We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 27 September 2009

Tin tức tổng hợp

Bão cấp 10 đang áp sát vào bờ biển miền Trung
Vừa bị ảnh hưởng nặng nề bởi mưa lũ làm 23 người chết và mất tích cùng hàng nghìn ha lúa, hoa màu... chìm trong nước, các tỉnh miền Trung lại đang đối mặt với cơn bão số 9 sẽ đổ bộ vào đất liền trong 2 ngày tới.
Sáng nay, tâm bão số 9 (Ketsana) cách quần đảo Hoàng Sa 470 km về phía đông đông nam, sức gió mạnh cấp 10 (tức 89 - 102 km một giờ). Bão đang mạnh thêm và sáng 29/9 bão cấp 13 sẽ áp sát bờ biển Quảng Trị - Đà Nẵng.

Dự báo đường đi của bão số 9 phát lúc 9h30 sáng 27/9. Ảnh: NCHMF.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, với vận tốc tối đa 25 km/h, sáng 28/9, bão số 9 sẽ đi vào vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Sức gió ở gần tâm bão có thể lên tới cấp13 (tức 118-149 km một giờ). Sáng 29/9, bão có thể chỉ cách bờ biển các tỉnh Quảng Trị - Đà Nẵng khoảng 80 km về phía đông, với sức gió gần tâm bão mạnh cấp 12-13. Ngày 30/9, bão cấp 11-12 đi vào địa phận nước bạn Lào.
Đêm nay, phía nam vịnh Bắc Bộ và vùng biển các tỉnh Quảng Trị - Quảng Ngãi gió sẽ mạnh dần lên, vùng gần tâm bão mạnh cấp 12-13. Ngày 28/9, các tỉnh Nghệ An - Quảng Ngãi có mưa to, nguy cơ lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi, ngập úng ở vùng trũng có thể xảy ra.
Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho hay, đến sáng nay, trên tuyến biển Quảng Ninh - Phú Yên đã có gần 22.000 tàu với gần 95.000 người hoạt động trên biển được thông báo, hướng dẫn để vào nơi neo đậu và di chuyển phòng, tránh bão.

Bão Ketsana chụp từ vệ tinh sáng 27/9. Ảnh: NEA.
Sáng nay, báo cáo nhanh của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương cho hay, đợt mưa lũ ở miền Trung vừa qua đã làm 17 người chết và 3 người mất tích. Trong đó, Quảng Ninh có 3 người tử vong trên tàu bị chìm ở hòn Hoa Cương thuộc vịnh Hạ Long, Thanh Hoá có 4 người, Nghệ An 6 người, Hà Tĩnh 2 người, Quảng Bình, Quảng Trị mỗi tỉnh có 1 người thiệt mạng.
Mưa lũ khiến gần 10.000 nhà bị ngập, tốc mái, hư hỏng, 2.500 ha lúa, gần 6.000 ha hoa màu và 1.750 ha ao nuôi thủy sản bị ngập. Thiệt hại nặng nhất là Thanh Hóa với 5.500 ngôi nhà, 1.700 hoa lúa; Quảng Bình gần 4.000 nhà, 150 ha lúa...
Trong số 23 tàu bị hỏng và chìm, riêng Nghệ An đã có 17 tàu, Thanh Hóa 3 tàu, Hà Tĩnh, Quảng Ninh, Quảng Bình mỗi tỉnh có một tàu chìm do lốc xoáy.
Khánh Chi



Công an Lâm Đồng dùng vũ lực trục xuất tu sĩ ra khỏi tu viện Bát Nhã
Tú Anh
Bài đăng ngày 27/09/2009 Cập nhật lần cuối ngày 27/09/2009 15:39 TU
Quang cảnh khu tu viện Bát Nhã ngày 28/06/2009
Ảnh : http://phusaonline.free.fr
Từ sáng chủ nhật hôm nay, 27/09/2009, qua mạng thông tin Phusa.net hoặc bằng điện thoại, các tu sĩ ở tu viện Bát Nhã không ngừng kêu cứu.
Các nguồn tin này nói rằng, hàng trăm côn đồ và công an đã tấn công vào cư xá tu viện, đập phá và đánh các nhà sư. Họ truy tìm và bắt hai tu sĩ trưởng là thày Pháp Hội và Pháp Sĩ.
Hành vi bạo lực này đã gây xúc động cho nhiều người bất kể là tu sĩ, phật tử hay cán bộ.
Được tin bất tường, một ni cô nhỏ tuổi báo động với RFI Việt Ngữ như sau :

Các nhân chứng tại hiện trường cho biết thêm, công an và « côn đồ » tập trung lực lượng lúc 9 giờ 30 sáng và kỳ hẹn cho tăng thân, khoảng 400 người phải rời tu viện chậm lắm là trong hai ngày.
Trước đe dọa bạo lực, các tăng sĩ ngồi thiền và cầu nguyện cho những người chuẩn bị tấn công họ.
Các ngõ vào tu viện đều bị chặn lại. Khi các toán côn đồ tấn công, đập phá thì công an đi theo, tìm bắt hai thày Pháp Hội và Pháp Sĩ.



Biểu tình phản đối Chủ tịch VN Nguyễn Minh Triết ở LHQ
Việt Long, phóng viên RFA
2009-09-26

Những người biểu tình hô vang “Đả đảo Cộng sản VN. Đả đảo Nguyễn Minh Triết ”, trong cuộc biểu tình tại một công viên gần trụ sở Liên hiệp quốc tại New York.
Photo by Việt Long/RFA

Người Việt hải ngoại biểu tình trước trụ sở LHQ ở New York hôm 26-9-2009, phản đối Chủ tịch VN Nguyễn Minh Triết.
Bây giờ là khoảng sau 1 giờ trưa ngày 25 tháng 9 năm 2009. Theo chương trình thì có thể giờ này ông chủ tịch nước CHXHCNVN, Nguyễn Minh Triết đang chuẩn bị đọc diễn văn tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc.
Khu biểu tình quy tụ khoảng 150 người đến từ các cộng đồng VN ở vùng đông bắc Hoa Kỳ như Washington DC, Maryland, Virginia, các cộng đồng ở New Jersey, Philadelphia.
Một số cộng đồng ở những nơi xa như Nam California, Orange County cũng cử đại diện đến đây đem theo cờ xí và biểu ngữ rợp trời.
Ông Đỗ Hồng Anh:
“Tôi là Đỗ Hồng Anh, Chủ tịch cộng đồng VN tại Washington DC, Maryland, Virginia. Hôm nay chúng tôi có mặt tại New York để hỗ trợ cho cộng đồng người Việt tại New York biểu tình chống sự hiện diện của Nguyễn Minh Triết.
Trước ngoại bang thì cúi đầu dâng biển, nhượng đất còn đối với dân tộc trong nước thì đàn áp một cách hết sức dã man, tước đoạt tất cả quyền tự do căn bản của con người. Đó là lý do chính mà chúng tôi - một phái đoàn từ Washington DC - đã đến New York trong ngày hôm nay.”
Ông Nguyễn Minh Tâm:
“Tôi là nguyễn Minh Tâm, Chủ tịch Hội đồng đại biểu cộng đồng người Việt quốc gia tại Hoa Kỳ và cũng là cựu Chủ tịch cộng đồng người Việt quốc gia tại New York. Kính thưa quý vị khán thính giả, quý vị cũng biết là nhà nước cộng sản VN bán đất, dâng biển cho Trung cộng, rồi vấn đề Bauxit tạo ô nhiễm môi trường gây hại cho người dân.
Người biểu tình lên án chính sách đàn áp các quyền tự do căn bản tại Việt Nam. Photo by Việt Long/RFA Đối với Trung Quốc thì cúi đầu quỳ luỵ, còn đối với dân tộc chúng ta thì đàn áp dã man những nhà đấu tranh dân chủ trong nước cũng như tất cả những người dân cùng cực. Cướp đất của dân oan, lấy đất của nhà thờ gây nên sự xáo trộn.
Máu và nước mắt của đồng bào chúng ta đang chảy trong nước thì ở hải ngoại này, tất cả mọi người là con dân nước Việt, chúng ta cùng nhau một lòng để đòi hỏi nhà nước cộng sản VN phải đáp ứng những nhu cầu tự do, dân chủ và nhân quyền cho hơn 85 triệu đồng bào trong nước. Những gì của đồng bào thì phải trả lại cho đồng bào.”
Ông Nguyễn Tường Thược:
“Tôi xin phép được tự giới thiệu là Nguyễn Tường Thược, Chủ tịch Hội cựu tù nhân chính trị VN tại New Jersey. Hôm nay, cộng đồng người Việt và các đoàn thể khắp nơi đã về New York để có một cuộc biểu tình phản đối Chủ tịch nhà nước cộng sản Hà Nội Nguyễn Minh Triết đang tham dự buổi Đại hội đồng Liên hiệp quốc.
Và chúng tôi, những người cựu tù nhân chính trị tại tiểu bang New Jersey về đây phối hợp bà con đồng hương chúng ta khắp nơi để nói lên thái độ của những cựu tù nhân chính trị là không bao giờ chấp nhận chế độ cộng sản độc tài Hà Nội. Chỗ này không phải là chỗ cho ông Triết đến để tuyên truyền huyênh hoang khi thực chất, nhà nước cộng sản VN đang đàn áp đồng bào ta và tôn giáo trong nước.”
Việt Long: Ông muốn chuyển một thông điệp như thế nào đến nhà nước CHXHCNVN ngày hôm nay?
Ông Nguyễn Tường Thược: “Thông điệp chúng tôi muốn chuyển là Nguyễn Minh Triết đến Hoa Kỳ - một đất nước tự do - thì nên học cách ứng xử của những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ với nhân dân xứ này.”
Một cựu chiến binh Hoa kỳ từng phục vụ tại VN trong 14 tháng nói rằng ông hết sức bênh vực cho quyền tự do của người VN cũng như quyền tự do của những cựu tù binh Hoa Kỳ mà ông cho rằng vẫn còn sống ở VN.
Ông phản đối bài nói chuyện của ông Chủ tịch VN tại Hoa Kỳ. Ông cho rằng đó không phải là một người lãnh đạo được (nhân dân) bầu lên mà là do Đảng cộng sản chỉ định. Người tự nhận là Chủ tịch như vậy mà nói chuyện tại Liên hiệp quốc thì ở đây đều phản đối và phản đối bất kỳ nhà lãnh đạo (VN) nào đến Hoa Kỳ, để nói với họ rằng ông muốn người dân Việt Nam được tự do. Và đó là lý do tại sao 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh tại VN.
Cuộc biểu tình chống lại sự có mặt của ông chủ tịch nước VN Nguyễn Minh Triết tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc khởi sự từ khoảng 12 giờ trưa thứ năm và chấm dứt sau 2 giờ chiều. Cuối cùng là một cuộc tuần hành của những người tham dự biểu tình quanh một công viên của thành phố New York.
(Việt Long tường trình từ New York)



Thứ trưởng Ngọai giao Mỹ gặp bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam
Ánh Nguyệt, rfi
Bài đăng ngày 27/09/2009 Cập nhật lần cuối ngày 27/09/2009 15:00 TU
Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg

Theo bộ Ngọai giao Việt Nam, hôm nay, 27/09/2009, ông James B. Steinberg, thứ trưởng thứ nhất bộ Ngọai giao Mỹ tới thăm Việt Nam trong chuyến công du châu Á từ ngày 25/09 đến 01/10.
Thứ trưởng Steinberg tới Hà Nội và trong các họat động chính thức hôm nay của ông có cuộc gặp xã giao phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, làm việc với bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và thứ trưởng thường trực bộ Ngọai giao Phạm Bình Minh, trao đổi một số vấn đề song phương.
Sau Việt Nam, thứ trưởng Ngọai giao Mỹ sẽ tới Malaysia.
Nguồn tin từ tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội cho biết, thứ trưởng Steinberg dẫn đầu một phái đòan liên bộ tới Việt Nam để thảo luận với các viên chức chính phủ về các vấn đề trong quan hệ song phương, khu vực và quốc tế.


Hà Nội rút lại mục tiêu “tất cả các cán bộ Thành ủy quản lý sẽ là tiến sĩ”
RFA 26.09.2009
Thành phố Hà Nội hồi cuối tuần rồi đã cho rút lại mục tiêu tất cả các cán bộ Thành ủy quản lý là tiến sĩ vào năm 2020.
Quyết định rút lại chỉ tiêu vừa nêu được phó giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội, Lê Quốc Cường, đưa ra tại cuộc họp báo ở Hà Nội hồi chiều thứ sáu vừa rồi.
Ông này cho hay là chủ tịch thành phố Hà Nội ký quyết định về chiến lược cán bộ, công chức hôm ngày 24 tháng 8 vừa qua, tuy nhiên Bộ Nội vụ là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án đó đã đưa ra kiến nghị dừng triển khai bởi số liệu phấn đấu đó là ‘chưa khả thi’.
Sau khi kế hoạch 100% cán bộ Thành ủy quản lý là tiến sĩ được đưa ra thì dư luận phản ứng khá gay gắt. Có ý kiến cho rằng không nên nhầm lẫn khái niệm tiến sĩ với cán bộ quản lý. Một cựu thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển độc lập, tiến sĩ Nguyễn Quang A thì có bài viết nêu rõ là nếu ‘100% công chức cấp cao là tiến sĩ thì dân ta đi ăn mày!’



Tổ chức nhân quyền chỉ trích VN bác bỏ khuyến nghị của LHQ
Duy Ái , VOA
26/09/2009

Thứ sáu vừa qua, trong lúc báo chí nhà nước Việt Nam tán dương việc Ủy hội Nhân quyền Liên hiệp quốc thông qua Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam, các tổ chức nhân quyền quốc tế đã lên tiếng chỉ trích việc giới hữu trách Hà Nội bác bỏ các khuyến nghị về nhân quyền của Liên hiệp quốc. Tổ chức Human Rights Watch và Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền nói rằng Việt Nam đã bác bỏ 45 khuyến nghị của các nước thành viên, kể cả những khuyến nghị nhẹ nhàng nhất dựa trên những công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, chẳng hạn như để cho dân chúng được cổ xúy cho nhân quyền hoặc bày tỏ ý kiến của mình. Ban Việt Ngữ VOA đã tiếp xúc với ông Võ Văn Ái, Phó Chủ tịch Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền, và được ông cho biết một số chi tiết như sau về cuộc họp kết thúc ở Geneve hôm 24 tháng 9:
VOA: Xin ông cho biết sơ qua về phiên họp kết thúc cuộc kiểm điểm về Việt Nam của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc trong khuôn khổ của cơ chế Báo cáo Kiểm điểm Định kỳ Phổ cập (Universal Periodic Review / UPR).
Võ Văn Ái: Phiên họp này diễn ra ngày 24 tháng 9 và kéo dài 1 giờ đồng hồ. Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã trình bày trong vòng 20 phút và thời giờ còn lại dành cho những lời phát biểu của 12 phái đoàn chính phủ và 9 tổ chức phi chính phủ. Số phái đoàn ghi tên phát biểu rất đông, nhưng vì thời giờ có hạn nên những phái đoàn không thể phát biểu tại hội trường đã nộp bản tham luận của mình. Đó là trường hợp xảy ra với Hoa kỳ. Tại phiên họp này Việt Nam đã qua lọt - phần lớn nhờ sự ủng hộ của những nước bè bạn, nếu không muốn nói là gà nhà, như Lào, Miến điện, Cam Bốt, Algerie, Trung quốc, Cuba, Nga, Venezuela, Bắc Triều Tiên, Yemen, vân vân à Có một điều đáng chú ý là ông Phạm Bình Minh vẫn đề cao “ngoại lệ nhân quyền Châu Á”. Đây là một khái niệm đã lỗi thời. Trong khi nhấn mạnh tới quan điểm của Việt Nam là vẫn ủng hộ nhân quyền phổ quát, ông cũng nói rằng việc thực hiện cần phải phù hợp với điều kiện đặc thù về văn hóa, lịch sử của xã hội Việt Nam.
VOA: Phiên họp này có sự tham dự lần đầu tiên của Hoa kỳ. Ông có nhận xét như thế nào về việc này?
Võ Văn Ái: Chúng tôi thấy đây là một sự việc quan trọng vì trong những năm qua Hoa kỳ đã vắng mặt trong Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Vừa qua Hoa kỳ đã được bầu vào Hội đồng gồm 47 nước thành viên này. Bài tham luận mà Hoa kỳ đệ nạp rất là quan trọng, một mặt vì Hoa kỳ lên tiếng về vấn đề nhân quyền và mặt khác Hoa kỳ đặt rất nặng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Tôi xin trích phát biểu của Hoa kỳ “Hoa kỳ biểu tỏ mối quan tâm trầm trọng về cảnh ngộ khốn khó của những tù nhân vì lương thức tại Việt Nam và hậu thuẫn mạnh mẽ cho khuyến cáo là Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho những người này để họ có thể hội nhập vào trong đời sống cộng đồng mà không bị kỳ thị bởi những thiên kiến. Hoa kỳ cũng thúc đẩy Việt Nam xét lại việc từ khước khuyến cáo bãi bỏ điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia -- như các điều luật 84, 88, 258, đã được nhà cầm quyền Việt Nam sử dụng để kết án những tiếng nói bất đồng chính kiến, chống đối chính quyền, hoặc những chính sách của nhà nước. Và cuối cùng Hoa kỳ khuyến khích Việt Nam phải nhanh chóng đẩy mạnh tiến trình đăng ký các giáo hội tại Việt Nam và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”
VOA: Theo thông cáo báo chí hôm thứ 6 của tổ chức Human Rights Watch, Việt Nam đã bác bỏ 45 khuyến nghị của các nước thành viên. Trong đó có những đề nghị đòi chính phủ Việt Nam từ bỏ việc kiểm soát internet và các trang blog và thu hồi lệnh cấm đối với các tổ chức truyền thông tư nhân; cho phép đoàn thể và cá nhân được cổ xúy cho nhân quyền, bày tỏ ý kiến và công khai nói lên quan điểm bất đồng. Xin ông vui lòng cho biết thêm chi tiết về sự chỉ trích này.
Võ Văn Ái: Bên cạnh 5 tổ chức phi chính phủ bày tỏ sự ủng hộ đối với Việt Nam, có 5 tổ chức phi chính phủ đã phê phán sự thiếu sót của Việt Nam hay sự bãi bỏ khuyến cáo của các quốc gia thành viên. Đó là Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền, Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam, Hội Ân xá Quốc tế, Human Rights Watch, và Văn Bút Quốc tế. Cá nhân chúng tôi đã thay mặt cho Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ đối với những khuyến nghị của Hoa kỳ, Canada. Đặc biệt, chúng tôi đã bày tỏ hậu thuẫn cho khuyến cáo của Na Uy, yêu sách Việt Nam để cho các xã hội dân sự, và các cá nhân và tổ chức được tự do ăn nói và thăng tiến nhân quyền. Đặc biệt là tại Việt Nam hiện nay có thể nói là các tổ chức tôn giáo là những xã hội dân sự còn sót lại vì những tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự đều do Đảng và Nhà nước lập ra chứ không có những tổ chức độc lập. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Việt Nam thực thi đề nghị của Hoa kỳ là thừa nhận và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của các giáo hội độc lập, trước hết là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và trả tự do cho các tù nhân vì tôn giáo như Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ.
VOA: Xin cám ơn ông đã dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

Giáo xứ Loan Lý tiếp tục bị cộng sản đàn áp

HUẾ 26-09-2009 - Như trong bản tin “Giáo xứ Loan Lý bị CS thẳng tay đàn áp” (19-09-2009), sau khi huy động một lực lượng hùng hậu đè bẹp được vài trăm giáo dân tay không, đa phần là phụ nữ, để ăn cướp giữa thanh thiên bạch nhật ngôi trường của họ, “đảng CS quang vinh”, qua tay nhà cầm quyền địa phương, tiếp tục sách nhiễu, hăm dọa Giáo xứ Loan Lý. Những giáo dân hăng hái và can đảm trong đêm 13 và ngày 14-09 đều được “bạn dân” “hỏi thăm sức khỏe”, nhiều người gặp trắc trở trong chuyện sinh nhai. Các giáo dân sống trong tâm trạng buồn bã và hoang mang tột độ.

Mặt khác, trên các phương tiện truyền thông, nhà cầm quyền đang có chiến dịch vu khống và cách ly Giáo xứ Loan Lý. Chẳng hạn sáng ngày 21-09-2009 (theo lời kể của linh mục Phaolô Trần Khôi, quản xứ Sáo Cát bên cạnh), một giáo dân của ngài đang ngồi uống cà-phê trong quán, bỗng nhiên được “mời” lên Ủy ban xã Lộc Hải và sau đó được chở đi không rõ mục đích. Hóa ra người ta chở ông tới ngôi trường Loan Lý vừa bị cưỡng đoạt để phỏng vấn ông trước ống kính. Trong hoàn cảnh như bị bắt cóc này, vị giáo dân Sáo Cát đã trả lời hai câu hỏi như sau:

1. Ông có cảm nghĩ gì về trường học Nhà nước mới lấy lại? Đáp: Tôi không có ý kiến, vì tôi không thuộc Giáo xứ Loan Lý (Câu hỏi này được nhắc lại tới hai ba lần).

2. Trường này sơn quét lại có đẹp không? Đáp: Đẹp!

Sau đó, giáo dân này thông tri cho cha quản xứ của mình, đồng thời cho biết có một giáo dân thuộc Giáo xứ Lăng Cô (dưới sự cai quản của linh mục Gioan Nguyễn Đức Tuân) cũng bị phỏng vấn như vậy. Thành ra trong thánh lễ lúc 18g chiều cùng ngày 21-09, linh mục Trần Khôi đã cảnh báo giáo dân Sáo Cát của mình về âm mưu CS dùng người Công giáo để đánh người Công giáo, đồng thời ngài dự cảm đài truyền hình CS sớm muộn sẽ đưa lên vụ việc. Quả đúng như thế, trên ti-vi Huế tối hôm đó, người ta thấy ông giáo dân Lăng Cô -tên Thắng- đã trả lời rất «ngon lành», đúng ý nhà cầm quyền. Chỉ có điều là nhà đài không cho khán giả biết tay giáo gian này là phó Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị trấn Lăng Cô, một công cụ rất đê hèn của CS. Còn vị giáo dân Sáo Cát dĩ nhiên là không được «vinh dự» như vậy.






Hôm sau, tại trường Tiểu học thị trấn Lăng Cô (cơ sở 1), một cô giáo trường tự nhiên gọi một em học sinh nhỏ thuộc Giáo xứ Sáo Cát rồi đưa em tới trường mới bị cướp (nay là cơ sở 2) để phỏng vấn em trước ống kính. Em nầy vừa không biết gì vừa quá sợ hãi, đã trả lời lắp bắp nên chưa thấy xuất hiện trên TV ! Tưởng cũng nên nhắc lại là ông hiệu trưởng tên Trần Văn Lộc cùng ban giám hiệu trường Tiểu học Lăng Cô, sau khi chặn cửa lớp trường Loan Lý chiều ngày 13-09, đã tham gia vào vụ cướp trường khuya hôm đó. Vài hôm sau, nhà «mô phạm xã hội chủ nghĩa» này (không biết có phải cùng loại với ông hiệu trưởng trường THPT Việt Vinh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, cướp trinh nữ sinh vị thành niên chăng ?) lại lên truyền hình, cho biết Giáo xứ Loan Lý không có giấy tờ chứng minh sở hữu ngôi trường nên nhà nước lấy lại là phải.

Quả là sau khi được xây dựng từ năm 1956 và hoạt động cho đến năm 1975, trường Loan Lý đã không có giấy và đã không cần giấy xác nhận sở hữu chủ nào, một là vì tổng thống Ngô Đình Diệm đã cấp toàn bộ khu vực (nay thuộc xã Lộc Hải, huyện Phú Lộc) cho toàn bộ giáo dân Loan Lý (di cư từ bên kia Cửa Tùng vào Nam) làm nơi xây dựng nhà ở cùng các cơ sở cộng đồng, hai là vì chế độ Việt Nam Cộng hòa chẳng bao giờ đi ăn cướp đất đai của dân chúng lẫn cơ sở văn hóa của tôn giáo như chế độ Việt Nam Cộng sản hiện nay. Ngoài ra, việc tồn tại trên 50 năm của ngôi trường mà không có tranh chấp cũng đủ là một bằng chứng về quyền sở hữu.

Kể ra, năm 1995, nhà cầm quyền Cộng sản tại xã Lộc Hải có thông tri cho các hộ dân và các tập thể tôn giáo khai báo đất đai cùng các cơ sở của mình để gọi là «được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất» (cấp sổ đỏ). Giáo xứ Loan Lý lúc ấy đã thành thật và rõ ràng khai báo với nhiều bằng chứng (chủ yếu là nhân chứng) về diện tích đất nhà thờ cùng các cơ sở liên hệ, nhưng ban địa chính thuộc Ủy ban Nhân dân xã không thừa nhận và từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho giáo xứ. Lý do là để sang đoạt cho khách sạn Hương Giang (tài sản của bí thư Hồ Xuân Mãn, nằm kế cận đất nhà thờ), song ý đồ cướp bóc này -xảy ra năm 1999- đã thất bại thê thảm vì sự đoàn kết sinh tử của giáo dân và cha quản xứ Cái Hồng Phượng lúc ấy.

Việc nhà cầm quyền CS yêu cầu các tập thể tôn giáo khai báo tài sản đất đai để «được cấp sổ đỏ» nhưng rồi từ khước hay lần lữa cấp, thật ra là ý đồ muốn biết rõ những gì các Giáo hội đang sở hữu để khi cần thì cướp lấy (với lý do không có giấy xác nhận quyền sử dụng đất) hoặc đổi chác (bằng một mảnh đất hay cơ sở kém giá trị hơn), hoặc cấp sổ đỏ với cái giá là thái độ thỏa hiệp im lặng của các lãnh đạo tinh thần.

Nay thì Giáo xứ Loan Lý đang đứng trước một nguy cơ khác, đó là nguy cơ bị mất ngôi nhà làng (còn gọi là Phòng họp, 63m2) nằm bên dốc lên nhà thờ, sát cạnh quốc lộ 1A (xin xem bản đồ và hình). Nhà làng này (cũng là nhà giáo xứ, vì Loan Lý là giáo xứ toàn tòng, nghĩa là toàn người Công giáo cả) từ lâu nay đã cho phòng giáo dục địa phương «mượn» làm trường mẫu giáo. Nay thì nhà cầm quyền địa phương bắn tiếng sẽ tịch thu cho đủ bộ. Ngoài ra, họ dự định tái thực hiện ý đồ bất thành năm 1999: lấy cho được đất của nhà thờ, phần độn cát kề cận bờ biển. Quả là một đe dọa lớn lao!

Dù sao, vốn từng đương đầu với bọn cướp ngày luôn sẵn mưu gian và cường lực, đặc biệt từ năm 1999, giáo dân Loan Lý không bao giờ ngỡ ngàng trước lối hành xử thô bạo của Cộng sản, vì họ (và mọi người Việt Nam) đều biết rõ bản chất của CS từ xưa tới nay là gian ác tàn độc, chẳng khi nào thay đổi. Họ cũng biết rằng qua vụ việc tại giáo xứ của họ cũng như vô vàn vụ việc tại Tổng Giáo phận Huế và khắp cả Việt Nam từ 1954 đến nay, chính sách tôn giáo của CS (mà nó chuyên gọi kiểu lừa gạt là «chính sách tự do tôn giáo») luôn «trước sau như một» (chính từ ngữ CS), nghĩa là luôn nhắm mục đích tiêu diệt mọi Giáo hội bằng đủ phương cách, khi mạnh khi yếu, khi tiến khi lùi, khi nặng tay khi nhẹ tay, khi bá đạo khi vương đạo (nhưng đa phần là bá đạo), tùy lúc, tùy nơi, tùy người, tùy hoàn cảnh, tùy toan tính chính trị, miễn cuối cùng làm cho tôn giáo bị xóa sổ, ra tê liệt hay biến chất hoàn toàn. CS không bao giờ có chuyện bàn bạc song phương và đối thoại đôi bề để giải quyết các vấn đề, các liên hệ với nhân dân, nhất là với tôn giáo. Và kinh nghiệm cho thấy mọi cố gắng và thiện chí đối thoại với CS chẳng bao giờ thành công cả. Chỉ có những kẻ nhờ thỏa hiệp đổi chác (nhất là bằng sự im lặng) mà được CS cấp ban cho những thứ thực ra là của mình, mới tưởng là mình «đối thoại thành công» với Cộng sản!

Nhìn bức tường cao dày từ đây che kín ngôi trường thân yêu đầy kỷ niệm với cổng mở ra hướng khác, giáo dân Loan Lý biết CS đã quyết tâm chiếm hẳn nó rồi và sẽ không bao giờ cho con em họ sử dụng nó trong ngày Chúa nhật nữa, thành ra họ chỉ mong Bản quyền Giáo phận lên tiếng kết án hành vi bất công thô bạo (chứ không chỉ bày tỏ nỗi bức xúc lẫn niềm thông cảm) và cương quyết đòi lại di sản do cha ông họ và chính họ tạo lập. Họ cũng mong linh mục chủ chăn Ngô Thanh Sơn lần này sẽ cương quyết cùng con chiên bảo vệ những cơ sở và phần đất còn lại, vốn là công lao mồ hôi xương máu của bao thế hệ giáo dân Loan Lý.

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Huế ngày 26-09-2009
Kỳ sau : Lần giở lại hồ sơ đất đai tài sản Giáo xứ Loan Lý


Dưới đây là một số bản tin, thông báo và nhận định liên hệ

Tường thuật vắn tắt buổi gặp gỡ giữa Phái đoàn Toà Tổng Giám mục Huế với Ban Tôn giáo Tỉnh Thừa Thiên - Huế về “vụ việc Loan Lý” ngày 22-09-2009
Phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Huế thăm Giáo xứ Loan Lý

VIỆT CỘNG -CON NỢ NGOAN NGOÃN CỦA TRUNG CỘNG

Cách đây chừng trên 20 năm, có phong trào các nước đã Kỹ nghệ hóa MUA NỢ lại các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi Chính quyền những nước nghèo có những món nợ chồng chất, họ tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?

Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng trở thành mạnh thường quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi Kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nọ mà họ mua dùm.

Tôi xin kể ra đây một tỉ dụ cụ thể để dễ hiểu. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện là Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ qúy. Đối với Chính phủ Congo, thì đây là việc họ làm với Nhật mà Dân chúng không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với Dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm ích lợi cho xứ sở.


Việt Nam con nợ của Tầu

Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện con nợ nghèo quá, phải gả chính con gái nhỏ để làm vợ cho chủ nợ.

CSVN, trong những năm gần đây, thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hỏang Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho đầu tư nước ngòai thụt xuống 82%(Tài liệu:Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa giảm 60%. Ngay cả giữa Trung quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung quốc trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó nhập cảng từ Trung quốc tới USD.15 tỉ.

Việt Nam muốn đi vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hòan cảnh Khủng hỏang Tài chánh/Kinh tế, các nước khác cũng gặp khó khăn, làm sao cho vay được. Trong hòan cảnh như vậy, chỉ còn đi làm đầy tớ cho Tầu, bán cả vợ con cho Tầu để nhận làm con nợ.


Tầu là chủ nợ cho Việt Nam

Chủ nợ thường có những lo lắng về trường hợp con nợ ăn qụyt. Ơû đọan trên, chúng tôi nói rằng nhiều nước, nhất là Tây phương, rất ngại ngùng cho Việt Nam vay nợ, một phần là vì cuộc Khủng hỏang hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là sợ CSVN qụyt nợ. Làm trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi đã nghe một số Ngân hàng gia nói rằng họ có thể cho Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam vay, thì họ rất lo ngại. Cái lý do là nếu Việt Nam ăn qụyt, thì họ khó kiện cáo về luật lệ đối với Việt Nam.

Ngược lại, Trung quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay nợ vì họ có những thuận lợi chắc chắn sau đây:

=> Trung quốc cho Việt Nam vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bàng hàng hóa và nhân công. Trung quốc đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.

=> Trung quốc bắt Việt Nam phải cho những nhượng địa để khái thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay. Trung quốc nắm phần chắc Việt Nam trả nợ trước bàng tài nguyên khi cho vay bằng hàng hóa mà họ muốn xuất cảng.

=> Trong trường hợp Việt Nam lật lọng muốn ăn qụyt nợ, thì Trung quốc có quân đội mạnh đã bao vây Biển và sát trên đất liền để tràn sang bắt phải trả nợ. Trung quốc không cần phải kiện cáo luật lệ gì với Việt Nam, mà dùng sức mạnh quân sự giải quyết.

Tương quan Chủ nợ—Con nợ

Không phải chỉ có tương quan hai CƠ CHẾ mà CSVN cần Tầu che chở, mà cái tương quan tệ hại nhất là giữa Con nợ mất hết độc lập và Chủ nợ hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa:

(i) Tại sao Việt Nam dành cho Tầu khai thác tài nguyên;

(ii) Tại sao mất Biển Đông, Hòang Sa/Trường Sa mà không dám than;

(iii) Tại sao dành những Dự án cho Tầu;

(iv) Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt mà không dám nói;

(v) Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho
Tâu làm;
(vi) Tại sao nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi đó dân nghèo VN thất nghiệp;
(vii) Tại sao cấm giới trẻ VN không được tỏ lòng yêu nước;
(viii) Tại sao bắt những Blogers nói đụng đến Tầu;
(ix) Tại sao cấm những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?

Tất cả chỉ vì tính đê hèn, vô liêm xỉ, mất hết sĩ diện của con nợ CSVN trước chủ nợ Tầu luôn tìm mọi cách xâm lăng Việt Nam.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN
Kinh tế
Geneva, 24.09.2009


http://viettudan. net

Dưới Mái Trường XHCN: Nhân cách của các thầy, cô giáo



Báo quốc nội VietnamNet mời đại biểu quốc hội Việt Cộng, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, và nhà văn Chu Lai tham dự một cuộc hội thảo về nền giáo dục Việt Nam; nhà báo Nguyễn Quang Thiều, đại diện VietnamNet, trình bầy vấn đề.“Dù có một giáo trình tuyệt vời, một cách đào tạo khoa học, một cơ sở vật chất đầy đủ hơn tất cả các nước khác,” ông Thiều nói, “nhưng nếu nhân cách thầy cô bị xói lở, thì mục đích cuối cùng của nền giáo dục là tạo ra những sản phẩm con người cũng sẽ thất bại.”
Chữ “dù” mở đầu câu nói của ông Thiều phủ nhận cả 3 điều ông nêu lên: điều thứ nhất là Việt Cộng không hề có một giáo trình tuyệt vời; điều thứ nhì là cách họ đào tạo học sinh, sinh viên không khoa học tí nào; và điều thứ ba, cơ sở trường ốc Việt Nam cũng không đầy đủ hơn tất cả các nước khác.
Ông Thiều còn không đề cập đến một điều khác, quan trọng hơn cả 3 điều này là môi trường Việt Nam, trong đó những thầy giáo, cô giáo phải đào tạo những “con người”, công tác đào tạo mà ông nhận định rất đúng là đã thất bại.
Làm cách nào một giáo sư có kiến thức không thấy ngượng miệng khi giảng dạy về tính ngay thẳng, đạo đức phục vụ của viên chức hành chánh, mà ông ý thức được là sinh viên biết rất rõ tình trạng tham nhũng, quan liêu trong chính quyền.
Giáo sư, giáo viên không thể giảng dạy những điều man trá, trái với sự thật xã hội. Tờ VietnamNet kết tội thầy, cô giáo bằng tục ngữ “con sâu làm rầu nồi canh”, lời kết tội lại càng sai sự thật. Nếu nồi canh là hình ảnh xã hội Việt Nam hiện tại, thì nồi canh đó nấu bằng những miếng thịt thối, những lá rau úa khô. Con sâu thầy, cô không làm nồi canh Việt Nam “rầu” đục hơn được.
Nhà văn Chu Lai phát biểu, “Các thầy, các cô không biết rằng khi mà đưa tay, dù tế nhị hay không tế nhị, cầm một phong bì xin học, xin chuyển tuyến, xin lo điểm của một cậu học sinh, sinh viên thì các thầy có biết rằng, cậu sinh viên đó vừa đưa phong bì, vừa mỉm cười khinh khỉnh không? Tôi cho đó là cái đau vô cùng.”
Việc thầy, cô giáo tham nhũng, nhận hối lộ của học trò chỉ làm nhà văn Chu Lai “đau vô cùng”, thì điều này là chỉ dấu ông không bén nhậy, không chia được cảm giác của cả người đưa lẫn người nhận hối lộ. Ðáng lẽ ông phải viết lên những bài báo, những chuyện ngắn, chuyện dài, mô tả hiện tượng khiếp đảm đó.
Vẽ lên, nêu lên tệ trạng tham nhũng, vô trách nhiệm, là ông Chu Lai, và những người cầm bút khác trong nước đã giải quyết được một nửa tệ trạng này. Nhưng ông không viết gì cả, có lẽ vì ông đã thấy những ký giả đụng chạm đến tham nhũng bị chính thể Việt Cộng trừng phạt bằng vài năm tù giam.
Ðại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết không chỉ là một chính khách thôi, ông còn là một giáo sư nữa. Ông Thuyết trình bầy, “Nếu nói rằng nhà trường chỉ có trách nhiệm dạy chữ mà không dạy dỗ, giáo dục gì thì cũng không đúng. Các môn giáo dục chính trị đạo đức rất nhiều, vấn đề là mình giáo dục như thế nào. Nếu mình chỉ dạy lý thuyết, không có rèn luyện lối sống cho các cháu hoặc mình dạy một đằng thực tế diễn ra một nẻo thì kết quả sẽ khác.”
Ông Thuyết nói nội dung giảng dạy thì hay, nhưng cách giảng dạy lại quá dở qua câu, “Các môn giáo dục chính trị đạo đức rất nhiều, vấn đề là mình giáo dục như thế nào.” Nếu chính ông, người đội cả hai cái mũ giáo sư và chính khách mà còn tưởng là có thể đem đạo đức Hồ Chí Minh ra giảng dạy tại học đường thì thái độ không thức thời của ông đang giúp giải thích tình trạng tệ mạt của nền giáo dục Việt Nam.
Thế giới nhận xét sở dĩ nền đại học Việt Nam đứng hạng bét tại Á Châu là do sinh viên mất quá nhiều thì giờ học chính trị.
Giáo sư Thuyết còn nói, “Thực ra, xem lại lịch sử, chúng ta thấy, ở nước nào, thời nào cũng có những người rất tệ. Và ngược lại cũng có những người rất trung thực, khỏe mạnh và tôi cũng mừng rằng trong lịch sử nhân loại thì đó luôn là số đông.
Nhớ lại Hoàng Lê nhất Thống chí để có thể thấy mối quan hệ thầy trò như thế nào: Sau khi ông Tuần Trang bắt chúa Trịnh giao cho đối phương thì ông Lý Trần Quán là người thầy gửi gắm ông Tuần Trang cho chúa của mình đã phải uất ức mà mắng học trò thì anh học trò cãi lại rằng: Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu thân. Có thể nói rằng, đó là sự bại hoại phong tục tốt đẹp của dân tộc. Và ông Lý Trần Quán tự trừng phạt mình bằng cách nằm vào quan tài và yêu cầu người nhà chôn sống ông ấy để tạ tội với cái đạo của mình, tạ tội với chúa.”
Ông Tuấn Trang có thể nói lên tâm trạng của ông Thuyết, “sợ lẽ phải không bằng sợ quyền lực, và yêu dân tộc không bằng yêu thân”.
Ðừng đổ lỗi cho thầy, cô giáo nữa, vì chính ông Thuyết đã ví von nói “quần chúng chỉ là một dẫy số không, giá trị của dẫy số này lớn đến đâu là do những con số từ 1 tới 9 đứng đầu dẫy số không này.
Giáo dục Việt Nam, trên cả 3 bình diện trí, đức, và thể dục, đang là một con số không lớn, vì chính ông bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ là một con số không kịch cỡm, thích ví von cải lương mà không ý thức được gánh nặng giáo dục ông đang gánh.
Ông lang bốc thuốc lầm giết một người, ông hiệu trưởng mua trinh nữ sinh giết một trường, và ông Nhân dốt nát đang giết cả một thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam.


Nguyễn Ðạt Thịnh

Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thu, một điêu khắc gia tài ba của Quân Lực Việt Nam Cộng

Lời giới thiệu: Trong lần về VN thăm quê hương nữ phóng viên Xuân Hương của chương trình Newland TV. đã có cơ hội gặp và nói chuyện với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tại tư gia của ông. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là tác giả bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông vừa là một sĩ quan trong QLVNCH với cấp bậc Thiếu tá . Liên tục trong hai ngày gặp gỡ, trò chuyện, P.V. Xuân Hương đã được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tiết lộ nhiều điều khá thú vị trong sự nghiệp nghệ thuật và 8 năm trong lao tù Viêt cộng của một chiến sĩ QLVNCH.
Với giọng văn giản dị miền Nam, nữ phóng viên Xuân Hương đã kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ, kỳ thú. Newland T.V. xin hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bốn phương thiên phóng sự đặc biệt này.
* New Land T.V.
http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/tuong-tiec-thuong.jpgỞ Mỹ, Xuân Hương đã nhìn thấy hình ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa qua sách báo, qua các băng Video và DVD. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi an nghĩ cuối cùng của hơn 18 ngàn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng.
Trước cổng vào nghĩa trang có một bức tượng đồng người lính ngồi trên tảng đá, ôm súng thương, nhớ đến những người bạn đã nằm xuống. Đó là, bức tượng Thương Tiếc do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện.
Bức tượng đồng có chiều cao 9 thước, sau ngày 30/4/75 đã bị bạo quyền Việt cộng gian ác giật sập, phá hủy.
Xuân Hương trong dịp về thăm quê hương , may mắn đã gặp được điêu khắc gia NguyễnThanh Thu. Với hai lần gặp gỡ và nhiều tiếng đồng hồ trò chuyện, điêu khắc gia Thu kể cho Xuân Hương nghe nhiều điều vui , buồn, thú vị đã xảy ra trong đời ông chung quanh sự nghiệp điêu khắc và những tháng năm tù tội.
Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết trong nhiều tác phẩm. Ông cảm http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/tuong-te.jpgthấy danh dự nhứt trong sự nghiệp của mình là tác phẩm “Ngày Về”. Tác phẩm này, diễn tả hình ảnh người chiến binh trở về từ chiến trường được người hậu phương choàng vòng hoa chiến thắng. Tác phẩm “Ngày Về ” của Nguyễn Thanh Thu đã được giải nhứt trong Ngày quốc khánh 26 tháng 10 năm 1963 về Văn Học Nghệ Thuật dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa của TT. Ngô đình Diệm. Và tác phẩm thứ hai là Thương Tiếc, thời đệ nhị VNCH của TT. Nguyễn văn Thiệu.
Lịch sử bức tượng đồng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/Thuong-tiec.gifBức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt đang diễn ra tới mức độ ác liệt.
Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.
ĐKG. Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó Tổng thống Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.
Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.
ĐKG. Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.
Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG. Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phát họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghĩ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.
Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, Đ KG.Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân mắt quắc tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai . Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .
Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.
Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phát họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận. Phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.
Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phát họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phát họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.
Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phát họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phát họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống .”
TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phát họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như 1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn , 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .
Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.
Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia N.T.T phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.
Một chiến sĩ QLVNCH can trường trong ngục tù cộng sản
Điêu khắc gia Thu tâm sự, khi còn ở trong tù lúc bị nhốt ở “cô – nét” ông nhớ đến tượng Thương Tiếc và đã vái thầm tất cả vong linh chiến sĩ VNCH trong ba ngày, hãy cho ông biết ông có thoát khỏi dự định xử bắn của VC hay không. Thì vào một buổi trưa, ông chập chờn thấy có người báo mộng cho biết ông không sao cả, nhưng thời gian tù tội còn lâu lắm.
Người điêu khắc gia tài ba kể tiếp. Trước đó, một người bạn đã dặn dò ông phải coi chừng và cẩn thận trong lúc ở tù VC vì ông quá nổi tiếng về những tác phẩm điêu khắc nên chắc chắn VC sẽ không để ông yên. Lúc đó, ông không quan tâm cho lắm, nhưng vào một buổi trưa trong lúc các tù nhân đang nghĩ ngơi , thì ông được một cán bộ quản giáo mời ra ngoài báo cho biết ông chưa khai báo thành thật, còn dấu diếm nhiều điều. Thiếu tá Thu hỏi dấu diếm những điều gì? Để trả lời, tên cán bộ lấy ra một danh sách tên tuổi các tù nhân, mà theo ông là do các người làm “ăng ten” trong trại báo cáo. Ông cho biết những người chịu làm ‘ăng ten” cho VC sẽ được lãnh tiêu chuẩn gạo 11 ký một tháng, thay vì 9 ký như mọi người. Ông còn nói thêm, những kẻ làm “ăng ten” không phải vì họ thù ghét ai, mà chỉ vì “miếng ăn” mà thôi.
Cầm bảng danh sách trên tay, tên cán bộ nói rằng thiếu tá Thu là tác giả bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhưng tại sao lại không khai báo. Và phải cho anh ta biết, lý do tại sao ông lại làm ra bức tượng này. Điêu khắc gia Thu trả lời vì ông là một quân nhân trong QLVNCH, ông làm bức tượng Thương Tiếc là để cùng người dân miền Nam tỏ lòng thương tiếc sự hy sinh của các chiến sĩ chiến đấu cho tự do. Tên cán bộ lại hỏi, tại sao lại làm bức tượng Ngày Về. Ông giải thích cho tên cán bộ nghe rằng, đời lính hành quân nay chỗ này, mai chỗ kia, vài ba tháng mới được phép về thăm vợ con một lần. Ông làm tượng Ngày Về để nói lên sự vui mừng khi vợ chồng gặp lại nhau, thì đâu có gì gọi là không tốt.
Tên cán bộ quản giáo đề cập đến bức tượng An Dương Vương và thành Cổ Loa là biểu tượng của ngành Công binh QLVNCH với những lập luận ngây ngô. Tên cán bộ nói với Nguyễn thanh Thu , An Dương Vương là người lập quốc, còn bác Hồ là người giữ nước. Vậy tại sao ông không ghép hình bác Hồ vào. Ông trả lời tên cán bộ rằng, lúc làm tượng An Dương Vương ông đâu biết bác Hồ là ai, là người nào, nên không thể ghép vào được. Nghe nói vậy, tên cán bộ xám mặt lại, hắn ta ra lệnh cho ông đứng đó không được đi đâu hết. Tên này chạy về văn phòng gọi thêm 6 tên cán bộ nữa, súng ống đầy đủ, chạy đến chỗ Nguyễn thanh Thu đứng. Trong 6 người này có một tên là chính trị viên đã gằn hỏi: “Khi nảy anh đã nói gì với anh Sáu ”. NTT trả lời: “Tôi không có nói gì hết”. Tên chính trị viên nói tiếp: “Anh Sáu cho tôi biết anh nói là dân Sài Gòn, người miền Nam không ai biết bác Hồ. Vì không biết nên anh không thể làm tượng bác kèm với An Dương Vương, có đúng không?”. Điêu khắc gia http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/chay-loan-2.gifThu trả lời “Đúng vậy”. Nghe trả lời như thế , tên cán bộ chính trị viên nói cho ông 5 phút định trí, để nói lại. Đồng thời tên này còn hỏi gằn: “Anh bảo rằng anh không biết bác Hồ phải không?”. Thiếu tá Thu thẳng thắn trả lời: “Tôi không biết mặt, biết tên ông này”. Tên cán bộ nói : “Nếu anh không biết, tôi cho anh biết ”. Sau đó, chúng lôi điêu khắc gia Thu về văn phòng đánh đập tàn nhẫn liên tục trong ba ngày, ba đêm. Tuy bị đánh đập dã man, nhưng thiếu tá Thu chịu đựng và im lặng không lên tiếng gì hết. Thấy vậy một tên cán bộ nói: “ Bây giờ mầy nói về hai chữ Tự Do cho chúng tao nghe coi ”. Thiếu tá Thu bấy giờ mới lên tiếng: “ Nếu tôi không nói thì cán bộ nói tôi khinh, nhưng khi tôi nói thì cán bộ không tin. Bây giờ, tôi nói về Tự Do cho cán bộ nghe. Người miền Nam có tự do là họ được đi đứng dễ dàng, ăn nói thoải mái không có bị khó dễ gì hết. Còn những người CS các anh cũng có tự do, nhưng chỉ có những chữ viết trên các cổng ra vào được sơn son thiếp vàng, chỉ có trên vách tường tại các văn phòng làm việc, chớ người dân thì không có ”. Nghe nói vậy, bọn VC lại ra tay đánh đập NTT một trận tơi bời, đỗ máu mũi. Sau đó, chúng đem nhốt ông vào “cô – nét ”. Ông cho biết, sau nhiều tháng trong “cô nét” ông chỉ còn xương và da, đứng lên muốn không nỗi.
Một tình cảm khó quên
Một ngày nọ, vào khoảng 4 giờ sáng cửa “cô – net” được mở ra,và một họng súng AK chỉa ngay vào thiếu tá Nguyễn thanh Thu , rồi một giọng ra lệnh cho ông bước ra. Ngoài trời tối đen, lờ mờ sáng, ông đứng không vững khi bước ra cửa “cô- net” nên bị hụt chân té qụy. Tên cán bộ ra lệnh cho điêu khắc gia Thu đứng dậy và giơ tay ra để cho chúng móc còng vào. Sau đó, ông được bốn tên cán bộ kè đi về phía cổng trại để vào khu rừng chuối kế bên. Đang đi bổng nhiên có một chiếc xe Jeep chạy tới đèn pha sáng choang làm chói mắt mọi người. Chiếc xe Jeep ngừng lại tắt đèn, có tiếng nói chuyện trao đổi giữa hai bên chừng 5 phút. Sau đó, toán dẫn cán bộ quay lại bịt mắt ông và tiếp tục kéo lết đi vào rừng chuối. Đến nơi, tên cán bộ kéo thiếu tá Thu nhốt vào một nhà cầu của khu gia binh của VNCH bỏ hoang từ lâu. Quá mõi mệt nên ông đã ngủ thiếp lúc nào không hay. Gió theo khe hở thổi làm ông tỉnh dậy, qua khe hở ông thấy trời đã sáng và biết mình chưa chết. Thiếu tá Thu cười nói rằng, bị nhốt ở trong cầu tiêu nhưng ông cảm sung sướng, thoải mái hơn là lúc bị nhốt ở “cô – net” nhiều.
Kể tới đây, điêu khắc gia NTT cười và cho biết từ đó không ngờ lại xảy ra “Những tình cảm khó quên”. Ông kể tiếp là vào buổi trưa hôm đó, một cô gái người Bắc tay cầm chén cơm, bịt muối và đôi đũa tre đến mở cửa cầu tiêu đưa cơm cho ông ăn, nhưng cô ta mở không được vì bên trong ông đã móc cửa lại. Bên trong, ông hỏi vọng ra “Cô là Bắc kỳ phải không, nhưng Bắc kỳ nào? Bắc kỳ 54 hay Bắc kỳ giải phóng”. Cô gái trẻ khoảng 22, 23 tuổi trả lời: “Này nhé, tôi là chị nuôi của ông. Đem cơm cho ông ăn mà ông hỏi tôi như thế”. Nói xong cô ta cầm chén cơm bỏ ra về. Khoảng 3, 4 phút sau, một tên cán bộ đến ra lệnh cho ông phải mở cửa ra và mắng: “Lúc nào cũng láo khoét. Tha chết cho rồi mà còn láo khoét”. Nói xong tên cán bộ bỏ đi. Vào buổi chiều cô gái trở lại, thiếu tá Thu nhủ thầm trong bụng là không giỡn nữa, vì giỡn sẽ đói. Khi cô gái mở cửa bỏ phần cơm vào, ông phân trần với cô là ông chỉ giỡn một chút mà cũng đi mét.
Qua ngày kế, một tên cán bộ và hai người tù đến chỗ nhốt thiếu tá Thu, dùng đồ nghề khoét một cái lỗ vuông nhỏ trên cửa cầu tiêu. Xong đâu đó, tên cán bộ nói: “Từ nay không mở cửa nữa. Mỗi lần tới giờ cơm, anh dùng miếng gỗ đưa cái chén cũ ra và sẽ nhận được chén cơm mới đưa vào qua cái lỗ này”. 11 giờ trưa hôm đó “chị nuôi” của điêu khắc gia Thu đem cơm và muối đến cho ông. Theo như lời dặn, thì thiếu tá Thu khi nhận chén cơm mới ông phải trả cái chén không lại, nhưng ông không làm điều này. Cô gái lên tiếng hỏi, nhưng ông không trả lời. Cứ như vậy hai ba ngày liên tiếp, ông giữ lại tất cả 7 cái chén. Một hôm cô gái phàn nàn: “Ông giữ hết chén thì tôi đâu còn chén để đựng cơm cho ông”. Nghe vậy, thiếu tá Thu cuời nói: “Nếu cô muốn tôi trả lại mấy cái chén thì phải có điều kiện”. Cô gái hỏi: “Điều kiện gì?” Ông đáp: “Cô để bàn tay của cô lên tấm ván đưa cơm cho tôi rồi đưa vào cho tôi thấy” . Sau vài giây tần ngần, cô gái làm theo điều kiện của điêu khắc gia Thu. Ông đã tinh nghịch dùng đôi đũa tre đụng vào bàn tay của cô gái rồi sau đó đưa trả 7 cái chén cho cô gái. Cô gái ngạc nhiên hỏi: “Chỉ có vậy thôi à!”. Ông trả lời: “Chỉ có vậy thôi!”. Cô gái bỏ về.
Trong lúc thiếu tá Thu đang ngồi ăn cơm, thì cô gái trở lại với một bà già đi phía sau . Đến trước cửa cầu tiêu, nhìn vào lỗ đưa cơm bà già nói: “Ông này, con Lan nó đem cơm cho ông ăn, thế mà ông còn lấy đũa chích vào tay nó. Là cái gì vậy? Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cười nói: “ Vậy mà cũng không biết”. Nghe vậy bà cụ phàn nàn: “Ông làm kỳ quái quá ai mà biết được”. Bị hỏi dồn nhiều câu, Thiếu tá Thu nói nhỏ: “ Là yêu đấy!”. Nghe như vậy người con gái tên Lan đỏ mặt thẹn thùng, vội vả quay lưng bỏ đi.
Qua ngày hôm sau, cô gái tên Lan lúc đem cơm đến cho điêu khắc gia Thu, cô nhỏ nhẹ và tha thiết nói: “ Anh Thu à! Em khuyên anh, anh thôi đừng có “anh hùng” nữa. Như vậy, thiệt thòi cho anh lắm anh có biết không? Chúng nó đã tha chết cho anh đấy!” Rồi cô nói tiếp, giọng run run: “ Em thương mấy anh sĩ quan cải tạo các anh lắm. Kể từ nay, đến giờ cơm em sẽ để cục thịt nằm ở đáy chén. Khi em đưa cơm vào, anh hãy tìm cục thịt ăn liền trước nha! Để đề phòng cho cả em và anh không bị cán bộ bắt gặp làm khó dễ”.
Thiếu tá Thu cảm động hỏi: “ Cô Lan! Làm sao cô biết chúng nó tha chết cho tôi?” Cô gái khẻ nói: “Này nhé! Anh còn nhớ không? Khoảng 4 giờ sáng hôm đó, gần nhà bếp, em thấy đèn pha của chiếc xe Jeep chạy ngang. Và khoảng nửa tiếng sau, có bốn cán bộ súng ống trên vai bước vào nhà bếp bảo em pha cà phê cho họ uống. Họ kể cho em nghe là đáng lẽ có một tù nhân bị đưa đi bắn.. Nhưng sau đó bỗng nhiên “có lệnh hồi”. Nên tù nhân này được lôi vào nhốt tạm thời trong một cầu tiêu của một trại gia binh trước bỏ hoang”. Cô Lan kể tiếp: “ Có một lần em đón đường hỏi các anh đi lao động ngoài rừng về hỏi tại sao anh phạt bị nặng như vậy, thì mọi người cho biết vì anh là tác giả bức tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa. Nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, em không lạ gì bước tượng này, vì hồi đó, chiều nào em và các bạn thường hay chơi quanh gần tượng.
Điêu khắc gia Thu hỏi cô gái: “Cô ở Hố Nai được bao lâu rồi?” Cô Lan kể lể: “Cha em là bộ đội VC ngoài Bắc, vào Nam đánh trận bị bom dội chết trong rừng. Mẹ em đã gánh em vào Hố Nai và em đã lớn lên từ đó”.
Kể đến đó, thiếu tá Thu không dấu được sự xúc động. Ông ngậm ngùi nói: “Cô Lan rất tận tình và tốt với tôi. Những chân tình ấy cùng với những kỷ niệm rất dễ thương tôi luôn trân quý. Cô là nguồn an ủi của tôi trong lúc bị tù đày, trong nỗi đau và sự bất hạnh của một đời người. Tôi rất muốn trả ơn cho cô, nhưng không biết đâu mà tìm. Tôi nghĩ những tình cảm này khó phai nhạt trong đời mình”.
Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
Thiếu tá Thu cho biết vào thời điểm đó, khoảng tháng 8, nhiều đổi thay xảy http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/Nguyen-tTHU2.gifđến với ông. Một hôm, cán bộ quản giáo gọi ông lên làm việc. Tên cán bộ nói: “Anh Thu, chẳng lẽ anh muốn ở mãi trong thùng sắt sao? Tôi đề nghị là anh đừng nhận mình là tác giả “chính” đã làm tượng “Thương Tiếc” mà anh chỉ là người “phụthôi. Người “chính” đã vượt biên đi rồi. Anh viết bản tự thú như vậy, tôi sẽ cứu xét và giảm tội cho anh”. Nhưng ông đã khẳng khái trả lời: “Cám ơn cán bộ đã khuyên tôi, nhưng với tôi tác phẩm Văn hóa Nghệ thuật là con đẻ của mình. Sao tôi lại trốn tránh trách nhiệm và đỗ thừa cho người khác? Tôi không thể làm như vậy được”.
Vài ngày sau, một tên cán bộ khác đến gặp ông và ra lệnh cho ông phải làm tượng HCM để kịp ngày Quốc khánh 2/9 của VC.Thiếu tá Thu cho biết là ông nhận lời đề nghị này, vì ông đã có ý định trốn trại. Ông nói với cán bộ quản giáo biết, là muốn làm tượng phải có đủ đồ nghề. Thế là ông được bốn tên bộ đội chở về nhà để lấy đồ nghề. Trên đường về ông xin ghé nhà mẹ mình để thăm bà. Đến nơi, mấy tên bộ đội thì ngồi chuyện trò với cô Hồng em gái của ông ở cửa trước. Còn ông vào nhà gặp mẹ. Hai mẹ con gặp nhau mừng rỡ rối rít. Bỗng bà cụ nghiêm mặt nói: “ Thu à! Má đẻ con ra mà không biết tánh con sao! Con hãy ráng ở trong tù thêm một năm nữa đi. Nếu con mà trốn, má sẽ chết cho con coi”. Nghe mẹ nói như vậy, ông quá sức bàng hoàng, tự nghĩ: “Trời ơi! Bao nhiêu ý định nhen nhúm giờ đây đã tiêu tan. Nỗi buồn tràn ngập trong lòng, vì ông sẽ trở về giam mình trong cái thùng sắt ( 2m x 1m) sừng sững ngoài trời , tiếp tục chịu đựng thời tíết khắc nghiệt, sức nóng như thiêu đốt của mùa Hạ, hay lạnh giá của mùa Đông rét mướt “.
Theo như thỏa thuận là sau khi được về thăm nhà và lấy đồ nghề, ông sẽ thực hiện điêu khắc tượng HCM. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong trại giam. Từ đó, không biết bao nhiêu lời nguyền rủa vang lên làm ông đau khổ vô cùng.
Trước khi ra lệnh bắt ĐKG. Thu làm tượng HCM, cán bộ VC đã liên lạc trước với gia đình thiếu tá Thu. Chúng dàn cảnh cho vợ, con ông được đến thăm viếng đặc biệt. Tuy nghèo nhưng gia đình ông cũng mua thịt vịt quay, bánh mì, bày biện ra để cả nhà cùng ăn trong trại giam. Thật bất ngờ, trong tờ Tin Sáng cũ dùng để gói vịt quay, thiếu tá Thu nhìn thấy hình TT. Nguyễn văn Thiệu. Ông xé tấm hình đó, xếp nhỏ cất vào túi cất. Đến ngày nặn tượng chân dung HCM, thiếu tá Thu lại khắc nét của Tổng Thống Thiệu. Ông cho biết, rất phấn chấn trong lòng và thầm nghĩ: “ Tự mình, trí ta, ta hay, lòng ta, ta biết”.
http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/TT.-Thieu.jpgSau này, Nguyễn thanh Thu được kể lại. Một buổi chiều nọ, trên đường đi lao động về đám tù nhân đi ngang qua nhìn thấy pho tượng HCM sắp được hoàn tất, họ có vẻ thích thú xầm xì : “ Trời ơi! Tụi mày xem giống TT. Thiệu quá! Giống quá tụi bây ơi!” Tiếng xầm xì làm mấy tên “ăng ten” chú ý. Lập tức chúng trình báo cho cán bộ quản giáo hay.
Khoảng 4 giờ 30 chiều, vào thời điểm bức tượng HCM đang được điêu khắc gia Thu gắn râu mới được một bên mép thôi, thì một tên cán bộ bước đến hỏi: “Tượng sắp xong rồi chứ?” Miệng vừa hỏi, tên cán bộ nhanh tay thò vào túi áo ông lấy mãnh giấy báo có hình TT. Thiệu. Thế là xong! Việc bị đỗ bể. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu lại tiếp tục trở vào thùng sắt nhận thêm bốn tháng biệt giam, bị hành hạ đủ điều. Tại đây, ông kiệt sức, bất tỉnh, được đưa vào trạm bịnh xá.
Tại trạm xá, ông được một tù nhân khác là phi công Đỗ Cao Đẳng, chú của trung tướng Đỗ Cao Trí làm Trưởng trạm xá, và một số học trò cũ của ông, từ thời còn học trung học Võ trường Toản, hết lòng cấp cứu. Nhờ vậy, ba ngày sau ông mới tỉnh lại. Với tình trạng sắp chết, da bọc xương, điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu được VC tha cho về với gia đình kể từ đấy.
Hoài bảo không nguôi
Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết ông ở tù VC 8 năm. Sau khi ở tù về, ông tìm đủ mọi cách để vượt biên ra nước ngoài. Ông nghĩ rằng qua bên Mỹ ông dễ có cơ hội thực hiện những mộng ước của đời mình. Đó là, dựng lại tượng “Thương Tiếc” nơi quê hương thứ hai. Nhưng trong 15 năm sống tại Mỹ, ông không tìm ra được một mạnh thường quân nào giúp đở. Ông đành buồn bã trở về Việt Nam sinh sống. Ông cảm thấy cô đơn với mơ ước của mình. Nhưng, ông vẫn hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện được, nên hàng ngày ông cố gắng tập thể thao để tinh thần và thể xác không suy nhược.
Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu cho biết, khi còn ở Mỹ ông đã có hân hạnh gặp lại TT. Nguyễn văn Thiệu khi TT. Thiệu từ Boston đến Nam Cali thăm viếng và nói chuyện với đồng bào tỵ nạn. Tổng thống Thiệu được một người bạn của thiếu tá Thu sắp xếp hướng dẫn đến gặp nhà điêu khắc. Khi gặp thiếu tá Thu , TT. Thiệu vồn vả hỏi liền: “ Anh Thu có khỏe không? Tôi nghe nói ở trong tù anh đã làm tượng tôi phải không?” Điêu khắc gia Thu xúc động cho biết, là ông rất ngạc nhiên khi TT. Thiệu bất ngờ hỏi như vậy. Ông đã hỏi lại TT. Thiệu: “Làm sao tổng thống biết được?” TT. Thiệu nở nụ cười hiền hòa: “Làm sao tôi không biết được”. Giây phút gặp gỡ quá ngắn ngủi. Sau đó, vị tổng thống nền đề nhị VNCH vội vả từ giã đồng bào ra phi trường trở về Boston cho kịp chuyến bay.
Khi nhắc tới TT. Nguyễn văn Thiệu, thiếu tá Thu mơ màng nhớ về dĩ vãng xa xưa. Vì đó là kỹ niệm mà trong đó có những tác phẩm nghệ thuật ông tạo hình, nhờ sự gợi ý của tổng thống Thiệu.
Thiếu tá Thu cho biết sau 3 tháng khi tượng Thương Tiếc được khánh thành ở Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, TT. Nguyễn văn Thiệu đã tổ chức một bữa tiệc khoản đãi tại Dinh Độc Lập, và đã mời điêu khắc gia Thu đến dự. Trong khi trò chuyện với ĐKG. Thu , TT. Thiệu chỉ bồn nước phun trước Dinh Độc Lập ,và nói muốn làm một biểu tượng gì đó.
Kể đến đây, ĐKG. Thu không nén được xúc động và thành thật nói: “ Trông http://www.vietmotion.com/tienggoidantoc/wp-content/uploads/2009/09/Duoc-mua-2.gifTT. thật tội nghiệp với vẻ buồn lo của ông”. Trầm ngâm một chút, TT. Thiệu nói với điêu khắc gia Thu: “ Anh nghĩ xem, xứ mình đang ở trong tình trạng chiến tranh. Người lính thì đang sống, chết ngoài tiền tuyến. Biểu tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang QĐ đã tạm yên. Nhưng, tôi nghĩ mình còn phải làm thêm một cái gì đó nữa, để giáo dục mọi người…Xin lỗi , người dân nhiều khi cũng thờ ơ với cuộc chiến lắm nên tôi muốn có một tác phẩm gây ý thức trong lòng người dân. Là dù đang chiến tranh, nhưng chúng ta cũng biết xây dựng, và biết “TỰ LỰC CÁNH SINH”. Chứ hoàn toàn trông cậy vào viện trợ cũng phiền toái lắm. Anh Thu, anh nghĩ sao ? Anh có thể trình một dự án như ý tôi vừa trình bày không?
Sau khi nghe TT. Thiệu bày tỏ tâm sự trên. Cũng như lần trước, điêu khắc gia N.T.T xin Tổng Thống tuần lễ để làm việc. Và sau một tuần, ông đã làm xong 7 bản vẽ về dự án với đề tài có tên Được Mùa. Được Mùa là hình ảnh “Cô gái ôm bó lúa” vừa mới gặt để diển tả sự trù phú của nông nghiệp miền Nam.
Điêu khắc gia Thu đã làm mẫu bức tượng Được Mùa cao 2m . Nhìn bức tượng cô gái ôm bó lúa với gương mặt hớn hở, hãnh diện với công sức mình đỗ ra bằng những giọt mồ hôi, khiến người ta hình dung ra sự giàu mạnh của một nước phát triển nhờ nông nghiệp.
Theo điêu khắc Thu bức tượng Được Mùa, nói lên sức sống trù phú của đồng bằng sông Cửu Long với chín miệng Rồng phun nước. Do đó, tác phẩm này còn có tên là “ Cửu Long Được Mùa”.
Khi nhìn bức tượng mẫu Được Mùa với ý nghĩa của nó, TT. Thiệu chấp thuận ngay. Dự án tượng Được Mùa được thực hiện bằng đồng với tượng cô gái cao 9m, bệ 3m. Kinh phí dự trù là 45 triệu đồng.
Tuy đã chấp thuận, nhưng với số tiền khá lớn đã khiến TT. Thiệu không tránh khỏi lo nghĩ trong khi chiến tranh mỗi ngày càng leo thang. Rồi cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lữa kéo đến. Mọi chi phí đều phải ưu tiên hàng đầu cho ngân sách Quốc Phòng. Thế nên dự án Được Mùa phải đành gác lại và không được hoàn thành theo mong ước của TT. Nguyễn văn Thiệu.
Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngậm ngùi nói: “Tuy tượng Được Mùa không được ra mắt người dân miền Nam, nhưng quá trình dự án cũng đã thể hiện được cung cách của TT. Nguyễn Văn Thiệu – một nhà lãnh đạo luôn quan tâm đến sự hy sinh của Quân Đội, và tinh thần một nước tự lực, tự cường”.
Tượng mẫu Được Mùa cao 2m được TT. Thiệu chấp thuận từ 1971 , đến nay 2009 vẫn còn tại nhà của điêu khắc gia Thanh Thu. Gần đây nhất vào năm 2006 , dù đã 73 tuổi ĐKG. Thu vẫn khắc thêm tượng Cô Gái Được Mùa” thật sống động. Đây là hình ảnh cô gái với chiếc nón lá, ôm bó lúa tựa vào vai. Được Mùa hay Cô gái Được Mùa, kiểu nào cũng đầy ý nghĩa và đẹp vẹn toàn. Ông quả thật không những là thiên tài nghệ thuật, mà ông còn là một chiến sĩ yêu nước nồng nàn.
Cuối cùng, điêu khắc gia Thu cho biết, đến nay ông vẫn còn băn khoăn về một trường hợp mà ông nghĩ là hơi bất thường. Ông nói cách nay vài năm, có một người ở bên Mỹ về tự xưng là một ông cha đã tu xuất tên là Vũ văn Hoàng tuổi trên 70 mươi. Ông Hoàng cho biết đã cải táng được 18 ngàn ngôi mộ tại tỉnh Bình Dương, cũng như đã giúp đở rất nhiều cho thương phế binh. Ông Hoàng nói là muốn cùng với ông tạo dựng lại bức tượng “Thương Tiếc” cho những phần mộ vừa được trùng tu. Nghe như vậy, ông rất mừng rở vì đó là điều ông ôm ấp từ lâu. Sau một tháng gặp gỡ bàng bạc, ông Hoàng có hứa khi trở về Mỹ sẽ báo cho ông biết diễn tiến công việc mà hai người muốn thực hiện. Nhưng, công việc không đi đến đâu và nhiều năm trôi qua ông không còn liên lạc được với ông Hoàng nữa.
Điêu khắc gia tài ba của QLVNCH nói rằng, ông mong khi Xuân Hương về Mỹ sẽ nói cho người Việt hải ngoại biết được ý nguyện của ông. Là người có quốc tịch Mỹ, ông lúc nào cũng sẳn sàng trở qua bất cứ quốc gia nào để thực hiện bức tượng Thương Tiếc. Ông còn tâm sự, ở tuổi 75, nhưng ông ráng sống để một ngày nào đó xây dựng lại tác phẩm Tiếc Thương vì theo ông tác phẩm này, không thể mai một trong hoàn cảnh chính trị “khốn nạn”, là miền Nam bị cưỡng chiếm vào tay bạo quyền Việt Cộng như hiện nay.
*Xuân Hương
Mùa hè Bắc Cali 8/2009

Bài Xem Nhiều