We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 15 September 2009

THÔNG BÁO KHẨN: BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI NGUYỄN TẤN DŨNG ĐẾN ĐAN MẠCH TỪ





Quan-Điểm Về Đảng-Phái Và Môi-Trường Tranh-Đấu

* I.- Nhận-Định:

Trong một quốc-gia, có thể có nhiều chánh-đảng hoạt-động, dù hoạt-động công-khai hay bí-mật, nhưng mỗi chánh-đảng đều chỉ có một số đảng-viên giới-hạn, và lý-thuyết, chánh-sách của mỗi đảng dù có hay và hấp-dẫn đến thế nào đi nữa cũng chỉ giới-hạn ở một số người nào đó mà thôi. Đó là những người mà mỗi chánh-đảng có thể huy-động được một cách tương-đối tích-cực cho nhu-cầu mà chánh-đảng đó đòi-hỏi. Vì vậy, những đội-ngũ nầy chỉ tiêu-biểu cho một thành-phần nào đó trong xã-hội chớ không thể là tiêu-biểu cho một quốc-gia.

Vì thế, thông thường một chánh-đảng hay một đoàn-thể áp-lực trong xã-hội không thể thực-hiện nổi việc lật-đổ một chánh-quyền đương-hữu để thay thế bằng một chánh-quyền khác, và càng khó có thể làm nổi nếu chánh-quyền đương-hữu là một chánh-quyền độc-tài toàn-trị như bạo-quyền Việt-cộng ngày nay.

* II.- Những thí-dụ lịch-sử:

1.- Năm 1945, và năm 1954 để chuẫn-bị cướp chánh-quyền và chia đôi đất nước, Hồ-Chí-Minh cũng phải dùng thủ-đoạn kết-hợp các đảng-phái lại với nhau, nhờ đó ông ta mới khích-động được lòng yêu nước và sự đóng-góp của toàn dân qua phong-trào Việt-Minh để huy-động mọi giới đồng-bào hầu đáp-ứng cho nhu-cầu tranh-đấu thời đó.
Sau khi cướp được chánh-quyền, Hồ-Chí-Minh mới thật sự dùng đảng để cai-trị và áp-dụng đường-lối và chánh-sách của đảng Cộng-sản quốc-tế để tiêu-diệt tất cả mọi thành-phần quốc-gia, mọi chánh-đảng khác một cách triệt-để để được rãnh tay thi-hành chánh-sách riêng của họ.

2.- Năm 1963, Phong-trào Phật-Giáo đứng lên tranh-đấu chống lại chánh-phủ Đệ Nhứt Cộng-Hòa cũng vậy. Tuy Phật-Giáo có đông-đảo tín đồ khắp nước, nhưng một mình cũng không thể giật sập nổi một chánh-quyền đang cai-trị mà phải liên-kết với các đảng phái khác và với quân-đội mới đạt được thành-công.

3.- Cuộc chiến năm 1975 cũng không ra ngoài nguyên-tắc đó, Hồ-Chí-Minh cũng phải dùng chiêu-bài Mặt-Trận Dân-Tộc Giải-Phóng Miền Nam của Nguyễn-Hữu-Thọ mục-đích để lôi kéo những thành-phần không Cộng-sản tham-gia. Bởi vậy, trong suốt quá-trình 20 năm của mặt-trận nầy, trong chánh-sách tuyên-truyền, không bao giờ họ dám nói mặt-trận nầy là do đảng Cộng-sản lãnh-đạo.

Những điều nầy cho chúng ta thấy rằng, muốn lật đổ một chế-độ đang cai-trị, dù cho một đảng mạnh đang cai-trị nửa nước như đảng Cộng-sản miền Bắc và dù được các nước trong thế-giới Cộng-sản hết lòng yễm-trợ, họ vẫn khó có thể thành-công mà cần phải có sự tham-gia của nhiều thành-phần khác trong xã-hội thì mới có được một thế-lực đủ mạnh để đạt mục-tiêu mà họ theo đuổi.

Do đó, chúng ta có thể nói mà không sợ sai-lầm là sự thành-bại trong công-cuộc tranh-đấu hiện nay để lật đổ chế-độ độc-tài Cộng-sản, tất cả đều tùy-thuộc vào sức mạnh của toàn-dân. Khi nào toàn-dân đứng dậy thì bạo-quyền dù có tàn-ác đến đâu cũng đều phải sụp-đổ.

Người Cộng-sản rất am-tường điều nầy, cho nên trong việc cai-trị đất nước, họ dùng chánh-sách kiểm-soát gắt-gao đối với nhân-dân trong tất cả mọi sinh-hoạt hàng ngày, cấm lập hội, cấm tự-do báo-chí, kiểm-soát mọi sự đi lại, công-an phường khóm luôn luôn rình-mò, theo-dỏi từng người trong khu-vực, tung cán-bộ chìm nổi vào nằm vùng ở những nơi có thể tập-trung nhiều người như những cơ-sở các Tôn-Giáo, thành-lập những giáo-hội quốc-doanh để làm suy-yếu các giáo-hội chân-chánh và cô-lập những vị chân-tu, v.v… Sau cùng là bạo-quyền lúc nào cũng sẳn-sàng đàn-áp một cách thô-bạo, để khủng-bố không nương tay bất cứ một manh-nha nào mà chúng nghi-ngờ có thể tạo bất-an cho chánh-sách cai-trị của chúng, dù là phát-xuất từ tư-tưởng một cá nhân như Nguyền-Văn-Đài, như Lê-Thị Công-Nhân, v.v… hay một tập-hợp như vụ dân-oan khiếu-kiện, như những vụ tranh-đấu của các Tôn-Giáo, của đồng-bào Tây-Nguyên, v.v…

* III.- Những Thực-tế đã qua:

Trong suốt bao nhiêu năm qua, chúng ta thấy mọi cuộc tranh-đấu trong nước đều rất lẻ-loi, không có đồng-minh hưởng-ứng, cho nên tất cả đều bị bạo-quyền đàn-áp tan-hoang một cách dễ-dàng. Trước đây, nhiều lần Phật-Giáo Hòa-Hảo bị đàn-áp thãm-khốc, giáo-hội nầy hoàn-toàn hứng chịu những cay-đắng một mình, không có đồng-minh nào hổ-trợ, đến khi những giáo-hội khác bị bạo-quyền đàn-áp cũng vậy, cũng một mình nhận hết mọi oan-khiên, chết ai nấy chịu. Vì tình-trạng “Chết ai nấy chịu” và “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” nầy cho nên mọi cuộc đấu-tranh đều bị bẻ gãy một cách thật đáng tiếc.

Những cuộc đấu-tranh gần đây của Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhứt trong Nam, của Tòa Khâm-Sứ, Vụ Tam-Tòa ngoài Bắc, vụ Tin-Lành ngoài Trung là những điển-hình nhứt để nói lên mọi sự tranh-đấu đều rất lẽ-loi. Điều nầy nếu cứ như thế thì biết đến bao giờ công cuộc tranh-đấu giải-phóng đất nước mới được thành-công? Biết đến bao giờ đất nước Việt-Nam mới được quang-phục? Biết đến bao giờ nhân-dân Việt-Nam mới hưởng được cuộc sống ấm-no và hạnh-phúc?

* IV.- Trách-nhiệm và sự thử-thách


Đã gần 35 năm tranh-đấu, giờ đây không còn thời giờ để thảo-luận vu-vơ, không còn thời giờ để chú-tâm vào những công việc lý-thuyết xa-vời của một đảng-phái chánh-trị, không còn thời giờ để phê-phán kẻ hay người dở, đổ lỗi cho nhau, chen-lấn để tranh quyền lãnh-đạo và chỉ-trích nhau một cách bừa-bải, mà nhu-cầu hiện tại chính là làm sao và làm cách nào để lật đổ chế-độ cai-trị của bạo-quyền hiện-hữu để sớm quang-phục lại quê-hương.

Các lý-thuyết của các đảng-phái như Dân-Tộc Sinh-Tồn, như Dân-Chủ Pháp-Trị, như Tam Dân Chủ-Nghĩa, v.v… Chủ-nghĩa nào cũng dài dòng rất khó hiểu và cũng không ai có điều-kiện để giải-thích đến quảng-đại quần-chúng, những việc nầy chỉ có ích-lợi để tranh-cử thời hậu Cộng-sản chớ thật sự chưa cần-thiết trong lúc nầy.

Bởi vậy, nhu-cầu của công-cuộc tranh-đấu hiện nay là vận-động một sự kết-hợp thật sự cả trong lẫn ngoài nước. Bên ngoài có thể sự kết-hợp sẽ lõng-lẽo, nhưng trong nước sự kết hợp cần phải chặt-chẻ hơn. Sự kết-hợp nầy là điều-kiện cần-thiết để có thể vận-động quần-chúng tranh-đấu, chính là nhiệm-vụ của những người cán-bộ của những đảng-phái, của những tổ-chức chống Cộng còn sinh-hoạt trong lòng dân trong nước. Thành hay bại của việc làm nầy đều tùy thuộc vào sự dấn-thân của họ.

Ngày xưa, Hai Bà Trưng khởi-nghĩa thành-công không do chủ-nghĩa nào hết mà chỉ nhờ vào quần-chúng. Đinh-Bộ-Lĩnh dẹp được loạn 12 sứ-quân cũng nhờ vào quần-chúng. Lê-Lợi thành-công chống quân Minh cũng nhờ vào quần-chúng. Nhà Tây-Sơn dấy nghiệp được cũng nhờ vào sức-mạnh của quần-chúng.

Chính vì thế, Việt-cộng rất sợ quần-chúng nổi dậy, cho nên trong nước thì chúng thẳng tay đàn-áp, ngoài nước thì chúng tung ra hết mặt-trận hỏa mù nầy đến mặt-trận hỏa-mù khác, mục-đích làm cho hậu-phương hải-ngoại phải bận-rộn đối-phó lung-tung, không còn thời-giờ và tiềm-lực để đặt hết trọng-tâm vào sự yễm-trợ cho mặt-trận chánh-yếu trong nước.

Để vận-động cho công-tác vận-động lịch-sử nầy, các đảng-phái chân-chánh có thật tâm với đất nước không có việc làm quan-trọng nào khác hơn là dồn mọi nổ-lực để phát-triễn hàng-ngũ cán-bộ trong nước, trải rộng, xâm-nhập để nghiên-cứu và khai-thác mọi tình-huống.

1.- Tìm hiểu những cá-nhân và những phong-trào tranh-đấu trong nước để phân-biệt giả-chân, tránh sự gài bẫy của bạo-quyền khi có sự móc-nối và hợp-tác.

2.- Khi đã tạo được những sự liên-lạc, làm việc được với những tổ-chức quần-chúng và những tổ-chức tôn-giáo là chúng ta đã ở vào tư-thế trung-gian, sẳn-sàng để nhập cuộc.

Hai công-tác nầy rất quan-trọng, chỉ có những cán-bộ chuyên-môn ở trong nước mới có thể làm được với nhiều hữu-hiệu hơn.

3.- Bất-chợt xãy ra một biến-động ở đâu, chẳng hạn như vụ Toà Khâm-Sứ, vụ Tam Tòa, vụ Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhứt, vụ Tin-Lành ở Tây-Nguyên, vụ Dân Oan Khiếu-Kiện, vụ Phật-Giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài, vụ Bauxit chẳng hạn, thì lập-tức những cán-bộ nầy sẽ thông-tin đến tất cả những nơi khác để vận- động cùng nhau tranh-đấu một lượt trên khắp nước.

Nhìn chung, tất cả những cuộc tranh-đấu gần đây của những tổ-chức nói trên đều có cùng chung một mục-đích là đòi lại phần đất đai, nhà cửa, ruộng vườn và tài-sản đã bị bạo-quyền áp-bức và cưỡng-đoạt, cho nên sự kết-hợp tranh-đấu có phần dễ thực-hiện hơn. Bên cạnh đó còn có sự chống-đối của nhân-dân về vấn-đề bạo-quyền bán nước, dâng biển, dâng các hải-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa cho Trung-Cộng cũng như vụ Bauxit ở Tây-Nguyên

Cho nên, lợi thế của công cuộc tranh-đấu chung không lúc nào bằng lúc nầy, vấn-đề cần nói là các tổ-chức, các đảng-phái có cơ-sở trong nước, từ bấy lâu nay đã làm được những gì? Và đã sẳn-sàng chưa?

* V.- Chân-tướng của người cầm súng

Quân-đội Việt-cộng đã được đảng Cộng-sản mua-chuộc bằng cách cho tự-do kinh-doanh, cho nên các cấp chỉ-huy lớn thường được hưởng rất nhiều quyền-lợi qua các cơ-sở quốc-doanh mà họ quản-lý nên buộc họ phải trung-thành với đảng, chỉ lo bảo-vệ đảng chớ không lo bảo-vệ tổ-quốc. Đó là một loại quân-đội ương-hèn nhứt trong lịch-sử của dân-tộc.

Không cần nói đâu xa, để có thể chứng-minh Quân-đội Việt-cộng là một loại quân-đội ương-hèn nhứt trong lịch-sử, người ta có thể so-sánh tinh-thần của những người cầm súng giữa hai miền Nam Bắc ra sao một cách rõ-ràng với những thực-tế hiễn-nhiên mà không cần phải lý-luận dong-dài:

1.- Nhiều Tướng-lãnh và binh-sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa đã chiến-đấu để bảo-vệ đất nước cho đến viên đạn sau cùng và tự-sát ngày 30 tháng 4 năm 1975, để được chết theo vận nước.

Quân-đội Việt-cộng chỉ khoanh tay nhìn khi bọn cầm quyền dâng đất, dâng biển cho ngoại bang và hèn-nhát không có một phản-ứng gì trước thãm-cảnh ngư-dân của mình bị hải-quân Trung-cộng bắn giết bừa-bải trên những vùng biển của đất nước mình.

2.- Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa chống-trả quyết-liệt và chịu chết theo tàu để bảo-vệ hải-đảo Hoàng-Sa năm 1974 khi Trung-cộng đến xăm-lăng.

Hải-quân Việt-cộng không dám lên tiếng khi Trung-cộng ngang-nhiên xăm-lăng toàn-bộ cả Hoàng-Sa lẫn Trường-Sa

Tuy nhiên, chưa chắc gì đảng Cộng-sản có thể dập-tắt được mọi nổi bất-bình trong lòng những người lính của họ, nhứt là những thành-phần chỉ-huy cấp thấp hơn thường ít được đãi-ngộ xứng-đáng cùng với hàng-ngũ bộ-đội vốn chịu nhiều thiệt-thòi và bạc-đãi. Điều nầy cũng cần được những đoàn-thể và những cán-bộ có trách-nhiệm lưu-tâm.

* VI.- Kết-luận

Cuộc tranh-đấu nào cũng vậy, để có thể đạt được mục-tiêu, điều kiện tiên-quyết là phải có chánh-nghĩa và quyết-tâm, nhưng đối với người trong nước, vì vừa tranh-đấu vừa bảo-vệ sự sinh-tồn, nên về hình-thức không thể làm giống như việc làm của tập-thể Người Việt Quốc-Gia ở hải ngoại được. Điều nầy cần phải được nghiên-cứu và phân-tách tường-tận, kỹ-lưỡng từng công việc. Không nên thấy họ làm điều gì không đúng như ý mình thì lớn tiếng nặng lời. Thiết nghĩ làm như vậy chẳng những vô-ích mà nhiều khi còn gây tai-hại cho công việc tranh-đấu chung, dễ-dàng vướng vào bẫy-rập của kẻ thù, vô-tình trở thành những tội-đồ của dân-tộc.

Những nhà tranh-đấu trong nước lúc nào cũng trực-diện với chết-chóc, với tù-tội nên rất gian-khổ và thiếu-thốn đủ mọi bề. Sự dấn-thân của họ là cả một sự hy-sinh to lớn, không ai trong chúng ta xứng-đáng bằng họ.

Tập-thể Người Việt Quốc-Gia ở hải ngoại là một Hậu-Phương an-toàn, có nhiệm-vụ yễm-trợ về trong nước, cho nên cần phải luôn giữ vững thế mạnh và với đội-ngũ của mình trong nước, tin-tưởng rằng, từ nay chúng ta lúc nào cũng sẳn-sàng để đáp-ứng kịp thời khi tình-thế đòi hỏi.



Thanh-Thủy (14/9/2009)

Di Sản “ác chủ ” HCM

Bé gái 8 tuổi bị sát hại trong bụi rậm

Thi thể bé gái nằm trong lùm cây ven đường quốc lộ, đã được người ở xã Tân Thới Nhất, huyện Hóc Môn, TP HCM, phát hiện sáng nay. Có nhiều tình tiết nghi ngờ, hung thủ đã hãm hiếp rồi ra tay sát hại em.

Nạn nhân là bé Nguyễn Thị Khánh Ly (8 tuổi), con của chị Lê Thị Mỹ (hơn 40 tuổi), làm công nhân cho công ty gỗ tại địa bàn huyện Hóc Môn.

Thi thể bé gái được phát hiện trong bụi chuối, dọc trên quốc lộ 22, đoạn qua xã Tận Thới Nhất. Ảnh: An Nhơn.
Thi thể bé gái được phát hiện trong bụi chuối, dọc trên quốc lộ 22, đoạn qua xã Tận Thới Nhất. Ảnh: An Nhơn.

Thi thể bé Ly được phát hiện trong khu vườn của nhà 27/5A, quốc lộ 22, xã Tân Thới Nhất, cách căn nhà trọ nơi hai mẹ con ở khoảng 200 mét. Trên người bé vẫn còn mặc quần áo, nhưng có nhiều dấu vết xâm hại trên cơ thể trước khi hung thủ ra tay sát hại.

Theo tường trình của chị Mỹ, khoảng 22h tối ngày 14/9, khi đi làm về, không thấy cháu Ly ở nhà nên tá hỏa đi tìm nhưng không gặp. Theo chủ nhà Đặng Thị Anh (58 tuổi), cách đó 2 tiếng, bà còn thấy cháu xem tivi nhưng sau đó đi đâu thì không rõ.

Cũng theo chị Mỹ, hai mẹ con lặn lội từ Cà Mau lên thuê nhà của bà Anh hơn một tháng nay với giá 200.000 đồng mỗi tháng. Hàng ngày, chị đi làm từ sáng sớm đến 22 giờ đêm, cháu Ly quanh quẩn ở nhà trọ chăm sóc cháu cho bà chủ nhà, thỉnh thoảng lên chùa gần đó để xin đồ ăn.

Theo nhận xét của bà chủ nhà trọ, cháu Ly rất xinh và ngoan. Trước đó, dù mẹ đi suốt ngày nhưng cháu chỉ ở nhà không đi đâu, nên rất ít tiếp xúc với người lạ.

Hiện, thi thể cháu Ly được cơ quan chức năng đưa đi khám nghiệm để điều tra làm rõ.

An Nhơn

Tôi không cần biết ông Hồ Chí Minh có mấy vợ

Đầu tháng 9, nhân dịp ở trong nước tổ chức rầm rộ các buổi lễ tưởng niệm 40 năm ngày Hồ Chí Minh qua đời, tôi muốn viết một bài về ông, nhưng lại lười, cứ lần khân mãi. Nhưng sau đó, mở báo mạng ra, cứ gặp mãi những bài viết về ông Minh (tôi không thích gọi ông là ông Hồ, nghe nó vô duyên làm sao!) lại đâm bực.
Bực, khi đọc những bài lải nhải khen ngợi ông. Bực cả khi đọc những bài chửi bới ông nữa.
Hầu hết các bài khen tụng hay chửi bới ông Minh đều có điểm giống nhau: Chúng đều tập trung vào đời tư của ông. Lại là những khía cạnh nhí nhách nhất trong đời tư của ông.

Người khen, khen ông biết quan tâm và hy sinh cho người khác. Quan tâm đến đời sống cơ cực của dân chúng: Mỗi bữa, ông ăn ít hơn một chút để dành mớ gạo thừa ấy cho “đồng bào”. Quan tâm đến giấc ngủ của từng người bộ đội: Nửa đêm dậy đi dém mùng cho từng người. Quan tâm đến nỗi khách phụ nữ đến thăm, ông hỏi ngay là có mắc đái không, ông chỉ nhà vệ sinh cho! (Ối giời! Cái cô này nhớ mãi cả đời cũng có lý. Được Chủ tịch nước đẹp trai như ông Minh quan tâm đến mức ấy, ai lại chả nhớ?) (1)

Người chửi, cũng chửi thậm tệ. Theo họ, ông Minh là một kẻ giả dối. Giả dối ở mọi mặt. Tự mình viết sách khen mình… khiêm tốn và tài giỏi rồi ký tên khác (Trần Dân Tiên) rồi bắt dân chúng học tập là một sự giả dối. Gặp chị ruột, bà Nguyễn Thị Thanh, người chị duy nhất còn sống sót sau mấy chục năm xa cách mà vẫn hờ hờ hững hững để giữ tiếng là một sự giả dối. Nhưng giả dối nhất là có vợ rồi, lại là vợ Tàu nữa (Tăng Tuyết Minh), mà cứ giấu biệt. Có bồ (Nông Thị Xuân) cũng giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt. Cuối cùng, bồ bị đàn em hãm hại cũng không dám mở miệng cứu giúp hay can thiệp. Nghĩa là một kẻ vừa giả dối lại vừa tàn nhẫn và hèn hạ.

Thực tình, tôi không quan tâm đến cả những lời khen lẫn những tiếng chê như thế.

Theo tôi, những chuyện ấy, ngay cả khi đúng sự thực, cũng không ảnh hưởng gì đến vị thế của ông Minh với tư cách một chính khách và một lãnh tụ.

Một cái nhìn có tính chuyên nghiệp đòi hỏi chúng ta không được lẫn lộn giữa các phạm trù. Một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi.

Tôi thích dân Mỹ ở chỗ đó. Nhớ, trong thập niên 1990, họ, một mặt, lên án cái tật hay cởi quần bậy của Tổng thống Bill Clinton, nhưng mặt khác, lại ủng hộ các chính sách của ông, các chính sách, theo họ, có lợi cho nước Mỹ. Với họ, hai khía cạnh đời tư và công việc khác hẳn nhau.

Ở Việt Nam, chúng ta cứ hay lẫn lộn mọi thứ. Không phải chỉ với Hồ Chí Minh mà cả với Ngô Đình Diệm hay Bảo Đại trước đó nữa, người ta cũng hay tập trung vào đời tư mà rất ít khi quan tâm đến chính sách của họ, với tư cách là những nguyên thủ của một đất nước.

Trong khi đó, ở cương vị của họ, chính các chính sách mới là những yếu tố đáng bàn, thậm chí, là những yếu tố duy nhất đàng bàn vì chúng có ảnh hưởng đến cả hàng chục, thậm chí, hàng trăm triệu người, có khi từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Ông Minh có nhịn ăn mỗi ngày vài chén cơm thì cũng chỉ nuôi được, may lắm, một con chó; nhưng nếu ông có chính sách kinh tế đúng đắn và hiệu quả thì cả hàng chục triệu người được tha hồ ăn no và ăn ngon.

Ông có hàng tá bồ nhí thì cũng chỉ làm mấy chục người ấy khổ nhưng nếu ông có chính sách về gia đình và phụ nữ đúng đắn và có hiệu quả thì hàng chục triệu phụ nữ tránh được cảnh bị lợi dụng, lạm dụng và bạo hành.

Ông có hỏi hết người này đến người khác có mắc đái mắc ỉa không để ông chỉ nhà vệ sinh cho thì cũng giải quyết được nhu cầu của một số người nhưng nếu ông có chính sách đúng đắn và có hiệu quả về xây dựng cơ sở hạ tầng và văn hoá tiếp dân thì không ở đâu, kể cả ở các văn phòng uỷ ban nhân dân từ trung ương xuống địa phương hay các tụ điểm công cộng, từ nhà ga đến bến xe, từ trường học đến công viên, dân chúng lại phải chịu cảnh nhịn đái nhịn ỉa hay phải chịu đựng mùi hôi thối đến kinh người như họ từng chịu đựng cả trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Một nhà lãnh đạo không cần những cái tốt lặt vặt. Thậm chí có khi cái gọi là tốt lại có hại. Tại Úc, nhiều chính khách bị dân chúng mất tín nhiệm chỉ vì quá tốt bụng. Đứng trước Quốc Hội, nghe báo cáo về sự khốn cùng của người thổ dân, họ khóc; nghe tin thiên tai đâu đó, họ rơm rớm nước mắt. Dân chúng cảm động ư? Vâng, họ cũng cảm động. Nhưng khi được hỏi sự cảm động ấy có ảnh hưởng đến lá phiếu của họ trong các cuộc bầu cử hay không, phần lớn đều lắc đầu quầy quậy: Không. Nhiều người còn cho đó là sự yếu đuối không những không cần thiết mà còn có hại. Người ta chờ đợi ở lãnh tụ một cái đầu lạnh, lúc nào cũng tỉnh táo cân nhắc chuyện lợi hại chứ không cần những người quá dễ xúc động và chỉ biết phản ứng theo tình cảm như thế.

Bởi vậy đánh giá một người làm chính trị, chúng ta chỉ cần tập trung vào chính sách của họ.

Với ông Minh, cũng vậy.

Trước hết, cần phân biệt ở ông Minh có hai khía cạnh: một nhà cách mạng và một nhà lãnh tụ.

( HNPD cắt 2 đoạn. Còn nguyên văn bài viết :
http://www.voanews.com
/vietnamese/2009-09-14-voa18.cfm
)

Với tư cách một lãnh tụ, hơn nữa, lãnh tụ tối cao, vừa là Chủ tịch đảng vừa là Chủ tịch nước, ông Minh có những chính sách đúng và sai, những chính sách có hiệu quả đồng thời cũng có những chính sách hoàn toàn vô hiệu.

Đánh giá những chính sách ấy cần có công phu nghiên cứu và sự công tâm nhất định. Đó là công việc của giới sử học. Đã có nhiều sử gia làm điều đó. Một số người làm rất tốt. Nhưng công việc ấy sẽ còn kéo dài mãi. Nếu lịch sử là những gì luôn luôn được viết lại, việc đánh giá những chính khách lớn như ông Minh sẽ không bao giờ hoàn tất cả. Mỗi thời đại hay mỗi thế hệ, người ta sẽ lại tiếp tục tìm kiếm và đặt lại vấn đề về sự nghiệp của ông.

Trong bài này, tôi chỉ xin góp một ý nhỏ: Nói đến chính sách, cần phân biệt chính sách có tính giai đoạn và chính sách có tính dài hạn.

Trong số các chính sách, chính sách quan trọng và căn bản nhất là chính sách liên quan đến thể chế.

Trong vấn đề thể chế, có hai khía cạnh quan trọng và căn bản nhất: ý thức hệ và cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước.

Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

Cái cơ chế ấy như thế nào?

Thời gian đã đủ dài để người ta nhận ra tất cả các khuyết điểm của nó. Trong đó, khuyết điểm đầu tiên là nó quá cứng nhắc, làm tê liệt hết mọi khả năng sáng tạo của ngay cả những người sáng suốt, nhiệt tình và nhiều quyền thế nhất.

Nghe nói, lúc còn tại chức, Phạm Văn Đồng thường than thở là trên thế giới không có ai làm Thủ tướng lâu như ông, và cũng không có ai làm Thủ tướng mà bất lực như ông.

Lại cũng nghe nói, trong một chuyến công du sang Úc cách đây khoảng trên dưới mười năm, Phan Văn Khải, lúc ấy đang là Thủ tướng, giữa một buổi họp mặt với giới trí thức Việt kiều, kể, đại khái, là: “Nhiều vị lãnh đạo Tây phương cứ hay nói về Việt Nam thế này thế nọ. Nhưng cứ cho họ làm Thủ tướng ở Việt Nam thử xem họ làm sao. Có khi họ làm chưa tới một ngày đã phải chạy làng rồi. Việt Nam mình nó phức tạp lắm chứ đâu đơn giản như họ tưởng. Ở Việt Nam đâu phải là Thủ tướng thì có thể làm được mọi việc!”

Lại cũng nghe nói nữa, vào những năm cuối đời, tuy ông Minh vẫn còn tại vị, nhưng thực quyền thì đã lọt hết vào tay của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Ông muốn làm nhiều chuyện nhưng đành bất lực. Tôi chẳng biết lời đồn ấy thực hư thế nào. Nhưng nếu đúng, ông Minh đã bị chính cái guồng máy ông lập ra ghiền nát; ông đã bị chính đứa con ông sinh ra quay lại ăn thịt ông.

Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

Cái Ác, cái Tham và cái Ngu thì ở đâu cũng có. Không có một lãnh tụ nào có thể loại trừ hay tiêu diệt chúng hết được. Nhưng trong một cơ chế tốt, chúng luôn luôn bị kiềm chế; nếu có bộc lộ, chỉ bộc lộ một cách rụt rè và lén lút; và vì rụt rè và lén lút nên không thể trở thành phổ biến, hơn nữa, lúc nào chúng cũng đối diện với nguy cơ bị phát hiện và trừng phạt.

Trong cái cơ chế chính quyền do ông Minh sáng lập, không có những sự kiềm chế và kiểm soát. Cấp lớn có cái Ác, cái Tham và cái Ngu lớn. Cấp nhỏ thì có cái Ác, cái Tham và cái Ngu nhỏ. Ở đâu chúng cũng nghênh ngang hoành hành được. Dân chúng không những bị bịt miệng mà còn bị bịt cả tai nữa.

Bởi vậy, bất cứ cái Ác, cái Tham và cái Ngu nào ở Việt Nam lâu nay cũng đều có một phần trách nhiệm của ông Minh.

Người ta hay hỏi: Liệu ông Minh có biết những người bị giết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950 không? Có biết những vụ trù dập dã man đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không? Có biết các vụ giết người tập thể ở Huế trong trận Mậu Thân không?

Với tôi, đó là những câu hỏi vớ vẩn. Biết hay không biết, chúng cũng thuộc về trách nhiệm của ông Minh. Biết, ông có tội. Không biết, ông có lỗi. Khi cái lỗi gây thành tội ác: Cái lỗi trở thành cái tội.

Trong bất cứ một hành vi tham nhũng công khai nào, bất cứ một hành động chà đạp nhân quyền và dân chủ nào ở Việt Nam hiện nay, cho dù được thực hiện bởi một tên công an cấp phường, cấp xã, cũng đều có bàn tay ông Minh trong đó.

Ông Minh đã chết lâu rồi nhưng cái cơ chế ông tạo ra vẫn còn đó. Nó còn đó và nó tiếp tục tạo cơ hội và cung cấp phương tiện cho những sự tàn ác, tham lam và ngu xuẩn. Để cho chúng tha hồ hoành hành và tàn phá đất nước, cái đất nước mà ông bỏ gần cả đời để dành lại từ trong tay thực dân Pháp.

Đứng trước cái di sản tệ hại khổng lồ ấy, những chuyện ông còn tân hay có vợ, chuyện ông nhịn ăn để đồng cam cộng khổ với dân chúng hay lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc lá của Mỹ, chuyện ông có nung gạch để tránh cái rét ở Paris lúc còn trẻ hay không… chỉ là những chuyện tầm phào.

Hết sức tầm phào.

Chú thích:

Trong cuốn “
Hồi ký” được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh kể, nguyên văn:

Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hưng Quốc ( VOA )

Bài Xem Nhiều