồi sao mà đi chơi với Tầu, mấy cha!


Tưởng Năng Tiến

THÔNG ĐIỆP TAM TÒA

THÔNG ĐIỆP TAM TÒA

( Gởi về Quê Hương và Đồng Bào Việt Nam, mọi giai cấp và mọi tuổi. Riêng là lời hiệp thông và chia sẻ nỗi đau thương cũng như thán phục tinh thần hào hùng, quả cảm và vô cùng oanh liệt của Giáo Phận Vinh và Giáo xứ Tam Tòa)

Mỗi ngọn nến hiệp thông là núi lửa
Lửa kiên cường, vì chính nghĩa, thăng hoa
Hỡi núi lửa thiêng, cao lên ... cao nữa ...
Hồn giáo dân, thông điệp của Tam Tòa

Thông điệp ấy gởi cho người thế giới
Rằng nước Việt Nam không có nhân quyền
Lãnh đạo gian hùng, lưu manh, trục lợi
Giết dân lành và bán đất Tổ Tiên

Thông điệp ấy gởi văn minh nhân loại
Tôn giáo Việt Nam bị đảng diệt trừ
Cướp đất Tam Tòa, mướn người phá hoại
Đập nát bàn thờ, đánh cả người tu !

Thông điệp ấy gởi toàn dân nước Việt
Rằng đảng muôn đời tham ác, dã man
Không thể nữa, đã đủ rồi, oan nghiệt
Hãy đứng lên nào ...giải cứu Việt Nam !

Thông điệp ấy gởi những người tuổi trẻ
Hỡi các em! Rường cột của sơn hà!
Sử Lạc Hồng, đâu, Trưng Vương, Nguyễn Huệ ...
Chẳng lẽ làm ngơ thống hận nước nhà ?

Hỡi đảng viên, hỡi công an, quân đội
Có thấy rằng đảng phản các anh không ?
Đảng khích động tình quê hương nguồn cội
Rồi cướp tinh vi xương trắng máu hồng !

Nếu yêu nước sao đảng đem bán nước
Máu thịt Tiền Nhân dâng lũ cộng Tàu ?
Nếu thương dân sao hung tàn bạo ngược
Xô con người vào kiếp sống ngựa trâu !

Đã đến lúc, hỡi Việt Nam, vùng dậy !
Liên kết cùng nhau đập vỡ bạo quyền
Phá nát nhà tù, gông xiềng bẻ gẫy
Đừng mãi yếu hèn nhắm mắt cầu yên ...

Đừng mãi yếu hèn gối qùy đầu cu"i
Hãy đứng lên ngạo nghễ với Tam Tòa
Đem tài đức mà chuyển sông dời núi
Để giang sơn mình vạn thuở gấm hoa ...

Chỉ khi nào quê không còn cộng sản
Thì non sông tổ quốc mới huy hoàng
Thông điệp Tam Tòa gọi lòng dũng cảm
Đứng dậy hỡi người bất khuất Việt Nam !!!

Hãy đứng dậy đáp lời thiêng sông núi
Dựng mặt trời cho sáng lại quê hương
Cùng với Tam Toà làm cơn bão nổi
Để sống hiên ngang, hiển hách, can trường !

Ngô Minh Hằng

(Audio)Tấm thẻ bài


Thanh Vân

Mười hai năm rồi em không gặp anh và sẽ không bao giờ gặp được anh nữa vì anh đã bỏ mình trong trại cải tạo đã sáu năm qua.

Sáng nay nhận được thơ bạn anh từ Quê Hương gởi sang, nói đã làm xong nhiệm vụ em nhờ, đã đưa được hài cốt của anh từ Vĩnh Phú về Huế, nơi anh đã sinh ra, đã lớn lên, nơi chúng mình đã gặp nhau và thề nguyền sẽ yêu nhau mãi mãi, em buồn vui lẫn lộn.

Anh ơi, em vui vì biết anh đã về lại được Quê Hương nhưng em xót xa khi đọc đến đoạn bạn anh viết về những gian nan phải vượt qua khi đi tìm mộ anh, vì tất cả chỉ là núi rừng hoang dại, mổi người tù chết đi chỉ được vùi sơ với miếng đá nhỏ ghi tên họ và ngày lìa đời cắm trên nấm mộ thấp. Đau đớn nhất cho em là khi đọc đến đoạn bạn anh kể xác thân đã rã mục của anh vẫn còn được bao trong chiếc áo len em tặng anh ngày xưa, chiếc mền dù bao phủ thân anh vẩn còn nguyên nhưng nơi xương cổ anh có mang thêm sợi xích nhỏ với tầm thẻ bài bằng nhôm ghi rõ tên họ và lý do bị quản thúc là “phản quốc”!

Anh ơi, đã chết rồi mà thân thể còn mang nặng nhục nhằn. Có chế độ nào dã man hơn chế độ Việt Nam ngày nay ?

Vậy mà ngày xưa anh đã hãnh diện biết bao về Quê Hương,Tổ Quốc của mình. Thật ra thì Quê hương vẫn còn đó, hai tiếng Việt Nam vẩn sống trong tim cả triệu người Việt xa xứ, nhưng với người ở lại, người đang trả nợ máu, người đã chết vùi thây trong núi rừng thì hai tiếng Việt Nam đè nặng tâm hồn.

Hôm nay đọc thơ bạn anh, nhớ lại đoạn đường đã qua của mình, sao lòng em thật nhiều đau xót. Năm nay mùa Xuân đến chậm vì mùa Đông không muốn đi, đã tháng ba tháng tư mà khí hậu vẩn còn lạnh, nhưng cái lạnh ngoài trời có thấm chi với cái lạnh, cái buồn của người Việt ly hương, mổi năm khi tháng tư về ?

Sáng nay em nhớ anh,em nhớ anh thật nhiều. Tháng tư làm em mất anh, giờ tháng tư lại trở về, trên tay em cầm tấm thẻ bài có ghi tên họ và lý do hai đứa mình xa nhau. Đau đớn quá anh nhỉ, hai tiếng “Phản Quốc” như muôn ngàn lưởi dao đâm vào tim em.

Em nhớ ngày nào, mổi lần đi hành quân về, anh đến thăm em, mắt môi rạng rỡ. Mổi lần được huy chương là một ngày vui của hai đứa mình. Anh đến khoe với em và hai đứa lại ra Đập Đá nhìn trăng, nghe tiếng sáo diều lơ lửng trên không, anh mỉm cười hãnh diện vì sự thanh bình của Quê Hương, cái thanh bình mà anh đã đem mạng sống ra để bảo vệ. Các huy chương đó ngày nay lại là bản án tử hình của các anh.

Tháng tư là mùa Xuân phải không anh ? Mùa Xuân ở đây cũng như mùa Xuân của Huế xưa. Nhà nào cũng có một vài khóm hồng đang e ấp nở, nhà em lại có thêm cây anh đào đang rực đỏ với nằng Xuân. Quê Hương người đẹp quá, nhưng sao lòng em vẩn thấy mất mát ngậm ngùi.

Em đang ngồi yên với tấm thẻ bài nhục nhã đau thương đã ôm ấp thân xác anh trong sáu năm qua dưới lòng huyệt lạnh, và em đang thả hồn về ngày hai đứa mình còn nhau. Tiếng đàn réo rắt ma quái, quyến rủ dị thường của người nhạc sĩ vô danh trong “Ru khúc mộng thường” đưa em về lại những ngày xưa cũ, những êm đềm của một mùa trăng xưa.

Ở đây không có tiếng sáo diều lơ lững trên không, cũng không có những nữ sinh áo trắng mổi sáng từ Vĩ Dạ đi ngang qua Đập Đá để đến trường nhưng tiếng đàn của người nghệ sĩ tài hoa kia đã đưa em về lại Quê Hương, có trăng sáng, có trời xanh, có mộng ước bình thường. Không hiểu sao sáng nay tiếng đàn ma quái đó ám ảnh em, phải chi tất cả mọi người trên trái đất này đều yêu thơ, yêu nhạc thì ngày nay mình đâu có mất nhau, anh chết sáu năm đâu phải mang thêm tấm thẻ bài nhục nhã.

Với tiếng Tây ban cầm độc tấu cô đơn nhưng đầy ắp tâm sự, em chắc người nhạc sĩ có cái tên cũng lạ như tiếng đàn phải có một nội tâm thật đẹp, một tâm sự thật buồn. Tên ông ta là “Vô Thường”. Phải rồi anh nhỉ, tất cả chỉ là hư vô, tất cả chỉ là bình thường, chỉ có tình người, tình Quê Hương là vĩnh cửu.

Nếu tiếng đàn của người Tây ban Nha mang âm điệu hoang dại của một dân tộc nồng nàn ham sống, thì tiếng tây ban cầm của Vô Thường mang âm giai của một người lạc lõng, một kẻ du mục, một kẻ đang đi tìm miền đất hứa. Tiếng đàn khi thổn thức, khi vỗ về, khi chia xẻ thương đau, tiếng đàn mang dư âm của tiếc thương nhung nhớ, của tình yêu đã có và đã bay xa, của Quê Hương hiện hữu nhưng quá tầm tay với, của những mộng ước bình thường nhưng đã vời vợi xa bay.

Anh ơi, tiếng đàn ray rứt của người nhạc sĩ vô danh kia đã cho em ý thức được sự mất mát lớn lao của đời em, tấm thẻ bài nhục nhã trong tay em đã nói lên sự uất hận ngàn đời của người dân Việt phải xa lìa tổ quốc thân yêu.

Quê Hương vẫn còn đó nhưng đã nhuộm màu, thành phố Huế của chúng mình còn đó nhưng đã đổ nát quạnh hiu. Nếu biết không có ngày trở lại, thì ngày xưa em đã rủ anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đã yêu thương tâm sự với anh nhiều hơn. Quê Hương người tuy đẹp tuy giàu nhưng vẩn thiếu cái đậm đà giữa những người cùng huyết thống, thiếu khói lam chiều trên mái tranh xa, thiếu tiếng sáo diều lơ lửng đêm trăng, thiếu tiếng hò mái đẩy, thiếu tiếng rao hàng trên sông vắng mổi đêm khi khuya về sáng. Giờ chỉ còn lại đây tấm thẻ bài nhục nhằn của anh, của những người ngày xưa đã lấy “Tổ Quốc” làm lẽ sống và giờ đã chết vùi thây khắp các núi rừng gần trại tập trung với hai chữ “Phản Quốc” đè nặng linh hồn.

Quê Hương! Quê Hương! Em đang nhớ nhung hay đang thù hận đây ? Xưa em hãnh diện về Quê Hương gấm vóc bao nhiêu thì giờ nhìn tấm thẻ bài khốn khổ với hai chữ “Phản Quốc” em lại thù ghét Quê Hương bấy nhiêu.

Hãy trả lại cho em Quê Hương ngày cũ, ngày nào còn lũ giặc đỏ, còn hai chữ “Phản Quốc” trên cổ các người ngã ngựa thì ngày đó em còn xa lìa Quê Hương.

Lạy trời cho con giấc mộng bình thường, cho còn tìm lại được quê xưa, ngày còn lá me bay, còn sân cỏ mướt chứ không phải như bây giờ, sân cỏ làm nông trường, sức người thay máy móc, nhiên liệu, trâu bò.

Em sẽ thay anh mang tấm thẻ bài vào cổ, em sẽ mang nó với niềm hãnh diện vô biên của một người đã có người yêu suốt đời hy sinh cho lý tưởng, em cũng mang nó để nhắc nhở những người xa xứ hãy hướng về Quê Hương ngục tù khốn khổ mà làm một cái gì để thắp sáng ngày về.

Thật ra thì đã mười hai năm qua, lòng người đã có phần nào thay đổi. Tháng Tư vẫn mang đến ngậm ngùi, thương tiếc nhưng rồi cuộc sống chạy theo đồng hồ, những nhu cầu cấp bách hàng ngày đã làm tâm hồn nhụt dần chí khí. Phải chi những tấm thẻ bài có ghi hai chữ “Phản Quốc” của các anh hùng đã hy sinh cho đất nước được gởi qua cho mổi người xa xứ thì ngày về của kẻ ly hương chắc sẽ gần hơn.

Trong tận cùng linh hồn, em chắc người dân nào khi xa quê cũng hoài vọng một ngày về, và dù có mất gốc đến đâu thì cũng có một giờ phút trong đời mơ ước về lại quê xưa, thăm lại ngôi nhà cũ.

Anh ơi, giờ em mới hiểu nỗi xúc động tận cùng của bà giáo sư người Pháp dạy em năm em học lớp sáu. Bà đã khóc khi hát cho chúng em nghe một bài nói về thành phố nơi bà đã sinh ra, bài hát lời lẽ thật đơn sơ mộc mạc nhưng sao người nghe thấy ngậm ngùi thổn thức. Bài hát chỉ có thế này:

Quand tout renaît à l’espérance
Et que l’hiver fut loin de nous
Quand la nature est reverdie
Quand l’hirondelle est de retour
J’aime à revoir ma Normandie
C’est le pays qui m’a donné le jour

Em tạm dịch là :

Khi nào hy vọng trở về
Và khi mùa Đông đã đi xa
Khi thiên nhiên trở lại xanh thẳm
Khi chim én trở về cùng ta
Tôi mơ ước nhìn lại Normandie
Là nơi tôi đã chào đời.

Anh ơi, tình hoài hương bàng bạc trong lòng mọi dân tộc. Em cũng đã khóc khi hát lại bài này. Em không mơ ước nhìn lại Normandie của bà giáo sư người Pháp nhưng em mơ ước nhìn lại xứ Huế nghèo nàn, thơ mộng của em ngày xưa. Em mơ ước nhìn lại một Việt Nam tự do đầy tình người, một Việt Nam mà em sẽ hãnh diện mang tấm thẻ bài có ghi hai chử “Phản Quốc” của anh để trở về đi trong lá me bay, trong giòng người cùng huyết thống, cùng lý tưởng, vì anh ơi, dù muôn vàn thay đổi, em muôn đởi vẫn là con bé Việt Nam thích lang thang khắp phố phường cho tóc bay, cho hồn mơ mộng và cho lá rơi đầy trên vai trên áo. Còn ở đây, cuộc sống sao quá vội vàng, bon chen, lừa lọc. Người ta yêu nhau cũng vội, ghét nhau còn vội vàng hơn.

Mùa Xuân quê người, nhưng cũng là mùa Đông của người xa xứ đang mất mát như em. Tiếng đàn tức tưởi cô đơn của người nhạc sĩ vô danh cũng là tiếng khóc nghẹn ngào của người đã mất hết niềm tin, chỉ còn lại Tấm Thẻ bài ghi lại một thời Hạnh Phúc Xưa và đánh dấu một sự nhục nhằn khốn khổ của người ở lại ngày nay.

Cầm tấm thẻ bài bằng nhôm bóng loáng trên tay, em liên tưởng đến trăm ngàn cái khác đang bị vùi sâu dưới lòng đất mẹ cùng những người con yêu của Tổ Quốc. Em chợt nhớ đến hai câu hát mở đầu trong bài Rêveries của Shumann:

“Ce soir dans le jardin du ciel
Les étoiles ont fleuri comme un bouquet d’argent”…

Em hình dung ra một ngày gần đây, trăm ngàn tấm thẻ bài bằng nhôm đó sẽ trở thành những bó hoa bằng bạc nở trên bầu trời để soi sáng và chỉ đường cho những người con xa xứ trở về giải phóng Quê Hương.

Thanh Vân




Sáng tác: Huyền Anh
Trình bày: Thanh Thúy


Bài Xem Nhiều