We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 12 September 2009

NHỮNG BẠO CHÚA BỊ ÐÀN EM GIẾT VÀO LÚC CUỐI ÐỜI

Bạo chúa là những kẻ lúc cầm quyền đã giết quá nhiều người. Có bạo chúa ngày xưa chết già nhưng vì chết trên đường đi nên khi đem về triều đình để an táng thì thân thể cũng đã sình thối trước khi đem chôn. Ðó là trường hợp của bạo chúa Tần thủy Hoàng. Riêng hai bạo chúa tân thời Pol Pot của xứ Kampuchia và bạo chúa Hồ chí Minh của Việt nam đều do đàn em giết chết. Do những nhân chứng tiết lộ và do sự suy luận của những chuyên viên am tường về chính trị, dần dà cái chết của hai bạo chúa Pol Pot và Hồ chí Minh được mang ra ánh sáng. Cả hai đều chết một cách đau đớn thảm khốc như hàng triệu nạn nhân do hai ông gây nên. Âu đó là định luật nhận quả. Giết người để rồi bị người giết. Nhìn lại cái chết của hai bạo chúa này để thấy cái nghiệp báo đeo đẳng vào kiếp người. Ðừng nghĩ là khi đừng ở vai trò lãnh đạo muốn giết ai thì giết, để rồi đến phiên mình bị đàn em thanh toán bằng những phương cách tàn bạo dã man nhất để kết liễu mạng sống lúc cuối đời.

Cách đây chừng một tuần, một bài báo của các bác sĩ Việt nam trong nước gây chấn động khắp nơi trong và ngoài nước. Bài báo nhan đề “ Một nghiên cứu khoa học về Hồ chí Minh “ ( Có thể vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào hàng chữ : nsvietnamonline để đọc bài báo này). Các bác sĩ ở Hà Nội đã đựa vào những kiến thức chuyên môn y khoa để khẳng định Hồ chí Minh chết vì bị đầu độc chứ không chết vì bệnh hoạn hay già nua như nhà nước Cộng sảnđã công bố trong mấy mươi năm qua. Thường thường khi muốn giết một người và tránh sự nghi ngờ, Cộng sản thường loan tin người đó bị bệnh “ nhồi máu cơ tim” hay “ tai biến mạch máu não “!

Trường hợp của Hồ chí Minh thì khi Bộ chính trị, nói cụ thể là Lê Duẩn, muốn giết Hồ chí Minh bằng con đường đầu độc thông qua các bác sĩ trị liệu và gán cho Hồ chí Minh chết vì bệnh “ nhồi máu cơ tim”. Kịch bản giết Hồ chí Minh dù khéo léo đến đâu rồi cũng có ngày phơi bày ra ánh sáng vì những sự vô lý, sơ hở,hớ hênh trong diễn tiến sự việc mà Bộ chính trị vô tình để lộ qua sự trình bày của báo chí và phim ảnh.

Hãy nghe các bác sĩ ở Hà Nội ( ttbsvn@...) trình bày diễn tiến đầu độc Hồ chí Minh bằng chất độc như sau trong bài viết:

Người ta đã dùng thuốc gì để giết Bác?

Việc này đối với những kẻ có kiến thức và có dã tâm thì rất dễ dàng: Bác sĩ tim mạch biết rất rõ tất cả các loại thuốc điều trị rối loạn nhịp tim, thì đều có thể làm loạn nhịp tim. ( Nói dể hiểu là nếu tim loạn nhịp mà dùng đúng liều thì sẽ hết loạn nhịp, còn dùng không đúng liều thì sẽ loạn nhịp nặng hơn. Nếu tim bình thường mà dùng những thuốc này thì sẽ sinh ra...loạn nhịp, dùng liều cao thì sẽ tử vong). Vì vậy những kẻ này có thể làm cho nạn nhân thấy mệt bất cứ lúc nào chúng muốn và khi giờ G đã đến thì tăng liều thế là xong. ( Ðối với thuốc tim mạch thì chỉ cần dùng liều gấp đôi là cũng có thể tử vong rồi, vì liều dùng trong tim mạch đòi hỏi thật chính xác).

…..Những ngày trước đó người ta dùng kháng sinh Ta-tô-pen cho Bác (Bác bị viêm phế quản). Bệnh của Bác đang đỡ dần sao tự nhiên lại đòi kháng sinh? Mà lại là loại kháng sinh có “ tiền án hình sự “ gây sốc.

Vấn đề là người ta muốn đổ tội cho cái thứ kháng sinh này thôi, và cũng lưu ý là không phải lúc nào nó cũng gây sốc. Thực chất ống Pê-lê-xi-lin đã được thay ruột bằng thuốc chống loạn nhịp tim như đã nói trên.

Ngay như cuốn sổ tay của Võ nguyên Giáp cũng bắt đầu từ ngày 24/8/1969, là ngày khởi sự của tội ác.

Trong cuốn sổ tay, Ðại tướng Võ nguyên Giáp có ghi rõ từng ngày: 24-8 trở đi, Bác mệt nặng. 26-8: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo, “ Chú về nghỉ ..” Hàng ngày Bác vẫn hỏi, “Hôm này miền Nam đánh thắng đâu?”

http://www.tapchicongnghiep.vn/sodau..7/9/17077.ttvn

Ðây cũng là một sự chuẩn bị của Bộ chính trị, bao nhiêu ngày không viết nhật ký vào thăm Bác, nay lại bày đặt ghi nhật ký, vì muốn nhấn mạnh ý Bác chết là do bệnh nặng mà thôi, và cũng là cách phòng tránh sự nghi ngờ của mọi người, (Nhật ký này cũng được làm 9 ngày trước khi Bác chết.)

Tội nghiệp cho ông Vũ Kỳ và các nhân chứng. Các bác sĩ bảo sao thì nghe vậy:

“ Trong quá trình chữa bệnh, có một điều đặc biệt là cơn đau tim đến dồn dập liên tiếp nhưng Bác không rên. Bác nằm yên và nhắm mắt…”

Bác nằm yên thì làm sao ông Vũ Kỳ biết là cơn đau đến dồn dập ???Ở đây chúng tôi thấy ông Vũ Kỳ cũng hiểu ra chuyện. Hình như ông muốn nói điều gì đó nhưng không thể ! Ông đã để lại một chìa khóa quan trọng để lật mặt đảng CSVN

Một nguyên tắc nữa trong điều trị nhồi máu cơ tim là bệnh nhân phải nằm nghỉ tuyệt đối , nhất là khi bệnh nặng, thậm chí việc đi cầu, đi tiểu cũng phải làm tại giường mà phải dùng loại bô nằm, hoặc là lót giấy cho bệnh nhân, bệnh nhân không được ngồi dậy, và bệnh nhân nặng thì tuyệt đối không được ăn, các bác sĩ sẽ nuôi ăn qua đường tĩnh mạch, đơn giản nhất là truyền glucose ( đường). Ðúng là người ta muốn giết Bác rồi.

Cần phải nói rõ ở đây kẻ chủ mưu giết Hồ chí Minh chính là Lê Duẩn. Có thể có sự toa rập của Lê đức Thọ , vốn cũng có ác cảm với Hồ. Còn Trường Chinh, Phạm văn Ðồng và Võ nguyên Giáp hoàn toàn không có liên can gì đến chuyện đầu độc giết Hồ.

Câu hỏi đặt ra ở đây là Hồ có biết được âm mưu đầu độc Hồ hay không? Câu trả lời là có. Xin chứng minh cụ thể như sau

Ngay từ năm 2003, tôi có viết hai bài “ Bí ẩn chung quanh chuyện Hồ chí Minh bị thất sũng lúc cuối đời “ và “ Một cách lý giải về chuyện Hồ chí Minh bị mất quyền lực trong những năm cuối đời “ ( Ðộc giả có thể vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Ðại Hưng để đọc hai bài này). Trong hai bài này tôi có nêu rõ chuyện Lê đức Thọ ăn hiếp tàn tệ Hồ chí minh trong một buổi họp và có đưa ra di chúc thống thiết Hồ chí Minh viết ngày 14 tháng 8 năm 1969. Tôi có kể thêm chuyện Lê Duẩn, Lê đức Thọ âm mưu giết Hồ bằng tai nạn máy bay khi Hồ cùng người hầu cận Vũ Kỳ trở về Hà Nội từ Trung Quốc năm 1968 dựa trên một bài báo của Sơn Tùng thuật lại cuộc nói chuyện của người hầu cận của Hồ chí Minh là Vũ Kỳ. Vũ Kỳ kể lại câu chuyện một cách khôn khéo để người đọc rút ra kết luận là Duẩn, Thọ âm mưu tạo dựng tai nạn máy bay để giết Hồ. Nhà văn Sơn Tùng ( một người có 10 đầu sách viết về Hồ chí Minh)cũng có nói đến âm mưu đó, nhưng không dám nói huỵch toẹt ra mà dành sự kết luận cho người nghe, người đọc. Cho dù khi Vũ Kỳ kể chuyện khi Lê Duẩn và Lê đức Thọ đã qua đời nhưng chế độ Cộng sản vẫn còn đó. Không thể nói toạc móng heo trắng trợn âm mưu giết Hồ chí Minh của Duẩn, Thọ trên báo chí Cộng sản trong nước được mà phải dùng cách kể chuyện cực kỳ khôn khéo, đưa ra những sự kiện và dành sự suy luận cho người đọc. Chiếc máy bay chở Chủû tịch nước Hồ chí Minh không liên lạc được bằng vô tuyến với sân bay bên dưới là một chuyện vô lý cùng cực. Nên nhớ là trời lúc đó không hề có giông bão nên không có lý do gì để cho vô tuyến bị trục trặc cả ! Chỉ có một cách giải thích duy nhất là bên dưới tắt máy không muốn liên lạc để phi cơ gây ra tai nạn ( lệnh tắt máy liên lạc chắc chắn đến từ Lê Duẩn ).

Không giết được Hồ bằng tai nạn phi cơ năm 1968 thì đám Duẩn, Thọ quyết định dùng thuốc độc để giết Hồ năm 1969 và ngụy tạo như là một thứ bệnh hoạn gây tử thương cho Hồ bằng một kịch bản giết người khéo léo để che mắt thế gian,, Mặc dù Duẩn, Thọ đã tước hết quyền lực của Hồ chí Minh từ lâu nhưng uy tín của Hồ trước mặt nhân dân còn quá lớn nên phải bức tử Hồ cho tiện sổ sách.

Sử gia Pháp Pierre Brocheux đã nói chuyện Hồ mất quyền lực như sau trong bài phỏng vấn với BBC vào tháng 10 năm 2003, “ Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời ông Hồ bị cách ly khỏi quyền lực, tức là không hề có quyền gì. Ông ấy bị biến thành một biểu tượng. Vì thế cuốn sách của tôi còn có một tựa đề nữa là “ Hồ chí minh, một nhà cách mạng biến thành một biểu tượng “. Ý tôi muốn nói ông bị người ta biến thành một biểu tượng không có quyền, một biểu tượng yếu về quyền lực ,”

Nhưng dù có khéo cách mấy cũng lòi ra những hớ hênh, sơ hở để ngày hôm nay một số bác sĩ õ ở Hà Nội viết bài phân tích và lý luận tỉ mỉ về chuyện Hồ chí Minh đã bị đầu độc chết như thế nào căn cứ vào những nghịch lý, sơ sót nằm trong những bài viết và phim ảnh về Hồ chí Minh trong những ngày cuối đời.

Ngay trong chúc thư ngày 14 tháng 8 năm 1969, Hồ chí Minh đã tiết lộ chuyện đầu độc ông đã xảy ra, “ Tôi đã già rồi, râu tóc đã bạc mà còn phải sang trong canûh tù giam lỏng, cứ nghĩ đến điều này làm tôi ứa nước mắt. Họ đã không giết tôi nhưng sai ông Bác sĩ Tôn thất Tùng cho tôi uống thuốc độc để tôi không thể đi đâu được nữa, mà ũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết dần, chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.”

Nếu Hồ chí Minh bị đầu độc chết thì tại sao Lê Duẩn lại để ông chết vào ngày 2 tháng 9 , để rồi phải nói dối với toàn dân là ông chết ngày 3 tháng 9. Vì ngày 2 tháng 9 là ngày quốc khánh, chủ tịch nước chết coi như là quốc tang. Ngày quốc tang lại trùng vào ngày quốc khánh đõã làm cho Hà Nội khó chịu nên phải công bố ông chết trễ một ngày. Trong cuốn hồi ký của Giáo sư Nguyễn đăng Mạnh đã có một cách giải thích lý thú về chuyện tại sao Hồ chí Minh lại chết vào ngày 2 tháng 9 như sau :

“ Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ chí Minh . Ngày sinh cũng do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất ? Ðúng cái ngày ông đọc Tuyên ngôn độc lập ( 2/9)

Theo Hoàng ngọc Hiến , ông Hồ chủ động chết váo cái ngày lịch sử ấy. Ông ấy đáo để lắm đấy ! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của mình (Hồ sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước, ngày mà ông đọc Tuyên ngôn độc lập.

_ Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh mình- Tôi cãi lại Hiến

_ Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những dây dợ của cái ống thở oxy là chết luôn chứ sao!Hiến khẳng định thế. Một phán đoán không phải là không có lý !

Hà Nội ngày 6/7/2006)0

( Trích Hồi ký Nguyễn đăng Mạnh trang 131)

Nguyễn đăng Mạnh suy luận cho rằng ông Hồ chủ động chết vào ngày 2 tháng 9 năm 1969 vì tính khí ông Hồ đáo để. Nói như vậy là còn hụt hẫng và chưa đủ sức thuyết phục công luận. Dĩ nhiên cũng có thể ông Hồ chết vào ngày Quốc khánh là do ngẫu nhiên chứ không do ông chủ động.

Phải nhớ một điều là Lê Duẩn điều động một tập hợp một số bác sĩ và y tá đầu độc Hồ nhưng nên nhớ là bao cặp mắt đều soi mói vào con người Hồ đang nằm trên giường. Thuốc độc phải để ngấm từ từ , không thể chích một mũi thuốc độc cho Hồ chết ngay như người ta dùng ống chích thuốc độc để chấm dứt sinh mạng tử tội trong vòng vài phút như vẫn làm ở nước Mỹ. Ðám Lê Duẩn vừa tìm cách giết Hồ vừa tìm cách đóng kịch với nhân dân Việt Nam và thế giới là đang tìm đủ mọi cách để chữa cho Hồ khỏi bệnh. Và Lê Duẩn đã lừa được mọi người trong và ngoài nước trong 40 năm nay là làm cho người ta tin Hồ chết vì bệnh hoạn tuổi già.

Có thể tạm suy luận như thế này. Ông Hàồ đã nhìn và hiểu rõ âm mưu đầu độc ông chết một hai tuần trước khi ông bị bức tử. Ông chủ động chết vào ngày 2 tháng 9 là một cú chơi khăm cuối đời nhắm vào bọn người giết ông. Cú chơi khăm độc đáo này đã có kết quả là chính quyền Cộng sản phải công bố sai ngày chết của ông là ngày 3 tháng 9 thay vì 2 tháng 9. Sau này đứng trước sự thật lên tiếng của quá nhiều nhân chứng, chính quyền Cộng sàn Việt nam đành phải nhìn nhận là Hồ chí Minh chết ngày 2 tháng 9. Hồ chí Minh đã thắng trong cuộc đấu trí cuối đời với bọn đàn em đầu độc giết ông vì chúng phải lấn cấn trong chuyện tổ chức quốc tang cho ông là chủ tịch nước vào ngày quốc khánh của quốc gia !!!

Cái chết của ông Hồ là một cái chết đau đớn như cái chết của trăm ngàn nạn nhân trong vụ cải cách ruộng đất do ông chủ xướng. Ông gây nhân tàn bạo để rồi gặt lấy quả bạo tàn. Ông bị chính những đồng chí đàn em của ông là Lê Duẩn và Lê đức Thọ giết bằng cách đầu độc.

Sau khi liên minh Lê Duẩn và Lê đức Thọ dứt điểm đối tượng gai mắt Hồ chí Minh rồi thì sau này Lê đức Thọ gây gỗ và ra tay giết Trường Chinh vì tranh giành ngôi vị Tổng bí thư sau khi Lê Duẩn qua đời.

Nhà văn Vũ thư Hiên đã suy luận về cái chết của Trường Chinh như sau :

“ Giận dữ và hồ thẹn thấy mưu đồ chiếm ngôi vị cao nhất không thành, theo cách không ăn thì đạp đổ, Lê đức Thọ nằng nặc đòi quyền Tống bí thư Trường Chinh phải từ bỏ ý định tranh cứ, viện cớ cả hai đã cao tuổi, không nên tham gia triều chính nữa. Nếu Trường Chinh ứng cử , thất bại của Thọ sẽ không chỉ đáng buồn mà là bi kịch, Nó sẽ là mối nhục không bao giờ gột sạch của con người uy phong lẫm liệt một thời. Tuân lệnh Lê đức Thọ, Phạm văn Ðồng năm lần bảy lượt đến tận nhà Trường Chinh , có hôm từ tinh mơ, thuyết phục ông thôi không tranh cử nữa. “ Nếu anh cứ tranh cử thì sẽ nổ ra xung đột nội bộ. Ðûảng ta tan nát mất “ , nước mắt nước mũi giàn giụa Phạm văn Ðồng vật nài. Cuối cùng Trường Chinh đồng ý, Ông hiểu câu nói của Phạm văn Ðồng là lời nhắn gửi nghiêm túc của Lê đức Thọ. Không phải vì lo Ðảng tan nát mà Trường Chinh đồng ý, ông lo nếu không nghe lời Thọ thì chính ông sẽ tan nát. Con người như Lê đức Thọ sẵn sàng làm tất cả khi cay cú ..

( Hồi ký “ Ðêm giữa ban ngày “ của Vũ thư Hiên trang 293, 294”)

Trường Chinh sau khi rút lui khỏi cuộc đọ sức với Lê đức Thọ vào chân tổng bí thư, buồn bã ngồi nhà. Ông qua đời vì chấn thương não trong một cú ngã ở cầu thang. Có tin ông bị Lê đức Thọ sai tên bảo vệ ông, người cuả Trần quốc Hoàn, hạ sát. Tên này lẽ ra phải đi sát ông từng bước, nhưng đã để ông ngã khi có một mình, Vết thương ở gáy có thể do mép bậc thang gây ra, mà cũng có thể do một vật bằng gỗ khác đập vào.

( Hồi ký “ Ðêm giữa ban ngày “ của Vũ thư Hiên trang 761)

Phải nhận thấy Vũ thư Hiên đưa ra một nhận định khá táo bạo khi suy luận rằng Lê đức Thọ cho người đến giết Trường Chinh, nhưng không phải là không có lý.

Trong một cuốn sách của Bùi Tín có để một tấm hinh chụp của Trường Chinh đến thăm đám nhà báo Bùi Tín . Trong ảnh Trường Chinh tươi cười khỏe khoắn. Bùi Tín ghi chú là 2 ngày sau khi chụp tấm ảnh này , Trường Chinh qua đời. Lý do qua đời đột ngột lại càng cho thấy Trường Chinh chết bất đắc kỳ tử chứ không chết vì già yếu bệnh hoạn. Vì chết vì lý do bệnh hoạn thì thời gian đau yếu kéo dài vài tuần đến vài tháng chứ không chết đột ngột như thế. Nói như thế để thấy lập luận của Vũ thư Hiên cho rằng Trường Chinh bị Lê đức Thọ sai người đập chết bằng gậy có nhiều yếu tố để trở thành sự thật chứ không phải chuyện suy đoán viễn vông, không bằng cớ.

Trường Chinh cũng là người có bàn tay nhuốm máu nạn nhân cải cách ruộng đất vì lúc ấy Trường Chinh là Tổng bí thư nên cái chết bất đắc kỳ tử thàm khốc của Trường Chinh cũng nói lên được luật nhân quả vay trả của trời đất.

Lê Duẩn là người hành hạ Hồ chí Minh đau đớn khổ sở lúc cuối đời thì vào những tháng năm cuối của đời mình, Lê Duẩn bị Lê đức Thọ làm tình, làm tội đủ điều khổ sở, bực bội.

Hãy đọc đoạn hồi ký sau của Ðoàn duy Thành, nguyên bí thư thành phố Hải phòng và là người thân tín của Lê Duẩn kể lại để thấy Lê Duẩn mệt mỏi vì bị Lê đức Thọ quấy rầy. Thọ muốn Duẩn viết di chúc nhường ngôi Tổng bí thư cho Thọ sau khi Duẩn qua đời. Có lẽ vì không thích Thọ nên Duẩn từ chối làm chuyện đó và điều này làm cho Thọ tức giận đến quấy phá Duẩn ngay tại nhà riêng của Duẩn.

Ðoàn duy Thành kể rõ như sau:

“ Ra đến Hà Nội được 2, 3 ngày thì anh Ba mất. Tôi chạy lại gia đình anh. Chị và các cháu xúm lại hỏi tôi đi đâu mấy tháng. “ Lúc anh Ba yếu nặng sao không lại?” Tôi nói vì chuyến đi công tác ở miền Nam nên thất lễ với anh Ba trong những ngày cuối cùng. Cả nhà anh Ba lo lắng, nhất là mấy cháu gái Cừ, Muội, Hồng, các con rễ Lê bá Tôn, Hồ ngọc Ðại. Nói là cháu, nhưng các chái nhỏ chỉ kém tôi 5, 7 tuổi. Tất cả xúm lại hỏi tôi và lo lắng:

- Ba cháu mất rồi..liệu họ có giết gia đình nhà cháu không?

Tôi nói:

Tại sao các cháu lại có ý nghĩ lạ như vậy? Ba cháu là con người vĩ đại, một người hiền triết mới kế nghiệp cụ Hồ, giải phóng miền Nam. Không có Ba, làm sao giải phóng được miền Nam, thống nhất được đất nước, không để xảy ra lắm máu ? Ai dám hại gia đình nhà mình? Ðừng nghĩ linh tinh.Ðảng mình là đảng vĩ đại, nhân dân yêu quý Ba. Các cháu sao lại nghĩ vớ vẩn như vậy? Các cháu yên tâm, chú nghĩ không bao giờ có chuyện đó. Còn bao nhiêu người có mặt..ai dám làm bậy?

Bấy giờ các cháu mới yên tâm, Hồ ngọc Ðại nói chen vào ;

“ – Còn bao nhiêu các chú.. Họ chẳng dám làm bậy đâu!

Sau đó, tôi mới tìm hiểu, tại sao có chuyện hoảng loạn tại gia đình anh Ba như vậy khi anh qua đời. Ðó là những người có dụng ý chia rẽ, nói phe cánh anh Lê đức Thọ, Trần xuân Bách định ám hại gia đình anh Ba. Tôi nghĩ không bao giờ có thể như thế được. Ðảng ta được Bác Hồ xây dựng và lãnh đạo đội ngũ cốt cán cách mạng, đã làm nên bao kỳ tích, không thể có những hành động “ đồi bại “ như thế được. Mấy ngày đó tôi thường xuyên lại nhà anh Ba để ổn định tư tưởng cho các cháu, nhất là cháu Cừ, vợ đồng chí Lê bá Tôn là người lo lắng nhất.

Tôi cũng chỉ mới biết có sự bất hòa giữa anh Ba và anh Lê đức Thọ cách đấy khoảng 4, 5 tháng. Vì tôi ít quan tâm, tôi tin các anh đã có quá trình rèn luyện, lại là người gần gũi Bác Hồ, chắc chắn các anh luôn luôn đoàn kết bên nhau để thực hiện và xây dựng sự nghiệp Bác để lại.

Khoảng tháng 5/1986 tôi đến thăm anh Ba ở Hồ Tây, gần đến khu biệt thự, tôi gặp xe anh Thọ đi ra. Tôi vào thăm anh Ba, có anh Bùi San ở đó. Thấy tôi đến anh Bùi San chào anh Ba ra về. Tôi bắt tay anh Bùi San và vào thăm anh Ba. Anh Ba tỏ vẻ hơi bực tức nói:

_ Ðấy, nó đấy, tôi vừa đuổi nó ra rồi..

Tôi suy nghĩ mãi mới biết là xe anh Thọ vừa ra.. Tôi không nói gì, chỉ thăm sức khỏe anh, nói tóm tắt một vài việc lớn của Hải Phòng để báo cáo với anh , vì lúc này tôi thấy anh Ba mệt nhiều. Tôi muốn để anh nghỉ ngơi nên xin phép ra về, Nhưng anh Ba bảo tôi ngồi lại nói chuyện rồi anh nói:

_ Mấy anh lại đây bảo tôi viết di chúc. Tôi nói không cần. Việc viết di chúc chỉ dành riêng cho Bác. Còn tôi, tôi nghĩ trung ương các đồng chí đã trưởng thành cả rồi, viết di chúc chỉ gây khó khăn cho các đồng chí . Mình nói thế này, nhưng khi trung ương báo lại khác, sinh ra phức tạp, mất đoàn kết. Các đồng ký viết di chúc sẵn bảo tôi ký, tôi không ký

Rồi anh bảo tôi:

_ Tôi đõã bàn với một số đồng chí Bộ chính trị , kỳ đại hội này đưa anh Linh hoặc anh Võ chí Công thay tôi làm cả khóa hoặc nửa khóa rồi để đồng chí Thành làm. Còn anh Tố Hữu sau vụ đổi tiền không còn khả năng làm Tổng bí thư..

Tôi đợi anh Ba nói hết và suy nghĩ. Những lần trước khi về thăm Hải Phòng hoặc anh gọi tôi lên nhà chơi, anh Ba có nhắc vấn đề nào, tôi đều nói :

_ Nước ta còn ảnh hưởng lễ giáo phương đông, lớp trẻ không thể qua mặt các đồng chí lão thành đi trước mình hàng thập kỷ…..

Anh Ba ngắt lời tôi, mỉm cười và nói:

- Tôi đã bàn vơiù một số đồng chí bộ chính trị về đồng chí Thành thì các đồng chí đồng ý..

Lúc đó anh mệt, tôi không dám nói dài với anh, chỉ nói gọn:

_ Rất cảm ơn anh, nhưng theo tôi nghĩ thì rất khó..

Anh lại vui vẻ đứng day, vỗ vai tôi và nói, “ Cứ làm việc cho tốt “ Tôi chào anh ra về, chỉ nghĩ nhioeù về bệnh tật của anh, và cũng hơi buồn vì trong các anh đã có sự rạn nứt.. sẽ gây ảnh hưởng xấu đến đoàn kết nội bộ của Ðảng.

Sau lễ tang Tồng bí thư Lê Duẩn, tôi làm việc ở Bộ ít ngày, lại tiếp tục đi nắm tình hình các tỉnh, thành phố phía Bắc. Trong lúc đó tình hình chuẩn bị Ðại Hội 6 khẩn trương. Ðồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng bí thư, Ðồng chí Nguyễn văn Linh được bổ sung vào Bộ chính trị và Thường trực Ban bí thư , cunøn chuẩn bị Ðại hội Ðảng, chủ yếu là về văn kiện Ðại hội, còn chuẩn bị tổ chức cán bộ do anh Lê đức Thọ phụ trách.”

( Trích hồi ký “ Làm người là khó “ của Ðoàn duy Thành trang 148-149)

Nói chung Bộ chính trị Ðảng Cộng sản Việt Nam toàn những tên vô học từ Hồ chí Minh đến Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê dức Thọ. Chỉ trừ Võ nguyễn Giáp là tương đối có chút học vấn còn đa số là vô học, vô giáo dục. Bởi vô học nên chúng đối xử với nhau thô bạo, thô bỉ,tàn bạo với nhau như những tên du côn, du đãng, du thủ du thực đầu đường xó chợ. Chúng không có cách xử sự quân tử, rộng lượng, cao thượng như người có học thường có. Chúng gian trá khi đề ra những chính sách bịp bợm để cai trị nhân dân và dùng mọi thủ đoạn độc ác , tàn bạo để đối xử với nhau một cách không nhân nhượng. Chính con cáo già Hồ chí Minh đã dạy dỗ , rèn luyện cách cư xử bất cận nhân tình, tráo trở, lật lọng cho đàn em, học trò

như thế để rồi chính Hồ chí Minh trở thành nạn nhân của đường lối bá đạo do ông đề ra. Bõởi vậy mới có tình trạng hai tên đàn em Lê Duẩn và Lê đức Thọ vô học, vô hạnh phối hợp nhau đầu độc Hồ chí Minh cho chết. Rồi sau đó Lê đức Thọ tranh giành quyền hành nên gây gổ kịch liệt với Lê Duẩn khi Lê Duẩn đau ốm cuối đời và đến chuyện Thọ sai người đi giết Trường Chinh vì ghen tức, cay cú khi không giành được chức Tổng bí thư sau khi Lê Duẩn qua đời như nhà văn Vũ thư Hiên đã ghi nhận. Hồi ký Ðoàn duy Thành cho biết con Lê Duẩn e ngại sẽ bị phe Lê đức Thọ giết sau khi Lê Duẩn qua đời đã cho thấy mâu thuẫn giữa Lê Duẩn và Lê đức Thọ gay gắt, trầm trọng như thế nào.

Hồi ký “ Giọt nước trong biển cả “ của Hoàng văn Hoan còn cho biết chính Lê Duẩn là người đã giết Ðại tướng Nguyễn chí Thanh khi Thanh từ miền Nam ra Hà Nội họp. Có lẽ Duẩn bất bình gì đó với Nguyễn chí Thanh nên quyết định dứt điểm Nguyễn chí Thanh. Báo chí Hà nội thì loan tin Thanh bị bệnh cảm lạnh,’ nhồi máu cơ tim’ mà qua đời. Lại cái trò bị bệnh “ nhồi máu cơ tim” qua đời như Hồ chí Minh !

Riêng Lê đức Thọ thì cuối đời bị bệnh ung thư . Khi qua Pháp vào viện ung thư chữa trị , có lần gặp cựu Trung tướng V.N.C.H Trần văn Ðôn cũng vào đó chữa trị . Khi qua đời Lê đức Thọ được chôn ở nghĩa trang Mai Dịch vốn được dành cho các quan chức cộng sản.. Mộ của Lê đức Thọ thường bị ném phân lên nên gia đình Thọ phải dời mộ Thọ về quê chôn cất. Có lẽ vì lức sinh tiền Lê đức Thọ gây quá nhiều thù oán, chết chóc nên khi chết rồi bị trả thù bằng phân ném lên mộ Thọ. Ðúng là chat rồi mà cũng chưa được an thân !

Thọ và Duẩn đều là những học trò ruột của Hồ chí Minh. Thọ và Duẩn đều học cái gian manh, tàn bạo , dối trá, lừa thầy phản bạn của Hồ chí Minh để thành một thứ gian hùng như Hồ chí Minh . Cuối cùng là Thọ và Duẩn liên minh nhau để giết người thầy Hồ chí Minh khi thấy ông là vật cản trở trên con đường phát huy quyền lực của chúng. Ðạo lý tối cao của Ðảng Cộng sản Việt Nam là lừa thầy phản bạn, là cứu cánh biện minh cho phương tiện, là sự độc ác vô cùng tận vượt ra khỏi sự tưởng tượng và đạo lý của con người.

Nhìn qua xứ Kamphuchia thì thủ lãnh Khmer đỏ là bạo chúa Pol Pot cũng chịu một số phận tương tự như bạo chúa Hồ chí Minh. Pol Pot chiếm thủ đô Nam Vang vào giữa tháng 4 năm 1975, khoảng 2 tuần trước khi Sài gòn sup đổ . Pol Pot chủ trương xây đựng một chế độ Cộng sản hoang tưởng và quái đản bằng chủ trương không dùng đến tiền tệ, trường học. Trong những năm cai trị ( 1975-1978) Pol Pot giết khoảng trên 1 triệu rưỡi người Miên. Có người bị giết chỉ vì đeo kính trắng và như thế là thuộc giai cấp trí thức cần phải tiêu diệt. Thật là độc ác và quái đản chưa từng thấy trong xã hội loài người. Bọn lính Khmer đỏ thường dùng cán cuốc đập vỡ sọ nạn nhân. Ðừng quên quan thầy chỉ đạo tối cao của Pol Pot là tên mập Mao trạch Ðông và tên lùn Ðặng tiểu Bình của Trung Cộng.

Ngày 25 tháng 12 năm 1978., Cộng sản Việt Nam đổ 100000 ngàn quân qua Kampuchia lật đổ chế độ Pol Pot . Người chỉ huy chiến dịch này là Lê đức Thọ và đàn em Lê đức Anh. Pol Pot phải rút vào rừng chiến đấu theo kiểu du kích chống bộ đội Cộng sản Việt Nam. Năm 1979 Trung Cộng đem quân qua biên giới trả thù cho đàn em Pol Pot, dạy cho Việt Nam một bài học vì Việt Nam đã đem quân lật đổ chế độ Pol Pot vốn là đàn em thân thiết của Trung Cộng.

Khoảng đầu năm 1998, quốc tế phát hiện ra Pol Pot có mặt ở mật khu kháng chiến Anlong Veng nằm gần biên giới Thái Lan. Dư luận quốc tế ồn ào đòi mang tên bạo chúa Pol Pot ra xử về tội diệt chủng. Những tháng cuối đời Pol Pot bị đàn em là Ta Mok tước hết quyền hành vì cho Pol Pot giết quá nhiều dân Miên trong khi cầm quyền nên dân Miên oán hận , không còn ủng hộ phe Khmer đỏ như ngày xưa nữa. Khi đàn em Pol Pot thầy viễn cảnh phải giải giao Pol Pot cho tòa án quốc tế xử thì chúng ra tay giết Pol Pot ngay vì sợ khi Pol Pot ra tòa sẽ khai tội ác của chúng. Khi bọn đàn em Khmer loan báo Pol Pot “ chết vì bệnh tim “ ngày 15 tháng 4 năm 1998, dư luận quốc tế trong đó có cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ là Henry Kissinger đưa ra nhận định ngay là Pol Pot bị đàn em giết chết. Ðó là một nhận định hợp lý và chính xác. Có thể chúng giết Pol Pot bằng cách chụp bao ny-lông vào đầu cho ngạt thở đến chết hay cho tiêm thuốc độc . Pol Pot chết được 2 ngày thì chúng cho thiêu xác Pol Pot để phi tang mọi đấu tích giết Pol Pot và chúng không cho bất cứ phái đoàn y khoa quốc tế nào được khám nghiệm tử thi Pol Pot trước khi hỏa táng. Pol Pot thọ 73 tuổi

Di sản Pol Pot để lại cho quốc gia Kampuchia là hàng núi xương sọ của những nạn nhân do phe Khmer đỏ giết trong những năm cầm quyền ( 1975-1978). Thật là tàn bạo khủng khiếp không thể tưởng tượng.

Bạo chúa Pol Pot đã phải chết một cái chết thảm đau đớn như hàng triệu nạn nhân của ông ta theo đúng quy luật trả vay của trời đất.

Bạo chúa Pol Pot cũng như bạo chúa Hồ chí Minh đều phải chết một cái chết thảm do đàn em của chúng ra tay khi bọn đàn em cảm thấy sự sống của hai bạo chúa này không còn có lợi cho quyền lực chính trị của chúng.

Ðạo lý nhân quả của nhà Phật qua bao nhiêu năm đã trở thành đạo lý hành xử của người Việt Nam qua những câu ca dao , tục ngữ quen thuộc đi vào quần chúng như “ Cây xanh thì lá cũng xanh. Cha mẹ hiền lành để đức cho con” và “ Ðời cha ăn mặn,đời con khát nước “. Ngay cuốn truyện thơ nổi tiếng nhất Việt Nam là Truyện Kiều cũng được xây dựng trên động lực của thuyết nhân quả theo sự nhận xét của Học giả Trần trọng Kim. Cứ nhìn hai bạo chúa Hồ chí Minh và Pol Pot bị đàn em thanh toán một cách tàn bạo thì người ta càng thấy sự chính xác của đạo lý nhân quả nhiều hơn nữa.

Ở hiền gặp lành và gieo gió, gặt bão nên trở thành một loại châm ngôn không những ứng dụng cho người dân thường trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến tầng lớp lãnh đạo nữa. Nếu người lãnh đạo nào nắm vững nguyên lý nhân quả của nhà Phật để trị nước an dân thì quốc gia sẽ bớt nhiều tội ác và dân chúng được hưởng thanh bình nhiều hơn.

Một mùa xuân an lành sẽ đến với quê hương dân tộc nếu mọi người dân cũng như cấp lãnh đạo biết làm lành lánh dữ, gieo trồng nhân thiện và từ bỏ làm chuyện ác. Chủ thuyết Cộng sản là một thứ tà ma quỷ dữ do bọn Tây phương đem vào Việt Nam và đã gây biết bao tội ác . Ðã đến lúc nên tiễn chũ nghĩa ngoại lai độc ác vô luân này ra khỏi đất nước Việt Nam mến yêu để mưu tìm hạnh phúc thật sự cho con người Việt Nam.

Hy vọng Việt Nam và Kampuchia sẽ không còn bạo chúa giết người như ngóe nữa vàø với tiến trình dân chủ sẽ bầu ra những nhà lãnh đạo nhân đạo biết thương dân như chính con đẻ của mình, biết đau cái đau của dân, vui cái vui của dân và biết chia bùi sẻ ngọt với đồng bào ruột thịt của mình

Los Angeles, một chiều xám chì se lạnh giữa tháng 9 năm 2009

Trần viết Ðại Hưng

Ðàn áp càng mạnh, chống đối càng tăng

Vụ bắt giữ các anh Lê Công Ðịnh, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, và bắt họ lên truyền hình nhận tội, còn đang tạo rắc rối cho Việt Cộng vì phản ứng của đại sứ Hoa Kỳ Michaed Michalak, thì một vụ khác, cũng không kém sôi nổi, đã lại bắt đầu.

Lần này Việt Cộng không bắt ai cả mà chỉ ra lệnh tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị sa thải một ký giả, anh Huy Ðức, làm việc cho tờ báo này dưới hình thức hợp đồng; ông Trần Công Khanh, tổng thư ký tòa soạn, nói quyết định hủy bỏ hợp đồng với anh Huy Ðức không phải là để thi hành lệnh của nhà nước. Việc ông Khanh “lạy ông tôi ở bụi này” không làm anh Huy Ðức khó chịu. Anh đồng ý “hủy bỏ hợp đồng” dù bài anh viết bị ông Khanh cho là đi ngược lại với “quan điểm chính thống” của nhà nước không hề đăng trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị.

Bài báo đó là bài “bức tường Berlin” anh viết và post trên blog Osin do chính anh chủ trương.

Nguyên văn bài báo như sau :

Bức tường Berlin

Huy Đức

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức

*************

Bài báo thật là mạnh và tạo nhiều liên tưởng về Việt Nam qua những nối kết giữa chính sách cộng sản Việt Nam với những chính sách cộng sản Ðông Âu.

Thế hệ đấu tranh thứ nhì của Việt Nam đang ồ ạt và oai dũng đứng lên với những khuôn mặt trẻ trung nhưng vô cùng đởm lược, như Lê thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Nguyễn Văn Ðài, Nguyễn Tiến Trung, và mới đây nhất: blogger Huy Ðức. Tôi chỉ liệt kê ngần đó người, nhưng họ rất đông, có người tôi biết, có người tôi chưa biết, và tôi nghĩ, chính Việt Cộng cũng chưa biết.

Huy Ðức là khuôn mặt mới nhất trong những đợt sóng vĩ đại của Biển Ðông tự do, hai chữ “mới nhất” không có nghĩa là Huy Ðức mới cầm bút đấu tranh, mà mới chỉ vì độc giả hải ngoại mới biết anh. Anh đã viết hàng trăm bài bình luận đưa lên blog Oisin, bài nào cũng sắc bén, nhưng bài “Bức Tường Berlin” của anh đã chạm nọc nhà nước Việt Cộng nặng nhất.

Chúng khoe khoang là chúng không coi khác biệt chính kiến là một cái tội để chúng bắt bớ giam cầm những chiến sĩ tự do, nhưng chúng đang trừng phạt Huy Ðức về tội đi ngược với quan điểm chính thống –quan điểm của chúng. Chúng có nói quanh, nói co thì rồi sự thật vẫn hoàn sự thật: chúng không chấp nhận cho ai nghĩ khác chúng.

Huy Ðức không chỉ nghĩ, mà còn lập luận hoàn toàn khác chúng; chúng trừng phạt anh vì những tư tưởng này.

Huy Ðức viết bài “Bức Tường Berlin” để kỷ niệm 20 năm ngày bức tường này bị dân chúng phá tan, chấm dứt cảnh chia đôi nước Ðức. Việc phá tường Berlin đánh dấu ngày suy xụp của chế độ cộng sản tại Ðông Ðức, chế độ đã ra lệnh cho binh sĩ gác bức tường ô nhục này bắn vào những người dân trèo tường để vượt thoát tìm tự do.

Blogger Huy Ðức

Huy Ðức ca tụng những người lính Ðức cưỡng lệnh chính phủ cộng sản Ðức; anh viết, "Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do."

Ca tụng người vượt biên dĩ nhiên Huy Ðức đã không đi đúng lề phải nhà nước Việt Cộng dành cho người cầm bút; anh còn bị buộc vào tội nặng hơn là đi ngược “luồng tư tưởng chính thống.”

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến 4 câu thơ kể khó, kể khổ của thi sĩ Nguyễn Vĩ với bài thơ "Gửi Trương Tửu" dưới thời Pháp thuộc:

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó,

Nhà văn An Nam khổ như chó,

Mỗi lần cầm bút nói văn chương

Như đàn chó đói gậm trơ xương...

Nhà văn Việt Nam năm 2009, năm đất nước đã “hoàn toàn độc lập, tự do, hạnh phúc” mà vẫn phải gặm những cục xương tuyên truyền trống rỗng, tẻ nhạt, phải nhắm mắt trước mọi nhiễu nhương, tham ô, thì quả họ cũng không xướng hơn những nhà văn An Nam 100 năm trước cầm bút dưới cặp mắt cú vọ của sở an ninh Pháp.

Huy Ðức cũng nghĩ như vậy; anh viết câu kết của bài Bức-tường-Berlin: "Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do."

Huy Ðức không thể “chửi” Việt Cộng nặng hơn được nữa; chúng đã nhân danh tự do của người Việt Nam, nhân danh độc lập của nước Việt Nam để phát động cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, sắt máu đến mức núi sông Việt Nam ngập máu Việt Nam; chúng huyênh hoang gọi cuộc nội chiến là “chiến tranh giải phóng”; giờ này Huy Ðức bảo chúng đánh lận danh từ để cướp cả tự do của người Việt Nam, cướp cả nền độc lập của nước Việt Nam dưới ảnh hưởng nặng nề của Tầu.

Huy Ðức còn đi xa hơn nữa trong một bài báo ngắn: anh xúi giục lính Việt Cộng không bắn vào đồng bào Việt Nam tìm tự do trong những cuộc xuống đường hiện nay, và nhất là trong tương lai. Xúi dục bằng cách phong thánh cho những người lính Ðông Ðức thà quay súng tự bắn vào đầu mình chứ không nổ súng giết dân theo lệnh các lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức.

Anh đã nhìn thấy một Thiên An Môn Việt Nam, và anh đang chuẩn bị tư tưởng cho binh sĩ Việt Cộng “không bắn đồng bào mưu cầu tự do.”

Tôi ngả nón kính phục thái độ can đảm của anh, nhưng tôi cũng vô cùng lo lắng cho anh: mất job chỉ là một trừng phạt nhỏ, anh còn có thể mất tự do, hay mất cả mạng sống nữa.

Nguyễn Ðạt Thịnh

Thư mẹ (già trăm tuổi) gửi con (hư)

Cái Sắn, ngày 31 tháng 8 năm 2009

Long yêu thương của mẹ,

mẹ đã sống cả một thế kỷ trên trần gian này. Một thế kỷ đầy máu và nước mắt của dân tộc Việt Nam với những tháng ngày chiến tranh liên tu bất tận, xương rơi máu đổ, gia đình nào cũng đầy mất mát. Họa cộng sản sáu bảy mươi năm như ung thư ăn nát thịt da, hút cạn sinh lực đất nước. Nhìn lại cuộc đời của mình, đồng hành với vận nước thăng trầm, mẹ buồn nhiều hơn vui, chỉ có các con là niềm an ủi của mẹ, nhưng con là đứa luôn làm cho mẹ xót xa, đắng cay nhiều hơn hạnh phúc. Mà mẹ có ước mong gì cao xa đâu, mẹ chỉ mong các con sống sao cho xứng đáng là người Việt Nam.

Ngày con nhận lãnh chức vụ linh mục mẹ đã khóc thật nhiều. Khóc vì vui mừng với những ân sủng Chúa đã ban cho gia đình ta, nhưng nước mắt mẹ đổ ra nhiều nhất trong những đêm dài âm thầm âu lo.

Đường đời gian nan, bả vinh hoa phú quý cám dỗ, con có giữ được ân nghĩa với Chúa không? Những lo âu làm mẹ luôn trằn trọc mất ngủ. Ai hiểu con bằng mẹ. Nhận lãnh chức linh mục hạnh phúc lắm, những lời chúc mừng chân tình thắm thiết. Ơn Chúa bao la ngút ngàn. Nhưng ngựa chạy đường dài. Với bản tính con, con làm sao có thể làm tròn trách vụ nặng nề này, con chưa bao giờ có chiều sâu tâm hồn, ít sống nội tâm, không thích cầu nguyện. Người mẹ công giáo nào lại không muốn dâng con mình cho Chúa, phục vụ tha nhân, nhưng thành linh mục rồi mà làm nhơ nhuốc bản thân, gia đình thì tội lắm con à. Mẹ chết không nhắm mắt vì sợ gặp cha con, mẹ ăn nói làm sao?

Con thương yêu, con là đứa con luôn gây cho mẹ nhiều buồn phiền, nhưng mẹ cũng thương con nhất. Nước mắt chảy xuôi con à. Đứa ngỗ nghịch, làm buồn lòng mẹ cha là đứa được thương nhất. Lúc nào mẹ cũng lo lắng cho con. Lo không biết con có lại làm xấu mặt mẹ cha gì nữa không đây. Thật khổ, con dại cái mang.

Làm người khó lắm con ơi. Không giữ được nhân, nghiã, lễ, trí, tín thì chức vụ càng to, cái nhục càng lớn con à.

Nhân, con không có! Làm linh mục mà con sống thiếu đạo đức bác ái tình người.

Xa thì vô cảm với đồng bào đang hoạn nạn nơi quê nhà, gần thì bội bạc với giáo dân. Người trung thành với giáo hội, nhưng ngược ý con, con loại trừ. Tình: cạn tàu ráo máng. Lý: độc tài, độc đoán. Chỉ thích kéo bè, kết đảng, nịnh thần tung hô.

Đất nước tang thương, dân lành khốn khổ vì nạn cộng sản. Oan gia, uất khí thấu tận thiên đình. Con hãy đi từ ải Nam Quan, qua Thái Bình vào đến tận Rạch Giá “nhấc lên từng hòn đất, nếm xem, có hòn nào không hăng nồng mùi máu” (Phùng Quán).

Nhưng sống chết mặc bay, con chỉ thích áo gấm về làng. Kẻ đáng ghét như lũ việt gian cộng sản, con không ghét, người đáng thương như trăm họ dân lành, con không thương.

Nghĩa, con không có! Thay vì làm những việc nhằm duy trì đạo lý, lẽ phải, con phản bội lại lý tưởng cha ông. Nhìn lại một thế kỷ mẹ sống qua, chỉ 20 năm miền Nam tự do là mẹ đã được sống những ngày đáng sống, đúng với phẩm giá con người. Mặc dù phải chiến đấu để tự vệ, người dân vùng quốc gia được tự do làm ăn, xã hội phát triển. Chính bản thân con đã được hưởng những ngày ấm no, để ăn học, để vào chủng viện thánh Tôma Long Xuyên (trong khi bao người gục ngã nơi chiến trường để bảo vệ thành trì tự do cho con ăn học).

1954 bỏ mồ mả ông bà từ Thái Bình vào Nam chạy trốn cộng sản. Chỉ với hai bàn tay trắng, nỗi nhớ quay quắt xóm làng, tấm lòng xót xa thương người kẹt lại, gia đình ta đã mau chóng ổn định, xây dựng cuộc sống mới nhờ sự giúp đỡ tận tình của chính phủ đệ nhất cộng hòa. Giàu không có, nhưng hàng ngày dùng đủ, các con được ăn học đến nơi đến chốn. Xã hội ổn định, đạo đức được đề cao, tôn giáo phát triển. Vậy mà, nơi con ở bây giờ, hàng năm đồng bào làm giỗ cho người ơn gia đình ta và những anh hùng tử sĩ đã vinh dự hy sinh cho tổ quốc, không những con không dám tham dự, mà con còn tỏ thái độ không bằng lòng vì sợ liên lụy, gặp khó khăn khi về Việt Nam. Con ơi, làm sao con ra đến nông nỗi này?

Lễ, con không có! Hành động thiếu cẩn trọng. Luôn giận dữ, rồi giận quá mất khôn. Là một linh mục mà ngôn từ xách mé của con không hơn bọn đá cá lăn dưa. Ai dậy con cách ăn nói này? Không phải cha mẹ, không phải chủng viện, vậy thì ai?

Giáo dân Việt Nam dễ thương, hiền lành. Họ lễ phép với linh mục lắm. Truyền thống kính người có học, trọng người tu hành đã ăn sâu vào tâm khảm mọi người Việt Nam. Họ đưa tiền mồ hôi nước mắt của họ cho linh mục không tiếc. Vậy mà con sống quá quắt thế nào mà để mọi người chung quanh con đều coi thường con? Người giữ ý thì bĩu môi sau lưng, kẻ thẳng tính thì khinh ra mặt.

Trí, con không có! Thiếu tri thức để suy xét khi hành động. Con không phân biệt được điều hay lẽ phải, thiện và ác, Thiên Chúa với Satan. Lý tưởng quốc gia con không thiết tha phục vụ, lá cờ vàng biểu tượng của tự do, dân chủ con né tránh, chỉ thích làm “từ thiện”, chỉ thích thu góp. Tiền bạc không minh bạch, thu chi không rõ ràng. Tiền lương, tiền lễ, tiền của giáo dân đóng góp bao nhiêu cũng không đủ, lấy thêm cả tiền người thân trong gia đình để về Việt Nam, xuân thu nhị kỳ.

Tín, con không có! Với những người chung quanh con không thành thật. Có nói thành không. Việc làm với lời nói thiếu nhất quán, giảng đạo Đức Chúa Trời như con vẹt, nói một đằng làm một nẻo.

Con khai tị nạn để được sống tự do nơi xứ người. Bây giờ aó mão cân đai trở về cố quốc, nơi con vì áp bức tù đày đã phải bỏ trốn đi, nơi triệu dân oan lầm than hơn trước.


Con ơi, mẹ già nhưng không lú, quê mùa nhưng không ngu si, ít học nhưng không quên đạo làm người. Mẹ xin con, xin con đừng về Việt Nam nữa. Mẹ không muốn sống nhục và mẹ cũng không muốn chết nhục. Con ơi, hãy tha cho mẹ, để mẹ dọn
mình chết lành. Mẹ già như chuối chín cây. Đừng mang danh (thăm) mẹ ra nữa để kiếm cớ về Việt Nam. Thiên hạ biết hết rồi con ơi. Hãy ở bên đó mà tu hành, du dưỡng tính tình. Thay vì thời gian con về Việt Nam, con hãy vào một tu viện thinh lặng mà suy nghĩ, ăn năn hối cải. Tiền bạc, danh vọng, mỹ nhân rồi cũng qua đi, nhưng ngày sau hết Chúa sẽ tính công tội. Nghĩ đến đó mẹ rùng mình thương con.

Con yêu của mẹ, dù trong hoàn cảnh nào, nhục nhằn bao nhiêu, dù lỗi con có lớn thế nào đi nữa, dù cả xã hội khinh khi ruồng bỏ con, con vẫn là con của mẹ. Hãy nghe lời khuyên của mẹ, đồ tể buông dao cũng thành Phật. Hãy hăng say cùng giáo dân cầu nguyện, tranh đấu cho đất nước đau khổ này. Con hãy rút ngay lại cái lệnh cấm giáo dân tổ chức các thánh lễ cầu nguyện cho quê hương. Hãy xin lỗi giáo dân. Xin Chúa rủ lòng thương cho con sớm thức tỉnh, ăn năn trở lại.

Thôi, mẹ mệt mỏi lắm rồi. Mẹ mong con biết nghe mẹ lần này, lần này đi con.

Mẹ của con.

Xác Hồ trong lăng chỉ là một xác giả.?



HÀ NỘI - Báo “The Independent,” phát hành tại London, Anh Quốc, hôm 10 Tháng Chín, 2009 cho hay, trong vòng hai tháng tới đây, lăng Hồ Chí Minh tại Hà Nội sẽ đóng cửa một cách bí mật để “tu bổ,” và hiện tường này gây nên các mối quan tâm về tình trạng thi hài được ướp của cựu lãnh tụ Cộng Sản này.

Ðiều này trùng hợp với quyết định mới đây của Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN, là cho thành lập “Hội Ðồng Khoa Học Cấp Nhà Nước” để kiểm tra, đánh giá trạng thái thi hài của ông Hồ.

Trang thông tin điện tử của “Ban Quản Lý Lăng” cũng ra thông báo lăng Hồ sẽ đóng cửa từ ngày 07 Tháng Chín, 2009 đến hết ngày 06 Tháng Mười Một, 2009 để làm “công tác bảo dưỡng, tu bổ định kỳ năm 2009.”

Theo quyết định của Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam sẽ mời một số khoa học gia người Nga, từng bảo quản thi hài Lê Nin sang Hà Nội, trong đó có viện sĩ Viện Hàn Lâm Y Học Liên Bang Nga, Valery Alexeyevich Bykov.

Báo The Independent trích lời Dũng, rằng, “Các chuyên viên ướp xác sẽ thẩm định kỹ tình trạng hiện nay của di hài” và “nghiên cứu cách nào để có thể bảo quản được tốt di hài trong nhiều năm nữa.”

Chính lời tuyên bố của Dũng, được đưa ra chỉ vài ngày sau khi CSVN kỷ niệm 40 năm ngày Hồ qua đời, đã gây nên các mối quan tâm về tình trạng di hài của cựu lãnh tụ Ðảng. Nhiều người cho rằng thi hài đang được thấy hiện nay là “hàng giả.”

Một trong số những người nghi ngờ là cô Nguyễn Thị Thủy Tiên, một giáo viên Anh ngữ. Cô giáo này nói với hãng thông tấn Pháp AFP, sau một cuộc viếng thăm mới đây, rằng, “Tôi mới được nói rằng đó không phải là xác ướp của Hồ Chí Minh, mà chỉ là một xác giả.”

Một người Hà Nội khác, là bà Phạm Thị Xuân, cho biết đã được thấy xác Hồ trước đây, khi bà đến viếng ngay sau khi Y qua đời hồi năm 1969, tuy nhiên bà tiếp thêm, “Xác này giờ đây trông không giống thật mấy...”

Tuy nhiên, các giới chức tại Hà Nội quả quyết rằng xác ướp của Hồ sẽ được đưa trở lại để trình bày cho dân chúng được xem, sau đợt tu bổ này.

Theo tài liệu chính thức của Việt Nam, lăng Hồ Chí Minh được chính thức xây dựng vào ngày 2 Tháng Chín, 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng Trường Ba Ðình và được khánh thành vào ngày 29 Tháng Tám, 1975.

Bách Khoa Toàn Thư Mở (Wikipedia) mô tả, “Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ ‘Chủ tịt Hồ-Chí-Minh’ bằng đá hồng màu mận chín.”

Trong suốt 40 năm qua, con số thống kê về mức độ tốn kém để duy trì lăng ông Hồ vẫn nằm trong vòng bí mật, người ta không biết mỗi năm tiêu tốn hết bao nhiêu từ ngân sách quốc gia.

Nhưng những con số chi phí để bảo quản thi hài Lê Nin do Nga công bố có thể giúp người ta đoán được mức độ tốn kém của lăng ông Hồ.

Về thi hài Lê Nin, theo đài BBC London, thường cứ mỗi 18 tháng các chuyên gia phải ngâm thi hài trong bồn hóa chất trong 30 ngày, tẩy các vết mốc trên mặt nếu có, và thay quần áo. Công việc bảo quản này tốn kém hàng triệu Rúp mỗi năm.

Còn bảo vệ và bảo quản thi hài Hồ Chí Minh hiện nay có đến ba cơ quan với số nhân viên có thể lên đến hàng ngàn người, đó là “Ban Quản lý Lăng” (trực thuộc Chính Phủ), “Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng” (trực thuộc Bộ Quốc Phòng) và “Trung Ðoàn 375 Bộ Tư lệnh Cảnh Vệ” (trực thuộc Bộ Công An).

Bài Xem Nhiều