We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 22 October 2009

Tin tức tổng hợp

Hạ viện Mỹ thông qua Nghị quyết về Tự do Internet ở VN
Nguyễn Trung
VOA, 21/10/2009

Thưa quý vị, Hạ viện Hoa Kỳ hôm thứ Tư đã nhất trí thông qua với đa số phiếu thuận Nghị quyết HR 672 do dân biểu Loretta Sanchez đề xuất, kêu gọi Việt Nam ‘thả các blogger bị cầm tù và tôn trọng tự do Internet’. Đồng bảo trợ nghị quyết này còn có một số dân biểu khác quan tâm tới các vấn đề Việt Nam như Edward Royce, Frank Wolf, Zoe Lofgren và Cao Quang Ánh. Phát biểu tại Hạ viện, nữ dân biểu từ California cho rằng Hoa Kỳ ‘cần phải lên tiếng cho những ai không có tiếng nói ở Việt Nam’. Phóng viên Nguyễn Trung của Ban Việt Ngữ đài VOA đã theo dõi quá trình thảo luận cũng như bỏ phiếu và có bài tường thuật sau.
Dân biểu Loretta Sanchez cho rằng Internet là 'công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận'.

Bảy ngày sau khi dân biểu Loretta Sanchez chủ trì một buổi thuyết trình về tình hình tự do Internet ở Việt Nam tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, với sự tham gia của các diễn giả đại diện cho các tổ chức thúc đẩy nhân quyền quốc tế và hải ngoại, lưỡng đảng tại Hạ viện Hoa Kỳ đã nhất trí thông qua Nghị quyết HR 672 với đa số phiếu thuận.
Nghị quyết do bà Sanchez đề xuất viết rằng, Việt Nam đã ‘bỏ tù các blogger và nhiều nhà hoạt động dân chủ bày tỏ quan điểm ôn hòa trên Internet’, cũng như ‘dựng tường lửa chặn các trang thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài’ trong khi ‘Internet là công cụ thực thi quyền tự do ngôn luận, chia sẻ thông tin một cách tự do cũng như liên kết người Việt Nam ở cả trong nước lẫn quốc tế’.
Phát biểu tại Hạ viện hôm 21/10, nữ dân biểu này cho rằng Việt Nam đã ‘có biện pháp trái luật’ khi bắt giữ các bloggers trong thời gian qua. Bà nói: ‘Internet cũng đã trở thành một phương tiện chia sẻ thông tin một cách tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và dân chủ. Tuy nhiên, trong những tháng vừa qua, chính phủ Việt Nam đã có những bước đi tôi cho là trái luật nhằm kiểm soát Internet’.
Cũng phát biểu ủng hộ Nghị quyết HR 672 tại Hạ viện còn có ông Ed Royce và Cao Quang Ánh, dân biểu gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Hoa Kỳ.
Nghị quyết HR 672 cũng cho rằng việc thành lập Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hồi tháng 10/2008 và việc ra Thông tư 07 tháng 12/2008 ở Việt Nam đã ‘giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như buộc các công ty công nghệ hợp tác với chính phủ trong nỗ lực kiểm soát các thông tin cá nhân của người sử dụng mạng Internet’.
Hồi năm ngoái, trong buổi lễ ra mắt Cục này, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn từng nói với báo giới trong nước rằng sự ra đời của Cục này là ‘bước quan trọng trong quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử’.
Tuy nhiên, trong Nghị quyết HR 672, bà Sanchez cho rằng đây là một cơ quan ‘có mục đích duy nhất là giới hạn tự do Internet, kiểm duyệt blog cá nhân cũng như yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp thông tin về những người sử dụng vi phạm các quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông của nước này’.
Trả lời VOA Việt Ngữ qua điện thoại, một giới chức không muốn nêu tên từ Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cho rằng nhận định trên ‘thiếu chính xác’, nhưng không giải thích cụ thể.
Nghị quyết cũng 'kêu gọi trả tự do' cho luật sư Lê Cộng Định và một số nhà hoạt động dân chủ khác.

Ngoài kêu gọi tự do Internet rộng rãi hơn ở Việt Nam, Nghị quyết cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam phóng thích ‘tất cả các tù nhân chính trị’ trong số đó có một số người bị bắt trong thời gian qua như luật sư Lê Công Định, nhà giáo Vũ Hùng hay nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung.
HR 672 còn kêu gọi Hạ viện Hoa Kỳ ‘ủng hộ quyền tiếp cận website của người dân Việt Nam cũng như quyền tự do chia sẻ và công bố thông tin trên Internet’.
Tại Hạ viện, bà Sanchez cho rằng Washington ‘chưa có quan điểm cứng rắn trước tình trạng vi phạm quyền ở Việt Nam’. Bà nói: ‘Tôi tin rằng chúng ta, Hoa Kỳ, phải có quan điểm phản đối việc vi phạm nhân quyền rõ ràng của Việt Nam. Hoa Kỳ là nước dẫn đường về tự do và dân chủ, nên nhiệm vụ của chúng ta là phải lên tiếng thay cho những ai không có tiếng nói’.
Hà Nội chưa có phản ứng chính thức về việc Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết HR 672. Bộ Ngoại giao Việt Nam trước đây từng khẳng định ‘chính sách nhất quán’ về ‘quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, và quyền được thông tin cho mọi người dân’.
Mới đây, trong một thông cáo hôm 14/10, Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội đã bày tỏ quan ngại về việc chín nhà hoạt động dân chủ bị kết án ở Việt Nam một tuần trước đó.
Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng cho rằng Hoa Kỳ ‘can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam’.



Tự do báo chí trên tòan cầu
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA, Bangkok
2009-10-22

Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) từ Paris (Pháp) vừa phổ biến bản xếp hạng về tự do báo chí trên toàn cầu năm 2009.
Screen capture from RSF.org

Trang web của RSF thông báo bảng xếp hạng về tự do báo chí trên tòan cầu
Mức độ tự do báo chí trên thế giới
Trong số 10 quốc gia đứng cuối bản, bị xem là kẻ thù của truyền thông báo chí - internet, có 6 nước Châu Á, riêng Việt Nam thì xếp thứ 166 trên 175 quốc gia liệt kê trong danh sách.
Đỗ Hiếu trình bày thêm chi tiết.
Trong bản xếp hạng vừa được phổ biến, “bộ ba” luôn đứng chót là Bắc Hàn, Miến Điện và Lào do những thành tích như kiểm duyệt báo chí gắt gao, không cho phép tư nhân hoạt động trong ngành truyền thông đại chúng, giam nhốt, ám hại bất cứ ai muốn nói lên sự thật một cách công khai.
Theo đánh gía của RSF, các quốc gia không có tự do báo chí, hạn chế quyền tự do ngôn luận, che dấu sự thật, ngăn cản nhà báo hành nghề, bỏ tù hay ám hại những người cầm bút, xét thấy bất lợi cho chế độ cầm quyền phi dân chủ, quân phiệt, độc đoán, gồm những nước thống trị bằng bạo lực, thường xuyên xảy ra xung đột quân sự, chiến tranh kéo dài, hay dung dưỡng tệ nạn tham nhũng, hậu quả hiển nhiên là ở những nước đó quyền làm người bị xâm phạm, chính quyền khóa miệng đối lập, bắt bớ, sách nhiễu những tiếng nói đấu tranh ôn hòa cho dân chủ và nhân quyền.
Việt Nam được xếp thứ 166 trên 175 quốc gia
Khi giải thích về việc Hà Nội xếp hạng 166 trên tổng số 175 quốc gia được khảo sát, năm nay, ông Vincent Brossel - Giám Đốc Điều Hành RSF đặc trách Châu Á, cho Đài RFA chúng tôi biết đại ý là gần đây nhà nước Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc đảng, đã gia tăng bắt bớ, xử phạt tù nhiều nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ, những cây bút tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là những đối tượng công khai phê phán sự nhượng bộ mà Hà Nội dành cho Bắc Kinh về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, khai thác bauxite…
Vẫn theo ông Vincent Brossel, nhà nước Việt Nam thường xuyên kiểm soát chặt chẽ mọi phương tiện truyền thông, bưng bít sự thật, lọc lựa các nguồn thông tin mà họ chỉ muốn cho người dân nghe - biết, không chấp nhận báo chí tư nhân độc lập, cắt xén những vần đề bén nhạy, ngại làm phật lòng làng giếng khổng lồ phía Bắc:
Kế đó, góp ý với RFA về thành tích của Việt Nam trong việc đối xử với nhà báo, blogger, người viết bài trên internet, các tiếng nói dân chủ, cô Dương Thị Xuân một cây bút độc lập ở Hà Nội nhấn mạnh:
Nhà báo tự do Dương Thị Xuân : Tôi là ký giả tự do. Nói về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam thì tất cả mọi người đều biết rằng là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký chỉ thị là không có báo chí tư nhân, cho nên cái vấn đề báo chí tư nhân ở Việt Nam là không có, còn những ký giả tự do như chúng tôi thì chỉ là ký giả tự do thôi, còn nếu làm là đi hành nghề báo tự do thì sẽ được cơ quan an ninh hỏi thăm ngay: "Thẻ nhà báo đâu? Ai cho hành nghề?" Ấy, cho nên vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có. Thế hoạt động thế nào hả anh? Đúng không ạ? Bởi vì nói thật ra làm gì có tự do. Đây là tôi viết bài theo cái tâm tư của tôi thôi chứ còn nếu mà tôi hành nghề báo chí tại Việt Nam hiện nay thì sẽ được nhà cầm quyền bắt ngay.
Trong một buổi phát thanh trước, qua câu chuyện với đài chúng tôi, từ Paris ông Benoit Hervieu cũng nhắc lại là qua đánh giá và đúc kết của RSF thì năm rồi Việt Nam cũng nằm trong danh sách 12 kẻ thù nguy hiểm nhất của internet. Trong bản xếp hạng tự do báo chí 2008 do RSF đúc kết, Hà Nội xếp thứ 168 trên 173 quốc gia được liệt kê
Được biết, các nước Châu Á xếp hạng cao và trung bình trong danh sách của RSF gồm có Nhật Bản thứ 17, Đài Loan hạng 59 và Nam Hàn thứ 69.
Sáu nước Châu Á xếp cuối bản là Campuchia, thứ 117, Việt Nam 166, Trung Quốc hạng 168, Lào 169, Miến Điện 171 và Bắc Hàn hạng 174.
Đỗ Hiếu, RFA Bangkok, Thailand
---------------------------------



Quan điểm mới về quốc phòng?
Trân Văn, phóng viên RFA
2009-10-21

Chỉ trong vòng ba ngày cuối tuần qua, tờ Quân đội Nhân dân liên tục giới thiệu hai bài xã luận đề cập đến một quan điểm mới về quốc phòng của hai sĩ quan cao cấp có học vị tiến sĩ.
AFP PHOTO

Sinh viên Hà Nội tham gia một khóa huấn luyện quân sự ngắn ngày. Đây là chương trình bắt buộc đối với tất cả sinh viên tại Việt Nam vào mỗi đầu năm học.
Cảnh báo các nguy cơ
Hôm 15 tháng 10, tờ Quân đội nhân dân giới thiệu bài viết có tựa lả “Chủ động định hướng phát triển tiềm lực và sức mạnh quốc phòng toàn dân”, của một trung tướng, có học vị tiến sĩ, tên là Nguyễn Tiến Bình và sau đó ba ngày, tờ báo này giới thiệu một bài viết khác có tựa là “Không có quân đội trung lập, siêu giai cấp”, của một đại tá, cũng có học vị tiến sĩ, tên là Nguyễn Đức Độ.
Trong bối cảnh như hiện nay, các quan điểm được đăng tải trên tờ Quân đội Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam, có gì đáng chú ý?
Cả hai bài xã luận này có nhiều điểm tương đồng trong cách nhìn nhận, đánh giá về hiện tình Việt Nam cũng như các đề nghị về giải pháp.
Trong hai bài vừa kể, cả tướng Nguyễn Tiến Bình lẫn đại tá Nguyễn Đức Độ cùng cảnh báo về các nguy cơ được đặt tên là “diễn biến hoà bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Theo đó, các thế lực thù địch đã điều chỉnh chiến lược chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để đẩy nhanh việc xóa bỏ sự lãnh đạo của Đàng CSVN và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tại sao các diễn biến theo chiều hướng hoà bình cũng như những khuynh hướng vốn có tính tất nhiên, thậm chí rất phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng, vẫn thường được đề cập trong các chương trình giảng dạy về triết học Mác-Lênin, như: tự diễn biến, tự chuyển hoá lại có thể trở thành nguy cơ?
Tướng Bình giải thích: “Chiến tranh xâm lược kiểu mới không phải là xâm chiếm lãnh thổ, mà làm chuyển hóa bộ máy lãnh đạo, điều hành đất nước và chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.”
Còn đại tá Độ thì cho rằng: “Lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và những khó khăn về kinh tế, xã hội của nước ta, chúng kích động, gây chia rẽ, hòng làm mất lòng tin của nhân dân và Quân đội ta vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp hiện hành khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, đòi thực hiện ‘đa nguyên, đa đảng’, đòi bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ chính trị trong quân đội.”
Quan điểm mới…
Cho dù đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn khẳng định được tổ chức và hoạt động theo phương châm “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ”, song cả tướng Bình lẫn đại tá Độ cùng bày tỏ sự lo ngại và lên án các quan điểm “phi chính trị hoá lực lượng vũ trang”, “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”, hoặc các đề nghị như “quốc gia hoá quân đội”, “luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” , “quân đội chỉ hành động theo pháp luật”, dẫu rằng, một số đề nghị vừa kể từng được xác định trong Luật Quốc phòng được ban hành năm 2005.
Sở dĩ tướng Bình lên án những quan điểm đó, đồng thời xác định những đề nghị vừa kể là quan điểm của các thế lực thù địch, phản động, bởi theo ông: “Thực chất, đó là sự bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, từng bước tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Sẽ mắc sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nếu xa rời nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân.”
Tương tự, đại tá Độ khẳng định những quan điểm cũng như đề nghị đã dẫn là: “Vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn, thực chất nhằm “chuyển hóa” lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta.”
Cũng vì thế, tướng Bình cho rằng: “Cần khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân coi việc “nuôi quân” và “dùng quân” luôn thống nhất hữu cơ, được thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả thời bình và thời chiến. Thực tiễn đã chứng minh và khẳng định: Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là lực lượng nòng cốt trong sức mạnh của chiến tranh nhân dân, mà trước hết và thường xuyên là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng toàn dân, trong đấu tranh quốc phòng và các hoạt động quân sự phi chiến tranh để giữ nước ngay trong thời bình.”
Qua hai bài viết đã dẫn, có thể thấy, cả hai sĩ quan cao cấp, cùng có học vị tiến sĩ, đã đồng nhất hoá vai trò quốc phòng với công việc bảo vệ bảo vệ sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng CSVN. Còn việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ như khoản 2, điều 4 của Luật Quốc phòng (Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bao gồm đất liền, đảo, quần đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời, sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược bằng bất kỳ hình thức nào) thì sao?
Trong nhiều năm qua, ngư dân Việt Nam liên tục bị tàu của hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư Trung Quốc săn đuổi, bắt giữ, buộc nộp phạt, thậm chí bị bắn, bị đánh đập, bị cướp, bị làm nhục. Người ta chưa thấy quân đội nhân dân Việt Nam “sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược bằng bất kỳ hình thức nào” như Luật Quốc phòng qui định.
Tuy lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam cũng có Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng nhưng đây là một thực tế mà nhiều ngư dân đã xác nhận với các cơ quan truyền thông cả trong lẫn ngoài Việt Nam:
“Ở ngoài biển phần ai nấy biết chứ mô có ai bảo vệ. Bảo vệ là hồi bão tố, biên phòng ở trong bờ điện ra nhắc chừng, bảo là Đài báo bão, bảo phải cập bến thì họ kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi chứ không có ai bảo vệ hết.”
Trên đây là ý kiến của vợ một ngư dân ở Đà Nẵng. Còn đây là ý kiến của một trong những ngư dân bị hải quân Trung Quốc cướp, đánh đập khi cho tàu vào đảo Hữu Nhật, quần đảo Hoàng Sa – vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam - trú bão:
“Nói chung mình nghe là của Việt Nam nhưng của Việt Nam gì mà ra nó bắt miết. Việt Nam đi ra đó là phải né đi ban đêm chứ ban ngày không dám đi, đi rồi sợ ngang qua đó nó bắt anh ơi!”
Vậy đâu mới thực sự là mục tiêu của chính sách quốc phòng?

34 NĂM “GIẢI PHÓNG”, 33 NĂM TÙ ĐÀY!


Viết vì sư hối thúc của lương tâm, viết vì sự phẩn uất trước cái ác đê tiện và viết để đánh động lương tri. Lẽ ra tôi phải viết những dòng chữ này ngay từ ngày đầu tiên ra tù, nhưng không có phương tiện làm việc, đành phải ra mắt bạn đọc muộn vậy. Kính mong quý vị và anh Nguyễn Hữu Cầu lượng thứ.

Một số phận nghiệt ngã bị bách hại bởi một chế độ phi nhân, tàn độc mà có lẽ đến muôn nghìn kiếp sau tôi cũng không thể nghĩ được nó một thời hiện diện trên trái đất này: chế độ toàn trị Cộng Sản Việt Nam. Vâng, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một trong bốn mươi hai câu chuyện thương tâm mà tôi (vô phúc bị) mắt thấy tai nghe. Tôi muốn kể cho quý vị nghe sự thật về anh Nguyễn Hữu Cầu, một cựu đại úy Địa Phương Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một trong 43 người bạn tù chính trị của tôi tại Khu Giam Riệng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai.

Sau biến cố đau buồn 30/04/1975, anh Hữu Cầu bị cưỡng bách tập trung cải tạo như mọi quân nhân VNCH khác. Đến cuối năm 1981 thì được trả tự do. Sống được đúng 1 năm ở ngoài và gần cuối năm 1982 lại bị tù cho đến ngày hôm nay – 33 năm trong ngục tù Cộng Sản!

Anh Cầu quê ở Kiên Giang, là một trí thức có năng khiếu trong âm nhạc, thơ ca. Bức xúc trước những số phận nghiệt ngã của người dân và sự gian trá, giảo quyệt, thối nát đến tận cùng của Cộng Sản Việt Nam, anh đã sáng tác rất nhiếu bài thơ, bài ca và cả trường thi hơn 2000 câu (tôi không thể thuộc được). Sáng tác xong, anh thường đọc cho các bạn của mình là những bác sỹ, giáo viên ở Kiên Giang nghe, đồng thời ghi lại những tác phẩm đó trong một quyển sổ dày khoảng 500 trang. Linh tính về việc làm của mình có thể dẫn đến tù đày tiếp, anh Cầu đã ghi lại những tác phẩm của mình theo cách sau : Trang lẻ, anh Cầu ghi sáng tác của mình, còn trang chẵn (mặt sau của trang trước) anh Cầu ghi lại những tội ác tày đình một cách chi tiết của các quan chức tỉnh Kiên giang, anh và nhóm bạn mai phục, gặp gỡ, phỏng vấn nhân chứng mà có được. Anh Cầu làm việc này vì nghĩ rằng nếu bị bắt thu quyển nhạc, thì chúng không thể trưng ra bằng chứng đó trước tòa được, vì nó liên quan tới rất nhiều quan chức cấp cao của địa phương, kể cả phó chủ tịch tỉnh và Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang.

Ngày 09 tháng 10 năm 1982, anh Nguyễn Hữu Cầu bị bắt. Sau 5 tháng bị giam để điều tra, tòa án Kiên Giang mang anh Cầu ra xử với mức án tử hình với tội danh “Phá Hoại”. Thật may mắn, trong thời gian bị giam, anh Cầu được một người Công An điều tra xét hỏi cho biết là chính anh ta phải nhận nhiệm vụ giả chữ viết của anh Cầu để sao lại quyển sách của anh (mặt sau của các trang để trắng). Công việc được thực hiện trong 3 tháng mới hoàn tất. Và sau khi hoàn tất, anh sẽ bị xử chết ngay để bịt đầu mối. Biết được thông tin này, anh Cầu đã kiên quyết chối phăng đi và không thừa nhận quyển sách cùng những sáng tác của mình. Tuy vậy, anh Cầu vẫn bị xử tử hình. Một trong những người đã tham dự phiên tòa là ký giả độc lập Trương Minh Đức – đảng viên Đảng Vì Dân, người đã ở tù chung với tôi và hiện đang bị giam chung với anh Nguyễn Hữu Cầu. Sau đó, anh Cầu đã kháng án, và nhờ trợ giúp của người nhà, anh đã gặp được luật sư Trần Thời Vượng, một luật sư già sắp về hưu. Ông Vượng nói với anh Cầu là ông muốn làm một việc gì đó có ý nghĩa trước khi về hưu. Nhờ ông Vượng mà quyển sách được đem đi giám định hình sự tại Sài Gòn. Cơ Quan Giám Định Hình Sự bộ Nội Vụ kết luận : Quyển sách không phải do anh Nguyễn Hữu Cầu viết ra. Tuy thế, để binh vực lẫn nhau, tòa phúc thẩm Tp Hồ Chí Minh vẫn không xử anh được trắng án mà giảm xuống chung thân.

Tôi thật sự phẩn nộ khi được đọc bản Cáo Trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Kiên Giang sáng tác ra để buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu. Tôi không còn nhớ nguyên văn, nhưng tôi đoan chắc và hoàn toàn chịu trách nhiệm về một số nội dung trong bản Cáo Trang buộc tội anh Cầu mà tôi đã đọc được. Xin hỏi quý vị - đặc biệt là các Phật Tử, có ai không biết Đức A Nan và Ca Diếp đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni lúc Ngài còn tại thế? Ấy vậy mà trong bản Cáo Trạng buộc tội anh Nguyễn Hữu Cầu, Viện Kiểm Sát Nhân Dân (lại Nhân Dân!) đã viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với những tên A Nan và Ca Diếp để nhằm mục đích hoạt động phá hoại chế độ. Nay tên Ca Diếp đã vượt biên, còn tên A Nan đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào truy nã được thì sẽ xét xử sau.

Nhân tiện đây tôi xin thưa với quý ông Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang thời đó (1982), và quý ông Cộng Sản thời nay. Tôi xin mách cho các ông biết nơi ẩn náu của hai “tên” Ca Diếp và A Nan để quý ông dễ dàng bắt giữ mà khỏi mất công phải truy nã nữa, mệt lắm! Họ đang ở tỉnh Cực Lạc, nước Niết Bàn. Muốn qua đó thì mời quý ông qua Tây Trúc mua vé nhé! Hoặc có thể truy cập vào website sau để đăng ký, sẽ được công dân của nước Niết Bàn giao vé tới tận nhà : samhoitoiloideduocs ieuthoat. com

Tôi xin viết lại nguyên văn bài “Giọt Nước Mắt Chúa” do “tên” Nguyễn Hữu Cầu viết ca ngợi Đế Quốc Mỹ, mời quý Ki Tô hữu thưởng lãm : Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha chỉ đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sư dữ, A men!. Thật hết biết! Bài Kinh Lạy Cha để tôn vinh Đức Chúa Trời của tín đồ Ki Tô trên toàn thế giới, lại biến thành bài “Giọt Nước Mắt Chúa” trong Cáo Trạng buộc tội anh Cầu của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang. Cáo Trạng Viết : Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài hát “Giọt Nước Mắt Chúa” với ý thức còn mơ tưởng đến sự trở lại của Đế Quốc Mỹ, tên Cầu đã ví Đế Quốc Mỹ như là cha để cầu xin bơ thừa sữa cặn, (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày). Còn rất nhiều điều thực sự ngu dốt đến thương hại của một cái gọi là “Bản Cáo Trang” ấy, trong tinh thần của bài viết tôi không thể đưa ra. Nếu có thể được, quý độc giả sẽ tận mắt mục kích nó trong một ngày gần đây.

Trong thời gian ở trại tù Z30A, anh Cầu đã được Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Giám Đốc Giòng Tên, cùng ở tù chung với anh Cầu, rửa tội để trở thành Kitô hữu - một trong những lý do không được giảm án hay ân xá. Đi theo lời kêu gọi của lương tâm và tinh thần của một Kitô hữu, anh cầu đã đấu tranh không khoan nhượng với những tội ác mà CSVN thông qua những bàn tay nhuốm máu của các cai tù, côn đồ, hành xử với tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm. Cụ thể, trong thời gian 28 năm ở trại tù Z30A, anh Cầu đã làm gần 500 lá đơn tố cáo ban Giám Thị trại giam tổ chức mại dâm, buôn bán ma túy, dùng giang hồ khủng bố tù chính trị, sản xuất rượu và pháo lậu, quản giáo đánh đập và giết tù nhân, trại đã chủ trương giết tù nhân chính trị bằng cách cố tình cho lây nhiễm HIV - trại giam không cho sử dụng dụng cụ hớt tóc và dao cạo râu, mà do một tù hình sự, đến kỳ (một. tháng một lần) sẽ vào hớt tóc và cạo râu cho họ và chỉ được dùng duy nhất một lưỡi dao lam cũ, do tù nhân hình sự ấy đưa vào. Thông qua lưỡi dao này, trại giam đã truyền HIV vào tù nhân chính trị - Nhân chứng sống còn chưa chết (nhưng rồi sẽ phải chết), đã bị nhiễm HIV bằng con đường này là anh Đổ Văn Thái (nằm sát với tôi trong phòng giam), hiện đang bị giam tại Khu Giam Riêng, K2, trai giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai.

Vì sợ sự thật sẽ được phơi bày ra anh sáng công luận. Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam mà cụ thể là Trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai đã biệt giam anh Cầu hơn 3 năm (tôi không nhớ chính xác thời gian). Trong thời gian đó, anh Cầu không tiếp xúc được bất kỳ ai ngoài cán bộ quản giáo và người tù hình sự đưa cơm hằng ngày. Trong 3 năm ấy, may mắn sao anh không bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nhưng đôi mắt anh đã bị mù. Đến cuối năm 2007 anh mới được đưa lên bện viện Chợ Rẫy trị mắt – nhưng chỉ được một con. Cách nhốt biệt giam một người tù như thế, nhằm mục đích để bệnh hoạn giết đi một cách gián tiếp. Tôi không thể tưởng tượng ra được, đâu đó trên trái đất này có ai hành xử với đồng loại như thế không?.

Tội ác của Cộng Sản không sao kể xiết. Gia đình tôi là một trong hàng triệu triệu nạn nhân. Tôi đã biết nhiều qua chứng kiến, đọc, nghe mẹ và nhiều người kể. Ở đây tôi không muốn nhắc tới nữa, vì đã có quá nhiều người viết lên rồi. Tuy nhiên, tôi muốn nói cho những người Cộng Sản biết một sự thật hiển hiện rằng : Với tinh thần hòa hiếu, vị tha của tâm hồn Việt, phù hợp với trào lưu vươn tới Hòa Bình, Bác Ái và Sự Thánh Thiện trên khắp hoàn cầu ngày nay. Người dân Việt có thể tha thứ cho các tội ác mà quý vị đã gieo rắc, nhưng không bao giờ họ quên đi tội ác ấy. Chỉ có một cách duy nhất để làm phai mờ dần những ký ức về tội ác của quý vị trong tâm hồn Việt. Đó là hãy nhìn thẳng vào sự thật, vượt qua nỗi sợ hãi của chính mình mà trở về với Mẹ, sà vào lòng Mẹ mà ăn năn tội và xin Mẹ tha thứ - Mẹ Việt Nam muôn vàn thân yêu và đầy lòng bác ái của chúng ta.

Tôi đang giữ ĐƠN XIN BÁO CÁO BỔ SUNG của anh Nguyễn Hữu Cầu viết gởi ông chánh án Tòa Án Tối Cao. Xin mời quý độc giả ghé mắt (Files attached)
Sở dĩ có khổ giấy dài như thế là vì trong tù, tù nhân chính trị không được sử dụng giấy và viết. Viết và giấy có được là do lượm lặt, cất giấu và dán lại mà có.

Điều đáng nói ở đây là một Đảng, một Nhà Nước đương đại trong thế hội nhập toàn cầu, đã từng đặt bút ký vào nhiều công ước, hiệp ước đầy tính nhân văn của Liên Hiệp Quốc. Ấy vậy mà đã hành xử tàn bạo đến man rợ như thế. Cộng Sản Việt Nam đã chà đạp lên lương tri Nhân Loại, coi thường Công Pháp Quốc Tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Con Người, mà chính họ đã đặt bút ký vào. Cộng Sản Việt Nam đã không ngần ngại nhào nặn Lịch Sử, xuyên tạc sự thật và bức tử chính Hiến Pháp do họ soạn thảo ra để triệt tiêu bằng được tất cả những người Việt yêu nước chân chính.

Tôi khẩn cầu người Việt yêu nước trên toàn thế giới hãy lên tiếng. Mong các quốc gia dân chủ, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền Quốc tế, có biện pháp hữu hiệu để buộc Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam thả anh Nguyễn Hữu Cầu và những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ trên toàn lãnh thổ Việt Nam vô điều kiện.

Nguyễn Ngọc Quang
Sài Gòn ngày 06/10/2009

dangvidan.org

Bài Xem Nhiều