We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 22 November 2009

Linh mục Nguyễn Văn Lý vẫn bất khuất

Linh mục Nguyễn Văn Lý, người tù lương tâm đang bị Việt Cộng giam trong ngục Ba Sao Nam Hà của chúng, vừa gục xuống và bị liệt nửa người vào sáng sớm ngày 14 tháng 11. Việt Cộng nói ông bị tai biến mạch máu não; đây là lần thứ nhì tai biến xẩy ra cho linh mục, một ông lão 63.Bà Ngô thị Hiền thuộc Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam thông báo, “4 giờ sáng Thứ Bảy 14 tháng 11, Lm Lý cầu nguyện và dâng lễ như thường lệ
Tự nhiên ông cảm thấy chóng mặt và té nằm trên nền gạch và nhận thức một nữa thân bên phải bị liệt hoàn toàn, mất mọi cảm giác và không cử động được.
“Lm Lý nằm như thế rất lâu cho đến khi một cán bộ trại tù đi cung cấp nước sôi phát hiện. BGĐ trại tù Ba Sao quyết định đưa Lm Lý điều trị tại bệnh viện của bộ CA tại quận Cầu Giấy, Hà Nội vào sáng Thứ Bảy.
“Đây là một quyết định vô cùng chậm trễ, vì trước đây, sau lần Lm bị tai biến mạch máu não lần đầu 25-5-2009, gia đình Lm Lý đã nhiều lần kêu gọi GM Nguyễn Như Thể, cũng như viết thư cho nhà cầm quyền CS, xin đưa Lm Lý ra nhà thương ngoài lao xá trị bệnh. Nhưng nhà tù và GM Nguyễn Như Thể hoàn toàn im tiếng.
“Vào chiều tối Thứ Bảy 14-11, thiếu tá VC tên Nam, người cai ngục trực tiếp của Lm Lý, đã gọi điện thoại khẩn cấp báo tình hình sức khỏe của Cha Lý với chị của ngài là bà Nguyễn Thị Hiểu.
“Hai người cháu cha Lý là Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Công Hoàng đã rời Quảng Biên sáng Chủ Nhật và đến Hà Nội lúc 11 giờ sáng Thứ Hai. Hai giờ sau, họ mới được vào gặp Cha Lý cùng với sự hiện diện của 5. 6 CA gác tù.
“Vào thời điểm này, Lm vẫn còn liệt nửa người, giọng của ngài hơi yếu. Nhưng ngài vẫn bình tĩnh, vững tin và lạc quan.”

Anh Nguyễn Công Hoàng viết thơ cho Linh mục Phan Văn Lợi, tường trình việc 2 anh em anh vào thăm Linh mục Nguyễn Văn Lý, trong đó có đoạn, “Ngày hôm qua con đã đi mua cho cha (cha Lý) 1 cái gậy, một máy massage cầm tay để hỗ trợ cho ngài tập. Ngài rất mừng.
Đến chiều nay thì thấy ngài có những chuyển biến tốt, tự ngồi dậy được, chống gậy và tập đi. Hiện nay em Hải đang ở lại để chăm sóc cha Lý. Họ đã chụp CT Scanner hôm chủ nhật và phát hiện có 1 khối u phía sau ở trên đầu khoảng 2 cm mà chưa rõ là gì. Sáng thứ hai họ đã chụp MRI, làm các xét nghiệm, khám tổng quát... Từ hôm ra BV đến giờ, ngày nào cha cũng được truyền dich, uông thuốc... ăn cơm trong bệnh viện. Hải hiện nay được họ cho ngủ buổi tối trong phòng với ngài, họ lo cho Hải 1 cái giường bố xếp để dùng. Trong phòng có nhà vệ sinh riêng. Vào thăm ngài thoải mái khi hết giờ làm việc của y bác sĩ. Nếu muốn qua thì nói vói công an, và mình qua thì họ cũng có người qua theo để "bảo vệ". Qua đó thì không sử dụng điện thoại.
Có chi tiết đặc biệt: khi cán bộ y tế đến mang thuốc cho cha, ngoài bao có ghi tên Lý phạm ( phạm nhân), cha đã phản ứng với các y bác sĩ. Cha đã nói: Nếu quý vị chăm sóc tôi trong tư cách tôi là bệnh nhân hoặc tù nhân thì tôi đồng ý, nếu chăm sóc tôi như là phạm nhân thì tôi xin cám ơn quý vị và tôi khước từ sự chăm sóc chữa trị của quý vị.

Sau đó họ đã xin lỗi cha. Con có ra thăm Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, ngài muốn đi thăm liền. Chiều nay khi con trên đường đi vào thì ngài chuẩn bị đi thăm, nhưng không biết có đi được không và có vào thăm được không.
Nhìn chung , cha Lý tinh thần vẫn tỉnh táo, kiên vững lập trường, cố gắng tập vận động để hồi phục từ từ và thấy có tiến triển. Về phần chữa trị, họ cũng tích cực chữa trị.cho ngài. Chứ ngài nằm nhiều ngày ở bệnh viện, xem ra họ cũng mệt và sẽ có những phiền toái cho họ (sợ giáo dân kéo tới thăm... vì nếu biết phòng ngài nằm thì giáo dân sẽ tự nhiên vào, và cha Lý biết thì cha Lý sẽ lên tiếng đòi họ phải cho vào thăm ngài).
Nguyễn Công Hoàng

Truớc đây, ngày 1/7/2009, nhóm 37 nghị sĩ lưỡng đảng Thượng Viện Hoa Kỳ, lãnh đạo bởi nghị sĩ Barbara Boxer thuộc đảng Dân Chủ đơn vị California và nghị sĩ Sam Brownback thuộc đảng Cộng Hòa đơn vị Kansas, đã yêu cầu Nguyễn Minh Triết trả tự do cho linh mục Lý. Các nghị sĩ Hoa Kỳ nhấn mạnh tới những sai sót nghiêm trọng trong tiến trình bắt giữ, xét xử và kết án linh mục Nguyễn Văn Lý.

Và ngay sau khi biết tin Linh mục Lý bị stroke lần thứ nhì, bà Maran Turner, giám đốc điều hành tổ chức Freedom Now, một nhóm vận động cho tù nhân lương tâm các nước, trụ sở đặt tại Washington, vừa lên tiếng đòi nhà nước Việt Cộng trả tự do lập tức và vô điều kiện cho vị linh mục được mọi người kính trọng.

Tôi nghĩ nhân dịp này Việt Cộng sẽ thoả mãn yêu cầu của các nghị sĩ Mỹ và của bà Turner; và chúng diễn giải việc làm này như một hành động nhân đạo, nhưng dĩ nhiên, đúng như nhận xét tại chỗ của anh Hoàng: “... ngài nằm nhiều ngày ở bệnh viện, xem ra họ (VC) cũng mệt và sẽ có những phiền toái cho họ (sợ giáo dân kéo tới thăm... vì nếu biết phòng ngài nằm thì giáo dân sẽ ‘tự nhiên’ vào, và cha Lý biết thì cha Lý sẽ lên tiếng đòi họ phải cho(giáo dân) vào thăm ngài).”

Oai hùm của người chiến sĩ tự do, dù già, dù 2 lần bị stroke, vẫn còn khiến Việt Cộng ớn da gà.
Nguyễn Ðạt Thịnh

Từ “Viet Expo 1993” đến “Meet Vietnam 2009”: gặp gỡ… Việt gian!

-TỪ VIỆT EXPO 1993:

Cách đây 16 năm, năm 1993, Lão Móc đã chứng kiến một cuộc đối thoại giữa một sinh viên trẻ và “bà nhà văn trung niên” Lệ Lý Hayslip. Màn đối thoại như sau:-Người sinh viên trẻ: Cháu biết cô là ai rồi. Cô là Lệ Lý Hayslip. Cô chẳng có cái cách nào mà viết được quyển When Heaven and Earth Changes Places (tạm dịch “Khi Trời Đất Đổi Chỗ”) mà cô đã được những người Mỹ phản chiến, thiên Cộng viết để xuyên tạc lịch sử.

Xin cô đừng có tiếp tay với Việt Cộng để làm cho đất nước mình thêm nghèo khổ…-Lệ Lý Hayslip (Một phụ nữ trung niên mặt đánh phấn thật dày và môi son đỏ chót): Cháu là tương lai của đất nước. Cháu ráng học giỏi, thành tài để sau này về giúp nước.. -Người sinh viên trẻ: Cháu chỉ về Việt Nam khi nào không còn Cộng Sản. Theo cháu, chính Việt Cộng đã làm cho Việt Nam trở thành một đất nước nghèo đói như hiện nay.-Lệ Lý Hayslip: Cháu nói như vậy không có đúng đâu. Ba cô sinh năm 1906, má cô sinh nă 1907, cô sinh năm 1947. Đất nước mình nghèo đó từ hồi đó. Cô uống nước từ cái giếng đó, bắt con cá từ cái ao đó. Cô đi đây, đi đó, trở về cô cũng uống nước từ cái giếng đó, bắt con cá từ cái ao đó. Hồi ở Việt Nam cô ngu dốt, không được ăn học như cháu. Việt Cộng nó ngu dốt lắm, những người như cô, như cháu nên về để đóng góp, xây dựng cho đất nước.-Người sinh viên trẻ: Cháu không tin những điều cô nói đâu. Đất nước mình không bao giờ khá được nếu còn bị cai trị bởi những người Cộng Sản.Biết không thể tranh luận với lập luận sắc bén của người sinh viên trẻ, người phụ nữ trung niên môi son đỏ chót là Lê Lý Hayslip đã quay qua tiếp chuyện với những người Mỹ đang “tham quan” cuộc triển lãm.

Địa điểm đối thoại là nơi VC và bọn tay sai tổ chức cái gọi là VietExpo tại San Francisco vào năm 1993.Hàng ngàn người Việt tỵ nạn đang biểu tình phản đối ở bên ngoài khi cuộc đối thoại này diễn ra.Phải nói lần đó Lão Móc đã “xâm mình” cùng luật sư Nguyễn Thành đi vào bên trong để coi coi bọn VC nó làm cái giống gì trong cái gọi là VietExpo. Sở dĩ nói “xâm mình” là bởi vì bất cứ ai đi ngang qua “cấm địa” là nơi hàng ngàn đồng bào tỵ nạn đang đứng sau những hàng rào chắn của cảnh sát dành cho đoàn biểu tình đều phải hứng chịu những lời nguyền rủa, chửi bới nặng nề nhất của đồng hương: “Đồ Việt gian tay sai VC! Hai thằng chó đẻ tay sai VC!...” là hai lời chửi bới tương đối nhẹ nhàng hơn những lời chửi bới khác.. Chính vì sự hy sinh để bị chửi mà Lão Móc đã có hân hạnh nghe được màn đối thoại hi hữu trên. Lệ Lý Hayslip, theo quyển tự truyện “Khi Trời Đất Đổi Chỗ” là một giao liên VC, bị VC kết án tử hình vì có liên hệ với lính QuốcGia, bị hai du kích đem ra bìa rừng xử tử nhưng thay vì xử tử bằng súng trường bá đỏ thì hai anh du kích lại xử bằng súng… nước. Và sau đó tha cho mụ. Sau đó mụ đã ba chân, bốn cẳng chạy vào Sàigòn đi ở đợ lại bị ông chủ “dếnh” cho một bụng bầu, bị bà chủ đuổi đi, phải ra Đà Năng làm gái bán “ba”để nuôi con, sau đó lấy một ông chồng Mỹ già. Qua Mỹ bị người hàng xóm gọi là “con đĩ” bằng tiếng Anh mà cũng không biết người ta nói cái gì về mình.Phùng thị Lê Lý lấy tên người chồng Mỹ thứ hai trở thành bà Lệ Lý Hayslip là Chủ tịch của tổ chức Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West Organization) do mụ sáng lập và là chủ tịch. Tổ chức từ thiện Đông Tây Hội Ngộ thu vào hàng tháng khoảng 2 triệu Mỹ kim nhưng sau đó đã bị thất thu một cách thê thảm khi bác sĩ Ed Oshiro, một người Mỹ gốc Nhật viết bài “Goodbye Vietnam” đăng trên tạp chí của Hiệp hội Y khoa thuộc hạt King (King county Medical Society) tố cáo VC tham nhũng và tống tiền ông ta khi ông ta đến Việt Nam giúp đỡ các chương trình từ thiện của tổ chức Đông Tây Hội Ngộ.Lệ Lý Hayslip cũng là tác giả tự truyện When Heaven and Earth Changes Places được đạo diễn phản chiến Oliver Stone quay thành phim “Trời Đất”. Khi được mời qua Mỹ để dự buổi ra mắt phim Trời Đất, bà mẹ của Lệ Lý Hayslip khi được phỏng vấn “có muốn được ở lại Mỹ?” đã trả lời tỉnh queo là: “Không muốn ở lại Mỹ, vì còn phải về Việt Nam để nấu cám cho mấy con heo (sic!)”.

Ghê gớm thay thủ đoạn tuyên truyền của bọn phản chiến Mỹ khi “gạ” câu trả lời cho “bà mẹ chiến sĩ” Lệ Lý Hayslip! Cuộc triển lãm Viet Expo 1993 kết thúc. Một tên tay sai VC nổi tiếng tại San Francisco bị ném vào người một lon coca. Ba người biểu tình bị bắt (trong đó có tiến sĩ Lê Hữu Phú) bị hăm dọa đưa ra tòa án Liên Bang nhưng sau đó mọi chuyện đều chìm xuồng.

-ĐẾN “MEET VIETNAM 2009”:

GẶP GỠ VIỆT GIAN!Mặc dù đã được tuần báo VTimes có tòa soạn tại San José quảng cáo nguyên trang suốt hai tuần lễ. Và báo này cũng đã phỏng vấn Lê Quốc Hùng, Tổng lãnh sự VC tại San Francisco để tên này tuyên truyền: “… Nếu có dịp tôi sẽ nói với bà con: Cuộc chiến tranh Việt Nam đã lùi xa hơn 30 năm. Không ai có thể sống mãi với quá khứ, chúng ta hãy nghĩ đến tương lai, hãy vượt qua những khác biệt, tỵ hiềm để cùng nhau xây dựng một tương lai tươi sáng cho đất nước chúng ta và cho con cháu chúng ta mai sau..

Vừa bỏ bậc thang vừa chạy luôn là chắc ăn! Thà vậy mà đỡ nhục hơn mấy thằng khác.
Việc tổ chức sự kiện “Gặp Gỡ Việt Nam” ngoài mục đích nhằm quảng bá đến nhân dân Mỹ hình ảnh một đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến và đang trên đường hội nhập phát triển, Meet Vietnam còn là món ăn tinh thần từ quê hương đến với bà con sống xa tổ quốc, đặc biệt bà con chưa có điều kiện về thăm đất nước…” ( Trích VTimes số 181, Thứ Sáu 13-11-2009) nhưng cái gọi là “Meet Vietnam” vì đã bị đồng bào tỵ nạn chống đối mãnh liệt “Bọn Việt kiều ngày thường ưa chống nhau nhưng khi cần phải chống chúng ta (VC) thì bọn chúng lại đoàn kết hơn bao giờ hết!” Vũ Khoan, cựu Phó Thủ tướng VC, đã có nhận xét vô cùng chính xác khi phát biểu như trên. Hàng ngàn người Việt tỵ nạn cộng sản từ khắp hai miền Nam, Bắc California đã dẹp bỏ những tị hiềm, dị biệt, đã cùng nhau “bốn mặt giáp công” tòa thị chính thành phố San Francisco trong ngày 15-11-2009 là ngày đầu tiên VC tổ chức cái gọi là “Gặp Gỡ Việt Nam”với những khẩu hiệu “Đả đảo VC!, VC hãy cút về nước! No human rights – No trade, No demoracy - No trade…” đã được hô to vang dội cả một góc trời, đã được lan truyền trên diễn đàn paltalk, trên các báo điện tử. Hình ảnh tên Trương Vĩnh Trọng, Phó Thủ tướng VC và bè lũ đã phải ngồi trong xe bít bùng chui vào cổng hậu tòa thị chính SF trong khi những người biểu tình hô to khẩu hiệu “Đả đảo VC!”. Có người biểu tình còn rắn mắc hô to: “Ăn cướp! Ăn cướp tới!”. Thế là mọi người vừa la to “ăn cướp!” vừa chỉ tay vào xe chở tên Phó Thủ tướng VC Trương Vĩnh Trọng đang chui vào đường hầm.

Những Việt kiều gian thương, những tên nhà báo cỏ đuôi chó đã phải cúi gầm mặt khi được cảnh sát Mỹ hộ tống đi vào dự cái gọi là “Gặp Gỡ Việt Nam”. Theo chương trình “Meet Vietnam 2009” có phần “Tọa đàm về giáo dụcViệt Nam”. Các hiệu trưởng của các đại học UC trao đổi với Phó Thủ tướng VC Nguyễn Thiện Nhân, nhưng, trong thực tế đã không xảy ra vì vào giờ chót đã phải thay thế bằng Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Chuyện khôi hài là người ta thấy thay thế vào đó có khoảng 30 học sinh bậc tiểu học được hướng dẫn vào toà thị chính thành phố San Francisco “tham dự” cái gọi là “Toạ đàm về giáo dục Việt Nam” vào ngày 16-11-2009.Chuyện càng khôi hài và chua xót hơn nữa là cái gọi là “Meet Vietnam” chỉ quảng cáo toàn hình ảnh những cô gái khiến mọi người nhớ tới lời kêu gọi của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết trong bữa tiệc đầu lâu tại Dana Point kêu gọi: “Quê hương là chùm khế ngọt. Ai xa quê hương thì không lớn thành người”. Và quảng cáo là đàn bà, con gái Việt Nam đẹp lắm!Cái mà Lê Quốc Hùng, Tổng lãnh sự VC tại San Francisco quảng bá: “Meet Vietnam món ăn tinh thần từ quê hương đến với bà con sống xa tổ quốc, đặc biệt cho bà con chưa có điều kiện về thăm đất nước” chắc chắn sẽ có rất nhiều người từ chối dù đa số những người này chưa bao giờ về thăm quê hương; bởi vì, những cái mà ông Tổng lãnh sự Lê Quốc Hùng quảng cáo là những món hàng mạo hóa! Triển lãm về giáo dục, kinh doanh này nọ mà đa số hình ảnh triển lãm treo trên tường đều là những gương mặt phụ nữ Việt Nam “duyên dáng”.

Như cái quảng cáo nguyên trang mà báo VTimes đã đăng tải suốt hai tuần lễ. Phải chăng đây là chiêu bài câu khách mà Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết đã kêu gọi khách ngoại quốc nên du lịch Việt Nam vì đàn bà, con gái Việt Nam đẹp lắm trong bữa tiệc đầu lâu do bọn Việt kiều gian thương khoản đãi ông ta tại Dana Point? *Ở cái gọi là “Việt Expo 1993” bà nhà văn Tiến sĩ lớp ba trường làng Lệ Lý Hayslip đã bị “bễ dĩa” khi tranh luận với người sinh viên trẻ về việc trở về Việt Nam góp công xây dựng đất nước. Miệng lưỡi của “bà nhà văn nàng Kiều” này không phải vừa gì.

Theo nhà văn Nguyễn Việt Nữ thì trong cái gọi là hội thảo về Thăng Tiến Giáo Dục có sự hiện diện của mấy ông Tiến sĩ Trần Trung Lương, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Hành (?), bà nhà văn này đã chứng tỏ nhận xét: “Bằng Tiến sĩ da bằng ba bằng Tiến sĩ giấy (sic!)” của ai đó là rất chính xác. Bà ta vừa ca vọng cổ bằng Việt ngữ, tới giở trò thi ca hò vè. Bà ta giả giọng phụ nữ có chồng bộ đội mắng phụ nữ có chồng là lính Việt Nam Cộng Hoà:“Tổ cha con đĩ bên sôngMi uống rượu nồng, mi cướp chồng tao!”Rồi mụ giả giọng phụ nữ có chồng là lính Cộng Hoà chửi lại đàn bà có chồng bộ đội:“Chồng tao đi lính có lươngChồng mi đi lính bán giường mà ăn!”Hết hát hò bằng Việt ngữ, mụ lại “talk” Anh ngữ rồi mụ lại khóc lóc thảm thiết khiến mấy bà đầm Mỹ mủi lòng, đem napkin lại cho mụ lau nước mắt và đem tiền lại mua sách “Trời Đất Đổi Chỗ” của mụ. Và đóng góp tiền như nước vào cái hội từ thiện “Đông Tây Hội Ngộ” của mụ để mụ đem về dâng cho Việt Cộng xây bệnh viện Tình Thương ở làng Kỳ La, khi khánh thành treo cái hình của Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng to tổ chảng!Sự kiện “Meet Vietnam” trong hai ngày 15, 16-11-2009 tại tòa thị sảnh thành phố San Francisco cũng đã bị thất bại thê thảm bởi những người trẻ tại hải ngoại.

Các thanh nữ của Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng như Ngọc Phương Nam, Phục Nguyễn… rất xứng đáng là hậu duệ của Bà Trưng, Bà Triệu. Chính những người trẻ tuổi này đã vạch rõ bộ mặt thật của cái gọi là “Meet Vietnam”!Cờ Vàng, một thanh nữ trong Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng rất dí dỏm khi gọi “Meet Vietnam” là “Meet Viet Cộng”.Nhưng có lẽ người đổi tên cái gọi “Meet Vietnam” do VC tổ chức tại San Francisco chính xác nhất, thâm thúy nhất phải nói là ông/bà Tigon trên điện báo www.vietland. net.Ông/bà này đổi GẶP GỠ VIETNAM thành GẶP GỠ… VIỆT GIAN! Hay hết biết!Đúng y chang: Ở đây, đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã thấy rõ mặt thật của những Việt kiều gian thương, Những luật sư sống nhờ người tỵ nạn nhưng lại đi “hôn đít bọn bạo quyền”, những nhà báo cỏ đuôi chó, những chủ tiệm ăn sống nhờ người tỵ nạn nhưng lại đi bưng bô cho VC…!Đúng là:
“Bây giờ đã rõ mặt nhau
Việt gian, Việt Cộng làm đau dân mình!”

LÃO MÓC

ĐẠI HỘI THẾ GIỚI VĂN BÚT QUỐC TẾ LÊN ÁN CỘNG SẢN VIỆT NAM TRẤN ÁP NHỮNG NHÀ VĂN DÂN CHỦ ĐỐI KHÁNG

Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ



Quyết Nghị về Việt Nam

được Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 75 thông qua

tại thủ đô Văn Hóa Âu Châu, thành phố Linz, nước Áo



Như chúng tôi đã đưa tin, Quyết Nghị về Việt Nam đã được Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 75 tại thủ đô Văn Hóa Âu Châu, thành phố Linz, nước Áo, đồng thanh biểu quyết chấp thuận. Quyết Nghị đã nhận được sự ủng hộ của 85 Trung Tâm Văn Bút (80 hiện diện và 5 ủy quyền). Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Linz 2009 là diễn đàn và tiếng nói của 200 người đại diện cho 15 ngàn nhà văn sinh hoạt trong 145 Trung Tâm Văn Bút có trụ sở trên hơn 100 nước và lãnh thổ. Qua Quyết Nghị về Việt Nam, Hiệp Hội các Nhà Văn thế giới một lần nữa cực lực tố cáo, lên án và phản kháng chế độ cộng sản độc tài ở Việt Nam tiếp tục đàn áp những người cầm bút, nhà văn, nhà báo, những người tranh đấu để đòi hỏi Tự do, Dân chủ, bênh vực Nhân Quyền, gồm có quyền căn bản hàng đầu là quyền tự do phát biểu quan điểm. Nạn nhân là những người không chịu khuất phục bạo quyền. Họ không muốn bị lừa dối hay mua chuộc để làm kẻ đồng lõa với tội ác áp chế bất công, tham ô nhũng lạm trên quê hương thân yêu của họ.

Vì sao phải có Quyết Nghị về Việt Nam ? Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã trả lời chúng tôi:

<<>>.

Như vậy, Bảo vệ quyền tự do phát biểu quan điểm là mục đích và trọng tâm hoạt động đối với Văn Bút Quốc Tế, song hành với sự Cổ võ, thúc đẩy và phát huy văn chương. Vì lẽ ấy, mối quan tâm hàng đầu của Hiệp Hội Thế Giới các Nhà Văn đã được thể hiện qua 11 Dự án Quyết Nghị được Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn Bị Đàn Áp và Cầm Tù duyệt xét và chuẩn y trong hai phiên họp kéo dài suốt hai ngày 19 và 20 tháng 10 năm 2009 tại Đại Hội. Được biết nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã thay mặt Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại tham gia các phiên họp vừa kể trên. Thi hữu làm việc trong Nhóm Công Tác II ‘’Trung Hoa, Việt Nam và Ba Tư’’, bên cạnh hai Nhóm Công Tác I ‘’Mỹ Châu, Cuba và Erythrée’’ và Nhóm Công Tác III ‘’Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Géorgie’’. Sau đó, tất cả 11 Dự án Quyết Nghị đã được Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế đồng thanh công nhận và chính thức hóa trong một phiên họp khoáng đại. Các Quyết Nghị tố cáo và lên án những vụ giam cầm độc đoán nhà văn, nhà báo, nhà bênh vực nhân quyền và dân chủ đối kháng, vì sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm và thông tin, nhứt là tại Trung Hoa, Cuba, Việt Nam, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Erythrée, Géorgie, Nga và Guinée. Riêng Quyết Nghị về Thụy Điển thì kêu gọi chính phủ Thụy Điển thu hồi quyết định từ chối quyền tị nạn cho nhà thơ và nhà phê bình văn học Anisur Rahman vì nếu văn hữu bị buộc trở về nước Bangladesh, tính mạng sẽ bị hiểm nguy. Trong Quyết Nghị về Guinée, Văn Bút Quốc Tế lên án vụ quân đội đã dùng súng và lưỡi lê thảm sát hơn 150 người dân tham dự một cuộc biểu tình chính trị tại một sân vận động ở thủ đô Conakry và hành hung, dọa giết và bắt giữ các nhà báo muốn tường thuật biến cố đẩm máu đó. Trong Thông cáo báo chí sau Đại Hội, Văn Bút Quốc Tế nhấn mạnh rằng : ‘’Rất nhiều nhà văn và nhà báo bị giam cầm ở Việt Nam vì bị cáo buộc bởi những đạo luật được ban hành cốt để ‘’tội phạm hóa’’ những người có can đảm phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền. Những đạo luật đó còn qui định những bản án phạt lên đến 20 năm tù giam áp đặt bởi những phiên tòa xét xử thấy rõ ràng bất công. Các điều kiện giam cầm trong các trại tập trung lao công cưỡng bách thật tồi tệ. Tù nhân bị từ chối quyền được chăm sóc y tế cần thiết’’. Và Văn Bút Quốc Tế thúc giục nhà cầm quyền Hà Nội bãi bỏ chế độ tổng kiểm duyệt độc đoán ở Việt Nam.



11 Quyết Nghị được thông qua tại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 75 gồm có:



1. Quyết Nghị Bênh vực Quyền Tự Do Viết hoặc Sáng tác tại các nước Mỹ Châu, do các Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Colombie, Đan Mạch, San Miguel de Allende và Vénézuéla, và Viện Mỹ Châu nói tiếng Tây Ban Nha đồng đệ trình. Trích Phần Mở Đầu Quyết Nghị: ‘’Chiếu theo Tuyên Ngôn Thế Giới Nhân Quyền và Công Ước Mỹ Châu về Nhân Quyền, mọi công dân được hưởng quyền tự do phát biểu quan điểm, quyền này bao gồm sự tự do sử dụng quyền được nói và viết, quyền tìm kiếm, tiếp nhận tin tức và trao đổi ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Tất cả những tác phẩm văn chương lớn, từ truyện giả tưởng, thi ca, kịch bản cho tới tiểu luận, biên khảo, hồi ký hoặc báo chí đều do kết quả của sự sử dụng toàn quyền tự do phát biểu quan điểm (...)’’.

2. Quyết Nghị về Trung Hoa (CHNDTH) do Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển và Văn Bút Hoa Kỳ và Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình.

3. Quyết Nghị về Cuba do Trung Tâm Văn Bút Cuba Lưu Vong đệ trình.

4. Quyết Nghị về Erythrée do Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Phần Lan và Văn Bút Kenya.

5. Quyết Nghị về Géorgie, do Trung Tâm Văn Bút Géorgie đệ trình.

6. Quyết Nghị về Guinée do Tổng Thư Ký Văn Bút Quốc Tế đệ trình.

7. Quyết Nghị về Ba Tư do hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Điển và Văn Bút Ba Tư lưu vong đệ trình, với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Đức và Văn Bút Basque (Euskal).

8. Quyết Nghị về Nga, do Trung Tâm Văn Bút Đức đệ trình với sự tán trợ của Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình.

9. Quyết Nghị về Thụy Điển, do Tổng Thư Văn Bút Quốc Tế đệ trình

10. Quyết Nghị về Thổ Nhĩ Kỳ, do Trung Tâm Văn Bút Đức đệ trình

11. Quyết Nghị về Việt Nam (CHXHCNVN), do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*.



(Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, thành viên Ủy Ban Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù, hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc - Genève).



Genève ngày 19 tháng 11 năm 2009

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse

Vietnamese League for Human Rights in Switzerland



Những Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế đã đồng thanh chấp thuận Quyết Nghị về Việt Nam

Les Centres du PEN International ont unanimement approuvé la Résolution sur le Viêt Nam



Centre Algérien, Centre Egyptien, Centre Éthiopien, Centre Guinéen, Centre Marocain, Centre Sierra Leone, Centre Sud Africain, Centre Zambien. Centre Chinois de Taipei, Centre Chinois Indépendant, Centre Coréen, Centre de Melbourne. Centre de Sydney, Centre des Ecrivains Tibétains à l'Etranger, Centre Indien, Centre Japonais, Centre Néo-Zélandais, Centre Népalais, Centre Pakistanais, Centre Bengalais, Centre Mongol. Centre Albanais, Centre Allemand, Centre Anglais, Centre Autrichien, Centre Basque, Centre Belge (d'expression française), Centre Catalan, Centre Chypriote, Centre Danois, Centre des Ecrivains de l'ancienne Yougoslavie, Centre des Ecrivains d'expression allemande à l'Etranger, Centre des Ecrivains Iraniens en Exil, Centre des Pays-Bas, Centre de Trieste, Centre Ecossais, Centre Espagnol, Centre Finnois, Centre Français, Centre Galicien, Centre Grec, Centre Hongrois, Centre Irlandais, Centre Islandais, Centre Italien, Centre Kurde, Centre Letton, Centre Norvégien, Centre Polonais, Centre Palestinien, Centre Portugais, Centre Sarde, Centre Suédois, Centre Suisse Allemand, Centre Suisse Italien et Réto-romanche, Centre Suisse Romand, Centre Tchèque, Centre des Ecrivains en Exil de Londres. Centre Afghan, Centre Arménien, Centre Bosniaque, Centre Bulgare, Centre Croate, Centre des Ecrivains Hongrois en Roumanie, Centre Esperanto, Centre Kazakh, Centre Macédonien, Centre Roumain, Centre Russe, Centre Serbe, Centre Slovaque, Centre Slovène, Centre Turc, Centre Ouïghour. Centre Américain, Centre Canadien, Centre des Etats-Unis, Centre des Ecrivains Cubains en Exil, Centre Québecois, Centre des Ecrivains Vietnamiens à l'Etranger. Centre Colombien, Centre de Guadalajara, Centre de San Miguel de Allende, Centre Haiti.



International PEN Centres have unanimously approved the Resolution on Viêt Nam



Algerian Centre, Egyptian Centre, Ethiopian Centre, Guinean Centre, Moroccan Centre, Sierra Leone Centre, South African Centre, Zambien Centre. All-India Centre, Bangladeshi Centre, Independent Chinese Centre, Japanese Centre, Korean Centre, Melbourne Centre, Mongolian Centre, Nepalese Centre, New Zealand Centre, Pakistani Centre, Sydney Centre, Taipei Chinese Centre, Tibetan Writers Abroad Centre. Albanese Centre, Austrian Centre, Basque Centre, Belgian (Dutch-Speaking) Centre, Belgian (French-speaking) Centre, Catalan Centre, Cypriot Centre, Czech Centre, Danish Centre, English Centre, Finnish Centre, French Centre, Galician Centre, German Centre, Greek Centre, Hungarian Centre, Icelandic Centre, Iranian Writers in Exile Centre, Irish Centre, Italian Centre, Kurdish Centre, Latvian Centre, Netherlands Centre, Norwegian Centre, Palestinian Centre, Polish Centre, Portuguese Centre, Sardinian Centre, Scottish Centre, Spanish Centre, Suisse Romand Centre, Swedish Centre, Swiss German Centre, Swiss Italian and Reto-Romansh Centre, Trieste Centre, Writers from former Yugoslavia Centre, Writers in Exile German Centre, Writers in Exile London Centre. Afghan Centre, Armenian Centre, Bosnian-Herzegovina Centre, Bulgarian Centre, Croatian Centre, Esperanto Centre, Hungarian Writers in Romania Centre, Kazak Centre, Macedonian Centre, Romanian Centre, Russian Centre, Serbian Centre, Slovakian Centre, Slovene Centre, Turkish Centre, Uyghur Centre. American Centre, Canadian Centre, Cuban Writers in Exile Centre, USA Centre, Vietnamese Writers Abroad Centre, Quebecois Centre. Colombian Centre, Guadalajara Centre, Haiti Centre, San Miguel de Allende Centre.



Sau đây là toàn văn Quyết Nghị về Việt Nam. Bản tiếng Pháp và tiếng Anh do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại soạn thảo còn bản tiếng Tây Ban Nha đang được Văn Bút Quốc Tế phiên dịch.

-----------------------------------------------

Quyết Nghị về Việt Nam do Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đệ trình với sự tán trợ của Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche*.



Hội Đồng Đại Biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 75 tại Linz, Cộng hòa Áo, từ ngày 19 đến 25 tháng Mười năm 2009



Quan ngại rằng, trong khi vi phạm Điều 19 Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị (PIDCP/ICCPR), Việt Nam (CHXHCN) tiếp tục đàn áp quyền tự do phát biểu quan điểm và tự do bày tỏ chính kiến bằng cách sử dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự, trong đó đặc biệt là Điều 88 “Tuyên truyền chống Nhà nước” với những án phạt lên tới 20 năm tù giam và Điều 258 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại lợi ích nhà nước” có án phạt lên tới 7 năm tù giam;



Bất bình khi các tù nhân ngôn luận và lương tâm phải thụ án tại các trại lao công cưỡng bách có các điều kiện tồi tệ. Những tù nhân này thường bị biệt giam hoặc nhốt cùng với các tội phạm hình sự trong những phòng giam chật chội và kém vệ sinh. Một số người còn bị xâm hại về thể xác, bị hành hạ, bị mắc bệnh mãn tính và không có sự chăm sóc y tế thỏa đáng. Sau khi ra tù, những tù nhân này thường phải tiếp tục bị quản chế tại gia từ 1 đến 5 năm theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự;



Phiền trách rằng, trong dịp trình bày bản báo cáo Khảo sát Định kỳ Toàn cầu (EPU/UPR) tại Hội Đồng Nhân Quyền vào tháng Năm 2009, Việt Nam (CHXHCN) đã từ chối nhiều Khuyến cáo từ các quốc gia khác, trong đó có việc kêu gọi bãi bỏ các điều luật mơ hồ về “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự (Điều 38, 88 và 258) và Nghị định 44 cho phép việc giam người tại gia (quản chế hành chính) mà không cần xét xử và đưa những người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần; có khuyến cáo thúc giục Việt Nam (CHXHCN) đảm bảo sự độc lập cho ngành truyền thông và mời các Đặc phái viên tới Việt Nam thường xuyên, đặc biệt các Đặc phái viên chuyên thị sát tình trạng tự do phát biểu quan điểm, tự do tôn giáo và nạn tra tấn;



Sửng sốt và công phẫn về việc chính quyền đã thực hiện một chiến dịch đàn áp mở rộng vào tháng Tám-tháng Chín năm 2008 và không ngừng sách nhiễu, hành hạ tàn nhẫn những người văn, nhà báo, luật sư, những người bảo vệ nhân quyền chỉ vì những người này đã thực hiện quyền được tự do phát biểu quan điểm;



Lên án các thủ đoạn như quản chế tại gia, giam giữ kéo dài trước khi xử án, tuyên án tù nặng nề, xét xử không công bằng và thiếu các luật sư độc lập bào chữa cho bị cáo, cũng như không có mặt các quan sát viên độc lập. Những người có tên sau đây chỉ là một số điển hình trong những người bị bức hại:

- Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 81 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ, bị quản chế từ năm 2003.

- Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên tờ báo Tự do Ngôn luận (không được thừa nhận hợp pháp), bị án 8 năm tù; ông Nguyễn Phong và ông Nguyễn Bình Thành, hai cộng tác viên, 6 và 5 năm tù.

- Luật sư nhân quyền Lê Thị Công Nhân và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 và 4 năm tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Phóng viên độc lập Lê Thị Kim Thu, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 18 tháng tù.

- Bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư nhân quyền Nguyễn Bắc Truyển và luật sư nhân quyền Trần Quốc Hiền, ba nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 4, 3 và 5 năm tù.

- Ông Trương Quốc Huy và ông Phạm Bá Hải, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 và 5 năm tù.

- Nhà báo độc lập Trương Minh Đức và nhà báo độc lập Nguyễn Văn Hải (bút hiệu nhựt ký Internet Điếu Cày), 5 năm và 2 năm 6 tháng tù. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Nhà báo độc lập Phạm Thanh Nghiên, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị giam từ 17 tháng chín năm 2008. Tình trạng sức khỏe rất yếu.

- Nhà thơ Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà văn bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 6 năm tù. Sức khỏe rất yếu.

- Nhà giáo Vũ Văn Hùng, nhà bảo vệ nhân quyền, 3 năm tù, bị tra tấn trong trại giam trước khi ra tòa. Sức khỏe rất yếu.

- Sinh viên Ngô Quỳnh, nhà văn Phạm Văn Trội, nhà thơ Nguyễn Văn Túc và nhà thơ Trần Đức Thạch, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3, 4, 4 và 3 năm tù.

- Nhà giáo Nguyễn Văn Tính, cộng tác viên của tờ báo Tổ Quốc (không được thừa nhận hợp pháp), 3 năm tù.

- Ông Nguyễn Kim Nhàn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, 2 năm tù.

- Nhà thơ Nguyễn Mạnh Sơn, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, 3 năm tù.

- Ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Lê Thăng Long, bà Trần Thị Thu và bà Lê Thị Thu Thu, bốn nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, bị bắt giữ vào ngày 24 tháng năm và 4 tháng sáu năm 2009.

- Luật sư nhân quyền Lê Công Định, nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 13 tháng sáu năm 2009.

- Ông Nguyễn Tiến Trung và ông Trần Anh Kim, hai nhà bất đồng chính kiến sử dụng Internet để đấu tranh, bị bắt vào ngày 7 tháng bảy năm 2009.



Được báo động rằng một số luật sư nhân quyền đã bị gây áp lực (sách nhiễu, đe dọa) để buộc họ phải từ bỏ việc bào chữa cho những người bị ghép tội do đã phát biểu quan điểm bất đồng, trong khi nhiều luật sư nhân quyền đồng nghiệp khác vẫn còn trong tù hoặc đang bị giam giữ để điều tra.



Kinh ngạc về sự kiểm duyệt nghiêm ngặt hệ thống truyền thông và Internet - biện pháp độc đoán đó đang ngăn cản xã hội hướng về sự phát huy các giá trị của một nền văn hóa vì hòa bình và nhân quyền, cản trở việc phát hiện tham nhũng và các bất công và gây khó khăn cho các cuộc tranh luận, phản biện về chính sách của nhà nước.



Thúc giục và yêu cầu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

1. Trả tự do, ngay lập tức và vô điều kiện, tất cả những người, đặc biệt những nhà văn, nhà báo, luật sư, nhà bảo vệ nhân quyền có tên trên đây, hiện đang bị giam giữ hoặc quản chế tại gia chỉ vì đã sử dụng quyền tự do phát biểu quan điểm một cách ôn hòa;

2. Chấm dứt ngay tất cả các tấn công, sách nhiễu, đe dọa quản chế hay bắt giữ những người có các quan điểm bất đồng hoặc những người đòi hỏi tự do tôn giáo và tôn trọng nhân quyền;

3. Bãi bỏ mọi hạn chế đối với các cựu tù nhân ngôn luận và lương tâm, kể cả những người đã phải chịu án tù chỉ vì đã thực hiện quyền tự do phát biểu quan điểm một cách ôn hòa;

4. Cải thiện điều kiện nhà tù và các trại lao công cưỡng bách, kể cả việc chấm dứt các hành động xâm hại do các tội phạm hình sự gây ra và cho phép các tù nhân bị bệnh được điều trị tại bệnh viện, được hưởng sự chăm sóc y tế thỏa đáng và tạo thuận lợi cho thân nhân của họ tới thăm;

5. Dừng ngay việc tổ chức các cuộc ‘’đấu tố’’(kiểm điểm trước dân), loại tòa án không phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế đã được định rõ trong Điều 14 của PIDCP/ICCPR;

6. Bãi bỏ mọi kiểm duyệt và đình chỉ mọi hạn chế đối với quyền tự do phát biểu quan điểm và ngôn luận, tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện, kể cả Internet và quyền tự do lập hội, tất cả những điều này đều phù hợp với các Điều 19, 21, 22 của PIDCP/ICCPR.



(Hà Tản Viên chuyển dịch từ bản tiếng Anh và tiếng Pháp)

--------------------------------------------------------------

* Ghi chú : Lúc bản Dự thảo Quyết Nghị về Việt Nam sắp được đưa ra biểu quyết, đại biểu VBVNHN ngỏ lời cảm ơn Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, tác giả bản Dự thảo Quyết Nghị cùng hai Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche. Đồng thời, xin được ghi tên VBVNHN tán trợ Dự thảo Quyết Nghị về Việt Nam.

---------------------------------------



Résolution sur le Viet Nam soumise par le Centre PEN Suisse Romand et appuyée par le Centre PEN Suisse Alémanique et le Centre PEN Suisse Italien et Réto-romanche



L'Assemblée des Délégués de PEN International, réunie à son 75e Congrès International à Linz, en Autriche, du 19 au 25 octobre 2009



Préoccupée qu’en violation de l’Article 19 du Pacte International relatif aux Droits Civils et Politiques des Nations Unies (PIDCP), le Viet Nam (RSV) continue à réprimer le droit à la liberté d‘expression et d’opinion, en appliquant des articles discutables de son Code Pénal, en particulier l’Article 88 «Propagande contre l’état » prévoyant des peines maximales de 20 ans de prison et l’Article 258 «Abus des libertés démocratiques pour porter atteinte aux intérêts de l’état» prévoyant des peines maximales de sept ans de prison;



Profondément troublée que des prisonniers d’opinion et de conscience purgent leurs peines dans des camps de travaux forcés dans des conditions déplorables. Ils sont souvent tenus au secret ou partagent des cellules insalubres ou surpeuplées avec des criminels. Certains sont victimes d’agressions physiques et de mauvais traitements, et souffrent de maladies chroniques et de la privation des soins médicaux nécessités par leur état de santé. A leur libération, les anciens prisonniers sont placés pendant un à cinq ans en détention probatoire en vertu de l'Article 38 du Code Pénal;



Déplorant que durant l’Examen Périodique Universel du Conseil des Droits de l’Homme en mai 2009, le Viet Nam (RSV) a refusé plusieurs Recommandations émises par les autres états, notamment celles réclamant l’abolition des dispositions de « sécurité nationale » du Code Pénal (Articles 38, 88 et 258) et l’Ordonnance 44 autorisant la détention administrative sans procès, et l’internement des dissidents dans des hôpitaux psychiatriques; ainsi que celles qui exhortaient le Viet Nam à garantir l’indépendance des médias et à émettre une invitation à tous les Rapporteurs Spéciaux, en particulier ceux qui s’intéressent surtout à la liberté d’expression, la liberté de religion et à la torture;



Choquée et indignée par la vague de répression en août-septembre 2008 et la persécution incessante et persistante des écrivains, journalistes, juristes et défenseurs des droits de l'homme uniquement pour avoir exercé leur droit à la liberté d'expression ;



Condamne la pratique de la résidence surveillée, des détentions préventives prolongées, des lourdes peines de prison, des procès injustes et de l’absence d’avocats de la défense et d'observateurs indépendants. Entre autres :

- Dang Phuc Tuê (nom religieux Vén. Thich Quang Dô), 81 ans, moine bouddhiste, poète et intellectuel en résidence surveillée depuis 2003;

- Nguyên Van Ly, prêtre et rédacteur de la revue clandestine Liberté d’Opinion, huit ans de prison; Nguyên Phong et Nguyên Binh Thanh, corédacteurs, six et cinq ans de prison;

- Lê Thi Công Nhân (f) et Nguyên Van Dài, avocats des droits de l'homme et cyberdissidents, trois et quatre ans de prison, en très mauvaise santé;

- Lê Thi Kim Thu (f), reporter indépendant et cyberdissidente, dix-huit mois de prison;

- Lê Nguyên Sang, médecin, Nguyên Bac Truyên et Trân Quôc Hiên, avocats des droits de l'homme, cyberdissidents, quatre, trois et cinq ans de prison;

- Truong Quôc Huy et Pham Ba Hai, cyberdissidents, six et cinq ans de prison;

- Truong Minh Duc et Nguyên Van Hai (blogueur Diêu Cày), journalistes indépendants, cinq et deux ans et six mois de prison, en très mauvaise santé;

- Pham Thanh Nghiên (f), journaliste indépendante et cyberdissidente, détenue depuis le 17 septembre 2008, en très mauvaise santé;

- Nguyên Xuân Nghia, poète, écrivain et cyberdissident, six ans de prison, en très mauvaise santé;

- Vu Van Hung, enseignant et défenseur des droits de l’homme, trois ans de prison, torturé en détention, en très mauvaise santé;

- Ngô Quynh et Pham Van Trôi, Nguyên Van Tuc et Trân Duc Thach, écrivains et poètes, cyberdissidents, respectivement trois, quatre, quatre et trois ans de prison;

- Nguyên Van Tinh, enseignant, collaborateur à la revue clandestine la Nation, trois ans de prison;

- Nguyên Kim Nhan, cyberdissident et défenseur des droits de l’homme, deux ans de prison;

- Nguyên Manh Son, poète et cyberdissident, trois ans de prison;

- Trân Huynh Duy Thuc et Lê Thang Long, Trân Thi Thu (f) et Lê Thi Thu Thu (f), cyberdissidents et défenseurs des droits de l’homme, arrêtés le 24 et 4 juin 2009;

- Lê Công Dinh, avocat des droits de l'homme et cyberdissident, arrêté le 13 juin 2009;

- Nguyên Tiên Trung et Trân Anh Kim, cyberdissidents, arrêtés le 7 juillet 2009;



Alarmé par le fait que plusieurs avocats des droits de l'homme ont fait l’objet de pressions insupportables (harcèlements, menaces) afin de renoncer à défendre des personnes accusées du délit d’opinion tandis que leurs collègues purgeaient leurs peines de prison ou se trouvaient en détention préventive;



Consterné par la censure sévère des médias et de l’Internet, notamment le blocage de l’accès aux espaces publics promouvant une culture de paix et les droits de l'homme, révélant la corruption des fonctionnaires et l’injustice sociale ou débattant des politiques gouvernementales;



Exhorte la République socialiste du Viet Nam à :

1. Relâcher, sans délai et sans conditions toutes les personnes, notamment les écrivains, journalistes, avocats et défenseurs des droits de l'homme susmentionnés, actuellement en prison ou en résidence surveillée pour avoir exercé de manière pacifique leur droit à la liberté d'expression;

2. cesser toute attaque, harcèlement, menaces de résidence surveillée ou de détention préventive à l’encontre de tous ceux qui professent des vues dissidentes ou qui demande la liberté de religion et le respect des droits de l'homme;

3. lever toutes les restrictions imposées sur d’anciens prisonniers d’opinion et de conscience, y compris ceux qui ont purgé leurs peines de prison pour avoir exercé leur droit à la liberté d'expression;

4. améliorer les conditions carcérales dans les prisons et les camps de travail, notamment de stopper les agressions perpétrées par des détenus de droit commun et d'autoriser les prisonniers malades à être hospitalisés, à recevoir les soins médicaux nécessités par leur état de santé et faciliter les visites de leur famille;

5. Discontinuer la pratique des tribunaux populaires qui ne sont pas en conformité avec les normes internationales sur les procès équitables stipulées dans l’Article 14 du PIDCP;

6. abolir toute la censure et de lever toutes les restrictions sur la liberté d'expression et d’opinion, la liberté de la presse, la liberté de créer et de publier, le droit à être informé par n'importe quel moyen, notamment l'Internet, et la liberté d’association, conformément aux Articles 19, 21 et 22 du PIDCP.

------------------------------------------------------------------------------------------

Resolution on Viet Nam submitted by Suisse Romand PEN Centre

and seconded by Swiss German PEN Centre and Swiss Italian and Reto-Romansh PEN Centre



The Assembly of Delegates of International PEN, meeting at its 75th International Congress in Linz, Austria, 19-25 October 2009



Concerned that, in violation of Article 19 of the United Nations International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), Viet Nam (SRV) continues to suppress the right to freedom of expression and opinion, through application of problematic articles of its Penal Code, in particular, Article 88 ‘’Propaganda against the State’’ providing sentences of up to 20 years in prison and Article 258 ‘‘Abusing democratic freedoms to infringe upon the State interests’’, up to seven years in prison;



Deeply disturbed that prisoners of opinion and conscience serve their sentences in forced labour camps under deplorable conditions. They are often held in solitary confinement or in crowded and insanitary cells with criminals. Some of them are victims of physical aggression and ill-treatment, suffering of chronic diseases and absence of adequate medical care. Upon release, former prisoners serve one to five more years in probationary detention, under Article 38 of Penal Code;



Deploring that, during the Universal Periodic Review at the Human Rights Council in May 2009, Viet Nam (SRV) refused several Recommendations from other States including those calling for the abolition of the vague ‘‘national security’’ provisions of the Penal Code (Articles 38, 88 and 258) and Ordinance 44 authorizing administrative detention without trial and placing dissidents in psychiatric hospitals; as well as those urging Viet Nam to ensure the media’s independence and to issue a standing invitation to all Special Procedures, in particular, those scrutinising freedom of expression, freedom of religion and torture;



Shocked and indignant at the widespread crackdown in August-September 2008 and the relentless and persistent persecution of writers, journalists, lawyers and human rights defenders solely for exercising their right to freedom of expression;



Condemns the on-going practice of house arrest, lengthy preventive detention, heavy prison sentences, unfair trials and lack of independent defence lawyers and observers. Among others:

- Dang Phuc Tuê (religious name Ven Thich Quang Dô), 81-year-old, Buddhist monk, poet and intellectual, house arrest since 2003;

- Nguyên Van Ly, priest and editor of the clandestine review Freedom of Opinion, eight years in prison; Nguyên Phong and Nguyên Binh Thanh, co-editors, six and five years in prison;

- Lê Thi Công Nhân (f) and Nguyên Van Dài, human rights lawyers and cyberdissidents, three and four years in prison, in very poor health;

- Lê Thi Kim Thu (f), independent reporter and cyberdissident, eighteen months in prison;

- Lê Nguyên Sang, physician, Nguyên Bac Truyên and Trân Quôc Hiên, human rights lawyers, cyberdissidents, four, three and five years in prison;

- Truong Quôc Huy and Pham Ba Hai , cyberdissidents, six and five years in prison;

- Truong Minh Duc and Nguyên Van Hai (blogger Diêu Cày), independent journalists, five and two years and six months in prison, in very poor health;

- Pham Thanh Nghiên (f), independent journalist and cyberdissident, detained since 17 September 2008, in very poor health;

- Nguyên Xuân Nghia, poet, writer and cyberdissident, six years in prison, in very poor health;

- Vu Van Hung, teacher and human rights defender, three years in prison, tortured in detention, in very poor health;

- Ngô Quynh and Pham Van Trôi, Nguyên Van Tuc and Trân Duc Thach, writers and poets, cyberdissidents, respectively three, four, four and three years in prison;

- Nguyên Van Tinh, teacher, co-editor of the clandestine review the Nation, three years in prison;

- Nguyên Kim Nhan, cyberdissident and human rights defender, two years in prison;

- Nguyên Manh Son, poet and cyberdissident, three years in prison;

- Trân Huynh Duy Thuc and Lê Thang Long, Trân Thi Thu (f) and Lê Thi Thu Thu (f), cyberdissidents and human rights defenders, arrested on 24 May and 4 June 2009;

- Lê Công Dinh, human rights lawyer and cyberdissident, arrested on 13 June 2009;

- Nguyên Tiên Trung and Trân Anh Kim, cyberdissidents, arrested on 7 July 2009;



Alarmed by the fact that some human rights lawyers have been subjected to unbearable pressures (harassment, threat) to give up the cases of persons accused of opinion offence while their fellow lawyers are serving their prison sentences or under preventive detention;



Dismayed by severe censorship of media and on Internet, blocking access to public spaces that promote a culture of peace and human rights, identify administrative corruption and social injustice or debate State policies;



Urges the Socialist Republic of Viet Nam to:

1. release, immediately and unconditionally, all persons, notably the above-mentioned writers, journalists, lawyers and human rights defenders, currently in prison or under house arrest for the peaceful exercise of their right to freedom of expression;

2. cease all attacks, harassment, threat of house arrest or preventive detention against all persons who hold dissenting views or who call for freedom of religion and respect of human rights;

3. lift all restrictions imposed on former prisoners of opinion and conscience, including those who have served prison terms for exercising their right of freedom of expression;

4. improve conditions in prisons and in labour camps, including an end to acts of aggression perpetrated by common criminal detainees, and allow sick prisoners to be hospitalized, to receive adequate medical care and to facilitate their family visits;

5. discontinue the practice of people’s tribunals which do not comply with international standards of fair trial set forth in Article 14 of ICCPR;

6. abolish all censorship and lift all restrictions on freedom of expression and opinion, freedom of the press, freedom to create and to publish, the right to be informed by all means including the Internet, and freedom of association, in compliance with the Articles 19, 21 and 22 of the ICCPR.



* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *

GIÃ TỪ VIỆT NAM

GIÃ TỪ VIỆT NAM

Ed Oshiro, MPH

Trần Trúc Lâm chuyển ngữ

(LTS: Ai có ý định về VN làm ăn hay làm việc thiện nguyện, xin hãy đọc kỹ bài này).

Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự sách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất.

Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẳng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam, bắt đầu vào giữa tháng giêng.

Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên.

Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy chiếu khán đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt cộng) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4200 đô la, và dấu nhập cảnh cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá 15 đô la một ngày.

Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau).

Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm.

Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không.

Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì về kế toán và chẳng có chút năng khiếu gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta chịu chia một phần lương của cô.

Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v... Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ.

Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việt Nam... 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải ghi danh quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong. Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam, đặc biệt là những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam.

Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.

Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, tiểu ra máu, tiêu chảy, v.v... Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm thấy không được khỏe.

Một bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và bà chỉ cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quan Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có khám ra được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ.

Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (Việt Cộng) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng thích thú về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩ đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.

Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dân xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà mới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn, v.v... Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.

Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở ủy ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một mảnh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khổ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hắn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.

Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn tiệm. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s). Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương.

Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vậy. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt!

Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam. Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v... và một bác sĩ toàn thời chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, mày chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm quyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công.

Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Hy vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1500 đô la.

Vài tuần sau khi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn chiếu khán và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá.

Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi, bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả gián dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe.

Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được.

Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bởi quyết định này vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.

Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.


Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mercer Island (thành phố Seattle, tiểu bang Washington) nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives.



GOOD-BYE VIETNAM
by Ed Oshiro, MPH (Master of Public Health)



Thirty minutes after our Vietnam Airline flight departed from Tan Son Nhut airport in Ho Chi Minh City, we looked down upon the denuded red plains and my wife and I instantaneously felt an incredible sense of relief and freedom. We were finally free from the daily harassment, intimidation and greed of the Vietnamese officials and we could actually feel the weight of the last three months lift off our shoulders.

It all began last fall when I was accepted as the overseas manager for the East Meets West Foundation which operated primary care clinic for the “poorest of the poor” and an orphanage for 125 children on the outkirts of Da Nang, Vietnam. I had decided to take advantage of the early retirement package offered by Group Health and retired in January with the intention of volunteering in Vietnam for a year or two, beginning in mid-January. My mission was to help the clinic become more efficient and effective and to conduct=2 0pilot public health education programs in four remote villages. My wife was assigned to work with the orphanage as an art and recreation instructor, and to teach English to the staff.

A preview of what we were to experience in country actually began when we flew to San Francisco to pick up our visa on our way to Vietnam. Upon our arrival in San Francisco, we were advised that the Foreign Minister, who issues the visas, wanted us to rent his appartment in Da Nang for $700 a month, with a six month advance payment. We objected, he refused to issue the visas, so we return to Seattle while the Foundation continued the negotiations. Finally, in February, we agreed to the arrangement, paid him $4200, and with a 3 month instead of a 12-month visa, flew to Vietnam. When we arrived, the apartment, of course, still being renovated so we were compelled to stay in a hotel at $45 a day. Upon entering Vietnam, all of our computer discs were cofiscated and only after paying a $40 “handling fee” and copies had been made (for later resale) were they returned to us three weeks later.

On our first day in the office, I picked up the telephone to call my daughter in Seattle and noticed that martial music could be heard in the background during our conversation. I later mentioned that to the Vietnamese staff and they stated the police and military were listening in on all of our telephone calls. We were also warned that our letters were opened and read by the government, so we h ad to be careful what we wrote. Once, I was required to take a month-end financial report to the police and they decided whether it should be sent off or not.

A few days after we began working in the office, the Vietnamese accountant left for Florida to marry an American doctor she had met when he came to Da Nang to volunteer at the clinic. When we announced the position, the minister sent us candidates who had no accounting training nor English language skills and hired a certified accountant who spoke fluent English. The Minister and the Security Police delayed approval of the new employee, untill, we suspect, some money changed hands or she agreed to kick back a percentage of her salary. We were informed that all the Vietnamese employees were required to pay the police, government offcials, party member, ect, a portion of their salary. The Security Police came to our office to demand, several times, why we refused to hire their candidates.

Incidentally, a Vietnamese physician applied for the accounting job because he had been unemployed for over five years. Apparently, there were hundreds of doctors that were unemployed in spite of the fact that they are some of the lowest paid workers in Vietnam… $30 a month. I never learned why there were so many unemployed doctors. I was told that they had to pay upwards of $1500 to get practical training and experience in a hospital after they completed their training. Without the training, they were unemployable. I also became aware20that there was tremendous discrimination against the South Vietnamese, especially these whose family members supported the defeated government. Most of the unemployed doctors we met were South Vietnamese.

During my orientation in the States, I was warned that the doctors at the Peace Village Clinic were lazy and unmotivated, and only knew how to prescribe vitamins. After spending a few days with the doctors, I found them to be very intelligent, very willing to learn to practice good medicine and were eager to receive any assistance that would enable them to become good practitioners. Unfortunately, their medical training was so poor and inadequate that they were only qualified to prescribe vitamins for every affliction. One day a week, the doctors visited one of the surrounding villages and provided care to the people. I accompanied them on several visits and noted that vitamins were precribed for every ailment, malaria, blindness, fevers, parasites, blood in the urine, diarrhea, ect. What else could they do? They didn’t have any other drugs except a few bottles of Ampicillin. The doctors claim that they had to give the patients something to take home so they prescribed vitamins. Made sense to me. Antibiotics may be purchased over the counter so every Vietnamese already had several bottles at home. My translater took antibiotics for headaches, colds, diarrhea, backache, and when she just was not feeling well.

An OB/GYN doctor from San Diego spent a few days at the clinic and showed the doctors how to use a vaginal speculum. A year later, he returned and was very upset that the doctors were not using the speculum and complained to the East Meets West Foundation Board in San Francisco that the doctors were unmotivated and lazy. My report to the Board questioned his assessment. The doctors could not be trained in diagnose and treat gynecological diseases in a few days and the lab tech was only able to do very simple tests. Even if they did, find something, there were no drugs or equipment to treat the problem. Why look for something if you can’t do anything about it? I felt that some of the American doctors who volunteered at the Peace Village Clinic were very insensitive and did more harm than good.

As soon as I had settled in, I met with the Minister of Health with a proposal to conduct a pilot public health project in four villages and he seemed to be very enthusiastic about the idea. He accepted the proposal and informed me that he would discuss it with the People’s Commitee and get back to me. Two weeks later, he sent me a letter stating that the project was approved and that the Ministry would implement it, but they wanted me to provide them with $20,000. I stated that I did not have the money, only the knowledge, time and willingness to do the training and work with the health workers, but they were not interested in my participation – only my money. I was not invited back to the Ministry.

When I visited my first village to do a health assessment. I was met by the Director of the People’s Committee who took me around to the homes of the poorest families. At each farm house, he requested that I pay for something that the family needed, for example: a new roof, a new well, a new house, money for rice, clothes, wheel chair, etc. When I stated over and over that I was not there to give them money, he finally told my translator to get me out of the village. At another village, the officials demanded that I provide them with funds to build a new school and when they realized that I would not provide the funds, I was immediately put under house arrest and ordered not to leave the grounds of the People’s Committe office. That night, I was ordered to sleep on the dirty wood floor of the office with only a tattered blanket, and one of the security police officer slept next to me to assure that I did not leave the building. To add to my misery, the officer, whose hand had been blown off by a land mine, place his stump on my stomatch all night while he slept. I, of couse, did not sleep a wink and keep thinking who would ever believe that I would be sleeping on the floor of a Communist party office, next to a Viet Cong policeman whose handless arm rested on my belly! It was one of strangest and scarrest night I have experienced. I kept wondering if I was having a nightmare.

Because we were living in a hotel, we had to eat our meals in restaurants. The only place we and most visitors c ould eat in Da Nang without getting sick was a restaurant called Christies. Every night, we met American marrines and soldiers who were in Vietnam searching for MIA’s. They stated that every village had a scam in operation. The village leaders would claim to have burried in the rice fields two or three Americans who had died during the war. It would cost the American $10,000 to dig in the fields and to hire local workers. The officers we talked to claimed that since 1991 they had found nothing and they didn’t expect to find anything. They were required to stay in Vietnam Army Hotel for $75 a night and hire the Vietnam helicopter to take them to the village. We were informed that it cost $750 an hour for the helicopter ride. There were about 30 US military personel looking for MIA’s in Da Nang and every major city had a silmilar team. It is coating the US milion of dollars and the Vietnamese are laughing all the way to the bank!

After a couple of months, it became very evident to us that we were not needed in VietNam. The orphanage was being very adequately funded by the US Government and the Vietnamese staff was excellent. The kids were attended in the government school, being provided with training in carpentry, sewing, computer, etc … and a full time physician took care of the medical needs of the children. They had a basketball court, ping-pong tables, television, videos, bicycles, computers, a vegetable farm, and they raised chickens and pigs for income. The Vietnamese cl aimed that these chidren, in fact, lived better than all other children in Vietnam.

I was able to raise the salaries of all the doctors, and the rest of clinic staff from $30 to $50 a month. The government required every employee to be paid the same amount whether he/she were a doctor or janitor. I also assisted in development of a long term continuing education program for the doctors.. A cadiologist from Japan is sponsoring each year, one doctor from the Peace Village Clinic, who will spend six months in her hospital in Osaka for next few years. The first doctor left Osaka in June. I also opened communication with the Hue hospital to accept our doctors into their resisdency program with us paying for the training. I presented this proposal to East Meets West Foundation Board on my last day in the country. Hopefully, the Boad will vote favourably on this program. I feel that it is very inexpensive to train the doctor for $1600.

Several weeks after we arrived in Da Nang, the Forein Minister demanded more money to finish renovating the apartment to purchase furniture. We were aware of this fact that a Vietnamese doctor makes $30 a month and he would pay, perhaps $10-$15 a month to rent that apartment so we politely ignore his demand for more money. He tightened the screws by requiring us to to provide him with a detailed itinerary as to where we would be every hour, two weeks in advance, by holding up our request for a visa extention and by intimidating our Viet namese office staff. Three months after we arrived, the Foreign Minister said we could move into the house and we did – for one night. It was only partially completed with electric wires dangling from the ceiling, walls partially painted, plumbing unconnected, no furniture and cockroaches crawling everywhere. In a few minutes, I used up a can of insecticide and the floor was covered with two-inch long cockroaches lying on their backs, leg flailing away. We moved back to the hotel after one night. The minister became very upset and advised us to leave the country if we were unhappy. For the first time ever, we experience real fear. We realized that he could jail us or arrange an accident and no one could do anything about it.

Realizing that we were not really wanted or needed in the country, that our contributions would be negligible, and that there was a real threat to our safety, we made the decision to leave Vietnam. We agonized over the decision because we had come to love the children in the orphanage and the people working there as well as at the Peace Village Clinic. We have very warm feelings for the Vietnamese people and the incredibly beautiful country, and we would, someday, like to return there complete the work we have begun.

One day, this generation of leaders will pass on and then Vietnamese will emerge to become to the butterfly of Southeast Asia.

XÁO VÀ HỘI NGHỊ VIỆT KIỀU

XÁO VÀ HỘI NGHỊ VIỆT KIỀU
Tưởng Năng Tiến
Trăm voi không được bát nước xáo.
Thành ngữ VN

- Cái cò, cái vạc, cái nông,
Trong ba cái ấy vặt lông cái nào?
Vặt lông cái vạc cho tao,
Tao xáo, tao xào, tao lại nấu măng

- Con cò mày đi ăn đêm.
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao.
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

Cò và vạc, rõ ràng, đã có thời hiện diện trong mâm cơm (cũng như trên bàn nhậu) của người dân Việt. Thời đó đã qua. Có mới, nới cũ, thiên hạ bỉu môi:

- Cò với vạc thịt tanh!

Thế là hai em (đành) phải biến. Vịt thế vào chỗ trống. Ngoài đồng ruộng, ao hồ bay nhẩy (ra sao) không mấy ai được rõ chứ vào đến bếp thì vạc với cò lép vế, và thua cơ – thấy rõ. Tanh thì không chắc nhưng cứ nhìn mớ lông cũng đủ thấy oải rồi. Làm thịt mệt bỏ mẹ mà chả bõ bèn gì.

Vịt thì chỉ cần cắt cổ là có ngay một đĩa tiết to. Vặt lông xong, nước vừa sôi, bỏ vào nồi, giã xong chén nước mắm gừng là kể như rồi, chặt ngay ra đưọc một đĩa thịt đầy tú hụ.

Cổ cánh, xương xẩu xáo măng bùi béo và đậm đà hơn một chú vạc (gầy nhom) hay em cò (khẳng khiu) là cái chắc. Xáo vịt, tuy thế, chỉ được ưa chuộng ở những chỗ âm thịnh dương suy – chốn mà các bà mẹ (rượt) gọi là “mái ấm gia đình” – nơi mà đàn ông không có tiếng nói, hoặc nói rất ít và (thường khi) rất khẽ, như ở Paris hay California chả hạn.

Chớ đ. mẹ, giữa Sài Gòn, vào một buổi chiều vàng – khỏi có vợ con hay đào địch gì hết trơn hết trọi, mệt – chung quanh đầy nhóc bạn bè đang chửi thề um xùm, và nói cười và rôm rả [sau khi đã nếm vài miếng thịt luộc chấm với muối tiêu, ngắt nhẹ mấy lá mơ để thử món dồi, gặm chơi năm ba cái chả chìa, ăn lưng chén rựa mận, và uống (sương sương) vài ba xị] thì say chớ bộ điên sao mà nhúng đũa vô tô xáo vịt, đúng không? Phải xáo chó cơ, chúng ông mới chịu.

Xáo chó ở Sài Gòn đã tuyệt mà ở Hà Nội (nghe nói) còn “trên cả tuyệt vời” nữa cơ:

“Hà Nội có một nhân vật đã đi vào lịch sử của… thịt chó: Me sừ Lâm Mặt Đỏ – ở phố Châu Long. Sở dĩ ông có cái hỗn danh ấy vì ông là chủ một quán thịt chó. Khách tới ăn, ai cũng qúi mến ông và người nào cũng mời ông cụng ly. Thành thử mặt ông lúc nào cũng đỏ gay như mặt trời.”

“Các món ăn của quán ông đều được giới đả cẩu tung hô vạn tuế: nhất là món dồi chó và xáo chân chó. Vâng, chân chó được ninh nhừ tới mức những cái gân của nó mềm ra chẩy nhựa, đến nỗi sau khi nó đã trôi qua cổ họng mà dư vị vẫn còn đọng lại trên đầu lưỡi” ( Phan Nghị, “Thử Tản Mạn Về nghệ Thuật Ắn Thịt Chó,” Ngày Nay, 15 Jun 2003: B3).

Xáo chó, tuy thế, chỉ có tính cách gia công và phổ biến hạn chế trong hàng quán. Hà Nội được cả thế giới biết nhắc đến vì một đặc sản khác, nổi tiếng và độc đáo hơn nhiều: xáo voi!

Đây là một sản phẩm thuần túy quốc doanh, được sản xuất và phổ biến liên tục (từ hơn nửa thế kỷ qua) dưới nhiều hình thức – khẩu hiệu, bích chuơng, chiến dịch, phong trào, chỉ thị, nghị quyết, nghị định, diễn văn, xã luận, bình luận, tuyên ngôn, tuyên cáo, tuyên bố … – và bằng mọi phương tiện truyền thông của Đảng và Nhà Nước.

Nhân dịp Hội Nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài – được tổ chức lần đầu, tại Hà Nội, vào cuối tháng 11 năm 2009 – tưởng cũng nên mời qúi vị đại biểu về tham dự nếm thử một chén xáo voi (từNghị Quyết 36) cho nó biết mùi ăn chơi, giữa lòng cách mạng:

“Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt…”

Quả là một tấc đến Giời! Vậy chứ chuyện “cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể… ”vẫn khiến cho nhiều “đồng bào hải ngoại” cứ rẫy nẩy lên như đỉa phải vôi. Họ hình dung ra những chiếc 747 khổng lồ, chở đầy nhóc giáo viên, từ Việt Nam đi rải tứ tán khắp năm Châu (chắc) để nhuộm đỏ địa cầu!

Tưởng vậy nhưng không phải vậy. N.Q. 36 ký ngày 26 tháng 4 năm 2004, hơn năm năm sau, theo tài liệu chính thức của FOVC (Fund for Overseas Vietnamese Community) đọc được trên Tạp Chí Quê Hương Online thì tính cho đến nay ngân qũi nhà nước mới “chi hỗ trợ 10 triệu đồng để mua vé máy bay một chiều Hà Nội-Bucaret (Rumani) cho một cô giáo Việt Nam sang Rumani” để dậy tiếng Việt thôi hà. Chúng chỉ nói cho đã miệng thôi, chớ có làm (mẹ) gì đâu mà qúi vị cứ phải cuống lên như thế.
Còn muốn biết cái gọi là “chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet” (hư thực) ra sao, xin xem nỗi “trăn trở của một cô gái dậy tiếng Việt trên đất Nga” – trên Đại Đoàn Kết Online, số ra ngày 24 tháng 3 năm 2009:

“Giáo viên dạy không lương, giáo cụ trực quan được lấy từ các khỏan hỗ trợ, hoặc tiền túi của chính những ‘tình nguyện viên.’ Chiếc tivi và đầu đĩa được mua để chiếu cho các em học sinh xem những hình ảnh về Việt Nam là một ví dụ điển hình. Nó được mua về để phục vụ các buổi học từ tiền quyên góp của mọi người….

Hai nhân vật chính của những lớp dạy tiếng Việt ở Trường Phổ thông 282 là chị Phạm Thị Minh Thúy và anh Lê Văn Huyến, đều là những nghiên cứu sinh tại Nga. Sau khi hoàn thành công việc nghiên cứu ở Nga, hẳn họ sẽ trở về Việt Nam. Và khi ấy, những lớp tiếng Việt sẽ ra sao, nếu không có những tình nguyện viên thay thế họ?”

Phải đợi cái cô giáo ở Bucharest về rồi mới có người khác đi thay chớ nhưng vé máy bay FOVC chỉ mua loại one way ticket nên cô này bị kẹt. Cả dự án “cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể ” (vì thế) cũng kẹt theo, và kẹt luôn cho tới bây giờ.

Riêng vụ “tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài,” cũng theo tài liệu chính thức của FOVC, N.Q. 36 đã thực hiện được một vài thành tích (không lấy gì làm hoành tráng, và chưa chắc đã có thiệt) như sau:

- Hỗ trợ để xây trường dạy tiếng Việt tại Khăm Muộn, Lào.
- Hỗ trợ (một phần kinh phí) để tu bổ lại Trường Mẫu giáo Xiêng Vang, tại Savanakhet, Lào.
- Hỗ trợ (một phần kinh phí) sửa sang lại trường Tiểu học Nguyễn Trãi tại Xê Nô, Lào.
- Hỗ trợ để mở ba lớp học tiếng Việt cho con em cộng đồng tại Praha, Cheb và Plzen.
- Xây dựng Trường Tiểu học người Việt Nam tại AtTaPư, Lào.
- Hỗ trợ xây dựng lớp học cho con em người Việt tại phường Svay Pak, Campuchia.

Nói tóm lại là từ khi N.Q 36 ra đời đến nay có ba trường tiểu học (một được xây, và hai có sẵn chỉ cần sửa sang lại) tại Lào, 3 lớp học tiếng Việt (ở Praha, Cheb, Plzen), một lớp học ở Svay Pak – Cambodia, và … chấm hết! Nhưng câu chuyện chưa hết đâu, còn dài, vì bữa nay… tui đang (rất) rảnh.

Rảnh muốn khùng luôn mà nẫy giờ tìm hoài cũng không thấy cái lớp học (do N.Q 36 tài trợ) ở xứ Chùa Tháp coi hình dáng ra sao. Nó (dám) chỉ có trên báo cáo – cho vui thôi – chớ nếu có thiệt thì (ôi thôi) hình ảnh lưu niệm, diễn văn của lãnh đạo sứ quán đã phổ biến tùm lum trên mạng – chớ đâu có khó kiếm dữ vậy, mấy cha?

Loay hoay một chập, cuối cùng, rồi cũng tìm ra chỗ dậy tiếng Việt ở Svay Pak – nơi còn có tên gọiMecca for Paedophiles (“Thánh Địa Ấu Dâm”) cách sứ quán Việt Nam 11 cây số – nhưng nó lại tuyệt đối không có dính dáng gì tới N.Q 36. Báo Người Việt (phát hành từ California, số ra ngày 24 tháng 3 năm 2006) viết về “Lớp Học Tình Thương” này như sau:

“Chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng khi biết cái lớp học duy nhất của trẻ em người Việt ở xứ có kỳ quan thứ 7 của thế giới; xứ mà xương thịt các thanh niên Việt Nam trong cuộc chiến chống bọn diệt chủng Pôn Pốt vẫn còn vương vãi. Vậy mà thật không ngờ cái lớp học tiếng Việt duy nhất lại trơ trọi đến dường này, hoàn toàn không có đến một mái lá che mưa che nắng. Thầy chỉ vào tấm bảng đen máng trên vách nhà, bên trên có che một tấm ni-lông cũ chống mưa dột và một số bàn ghế xiêu vẹo và cho biết đó là chỗ thầy đứng dạy học. Không có máy ảnh để ghi những hình ảnh này, chúng tôi thấy vô cùng hối tiếc…”

“Chúng tôi muốn biết Sứ quán Việt Nam ở Campuchia có biết lớp học của thầy không và chính quyền Siem Reap có giúp đỡ gì không. Thầy Sang nói giọng chán nản:

- Sứ quán ở tận Phonm Penh, tôi chưa từng gặp ai. Còn chính quyền Cambodia ban đầu nghi tôi mở lớp học có động cơ chính trị nhưng sao này họ hiểu, tuy không giúp gì nhưng cho phép tôi tiếp tục dạy học.

Thầy không trả lời thẳng trong lớp này có bao nhiêu em là con của những cô gái mãi dâm ở khu Ðèn Ðỏ, thầy Nguyễn Hoàng Sang chỉ từ tốn nói:

- Người Cambodia họ trọng thầy dạy chữ như người mình nên tôi có chút uy tín, thỉnh thoảng đứng ra bảo lãnh về nhân thân cho các cô… “

Người viết thiên phóng sự thượng dẫn, nhà thơ Trần Tiến Dũng, đã không quá lời khi vinh danh lớp học của thầy Bùi Hoàng Sang là một điểm sáng văn hóa. Và đó không phải là “điểm sáng văn hoá” duy nhất giữa khu mãi dâm Đèn Đỏ của người Việt ở Cambodia.
Lớp học bất thường trong khu mãi dâm ở Svay Pak. Ảnh NgyThanh

Nhà báo và nhiếp ảnh gia NgyThanh, người có mặt ở Cao Miên vào tháng 8 năm 2009 vừa qua, trong một thiên bút ký của chính ông (tựa là Lẽ Ra Đừng Tới) hiện đang đăng nhiều kỳ trên tuần san Thời Báo, cho biết thêm rằng tuy “lớp học tình thương” của thầy Bùi Hoàng Sang đã đóng cửa nhưng Svay Pak đang có thêm những lớp học chữ và học nghề khác (cùng với cơm trưa mễn phí) của Hội Bác Ái Phan Xi Cô, và của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment) do một nhóm chuyên gia, sinh viên Việt Kiều ở Mỹ, Úc, Canada thay phiên nhau đảm trách.
Còn Việt Cộng thì sao?

“Xáo” tiếp chớ sao nữa. Nghề của chàng mà. Ngày 4 tháng 8 năm 2009 vừa qua, trên website của Bộ Ngoại Giao lại có một vụ nổ lớn (“Việt Nam Chuẩn Bị Dậy Tiếng Việt Ở Hải Ngoại") nghe cũng chói tai y như năm năm về trước – lúc N.Q 36 vừa mới ra đời vậy:

“Việt Nam đang có một chương trình thử nghiệm dạy Việt ngữ cho người Việt Nam ở nước ngoài, mà phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký duyệt, sẽ được thực hiện tại Lào, Campuchia, Nga, Cộng Hòa Tiệp, Mỹ và Canada.

Ông Phạm Gia Khiêm đang cố gắng hâm lại một nồi xáo đã thiu hoặc (không chừng) đã vữa mà cứ thản nhiên y như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra vậy. Thái độ này nếu không thể gọi là “xáo” hay “láo” thì chỉ có thể giải thích rằng trí nhớ của giới quan chức Việt Nam, rõ ràng, hơi ngắn.

Ký ức của đám đại biểu (sắp về dự Hội Nghị Việt Kiều) cũng thế. Và có lẽ “vì thế” nên thiên hạ mới gọi đây là Hội Nghị Về Hùa, thay vì là Hội Nghị Về Nguồn – như Đảng và Nhà Nước mong muốn.

Bản thông báo của Lớp Học Tình Thương. Ảnh NgyThanh.

Viết về người anh em Linh mục


Tin Linh mục Nguyễn Văn Lý bị tai biến mạch máu não, bị liệt nửa người và được đưa từ trại tù Nam Hà về bệnh viện ở Hà Nội điều trị đã làm nhiều người quan tâm và bày tỏ lòng thương mến. Trong nước, số đông thân nhân và giáo dân tới bệnh viện thăm. Ờ hải ngoại tin cha Lý bị “stroke” được truyền đi nhanh chóng trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ với lời cầu nguyện cho Cha được bình phục, tai qua nạn khỏi. Một vài tờ báo ngoại quốc cũng đăng tin này và nhân dịp này có sáu Dân biểu Mỹ, trong đó có Dân biểu gốc Việt, Cao Quang Ánh, lên tiếng kêu gọi cộng sản Việt Nam trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Một lần nữa, tên tuổi Linh mục Nguyễn Văn Lý lại trở thành đề tài thời sự, sau sự kiện “phiên tòa bịt miệng” ngày 30 tháng 3 năm 2007, và chắc chắn là đề tài này sẽ còn được nhiều người nhắc tới. Cụ thể là có thông báo trên các diễn đàn điện tử về cuộc Paltalk vào ngày Chúa Nhật 21 tháng 11 trên diễn đàn của Khối 8406 nói về Linh mục Nguyễn Văn Lý mà diễn giả là Linh mục Phan Văn Lợi ở Huế và nhà văn Trần PhongVũ ở Hoa Kỳ, cuộc hội luận này sẽ do Mục sư Huỳnh Quốc Bình điều khiển chương trình.

Về phần tôi, dĩ nhiên tôi rất đau xót và cảm thương khi biết tin cha Lý bị cơn bệnh hiểm nghèo, và tôi cầu nguyện cách riêng cho cha Lý được ơn chữa lành để vượt qua cơn bệnh. Tôi thương cha Lý vì Ngài là một anh em linh mục của tôi. Tôi thương cha Lý vì Ngài là người bạn tù nhiều năm với tôi trong trại Thanh Cẩm và Nam Hà. Tôi thương cha Lý vì Ngài cùng chung lý tưởng với tôi trong việc tranh đấu cho Dân tộc và Tôn giáo. Ngoài ra tôi còn kính phục ý chí kiên cường bất khuất của Ngài trong vai trò của một linh mục đã hiên ngang đứng thẳng người, cất cao đầu để làm chứng nhân cho SỰ THẬTgiữa lòng một chế độ chủ trương gian dối, cổ võ cho sự lưu manh và lừa đảo.

Để làm trọn vai trò chứng nhân cho SỰ THẬT, cha Lý vui lòng chấp nhận cuộc sống lao tù dưới chế độ cộng sản (Tôi viết thêm mấy dòng này cho những ai may mắn chưa bị rơi vào nhà cộng sản: xin đừng quá “đơn sơ” đem so sánh nhà tù Mỹ, Úc, Canada…với nhà tù cộng sản). Dù vậy trong loại nhà tù mang tính chất trả thù và tiêu diệt của Việt cộng đó, tôi nghĩ là thân xác cha Lý không cảm thấy đau khổ bằng tinh thần, với tâm trạng cô đơn, bị hiểu lầm và bị bỏ rơi, ngay cả bởi những anh em linh mục và một số chức sắc cao cấp của Giáo Hội Việt Nam. Tôi rất đau lòng khi nghe một số người, kể cả giáo sĩ, để biện minh cho thái độ “khôn ngoan và biết sống hợp thời” của họ đã không tiếc lời chỉ trích và kết án cha Lý. Những lời kết án này, so với lời buộc tội của loại tòa án rừng rú, như kiểu phiên tòa “bịt miệng” của Việt cộng, còn nặng nề hơn gấp bội. Về điểm này, tôi cảm thấy thương và xót xa cho cha Lý nhiều hơn.

Là một người Việt Nam, tôi tạ ơn hồn thiêng sông núi đã sản sinh ra một người con Việt Nam Nguyễn Văn Lý, người đã quên cuộc đời mình, nêu tấm gương anh dũng thách thức bạo quyền để nói SỰ THẬT về số phận dân tộc Việt Nam đang phải chịu đựng dưới chế độ vô nhân và quỷ quyệt nhất trong lịch sử dân tộc. Là một linh mục, tôi cảm thấy hãnh diện vì trong giai đoạn lịch sử khi mà Giáo hội phải sống dưới chế độ vô thần cộng sản, một chế độ quyết tâm tiêu diệt các tôn giáo, dưới hình thức này hoặc quỷ kế khác, có được một Linh mục Nguyễn Văn Lý hiên ngang nói lên SỰ THẬT về tình trạng của Giáo hội Công giáo và các tôn giáo nói chung, một điều mà ai cũng biết nhưng vì quá “khôn ngoan” nên đành im tiếng.

Ngày nay, nếu nhìn vào Giáo Hội tại quê nhà, chắc hẳn những người công giáo sẽ vui mừng hớn hở trước cảnh tượng trăm hoa đua nở. Các buổi lễ, các cuộc rước kiệu, các dịp hành hương, các Đại Hội thật rầm rộ. Các cơ sở tôn giáo, các cơ quan từ thiện, các dòng tu đã được chỉnh trang. Nhờ vào công khó của các linh mục và sự yểm trợ tài chánh của đồng bào hải ngoại, các nhà thờ được sửa sang, một số nhà thờ mới được xây lên, có nơi thật nguy nga tráng lệ, và chắc là còn nhiều nhà thờ khác đang nằm trong bản vẽ. Trải qua 4 thể chế chính trị, từ thời Pháp thuộc, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà rồi Đệ Nhị Cộng Hoà và chế độ cộng sản ngày nay, tôi có thể khẳng định chưa bao giờ Giáo hội Công Giáo Việt Nam “được mùa” và nở rộ như dưới chế độ cộng sản vô thần như hiện nay. Xin nói cho rõ, tôi không bao giờ phản đối nhu cầu sửa sang và xây nhà thờ tại Việt Nam, nhưng hiện tượng này làm cho tôi phải suy nghĩ.

Sự suy nghĩ của tôi rất đơn giản, dựa trên những gì tôi hiểu biết khi nghiên cứu về lịch sử Giáo hội. Bài học trong lịch sử Giáo hội cho tôi biết một điều mà tôi cho là một chân lý:

Thời đại nào mà Giáo hội bị bắt bớ, bị ngược đãi, giáo sĩ và giaó dân bị cầm tù, bị chém giết: Đó là lúc Giáo hội mạnh nhất. Ngược lại thời đại nào mà Giáo hội dựa vào các các thế lực chính trị và được chánh quyền ban cho nhiều quyền lợi, nhiều bổng lộc, nhiều ưu tiên: Đó là lúc Giáo hội sa đọa nhất.

Trong chiều hướng đó, tôi ước mong rằng bên cạnh những ngôi nhà thờ bằng gạch đá, được xây dựng khá nhiều giữa lòng một dân tộc nghèo khổ đang sống dưới chế độ đầy dẫy sự bất công, và chế độ đó luôn tìm khai thác mâu thuẫn giữa các tôn giáo, Giáo hội Việt Nam cần phải có một ngôi ĐẠI THÁNH ĐƯỜNG xây bằng SỰ THẬT. Ngôi Đại Thánh Đường này rất cần thiết cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam để soi đường chỉ lối cho đàn chiên đang sống dưới nanh vuốt của loài lang sói, biết đi theo đúng con đường của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nói: “Ta là Đàng, là SỰ THẬT và là Sự Sống”.

Tôi rất vui mừng được biết ngôi Đại thánh Đường của SỰ THẬT đang được một số người ra công xây dựng tại Việt Nam và Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, trong bao nhiêu năm tù tội dưới chế độ vô thần cộng sản, đã âm thầm làm công việc của người thợ cái.

Lễ Chúa Kitô Vua 2009

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ

Bài Xem Nhiều