We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 16 October 2009

Di Sản “ác chủ ” HCM

Giáo dục: Dạy học sinh giả dối


Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài Giáo dục: Muốn trung thực cũng khó” (24/9/2009), tôi đã phân tích là không thể dạy học sinh phải trung thực khi toàn bộ đời sống xã hội chung quanh các em được xây dựng trên nền tảng của sự giả dối và gian lận.

Sẽ không có em học sinh nào thực sự biết quý trọng sự trung thực khi các em, từ nhỏ đến lớn, lúc nào cũng chứng kiến cảnh những người trung thực thì bị thiệt thòi, thậm chí, bị trù dập và khinh bỉ, trong khi những kẻ giả dối và gian lận thì giàu có, quyền lực, danh giá, không những không bị lên án mà còn được tôn trọng, đi đâu cũng có kẻ hầu người hạ.

Tuy nhiên, điều đáng nói là sự giả dối và gian lận không phải chỉ tồn tại ở ngoài học đường. Chúng còn hiện hữu ngay trong lớp học. Đáng kể nhất: chúng tồn tại ngay trong chương trình và cách thức giảng dạy.

Có thể nói hầu hết các bài học thuộc nhân văn, đặc biệt bộ môn chính trị mà tất cả các em, bất kể ban ngành gì, cũng bị bắt buộc phải học, là những sự dối trá và gian lận.

Dối trá và gian lận từ những việc chọn lựa sự kiện xã hội đến việc diễn dịch và đánh giá các sự kiện ấy.

Thời kháng chiến chống Pháp, nhà văn Nguyên Hồng được dạy là nông dân lúc nào cũng yêu nước và thành thực, nhưng, thực tế ông chứng kiến lại khác hẳn. Ông tâm sự với Vũ Đức Phúc: “Tao ra chợ chỉ thấy toàn hàng buôn lậu.” (Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, 1945-54, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1995, tr. 219).

Bây giờ học sinh các cấp cũng được học như vậy. Học: chủ nghĩa xã hội rất tiến bộ. Thấy: nước xã hội chủ nghĩa nào cũng lạc hậu và nghèo đói. Học: trong xã hội xã hội chủ nghĩa, “người với người sống để yêu nhau” (thơ Tố Hữu). Thấy: ở đâu cũng người dân bị chà đạp và bóc lột thậm tệ. Học: cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Thấy: cán bộ nào cũng nhà cao cửa rộng, giàu có và đầy quyền lực. V.v…

Trong trong bộ môn Văn Học, các em cũng học nói dối ở những hình thức tinh vi nhất.

Những cảnh được miêu tả trong các tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm được viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, phương pháp sáng tác chính thống từ sau năm 1948, đặc biệt, từ sau 1954, đầy những sự giả dối.

Tuy nhiên, đó chỉ là một khía cạnh. Khía cạnh nhỏ.

Quan trọng hơn là cách cấu tạo chương trình và cách thức giảng dạy.

Ở cấp phổ thông, học sinh được học thật nhiều các tác phẩm văn học khác nhau, nhưng trừ những bài thơ ngắn, hiếm khi các em được học trọn vẹn một tác phẩm nào. Hầu hết chỉ được học các đoạn trích. Truyện Kiều cũng trích đoạn. Tắt đèn cũng trích đoạn. Chí Phèo cũng trích đoạn.

Nhưng không thể hiểu một tác phẩm văn học qua các trích đoạn ngắn ngủi như thế được. Kiến thức của các em, dù muốn hay không, cũng được bổ sung bằng các đoạn kể của các thầy cô giáo.

Thành ra, nói là các em học văn học nhưng trên thực tế, các em không tiếp cận với các tác phẩm ấy. Các em chỉ phân tích dựa trên những lời kể của các thầy cô giáo.

Ngay chính các thầy cô giáo cũng chưa chắc đã đọc những tác phẩm ấy. Có khi, nếu không muốn nói nhiều khi, các thầy cô giáo cũng kể qua lời kể tóm tắt trong các tài liệu hướng dẫn giảng dạy đâu đó.

Thử tưởng tượng cảnh này: trong cả nước, ở mọi lớp học, cả thầy lẫn trò đều say sưa sôi nổi phân tích, bàn luận, đánh giá về Truyện Kiều nhưng cả thầy lẫn trò đều không hề đọc Truyện Kiều.

Không đọc, nhưng ai cũng làm như mình biết rõ về Truyện Kiều, thậm chí, từ phía các thầy cô giáo, đầy thẩm quyền về Truyện Kiều.

Đó là sự nói dối chứ còn gì nữa?


Không đọc mà làm như mình đã đọc. Không biết mà làm như mình đã biết. Chỉ nhai lại mà làm như tự mình nghĩ ra. Đó là lối giáo dục giả dối và gian lận chứ còn gì nữa?

Được đào luyện trong một lối giáo dục giả dối và gian lận như thế làm sao đòi hỏi con người có được sự trung thực trí thức chứ?

Bởi vậy, để giáo dục sự trung thực, người ta không những cần cải thiện xã hội mà còn phải thay đổi cả chiến lược giảng dạy trong nhà trường nữa.

Nhưng ai sẽ làm điều đó?

Nguyễn Hưng Quốc
07/10/2009
Nguồn: VOA News

Hoà Bình nào, An Ninh nào cho Phụ Nữ Việt Nam???


Hơn 30 năm trước, vào ngày 20 tháng 9 năm 1977, Việt Nam được chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc (LHQ). Cách đây 2 năm, vào ngày 16 tháng 10 năm 2007, Việt Nam được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An (HĐBA) LHQ khóa 2008 - 2009. Tháng 7 năm 2008, Việt Nam lần đầu tiên đảm nhận cương vị Chủ tịch luân phiên HĐBA. Mới đây, vào ngày 1 tháng 10, Việt Nam được đảm nhiệm cương vị này của cơ quan quyền lực nhất LHQ lần thứ hai. Những tin tức này đã được toàn bộ chế độ CSVN đón nhận bằng tất cả vui mừng.

Vào ngày 5 tháng 10, Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm với chức vị Chủ tịch HĐBA đã chủ trì cuộc thảo luận về chủ đề “Phụ nữ với Hòa bình và An ninh”. Tin tức này cũng đã được mọi cơ quan thông tin của đảng và nhà nước “hồ hởi phấn khởi” đưa tin, từ Bộ Ngoại Giao VN cho đến các tờ báo lớn như Tạp Chí Cộng Sản, Công An Nhân Dân, Người Lao Động, Thanh Niên, ...

Trong nước thì vậy nhưng ở hải ngoại và nhất là giới am tường về hoạt động của tổ chức LHQ lại bình thản. Tại sao vậy?

Trước hết, nói về cái ghế thành viên không thường trực của HĐBA LHQ. HĐBA là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của LHQ, chịu trách nhiệm chính về việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Những nghị quyết mà HĐBA thông qua phù hợp với Hiến chương LHQ thì bắt buộc các nước hội viên của LHQ phải thi hành. Hội Đồng gồm 5 thành viên thường trực và 10 thành viên không thường trực. Từ 1946 đến 1965, HĐBA chỉ có 6 thành viên luân phiên. Con số thành viên này sau đó được tăng lên 10 với định mức cho mỗi khu vực như sau: 2 ghế cho các khu vực châu Phi, châu Á, châu Mỹ, và Tây Âu; 1 ghế cho Đông Âu, và ghế còn lại luân phiên giữa châu Phi và châu Á. Các nước thành viên luân phiên được chia thành 2 nhóm với nhiệm kỳ 2 năm xen kẽ nhau, tức mỗi năm có 5 thành viên ra đi để nhường chỗ cho 5 bộ mặt mới. Các thành viên hiện tại gồm Bỉ, Indonesia, Ý, Nam Phi, Panama, Burkina Faso, Costa Rica, Croatia, Libya và Việt Nam, trong đó 5 nước xếp đầu sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm nay. Cuối năm 2007, sau bao nhiêu nỗ lực vận động để các quốc gia châu Á nhường chỗ, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên không thường trực của Hội Đồng. Chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ vì thực ra từ trước đến nay bao nhiêu nước nhược tiểu Á và Phi ở trong cương vị đó cũng đều làm được như vậy.

Thứ đến, bàn về việc VN chủ trì cuộc thảo luận của HĐBA. Trong nhiệm kỳ thành viên không thường trực, VN đảm nhiệm chức Chủ tịch HĐBA LHQ lần thứ 2 đã chủ trì cuộc thảo luận về “Phụ nữ với Hòa bình và An ninh”. Về vấn đề này, LHQ đã có 3 nghị quyết gồm nghị quyết 1325 năm 2000, nghị quyết 1820 thông qua năm 2008 và nghị quyết 1888 vừa thông qua trong tháng 9 năm nay. Các nghị quyết trước chủ yếu tập trung vào vấn đề chống bạo hành đối với phụ nữ. Dự thảo nghị quyết mới được VN đưa ra thảo lụân lần này với chủ đề “Đáp ứng nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái thời kỳ hậu xung đột và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các tiến trình hòa bình - an ninh” nhằm đi xa hơn, với quy mô và phạm vi rộng lớn hơn, cho phù hợp với tình hình mới của cộng đồng quốc tế trong vấn đề này. Tuy nhiên, việc thảo luận cũng chỉ loanh quanh với việc ngăn ngừa và giải quyết tình trạng bạo lực tình dục, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong xã hội ở một số nước cần phải quan tâm thế giới như châu Phi chẳng hạn, chẳng ăn nhập hay phù hợp với tình hình VN một chút nào! Hòa bình nào cho phụ nữ VN, An ninh nào cho phụ nữ VN khi biết bao nhiêu phụ nữ trong nước bị bắt bớ giam cầm, bị sách nhiễu, bị trù dập chỉ vì họ là những nhà hoạt động tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền, vì họ là những người bất đồng chính kiến, là những nhà văn, nhà báo, những cây viết dám bày tỏ quan điểm đối kháng với nhà nước. Họ là những phụ nữ VN bình thường, ở mọi lứa tuổi, ở cùng khắp trên các nẻo đường đất nước từ Nam chí Bắc, và làm đủ mọi công việc từ luật sư cho đến nhà văn, nhà báo, sinh viên và cả đến dân oan. Họ là:

- Lê Thị Công Nhân (30 tuổi)

Sinh ở Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang và sống ở Hà Nội. Là một nhân vật bất đồng chính kiến, là thành viên của Khối 8406 và đồng thời là đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam đòi hỏi đa nguyên đa đảng. Lê Thị Công Nhân đã từng viết tham luận, nội dung tố cáo Tổng Công đoàn VN hiện nay không bảo vệ quyền lợi của người lao động, tố cáo Đảng CSVN vi phạm nhân quyền và kêu gọi thế giới hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất để lập ra những công đoàn độc lập cho công nhân VN. Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô bị kêu án 4 năm tù vì bị kết tội “hoạt động tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

- Trần Khải Thanh Thủy (49 tuổi)

Là một cựu giáo viên, nhà báo, nhà văn và là một người bất đồng chính kiến với chính phủ Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 2006 bà bị công an bắt khi đang chuyển tài liệu ra nước ngoài. Ngày 21 tháng 4 năm 2007 bị Cơ quan An ninh điều tra Công an Hà Nội bắt khẩn cấp cũng với tội “hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Từ đó đến nay bà luôn bị rình rập, bắt bớ và bách hại.

- Lê Thị Kim Thu (40 tuổi)

Tháng 11 năm 2008 đã bị bỏ tù 18 tháng vì tội “gây rối loạn xã hội” khi cô tham gia một cuộc biểu tình ở công viên bên ngoài phủ chủ tịch vì tranh chấp đất đai, phản đối nhà cầm quyền CSVN. Cô đến từ Đồng Nai cùng những nhà hoạt động khác đã căng những biểu ngữ và bất chấp lệnh phải rời công viên của cảnh sát.

- Phạm Thanh Nghiên (33 tuổi)

Nhà ở Hải Phòng, là ký giả tự do, một nhà tranh đấu và là một cây viết có tài, đã bị bắt giữ cách đây hơn 1 năm. Vào năm 2007, cô bắt đầu hoạt động tranh đấu cho dân oan bị cướp đất và viết các bài kêu gọi dân chủ và nhân quyền. Từ đó cô liên tục bị công an hăm dọa, trù dập và khuấy nhiễu. Phạm Thanh Nghiên là một cô gái nhỏ nhắn nhưng lại rất kiên cường đấu tranh cho lý tưởng tự do dân tộc là trên tất cả. Cô đã bị nhà cầm quyền cho công an đàn áp, tổ chức đâm xe, cho côn đồ gây sự đánh bị thương tích nhiều lần. Tháng 6 năm 2008, cô bị công an bắt giữ sau khi đồng ký tên vào một lá thư gởi đến Bộ Công An để xin phép tổ chức một cuộc biểu tình ôn hòa chống tham nhũng. Vài ngày sau cô bị một đám côn đồ tấn công và dọa tính mạng nếu vẫn còn tiếp tục có “những hành động thù nghịch” chống đối nhà nước. Vào tháng 9 năm 2008, cô bị bắt và từ đó đến nay bị giam tại trại giam B-14 Thanh Liệt Hà Nội.

Trớ trêu thay, cách đây mấy hôm vào ngày 13/10 vừa qua, trong số 37 nhà văn đến từ 19 quốc gia lãnh nhận giải thưởng nhân quyền cao quý Hellman/Hammett của Tổ chức Giám Sát Nhân quyền (Human Rights Watch) năm nay có đến sáu nhà văn người Việt và trong 6 nhà văn đó có Phạm Thanh Nghiên.

- Phạm Đoan Trang (31 tuổi) và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (31 tuổi)

Họ là những người yêu nước dùng nhật ký điện tử (blog) để phát biểu quan điểm đối kháng. Phạm Đoan Trang tức blogger Trang Ridiculous là nữ phóng viên của báo điện tử VietNamNet. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là chủ trang blog Mẹ Nấm.Hai bloggers này bị bắt vì bị coi là có dấu hiệu“xâm phạm an ninh quốc gia”. Cả hai người bị bắt đều đã có những bài viết lên án Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Danh sách này sẽ còn dài, dài nữa. Đang có suy diễn trong giới quan sát về một làn sóng trấn áp những người bị cho là gây đe dọa cho “an ninh quốc gia”. Không nhất thiết phải là nam giới, dù chỉ là một phụ nữ bình thường mà hễ ai đụng đến “an ninh quốc gia” là chính quyền CSVN không ngần ngại ra tay; hết bắt bớ, giam cầm, bách hại đến trù dập. Tất cả những nhà nữ tranh đấu này đã thể hiện một phương pháp đấu tranh trong hòa bình, ôn hòa bất bạo động, và hai bàn tay họ không một tấc sắt. Vậy mà lại bị chính quyền coi là phản động, là an nguy đến nước nhà! Họ là những phụ nữ Việt Nam bình thường, những phụ nữ nói lên tiếng nói cho Dân Chủ và Tự Do đáng được vinh danh.

Ấy thế mà đại sứ Bùi Thế Giang, phó đại diện VN tại HĐBA phát biểu trong một phiên họp của Hội Đồng vào ngày 7 tháng 8 dám khẳng định “Nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo vệ người dân trước mọi bạo lực” và “tăng cường thu hút phụ nữ tham gia các cuộc đàm phán về hoà bình”. Ở VN bạo lực ở đâu ra? Chưa “tăng cường thu hút”, phụ nữ ở VN chỉ tự phát và ôn hoà “tham gia các cuộc đàm phán về hoà bình” mà đã bị “bạo lực cách mạng” bắt nhốt hết rồi kia mà. Phải chăng “đó là một phương thức hữu hiệu để hỗ trợ nạn nhân và giúp tăng quyền năng cho phụ nữ” VN ở VN mà ông đại sứ đã “bố lếu bố láo” trước HĐBA?

Mấy ngày vừa qua, từ ngày 6 đến ngày 10, tòa án Hà nội và Hải phòng đã mở các phiên tòa để xử và tuyên án các nhà hoạt động tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền. Có người bị kêu 4 năm tù, có người bị kêu 10 năm tù, tổng cộng là 39 năm tù giam và 35 năm quản thúc cho 9 người. Họ phạm tội gì? Họ phạm tội yêu nước, thương dân, xót xa vì Tổ quốc mất đất, mất biển, mất đảo, phẫn uất vì chính quyền khuất phục bọn bành trướng nên căng những biểu ngữ như “Tham nhũng là hút máu dân”, “Kiên quyết đấu tranh tiêu diệt bọn tham nhũng”, “Yêu cầu chính phủ kiên quyết bảo vệ giang sơn tổ quốc”, “Yêu cầu ĐCSVN chấp nhận đa nguyên, đa đảng”, “Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo Việt Nam”, “Dân chủ, Nhân quyền cho nhân dân Việt Nam”, “Đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam”. Họ làm như vậy là phạm tội, là xâm phạm an ninh, là vu cáo bôi xấu chế độ ư? Nếu nói như vậy thì cả nước phải đi tù!!!

Ở VN trong thời gian mấy năm vừa qua nhà cầm quyền CS tuy có “cởi mở” một chút tự do để được làm ăn nhưng về phương diện sinh hoạt chính trị thì không có gì được coi là cởi mở. Đối với những nhà hoạt động đấu tranh tự do dân chủ, họ đã dũng cảm gạt bỏ việc mở mang kinh tế hoặc vinh thân phì gia cho riêng mình, cho gia đình mình mà chấp nhận mọi khó khăn, kể cả việc hy sinh tính mạng của mình để dấn bước trên con đường tranh đấu dành nhân quyền cho toàn dân tộc.

Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16/12/1966 mà CSVN đã trịnh trọng xin gia nhập ngày 24/9/1982 và cam kết thực hiện có Điều 19 ghi rõ “Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình”. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992 Chương V về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Điều 53 có ghi: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước”. Điều 69 cũng đã ghi rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước”.

Có vậy mới biết “ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI MÀ HÃY NHÌN NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM”.

Trần Việt Trình

16 tháng 10, 2009

‘Anh hùng Lê Văn Tám’ hoàn toàn không có thật

GS. Phan Huy Lê lần đầu tiên công bố trên truyền thông nhà nước: ‘Anh hùng Lê Văn Tám’ hoàn toàn không có thật



medium_A-1-PhanHuyLe.jpg

Giáo Sư Phan Huy Lê tại nhà riêng ở Hà Nội, năm 2005. (Hình: Khôi Nguyên/Người Việt)

HÀ NỘI (NV)- Giáo Sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, vừa lên tiếng chính thức trên truyền thông nhà nước và khẳng định rằng nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” là hoàn toàn không có thật.

Giáo Sư Phan Huy Lê công bố việc này trong một bài viết được đăng trên tạp chí Xưa và Nay của của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, số ra Tháng Mười, năm 2009.Bài viết sau đó được báo Khoa Học và Ðời Sống (www.bee.net.vn) đưa lên mạng vào ngày 14 Tháng Mười, năm 2009, với tựa đề “GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám.”

Ðây được coi là lần đầu tiên Giáo Sư Phan Huy Lê lên tiếng về sự kiện này trên một cơ quan truyền thông chính thức của nhà nước Việt Nam.

Cách đây hơn 4 năm, trên báo Người Việt số ra ngày 19 Tháng Ba, 2005, lần đầu tiên Giáo Sư Phan Huy Lê đã bạch hóa việc nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” là không có thật. Trả lời phỏng vấn, Giáo Sư Phan Huy Lê nói rằng, “trong một dịp thuận tiện” ông sẽ công bố sự kiện này trên truyền thông tại Việt Nam.

Sau khi đọc được bài viết trên trang mạng , nhật báo Người Việt đã gọi điện về Hà Nội hỏi chuyện Giáo Sư Phan Huy Lê, tuy nhiên ông đang đi công tác tại Hải Phòng nên không liên lạc được.

Trong bài viết trên tạp chí Xưa và Nay, Giáo Sư Phan Huy Lê nhấn mạnh khi giải thích về nhân vật Lê Văn Tám, rằng: “Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.”

Tưởng cũng xin nhắc lại về nhân vật anh hùng Lê Văn Tám: Bất cứ ai đã từng là học trò tại miền Bắc Việt Nam những năm trước 1975 và cả Việt Nam sau 1975 đều biết về câu chuyện Lê Văn Tám, một thiếu niên hơn 10 tuổi, bán đậu phộng rang vì lòng yêu nước căm thù giặc Pháp đã tẩm xăng vào người làm “ngọn đuốc sống” đốt kho đạn giặc tại Thị Nghè thành phố Sài Gòn vào ngày 1 Tháng Giêng, năm 1946.”

Câu chuyện về người thiếu niên dũng cảm này đã đưa vào sách giáo khoa dành cho lớp 4 hoặc lớp 5. Nó được truyền tụng tới mức rất nhiều tỉnh và thành phố của Việt Nam lấy tên Lê Văn Tám đặt cho các trường học, tượng đài, công viên, đường phố. Tại các trường học, tên Lê Văn Tám cũng được đặt cho các chi đội, liên đội thuộc tổ chức “Ðội Thiếu Niên Tiền Phong.”

Những giải thích về lý do vì sao lại có nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” của Giáo Sư Phan Huy Lê trên tạp chí Xưa và Nay không khác lắm với lời giải thích của ông với báo Người Việt cách đây hơn 4 năm.

Giáo Sư Phan Huy Lê kể lại câu chuyện ông có dịp làm việc với Giáo Sư Sử Học Trần Huy Liệu vào những năm 1960, lúc ấy ông Trần Huy Liệu là phó chủ nhiệm Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, kiêm viện trưởng Viện Sử Học. Ông Trần Huy Liệu mất năm 1969.

Giáo Sư Phan Huy Lê tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của Giáo Sư Trần Huy Liệu, như sau: “Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng Tháng Mười, 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.”

“GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Ðây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.”

Giáo Sư Phan Huy Lê nhấn mạnh là “GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.”

Theo lời Giáo Sư Lê thì, “Giáo Sư Trần Huy Liệu giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Ðổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách Mạng Tháng Tám. Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức bộ trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền trong chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.”

Giáo Sư Phan Huy Lê cũng nói lại điều căn dặn của Giáo Sư Trần Huy Liệu là: “Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa.”

“Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Ðây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.” Giáo Sư Phan Huy Lê viết.

Giáo Sư Lê khẳng định: “Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.”

Ðiều này trùng hợp với lời khẳng định của ông trên báo Người Việt 4 năm về trước, rằng: “Là những nhà sử học, chúng tôi phải giữ một thái độ trung thực và phải tiếp cận với sự việc càng rõ ràng càng tốt và vì thế tôi đã công bố ‘lời nhắn nhủ’ của anh Trần Huy Liệu.”

Hồi năm 2005, trong cuộc họp với hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc đài truyền hình VN) Giáo Sư Phan Huy Lê, từng nói về chi tiết phi lý về “Lê Văn Tám” rằng: “Cậu bé Lê Văn Tám sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ, và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.

Tuy nhiên, không phải không có ý kiến phản bác lại những gì Giáo Sư Phan Huy Lê công bố.

Sau bài trên báo Người Việt (Tháng Ba, năm 2005), thì ba năm sau, tờ Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày Thứ năm, 16 Tháng Mười, 2008, có bài viết tựa đề “Về cây đuốc sống Lê Văn Tám” của ông Trần Trọng Tân, nguyên là trưởng ban Tư Tưởng Văn Hóa Thành Ủy, thành phố Sài Gòn. Trong bài này, ông Trần Trọng Tân nói rằng: “Có người đã gửi cho tôi một tài liệu được lấy trên mạng thông tin điện tử, trong đó Giáo Sư Phan Huy Lê đã tiết lộ: ‘Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật’.”

Sau khi dẫn ra nhiều tư liệu, ông Trần Trọng Tân khẳng định rằng “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” là có thực.

Ông Tân viết: “Ðánh kho đạn Thị Nghè có 2 lần vào ngày 17 Tháng Mười. 1945 và ngày 8 Tháng Tư, 1946; trận ngày 17 Tháng Mười, 1945 với “Cây đuốc sống Lê Văn Tám” là có thực; Lê Văn Tám đã đốt kho đạn, không phải kho xăng; Lê Văn Tám không phải “tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng” mà “đã lừa bọn lính gác, lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm chờ lúc sơ hở, em tưới xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lê Văn Tám bị dính xăng bắt lửa thành ‘cây đuốc sống’; người tổ chức, bày kế hoạch cho Lê Văn Tám làm là anh Lê Văn Châu, đã hy sinh trong trận đánh giặc Pháp ở Ngã ba Cây Thị năm 1946.”

Tuy vậy, ý kiến của ông Trần Trọng Tân không được dư luận đồng tình, bởi ông không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp. (K.N)


Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân vật lịch sử “anh hùng Lê Văn Tám” hoàn toàn không có thật

Khôi Nguyên/NV

HÀ NỘI - Tại một cuộc họp của hãng phim truyền hình Việt Nam vào cuối tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội, giáo sư Phan Huy Lê đã tiết lộ: “Nhân vật lịch sử ‘anh hùng Lê Văn Tám’ hoàn toàn không có thật!” Ông cũng khẳng định lại điều này trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Người Việt.

Cuộc họp tại Hà Nội, trong đó có mặt một số phóng viên báo chí, nhằm thông báo rằng trong năm 2005, hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc đài truyền hình VN) sẽ thực hiện chương trình sản xuất 100 tập phim hoạt hình nội dung lịch sử dân tộc Việt Nam. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, là một trong hai nhà sử học được mời dự cùng với nhà sử học Dương Trung Quốc.

Trong phần phát biểu về tính chân thực của các nhân vật lịch sử, đột nhiên giáo sư Phan Huy Lê “nhớ lại”: “Tôi còn một món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Ðó là lúc anh Liệu làm bộ trưởng bộ tuyên truyền (sau cách mạng tháng Tám 1945, Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ tuyên truyền và cổ động), anh Trần Huy Liệu tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè”.

Giáo sư Phan Huy Lê nói thêm về lời nhắn gửi của ông Trần Huy Liệu: “Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: “Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa.”

Trần Huy Liệu được xem là một trong những nhà sử học hàng đầu và nhiều quyền lực tại miền Bắc VN những năm sau 1945, ngang hàng với Tố Hữu. Ông Liệu giữ chức Viện Trưởng Viện Sử Học Việt Nam và mất năm 1969.

Tại cuộc họp, giáo sư Phan Huy Lê cũng đề cập đến chi tiết phi lý trong câu chuyện ngọn đuốc sống Lê Văn Tám: “Cậu bé Lê Văn Tám sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ, và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.

Ðiều đáng ngạc nhiên là sau khi giáo sư Phan Huy Lê tiết lộ sự thật về Lê Văn Tám, không một tờ báo hay một cơ quan truyền thông nào của VN đăng tin này.

Câu chuyện về việc lật lại sự vô lý của nhân vật anh hùng Lê Văn Tám vài năm qua cũng đã được giới sử học mang ra bàn luận trong đó có bài viết của ông Dương Quang Ðông trên tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội khoa học lịch sử VN) số 154 (202)-XII- hồi năm 2003, và mới nhất là của tác giả Quang Hùng nhan đề “Nghĩ về hình tượng Lê Văn Tám” trên báo Thế Giới (Hà Nội) số 39 (154) ra ngày 27/9/2004, nhưng đây là lần đầu tiên câu chuyện “không có thật” này được chính thức công nhận từ một người có trách nhiệm cao nhất của giới sử học tại Việt Nam hiện nay, giáo sư Phan Huy Lê.

Tưởng xin nhắc lại về nhân vật anh hùng Lê Văn Tám: Bất cứ ai đã từng là học trò tại miền Bắc VN những năm trước 1975 và cả Việt Nam sau 1975 đều biết về câu chuyện Lê Văn Tám, một thiếu niên hơn 10 tuổi, bán đậu phộng rang vì lòng yêu nước căm thù giặc Pháp đã tẩm xăng vào người làm “ngọn đuốc sống” đốt kho đạn giặc tại Thị Nghè thành phố Sài Gòn vào ngày 1 tháng 1 năm 1946.” Câu chuyện về người thiếu niên dũng cảm này đã đưa vào sách giáo khoa dành cho lớp 4 hoặc lớp 5. Câu chuyện này được truyền tụng tới mức rất nhiều tỉnh và thành phố của VN lấy tên Lê Văn Tám đặt cho các trường học, tượng đài, công viên, đường phố. Tại các trường học, tên Lê Văn Tám cũng được đặt cho các Chi Ðội, Liên Ðội thuộc tổ chức “Ðội Thiếu Niên Tiền Phong.”

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn qua điện thoại với báo Nhật báo Người Việt hôm Thứ Sáu (18 tháng 3 năm 2005), Giáo sư Phan Huy Lê đã xác nhận việc ông công bố sự thật về nhân vật Lê Văn Tám tại cuộc họp hồi cuối tháng 2 vừa qua.

Giáo sư Phan Huy Lê cho biết: “Là những nhà sử học, chúng tôi phải giữ một thái độ trung thực và phải tiếp cận với sự việc càng rõ ràng càng tốt và vì thế tôi đã công bố “lời nhắn nhủ” của anh Trần Huy Liệu.”

Người Việt: Thưa giáo sư, ông Trần Huy Liệu nói điều ấy với giáo sư vào thời gian nào?

GS Phan Huy Lê: Lúc ấy ông Trần Huy Liệu đang là Viện trưởng Viện sử học VN. Ông nói câu chuyện này với tôi rất nhiều lần vào những năm của thập kỷ 1960, vài năm trước khi ông Liệu mất. Không chỉ nói với mình tôi, ông Liệu còn nói cả với những người đồng nghiệp của tôi là hai nhà sử học Nguyễn Ðình Thanh và Nguyễn Công Bình, hiện nay cả 2 người này vẫn còn sống. Theo lời ông Trần Huy Liệu, việc tuyên truyền hình ảnh nhân vật Lê Văn Tám như một anh hùng có thật là nhằm động viên tinh thần chiến đấu của quân dân trong những năm đánh Mỹ.

Người Việt: Ðây có phải là lần đầu tiên giới sử học VN tuyên bố nhân vật lịch sử Lê Văn Tám là không có thật?

GS Phan Huy Lê: Câu chuyện về Lê Văn Tám đã được giới sử học mang ra bàn luận trong nhiều năm qua, nhưng vẫn chưa có công bố nào cụ thể và chính thức trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Tôi cũng đã được nghe về một cuộc bàn luận về nhân vật Lê Văn Tám trên đài BBC. Riêng về bản thân tôi, là một nhà sử học, tôi đã và đang viết bài để công bố sự thật về nhân vật này một cách chi tiết và thấu đáo nhất dưới góc nhìn của lịch sử và tôi dự định trong thời gian sớm nhất.

Người Việt: Thưa giáo sư, tại sao lại không công bố sớm hơn sự kiện này?

GS Phan Huy Lê: Bởi vì, trong năm nay, nhà nước đang chuẩn bị rất nhiều ngày lễ lớn, trong đó có ngày 30 tháng 4. Tôi muốn công bố bài viết của mình trong một điều kiện bình thản hơn và không muốn việc của mình bị cuốn vào các sự kiện lớn khác. Tôi đang chờ đợi một dịp thuận lợi và nhất định là tôi sẽ làm.

Người Việt: Xin cảm ơn giáo sư.

Bài Xem Nhiều