We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 20 October 2009

Tin tức

Human Rights Watch: Vụ trục xuất tăng ni Bát Nhã làm nổi rõ tình trạng đàn áp tôn giáo ở Việt Nam
Thanh Phương , rfi
Bài đăng ngày 19/10/2009 Cập nhật lần cuối ngày 19/10/2009 13:18 TU
Human Rights Watch

Bản thông cáo của Human Rights Watch cũng cho biết là các tổ chức tôn giáo khác, gồm một số tín đồ Công giáo, Tin Lành sắc tộc thiểu số, Mennonite hay Cao Đài cũng bị truy bức do hành đạo hoặc do đã biểu tình ôn hòa đòi tự do tôn giáo và đòi trả lại tài sản của Giáo hội bị Nhà nước tịch thu
Trong bản thông cáo do tổ chức Human Rights Watch công bố hôm nay tại New York, bà Elaine Pearson, phó giám đốc đặc trách châu Á của tổ chức này nhấn mạnh : ''Một lần nữa, Việt Nam lại đàn áp một tổ chức tôn giáo ôn hòa. Chính phủ Việt Nam vẫn xem nhiều tổ chức tôn giáo, đặc biệt là những tổ chức mà họ sợ là không thể kiểm soát được, như là một thách thức đối với quyền lực của Đảng Cộng Sản''.
Chính phủ Việt Nam vẫn cho là các tăng ni Bát Nhã đã tu tập mà không có giấy phép và cũng không đăng ký tạm trú. Theo Hà Nội, đây chỉ là tranh chấp nội bộ giữa các thiền sinh với trụ trì chùa Bát Nhã Thích Đức Nghi. Nhưng tổ chức Human Rights Watch khẳng định là vụ trục xuất các môn sinh của thiền sư Nhất Hạnh rõ ràng có liên quan đến lời kêu gọi đòi tự do tôn giáo của vị thiền sư này.
Theo tổ chức Human Rights Watch, đây không phải là một vụ riêng lẽ, bởi vì Phật tử ở Việt Nam từ lâu vẫn bị ngược đãi và truy bức. Đặc biệt, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất từ nhiều thập niên qua đã bị sách nhiễu và đàn áp, do tổ chức này đòi một quy chế độc lập và kêu gọi chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền, không can thiệp vào các vấn đề tôn giáo.
Bản thông cáo của tổ chức Human Rights Watch cũng cho biết là các tổ chức tôn giáo khác, bao gồm một số tín đồ Công giáo, Tin Lành sắc tộc thiểu số, Mennonite hay Cao Đài cũng bị đàn áp, truy bức do hành đạo hoặc do đã biểu tình ôn hòa đòi tự do tôn giáo và đòi trả lại tài sản của Giáo hội trước đây bị Nhà nước tịch thu.




Sự nghiệp trồng người


chữ “sự nghiệp trồng người” thanh âm oang oang, rổn rảng khiến người nghe ngờ vực, không hiểu, rồi mất thiện cảm. Dù cách đọc và cách viết giống hệt chữ quốc ngữ, nhưng 4 chữ này thật ra là chữ Việt Cộng; và có nghĩa là thành tích giáo dục.
Việt Cộng có thành tích giáo dục thật sao? Lại thêm một nghi vấn nữa. Một quốc gia sau 34 năm thống nhất, hòa bình và 55 năm độc lập mà vẫn chưa làm được một chiếc xe gắn máy quả không đủ tư cách để khoe thành tích giáo dục.
Thiếu tổ chức giáo dục kiến hiệu đang là nguyên nhân khiến có đến 2 bài báo trong cùng một ngày thảo luận về “sự nghiệp trồng người” tại Việt Nam.
Bài đầu tiên do ký giả Trần Trọng Thức viết, đăng trên Tuần Việt Nam của tờ báo điện tử VietnamNet. Ông Thức cho rằng trục trặc “đầu vào, đầu ra” tại đại học khiến “sự nghiệp trồng người” của Việt Cộng bị trở ngại.
Bốn chữ “đầu vào, đầu ra” cũng cần giải thích: “đầu vào” là việc thi nhập đại học, và “đầu ra” là thi ra trường đại học. Ông Thức nói chính “sự cố” đầu vào thì khó mà đầu ra lại dễ khiến học thức Việt Nam bị coi rẻ.
Ông viết, “… có đáng buồn không khi Việt Nam bị chế giễu là nước có tiến sĩ nhiều nhất thế giới tính theo bình quân đầu người!
“Cách đây mấy năm, trong một hội nghị hiệu trưởng các trường đại học miền Trung-Tây Nguyên, bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ Đại học và sau đại học, đã làm các đại biểu cười ra nước mắt khi kể lại câu chuyện một nghiên cứu sinh của một học viện thuộc quân đội đã xin làm luận án tiến sĩ với đề tài: ‘Tắm giặt tập trung cho các quân đoàn đóng quân phía Bắc’.”
Ðề tài luận án “tắm giặt” giải thích nguyên nhân thế giới chế giễu các ông tiến sĩ Việt Cộng.
Bài báo thứ nhì viết về “sự nghiệp trồng người” của Việt Cộng là tác phẩm của nhà báo Hồ Bất Khuất. Có thể ông này không liên hệ huyết thống gì với Hồ Chí Minh. Ông Bất Khuất viết, “Tôi theo dõi những cuộc trao đổi, tranh luận, hiến kế cho ngành giáo dục trong vòng 20 năm nay. Có rất nhiều ý kiến tâm huyết và xác đáng, nhưng cho tới tận năm 2009 này, giáo dục nước ta vẫn trong tình trạng bí bét.
“Tại sao vậy?”
Nêu lên câu hỏi rồi ông Bất Khuất cung cấp câu trả lời, “… chúng ta hay nhắc đến những nguyên nhân ‘sạch sẽ và sang trọng’ như bệnh thành tích hay chương trình quá nặng, quá tải đối với học sinh…
“Một nguyên nhân nữa là việc còn có những người có chức, có quyền ăn tiền trong việc nhận giáo viên mới và chuyển đổi giáo viên từ vùng này qua vùng khác. Trao đổi với người thân, bạn bè, đồng nghiệp tôi thấy việc xấu xa này đã diễn ra trong nhiều năm, ở hầu hết các vùng, miền của đất nước.
“Sẽ có người thắc mắc là một việc xấu diễn ra lâu và rộng như vậy, sao không được phanh phui và triệt phá?
“Bởi vì, theo tôi, những người chọn nghề giáo viên vốn hiền lành, không ưa rắc rối. Hơn nữa, chính họ cũng có lỗi trong chuyện này, vì họ là người đưa hối lộ.
“Trong khi đó, những kẻ ăn tiền lại rất khôn ngoan, nhiều mẹo mực. Họ còn nắm trong tay số phận của những người đút lót để được nhận vào làm việc dưới quyền. Do vậy, không ai muốn làm lộ
.
Còn nếu nói bóng, nói gió đến tai những kẻ ăn tiền thì họ có thể bóng gió lại thế này: ‘Tôi có đến nhà người ta bắt họ đưa tiền đâu?! Họ tự đưa đến đấy chứ. Mà họ không đưa cho tôi, họ đưa cho vợ tôi.’ (Lời một trưởng phòng giáo dục huyện).
“Nhưng vừa rồi, tôi biết cháu của một người bạn đã phải mất không 40 triệu đồng cho “phi vụ” xin đi dạy học này. Cô gái đó thông minh, học giỏi. Sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội thì về quê xin việc. Sau khi tìm hiểu, móc nối, nhờ vả thì chốt lại thế này: Vì hồ sơ tốt và có người quen nên chỉ phải chi 40 triệu đồng (các trường hợp khác thường là 50 triệu đồng). Dù không có tiền, nhưng muốn đi dạy nên cô gái đó đi vay nợ lãi số tiền đó.
“Được đi dạy nhưng coi như đi làm công không, vì với số tiền lương hơn 1 triệu đồng/tháng, chỉ vừa đủ trả lãi cho món tiền nợ. Cô ta chỉ dạy được 1 năm rồi bỏ vào Vinh xin làm ở một khách sạn để có tiền để sống và trả dần số nợ xin đi dạy học. Có lẽ không còn ở trong vòng cương tỏa của những người đã ăn tiền của mình nên cô mới kể rõ ràng như vậy.”
Thanh niên, thiếu nữ Việt Nam thông minh và hiếu học, cha, mẹ họ lại quý trọng học vấn, luôn luôn khuyến khích con theo đuổi học trình cho đến lúc gia đình không còn đủ khả năng nuôi con đi học nữa.
Bẩm chất đó của con cái, và tinh thần đó của cha, mẹ, là nguyên nhân khiến người Việt hải ngoại đang thành công lớn lao trong mọi sinh hoạt xã hội.
Tham dự cuộc duyệt binh tri ân cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Việt Nam, một cựu quân nhân Hoa Kỳ viết, “Không thể ngờ thế hệ thứ nhì của người Việt Nam tại Hoa Kỳ lại thành công quá mức như vậy: không biết bao nhiêu là bác sĩ, tiến sĩ, khoa học gia, doanh nhân. Họ bảo vệ văn hóa Việt Nam, mặc dù họ Mỹ hoá rất rõ. Họ rất yêu nước, nhưng họ cũng thương yêu Hoa Kỳ, quê hương thứ nhì của họ. Con cái họ thường xuyên đứng đầu trong lớp học.”
Cũng thì quả cam Việt Nam, nhưng trồng trên đất tự do thì múi lớn, nước ngọt, trồng trong khí hậu tham nhũng, thoái hóa cộng sản thì ruột úng, cuống héo.
Có thảo luận thêm bao nhiêu năm nữa, hiến kế thêm bao nhiêu lần nữa thì đầu vào của hệ thống đại học cũng vẫn khó để bóp nghẹt học vấn, và đầu ra vẫn dễ để tạo những ông tiến sĩ Việt Nam chỉ quan tâm đến những việc tủn mủn như tắm giặt tập thể mà thôi.
Chỉ còn nước thay đổi toàn bộ bầu không khí u ám đang ngự trị trên khí quyển Việt Nam nếu chúng ta không muốn đứng mãi trong cuối danh sách tiến bộ.
Nguyễn Ðạt Thịnh

Một cô gái gốc Việt được trao giải Tự Do 2009 tại Hoa Kỳ Thanh Phương


Thanh Phương , rfi

Cô Sina Vann trong lễ trao giải

Ngày 15/10 vừa qua, một nhà hoạt động bảo vệ nạn nhân nô lệ tình dục ở Cam Bốt, cô Sina Vann, đã được trao giải Frederick Douglass, nhân lễ trao giải Freedom 2009 tại Mỹ. Sina Vann là một cô gái gốc Việt bị bắt cóc bán sang Cam Bốt làm gái điếm từ năm 13 tuổi. Thông tín viên Phạm Phan cho biết thêm về cô gái này và về tổ chức Somaly Mam, nơi cô đang làm việc
Thông tín viên Phạm Phan, Phnom Penh
19/10/2009

Mới đây, một cô gái Cam Bốt mang dòng máu Việt Nam, được trao giải thưởng Tự Do năm 2009 tại Los Angeles. Cô Sina Vann, 25 tuổi, trước đây là một nô lệ tình dục trong nhà chứa tại Cam Bốt sau khi được cứu thoát đã tích cực hoạt động giúp đỡ những nạn nhân cùng cảnh ngộ như cô. Giải thưởng Tự Do năm 2009 trị giá 20.000 Mỹ Kim, phân nửa số tiền để tạo điều kiện cho người nhận giải tiếp tục hoạt động cứu giúp phụ nữ trẻ em bị bắt làm nô lệ tình dục, phần còn lại để tưởng thưởng cá nhân cô Sina Vann.
Bị bán vào nhà chứa năm cô 13 tuổi
Sina Vann quê tại Việt Nam, lúc được 13 tuổi, cô bị bắt cóc mang qua Cam Bốt và bị bán vào nhà chứa. Tại đây, Sina Vann bị hãm hiếp một ngày từ 20 đến 30 lần bởi khách làng chơi và bị chủ chứa đánh đập nêu có thái độ chần chừ không chịu tiếp khách. Ðến tuổi 16 tức 3 năm sau khi bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục, Sina được cảnh sát Cam Bốt cứu thoát khỏi địa ngục trần gian này khi họ đột kích vào nhà chứa trong các đợt truy quát tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em.
Sau khi phục hồi sức khỏe và tinh thần tại trung tâm cứu nguy các nạn nhân bị bắt làm nô lệ tình dục, Sina Vann bắt đầu làm việc cho Sáng Hội Somaly Mam, và rồi cô đảm nhận vai trò người đứng đầu chương trình có tên Tiếng Nói Vì Sáng Kiến Thay Ðổi, một chương trình có mục tiêu hoạt động cứu giúp các nạn nhân nô lệ tình dục.
Theo ông Lin Sylor phát ngôn nhân của văn phòng Sáng Hội Somaly Mam tại Cam Bốt thì nhiều người vui lòng khi thấy cô Sina Vann nhận được giải thưởng Tự Do, vì điều này chứng tỏ hoạt động binh vực nữ quyền của cô được quảng bá trong xã hội.
Các hoạt động của hội Somaly Mam
Hội này mang mục đich cao đẹp là cứu thoát và giúp đỡ các nạn nhân không may bị rơi vào cảnh nô lệ tình dục. Hội mang tên của bà Somaly Mam sinh năm 1970 tại tỉnh Ratanakiri thuộc vùng Ðông Bắc Cam Bốt. Cũng như hoàn cảnh bi đát, đáng thương của nhiều cháu gái nhỏ Cam Bốt nghèo nàn, Somaly Mam bị bán vào động gái lúc còn rất nhỏ. Somaly Mam trải qua những gì mà cô Sina Vann phải gánh chịu.
Mãi cho đến tuổi 30, Somaly Mam cùng với chồng bà là môt người Pháp, ông Pierre Legros, thành lập một tổ chức có tên AFESIP (Agir pour les Femmes en Situation Précaire) năm 1997 tại Cam Bốt, từ đó tổ chức này mở rộng hoạt động tại Thái Lan, Lào, và Việt Nam. Mục tiêu của tổ chức này là cứu thoát và tái hội nhập vào xã hội những nạn nhân bất hạnh rơi vào cảnh ngộ đau lòng như có nói bên trên đây.
Mặc dù bị đe dọa bà Somaly Mam cố gắng giúp hàng ngàn nạn nhân là các cô gái trẻ hay các cháu gái ở tuổi 13 bị cưỡng buộc bán thân xác trong các ổ chứa có cơ hội lập cuộc đời mới.
Dưới đây là các hoạt động tổng quát của Sáng Hội Somaly Mam và AFESIP: Chống tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em vào con đường nô lệ tình dục. Chăm sóc và phục hồi nạn nhân được cứu thoát. Huấn luyện cho họ một nghề chuyên môn. Tái hội nhập nạn nhân vào cộng đồng xã hội nơi họ có thể sống trong trạng thái ổn định và thay đổi khác đi lối sống cũ đã đẩy họ vào cảnh đời tăm tối trước đây.
Tình trạng mua bán phụ nữ và trẻ em
Song song theo đó hai tổ chức nói trên đây còn mưu tìm phương cách chống lại nguyên nhân và hiệu quả của tệ nạn buôn người và nô lệ tình dục thông qua các hoạt động như : Hoạt động xã hội và dưỡng đường, Ðiều tra pháp lý, binh vực và vận động, phục hồi và cố vấn tâm lý, hồi hương và tái hội nhập. Ðại diện và tham gia các vấn đề phụ nữ ở các diễn đàn cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Liên quan đến tình trạng mua bán phụ nữ trẻ em hiện nay, với sự tham gia hoạt động của nhiều tổ chức cứu giúp phụ nữ trẻ em, tổng quát hiện nay vấn nạn buôn người có phần suy giảm nhưng chưa chấm dứt. Tình trạng suy thoái kinh tế trong năm qua và nay vẫn còn bị tác động cũng đã khiến cho nhiều gia đình nghèo tại Cam Bốt là nạn nhân trực tiếp, từ đó vô tình đẩy con em họ vào con đường bán thân xác.
Riêng và phụ nữ và trẻ em Việt nam, theo một nghiên cứu về ảnh hưởng qua lại giữa thay đổi khí hậu và môi trường xã hội thì có nhiều gia đình người Việt sinh sống tại đồng bằng sông Cửu Long do đất bị ngập nước vì mực nước biển dâng lên cao, không có đất canh tác, họ buộc phải di dân qua Cam Bốt kiếm sống và không ít cô gái đã đi vào con đường bán thân nuôi miệng.

Bài Xem Nhiều