We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 21 September 2009

Lật đổ, Giải thể hay Chuyển thể?

Trong công cuộc đấu tranh giành lại quyền sống và sự sống, người Việt chúng ta cần bình tĩnh, sáng suốt và khôn ngoan để không gây ta thêm đổ vỡ và đau thương. Như vậy, đối với chế độ đương quyền ở Việt Nam, giải pháp nào là thích hợp nhất cho hoàn cảnh của đất nước Việt Nam: Lật đổ, Giải thể hay Chuyển thể?

Lật Đổ. Có thể nói, nếu căn cứ vào các động lực được thúc đẩy bằng sự hận thù và lòng căm phẩn phát xuất từ quá khứ lẫn hiện tại, thì có lẽ hầu hết những người có kinh nghiệm đau thương với đảng CSVN đều muốn lật đổ chế độ độc tài này càng sớm càng tốt. Lật đổ ở đây là triệt hạ toàn bộ nhân sự và cơ cấu thống trị các cấp của chế độ hiện thời.

Giải Thể. Đối với những ai nhận thức được hậu quả của những cuộc thay đổi quyền lực đột ngột trên thế giới thì theo đó, biện pháp dung hoà tương đối an toàn nhất là giải thể. Với sự giải thể này, mọi cơ chế lãnh đạo, điều hành quan trọng ở trung ương và địa phương phải được thay đổi rốt ráo; song sĩ quan trung cấp trở xuống trong quân đội và cán bộ nhà nước mang tính chuyên môn, thừa hành sẽ được chính quyền mới cứu xét lưu nhiệm.

Chuyển Thể. Biện pháp thứ ba là chuyển thể, với sự thay đổi cơ cấu nhân sự lãnh đạo, điều hành từng bước một theo một quy trình cải cách chính trị được các phía đồng thuận qua một giải pháp chính trị. Cơ bản của sự chuyển thể là đảng cầm quyền hiện nay phải chấp nhận đối thoại với các tổ chức đối lập ôn hoà và lắng nghe nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, để thành hình một lộ trình đổi mới chính trị thích hợp với hoàn cảnh xã hội nước ta.

Trước hoạ xâm lăng từ phương Bắc và sự khủng hoảng, đe doạ trong nhiều lãnh vực quan yếu của quốc gia, tâm lý người Việt mong muốn có được sự thay đổi thật sớm sủa, dù là ở hình thức nào. Song để giải quyết những vấn đề của đất nước và dân tộc, người Việt chúng ta cần mạnh dạn bước qua những xúc cảm tồn động từ hậu quả của cuộc chiến ngày nào hay bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay. Cùng lúc đó, chúng ta phải nhận định hiện tình đất nước một cách khách quan để có một thái độ và hướng đấu tranh thích hợp nhất.

Cuộc chiến tranh bom đạn đã chấm dứt từ hơn 30 năm trước nhưng cho đến nay, hậu quả của nó vẫn còn hoành hành thân phận dân tộc ta ở cả trong và ngoài nước. Nước Việt phải có Dân Chủ, Người Việt phải có Tự Do, đó là mục tiêu chúng ta phải đạt cho được bằng mọi cách. Tuy nhiên, chúng ta phải cân nhắc ảnh hưởng và hậu quả có thể có, để không phải đánh đổi dân chủ, tự do bằng máu xương và sự đau khổ của một thành phần dân tộc nào đó. Nói rõ hơn, chúng ta phải thay đổi đất nước như thế nào để không có một thành phần dân tộc nào sẽ phải là nạn nhân của chế độ mới; tránh lập lại lỗi lầm lịch sử như Cộng sản Việt Nam đã đối với quân cán chính VNCH và thân nhân của những người này sau tháng 4/1975. Bài học lịch sử cận đại bằng máu và nước mắt của chính dân tộc ta vẫn còn đó như là một nhắc nhở đầy nghiêm khắc. Và vì vậy, để giải phóng dân tộc, chúng ta chỉ có hai con đường là Chuyển Thể hoặc Giải Thể chế độ Cộng sản đương quyền.

Nhưng sự chuyển thể hay giải thể đó không tự nhiên mà có. Muốn thành hình một giải pháp chính trị để dẫn đến một cuộc chuyển thể, chúng ta cần có đủ sức mạnh áp lực từ mọi phía và mọi lãnh vực. Chỉ khi phải đối đầu với một sức mạnh không thể cưỡng lại được thì thành phần bảo thủ đảng CSVN mới có thể chấp nhận tương nhượng để trao lại quyền lãnh đạo cho toàn dân. Đây là xu hướng ôn hoà nhất song cũng đòi hỏi một thái độ và hành động quyết liệt nhất. Thiếu sức mạnh đó, đề nghị về một giải pháp chính trị sẽ vẫn tiếp tục là những điều thiếu thực tế, bất khả thi. Hơn nữa, hành động quyết liệt đó không thể chỉ là nỗ lực của một số cá nhân những nhà đấu tranh dân chủ đơn lẽ hay của một vài tổ chức có khuynh hướng tiền phong, mà phải là sự đồng tâm hiệp lực của các lực lượng đấu tranh có thực lực ở cả trong và ngoài nước qua một mặt trận chung.

Phương thức giải thể cũng không phải là bất khả thi, nếu như nó được tiến hành bởi các tổ chức có cùng quyết tâm thay đổi cơ chế lãnh đạo độc tài. Yêu cầu quan trọng để dẫn phương thức này đến thành công là phải có sự hậu thuẫn của những người yêu nước tiến bộ trong hàng ngũ đảng viên, cán bộ nhà nước CSVN. Muốn đạt được yêu cầu đó, một chính sách bao dung, hoà đồng và đoàn kết dân tộc không thể thiếu được. Điều quan trọng của sự Giải thể là thay đổi cơ chế và thành phần lãnh đạo, chứ không phải là đập đổ và tiêu diệt những người trong bộ máy cầm quyền hiện nay. Mặt khác, mặt trận dân chủ cũng phải có được sự chuẩn bị hợp lý và đầy đủ về mặt nhân sự để điền khuyết cho bộ máy chính phủ khi thành công. Đồng thời, chính sách lưu dụng cán bộ các ban, ngành chuyên môn phải được dự liệu một cách thực tế và khoa học.

Với thực tế chính trị của đất nước ngày nay, chúng ta không trông đợi gì ở thiện chí của thành phần bảo thủ, tham lam, ích kỷ. Thành phần này chỉ nhượng bộ ở giờ phút sau cùng khi biết chắc là họ không còn có thể nắm được quyền lực nữa. Điều chúng ta phải cố gắng thể hiện và vận động là sự tin tưởng và hợp tác đấu tranh của những người yêu nước tiến bộ trong bộ máy nhà nưóc hiện nay. Muốn hiện thực hoá được đường lối đó, chúng ta cần phải có một chủ trương bao dung, hoà đồng và đoàn kết thật nhân bản để tạo niềm tin và đủ sức mạnh để tạo tính thuyết phục.

Điều quan trọng hơn hết là dù trong bất cứ hàn cảnh nào, chúng ta cũng phải quyết chí thực thi quyền tự quyết của dân tộc, ngăn chận mọi khuynh hướng “cõng rắn cắn gà nhà” hay cố tình gây ra cảnh “nhồi da xáo thịt”.

Nói tóm lại, muốn giải quyết các bế tắc của đất nước, chúng ta vừa phải có một đường lối nhân bản có khả năng mở một lối thoát an toàn và hợp lý cho toàn dân tộc, đồng thời phải có đủ sức mạnh thực tiễn để thực hiện các chủ trương đấu tranh.

Trước bối cảnh đầy thử thách hôm nay, đất nước ta có thể tồn tại và cất cánh được hay không là tuỳ vào lòng yêu nưóc và ý chí đấu tranh của các thế hệ con dân Việt ở cả trong và ngoài nước. Việt Nam sẽ thay đổi chính thể qua con đường bị lật đổ, bị giải thể hay chuyển thể? Câu trả lời không hẳn chỉ là do ý chí của mặt trận đối kháng và đối lập, mà còn tuỳ thuộc nào thái độ của đảng CSVN và thiện chí của những người yêu nước trong bộ máy cầm quyền hiện nay.—


Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)

Đi Ba Đình xem sở thú lạ

Đi Ba Đình xem sở thú lạ

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20090919_04.jpg
Bà con ơi về đây coi
Mười lăm thú vật mang loài cọng nô
Con “đảng trưởng” đẻ chuồng bò
“Chủ đàn”mặt cốt heo lò Chánh Hưng
“Thủ Cà Mâu”mọc bốn sừng
Đàn chim “quốc” hội gật gừng chia phân
Đầu to đít nhỏ nhận phần
Bãi cuối bến, bãi đầu ghềnh tranh nhau
Hít hà quỳ lạy muôn tâu
Quân xâm lăng ị trên đầu “đảng” Nam

Mùng Một cho tới Ngày Rằm
Miếu chùa đình miễu chó nằm canh me
Sư quốc doanh gái ê hề
Đua nhau “học tập” rượu chè đảng ban
“Tư tưởng” Đồng cạn “Hồ” khan
“Đạo đức” đất đỏ ngút ngàn bi thương
Nhà thờ cấm dựng đền chuông
Cấm cầu nguyện Chúa đóng đường vô ra
Chó vàng , ma túy,cần sa
Côn đồ du đảng đánh Cha giết Thầy

Buồn trông ngạ quỷ đông tây
Chư hầu, chủ tớ phanh thây dân nhà
Đất Tây Nguyên, đảo Hoàng sa
Người cầm bút viết yêu nhà Việt Nam
Lệnh minh chủ, sớ Hải Nam
Chó săn nhận “hịch” xuất hầm cắn dân
Xẻ thịt xương níu áo quần
“Bắt gấp” cho chủ yên phần lập “bang”
“Xã hội chủ nghĩa” của chung
Dựng đền Khổng Tử mở đường xuyên sơn

Từ ngày sở thú khai trương
Sáu mươi năm lẻ đoạn trường khúc nôi
Khỉ Pắc Bó chầu Mác rồi
Cọp beo cấu kết đười ươi sổ chuồng
Ngán thay thân phận quê hương
Lâu la “nước lạ” ngập làng, phố tôi
Ba Đình trống giục liên hồi
Rừng vàng biển bạc tế trời Bắc phương
Quạ đen diều đỏ bất lương
Chó mèo thắp đuốc soi đường Hán vô
Một rừng điện ngọc gia nô
Bảy trăm tờ báo bưng bô tán đồng
Cơ đồ mẹ Việt long đong
Bao giờ cọp , rắn về rừng lột da ?

Lê Hải Lăng

Sức nặng của kiến thức

Ðể trả lời bài chỉ trích của hai giáo sư Harvard, Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson, ông Nguyễn Minh Thuyết, đại biểu Việt Cộng nói, “Quần chúng là một dãy số không. Nhưng sức mạnh của dãy số ấy được nhân lên bao nhiêu lần, tùy thuộc vào con số đứng trước các con số đó là bao nhiêu.” Bài chỉ trích của Harvard nhận xét, “Việt Nam không có một trường đại học nào được công nhận là có giá trị; không một trường Việt Nam nào có tên trong bất cứ danh sách nào liệt kê các trường đại học hàng đầu ở châu Á.”

Là phụ tá giám đốc của “Chương trình Việt Nam” --một chương trình của trường John F. Kennedy School of Government nhằm giúp đỡ nhà nước Việt Cộng xây dựng nền đại học-- ông Wilkinson biết rất rõ về tình hình đào tạo trí thức và chuyên viên của nhà nước Việt Cộng.

Bài viết của ông và ông Vallely nêu lên tình trạng tụt hậu khiếp đảm của Việt Cộng, so sánh với những quốc gia cận lân. Ông nói những nước Đông Nam Á khác, đều có thể tự hào, ít nhất về một vài cơ sở đại học nổi tiếng, trong lúc các trường đại học Việt Nam vẫn không hội nhập được vào khối kiến thức quốc tế.


GS. Thomas J. Vallely và GS. Ben Wilkinson

Hai ông này nêu lên một góc cạnh của sinh hoạt kiến thức quốc tế qua việc bài viết của những giáo sư đại học của mỗi nước được đăng trên các tạp chí khoa học trong năm 2007, để hình dung chỗ đứng thấp nhất của trí thức Việt Nam.

Tổng cộng chúng ta có 96 bài viết được phổ biến trên các cơ quan trí thức thế giới, không bằng một nửa Phi Luật Tân, quốc gia đứng gần chót trên bảng so sánh, và không bằng 1/52 Nam Hàn, quốc gia đứng đầu với 5060 bài viết.

Bài viết của một giáo sư được thế giới quan tâm tối thiểu phải có hai điều kiện: một là đề tài lựa chọn phải đủ quan trọng, và hai là tầm mức suy luận phải đủ chính xác, đủ uyên bác. Tôi thèm được đọc 96 bài viết này để tìm chút hãnh diện về phẩm, dù Việt Nam đứng hạng bét về số lượng.

Bài viết chỉ là một trong nhiều tiêu mốc đánh giá tầm mức trí thức của một dân tộc; một tiêu mốc khác, thực tế hơn, là chỉ số sáng tạo

Chỉ trong một năm người Nam Hàn có 102,633 bằng sáng chế trong lúc Việt Nam chúng ta không có một sáng kiến nào xứng đáng để tác giả xin bằng sáng chế giữ độc quyền!

Nhận định của hai giáo sư Harvard cho là tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng giáo dục đại học Việt Nam không thể phóng đại hơn được, vì thực tế đã quá bi đát.

“Chúng tôi tin rằng nếu không có một sự cải cách khẩn cấp và cải cách từ căn bản hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng, Việt Nam sẽ không đáp ứng đúng mức tiềm năng to lớn của mình,” bài nhận định viết.

Câu trả lời của ông Nguyễn Minh Thuyết đúng: ông nói một triệu bạc không đáng gì cả nếu không có con số 1 đứng đầu 6 con số không; đúng vì ông xác nhận là cả 3, 4 ông bình vôi ngồi tại Hà Nội cộng với bộ chính trị của đảng Việt Cộng cũng chỉ là những con số không to tướng, nếu xét về giá trị trí thức.

Mới tuần trước, ông Nguyễn thiện Nhân, bộ truởng giáo dục của Việt Cộng, còn khen tình hình giáo dục có tiến bộ, và nhờ tiến bộ đó ông tự cho phép mình ngủ thêm mỗi ngày một tiếng đồng hồ (điều chính miệng ông ta khoe khoang).

Ðể giải quyết cuộc khủng hoảng giáo dục khiếp đảm này, Harvard viết, “Chúng tôi đi đến kết luận bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới về mặt thể chế như một thành tố cần thiết của một quá trình cải cách hiệu quả.”

Hai giáo sư này không còn đứng ngoài địa hạt chính trị như thái độ dè dặt thường thấy trong giới trí thức nữa. Họ không ra miệng khuyến cáo việc giải thể cộng sản, nhưng họ đặt chúng ta trước sự lựa chọn: hoặc đổi mới thể chế hoặc chấp nhận những trường đại học học đại.

Bên cạnh bài nhận xét về cuộc khủng hoảng đại học tại Việt Nam do Harvard phổ biến, một nhà văn Việt Nam, ông Tạ Duy Anh, nhận xét về cuộc khủng hoảng này trên toàn bộ nền giáo dục tại Việt Nam hiện nay.

So sánh thành quả giáo dục của chế độ cộng sản trong nước và của những chế độ tự do bên ngoài, ông Anh nhận xét về một du sinh, “… tại sao khi học sinh của mình ra nước ngoài, vẫn là em ấy, nhưng khi trở về, tất cả những hành vi đều khác, văn minh hơn hẳn và cái phản ứng trước xã hội cũng khác. Nó vừa tự tin vừa không kiêu ngạo.”

Nó khác những đứa trẻ tàn nhẫn, lạnh lùng mà ông mô tả như thành quả của nền giáo dục hiện nay. Khác chỉ vì được giáo dục cách khác.

Ông Thuyết mượn một câu danh ngôn ngoại quốc để mô tả quần chúng Việt Nam là một đám những con số không, nhưng thật ra những người đứng trong hàng ngũ quần chúng bị ông Thuyết miệt thị, như ông Anh, cô Lê Thị Công Nhân, Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Công Ðịnh, và rất nhiều người khác là những con số từ 1 đến 9. Nếu họ thay bộ tam xên Mạnh-Dũng-Triết để đứng đằng trước con số 100 triệu người Việt Nam, thì sức mạnh trí thức của Việt Nam sẽ từ 100,000,000 đến 900,000,000.

Xuống đi thôi, những con số không đứng đằng trước đang làm dân tộc Việt Nam tụt hậu.

Nguyễn Ðạt Thịnh

CHIẾN DỊCH HOA HỒNG ĐỎ HẢI NGOẠI CỦA CSVN


Lời nói đầu:

Nhiều người Việt miền Bắc di cư năm 1954 đã thuật lại cho dân miền Nam biết về những thủ đoạn thâm độc của CS, nhưng có một số không tin; đặc biệt là vài người trong giới trí thức khoa bản, họ tin vào lòng chân thành của CS để "hoà hợp hoà giải". Khi miền Nam bị rơi vào tay CS thì một số bị vào tù hoặc phải cao bay xa chạy; số còn lại vẫn còn tin nơi "thực tâm hoà giải giữa những người Việt với nhau", chỉ trích chính quyền CS như họ đã từng làm dưới thời "khôngđân-chủ" của Thiê.u-Kỳ. Đối với Đảng, việc nầy không thể tha thứ được; người của Đảng thì được lệnh chỉ trích đảng, nhưng người không thuộc guồng máy tuyên truyền của đảng thì sẽ như cá cắn câu: CS đã từ từ khớp miệng họ lại, đóng cửa các tờ báo như Tin Sáng của tên gian Ngô Công Đức, Tiếng Chuông, Đối Diện của "linh mục thiên tả" Thanh Lãng và nhốt họ vào địa lao. Một thời gian sau khi được thả, họ lại rán nói vài câu trần tình đầy sự bất mãn (như linh mục tiến sĩ Chân Tín,được thả vào 12/5/93 và "cha" Nguyễn Ngọc Lan vào 1992). Sau đó, người ta không còn nghe họ nói gì nữạ Họ là những kẻ đặt lòng yêu nước thương nòi không đúng chỗ (chỉ trích chính phủ Quốc Gia, nhưng lại tin CS) và cuối cùng họ phải gánh hậu quả của việc không có lập trường vững chắc. Họ đinh ninh rằng có thể "cải hóa" CS dựa vào tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Tuy nhiên họ đã bị phản bội vì không hiểu rõ người CS. Họ lầm lẫn vì cứ xem CSVN cũng là người VN thuần túy như họ. Sự thật không phải như vậy vì người CS ở đâu cũng thế; họ là những người của một hệ thống "đại đồng" và "quốc tế"; họ là đệ tử của Lê-nin. Lê-nin đã từng nói trong tập 2 và 3, cuốn VI của Lê-nin toàn tập như sau:
"Đối với kẻ thù (của gia cấp vô sản), khi cần phải hợp tác thì cứ hợp tác"

nhưng

"Người cộng sản không được tỏ ra ngại ngùng trước chuyện phản bội; kẻ nào chống lại sự phản bội tức là anh ta đã theo quan điểm tư sản chứ không phải quan điểm vô sản".

Đi sâu vào trong bài, ta sẽ thấy tại sao khó có thể cải hóa người CS được. Thật sự ngày nay, có lẽ ít có ai dám đi thử xem tư tưởng trên của Lê-nin kia ra sao.

Dân 2 miền Nam Bắc đã từng bị Đảng CS "chơi xỏ", không phải một mà nhiều lần. Một số khoe với các bạn miền Bắc vào sau 1975 rằng họ đâu còn sợ bị lừa nữa khi kinh qua các vụ đổi tiền và đánh tư sản. Nhưng các người nầy nói rằng, các anh đã lầm to, các anh chưa nếm đủ hết các màn xảo trá của CS Hà Nội đâu! Điều nầy có đúng không? Thời gian qua cho ta thấy là câu nói kia của các người miền Bắc rất đúng.

Vì sao người ta bị lừa mà vẫn lao đầu vào "lửa"? Bởi vì các màn lừa lọc đều khác nhau. Không lẽ một số rất ít trong chúng ta ngu muội tới mức độ chưa thấy rõ CS? Khi đã chạy trốn CS., bỏ quê hương, mồ mã tổ tiên, thân nhân và nhà cửa tức là ta đã thấy rõ chế độ đó như thế nào rồi. Đó là một sự lựa chọn có ý thức trong tự dọ Đã quyết định chối bỏ một chế độ để ra đi, tức là đã có thái độ chính trị rõ ràng được bày tỏ. Nay lại quay đầu về cùng với các tay "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản" để hổ trợ chế độ độc tài bằng cách nầy hay cách khác; không có ý chí sắt đá tin vào lý tưởng mình đang theo đuổi. Về vấn đề nầy ta vẫn còn thua xa người CS. Đó phải chăng đây là một thái độ, một lập trường tư tưởng bất chính, phản phúc, phản bội với chính bản thân mình trước, và sau với đồng bào cùng ra đi với mình trên những chiếc thuyền mỏng manh?

Sự phản phúc thấy rõ nhất trong quá khứ là ở một thiểu số trong thành phần được may mắn đi du học nước ngoài trước 1975. Trong khi những người cùng lứa tuổi phải giải gió dầm sương, liều mình bảo vệ hậu phương, bảo vệ gia đình họ để họ an tâm đi học. Những người chiến sĩ kia chỉ mong người có may mắn hơn được học thành tài hầu báo đáp phần nào sự hy sinh kia, thì lại phản trắc và lưu manh, không biết đâu là chánh nghĩa, chạy đuôi theo bọn "bồ câu đỏ" tố khổ lại "đám cực đoan vàng" -- các người đang bảo vệ gia đình của min`h ở quê nhà. Rồi, theo sự ru ngũ của VC, đám "một dạ hai lònh" nầy đã nghe lịnh từ quan thầy CS, len lỏi vào trong các cơ quan quốc tế và nằm chờ cơ hội. Nay, chính những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản" đó lại chài người nhẹ dạ, chưa bao giờ biết CS là gì, để giúp CS.

Các kinh nghiệm từ xưa tới nay đốc thúc ta nhớ kỷ là nên có một lập trường dứt khoát; lập trường này không bao giờ sai lầm và không có gì lay chuyển nổi: không giúp CS bành trướng. Dù là CS Tàu hay CSVN, họ đều tàn bạo, xảo quyệt và khát máu; đặc biệt là CSVN, họ có thể được xem là tên đứng đầu trong thành tích xảo trá và hay bắt chước đàn anh nhất trong các nước CS trên thế giới xưa và naỵ Họ biết lúc nào đứng lên cũng như biết lúc nào nằm mẹp xuống. Họ vẫn không ngừng dòm ngó và suy xét làm sao chủ nghĩa kia được sinh tồn để lấn át đi những gì mà dân tộc ta xây đắp qua mấy ngàn năm đầy máu và nước mắt.

Chuyện gì đã xãy ra mấy năm trước đây chắc bây giờ không còn ai nhớ nữạ "Ôn cố nhi tri tân" vẫn là phương thế soi rọi cho người sau biết rõ mình đang làm gì, lợi và hại ra saỏ Bài "CHIẾN DỊCH HOA HỒNG ĐỎ HẢI NGOẠI CỦA CSVN" được đăng lên với mục đích đó. Số người bị vướn vào chủ nghĩa CS qua muôn tình huống thì rất nhiềụ Bọn họ có thể là triết gia, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, họa sĩ, sinh viên, nông nhân, thợ thuyền,... Đa số nghe theo lời dụ dỗ của CS qua công tác gọi là TRÍ VẬN (công tác lừa dối quần chúng). Bọn họ cũng có thể là "vài" kinh tài cho VC; nhiều người trung gian chuyển tiền nầy được kết nạp kín đáo vào Hội Việt Kiều Yêu Nước với giấy chứng nhận, giấy giới thiệu của giới chức VC ở hải ngoại cấp cho để khi về VN được giúp đỡ dễ dàng. Từ chỗ ham lợi vào Hội Việt Kiều Yêu Nước để buôn bán với VC, vừa có lợi tiền bạc, lại được sự nâng đỡ của các đồng chí khi về thăm quê hương, đi tham quan,...Rồi từ đó tính đến chuyện móc nối tuyên truyền, dụ giỗ gia nhập Đảng, làm cán bộ nằm vùng ở hải ngoại, chỉ khoảng cách...một gang tay! Những người này được CS nhận định và lợi dụng như thế nào, ta sẽ tìm hiểu qua bài "Chiến dịch...".

Điều đáng để ý nhất là một số người bị chài mà xưa kia chính gia đình họ hay chính bản thân họ đã bị CS tù đàỵ Những người nầy đã được CS giảng giải về "lòng yêu nước kiểu CS" hay nhận vài sự thi ân liền quay về làm việc cho CS (quay về với "dân tộc" là quay về với đảng). Một trong những thí dụ nầy là trưòng hợp của Hà Văn Lâu.

Cán bộ CS được đào luyện về chính trị (nhồi sọ) và lòng hận thù giai cấp liên tục từ khi còn ở nhà trường, và cứ như thế, ngày nầy qua tháng nọ, họ trở thành những kẻ xảo quyệt, chuyên dùng mưu mô để làm sao có lợi cho Đảng. Với sự chuẩn bị như thế và với lối suy nghĩ một chiều, họ sẵn sàng hy sinh mù quán cho "lý tưởng CS" dù có đi ngược với quyền lợi của quần chúng. Họ phải làm đủ cách để con mồi vào rọ, nhất là những con mồi chưa bao giờ sống trong thế giới của họ.

Ta tự đặt thêm câu hỏi tại sao CS lại có thể lừa được quá nhiều người, không phải một lần mà rất nhiều lần? Câu trả lời có thể là CS là những tay tuyên truyền và nói dối chuyên nghiệp; họ đặc biệt giỏi ở chỗ khơi dậy lòng yêu nước của người khác để lợi du.ng. Từ VN, họ đã gởi nhân viên đi khắp nơi và, chỉ trong một khoảng thời gian, họ đã gôm tụ được một số "cảm tình viên gốc...ngụy, nhứt là giới trẻ non nớt và tự phụ", không vững ý chí và sáng suốt. Những người nầy, đã được giới thiệu đọc những sách phản chiến, được "sinh hoạt" , "giúp đỡ", "bồi dưỡng" và kết cuộc họ đã làm việc không công cho CS.


Linh mục quốc doanh Huỳnh Công Minh.

Một phương pháp đáng để ý khác nữa là "dùng gậy ông đập lưng ông". Phương pháp nầy dược chính thức áp dụng bởi CS. Gần đây và rõ ràng nhất là vụ CS dùng nó để các người theo đạo Phật tố lẫn nhau. Sư và ni cô "quốc doanh", phối hợp với sư và ni cô "công an" bắt đầu đè bẹp những người cùng theo một lý tưởng tôn giáo với mình. Bên công giáo cũng thế, xuyên qua cánh tay của Đảng, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (the Vietnam Fatherland Front) đã dùng linh mục quốc doanh Huỳnh Công Minh để chờ tiếm quyền của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (vì vậy CS không muốn Vatican tấn phong một vị khác) hoặc tên linh mục "có vợ" Phan Khắc Từ nổi tiếng "linh mục hốt rác" trước 1975 ngày xưa để dò xét sinh hoạt công giáo cho Đảng ở Saigon.

Ta hãy đọc kỹ một trong những cách chài người của CS để đừng bao giờ khinh thường họ cả. Ngoài ra, hãy để ý tới vài nhóm phản chiến được gài trong "religious groups"; chính những nhóm nầy đã hổ trợ cho VC xâm chiếm miền Nam và gây bao đổ vỡ tan thương cho bao gia đình .

Chúng ta sẽ thấy trong tương lai những hiện tượng xảy ra y như những gì mà người ta đã biết về người CS khi họ dùng các phương pháp nầy để hại bao thế hê đi trước. Thực vậy, ở mỗi thế hệ, một số người đã bị sa vào lưới trong đó chỉ có rất ít, cả già lẫn trẻ, được may mắn thoát khỏi chủ thuyết mà thôị Cứ như thế bánh xe trớ trêu của con tạo cứ xoay dần và nghiền nát những kẻ ít may mắn đó.
Ngạn ngữ Mông Cổ có câu:
"Không phải tất cả những người cười với anh đều là bạn, cũng như không phải tất cả những người làm anh bực mình đều là kẻ thù".

Cho tới 1988, Hà Nội thường không ngớt gọi tập thể người Việt tỵ nạn chính trị tại hải ngoại là những phần tử "gian manh, lười biếng", không chịu ở lại "xây dựng đất nước" mà chạy theo "bơ thừa, sữa cặn của đế quốc". Một mặt, CS gây biết bao hãi hùng cho dân và làm họ phải bỏ chạy, còn mặt khác thì đánh tiếng cho người Tây phương biết là đám người Việt kia chỉ là những kẻ "hèn nhát và ăn bám" để người ngoại quốc không cho họ có chỗ dung thân: CS đã đưa họ vào thế lưỡng đầu thọ đi.ch. Sau đó, CS lại nói khác: người Việt tị nạn cũng là "những Việt kiều yêu nước" nếu họ đem tiền về giúp kẻ đuổi họ đi hoặc hãy hợp tác với họ Một vài Việt gian đã làm được việc này: gần đây ở Little Saigon, Phạm Đăng Long Cơ (bác sĩ) và Dean Lâm -- anh của Tony Lâm (Lâm Quang, người bán bún ốc mười mấy năm được bầu làm nghị viên thành phố Westminster, Orange County, California; thời hạn 2 năm) -- đã đưa Lê Văn Bằng (đại sứ VC tại Liên Hiệp Quốc) và 2 tướng VC dạo chơi và ăn uống thoải mái, rồi cùng thăm viếng những cơ sở làm ăn của người Việt ở Wesminster.

Từ tái sang phải: Luật sư Nguyễn Hoàng Dũng, BS Phạm Đặng Long Cơ (Chủ Tịch Phòng Thương Mãi O.C.), Đại Sứ M.Michalak, Tony Thuy Le (Tổng Giám Đốc Le’s Enterprises) và Tô Kiều Phương (Chủ nhiệm Đông Phương Thời Báo, chủ hệ thống công ty Đông Phương, Inc).



Peter Slipper (trái), Chủ tịch nhóm nghị sĩ hữu nghị Úc -Việt và việt gian Cộng Sản Thứ trưởng Lê Văn Bàng (thứ 2 từ trái qua) đang trò chuyện với ông Nguyễn Công Khế (bìa phải),

Khi nhìn lại quá khứ, chúng ta mới hiểu rõ người CS thật giỏi tài nói lươn lẹo; họ ỷ "có đất và dân" nắm trong tay nên dằn dặt cho đám "phản tặc" biết tay.

Thật vậy, khi vầy khi khác có chi lạ và đó cũng là một trong các thói quen của CS: họ chỉ hợp tác, hữu nghị, khi lâm vào thế cần sự giúp đỡ và xuôi chiều để tồn tạị Xưa kia trong thời chiến tranh với Pháp, Hồ Chí Minh có nói câu:

"Khi cần thì cờ tam tài (cờ của Pháp) cũng treo".

Câu này suy rộng ra là khi Đảng đang ở thế nguy hiểm thì nếu cần bán nước cho Pháp, qui lụy cho Nga - Tàu, bắt tay lại với "đế quốc" Mỹ thì không sao, miễn là Đảng được vững và tồn tạị Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh mà CSVN hiện đang giữ gìn, nghiên cứu và áp dụng. Nhưng có một điều là "tư tưởng" nầy có khác gì các câu nói của Lê-nin ở trên?
Vào khoảng đầu năm 1988, một tờ nhật báo ở Pháp mang tên Paris Soir có đề cập đến một tổ chức hoạt động KINH TÀI và PHÁ RỐI của CSVN tại các quốc gia hải ngoại -- nơi có nhiều người VN tỵ nạn -- và được mệnh danh là "Hoa Hồng Đỏ". Ngoài ra chiến dịch này còn mang một cái tên khác là chiến dịch "Mạng Nhện". Có 2 cán bộ CS đặc trách chỉ huy và vận động cho chiến dịch trên là Huỳnh Trung Đồng và Lê Quang Sơn. Trước đây tổ chức này đã có cơ quan truyền thông chính thức là các tờ báo Cái Đình Làng, Thái Bình, Việt Kiều Yêu Nước, Hồn Nước và những tờ báo thân hữu của họ là Mằm Non, Thanh Niên Hành Động,...Mục đích là tuyên truyền cho CS nhắm vào 2 chủ điểm sau:

1. Kinh tài: CS cho xây dựng các cơ sở kinh tài hải ngoại (một số đã thực sự hoạt động liên tục kể từ 1976), trong dịch vụ buôn bán, gửi quà, tiền và vật dụng về VN, kể cả các dịch vụ đưa người vượt biên, xin thủ tục ODP (Operation Departure Program). Họ cũng liên hệ đến các tổ chức lo các chuyến về thăm VN.

2. Chánh trị: Nhằm phá rối cộng đồng tỵ nạn, gây xáo trộn mọi sinh hoạt cộng đồng, nhất là sinh hoạt chính trị.
Sau đây là một bài báo của Hoàng Văn Trác trên "Ngày nay", số 160, 1/6/1988 nói kỹ hơn về vấn đề nàỵ Sống trong những thể chế dân chủ, chúng ta có quyền tin hay không tin vào bài nầỵ Tuy nhiên, đây cũng là một tài liệu để ta suy ngẫm.


Hà Văn Lâu cùng phu nhân.

Sau khi thi hành bản án tử hình ĐINH BÁ THI tại Phan Thiết, Bộ Chính trị đảng CSVN tại Hà Nội đưa tên đại tá có nhiều kinh nghiệm về tình báo và khuynh đảo là HÀ VĂN LÂU, sang nắm trọn guồng máy tình báo nước ngoài tại Liên-Hiê.p-Quốc. Đi theo phụ tá cho Hà Văn Lâu là Nguyễn Ngọc Dung, nữ Trung tá, nguyên chỉ huy trưởng tình báo và phản gián quân khu 7 của Trung tướng CS Trần Văn Trà.

Mới đây, Hà Văn Lâu còn được tăng cường thêm một tình báo cỡ gộc nữa, đó là Phạm Ngọc Ân.

Bộ máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu được đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Chính trị tại Hà Nội, thay vì thuộc bộ ngoại giao của họ.

Không cần phải dầy công tìm hiểu, mà chỉ cần căn cứ vào yếu tố trực thuộc Đảng, người ta cũng có thể lượng định được vai trò quan trọng mà Trung Ương Chính Trị Bộ tại Hà Nội sắp đặt cho bộ máy nầy, nhằm cũng cố địa vị của họ đối với thế giới bên ngoài và triệt hạ đối thủ là khối hơn một triệu người Việt tị nạn khắp thế giới, đặc biệt tại Mỹ. Vẫn biết rằng, đối với CS, thì Nhà nước với Đảng là một. Nhưng khi một cơ quan được đặt trực tiếp với Đảng (tức Trung ương Chính trị bộ), có nghĩa là chủ trương, đường lối, nội dung kế hoạch của cơ quan đó sẽ cứng rắn hơn, sắt máu hơn, và vì thế phải được giao cho những cán bộ từng chứng tỏ "Trung với Đảng, hiếu với dân". Đảng lại có kỹ luật của Đảng, để một khi đi ra ngoài vòng kỹ luật đó, thì chỉ có lãnh mã tấu như Đinh Bá Thi, Trung tướng Nguyễn Bình đã lãnh.

Cho nên, việc Bộ Chính trị Hà Nội đặt guồng máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu trực thuộc Đảng, cho ta một nhận xét rất rõ ràng, về tầm mức quan trọng của họ nhằm vào hàng ngũ tị nạn chúng tạ Kế hoạch của họ được thực hiện từng bước, mỗi bước gọi là một cánh hồng. Trong bài nầy, ta hãy lượt qua những bước chính họ đã đi; đó là bốn bước căn bản, được gọi là Cánh Hồng 1,2,3 và 4.


A.- Cánh hồng 1: Kết hợp

Đinh Bá Thi, người CS có công nhất trong việc dành chiếc ghế đại diện cho CSVN tại Liên-Hiê.p-Quốc, và cũng là đại diện dầu tiên của CSVN tại diễn đàn quốc tế nầy, bị cơ quan phản gián FBI Mỹ bắt vào trưa ngày 31/1/1978 cùng với tên tay sai người Mỹ là Donald L. Humphrey (có vợ Việt) và TRƯƠNG ĐÌNH HÙNG (con trai luật sư Trương Đình Dzu), khi cả ba bị bắt quả tang đang ăn cắp tài liệu mật của Mỹ và bị Hà Nội giết tại Phan Thiết.
Khi Đinh Bá Thi chết, thì hệ thống tình báo và khuynh đảo của Hà Nội trong kế hoạch "Hoa Hồng Đỏ" đã thực hiện được bước đầu trong bốn bước của toàn bộ kế hoa.ch. Bước đầu nầy là bước "Kêt Hợp" (Cánh hồng 1).
Cánh hồng 1 đã được Đinh Bá Thi và nhóm sinh viên Việt Nam du học do sinh viên Nguyễn Thái Bình là đầu (Nguyễn Thái Bình bị CIA bắn chết trên không phận biển Nam Hải khi tên nầy trở về VN năm 1969, một tên sinh viên khác lên thay Bình dường như là Ngô Bá Long), có nhiệm vụ kết hợp các cán bộ CS rải rác khắp nước Mỹ, mà vì lý do chính trị, họ đã phải phân tán và thu vào trong bóng tốị Ta còn nhớ những năm 1976-1978, hầu hết mọi gia đình VN tại Mỹ đều nhận được tờ báo THÁI BÌNH (là tên của sinh viên Nguyễn Thái Bình). Tờ Thái Bình được phát hành, vừa có mục đích tuyên truyền, vừa để kết hợp cán bộ qua đường giây PO Box.

Cũng như năm 1956, khi Hà Nội bắt đầu kế hoạch tập trung cán bộ nằm vùng khắp Nam VN, họ đã dùng nhiều hình thức, nhưng dấu hiệu rõ ràng nhất, mà chính quyền VNCH lúc đó không để ý, là cuốn phim "Mưa Rừng", do cán bộ CS nằm vùng Kim Chung thực hiện. Nội dung cuốn phim là một chuyện tình, như nội dung của bất cứ cuốn phim thường nào khác. Nhưng hình ảnh cuối cùng được chiếu trên màn bạc, là hình một đóa hoa hồng đỏ tươi, với một con bướm vàng bay lượn nhiều vòng, và cuối cùng đậu lại ngay giữa bông hồng. Màu đỏ của hoa hồng tượng trưng cho nền cờ đỏ. Còn bướm vàng tượng trưng cho ngôi sao vàng. Hình ảnh cuối cùng của cuốn phim nầy, là một lệnh tập trung cho cán bộ nằm vùng toàn quốc. Tờ Thái Bình sau đó thấy mất tăm, nhưng để thay thế, CS cho ra đời tờ CÁI ĐÌNH LÀNG, nhưng tờ nầy cũng thấy ngưng, sau khi người đứng đầu là Dương Trọng Lâm bị bắn chết.

Ngoài việc kết hợp cán bộ CSVN mà CS đã có sẵn, Đinh Bá Thi tìm đến những tay Mỹ phản chiến thứ nặng nhất, để phối hợp và yểm trợ, trong số nầy, hai người CS đáng tin tưởng hơn cả là Don Luce (tên ký giả đã tạo ra huyền thoại chuồng cọp Côn Sơn) và Jane Fonda đã dõng dạc đứng chửi Mỹ ngay tại Hà Nội:
"Nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình khắp thế giới, hãy vùng lên, cùng với nhân dân yêu chuộng hoà bình tại VN, xây dựng một nền Hoà Bình trên phần đất nầỵ" (báo Nhân Dân, số 1485, ngày 28/4/1964).

Ngoài 2 người Mỹ nầy, CS làm danh sách những tay phản chiến mà họ tin tưởng vẫn còn ủng hộ họ, sau khi đã trực tiếp giúp họ qua chiến thắng 75. Trong số những người và tổ chức được Đinh Bá Thi kết hợp lại, đầu tiên phải nói đến hai hội đạo METHODIST và QUAKER, là hai hội đạo cực kỳ phản chiến đã từng đứng đầu tổ chức cuộc biểu tình lớn lao tại Central Park, Nữu Ước ngày 27/4/64, cuộc biểu tình nầy được mệnh danh là "Diễn hành chống chết" (March against Death). Những Coretta King (vợ muc sư King), Kennedy, McGovern cũng được bọn CSVN tiếp xúc và kết hợp.

Một thành phần khác cũng được lệnh kết hợp, là số cán bộ CS được Hà Nội gởi sang Mỹ qua ngã các đoàn vượt biên. Ta còn nhớ, mấy năm trước đây, những bộ mặt từng tung hô CS và hợp tác với họ trong cuộc chiến, như TRẦN NGỌC CHÂU, HOÀNG NGỌC GIÀU là những người ta không nghi ngờ gì cả, đã được Hà nội gởi sang đây để tiếp tục hoạt động cho ho.. Hàng trăm cán bộ khác không được nêu tên tuổi, nhưng cơ quan phản gián FBI đều biết rõ tung tích của ho.

Móc nối lại những thành phần từng hoạt động cho họ Liên lạc với những thành phần mới xâm nhập qua đường giây tị nạn. Củng cố thêm thành phần phản chiến cũ, CSVN coi như đã hoàn tất giai đoạn "Kết Hợp" tức "Cánh Hồng 1". Bước thực hiện kết hợp nầy, CSVN đặt ra như một bước căn bản, như tài liệu học tập của họ đã ghi:
"Thông suốt đường lối Đảng, nắm vững chỉ tiêu Cách Mạng, kết hợp nhịp nhàng giữa bạn và ta, bước 1 tiến vững vàng, để ta bước qua bước tiến 2 (Học tập số 2, 6/76).
Posted by Nam Tào at 1:53 PM 0 comments

HOAN HÔ !
TƯỚNG VANG PAO ĐƯỢC MIỄN TỐ.

Tất cả các “tội trạng” bị cáo buộc đối với ông Vang Pao và 12 người khác thuộc cộng đồng người Hmong ở Mỹ đều được “miễn tố”.

Ảnh : AFP
Công tố viện Sacramento không truy tố Vang Pao và 12 người khác thuộc cộng đồng người Hmong ở Mỹ. Ông Vang Pao đã bị bắt tại California vì bị coi là có tham gia vào một âm mưu lật đổ chính phủ Lào bằng vũ lực.
Ngành tư pháp California hôm qua (18/9) đã quyết định miễn tố cựu tướng người Hmong Vang Pao.
Phát ngôn viên Công tố viện ở Sacramento cho hãng tin AFP biết là họ quyết định không truy tố Vang Pao và 12 người khác thuộc cộng đồng người Hmong ở Hoa Kỳ.
Vang Pao nguyên là một tuớng lãnh trong quân đội hoàng gia Lào, di tản sang Mỹ năm 1975 và hiện là một trong những nhân vật hàng đầu của cộng đồng người Hmong tại Hoa Kỳ. Ông đã bị bắt tại California vào tháng 6 năm 2007 vì bị coi là có tham gia vào một âm mưu lật đổ chính phủ Lào bằng vũ lực.
Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhiều người Hmong đã chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ chống lực lượng Cộng sản và khoảng vài ngàn người Hmong hiện vẫn còn sống trong rừng rậm. Các tổ chức nhân quyền thường xuyên tố cáo chính quyền Lào truy bức những người Hmong này.
RFI
http://vi.wikipedia .org/wiki/ V%C3%A0ng_ Pao
Tướng Vàng Pao sinh năm 1931 tại Xiêng Khoảng là một người H'mong, nguyên là tướng của Quân đội Hoàng gia Lào là người Hmong đầu tiên ở Lào được phong tướng. Tham gia du kích chống Nhật, tham gia quân đội Pháp rồi vào quân đội Hoàng Gia Lào năm 1964. Ông lên làm vua Mèo từ năm 1944 Ông được CIA nâng đỡ để chỉ huy Quân khu II ở miền bắc nước Lào chống lại cộng sản Lào và sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt trong chiến dịch mang tên Cuộc chiến bí mật.Sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam, với nhiều năm chiến đấu chống quân cộng sản ở rừng núi Đông Dương với sự trợ giúp của chính CIA. Ông di tản sang Thái Lan rồi sang Mỹ tị nạn sau 1975. Hiện tại ông đang sống ở California và là người lãnh đạo cộng đồng H'mong tại Mỹ. Năm 2001 ông tuyên bố từ bỏ đấu tranh vũ lực ra cho ra một tuyên ngôn Hòa bình. Ngày 4 tháng 6 năm 2007, ông lúc đó đã 77 tuổi bị bắt giữ cùng với 7 người khác với cáo buộc đứng đầu âm mưu lật đổ Chính phủ Lào. Ông bị truy tố theo Đạo luật Trung Lập của Hoa Kỳ (Neutrality Act). Ngoài ra ông còn bị truy tố về tội âm mưu nhận và sở hữu các súng tự động và các thiết bị chất nổ.

Nhớ về người Tư Lệnh cũ Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Tập tin:Nguyễn Văn Thiệu.jpgTrong các đơn vị thuộc vùng 3 Chiến thuật, Sư đoàn 5 Bộ binh là đại đơn vị trấn nhậm một trọng điểm có tầm sinh tử đối với thủ đô Sài Gòn nhất. Do đó, các cuộc binh biến không thể thiếu sự đóng góp của Sư đoàn 5 BB. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu nhờ vào chức vụ Tư lệnh SĐ5BB mà đã được mời tham gia vào cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.
Từ các căn cứ ở Bình Dương, chỉ cách Sài Gòn không đầy 30 ki lô mét, các đơn vị mang số 5 đỏ giữa ngôi sao trắng đã được nhanh chóng điều động về thủ đô chiếm cứ các cơ quan trọng yếu của chế độ. Trong tấm ảnh chụp chung của các Tướng lãnh tham gia đảo chính, Đại Tá Thiệu lúc đó còn ngồi một cách khiêm tốn ở hàng sau giữa những ông tướng có vẻ hùng hổ, tự đắc. Khuôn mặt ông Thiệu ngày đó còn gầy guộc, nhưng đã thấy trong đôi mắt nét sắc sảo, hứa hẹn một bước tiến chính trị rộng mở trong tương lai.

Là một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi trong đội quân cả triệu người, thì hiểu biết được bao nhiêu mà dám viết về một Tổng thống, một Tổng Tư Lệnh Quân đội! Nhất là về cố Tổng thống Thiệu, người đã được công chúng và nhiều sử gia nhận xét thiếu công minh cho 1ến khi các tài liệu dần dần được giải mật và công bố để trả lại cho ông phần nào sự công bằng.

Lần đầu tiên tôi được gần ông nhất là ngày lễ mãn khoá của Khoá 1 Sĩ quan hiện dịch Chiến Tranh Chính Trị vào đầu tháng 5 năm 1969. Sau đại lễ huy hoàng tại vũ đình trường, các tân thiếu úy được đưa vào hội trường mới xây phía sau lưng toà nhà Bộ Chỉ Huy. Nơi đây, chúng tôi sắp hàng một để lần lược bước đến nhận quà do Tổng thống trao tận tay. Đó là một cây bút bi hiệu Parker, trên đó có in huy hiệu của Tổng Thống bằng kim nhũ và một cửa sổ nhỏ để mỗi lần bấm thì hiện ra theo thứ tự các dòng ch biểu hiện ba mục tiêu mà chính phủ của ông đã đề ra: xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh, và cải tạo xã hội.
Nhận xét đầu tiên khi đối mặt vị Tổng thống là ông có khuôn mặt nhỏ nhưng rất thông minh, đôi mắt sáng sắc sảo, và nụ cười rất thân tình, cởi mở. Nhờ đó, những tân thiếu úy đã không cảm thấy khoảng cách quá xa đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia và quân đội. Ông đã dùng cơm với chúng tôi sau khi ban một huấn thị ngắn và đầy ý nghĩa của một người anh đối với các em vừa chuẩn bị bước vào cuộc chiến gian nguy.

Vì đường công danh chính trị của ông phát xuất từ Sư Đoàn 5 Bộ binh, nên mối quan tâm của ông đối với sư đoàn này cũng có phần đặc biệt ưu đãi. Các tư lịnh sư đoàn thường là những vị thân tín của Tổng thống Thiệu và rất có tương lai trong binh nghiệp. Sau khi ra trường tôi may mắn phục vụ sư đoàn này, và đã từng hãnh diện khi nhìn thấy tấm hình của vị cựu Tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu treo trong các phòng họp cấp Sư đoàn và Trung đoàn. Ngoài cái biệt danh “Sư Đoàn Nùng” (vì là hậu thân của một đơn vị toàn người Nùng từ miền Thượng Du Bắc Việt chuyển vào sau hiệp định Geneve), người ta còn gọi chúng tôi là “lính ông Thiệu”.

Thuyên chuyển qua Không Quân cuối năm 1971, tôi không được vinh dự tham chiến trận An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nên không được có mặt công kênh Tổng thống khi ông đến chiến trường ủy lạo binh sĩ giữa lúc tiếng súng còn chưa dứt ở các đồn diền cao su quanh thị trấn An Lộc đổ nát. Chúng tôi quý ông ở điểm này. Là một nguyên thủ quốc gia, ông có quyền hưởng những ngày tết an toàn ở thủ đô trong không khí hạnh phúc của gia đình. Nhưng không có Tết nào mà ông không tìm đến với các đơn vị tiền đồn hẻo lánh. Trong bộ ka ki bốn túi bình dị, chiếc nón jockey đen có phù hiệu hai con rồng, Tổng thống Thiệu đã mang lại cho những người lính chiến chúng tôi niềm an ủi sâu xa thể hiện một mối quan tâm mà hiếm khi thấy được những vị lãnh đạo khác.

Tính bình dị của ông, lần nữa tôi được thấy khi ông đến thăm Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân ở Phan Rang. Hồi đó là gần cuối năm 1972, sau khi chúng tôi hoàn tất việc tiếp nhận căn cứ từ Không Lực Hoa Kỳ. Một đại đơn vị tân lập của Không Quân Việt Nam đang thành hình, đi vào ổn định để tích cực tham gia chiến đấu ở Vùng 2 Chiến thuật.
Tổng thống đã đến với chúng tôi, ăn tối với các sĩ quan tại Câu Lạc Bộ trên ngọn đồi nhìn ra hướng bờ biển Ninh Chữ. Không một chút quan cách, lễ nghi, ông đã tươi cười trò chuyện cùng chúng tôi trong hơn hai tiếng đồng hồ. Ông đã trao cho Căn cứ một món tiền nhỏ và dí dỏm: “Thường là cấp nhỏ hối lộ cấp trên! Bây giờ thì tôi hối lộ các anh.” Số là Tổng thống còn bà mẹ già đang ở trong căn nhà gần bờ biển. Hàng ngày, các phản lực cơ của Không đoàn 92 Chiến Thuật cất cánh thường bay qua phía làng của Tổng Thống. Tiếng gầm rú của động cơ quấy nhiễu không khí yên bình của bà cụ, làm bà sợ hãi. Ông Tổng Tư Lệnh phải hối lộ cho thuộc cấp để yêu cầu bay chệch một chút, né cái làng Ninh Chữ kia ra.

Miền Nam mất.
Người ta đổ lỗi cho nhau. Người ch u nhiều tai tiếng là Tổng thống Thiệu.
Dĩ nhiên, ông không thể tránh phần trách nhiệm nặng nề đã làm mất miền Nam, đưa đẩy mười lăm triệu đồng bào vào hỏa ngục Cộng Sản, gần ba trăm ngàn đồng đội vào các trại tù khắc nghiệt mà hậu quả có hàng chục ngàn đã chết cách này hay cách khác, cùng với cả triệu người liều thân vượt biển mà con số bỏ thây làm mồi cho cá lên đến hơn một nửa.
Ông cũng bị tai tiếng về tài sản miền Nam, điển hình là 16 tấn vàng mà thực tế là đã do tên phản bội Nguyễn Văn Hảo trao lại cho bọn Việt Cộng. Lưu vong ra nước ngoài, ông đã số ng ẩn dật, không ồn ào phô trương mà âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Có thể ông có tài sản lên đến bạc triệu đô la. Nhưng nó đáng kể vào đâu nếu so sánh với con số hàng tỷ đô là mà bọn Việt Cộng thủ đắc hiện nay ?
Tôi cầu xin vong linh cố Tổng Thống tha thứ vì chính tôi cũng đã có lần viết thiếu công bằng về ông khi nhìn sự thất bại của miền Nam theo cách nhìn hạn hẹp của mình. Làm lãnh tụ một nước nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc về kinh viện và quân viện của ngoại bang, thì việc quyết định không thể nào tự chủ được. Tổng thống Diệm cũng vì yêu nước, kiên cường trước áp lực Mỹ mà bị thảm sát. Tổng thống Thiệu đã vẫy vùng mà không thoát được. Ông cũng đã từng chứng tỏ sự can đảm, cứng rắn đến độ căng thẳng với Mỹ trong thời gian chuẩn bị Hoà Đàm Paris. Ông cũng từng đối đầu với tên cáo già Henry Kissinger và đã bị tên Do Thái này gán cho những từ ngữ không đẹp. Tựu trung, ông đã chứng minh bản lãnh, lòng yêu nước, trí thông minh đáng để chúng ta khâm phục hơn là trách cứ. Sự thành bại của miền Nam hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.
Duy chỉ có một điều chúng tôi trách ông. Đó là việc dùng người của ông thiên về cảm tình, sự trung thành hơn là dựa trên khả năng. Tôi từng tiếc cho những anh tài không được trọng dụng, mà thay vào đó là những tướng lãnh thiếu kinh nghi7m chiến đấu nhưng đầy lòng tham. Hậu quả là nạn tham nhũng đã làm băng hoại tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam. Quân Lực VNCH có hơn trăm vị tướng mà con số vị trong sạch tài đức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà ngay họ cũng chẳng ngồi lâu hay được trọng dụng đúng với khả năng. Khi thành lập đảng Dân Chủ, Tổng Thống Thiệu đã vì an toàn chính trị của mình mà làm tan vỡ khối đại đoàn kết quốc gia giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Những năm đấu thập niên 1970, khi tình hình quân sự rất khả quan, phải chi ông chú tâm vào cuộc chiến bài trừ tham nhũng, nâng đỡ đối lập, phát huy thêm tự do để tăng cường sức mạnh quần chúng thì có hy vọng cải thiện phần nào cách nhìn của người Mỹ và cuộc chiến đã không kết thúc theo chiều hướng bi đát như đã xảy ra năm 1975.
Nói gì đi nữa thì công và tôi của một vị Tổng thống phải chờ thêm thời gian để phán đoán. Những cuốn sách do các chính khách, báo giới cả Mỹ lẫn Việt viết ra sau này, những tài liệu được giải mật đã đem lại phần nào sự xét đoán công minh về vị Tổng thống thứ hai của chế độ Cộng Hoà Việt Nam.
Tôi vẫn quý ông về lòng ái quốc và những đức tính hiếm hoi trong vai trò người lãnh đạo quốc gia và nhất là người Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực VNCH.
Chúng ta sẽ nhớ mãi câu nói của ông :”Sống mà không có Tự do, thì coi như đã chết” (To live without freedom is to have already died.)

Austin, tháng 9, 2009
Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

TẤT CẢ XIN HƯỚNG VỀ HOUSTON TỐNG CỔ BỌN VIỆT CỘNG VỀ NƯỚC


Khoảng 3000 người tham dự Biểu Tình chống Cộng và 11 Tiểu Bang khác về ủng hộ để phản đối thành lập tổng lãnh sự Việt gian Cộng sản tại Houston, Texas, USA, 20.09.2009 (6:00 PM of Houston Time).

Biểu Dương Lực Lượng tại Houston, Texas, 20-9-2009 - Protest the Establish of Communist Vietnam Consulate in Houston, TX


Protest the Establish of Communist Vietnam Consulate in Houston, TX

Khoảng 3000 người tham dự Biểu Tình chống Cộng và 11 Tiểu Bang khác về ủng hộ để phản đối thành lập tổng lãnh sự Việt gian Cộng sản tại Houston, Texas, USA, 20.09.2009 (6:00 PM of Houston Time).














Phái Đoàn NVQG Dallas-Fort Worth Tham Dự Biểu Dương Lực Lượng tại Houston, Texas, 20-9-2009











Cộng đồng NVQG Louisiana yểm trợ CĐNVQG Houston

Biểu Dương Lực Lượng tại Houston, Texas, 20-9-2009.

Protest the Establish of Communist Vietnam Consulate in Houston, Texas, USA.


---

Thư Kêu gọi đồng hương YỂM TRỢ chống tòa Tổng Lãnh Sự Việt Cộng tại Houston

Sau khi thông báo chính thức lập tòa Tổng Lãnh Sự tại thành phố Houston, Texas vào ngày 2 tháng 9 vừa qua, Cộng Sản Việt Nam đã vận động treo Lá Cờ Máu cho bằng được tại thành phố San Francisco. Lực lượng anh em chiến sĩ và đồng bào San Francisco đã "đem" nó xuống ngay trong vòng 4 tiếng. Hoan hô tinh thần đoàn kết của đồng hương Bắc Cali!

Lá Cờ Máu kinh hoàng này đã xua đuổi chúng ta ra đi trong thập tử nhất sinh từ ngày miền Nam Tự Do bị cưỡng chiếm vào năm 1975. Cũng chính vì lá cờ ấy mà chúng ta phải lưu lạc khắp nơi trên thế giới trong 34 năm qua. Chỉ lý luận chừng đó thôi là đã quá đủ để chúng ta có thể tự trả lời rằng chúng ta dứt khoát không chấp nhận nó hiện diện ở bất kỳ nơi nào trên phần đất tự do này.

Ngày 20 tháng 9 sắp tới, đích thân Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến khánh thành tòa lãnh sự tại Houston. Chúng ta có chấp nhận sự hiện diện "chính thức" của Lá Cờ Máu Cộng Sản ở nơi này hay không? Chúng tôi tin toàn thể độc giả, đồng hương đã có câu trả lời.

Chúng ta đã rượt đuổi Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng khắp nơi tại Hoa Kỳ khi chúng đặt chân đến để ăn xin viện trợ. Không lý do nào chúng ta chấp nhận chúng "xây dựng lãnh thổ" công khai tại Houston được. Nhất định như thế!

Chúng ta tôn trọng pháp luật Hoa Kỳ và chúng ta cũng hành động đúng theo luật pháp Hoa Kỳ. Nghĩa là chúng ta sẽ "tống cổ" chúng ra khỏi Houston theo đúng pháp luật. Dứt khoát như thế!

Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston đã cương quyết "xây pháo đài" bao vây chúng ngày đêm. Chi phí an ninh đó, Plaza chứa chúng phải chịu trách nhiệm. Thành phố Houston sẽ tốn một số tiền lớn để giữ an ninh trật tự cho chúng. Ai là người phải trả số tiền này? Chính những người thọ thuế phải trả, trong số đó có tập thể người Việt Quốc Gia chúng ta phải gánh chịu.

Người Mỹ gốc Việt không quá khích, không hành động trái pháp luật.

Ngay từ giây phút này, theo tin tức chúng tôi được biết, đã có trên 30 cộng đồng Người Việt Quốc Gia toàn Hoa Kỳ sẽ kéo về "dàn chào" Nguyễn Tấn Dũng, khi y đến khánh thành tòa Lãnh Sự tại Houston.

Hàng trăm xe bus, hàng ngàn xe tư nhân sẽ xuyên xa lộ liên bang, hàng vạn đồng bào sẽ tràn ngập thành phố Houston vào ngày 20 tháng 9 năm 2009. Chắc chăn như thế!

Khí thế đấu tranh của đồng bào tại Úc Châu đã nhiều lần làm chúng ta khâm phục. Vài chục ngàn đồng bào đã dùng phương tiện công cộng, vai kề vai "chiến đấu" bên nhau mổi khi phải đấu đầu với bọn VC và bọn Việt gian khi chúng xuất hiện trên phần đất tự do này..

Bằng mọi cách, bằng mọi phương tiện, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả độc giả, đồng hương thân thương... hãy kéo về biểu dương tinh thần bất khuất của người Việt tỵ nạn. Chúng ta sẽ tập trung thành 30 ngàn, 50 ngàn, 100 ngàn người tại thành phố Houston trong ngày 20 tháng 9 năm 2009. Nhất định như thế!

Xin liên lạc ngay với cộng đồng địa phương để cùng tháp tùng, cùng chia sẻ trên những chiếc "xe tăng" lịch sử hướng về Houston. Nếu chúng ta không đánh bật Việt Cộng ra khỏi ngay tuyến đầu Houston thì lần lượt chúng sẽ lập tòa Lãnh Sự tại nhiều thành phố khác.

Quý đồng hương tự túc trong trận chiến lịch sử này, xin liên lạc ngay với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston để nhờ thu xếp nơi cư ngụ thuận tiện nhất. Vì những ngày trước và sau đó, chắc chắn Houston sẽ tràn ngập Người Việt Tị Nạn. Nơi ăn ở sẽ hơi khó khăn. Xin liên lạc anh Trịnh Du (713) 253-2110 hay chị Kim Xuyến (713)447-0588 để biết thêm chi tiết.

Quý đồng hương không đi được, xin yểm trợ tài chánh để những anh em trẻ tại đây thi hành nhiệm vụ. Chi phiếu xin đề VNCH (memo Chống Tòa Lãnh Sự CSVN) và gửi về địa chỉ Ban Đại Diện Cộng Đồng - 7100 Clarewood Dr - Houston, Texas 77036.

Chúng ta đã đổ xương máu để bảo vệ cổ thành Quảng Trị, Bình Long anh dũng, Xuân Lộc oai hùng... Trận chiến trực tiếp Quốc - Cộng lần đầu tiên mở màn công khai tại Houston. Với sự quyết tâm và dứt khoát, chúng ta sẽ bảo vệ trận chiến ý thức hệ của người Việt Quốc Gia trước ngọn cờ chính nghĩa Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam. Quyết tâm đánh bật Việt Cộng ra khỏi Houston, Texas và bất cứ nơi nào chúng xâm nhập, quấy nhiễu sự bình an của người Việt ti nạn.

TẤT CẢ XIN HƯỚNG VỀ HOUSTON TỐNG CỔ BỌN VIỆT CỘNG VỀ NƯỚC


Bài Xem Nhiều