We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 20 September 2009

Cuộc Chiến Đấu Bi Hùng Của Giáo Xứ Loan Lý Ngày 13+14-09-2009

Sao lại đánh chúng tôi? Sao lại xô đẩy chúng tôi ra khỏi trường của chúng tôi? Chúng tôi là dân lành sao lại đối xử ác độc với chúng tôi? Hãy tôn trọng sự thật! Tự do tôn giáo đâu? Công lý đâu? Những tiếng kêu gào của giáo dân Loan Lý đã vang lên như thế giữa đêm khuya lúc 2g30 và giữa ban ngày lúc 9g sáng hôm 14-09-2009 tại sân trường Tiểu học của Giáo xứ.




Giáo xứ Loan Lý trên bản đồ

Vốn là một giáo xứ ở vùng biển Cửa Tùng (nơi sông Bến Hải chảy về) thuộc cực bắc tỉnh Quảng Trị, Loan Lý đã di cư vào Thừa Thiên sau năm 1954 và được chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm giúp khai khẩn lập làng ở vùng cát trắng hoang sơ Lăng Cô, nằm giữa Biển Đông và đầm An Cư (xin xem bản đồ). Dân số hiện nay vào khoảng 800 người.

Năm 1956, giáo xứ xây một ngôi trường để dạy giáo lý lẫn văn hóa cho con em. Ngôi trường nằm đối diện với nhà thờ, cách nhau bởi quốc lộ 1A, lưng xoay ra phía đầm An Cư, trên một diện tích 40x120 mét, và không có hàng rào bao quanh. Năm 1975, nhà cầm quyền địa phương (theo chính sách giáo dục của Cộng sản) tự tiện trưng dụng nó làm trường tiểu học, dạy các lớp từ 1 đến 5. Hiện có 127 học sinh. Nhưng ngày Chúa nhật, các em Công giáo vào học giáo lý tại các lớp. Rất hài hòa!

Đã nhiều năm nay, giáo xứ làm đơn đòi lại trường để sửa chữa và dùng làm nhà sinh hoạt cộng đồng. Thế nhưng nhà cầm quyền không chịu trả và cũng không cho sửa chữa. Ngược lại, nhà cầm quyền muốn sửa chữa thì Giáo xứ chẳng đồng thuận.

Một tuần trước Chúa nhật 13-09-2009, ngày khai giảng năm học giáo lý niên khóa 2009-2010, Ủy ban nhân dân thị trấn Lăng Cô có mời linh mục quản xứ Phao-lô Ngô Thanh Sơn (mới nhận nhiệm sở được một năm) và các vị trong Hội đồng Giáo xứ đến “làm việc”. Hai bên đồng thuận giữ nề nếp học hành như mấy năm trước. Đùng một cái, thầy cô ra lệnh cho học sinh học ngày Chúa nhật cả sáng lẫn chiều (đang khi thông thường thì cấp 1 nghỉ ngày Thứ bảy và Chúa nhật). Ủy ban lại mời Cha quản xứ và Hội đồng Giáo xứ làm việc tại trụ sở lúc 8g Chúa nhật 13-09 để thông báo lệnh của ban giám hiệu. Đương nhiên cha quản xứ không thể nào chấp nhận. Thế là vào khoảng 11g, giáo xứ nhận văn thư “từ nay cấm dạy và học giáo lý tại trường”. Lúc đó thầy cô đang có mặt đông đủ tại trường cùng với một số học sinh, ngoại trừ các em Công giáo. Vốn chiếm đa số, các em này nhất định không đi học ngày Chúa nhật.


Cha sở và HĐGX khai mạc niên khóa giáo lý từ trên sân nhà thờ


Cha sở khuyên các giáo lý sinh chịu khó học giáo lý tại sân trường


Các giáo lý sinh đang học trong sân trường. Đa số các lớp đều đóng cửa


Sinh hoạt ngay dưới mắt của khoảng 4-5 máy camera của nhà nước


Bốn xe lớn (xe cần cẩu, xe múc đất, xe ben) đã án ngữ cổng trường


Các giáo lý sinh lách mình qua lối đi hẹp để ra về sau 30’ sinh hoạt

Khoảng 13g, bỗng nhiên có 2 xe cần cẩu, 1 xe múc đất và một xe ben (chuyên chở vật liệu) từ đâu chạy đến đậu ngay trước cửa trường. Tiếp theo là một đoàn xe máy của thầy cô và cán bộ UBND thị trấn Lăng Cô khoảng chừng 30 người, trong đó có ông Lê Văn Tình, chủ tịch UB và ông Lộc, hiệu trưởng trường tiểu học thị trấn. Ngoài ra còn có một lực lượng quay phim khá hùng hậu. Con đường quốc lộ 1A ngang qua Giáo xứ bị phong tỏa hai đầu. Xe Nam Bắc chỉ còn có thể đi con đường ven đầm An Cư mà thôi. Giáo dân bắt đầu kéo đến để chờ xem chuyện gì xảy ra đây.

Khoảng 16g, cha Quản xứ (cha sở), Hội đồng Giáo xứ, các giáo lý viên và các giáo lý sinh khai mạc năm học Giáo lý tại sân nhà thờ (nằm trên cao). Sau đó tất cả tiến xuống trường để bắt đầu giờ giáo lý. Cha sở đến gặp thầy hiệu trưởng Lộc, yêu cầu mở các cửa lớp để các em vào học nhưng thầy quyết không mở, lại còn cho người án ngữ trước mỗi lớp. Giáo dân lớn đứng xung quanh đều hết sức phẫn nộ, nhưng vẫn rất tự chế, nhẫn nhục, không xông vào đập phá các ổ khóa hay gạt người của hiệu trưởng. Cha sở truyền lệnh cho sinh hoạt giáo lý ngoài sân trường. Các thiếu nhi vui vẻ và bình tĩnh hát các bài ca giáo lý giữa cặp mắt thán phục lẫn thương cảm của cha mẹ anh chị và dưới ống kính máy quay vidéo của nhà cầm quyền. Một bài hát được lặp đi lặp lại: “Cái nhà là nhà của ta. Công khó ông cha lập ra. Cháu con ta gìn giữ lấy. Muôn năm với nước non nhà”!?!

Sau 30 phút, tức vào khoảng 17g, tất cả các lớp giáo lý giải tán, cha sở cũng vui vẻ giã từ các các thầy cô canh gác trường. Bốn chiếc xe nói trên chuyển động, đứng sát đuôi nhau, che kín hoàn toàn mặt tiền ngôi trường. Tối hôm đó, khoảng 21g, cha Quản xứ âm thầm rời xứ, mọi liên lạc điện thoại với ngài cũng bị cắt đứt. Giáo dân đoán là cha ra Huế để tường trình sự kiện. Thế nhưng tại Tòa GM lúc này chỉ còn cha Thư ký Văn phòng và cha Quản lý Nhà Chung, còn Đức TGM Nguyễn Như Thể đang đi họp ở Đài Loan, Đức GM Phụ tá Lê Văn Hồng đi họp tại Philippin. Cả hai đến 20-09 mới về lại Việt Nam. Chiều ngày 14-09, cha sở mới về lại, cho giáo dân hay rằng mình ra Huế gặp cha Dương Quỳnh, gốc Loan Lý, đang cai quản Giáo xứ chánh tòa Phủ Cam. Còn mọi liên lạc điện thoại với cha (tới tấp đêm 13 rạng ngày 14 và suốt sáng 14) không thực hiện được là vì máy di động của cha bất ngờ hết pin.



Giáo dân phát hiện công an đang dựng một phần hàng rào


Giáo dân xông vào ngăn cản công an dựng hàng rào tiếp


Giáo dân lên tiếng phản đối


Giáo dân giằng co với công an để xô đổ hàng rào


Giáo dân quyết phá đổ hàng rào dựng lên phi pháp


Cổng trường dựng lên cách trêu ngươi, áp đặt và ám muội


Vì Công lý! Hè nhau phá đổ cổng trường chị em ơi!


Chứng tích cuộc chiến thắng của lòng yêu lẽ phải và sự thật


Đập dẹp nó đi là vừa! Quân ăn cướp! Quân vô văn hóa!

Đến 1g ngày 14-09, bỗng có nhiều tiếng động lạ ở trường. Một số giáo dân gần đó thức dậy nhào tới xem. Thì ra có một xe ben chở lưới thép B40, cọc sắt và bảng hiệu “Trường Tiểu học Lăng Cô, cơ sở 2” đến, tiếp đến là nhiều xe con, xe tải chở công an, cán bộ. Đủ bộ sậu đầu lãnh. Có cả viên hiệu trưởng Lộc. Tất cả khoảng 200 người, đầu đội mũ bảo hiểm (để dễ nhận diện nhau), đa số mặc thường phục, một ít mặc áo xanh, áo vàng. Tay ai nấy đều cầm dùi cui chuyên dụng của cảnh sát (phát ánh sáng ban đêm) hoặc đùi tre cán giáo (một loại tre rất cứng vì đặc ruột). Họ bắt đầu dựng cổng, gắn bảng hiệu, rào lưới thép quanh trường. Một giáo dân chạy lên nhà thờ kéo chuông báo động. Nhưng dây chuông đã bị ai cắt mất rồi. Thế là phải gọi cửa các nữ tu ở bên cạnh, vào nhà thờ, leo lên tầng đàn (chỗ ca đoàn hát), bò ra tháp chuông để báo động. Giáo dân lật đật vùng dậy mở cửa. Than ôi, đứng trước mỗi nhà đã có đôi ba dân quân án ngữ. Ngoài đường quốc lộ thì công an áo xanh, áo vàng. Thế là họ đi ngả sau, băng qua độn cát, lách qua bụi bờ, kéo đến nhà thờ. Đa số ăn mặc phong phanh (đêm hè mà!). Tất cả khoảng 400 người, phần lớn là giáo dân nữ, già có trẻ có. Nhờ lực lượng đông đảo, lại thêm lòng mến yêu Công lý và Giáo xứ, họ quyết xông vào tháo dỡ hàng rào, xô ngã cổng bằng hai bàn tay không. Tại sao lại rào trường dựng cổng cách ám muội giữa đêm khuya như thế? Không thể để bọn cướp ngày làm đêm này tự tung tự tác được! Lúc đó vào khoảng 2g40 sáng. Hai bên xô xát nhau dữ dội. Tiếng la hét xé toang màn đêm. Công an dùng dùi cui không đánh vào đầu (tránh bị phác giác) mà chỉ đánh vào tay chân, thọc vào ngực, bụng và hông (trò rất hiểm). Nhiều giáo dân bị thương. Đa số là phụ nữ. Chị Nguyễn Thị Thay bị thương nặng. Cuối cùng, nhễ nhại mồ hôi, bàn tay trầy sướt, giáo dân đã chiến thắng, hàng rào thép bị gỡ bỏ, cổng trường bảng hiệu cũng bị hạ và đập dẹp. Đến 5g sáng thì cán bộ công an đành phải rút lui. Bốn chiếc xe lớn từ chiều hôm trước cũng rời vị trí.
Dưới đây là hình các lãnh đạo công an địa phương điều động việc thực hiện hành vi ám muội và đàn áp tàn bạo khuya hôm đó.


Trung tá CA huyện Phú Lộc: ông Tuấn Xã đội trưởng thị trấn Lăng Cô

Phó Công an Lăng Cô
Nguyễn Tiến Dũng
Trưởng Công an Lăng Cô
Trương Thanh Sơn


Chủ tịch thị trấn Lăng Cô
Lê Văn Tình

Trung tá Công an huyện Phú Lộc:
ông Thiếu

Hiệu trưởng trường cấp I Lăng Cô:
ông Lộc (cầm loa)


Một sĩ quan Công an địa phương

Giáo dân ngồi lại sân trường, canh thức lần chuỗi, hát “Kinh Hòa bình” của thánh Phanxicô, cầu nguyện cho công lý và bình an mãi tới sáng, lòng ray rứt tự hỏi: “Cái thứ chính quyền và cái nền giáo dục nào đây?” Một số giáo dân hào hiệp đã mang bánh mì tới tặng bà con chiến sĩ.

Đến 6g sáng Thứ hai 14-09-2009, nhà cầm quyền CS bắt đầu điều động lực lượng bao vây giáo xứ. Mỗi nhà có ít nhất hai bộ đội canh giữ. Rồi từng nhóm bộ đội gác quốc lộ 1A, đường men theo bờ đầm (bên hông giáo xứ, xem bản đồ vệ tinh) và mọi con hẻm lớn nhỏ trên con đường này. Cả hai con đường đều bị phong tỏa giao thông. Xe Nam-Bắc, ngay từ chân đèo Phú Gia, phải đi vào con đường vòng quanh đầm phía núi (gọi là đường Hói Mít Hói Dừa, xem bản đồ in màu). Công an áo xanh, áo vàng đứng rải khắp nơi, bên cạnh những chiếc xe bảng số xanh. Thanh niên và phụ nữ lạ mặt, khẩu trang che kín, tay cầm dùi cui ngồi thành từng tổ ở đầu giáo xứ (dốc đèo Phù Gia). Công nhân đứng cạnh những xe tải chở đầy đất đá, vật liệu xây dựng. Đến 7g30, tất cả tiến vào trung tâm Giáo xứ, đến tận Nhà thờ và nhà trường. Đầu tiên là 3 xe nhà binh chở đầy cảnh sát cơ động (có chữ CSCĐ sau lưng) khoảng chừng 80 đến 100 người, trang bị lựu đạn cay, dùi cui và khiên mộc trong suốt, có chữ Police. Tiếp đến là xe ủi đất, xe múc đất, xe cần cẩu, xe chở vật liệu xây dựng, xe bồn nước (màu xanh lam), xe vòi rồng (màu đỏ) và đặc biệt một xe là lạ, màu cứt ngựa, trên đó có trang bị một khẩu súng lớn khoảng 100 ly. Người ta cho đó là xe phóng hơi cay. Sau đấy là một đoàn xe chở đầy công an hình sự áo xanh, công an giao thông áo vàng, bộ đội biên phòng áo cứt ngựa, rồi là hàng đoàn người dân lạ mặt (“quần chúng tự phát”). Đấy là chưa kể hơn một chục chuyên viên thu hình, có phận sự quay phim liên tục, cận cảnh, nhằm mục đích tuyên truyền vu khống (đài truyền hình CS ngay tối 14-09 đã làm như vậy) và nhất là để điểm mặt các giáo dân can đảm hầu tiện trả thù trừng phạt về sau. Tổng cộng phải từ 1000 đến 1500 người (đang khi giáo dân đến được hiện trường chỉ vài trăm mạng). Chỉ huy cuộc đàn áp giáo dân và cướp trắng ngôi trường, gồm có:

- Quan chức thị trấn Lăng Cô: chủ tịch Lê Văn Tình, phó chủ tịch Dương Quang Trung, trưởng công an Trương Thanh Sơn, phó công an Nguyễn Tiến Dũng.
- Quan chức huyện Phú Lộc: chủ tịch Cái Vĩnh Tuấn, phó chủ tịch Nguyễn Thanh Hà, trưởng công an Tuấn, phó công an Lê Quang Y.
- Quan chức tỉnh Thừa Thiên-Huế: bí thư tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn (có lẽ có cả chủ tịch UBND Nguyễn Ngọc Thiện và giám đốc sở Công an, thiếu tướng Toàn. Bộ sậu này thường đi chung với nhau).

Sau khi đổ bộ xuống trước nhà thờ, tất cả lực lượng “quần chúng tự phát” tràn vào sân trường, vây lấy đám giáo dân -đa phần là phụ nữ và trẻ em- đang hát thánh ca, cầu nguyện dưới cái nắng càng lúc càng gay gắt. Công an thì tràn nhà dân chung quanh, đuổi hết những khách lạ tò mò cũng như án ngữ đường lên nhà thờ Loan Lý. Riêng đám CSCĐ thì vẫn đứng giữa đường.

Đúng 8g, ông chủ tịch UBND thị trấn Lăng Cô là Lê Văn Tình bắt đầu cầm loa phóng thanh, “yêu cầu bà con giải tán để nhà nước sửa chữa và xây dựng trường học”. Giáo dân không một ai nhúc nhích. Mười phút sau, CSCĐ tiến vào và bắt đầu đẩy giáo dân ra khỏi khu vực.



Giáo dân ngồi ở sân trường, từ lúc 2g khuya 14-09-2009 đến giờ


Giáo dân ngồi ở sân trường gia tăng. Trời cũng càng lúc càng nóng nắng


Các xe cơ giới bắt đầu tiến vào: xe cần cẩu, xe múc đất


Các xe cơ giới bắt đầu tiến vào: xe vòi rồng (để xịt vào đám đông)


Các xe cơ giới bắt đầu tiến vào: xe bồn nước (để trộn cát sạn xi măng)


Các xe cơ giới bắt đầu tiến vào: xe bắn hơi ngạt (có lẽ)



Các lực lượng đàn áp bắt đầu tiến vào: công an áo vàng


Các lực lượng đàn áp bắt đầu tiến vào: lính biên phòng và cán bộ



Các lực lượng đàn áp bắt đầu tiến vào: cảnh sát cơ động


Các lực lượng đàn áp bắt đầu tiến vào: “quần chúng tự phát”


Chủ tịch thị trấn Lê Văn Tình cầm loa kêu gọi giáo dân giải tán


CSCĐ tiến vào đẩy giáo dân ra khỏi sân (trong bóng râm là QC tự phát)


CSCĐ dùng bạo lực đẩy giáo dân qua bên kia đường (QCTP còn lại nơi sân)


Lm Quản hạt (áo đen, mũ trắng) kêu gọi CSCĐ không dùng bạo lực


Lm Quản hạt an ủi giáo dân. Người ta mang tới rào chắn để phong tỏa



Công nhân bắt đầu đào móng xây tường bao quanh trường học


Giáo dân đứng nhìn ngôi trường bị cướp trong bất lực, phẫn nộ, buồn bã

Trước đó một giờ, Linh mục Gioan Nguyễn Đức Tuân, quản xứ Lăng Cô (gần chân đèo Hải Vân), đồng thời là Hạt trưởng Giáo hạt Hải Vân, đã tìm mọi cách đến Loan Lý. Bị công an giao thông cản trở, ngài yêu cầu cho gặp cấp chỉ huy của họ. Ông Lê Văn Tình liền đến và cho biết bây giờ chỉ có huyện mới giải quyết được thôi. Biết là “trò đá bóng”, cha Tuân bèn băng nhà này qua nhà nọ và tới được thánh đường Loan Lý. Ngài vào trường gặp các cán bộ huyện Phú Lộc, yêu cầu họ phải tôn trọng dân chúng, tôn trọng con người, giải quyết hài hòa để chẳng ai bị thương.

Bỗng có tiếng la hét vang bên ngoài sân trường. Cha Tuân liền chạy ra thì thấy cảnh sát cơ động vừa xô đẩy vừa đánh tới tấp tất cả giáo dân có mặt tại sân. Đám này cũng dùng trò hiểm: không vung dùi cui vào đầu vào mặt mà chỉ đánh từ vai trở xuống, cũng như thọc mạnh vào ngực, vào bụng, vào hông… Ngài chạy tới cản trở, liền bị đẩy mạnh cùng giáo dân xuống mặt đường, qua vệ đường bên kia, vào khu vực nhà thờ. Ai té, bị kéo lê đi không thương tiếc. Các chị Hoàng Thị Huệ, Hoàng Thị Thu, Nguyễn Thị Huế, Trương Thị Mỹ Vân, Hoàng Thị Thanh, Tôn Nữ Thị Phượng, Trương Thị Oanh, ông Hoàng Đồng, bà Dương Thị Thân và nhiều chị em khác bị đánh mang thương tích ở chân tay và thân mình.

Các vị trong Hội đồng Giáo xứ như: Hoàng Văn Hiệu, Nguyễn Văn Y, Lê Quang Đoàn, Nguyễn Sĩ, Hoàng Huệ, Phùng Sử, Lê Quang Tình chạy lui chạy tới la khản cả cổ họng: “Hãy dừng tay! Hãy dừng tay!” nhưng chẳng được gì. Hai ông lão Nguyễn Mật, Phùng Ngại cũng chỉ biết than lên: “Chưa từng thấy! Quá tàn bạo!” Hai em Việt, Triển thấy mẹ là Nguyễn Thị Vinh bị đánh, chạy ra cứu, bị công an bắt lên xe chở đi mất tích (không rõ giờ này đã thả chưa).

Sau khi giáo dân đã bị đánh đuổi như con vật, bị xô đẩy ra khỏi sân trường, thì các xe ủi đất, múc đất, xe bồn nước, xe chở xi măng cát sạn và thợ xây tiến vào. Cảnh sát giao thông áo vàng cũng khiêng tới hàng rào sắt sơn trắng đỏ để bảo vệ khu vực. Người ta bắt đầu đào móng, xây tường, trước con mắt vừa thất vọng vừa phẫn nộ của các giáo dân tay không bất lực ngồi bên phía nhà thờ. Quả là trò đàn áp tước đoạt giữa thanh thiên bạch nhật, đúng cung cách bọn cướp ngày mà chỉ chế độ CS mới có.

Đang khi đó, các linh mục Gioan Bosco Dương Quan Niệm (quản xứ Thừa Lưu), Đôminicô Lý Thanh Phong (quản xứ Phú Xuyên) và vài linh mục khác bị chặn từ xa. Linh mục Giuse Hoàng Cẩn (quản xứ Truồi), gốc Loan Lý, và linh mục Bênêđíctô Phạm Tuấn (quản xứ Hói Dừa), đã vào được Giáo xứ Loan Lý nhưng bị bộ đội chận lại, không cho tới nhà thờ. Riêng Linh mục Nguyễn Hữu Giải, quản xứ An Bằng (chỗ xa nhất), đã đến được một nhà giáo dân khá gần nhà thờ lúc 9g30. Cha liền đi công khai ra đường, thì bị bộ đội chận lại, nói là có lệnh giới nghiêm khu vực. Linh mục yêu cầu cho xem bản văn lệnh cấm. Họ cứng họng. Ngài liền đòi gặp cấp chỉ huy. Cuối cùng một sĩ quan bộ đội tới và linh mục yêu cầu ông ta hộ tống ngài đến nhà thờ.

Đến nơi, cha Giải trông thấy một cảnh tượng đau lòng xót ruột. Các ông ngồi buồn bã. Các anh ngồi im lặng. Các bà các chị ngồi tức tối. Thân thể họ đau nhức, đầy vết bầm, đầy vết máu. Họ đã thức từ khuya cho tới giờ này. Họ đã chiến thắng và bây giờ thất trận. Đến trưa, họ vẫn ngồi lỳ, không màng ăn uống. Đang lúc lực lượng của cái “chính quyền do dân, của dân, vì dân” một nửa thì hộc tốc xây dựng bức tường, một nửa thì canh chừng nhân dân, không những tại khu vực nhà trường nhà thờ mà còn khắp cả giáo xứ.

Hôm đó, 14-09, nhiều người Loan Lý ra chợ Nước Ngọt hay chợ Lăng Cô hoặc có việc phải tạm rời giáo xứ, đi thì được nhưng không thể về, thành ra có người đành phải vứt bỏ thức ăn hay hàng hóa trên con lộ. Quân canh gác chỉ biết lạnh lùng theo lệnh, chẳng hề có chút lòng nhân. Có người khi đi dùng xe máy, khi về thì bị tịch thu xe không biên lai, không giấy xác nhận tạm giữ. E rằng mất luôn! Mọi con đường, mọi con hẻm đều có “bạn dân” hay dân quân trấn giữ với bộ mặt đằng đằng sát khí. Lệnh phong tỏa chỉ bị hủy vào cuối ngày 15-09 mà thôi.



Bức tường được quân cướp ngày gấp rút xây dựng


Một số linh mục bạn đến hiệp thông chia buồn ngày 15-09-2009


Mặt hậu (đối diện với nhà thờ) xong trước, quét vôi sạch sẽ


Hình ảnh ngôi trường thân yêu từ nay (nhìn từ trên sân nhà thờ Loan Lý)


Cổng mới của trường (hướng ra đầm An Cư) đang được hoàn thành


Từ trong sân trường nhìn lên Nhà thờ. Biết bao giờ lấy lại?

Tính đến thời điểm này (lúc chúng tôi viết bài tường trình), bức tường bao quanh khu đất tranh chấp (nói cho đúng là ăn cướp) đã được gấp rút xây dựng ngày đêm, nhất là phía đối diện với nhà thờ, để tránh sự chú ý của những người qua đường và đề phòng sự “phản kích” của giáo dân. Nay thì ngôi trường mở cổng ra phía đầm An Cư, xoay lưng với thánh đường. Nếu tính đến đỉnh cột thì “bức tường ô nhục” này (tên gọi mới được giáo dân Loan Lý đặt cho) cao gần 3 mét.

Lực lượng cảnh sát canh giữ khu vực hiện thời còn khoảng gần một chục. Họ mặc thường phục để dễ dàng nhòm ngó, theo dõi những ai qua lại. Tuy nhiên, hằng ngày đội CSCĐ khoảng chừng 30 người vẫn được nhà cầm quyền huy động đến đây để thị uy. Họ ngồi trên xe chuyên dụng chạy quanh khu vực giáo xứ Loan Lý mỗi ngày hai lần nhằm uy hiếp tinh thần giáo dân mà một số vẫn còn khiếp hãi trước những sự việc đời họ chưa bao giờ chứng kiến.
Một số giáo dân cũng cho biết nhà cầm quyền đang bắt đầu thực hiện việc đe dọa và trả thù những giáo dân hăng hái có mặt hôm xảy ra sự việc. Một vài người bị thương trong lúc xảy ra xô xát, va chạm, đã không thể tìm được các cơ sở y tế hoặc các hiệu dược phẩm tại địa phương để mua thuốc hoặc chữa chạy, vì các cơ sở này được lệnh không cấp bán thuốc cho họ. Bên cạnh đó, công việc làm ăn của một số giáo dân cũng bị cản trở hoặc bị gây khó dễ. Một cán bộ đã chỉ thẳng mặt một giáo dân có mặt tại hiện trường hôm xảy ra đụng độ: “Rồi mày sẽ biết tay tao!”. Đặc biệt có một gia đình sở hữu một chiếc xe ôtô làm phương tiện sinh nhai, thì nay chạy đến đâu đều bị cảnh sát ách lại và tìm cớ hoạnh họe phạt tiền đến đấy. Họ đã bị giấy phạt đầu tiên là 3 triệu đồng hôm 16-09.

Cũng xin nhắc lại rằng cách đây hơn 10 năm, tháng 7-1999, nhà cầm quyền Cộng sản đã tính cướp đất của nhà thờ Loan Lý để mở rộng thêm diện tích của khách sạn Hương Giang (mà giáo dân nói là tài sản của bí thư tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn). May thay cha sở lúc đó, Cái Hồng Phượng, và giáo dân đã đoàn kết sống chết bên nhau nên họ đã chiến thắng, nghĩa là đã kịp rào khu vực nhà thờ, khiến Giáo xứ không mất một tấc đất nào cả.

Cũng xin lưu ý thêm rằng: sau khi hầm Hải Vân (là hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á, 6.280m, xuyên qua đèo Hải Vân, nối liền tỉnh Thừa Thiên-Huế với thành phố Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam), được khánh thành vào năm 2005, thì thị trấn Lăng Cô (sát chân đèo và hầm đèo) trở nên hấp dẫn khách du lịch. Đến ngày 6-6-2009, Lăng Cô lại chính thức trở nên thành viên của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới. Lễ trao giấy chứng nhận đã diễn ra tại thành phố Setubal, Bồ Đào Nha, trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ V với chủ đề "Đại dương kết nối chúng ta". Đến sáng ngày 1-8-2009, tại Khu Kinh tế Chân Mây-Lăng Cô lại diễn ra Lễ khởi công xây dựng Dự án Khu du lịch Laguna-Huế tại huyện Phú Lộc. Chính Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự và phát lệnh khởi công dự án lớn này. Kể từ đó (từ 2005), đất đai vùng Lăng Cô trở nên đắt như vàng. Cán bộ CS thi nhau chia chác đất công hoặc ngang nhiên cướp đất tư. Việc này đã bị nhân dân tố cáo qua đơn từ vô số (nhưng vô vọng) cũng như phản ảnh qua nhiều cuộc trả lời phỏng vấn trên đài Chân Trời Mới. Chính vì thế, thay vì bỏ ra một số đất công để xây trường mới cho con em thị trấn, nhà cầm quyền CS đã ngang nhiên cướp trường của Giáo xứ và Giáo hội.

* * *

Kết luận : Việc cưỡng chiếm một tài sản của tư nhân, nhất là của tập thể tôn giáo, dù để làm một công trình công cộng nào đó (như tòa Khâm sứ, linh địa Thái Hà đã bị biến thành công viên…) vẫn là một hành vi bất công, không thể nào biện minh được, vì xâm phạm quyền tư hữu chính đáng và vì chính tài sản đó của tôn giáo cũng nhắm phục vụ cộng đồng. Đấy chỉ thuần là trò ăn cướp của một nhà cầm quyền độc tài, coi mình là sở hữu chủ tối cao mọi đất đai tài sản. Việc chiếm một ngôi trường của tôn giáo để làm một ngôi trường công cộng cũng không thể chấp nhận được và ngoài ra, còn là một hành vi phản giáo dục hoàn toàn. Thật ra, nền giáo dục của chế độ CSVN từ hơn nửa thế kỷ nay có gì là tốt đẹp, có gì là nhân bản, có gì là thành quả đâu!

Phần các giáo dân Giáo xứ Loan Lý, (vốn còn gọi là Luân Lý, nghĩa là lấy đạo làm gốc, làm trọng, sống bác ái công bình), họ chỉ biết sống đời hiền lương từ bao năm nay, đêm nhà không đóng cửa, ngày vườn không hàng rào. Tuy nhiên, họ vẫn quyết bênh vực công lý sự thật. Qua việc bảo vệ tài sản Giáo hội, họ chỉ muốn đấu tranh cho một cái gì rộng lớn hơn: đó là dân chủ nhân quyền, là tự do tôn giáo trước bạo cường cộng sản độc tài toàn trị. Nay thì giáo dân đang mong chờ các lãnh đạo tinh thần cao nhất của Giáo hội tại Huế và tại Việt Nam lên tiếng hiệp thông với họ trong mối ưu tư chung về sự thật và lẽ phải, xứng danh môn đồ của Chúa Kitô!

Kết thúc bài này, chúng tôi xin được ngỏ lời cảm ơn những giáo dân Loan Lý tuyệt vời, đầy đức tin sống động và tấm lòng can đảm. Chính nhờ những chuyện họ kể, hình họ chụp (dưới đôi mắt cú vọ của công an) mà mới có bản tường trình này gởi đến Đồng bào và Thân hữu quốc tế. Xin tất cả tiếp tục thông tin, cầu nguyện và ủng hộ cho những vị anh hùng dân dã chân đất này.

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tường trình từ Huế sáng ngày 19-09-2009

Tết Trung Thu Đốt Đèn Lồng Chơi Trăng

Tính đến nay lể hội đêm Trung Thu đã gần tròn 2000 tuổi nhưng vì là một mỷ tục nên không bị thời gian đào thải, trái lại càng lúc càng được nhiều người ưa thích nhất là giới trẻ. Sự phồn thực làm phát triển nhiều nền công nghiệp có liên quan đến ngày lễ như làm các đầu lân, sư tử, rồng, các đồ chơi của trẻ con bao gồm nhiều kiều đèn lồng, đèn kéo quân và loại đèn tạ treo trong nhà nhưng trên hết vẫn là bánh trung thu. Ngày nay tuy con người thực sự đã đi vào cõi không gian, đổ bộ lên mặt trăng và đang ghé vào hỏa tinh là một hành tinh xa xôi vợi vợi để mong tìm đất sống cho con người trần gian, sắp bị nạn nhân mãn đẩy xuống biển.


Tuy nhiên không phải vì thế mà các câu chuyện diễm tình có tự ngàn đời truyền lại như mối tình Hằng Nga Hậu Nghệ, Chuyện Đường Minh Hoàng lên cõi trăng học vũ khúc Nghê Thường hay Thằng Cuội ngồi ôm gốc đa già khóc cười nhân thế mỗi độ trăng tròn tháng tám hằng năm.
Trung Thu thực chất là thế. Theo âm dương tuần hoàn thì mỗi năm có bốn mùa, tám tiết và tứ kỳ là xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí. Tháng tám giữa mùa thu nên được gọi là tiết trung thu và sau đó được các nhà vua Hán Quang Vũ cùng Đường Huyền Tôn chọn làm Tết chơi trăng. Theo cổ học Đông Phương, trăng thuộc về Thủy trong ngũ hành, vốn là yếu tố then chốt để quyết định nghề nông tang. Cho nên bảo Tết Trung Thu là một mỹ tục cũng không có gì quá đáng, bởi đêm trăng tròn tháng tám, ngoài dịp tốt tạo nguồn cảm hứng cho thi nhân, đem sự vui vẻ náo nhiệt cho trẻ con, trên hết vẫn là mục đích để mọi giới theo dõi vầng trăng to tròn sáng úa mà đoán định tương lai vận mạng quốc gia và tiên liệu công việc làm ăn có dính tới mùa màng, tằm tơ canh cửi. Tất cả các thú chơi trăng như múa rồng, đốt đèn lồng và thưởng thức các loại bánh trong đêm trung thu, không phải từ trên trời rớt xuống mà đều có nguồn gốc, có đi tìm hiểu mới thấy thú vị.
+ Nguồn Gốc


Năm 6 sau tây lịch, Vương Mãng cướp ngôi Hán Tuyên Đế mới 2 tuổi, rồi tự xưng làm vua đổi tên nước là Tân, vơ vét tất cả tài sản của dân chúng thành của riêng mình và tạo cơ hội cho bọn tham quan ô lại, tham nhũng, bốc lột, gây cảnh sinh linh đồ thán, làm cho quốc khố trống rỗng và cả nước thêm khổ đói, hờn hận. Do lòng người ta thán, đã nhất tề hưởng ứng cuộc khởi nghỉa của Lưu Tú, là hậu duệ của Vua Hán Cảnh Đế, để chống lại Vương Mãng và nhà Tân và rốt cục lật đổ được chế độ bạo tàn , khôi phục lại được nhà Hán vào năm 23 sau tây lịch.
Theo sử liệu, trong trận Côn Dương thuộc tỉnh Hà Nam, quân Lưu Tú bị giặc vây khổn trong thành nhiều ngày tình cảnh rất là nguy khốn. Trong lúc lương thảo đã cạn kiệt, ngoài lại không binh cứu viện, khiến cho lòng quân xao động , hoang mang, có thể tan vỡ bất cứ lúc nào. Trước cảnh nguy ngập trùng trùng, đêm đó lại nhằm ngày rằm tháng tám , trăng sáng vằng vặc như ban ngày, Lưu Tú đặt bàn hương án cầu khẩn Phật Trời giúp đỡ.. thỉ bỗng dưng binh sĩ trong thành, tìm thấy khắp nơi nhiều bưởi và khoai môn.. Nhờ đó mà quân sĩ qua khỏi cơn đói, để chờ binh cứu viên.
Năm 25 sau TL, Lưu Tú trùng hưng được xã tắt, dời đô từ Hàm Dương (Cam Túc) về Lạc Dương ( Hà Nam), nên nhà Hán từ đó được gọi là Đông Hán. Cũng năm đó, vào rằm tháng tám, trước cảnh trăng thu soi sáng vằng vặc như bạch ngọc, Lưu Tú tức Vua Hán Quang Vũ, làm lễ tạ ơn Trời Phật nhưng vì muốn nhớ lại những vật đã cứu sống mình và quân sĩ,trong lúc nguy khốn hoạn nạn. Vua đã ban lệnh khắp nước, dùng hai món ' Bưởi ' và ' Khoai Môn' , làm vật cúng thần và thưởng trăng thu .


Do trên, có thể nói Tết Trung Thu đã manh nha từ đó. Ngoài ra đời Hán còn có tục lệ ' Dưỡng lão, kính lão ' vào hai dịp lập thu và trung thu, bằng nghi thức dâng lên bề trên Bánh Bột Gạo Nếp Hấp Hơi. Đến đời Tấn, người trong nước đã có tục hưởng trăng sáng vào đêm trung thu nhưng chưa được phổ biến rộng rải. Ngày nay căn cứ vào sử liệu, thì mãi tới đời Vua Đường Huyền Tông tức Duệ Tông hiêu Văn Minh, phong tục vui Tết Trung Thu, mới chính thức được cả nước công nhận và trở thành một mỹ tục, chẳng những tại Trung Hoa mà còn được phổ biến khắp vùng Đông Nam Á, tại những nước theo tam giáo Nho-Lão-Thích và có Cộng Đồng Người Hoa cư ngụ.
Cũng vào đời Đường, đêm Trung Thu đã trở nên lãng mạn và huyễn hoặc, với những câu chuyện thần thoại rất đáng yêu, thắm đượm nét trữ tình như chuyện Hằng Nga Bôn Nguyệt, Ngọc Thỏ Đảo Dược nhưng được mến chuộng nhiều nhất, vẫn là điển tích ' Dương Quý Phi Biến Nguyệt Thần ' và ' Đường Minh Hoàng Yêu Thỉnh Nguyệt Cung '.


Tiếp theo tới đời Bắc Tống mới chính thức công nhận Tết Trung Thu nhằm đêm Rằm Tháng Tám âm lịch. Ngoài ra các phẩm vật cúng lể, trong đó cả bánh hay quả phải tròn, còn hoa dâng lên cúng Trời Phật, phải có cánh lệch như Hoa Sen.. Tất cả không ngoài, lòng mong ước cảnh đoàn tụ sẽ do trăng mang tới cho nhân sinh.
+ Múa Rồng Mừng Trăng Thu :
Đêm Trung Thu, trẻ con nhà nghèo không có tiền mua dèn lồng hay đồ chơi thì rủ nhau đi xem múa lân, rồng hay sư tử. Trong cuộc vui này nếu các con vật kia, qua quan niêm là mang sự may mắn tới cho mọi người, thì hình ảnh của Ông Địa, với nụ cười toe toét, làm cho lân thêm oai nghi hùng liệt, có tác dụng làm tiêu tan hết những phiền lụy cuộc đời. Cũng chính lý do này, mà người đời đã thờ ông Địa , để cầu mong được hạnh phúc, may mắn.
Riêng rồng là linh vật được nhiều nước trên thế giới sùng bái , nhất là người cổ Trung Hoa. Đối với dân tộc VN, rồng là vật tổ. Người ta tôn rồng là vật linh thiêng , thần kỳ mà nghiêm trang, là chỗ dựa để người đời cầu khẩn, xin phước, bảo đảm mùa màng. Vì vậy trong đêm trung thu, múa rồng được xem như là một nghi thức tôn giáo, một điệu múa dân gian, lưu hành khắp xứ và tồn tại tới ngày nay. Vì mang tính chất truyền thống, nên các tiết mục về múa rồng cũng rất phong phú và đa dạng .
Bên Tàu chỉ tỉnh Triết Giang cũng đã có nhiều hội múa rồng . Điều này cũng dễ hiểu , vì vùng này chính là cội nguồn của Bách Việt, quê hương của những dân tộc sống nơi sông rach, biển sóng, sông hồ. Do trên vật tổ của họ là thần rồng , cá sấu. Bởi vậy, dù nay con vật chỉ làm bằng giấy hay vải nhưng người múa, trong một tâm hồn phóng khoáng, đã làm cho con vật trừu tượng trở nên uy vũ, toát lên cái hào khí sung mãn của một giống dân bách chiến, từng làm cho Hán tộc lao đao nể sợ.
Tóm lại cho dù loại rồng làm bằng thứ gì, vải hay giấy, thì thân rồng cũng phải đan bằng tre, ở suốt phần mình rồng, rồi bọc giấy hay lụa mỏng , phía trên có gắn vảy lấp lánh. Phía trong có gắn đèn, khi múa thắp sáng. Đặc biệt mình rồng có nhiều bộ phận có thể tháo rời , để rút ngắn hay thêm dài, tùy theo vị trí cần thiết khi biểu diễn nhưng không vì thế mà làm cho rồng mất đi cái uy vũ , linh hoạt dưới bóng đèn. Múa rồng dù ở đâu, cũng không ngoài 12 thế căn bản như Bàn Long, Ngưỡng Long, Trảo Dương, Thoát Thủ.. và thuyết diệu nhất , vẫn là Bách Khiếu Long. Trong thế này, con rồng có chiều dài tới 500m, chẳng khác gì một con giao long, nhe nanh múa vút, bay lượn trên tầng trời . Cuối cùng rồng thu gọn thành một tầng hoa sen chín cánh, hiền khô như bóng Phật.
Bên cạnh giúp vui còn có Lân , mà nghề múa cũng thật công phu , chẳng những về kỷ thuật, mà còn pha trộn công phu võ nghệ và nhất là điệu trống lân của VN, biểu hiên một sự kết hợp toàn hảo giữa truyền thống Trung Hoa, ngón chầu VN và tiếng trống Jazz Âu Mỹ.
+ Bánh Trung Thu :
Trong đêm ngóng trăng, người ta uống trà và ăn các loại bánh trung thu. Bánh còn được gọi là bánh trăng hay bánh Hồ vì người Hán đã lấy các nguyên liệu tại đát Hồ để chế biến. Bánh theo từ nguyên đã có từ thời huyền sử Ân-Chu, người dân vùng Giang-Triết dùng để cúng Thái Sư Vân Trọng có đất phong ở miền này.
Khởi thủy bánh làm bằng bột, đường cùng những nhu liệu được sứ thần nhà Hán là Trương Thiên mang về từ Tây Vực như hạt Mè, Hồ đào và hạt dưa hấu. Từ Đường Minh Hoàng, bánh chính thức có mặt trong đêm Trung Thu và được nhà vua ban cho mỹ danh là Bánh Nguyệt.
Nước Tàu xưa nay có rất nhiều nơi sản xuất bánh này, nhưng cũng có thể phân biệt được nhờ những yếu tố chuyên môn như võ và nhưn bánh. Nói chung dù có sản xuất tại Bắc Kinh, Ninh Ba,Thượng Hải, Tô Châu, Quảng Châu, Hồng Kông, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Thái Lan hay Sài Gòn, Chợ Lớn.. thì nguyên tắc làm bánh trung thu vẫn không ra ngoài những nguyên tắc làm võ bánh ( vỏ bột, vỏ bột trộn đường, vỏ bột có pha dầu).


Còn nhưn bánh thì luôn đủ năm thứ thịt khô, trứng, mè, đậu và các loại hạt khác. Tuy nhiên trên thi trường, Bắc Kinh và Thiên Tân chuyên sản xuất bánh chay làm bằng dầu và thực vật. Bánh Quảng Đông chưa ít mở nhưng rất ngọt. Triều Châu đặc biệt về vỏ bánh nhiều lớp mỏng, nhưn rất béo vì quá nhiều dầu. Đặc biệt nhất là bánh Tô Châu có nhiều mùi do các loại hạt làm nhưn bánh, võ thì chế bằng bột mì tẩm dầu đậu phộng. Về hình thức, bánh có ba loại mặt trơn, võ in hoa và bánh Tôn Ngộ Không. Tại VN xưa nay, nghề làm bánh Trung Thu vẩn do người Việt gốc Hoa tại Sài Gòn-Chợ Lớn độc quyền. Bánh làm theo kiểu Quảng Đông và Triều Châu là hai nhóm người Hoa định cư nhiều nhất ở nước ta.
+ Đèn Lồng Trung Thu :
Tại VN, hai thành phố Hội An và Sài Gòn cung cấp đèn lồng cho cả Miền Nam VN trước ngày 30-4-1975, trong dịp tết Trung Thu. Nghề thủ công này do người Việt làm chủ, Phú Bình trước thuộc quận 11 là địa danh nổi tiếng về nghề làm đèn lồng. Đây là một làng của người Việt miền bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Họ đến từ Làng nhuộm Báo Đáp, tỉnh Nam Định. Vào Nam vẫn giữ nghề tổ truyền nhuộm vải, làm giầy dép và lồng đèn Trung Thu.
Sau năm 1975, nghề trên vẫn phát triển bình thường nhưng rồi một biến cố chết người đã đến vào năm 1994, khi VC mở khẩu đón hàng ngoại nhập của Trung Cộng, Đài Loan, Hồng Kông.. trên đất Việt. Từ đó, lồng đèn Trung Thu do người Tàu sản xuất đã đè bẹp lồng đèn Phú Bình VN vì kiểu đèn mới lạ, kỹ thuật cao, dùng pin thay đèn cầy và trên hết là giá rẻ so với lồng đèn nội địa, đã thô kệch lại hay cháy khi ra gió. Đây cũng là chuyện thường của Xã Nghĩa VN như chúng ta hằng biết qua cá tra, hàng may mặc rồi tôm lạnh. Tất cả chỉ nhắm vào lợi trước mắt chứ không bao giờ nghĩ tới cải tiến để làm ăn cạnh tranh, nên dân chúng bị thua thiệt và sập tiệm là cái chắc. Đây là định luất sinh tồn biết đâu mà mò.
Trung thu rồi lại Trung Thu nhưng muôn đời tiếng kêu thảm thiết bán trăng cuả nhà thơ Hàn mặc Tử vẫn vang vọng. Đứng trong trăng sáng mà cứ thắp đèn lồng để tìm bóng trăng soi như Tản Đà đã làm, khiến cho ta càng chơi vơi theo bóng trăng mờ, trăng tỏ. Tết Trung thu biết mượn hồn nào gởi vào thời gian, để cùng với chú Cuội già cười khóc trong lúc trăng tàn ?. Hỡi ơi trăng chỉ một bóng thì làm sao soi đủ muôn phương, nói chi đến nỗi ngậm ngùi man mác của bóng trăng soi, trong cơn lốc vô thường của cõi thế, dù là buổi trăng trong gío mát, cũng chỉ là cõi trống vọng biển dâu muôn trùng .


" có bầu có bạn can chi tũi
cùng gió cùng mây thế mới vui
rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
tựa nhau trông xuống thế gian cười. .
.( thơ Tản Đà "
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 9-2009
HỒ ĐINH

Bài Xem Nhiều