We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 9 October 2009

34 NĂM “GIẢI PHÓNG”, 33 NĂM TÙ ĐÀY!

Sài Gòn ngày 06/10/2009

Viết vì sư hối thúc của lương tâm, viết vì sự phẩn uất trước cái ác đê tiện và viết để đánh động lương tri. Lẽ ra tôi phải viết những dòng chữ này ngay từ ngày đầu tiên ra tù, nhưng không có phương tiện làm việc, đành phải ra mắt bạn đọc muộn vậy. Kính mong quý vị và anh Nguyễn Hữu Cầu lượng thứ.
Một số phận nghiệt ngã bị bách hại bởi một chế độ phi nhân, tàn độc mà có lẽ đến muôn nghìn kiếp sau tôi cũng không thể nghĩ được nó một thời hiện diện trên trái đất này: chế độ toàn trị Cộng Sản Việt Nam. Vâng, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một trong bốn mươi hai câu chuyện thương tâm mà tôi (vô phúc bị) mắt thấy tai nghe. Tôi muốn kể cho quý vị nghe sự thật về anh Nguyễn Hữu Cầu – một cựu đại úy Địa Phương Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một trong 43 người bạn tù chính trị của tôi tại Khu Giam Riệng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.
Sau biến cố đau buồn 30/04/1975, anh Hữu Cầu bị cưỡng bách tập trung cải tạo như mọi quân nhân VNCH khác. Đến cuối năm 1981 thì được trả tự do. Sống được đúng 1 năm ở ngoài và gần cuối năm 1982 lại bị tù cho đến ngày hôm nay – 33 năm trong ngục tù Cộng Sản!
Anh Cầu quê ở Kiên Giang, là một trí thức có năng khiếu trong âm nhạc, thơ ca. Bức xúc trước những số phận nghiệt ngã của người dân và sự gian trá, giảo quyệt, thối nát đến tận cùng của Cộng Sản Việt Nam, anh đã sáng tác rất nhiếu bài thơ, bài ca và cả trường thi hơn 2000 câu (tôi không thể thuộc được). Sáng tác xong, anh thường đọc cho các bạn của mình là những bác sỹ, giáo viên ở Kiên Giang nghe, đồng thời ghi lại những tác phẩm đó trong một quyển sổ dày khoảng 500 trang. Linh tính về việc làm của mình có thể dẫn đến tù đày tiếp, anh Cầu đã ghi lại những tác phẩm của mình theo cách sau : Trang lẻ, anh Cầu ghi sáng tác của mình, còn trang chẵn (mặt sau của trang trước) anh Cầu ghi lại những tội ác tày đình một cách chi tiết của các quan chức tỉnh Kiên giang, anh và nhóm bạn mai phục, gặp gỡ, phỏng vấn nhân chứng mà có được. Anh Cầu làm việc này vì nghĩ rằng nếu bị bắt thu quyển nhạc, thì chúng không thể trưng ra bằng chứng đó trước tòa được, vì nó liên quan tới rất nhiều quan chức cấp cao của địa phương, kể cả phó chủ tịch tỉnh và Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang.

Ngày 09 tháng 10 năm 1982, anh Nguyễn Hữu Cầu bị bắt. Sau 5 tháng bị giam để điều tra, tòa án Kiên Giang mang anh Cầu ra xử với mức án tử hình với tội danh “Phá Hoại”. Thật may mắn, trong thời gian bị giam, anh Cầu được một người Công An điều tra xét hỏi cho biết là chính anh ta phải nhận nhiệm vụ giả chữ viết của anh Cầu để sao lại quyển sách của anh (mặt sau của các trang để trắng). Công việc được thực hiện trong 3 tháng mới hoàn tất. Và sau khi hoàn tất, anh sẽ bị xử chết ngay để bịt đầu mối.

Biết được thông tin này, anh Cầu đã kiên quyết chối phăng đi và không thừa nhận quyển sách cùng những sáng tác của mình. Tuy vậy, anh Cầu vẫn bị xử tử hình. Một trong những người đã tham dự phiên tòa là ký giả độc lập Trương Minh Đức – đảng viên Đảng Vì Dân, người đã ở tù chung với tôi và hiện đang bị giam chung với anh Nguyễn Hữu Cầu. Sau đó, anh Cầu đã kháng án, và nhờ trợ giúp của người nhà, anh đã gặp được luật sư Trần Thời Vượng, một luật sư già sắp về hưu. Ông Vượng nói với anh Cầu là ông muốn làm một việc gì đó có ý nghĩa trước khi về hưu. Nhờ ông Vượng mà quyển sách được đem đi giám định hình sự tại Sài Gòn. Cơ Quan Giám Định Hình Sự bộ Nội Vụ kết luận : Quyển sách không phải do anh Nguyễn Hữu Cầu viết ra. Tuy thế, để binh vực lẫn nhau, tòa phúc thẩm Tp Hồ Chí Minh vẫn không xử anh được trắng án mà giảm xuống chung thân.


Tôi thật sự phẩn nộ khi được đọc bản Cáo Trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Kiên Giang sáng tác ra để buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu. Tôi không còn nhớ nguyên văn, nhưng tôi đoan chắc và hoàn toàn chịu trách nhiệm về một số nội dung trong bản Cáo Trang buộc tội anh Cầu mà tôi đã đọc được. Xin hỏi quý vị - đặc biệt là các Phật Tử, có ai không biết Đức A Nan và Ca Diếp đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni lúc Ngài còn tại thế? Ấy vậy mà trong bản Cáo Trạng buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu, Viện Kiểm Sát Nhân Dân (lại Nhân Dân!) đã viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với những tên A Nan và Ca Diếp để nhằm mục đích hoạt động phá hoại chế độ. Nay tên Ca Diếp đã vượt biên, còn tên A Nan đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào truy nã được thì sẽ xét xử sau.


Nhân tiện đây tôi xin thưa với quý ông Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang thời đó (1982), và quý ông Cộng Sản thời nay. Tôi xin mách cho các ông biết nơi ẩn náu của hai “tên” Ca Diếp và A Nan để quý ông dễ dàng bắt giữ mà khỏi mất công phải truy nã nữa, mệt lắm! Họ đang ở tỉnh Cực Lạc, nước Niết Bàn. Muốn qua đó thì mời quý ông qua Tây Trúc mua vé nhé! Hoặc có thể truy cập vào website sau để đăng ký, sẽ được công dân của nước Niết Bàn giao vé tới tận nhà : samhoitoiloideduocs ieuthoat. com
Tôi xin viết lại nguyên văn bài “Giọt Nước Mắt Chúa” do “tên” Nguyễn Hữu Cầu viết ca ngợi Đế Quốc Mỹ, mời quý Ki Tô hữu thưởng lãm : Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha chỉ đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sư dữ, A men!. Thật hết biết! Bài Kinh Lạy Cha để tôn vinh Đức Chúa Trời của tín đồ Ki Tô trên toàn thế giới, lại biến thành bài “Giọt Nước Mắt Chúa” trong Cáo Trạng buộc tội anh Cầu của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang. Cáo Trạng Viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát “Giọt Nước Mắt Chúa” với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Đế Quốc Mỹ, tên Cầu đã ví Đế Quốc Mỹ như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn, (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày). Còn rất nhiều điều thực sự ngu dốt đến thương hại của một cái gọi là “Bản Cáo Trang” ấy, trong tinh thần của bài viết tôi không thể đưa ra. Nếu có thể được, quý độc giả sẽ tận mắt mục kích nó trong một ngày gần đây.


Trong thời gian ở trại tù Z30A, anh Cầu đã được Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Giám Đốc Giòng Tên, cùng ở tù chung với anh Cầu, rửa tội để trở thành Kitô hữu - một trong những lý do không được giảm án hay ân xá. Đi theo lời kêu gọi của lương tâm và tinh thần của một Kitô hữu, anh cầu đã đấu tranh không khoan nhượng với những tội ác mà CSVN thông qua những bàn tay nhuốm máu của các cai tù, côn đồ, hành xử với tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm. Cụ thể, trong thời gian 28 năm ở trại tù Z30A, anh Cầu đã làm gần 500 lá đơn tố cáo ban Giám Thị trại giam tổ chức mại dâm, buôn bán ma túy, dùng giang hồ khủng bố tù chính trị, sản xuất rượu và pháo lậu, quản giáo đánh đập và giết tù nhân, trại đã chủ trương giết tù nhân chính trị bằng cách cố tình cho lây nhiễm HIV - trại giam không cho sử dụng dụng cụ hớt tóc và dao cạo râu, mà do một tù hình sự, đến kỳ (một. tháng một lần) sẽ vào hớt tóc và cạo râu cho họ và chỉ được dùng duy nhất một lưỡi dao lam cũ, do tù nhân hình sự ấy đưa vào. Thông qua lưỡi dao này, trại giam đã truyền HIV vào tù nhân chính trị - Nhân chứng sống còn chưa chết (nhưng rồi sẽ phải chết), đã bị nhiễm HIV bằng con đường này là anh Đổ Văn Thái (nằm sát với tôi trong phòng giam), hiện đang bị giam tại Khu Giam Riêng, K2, trai giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai.


Vì sợ sự thật sẽ được phơi bày ra anh sáng công luận. Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam mà cụ thể là Trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai đã biệt giam anh Cầu hơn 3 năm (tôi không nhớ chính xác thời gian). Trong thời gian đó, anh Cầu không tiếp xúc được bất kỳ ai ngoài cán bộ quản giáo và người tù hình sự đưa cơm hằng ngày. Trong 3 năm ấy, may mắn sao anh không bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nhưng đôi mắt anh đã bị mù. Đến cuối năm 2007 anh mới được đưa lên bện viện Chợ Rẫy trị mắt – nhưng chỉ được một con. Cách nhốt biệt giam một người tù như thế, nhằm mục đích để bệnh hoạn giết đi một cách gián tiếp. Tôi không thể tưởng tượng ra được, đâu đó trên trái đất này có ai hành xử với đồng loại như thế không ?.
Tội ác của Cộng Sản không sao kể xiết. Gia đình tôi là một trong hàng triệu triệu nạn nhân. Tôi đã biết nhiều qua chứng kiến, đọc, nghe mẹ và nhiều người kể. Ở đây tôi không muốn nhắc tới nữa, vì đã có quá nhiều người viết lên rồi. Tuy nhiên, tôi muốn nói cho những người Cộng Sản biết một sự thật hiển hiện rằng : Với tinh thần hòa hiếu, vị tha của tâm hồn Việt, phù hợp với trào lưu vươn tới Hòa Bình, Bác Ái và Sự Thánh Thiện trên khắp hoàn cầu ngày nay. Người dân Việt có thể tha thứ cho các tội ác mà quý vị đã gieo rắc, nhưng không bao giờ họ quên đi tội ác ấy. Chỉ có một cách duy nhất để làm phai mờ dần những ký ức về tội ác của quý vị trong tâm hồn Việt. Đó là hãy nhìn thẳng vào sự thật, vượt qua nỗi sợ hãi của chính mình mà trở về với Mẹ, sà vào lòng Mẹ mà ăn năn tội và xin Mẹ tha thứ - Mẹ Việt Nam muôn vàn thân yêu và đầy lòng bác ái của chúng ta.
Tôi đang giữ ĐƠN XIN BÁO CÁO BỔ SUNG của anh Nguyễn Hữu Cầu viết gởi ông chánh án Tòa Án Tối Cao. Xin mời quý độc giả ghé mắt :


Sở dĩ có khổ giấy dài như thế là vì trong tù, tù nhân chính trị không được sử dụng giấy và viết. Viết và giấy có được là do lượm lặt, cất giấu và dán lại mà có.
Điều đáng nói ở đây là một Đảng, một Nhà Nước đương đại trong thế hội nhập toàn cầu, đã từng đặt bút ký vào nhiều công ước, hiệp ước đầy tính nhân văn của Liên Hiệp Quốc. Ấy vậy mà đã hành xử tàn bạo đến man rợ như thế. Cộng Sản Việt Nam đã chà đạp lên lương tri Nhân Loại, coi thường Công Pháp Quốc Tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Con Người, mà chính họ đã đặt bút ký vào. Cộng Sản Việt Nam đã không ngần ngại nhào nặn Lịch Sử, xuyên tạc sự thật và bức tử chính Hiến Pháp do họ soạn thảo ra để triệt tiêu bằng được tất cả những người Việt yêu nước chân chính.


Tôi khẩn cầu người Việt yêu nước trên toàn thế giới hãy lên tiếng. Mong các quốc gia dân chủ, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền Quốc tế, có biện pháp hữu hiệu để buộc Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam thả anh Nguyễn Hữu Cầu và những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ trên toàn lãnh thổ Việt Nam vô điều kiện./-

Nguyễn Ngọc Quang

Tôi không cảm thấy tự hào khi là người Việt theo kiểu VIỆT CỘNG

Đó là suy nghĩ của ông bạn già, nguyên là giảng viên đại học, sống và làm việc tại Đức từ năm 1964. Cũng theo lời kể của anh, từ ngày về hưu, có nhiều phái đoàn trong nước sang, hoặc các hội đoàn người Việt hay mời anh giúp, thông dịch tiếng Đức. Không hiểu tại sao, các hội đoàn, các bậc cha mẹ thường gắn vào miệng các cháu thanh thiếu niên, nói tiếng Việt chưa sõi câu “Chúng cháu tự hào mình là người Việt nam“ như một cái máy, khi trả lời phỏng vấn báo chí, hay truyền hình. Trong khi, các cháu cứ nằng nặc, đòi bỏ quốc tịch Viêt nam, nhập quốc tịch Đức. Ra đường hoặc đến trường học nhiều cháu không nhận mình là người Việt. Ngay bản thân bậc cha mẹ các cháu cũng phải giấu biến cái đuôi Việt của mình. Bằng chứng rất ít quán ăn, cửa hàng chủ người Việt , đặt tên cửa hàng bằng tên của quê hương, tổ quốc mình, mà toàn lấy tên ông Thái, ông Nhật, ông Tầu. Tên Việt chỉ được sử dụng trong khu chợ người Việt với nhau.
Thật vậy, chúng ta - TỰ RU- mình, không những ở trong nước, mà nó đã lan ra tới hải ngoại. Ông bạn già cảnh báo đó là sự nguy hiểm vô cùng, cho đất nước và thế hệ trẻ. Chúng ta tự hào sao được khi truyền hình Việt nam ra rả trình chiếu các chương trình "trái tim cho em", kêu gọi ủng hộ các cháu nghèo hoàn cảnh khó khăn, thất học, v..v.v (Cũng theo anh bạn già này, đây cũng là một kiểu ăn mày). Ngay sáng nay thôi, báo chí trong nước đồng loạt đăng tin, một thanh niên 25 tuổi ở ngay thủ đô Hà Nội bị rắn độc cắn không có tiền chữa trị, người vợ xin cho chồng ra viện để về nhà chết. Số tiền chữa trị cho thanh niên này tính ra, không bằng một bữa nhậu của một ông ĐẦY TỚ nhân dân. Nghĩ mà đau đớn, rẻ mạt, sinh mạng người dân quê tôi.

Vấn đề đặt ra, trách nhiệm của chính phủ, xã hội ở đâu? Tại sao vô trách nhiệm như vậy. Đất nước cũng như một gia đình, chính phủ phải là trụ cột ,phải lo cho đời sống con dân của mình. Không làm được, thay cho những lời tốt đẹp sáo rỗng, mời các vị đứng sang một bên, nhường đường cho người khác. Đành rằng đã nghèo là hèn (làm sao mà tự hào được). Nhưng tôi cho rằng các quan chức Việt nam không nghèo một chút nào, nhìn họ và con cái họ sinh hoạt thì rõ thôi. Có một ông đứng đầu một ngành của tỉnh PT (tôi xin giấu tên cho ông), có con du học tự túc ở Đức, khi ông sang Đức thăm con, ăn tiêu của cha con ông, nếu bà thủ tướng hay các nhà đại tư bản Đức nhìn thấy cũng phải vái phục. Đấy chỉ là lãnh đạo ngành, của một tỉnh nghèo.

Tự hào sao được, khi gần tám mươi phần trăm người dân quê hương tôi sống bằng nông nghiệp, không có bảo hiểm y tế, không có tiền hưu trí, mặc dầu họ đã đóng thuế hàng năm cho nhà nước. Dạ dầy nông dân quê tôi cũng bị thắt lại vì mất đất cho đô thị hóa môt cách vô tổ chức, những sân golf, tennis của những ông tư bản trọc phú dưới vỏ bọc doanh nhân, những khu công nghiệp, nhà máy chứa đầy vi trùng, mầm mống của ung thư, đang hủy diệt sự sống trên quê tôi .
Ông Vũ Trọng Phụng có sống lại , tôi bảo đảm ông sẽ viết tiếp nhân vật Xuân tóc đỏ. Các quan hệ dòng họ, làng xóm cũng đang được cân đo đong đếm bằng tiền bạc. Không hiểu tại sao cán bộ ở VN đã không làm được việc, thiếu trách nhiệm lại tham quyền cố vị đến thế. Nói ra lại bảo vạch áo cho người xem lưng, ngay trong dòng họ tôi cũng vậy, sao mà nhiều ông làm cán bộ đến thế, ông nào cũng thích làm, máu làm. Đã lâu rồi, nhân có một đám giỗ trong họ, có đầy đủ các ông to bà lớn tham dự, trong lúc khật khừ bia rượu, tranh luận với mấy ông em họ, tôi hăng lên, thốt ra câu : Chẳng có cái nghề nào dễ làm bằng nghề cán bộ lãnh đạo, ông nông dân cũng có thể làm bộ trưởng được, vì có ông quái nào dám gánh trách nhiệm đâu... Tôi chưa nói hết câu, ở mâm trên tất cả ánh mắt dồn về phía tôi, mặt các bác phừng phừng : - Cái thằng ăn nói hàm hồ, có im đi không.
Tự hào sao được, khi người dân quê tôi đã phải xa hương cầu thực nhưng vẫn lạnh nơi tình người. Năm 1996, sứ quán Việt Nam vẫn còn ở Bonn, Berlin chỉ có lãnh sự quán. Tệ nạn vợ con cán bộ sứ quán mở hàng bán báo, bán phở ngay phòng chờ đã dẹp bỏ. Nhưng tính trịnh thượng, công quyền như kiểu xin cho của cán bộ sứ quán với con dân của mình vẫn không có chiều hướng giảm. Một nhân viên tiếp nhận hồ sơ của lãnh sự quán Berlin tên Cường, năm ấy ông khoảng ngoài ba chục, mặt lúc nào cũng đỏ như gà chọi, ngón tay đeo hai ba loại nhẫn vàng chóe, cổ tay lủng liểng vòng bạc, cổ đeo thêm dây chuyền vàng, chườm ra khỏi áo mầu mỡ gà. Gặp ông, người ta cứ ngỡ gặp ông chủ giầu có nào đó trong phim Hồng Kông. Ông hét ông mắng xa xả, những người đến nộp đơn từ, khi viết sai hay thiếu, hoặc làm phật ý ông . Từ bé đến lớn, từ già đến trẻ, từ người học nhiều, đến kẻ ít học, ông chửi tuốt tuồn tuột, không kiêng nể một ai. Nhiều người yếu bóng vía, đưa giấy tờ cho ông,hai tay cứ run cầm cập. Có nhiều ý kiến phản ánh về đến cả Việt nam, nhưng chẳng ai làm gì được ông, vì bố ông còn đương chức to vật vã ở bộ ngoại giao.

Cũng mùa đông năm ấy, trời rét lắm, ông khật khưỡng bia rượu đâu đó về khuya, bị trúng gió độc lăn đùng ra chết. Nghe nói, biết tin này, có nhiều người Việt ở Đức mở rượu ăn mừng. Ôi! Cái tình người Việt nỡ đối xử với nhau như thế này sao? Bây giờ sứ quán VN đã chuyển về Berlin, trông có vẻ khang trang , nhưng không có chỗ đỗ xe cho khách, như các cơ quan công quyền Đức. Chỉ khổ cho các bác ở các thành phố khác đến làm việc, chưa quen đường tìm mãi mới có chỗ đỗ xe. Bẵng đi cũng đến gần chục năm, tôi cũng không đến sứ quán vì chẳng có công việc gì. Lúc nào nhớ nhà quá, cần visa, đã có dịch vụ mang đến tận nhà. Năm ngoái, tôi có lên sứ quán lấy cái giấy thôi quốc tịch của bà vợ (có lẽ về giấy tờ hành chính, Việt Nam làm lề mề chậm chạp,rắc rối nhất thế giới - thời gian từ ngày nộp đơn đến khi nhận kết quả hành nhau đến hai năm rưỡi).
Tôi đến phòng chờ vào đầu giờ sáng, mọi người đã đứng ngồi thấy gần trật phòng. Tôi đứng vào hàng sau ông tây, tay cầm tờ đơn xin visa du lịch. Nhìn lên ,thấy có có hai ô cửa, một nhận hồ sơ, một trả hồ sơ. Phía hông bên trái có một cửa nhỏ, có dán biển báo -WC - (tức là nhà vệ sinh). Thỉnh thoảng lại thấy một nhân viên sứ quán thò đầu ra từ sau cánh cửa nhà vệ sinh, hai mắt đảo đi đảo lại tìm người, rồi vẫy gọi người ngồi dưới cùng, đang mải luyên thuyên chuyện trò. Họ cùng đi khuất vào sau cánh cửa nhà vệ sinh. Họ làm gì thế này, ban ngày ban mặt, hai ông kéo nhau vào nhà vệ sinh, (schwule), đồng cô chăng? Tôi thoáng nghĩ vậy.

Khoảng mươi mười lăm phút, người đàn ông khi nãy hớn hở đi ra, ông nhân viên sứ quán lại thò đầu ra hiệu cho một chị mặt bự phấn son đi vào. Lúc này tôi không nghĩ ông nhân viên sứ quán bị mắc chứng đồng tính nữa, nhưng ông tây cạnh tôi lắc đầu cười, khó hiểu. Thấy lạ, tôi gửi chỗ ông tây, giả vờ vào vệ sinh xem sao. Mở cửa nhà vệ sinh, trời đất ơi, thẳng trước mặt tôi còn một phòng làm việc, bên trái tôi mới là nhà vệ sinh. Không hiểu sao phòng làm việc lại núp sau cái cánh cửa nhà vệ sinh như vậy? Sứ quán thay mặt cho nhà nước CHXHCN Việt Nam lại như thế này sao? Tại sao không thay tấm biển lớn –WC- bằng chữ - Phòng tiếp khách. Trên tường cạnh cửa bên trái treo biển, viết chữ nhỏ bằng ba thứ tiếng,Việt, Đức, Anh, hướng dẫn khách khi cần sử dụng nhà vệ sinh.


Ngay lúc đó tôi mang ý nghĩ này nói với nhân viên sứ quán khi nãy, ông ta nhìn tôi từ đầu đến chân, mặt hầm hầm, khinh khỉnh, có lẽ ông nghĩ tôi cũng như mấy người vì giấy tờ hay đến nhờ cậy xin xỏ ông, mà dám có ý kiến chăng? Qủa thật với phong cách làm việc này, người có những suy nghĩ vô tư ,trong sáng đến mấy, cũng phải nghĩ đến những điều khuất tất trong đó. Và đến bao giờ chúng ta mới hết xấu hổ mỗi khi so sánh hoặc làm việc với cơ quan công quyền nước khác.
Tuần trước, mấy ông bạn có việc đến sứ quán về nói lại , cái biển "WC" vẫn còn nằm chình ình đó. Đến mười giờ tôi cũng rục rịch lên tới cửa tiếp nhận hồ sơ. Trình giấy ủy nhiệm, giấy mời đến lấy giấy thôi quốc tịch và đưa trả cuốn hộ chiếu Việt Nam. Cô nhân viên bảo tôi :
- Ba giờ rưỡi chiều anh quay lại lấy, và nộp 185 €
- Khi nộp hồ sơ, vợ tôi đã nộp 115 € rồi ?
- Đó là tiền dịch, công chứng sang tiếng Việt ba bộ hồ sơ thôi quốc tịch. (Cả ba bộ hồ sơ của vợ tôi đều ghi bằng tiếng việt, chỉ duy nhất có giấy bảo đảm cho nhập quốc tịch của Đức, in ngắn gọn trên một mặt giấy phải dịch sang tiếng Việt, đánh máy, copy thành 3 bản mất khoảng mười lăm phút. Thành thật mà nói dân ta nghèo, nhất nhì thế giới, nhưng tiền lệ phí cho các công sở đắt nhất thế giới).
- Tôi xem trên mạng của bộ ngoại giao, tiền lệ phí cho thôi quốc tịch có 150usd, tức hơn 100€ một chút, sao ở đây nhiều gần gấp đôi vậy ?
Cô nhân viên không trả lời tôi, cầm hộ chiếu định đi vào phía trong, tôi hỏi tiếp :
- Chị có thể cho tôi xin giấy chứng nhận hủy hộ chiếu được không ?
Cô nhân viên không quay mặt lai, gắt :
- Anh này rắc rối quá đấy, chúng tôi thu, rồi chúng tôi sẽ hủy, không cần giấy chứng nhận nữa.
Nằm khèo trên ô tô đánh một giấc dài, ba rưỡi chiều tôi lò dò quay trở lại sứ quán. Lúc này, trong phòng chờ, đông nhộn nhạo như một cái chợ con. Thỉnh thoảng có mấy ông trẻ đến sau, cứ trèo tuốt lên trên, không chịu xếp hàng, làm cho mấy ông tây bà đầm đứng sau lắc đầu ngán ngẩm. Đến 5 giờ chiều, tôi cũng nhận được giấy thôi quốc tịch, sau khi thanh toán đúng 185€. Hỏi xin cái hóa đơn thanh toán tiền, cô nhân viên trả lời tôi : - Anh chờ đến năm giờ rưỡi mới có, bây giờ không có con dấu ở đây, tôi viết cho anh cái giấy đã nhận tiền.
Mấy người đứng dưới tôi hét toáng lên :
- Lẹ lên ông ơi, hóa đơn hóa từ cái con mẹ gì, chờ bao giờ mới lấy được, nhanh còn về, nhà xa lắm.
Thu tiền không có hóa đơn chứng từ, không hiểu sứ quán quản lý và vào sổ sách như thế nào ? Những đồng tiền này có vào ngân khố nhà nước hay lại chảy đi đâu ? Báo chí trong nước mấy năm trước đưa tin Bộ ngoại giao lập quỹ ngoài ngân sách, nghĩ đến cứ thấy gai gai trong người.

Tôi viết đến đây mang cho ông bạn già đọc, đọc xong anh bảo :
- Chú viết ra như thế này, thế nào nhiều người không hiểu lại bảo anh em mình nói xấu đất nước.
Từ lâu chúng ta có những quan niệm hoặc những khẩu hiệu kỳ quặc – yêu chế độ tức là yêu nước- Yêu nước tức là yêu chế độ- Phê phán, góp ý cho là nói xấu đất nước, nói xấu tổ quốc, nặng nữa gán nghiến cho cái cái tội phản động. Tại sao chúng ta cứ nhập nhằng lẫn lộn khái niệm Tổ quốc và chế độ là một. Tổ quốc, quê hương ai mà chẳng yêu, chẳng thương, chẳng nhớ, nhưng yêu hay chán ghét chế độ lại là chuyện khác. Đất nước nghèo, dân trí thấp quả thật chẳng có gì để đáng tự hào, khi ta mang quá khứ ra để che lấp.

Đỗ Trường
Đức quốc, 2-10-09.

TRỚ TRÊU THAY BỌN BÁN NƯỚC XỬ NGƯỜI YÊU NƯỚC...


THỜI THẾ NHIỄU LOẠN KHI BỌN MA QUỶ LÊN CẦM QUYỀN RƯỚC-VOI-DÀY-MÃ-TỔ
CẮT-ĐẤT-CẮT-BIỂN
DÂNG CHO NGOẠI BANG.
LẦN LƯỢT TẬN DIỆT TINH THẦN YÊU NƯỚC VÀ TRÍ THỨC CỦA QUÊ HƯƠNG. VIỆT NAM TỪ NAY SẼ ĐI VỀ ĐÂU?













Nhà Thơ Trần Đức Thạch bị kết án 3 năm tù và 3 năm quản chế.
Nhà giáo Vũ Hùng bị kết án 3 năm tù và 3 năm quản chế.
Kỹ sư Phạm Văn Trội bị kết án 4 năm tù và 4 năm quản chế.
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị kết án 6 năm tù và 3 năm quản chế.
Sinh Viên Ngô Quỳnh bị kết án 3 năm tù và 3 năm quản chế.
Ông Nguyễn Văn Tính bị kết án 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.
Ông Nguyễn Văn Túc bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế.
Ông Nguyễn Kim Nhàn bị kết án 2 năm tù và 2 năm quản chế.
Ông Nguyễn Mạnh Sơn bị kết án 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế

Lúc 11:30 sáng ngày 8/10/2009 giờ Việt Nam


Tình hình công an phong tỏa khu tòa án Hải Phòng sáng nay còn hung hăng hơn cả tòa án Hà Nội. Hơn 200 công an chìm, nổi đẩy tất cả dân chúng ra xa, cách tòa hơn nửa cây số.


Hôm nay là ngày xử 6 nhà yêu nước Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn về tội kêu gọi bảo vệ lãnh thổ, diệt tham nhũng, ngưng cướp đất, và thôi độc tài.


Nhiều nhóm thân nhân, bạn hữu và đồng bào cảm phục vẫn đứng chờ bên ngoài vòng đai công an. Nhiều người đi từ 3 giờ sáng để đến kịp trước giờ bắt đầu phiên xử nhưng lập tức bị xua đuổi khỏi khu vực bất chấp luật lệ.


Hầu hết gia đình các bị cáo ở các vùng xa đều bị công an kéo đến tận nhà hăm dọa không cho kéo về thành phố Hải Phòng. Riêng đối với gia đình ông Nguyễn Văn Tính, cả họ hàng ông đều bị khủng bố tinh thần và chỉ cho 3 người vào phòng xử. Đối với gia đình ông Nguyễn Văn Túc, công an đến tận nhà chở vợ và con ông và không cho ai khác đi theo dù con của bà vừa bị té xe không đi vững.

*

Chúng tôi cũng vừa được tin vào khoảng 8:30 sáng, nhà dân chủ Trần Khải Thanh Thủy bị công an chận xe khi còn cách Hải Phòng khoảng 10 cây số. Hiện bà bị công an dẫn đi mất tích.*


Tại toà án Hà Nội, theo tin từ chị Huyền Trang và chị Mai, 2 người thân duy nhất của kỹ sư Phạm Văn Trội được vào phòng xử, thì chế độ CSVN vừa kết án ông Trội 4 năm tù cộng 4 năm quản chế sau án tù vì vi phạm điều 88 luật hình sự “Tuyên Truyền chống lại nhà nước”.

Đài Chân Trời Mới sẽ tiếp tục cập nhật và tường trình tại trang http://radiochantroimoi.wordpress.com



Nhà yêu nước Phạm Văn Trội


Luật sư Huỳnh Văn Đông bào chữa cho anh Phạm Văn Trội


Chánh án Nguyễn Quốc Hội tuyên đọc bản kết luận và án đã có sẵn.

Nguồn: Radio CTM.













Lệ thuộc Trung Quốc từ bao giờ?


Tổ tiên người Việt chúng ta bắt đầu bị vua quan người Hán cai trị từ năm nào? Có sử gia coi nước Nam Việt của ông Triệu Ðà hoàn toàn là của người Tầu; kinh đô nước này ở Phiên Ngung thuộc thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Ðông bây giờ. Do đó có thể coi năm 208 trước Công Nguyên, khi Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, là bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc. Nhiều sử gia coi Nam Việt cũng là một nước của người Việt, chính ông Triệu Ðà khi tới đó đã “được đồng hóa” theo phong tục bản xứ. Phần lớn nước Nam Việt nay đã mất, các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây đã hoàn toàn bị Hán hóa, chỉ còn nước Việt Nam ngày nay là giữ được “tộc phả” của giòng giống Việt. Như vậy thì khi quân Hán chiếm nước Nam Việt, năm 111 trước Công Nguyên, mới bắt đầu thời Bắc thuộc.
Gần đây có những sử gia như Lê Mạnh Thát lại coi thời kỳ lệ thuộc người Trung Hoa chỉ bắt đầu từ năm 43 sau Công Nguyên. Ðó là năm Hai Bà Trưng bị thua và Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách cai trị “trói buộc” (dĩ thằng nhi trị - dùng thừng mà trị). Trước đó, xã hội Việt Nam từ thời Hùng Vương vẫn không thay đổi, dân sống dưới quyền các lạc hầu, lạc tướng, các ông vua Nam Việt hay các thái thú, thứ sử nhà Hán chỉ đóng vai thu thuế nộp cống tiến về Tầu mà thôi.

Chắc giống như nhiều người Việt không chuyên nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thích cách nhìn của Lê Mạnh Thát, hoàn toàn với lý do tình cảm. Bởi vì cứ nghĩ thương tổ tiên mình, muốn các cụ lâm vào cảnh nô lệ chậm được ngày nào tốt ngày đó!
Ông Lê Mạnh Thát mới bị cách chức viện trưởng Viện Phật Học Vạn Hạnh, để hai vị sư bị gọi là “quốc doanh” lên thay. Không biết có phải vì sử gia tu sĩ này đã phạm lỗi quá yêu nước, đem cắt ngắn thời kỳ Bắc thuộc hơn một trăm năm, mà mất chức hay không! Có người nghĩ như vậy, vì trong dân chúng Việt Nam bây giờ nhiều người cũng đang lo mối đe dọa lệ thuộc Trung Quốc. Tất cả những vụ Thác Bản Dốc, ải Nam Quan, huyện Tam Sa, các phong trào phản đối về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vụ Bô Xít, cho thấy lòng dân đang phẫn uất về một tình trạng lệ thuộc có thật, không thể phủ nhận được. Có những web site của chính phủ Việt Nam “của mình nhưng do Trung Quốc phụ trách” viết theo quan điểm Bắc Kinh. Tờ báo mạng tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đăng cả bản tin Hải Quân Trung Quốc diễu võ dương oai, đương nhiên coi Hoàng Sa, Trường Sa là của người Tầu! Người Việt cũng đang tự hỏi trong thế kỷ 20 nước ta bị lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu từ năm nào? Từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Lê Khả Phiêu, hay Nguyễn Văn Linh? Hay là bắt đầu từ xa hơn nữa?
Ông Tống Văn Công là một đảng viên cộng sản với 50 tuổi đảng mới viết một lá thư chân thành, trong đó ông công nhận đảng của ông có những lỗi lầm đối với lịch sử. Hai sai lầm mà ông nêu lên là, từ thập niên 1950 đã “Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” và “ Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.”
Chúng ta rất kính trọng tấm lòng chân thành của ông Tống Văn Công. Nhưng nhận xét của ông về hai lỗi lầm của đảng Cộng Sản vẫn chưa thấu đáo.

Nói rằng “Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” là không đúng. Mao Trạch Ðông không yêu thương gì dân Hán. Nếu biết thương, ông ta đã không thi hành những chính sách làm chết vài chục triệu người Hán mà không thấy ghê tay từ cuối thập niên 1950, sau đó mươi năm lại đưa ra các chính sách giết thêm vài chục triệu người Hán nữa. Lý tưởng của Mao Trạch Ðông không phải là Ðại Hán mà là làm cách mạng vô sản thế giới. Ông ta luôn luôn hô hào “chủ nghĩa quốc tế” và chống đối “chủ nghĩa quốc gia” kịch liệt. Khi tiễn phái đoàn 40 cố vấn Trung Quốc đầu tiên sang Việt Nam năm 1950, cả Mao Trạch Ðông nhắc các cố vấn này chuyện ngày xưa Mã Viện đã sang đánh chiếm Việt Nam và người Việt còn thù ghét lắm. Và sau đó Lưu Thiếu Kỳ ủy lạo đoàn cố vấn quân sự cũng kể chuyện Mã Viện và nhắc nhở như vậy. Họ đều khuyên các cố vấn phải tuân thủ “chủ nghĩa quốc tế” trong khi làm nhiệm vụ cách mạng ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng chọn “chủ nghĩa quốc tế” giống Mao. Ông Hồ là người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ kháng chiến Việt Nam lúc đó, và ông hoàn toàn đồng ý với Mao Chủ Tịch. Cho nên không thể nói Hồ Chí Minh đã chọn “nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược.” Trung Quốc lúc đó không phải chỉ là “đồng minh chiến lược” của Cộng Sản Việt Nam mà có một địa vị còn cao hơn nữa. Ðó là đồng minh trong ý thức hệ, trong tư tưởng, trong đường lối, chính sách, trong tất cả mọi mặt. Theo Oliver Todd thuật lại, Hồ Chí Minh từng nói rằng ông không thấy cần phải viết sách gì để phát triển chủ nghĩa cộng sản nữa, vì tất cả mọi điều cần viết thì đã có Mao Trạch Ðông viết hết rồi.

Trên đời có nhiều hình thức nô lệ, không có thứ nào nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng. Vì khi đã quyết tâm theo một ý thức hệ của người khác rồi thì họ bảo gì cũng phải nghe, vì họ có thể giải thích mọi hành động theo đúng ý thức hệ. Con đấu tố cha là đã bóc lột mình, vợ tố cáo chồng đã hãm hiếp mình, việc nào cũng có thể biện minh bằng ý thức hệ cả. Ðồng minh chiến lược cũng có khi thay đổi được. Ðồng minh trong tư tưởng thì không thể đổi, trừ khi chính mình tuyên bố từ bỏ ý thức hệ đó.
Chúng ta có thể rộng lượng nghĩ rằng Hồ Chí Minh chỉ “giả bộ” theo ý thức hệ cộng sản thôi, còn trong hành động ông vẫn theo hướng khác để khỏi bị lệ thuộc Trung Quốc. Cho nên, phải nhìn vào hành trạng của chính ông mới biết thực tình Hồ Chí Minh có bị Mao Trạch Ðông lèo lái hay không.

Ông La Quý Ba là “đại diện liên lạc” đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc với Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào Tháng Giêng năm 1950 xin viện trợ. Sau này La Quý Ba được đưa lên làm tổng cố vấn rồi làm đại sứ. Hồi ký của La Quý Ba kể ngày 14 Tháng Mười năm 1950, Hồ Chí Minh viết cho Mao bức thư cảm ơn các cố vấn Trung Quốc, “Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Thất Khê, Cao Bằng. Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Ðảng Cộng Sản Liên Xô, các đồng chí Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông.” Và Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Tóm lại, tôi nghĩ rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.”
Trong các trận Thất Khê, Cao Bằng có hơn một ngàn thanh niên Việt Nam anh dũng hy sinh. Hồ Chí Minh coi đó là một “thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.” Cũng giống như khi về ở Hang Pắc Bó sau mấy chục năm xa quê hương, Hồ Chí Minh đã đem một ngọn núi và một con suối nguồn của sông đặt tên theo tên Karl Marx và Lenin. Lòng ông ta lúc nào cũng hướng về chủ nghĩa quốc tế cộng sản.

Hồi ký của La Quý Ba kể rằng mùa Ðông năm 1951 Hồ Chí Minh một lần nữa lại bí mật đến Bắc Kinh. La Quý Ba đã theo Hồ tới yết kiến Mao Trạch Ðông tại Di Niên đường, “Người gặp Mao Chủ Tịch như anh em xa cách lâu ngày...” Trong cuộc gặp gỡ đó, La kể, Hồ Chí Minh xin với Mao Trạch Ðông chỉ thị cho La Quý Ba “khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương của chúng tôi” đừng “quá thận trọng, quá khiêm tốn” mà hãy “nêu nhiều ý kiến hơn.” Sau đó, Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ðức nói chuyện riêng với La Quý Ba cũng nhắc nhở La phải “nêu nhiều ý kiến, giúp đỡ nhiều hơn đối với họ.”
Ðọc hồi ký này mới biết là Hồ Chí Minh đã mời La Quý Ba tham dự các cuộc họp của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðây là một hành động hiếm khi xảy ra, vì Bộ Chính Trị là cơ quan quyết định tất cả mọi việc trong đảng, trong chính quyền. Vào thế kỷ 19 khi quân Pháp đánh chiếm Việt Nam trong hơn 20 năm, một điều họ đòi hỏi là viên khâm sứ Pháp phải có quyền tham dự các cuộc họp của Cơ Mật Viện trong triều đình Huế. Tám mươi năm sau, Hồ Chí Minh tự ý tặng cho cố vấn Trung Quốc đặc quyền đó. Nếu không phải vì tình đồng chí cùng theo đuổi một cuộc cách mạng thế giới thì không ai làm như vậy. Ông Hồ lúc đó là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, những việc ông làm là khuôn phép cho các đồng chí cấp dưới noi theo.

Xin nhắc đến một thí dụ khác trong hành trạng của ông Hồ. Khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động theo từng bước đúng bài bản của các cố vấn Trung Cộng, Hồ Chí Minh có lúc muốn tha chết cho bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ đã có công cứu giúp nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam, có con đi bộ đội và đã hiến của cải cho kháng chiến. Ông Hồ là chủ tịch nước, ông có quyền ân xá. Ông họp cả Bộ Chính Trị để bàn việc đó. Nhưng cuối cùng ông đã không dám ân xá cho một phụ nữ có công với tổ quốc Việt Nam. Chỉ vì một cố vấn Trung Quốc nói: “Con hổ đực, hay hổ cái, con nào cũng ăn thịt người!”
Người đứng đầu một chính phủ, đứng đầu một đảng ở cấp quốc gia, mà không dám làm trái lời một cố vấn Trung Quốc cấp huyện. Trong lịch sử chưa thấy người nào nhịn nhục đến như thế. Vì khi đã nô lệ về tư tưởng, thì sẽ bị ràng buộc trong tất cả mọi hành động.

Có thể nói Lê Duẩn đã phản ứng ngược lại, sau năm 1975 quay đầu theo Liên Xô, chống Trung Quốc đến độ cực đoan cũng vì phẫn uất vì đã thấy Hồ Chí Minh phải nhịn nhục với các cố vấn nhiều quá. Nhắm mắt theo Trung Quốc là dại, chống đối một nước lớn láng giềng đến độ viết cả vào Hiến Pháp, để đi theo một cường quốc ở xa, lại càng dại dột hơn. Ðến năm 1992 sau khi Liên Xô đã sụp đổ, phái đoàn Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô xin thần phục trở lại thì lúc đó chính quyền Trung Quốc cũng không còn theo “chủ nghĩa cách mạng quốc tế” của Mao Trạch Ðông nữa rồi. Lúc đó ở Bắc Kinh họ rất mừng vì “chủ nghĩa Ðại Hán” đã thực sự trở thành quốc sách, họ có cơ hội thực hiện ngay. Khi ông Lê Khả Phiêu sang Tầu xin tái lập một “quốc tế cộng sản” mới thì các đồng chí Trung Quốc đã cảm ơn và từ chối! Chủ nghĩa Ðại Hán không cần đến thứ chiêu bài lỗi thời đó nữa. Vậy thì trong thế kỷ 20 nước ta bắt đầu chịu lệ thuộc Trung Quốc từ năm nào? Từ năm 1992 hay là từ năm 1950? Chắc các sử gia sau này sẽ còn bàn mãi. Nhưng người Việt Nam đang sống trong cảnh lệ thuộc đó thì không quan tâm đến chuyện nó bắt đầu từ bao giờ. Cả nước chỉ mong tìm cách làm sao chấm dứt cảnh lệ thuộc đó mà thôi.


Ngô Nhân Dụng

Bài Xem Nhiều