We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 9 December 2009

Nghị Quyết 36: Xin hãy Cảnh Giác!

Điều III và IV của Nghị Quyết 36/CSVN:

III. Nhiệm vụ chủ yếu:

1- Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước.

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.

Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi... liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước.

Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học - công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ... ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống.

3- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Coi trọng các hình thức đầu tư, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ do người Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp thực hiện hoặc thông qua người thân trong nước thực hiện. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp do người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, xử lý các vi phạm theo đúng pháp luật, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, hợp tác với trong nước yên tâm, tin tưởng.

4- Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta.

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng.

7- Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8- Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú.

Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; tích cực, chủ động tăng cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con.

9- Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

IV - Tổ chức thực hiện:

1- Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban cán sự đảng ngoài nước và các ban, ngành liên quan, UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến rộng rãi nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

2- Ban cán sự đảng Chính phủ cụ thể hóa nội dung nghị quyết thành chương trình hành động, các cơ chế, chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện.

3- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự Đảng Chính phủ căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài.

4- Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí thư và Bộ Chính trị theo dõi việc thực hiện Nghị quyết. Ban Bí thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài./



Vạch trần âm mưu Nghị Quyết 36
của Bộ Chính Trị CSVN

Chúng tôi sẽ cố gắng phân tích nhằm khai quật tính bất hợp pháp, xảo trá, bịt bợm của Nghị Quyết 36, đồng thời tìm hiểu cặn kẽ những ý đồ, những âm mưu thâm độc trong bản nghị quyết này, phần còn lại đưa ra những đề nghị thảo luận nhằm vô hiệu hóa Nghị Quyết 36 của CSVN.
I. Những điểm chính trong Nghị Quyết 36 của BCT / ĐCSVN.
Ngày 26/03/2004, BCT / ĐCSVN phổ biến một văn kiện quan trọng “Nghị Quyết về công tác đối với người Việt ở nước ngoài” lấy tên Nghị Quyết 36. Trong hệ thống cai trị của Cộng Sản, đảng là trên hết và Bộ Chính Trị là cơ quan quyền lực cao nhất, do đó chúng ta hiểu Nghị Quyết 36 nầy do BCT / ĐCSVN ký là một nghị quyết quan trọng nhất từ trước tới bây giờ, và có thể nói là nghị quyết sinh tử của CSVN. Nghị Quyết 36 chia làm 4 phần:

Phần 1: Tình hình công tác đối với người Việt nước ngoài thời gian qua:
Đây là phần mà đảng CSVN đánh giá về người Việt đang sống ở nước ngoài, phần đánh giá này không lương thiện, vô trách nhiệm, tránh né tội lỗi, mưu đồ xấu xa nhưng lại làm ra vẻ nhân nghĩa: Vì rằng đảng CSVN ca ngợi lên tới tận mây xanh sự thành công vượt bực của cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại trên mọi phương diện, nhưng họ lờ đi vấn đề vì đâu mà có Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại với hai triệu bảy trăm ngàn người này. Có phải chăng là do sự cai trị dã man của chế độ độc tài toàn trị phi dân, phản tộc làm cho người dân không chịu nổi phải rời bỏ quê hương đi tìm tự do hay không? Hơn thế nữa, trong phần đánh giá này, BCT / ĐCSVN còn lập lờ, lấp liếm cho rằng “một số ít người (tại hải ngoại) đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ giữa nước sở tại với Việt Nam” – Thật là trâng tráo cho sự dối trá trắng trợn giữa ban ngày của BCT/ĐCSVN. Đây là sự thật mà BCT/ĐCSVN phải lắng nghe rằng: “Tại hải ngoại, một số rất ít bán rẻ lương tâm, vì tham tiền nên cam tâm làm tôi tớ cho bọn Cộng Sản Hà Nội phản dân, bán nước.... còn tuyệt đại đa số đồng bào tị nạn đều yêu tự do dân chủ nên cương quyết đấu tranh giải trừ chế độ độc tài CSVN” có đúng như vậy không, xin thưa quý vị!

Phần 2: Sau khi đã đánh giá tình hình người Việt ở nước ngoài, Nghị Quyết 36 đưa ra “chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt ở nước ngoài”. Đây là phần dùng mỹ từ để dụ dỗ. Những ai đã từng có kinh nghiệm đau thương và hiểu rõ bộ mặt thật gian manh của Việt Cộng thì khi đọc bản NQ 36 này sẽ cho ngay vào sọt rác. Nhưng những ai chưa từng là nạn nhân của sự lọc lừa gian ác của CSVN, đặc biệt những thành phần trẻ tại hải ngoại, thì Nghị Quyết 36 là “viên thuốc độc bọc đường”. Nào là: “thể hiện truyền thống đại đoàn kết dân tộc...xóa bỏ định kiến quá khứ trở về nguồn cội......xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, hướng về tương lai...văn minh thịnh vượng.....”. Thật là chúng không ngượng mồm khi nhìn lại những lời tuyên bố của Phạm Văn Đồng, Đinh Bá Thi, Đỗ Mười trước đây là: “Những thành phần trốn ra nước ngoài là thành phần du đãng, trộm cắp, xì ke, ma túy, đĩ điếm...phản quốc...theo chân đế quốc chống lại cách mạng, chống lại nhân dân....”

Phần 3: Đây là phần quan trọng gồm là những việc cụ thể mà CSVN cho là Nhiệm Vụ Chủ Yếu. Chúng bỏ tiền bạc, tung nhân lực, ra lệnh bọn Việt Cộng nằm vùng và tay sai nổi dậy trong cộng đồng hải ngoại nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở nước ngoài đem tiền về nước đầu tư, dụ dỗ chuyên viên trở về xây dựng đất nước. Dụ dỗ thế hệ con em của những người tị nạn Cộng Sản về hợp tác với CSVN. Nghị Quyết 36 bỏ tiền mua báo, mở đài, tổ chức những thú vui chơi, du lịch, trại hè, ca nhạc, dạy tiếng Việt để tiếp cận với thế hệ trẻ của người Việt tị nạn tại hải ngoại. Để rồi từng bước mua chuộc cảm tình, phân loại đối tượng....dụ dỗ con em của chúng ta về phục vụ cho CSVN qua chiêu bài “đại đoàn kết dân tộc”. Năm 1945, thế hệ cha anh của chúng ta vì lòng yêu nước, đã bị CSVN lợi dụng chiêu bài “độc lập dân tộc” dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Minh chống Pháp giành độc lập, khi kháng chiến thành công, Hồ Chí Minh và đảng CSVN ra tay giết sạch các tổ chức quốc gia: VNQDĐ, Đại Việt, Duy Dân, Cao Đài và Hòa Hảo. Và gần đây chúng dùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để dụ những thành phần trí thức làm công cụ cho CS xâm lăng miền Nam. Sau khi chiếm miền Nam tháng 4/1975, Cộng Sản Bắc Việt đã giết con đẻ của chúng là MTGPMN thê thảm như thế nào! Thì ngày nay chúng ta hãy lấy đó làm cái gương để để thấy rõ cái âm mưu “Đại đoàn kết dân tộc” của NQ36 này.

Phần 4: Nghị Quyết 36 của BCT /CSVN ra lệnh các cơ quan của Việt Cộng từ trong ra ngoài nước từ trên xuống dưới phải đem hết sức ra thi hành nghị quyết này..

II - Âm mưu Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị CSVN:

Thói thường, cách làm việc của CSVN rất thâm độc, chúng thường dùng chiến thuật “một viên đá giết nhiều con chim” - Chúng ta phải nhìn thấy ý đồ của bản nghị quyết này thì mới tìm được cách đối phó chính xác và hữu hiệu. Nghị quyết36 nhắm đến ba mục tiêu:

Thứ nhất: Âm mưu đối với đồng bào trong nước. Hiện nay trong nước càng ngày phong trào đấu tranh cho tự do tôn giáo, và đòi hỏi dân chủ lan rộng trong quần chúng. Một trong những niềm tin của những chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ trong nuớc là cộng đồng người Việt tị nạn tại Hải Ngoại. Nghị Quyết 36 của CSVN lừa dối với đồng bào quốc nội rằng: Cộng Đồng người Việt hải ngoại cũng được đảng và nhà nước xem như bộ phận của dân tộc và đã thuộc thuộc đảng và nhà nước quản lý rồi đấy. Từ đó sự nghi ngờ - nếu không muốn nói là thất vọng của đồng bào trong nước đối với người Việt hải ngoại - Đây là đòn cân não về chiến tranh tâm lý đối với đồng bào quốc nội, và nhất là làm mất tinh thần các chiến sĩ đang đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước.

Thứ hai: Âm mưu đối với quốc tế, nhất là đối với Hoa Kỳ: Theo tài liệu, vào ngày 02/10/2003, tại Washington DC, một buổi hội thảo giữa phái đoàn của VC do Nguyễn Duy Niên cầm đầu và phái đoàn ngoại Hoa Kỳ. Trong buổi hội thảo này, đài BBC đã phỏng vấn ông Frederick Brown rằng: “Ông có nghĩ là chính phủ Việt Nam (tức VC) rất muốn cải thiện quan hệ ngoại giao với Washington một phần vì họ không thể làm điều tương tự trong quan hệ với cộng đồng người Việt ở Mỹ, mà nhiều người trong đó có quan điểm chống cộng?” - ông Brown trả lời: “Tôi không đồng ý với tiền đề của anh. Trong buổi hội thảo phía Hoa Kỳ đã nói rõ rằng: một vấn đề quan trọng cho mối liên hệ tốt giữa hai nước thì cộng đồng người Việt là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong tiến trình bang giao. Thật tế, Việt kiều một năm gởi về hơn hai tỉ dollars, Việt kiều ở Mỹ chiếm hơn một nửa trong số du khách vào Việt Nam. Vì thế tôi không nghĩ là chính phủ Việt Nam lại không chịu cải thiện bang giao với cộng đồng người Việt hải ngoại”.
Nhìn đoạn đối thoại ngắn ngủi nhưng vô cùng quan trọng này, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích nói cho Hoa Kỳ biết rằng, chúng tôi đã làm hết sức mình để bắt tay và cộng tác với người Việt hải ngoại, nhưng họ là những người đầy hận thù, không chịu hợp tác. Vậy thưa quý “ngài” tại Washington lỗi không phải chúng tôi, từ đó CSVN có thể bang giao với Mỹ mà bất chấp sự chống đồi của người Việt Hải Ngoại.

Thứ ba: Âm mưu đối với người Việt tị nạn hải ngoại: Nhằm mục đích chiêu dụ người Việt hải ngoại để kiếm lợi cho chúng về chất xanh và chất xám. Nhằm mục đích vô hiệu hóa sự sự đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền trong nước, nhằm mục đích làm tê liệt sự yểm trợ của người Việt hải ngoại đối với các phong trào đấu tranh dân chủ và nhân quyền trong nước. Nhằm mục đích tiếp nối Quyết Định 210 do Phan Văn Khải ký vào năm 2001 trong mục tiêu chia rẽ cộng động người Việt Hải Ngoại. NQ 36 của BCT /CSVN đã tung ra những chiến thuật trường kỳ và đoản kỳ như sau:
- “Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt nam ở nước ngoài”: Đây là hình thức tổ chức tinh vi tạo cơ hội tiếp cận với những thành phần sinh viên học sinh, trí thức trẻ tại hải ngoại chen vào những đảng viên cộng sản du học sinh qua những hình thức vui chơi gây cảm tình rồi từ từ cảm hóa giới trẻ về thăm quê hương, tham quan đất nước, khi cá đã cắn câu ...thì đã muộn, trở nên tôi tớ cho bọn cộng nô..... và kể cả bậc cha mẹ cũng không cản nỗi.
- “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy tiếng Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ...”: Kế hoạch này là manh nha đem văn hóa nô dịch Việt Cộng và tư tưởng làm tay sai của Hồ Chí Minh đầu độc các em còn non nớt trong các lớp dạy Việt Ngữ trong cộng đồng người Việt hoặc trong các trường dạy song ngữ tại Mỹ.
- “Tổ chức các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ đồng bào....Tạo điều kiện cho các vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu... Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa,..... du lịch về cội nguồn”: Đây là trò bịp bợm giao lưu văn hóa, chúng đã từng làm trước đây nhưng thất bại. Nghị Quyết 36 này CSVN sẽ ra sức để thực hiện công tác này.
- “Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin tuyên truyền...Đầu tư và hỗ trợ kinh phí các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và internet...”: Đây là âm mưu với sự quyết tâm xâm nhập các cộng đồng người Việt hải ngoại qua những phương tiện truyền thông, báo chí và tin học.
- “Bên cạnh những âm mưu, mang lời đường mật, mang tiền bạc và quyền lợi để dụ dỗ cộng đồng người Việt hải ngoại, BCT / ĐCSVN vẫn giữ thói hăm dọa khủng bố những người Việt ở hải ngoại rằng: “...Có biện pháp đấu tranh phù hợp với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có cộng đồng người Việt đang sống hoặc gậy chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”.

III - Phương pháp đối phó và những đề nghị thảo luận:

Trước hết: chúng ta lên án Nghị Quyết 36 “tự cho” có trách nhiệm và hành sử đối với người Việt Nam ở nước ngoài là “vi phạm công pháp quốc tế” tức là xâm phạm vào nội bộ của quốc gia khác. Bởi vì những người Việt Nam sống xa tổ quốc hầu hết đã trở thành công dân ở quốc gia họ đang cư ngụ. Hơn thế nữa, nội dung bản Nghi Quyết 36, điều 7 nói rằng “.....có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích dân tộc.......” (Ý nói là những người đấu tranh cho tự do dân chủ) Những ngôn từ đó mang tính hăm dọa, khủng bố. Vậy thì với tư cách là những công dân Hoa Kỳ, toàn thể người Việt tại Mỹ ký thỉnh nguyện thư lên bộ Tư Pháp và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để khiếu nại về những hành vi bất hợp pháp của CSVN. Đồng thời báo cho cơ quan FBI và sở An Ninh Nội Địa để điều tra theo dõi những thành phần cộng sản và tay sai đang hoạt động tại hải ngoại.

Thứ hai: để đánh tan âm mưu chia rẽ giữa đồng bào trong nước và người Việt Hải Ngoại của Nghị Quyết 36: Chúng ta cần củng cố niềm tin cho đồng bào quốc nội bằng cách vận dụng các phương tiện truyền thông quốc tế (RFA, VOA, RFI), qua hệ thống Paltalk, qua hệ thống e- mail, và qua 300,000 người về thăm quê hương hằng năm hãy nói cho đồng bào trong nước rằng đồng bào Hải ngoại luôn luôn sát cánh với 80 triệu nhân dân Việt Nam trong nước đấu tranh giải trừ chế độ độc tài bán nước CSVN. Để đồng bào trong nước tin tương hơn, chúng cần chứng minh bởi những việc làm cụ thể hỗ trợ mạnh mẽ cho các phong trào đấu tranh tự do tôn giáo, các chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam sớm được thả tự do.

Thứ ba: Trong lãnh vực dậy tiếng Việt cho con em tại hải ngoại, bậc phụ huynh cần xem xét các nguồn sách giáo khoa tiếng Việt trong các trường dạy Việt ngữ. Tại thủ đô tị nạn Little Sai Gòn, Trung Tâm Việt Ngữ là trung tâm dạy tiếng Việt đứng đắn duy trì văn hóa Việt, và truyền thống Việt. Dĩ nhiên đây là Trung Tâm mà Việt Cộng nằm vùng nhắm vào đánh phá để chúng sẽ thay thế bằng những trung tâm dạy sách của Việt Cộng cung cấp, hoặc thầy giáo của Việt Cộng trả tiền.... Đặc biệt các chương trình song ngữ trong các trường tiểu, trung và đại học. Chúng ta luôn theo dõi và can thiệp ngay khi các trường ấy dạy sách tiếng Việt do CSVN tặng hoặc những nguồn tài liệu giảng dạy từ Việt Cộng đưa ra.

Thứ 4: Trong lãnh vực giao lưu văn hóa, đây là trò nhập nhằng xóa mờ lằn ranh giữa người chống Cộng và Việt Cộng đồng thời gây chia rẽ giữa cộng đồng người Việt. Chúng ta cương quyết chống lại những “biểu hiện” giao lưu văn hóa, tẩy chay các buổi trình diễn của phái đoàn Văn Hóa Vận Việt Cộng gởi sang. Gởi thỉnh nguyện thư đến các địa điểm tổ chức đòi hủy bỏ, biểu tình phản đối.......Đặc biệt chúng ta nên có chương trình tạo cơ hội cho những người nghệ sĩ trong nước được tị nạn tại Hải Ngoại và thuyết phục họ đấu tranh cho tự do dân chủ.

Thứ 5: Trên phương diện truyền thông, Nghị Quyết 36 công khai, nói thẳng là tung tiền mua báo, lập đài phát thanh, truyền hình và mạng Internet. Trên lãnh vực này, bước đầu CSVN không dám công khai ra mặt, chỉ đứng núp đàng sau các cơ quan truyền thông mà chúng đã bỏ tiền mua chuộc để đưa tin mập mờ đánh lận con đen, lũng đoạn cộng đồng, giở trò bỉ ổi cố hữu bới lông tìm vết, bôi nhọ những thành phần đấu tranh có uy tín, gây mâu thuẫn trong cộng đồng làm cho đồng bào hải ngoại mất niềm tin vào các tổ chức đấu tranh. Khi điều kiện thuận lợi, CSVN sẽ ra báo, mở đài hoặc mua lại các báo hay đài phát thanh truyền hình có sẵn. Nói như thế, không có nghĩa là báo hay đài nào chúng ta cũng nghi ngờ, chúng ta hoan nghênh sự đóng góp của tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí đã không ngớt đăng tải những tin tức chân thật, phản ảnh tinh thần đấu tranh cho tự do dân chủ, hỗ trợ về mặt truyền thông cho các tổ chức đấu tranh chân chính, và phục vụ thông tin, văn hóa cho cộng đồng hải ngoại. Tuy nhiên, khi Nghị Quyết 36 đã ban hành và thách thức thì đồng bào hãy cảnh giác, theo dõi cung cách hành sử và nội dung các bài được loan tải, nhận định chính xác và có thái độ rõ rệt nếu thấy cơ quan truyền thông đó có nội dung làm tay sai cho Cộng Sản. Ví dụ như sự việc mở diễn đàn để bôi bác việc làm chính nghĩa của ông Nguyễn Hữu Luyện trong vụ kiện WJC là việc làm có lợi cho sự tuyên truyền của CSVN, xin đồng bào có thái độ thích ứng. Việc phát động chiến dịch dẹp đài phát thanh Quê Hương Việt Nam của Việt Cộng núp dưới bóng chùa Việt Nam là việc làm chính đáng. Chúng ta hoan nghênh việc làm tích cực này của các chiến hữu ngày đêm quyết tâm biểu tình chống đài Việt Cộng này.

Thứ sáu: Hiện nay, CSVN chưa dám ra mặt tại hải ngoại, chúng dùng những tổ chức bên ngoài có vẻ ái hữu, chống cộng để dễ trà trộn vào cộng đồng và để dễ dàng tổ chức các trại hè, các buổi văn nghệ, các lớp Việt ngữ....để thực hiện những điều trong Nghi Quyết 36. Mặt khác VC sẽ chủ động tiếp cận với những đoàn thể chống Cộng như trong nghị quyết có đoạn: “mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, kể cả những người có định kiến, mặc cảm với nhà nước va chế độ ta..” . Chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác và giữ vững lập trường kiên định và tin tưởng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ nhất định thắng lợi.

Trước những chiến thắng mà người Việt hải ngoại đã đạt được như chiến dịch “cờ vàng ba sọc đỏ” biểu tượng cho người Việt tị nạn yêu chuộng tự do dân chủ. Trước sự lớn mạnh và quyết tâm đấu tranh của người Việt hải ngoại trên mọi lãnh vực. CSVN nhất định phải tìm đủ mọi cách để đánh phá, Nghị Quyết 36 là bằng chứng CSVN muốn “làm kẻ cả, làm trùm thiên hạ”. Mặc dù các Ủy Viên Trong Bộ Chính Trị CSVN có quyền lực nhất và là những người nhiều thủ đoạn nham hiểm, nhưng ý đồ không lương thiện và thiếu thực tế vì đưa ra nghị quyết 36 trong một môi trường hoạt động bị động, việc thức hiện nghị quyết 36 vô cùng hạn chế nếu không muốn nói là ngoài tầm tay.

--------------------
Nghị Quyết 36: Xin hãy Cảnh Giác!

LTS: Bài viết dưới đây của Luật Sư Đỗ Thái Nhiên, một bình luận gia chính trị quen thuộc của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Các bài tham luận và bình luận của ông thường được đăng tải trên rất nhiều tờ báo Việt Ngữ rải rác trên toàn nước Mỹ. Đây là bài viết đầu tiên của một loạt bài nhằm phân tích Nghị Quyết 36 của CSVN, và hy vọng những nhận định của Luật Sư Đỗ Thái Nhiên sẽ giúp cho độc giả một cái nhìn rốt ráo với tinh thần của bản nghị quyết này. Chúng tôi cũng sẽ đăng tải những cách nhìn khác của các cây bút khác, để độc giả được rộng đường dư luận.
Trên đấu trường quân sự, muốn đánh chiếm căn cứ A, nhiều khi vị chỉ huy chiến trường phải điều quân quấy nhiễu các căn cứ B, C và D, nhằm đánh lạc hướng phòng thủ của đối phương. Sau giai đoạn quấy nhiễu cần thiết, một cách bất ngờ, vị chỉ huy kia ra lệnh cho các đơn vị thuộc quyền tập trung toàn bộ hỏa lực, tấn công dứt điểm căn cứ A. Trong trường hợp này, các căn cứ B, C và D là DIỆN. Căn cứ A chính là ĐIỂM.
Ngày 26 tháng 03 năm 2004, Bộ Chính Trị Đảng CSVN đã ra “nghị quyết số 36-NQ/TƯ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị quyết này đề cập đến rất nhiều vấn đề khác nhau: nào là người Việt Nam ở nước ngoài chưa thực sự “gắn bó giúp đỡ lẫn nhau”, nào là chính sách “đại đoàn kết” của đảng CSVN, nào là người Việt Nam ở nước ngoài là “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, nào là và nào là... Giữa cảnh rừng “nào là” kia đâu là DIỆN, đâu là ĐIỂM? Đi tìm ĐIỂM trong trường hợp này tức là chúng ta cần cẩn thận khảo sát toàn bộ nội dung của nghị quyết 36.
Nghị quyết 36 được chia ra thành bốn phần rõ rệt:
PHẦN THỨ NHẤT:
“Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua” (nguyên văn chữ dùng của CSVN).
Nghị quyết 36 ghi nhận: “Hiện nay có khoảng 2,7 trịêu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghịêp phát triển”. Nghị quyết 36 viết tiếp rằng: người Việt Nam ở nước ngoài “có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam” và rằng: “một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế khoa học ở nước sở tại”.
Đối với sự việc cộng đồng Việt Nam hải ngọai đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ nhân quyền, nghị quyết 36 hằn học lên án: “Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. Dưới mắt nhìn của CSVN: tiềm năng vận động ngoại giao của cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại rất mạnh mẽ, đồng thời quyết tâm đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng này cũng rất gay gắt.
Sự thể vừa nói đã buộc CSVN đối diện với các nan đề ngoại giao liên hệ tới sinh mệnh chính trị của chế độ độc tài. Nhằm giải trừ nan đề này, từ vài năm qua, CSVN đã tuyên truyền rầm rộ về chủ trương và chính sách “đổi mới” của đảng CS đối với người Việt hải ngoại. Thế nhưng theo sự đánh giá của nghị quyết 36 chủ trương và chính sách chiêu dụ kia “chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ” (nguyên văn).
PHẦN THỨ HAI:
“Chủ trương và phương hướng công tác đối với Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới”.
Những điều được gọi là “chủ trương và chính sách” của CSVN nói ở phần một chỉ là những suy nghĩ và việc làm vá víu, đôi khi tiền hậu bất nhất. Phần hai của nghị quyết 36 mới chính thức là nhận thức toàn diện và triệt để của Bộ Chính Trị Đảng CSVN đối với sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại. Các nhận thức đó như sau:
Một là: “Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài ... đều được tập họp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Ở đây nghị quyết 36 tuyệt đối KHÔNG NHẮC TỚI NHỮNG NGƯỜ KHÁC CHÍNH KIẾN với đảng CSVN. Như vậy đoàn kết chỉ có nghĩa là đoàn kết sau lưng đảng CS.
Hai là: “Người Việt Nam ở nước ngoài là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta và các nước”. Vì vậy nghị quyết 36 khẳng quyết “đảng và nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà”.
PHẦN THỨ BA:
"Nhiệm Vụ Chủ Yếu"
Phần này là phần phương pháp luận của nghị quyết 36. Nhằm biến cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại trở thành công cụ ngoại giao cho chế độ CSVN, nghị quyết 36 hoạch định hai phương pháp chủ yếu:
* PHƯƠNG PHÁP CỦ CÀ RỐT: phương pháp này gồm bốn củ cà rốt chính: _ CÀ RỐT MỘT: Tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Hải Ngoại về thăm Việt Nam _ CÀ RỐT HAI: Đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt dành cho người Việt ở nước ngoài đặc biệt là thế hệ trẻ. _ CÀ RỐT BA: Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác phủ dụ bằng thông tin, tuyên truyền.. Hỗ trợ việc ra báo viết, mởi đài phát thanh ở nước ngoài. Nói chung là TRUYỀN THÔNG QUỐC DOANH của CSVN sẽ được “XUẤT KHẨU” ra hải ngoại. _ CÀ RỐT BỐN: Mời gọi người Việt Hải Ngọai “làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương cửa Việt Nam với nước ngoài”. Hoặc: “Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động, vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống”.
Nói chung, nghị quyết 36 quyết tâm đưa đẩy người Việt Nam Hải Ngoại rơi vào NHIỆM VỤ TAY CHÂN đắc lực cho guồng máy ngoại giao của CSVN. Nhớ rằng dù là nhiệm vụ đắc lực nhưng mãi mãi chỉ là nhiệm vụ tay chân mà thôi.
* PHƯƠNG PHÁP CÂY GẬY: Trong trường hợp phương pháp củ cà rốt tỏ ra không hữu hiệu: cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại vẫn kiên trì và mạnh mẽ đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam, nghị quyết 36 buông lời hăm dọa: đảng và nhà nước sẽ “có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam”. Lời đe dọa thật ngắn, thật thoáng qua nhưng bóng dáng của những tên đặc công khủng bố đã hiện ra rất rõ nét. Sự thể này chứng tỏ mãi cho đến năm 2004, CSVN vẫn còn là người khách cực kỳ xa lạ đối với nền văn minh dân chủ.
PHẦN THỨ TƯ:
Tổ Chức Thực Hện.
Phần này là phần phân chia nhiệm vụ. Từ trung ương đảng, chính phủ đến tất cả cấp ủy đảng địa phương đều phải nghiêm chỉnh và tích cực thực thi nghị quyết 36.
Sau khi khảo sát toàn bộ nội dung của nghị quyết 36, chúng ta nhận ra rằng từ cách đặt vấn đề, nhận thức vấn đề, đến phương pháp luận của vấn đề, tất cả đều NHẰM MỤC ĐÍCH BIẾN CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI THÀNH CÔNG CỤ CỦA CSVN TRÊN BANG GIAO QUỐC TẾ. Đó chính là ĐIỂM của nghị quyết 36. Những lời lẽ ca tụng người Việt hải ngọai yêu nước đi kèm với sự diễn tả thái độ ân cần của CSVN đối với những người sống xa quê hương chỉ là DIỆN.
Kỹ thuật vận dụng ĐIỂM và DIỆN trong nghị quyết 36 nhằm chủ đích tạo cho người Việt Nam có ảo tưởng rằng nghị quyết 36 là sản phẩm của tình thân mến giữa đồng bào với đồng bào, nó không hề ẩn chứa trong nó tham vọng biến người Việt hải ngọai trở thành những tay sai ngọai giao. Bây giờ câu chuyện ĐIỂM và DIỆN đã được giải bầy.
Sự việc CSVN bị bắt buộc phải nhìn nhận vai trò ngoại giao quan trọng của cộng đồng VN hải ngọai đã làm cho chúng ta liên tưởng tới quốc gia VN với một cấu trúc vô cùng đặc biệt. Cấu trúc đặc biệt đó được biện giải như sau: trước kia, VN chỉ có thể thi hành tác vụ ngoại giao thông qua hệ thống tòa đại sứ. Hệ thống này chỉ là những VỊ KHÁCH làm việc trên lãnh thổ của các quốc gia mà VN bang giao. Với tư cách người khách, năng quyền ngoại giao của hệ thống tòa đại sứ rất hạn chế.
Sau 30 tháng 4, 1975, cộng đồng VN hải ngoại thành hình tại hầu hết những quốc gia giầu mạnh nhất thế giới. Thành viên của cộng đồng này đều mang quốc tịch của quốc gia sở tại. Do đó người Việt hải ngoại có năng quyền của người vừa phải đóng thuế, vừa có quyền ứng cử và bầu cử. Họ thực sự là CHỦ NHÂN của quốc gia mà họ sinh sống. Họ có khả năng thông qua các vị dân biểu của họ để chấp thuận hay bác khước mọi đề nghị của Bộ Ngoại Giao CSVN.
Sinh mệnh chính trị của một chế độ bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với hai khối công việc: NỘI VỤ và NGỌAI VỤ. CSVN cưỡng chíêm NỘI VU. Hệ thống cộng đồng VN hải ngọai càng ngày càng có khả năng nắm giữ vững vàng CHÌA KHÓA NGOẠI VỤ. Từ đó quốc gia VN ngày nay vận hành theo một cấu trúc đặc biệt gọi là CẤU TRÚC MÔI VÀ RĂNG. MÔI là VN quốc ngoại. RĂNG là VN quốc nội. VN chỉ thực sự hạnh phúc và thịnh vượng chừng nào MÔI và RĂNG hợp tác mật thiết với nhau, thông qua một gạch nối hợp lý.
Gạch nối hợp lý kia chẳng là gì khác hơn là chế độ tự do dân chủ. Thay vì thành tâm xây dựng tự do dân chủ, CSVN đang sử dụng nghị quyết 36 để tạo kết hợp cưỡng ép và gian dối giữa môi và răng. Nghị quyết 36 rõ ràng là một sản phẩm chính trị tật nguyền. Nó bao gồm những lời dụ dỗ vụng về cộng với các biện pháp đe dọa vu vơ. Hơn thế nữa, nghị quyết 36 còn rõ ràng là bức tranh minh họa trình độ ấu trĩ tệ hại của CSVN trên địa bàn bang giao quốc tế. Với tư cách là những thành viên của VN quốc ngoại, người Việt hải ngoại không thể không đặt câu hỏi: chúng ta nên ứng xử như thế nào đối với nghị quyết 36? Câu trả lời nằm ở nội dung của các bài viết kế tiếp.

LS. ĐỖ THÁI NHIÊN


-----------------------



VẠCH MẶT CHỈ TIÊN LOẠI CA SĨ HÈN

Tổ cha thằng Hoài mặt mo
Linh hèn bái Cộng trở cờ quay lưng
Van lơn qùy lậy thẳng thừng
Khúc xương béo bở gậm chung lũ hèn
Chế Linh, Tuấn Ngọc, Ý Lan
Lê Thu, Trịnh Hội hai mang hại đời
Đức Huy, dại gái chịu chơi
Cùng anh Evip Phương trời tối thui
Phạm Duy nhạc sỡi đười ươi
Duy Quang Thái Thảo người đời rẻ khinh
Chí Tài, Trường Vũ , Phương Dung
Cùng nhiều tên nữa lừng chừng hai mang
Rảnh rang post tiếp rõ ràng
Tẩy chay chúng nó khi sang bên này
Đồng bào đừng có thơ ngây
Ma cô đĩ diễm mặt dầy cho dze.
Minh Nguyễn

Thêm một nghệ sĩ đã trưởng thành từ trong cộng đồng tỵ nạn VN ở hải ngoại "đi hàng hai".
Ngán ngẫm thật!
luuvongvietnam

Giải pháp nào để đưa dân tộc sớm thoát khỏi vòng đen tối?

Dân chủ hóa hay nội chiến, sự thực khả thi hay tiên đoán mơ hồ?


Đất nước hiện tại đang trong sự cai trị độc quyền của Đảng Cộng sản, mặc dù được tiếng là thống nhất, nhưng chỉ phần nào về mặt lãnh thổ địa lý, trong thực tế thì bị nhiều vấn đề chia cách, từ tâm thức người dân, cho đến cuộc sống chênh lệch giàu nghèo, an sinh xã hội không có cho giới nghèo khó, nếp sống thành thị và thôn quê như hai thái cực đầy dẫy những hố sâu ngăn cách giàu có, nghèo hèn, trí thức và quê mùa. Đây là nói về mặt nội tình đất nước, còn mặt ngoài thì đang bị nước láng giềng Trung Hoa khống chế, đe dọa lấn chiếm nhiều mặt.

Đối với tình hình Việt Nam hiện tại, sở dĩ Đảng Cộng sản không thể nào thực thi được việc dân chủ hóa là bởi 3 nguyên do chính yếu sau đây:

1. Lòng người tan hoang chia rẽ


Mang tiếng là thống nhất, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra cuộc chiến tranh tương tàn, lại không muốn hàn gắn vết thương của dân tộc sau hơn 3 thập niên hậu chiến.

Hòa bình, thịnh vượng không thể xây dựng bằng bạo lực, súng đạn và chiến tranh. Cộng sản Việt Nam thống nhất đất nước chỉ ở bề mặt hình thức, còn thực chất nhân tâm băng hoại, ly tán hơn cả thời kỳ 1954 trước chiến tranh. Bằng chứng là Đảng Cộng sản Việt Nam ngày hôm nay nhìn đâu cũng vẫn còn thấy “các thế lực thù địch!”, thì làm sao dám trao trả chủ quyền lại cho người dân để mọi người thực sự có được quyền tự do, bình đẳng trong việc thực thi dân chủ? Trao trả chủ quyền cho toàn dân như Nguyễn Minh Triết đã nói đến việc bãi bỏ điều 4 Hiến pháp có nghĩa là đảng cộng sản sẽ “tự sát!” Như vậy là cộng sản chỉ vì quyền lợi phe nhóm, đảng phái mình, chớ nào nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc?

Đa đảng chính là sự hàn gắn những tan hoang chia rẽ, hàn gắn lại vết thương của dân tộc sau bao nhiêu tàn phá của chiến tranh.

2. Cơ chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập không xây dựng trên nền tảng dân chủ


Việt Nam sẽ không bao giờ dân chủ hóa được khi chưa có đa đảng, chưa có tự do bầu cử, chưa có một Quốc hội của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, ban hành Hiến pháp mới (Quốc hội lập hiến) để có được một thể chế chính trị xây dựng từ nền tảng tự do dân chủ thực sự.

Hai nhận định chính yếu trên là những yếu tố nội tại kềm hãm chiều hướng phát triển của dân tộc. Thêm nhận định thứ 3 dưới đây là yếu tố ngoại tại có thêm tác động cản trở tiến trình phát triển, dân chủ hóa đất nước.


3. Yếu tố ngoại tại: Bắc Kinh kềm chế

“Diễn biến hòa bình” hay “sức mạnh của nhân dân” đều là những điều cộng sản Việt Nam không muốn thấy xảy ra. Vì sự sống còn, Đảng Cộng sản Việt Nam phải dựa thế và đi theo mô hình cai trị độc tài, độc đảng như Bắc Kinh, vô hình chung đã coi Tàu như “kim chỉ nam”, chịu làm học trò yếu thế, thần phục và rơi vào quỹ đạo kềm tỏa của Bắc Kinh. Mọi việc do đó giẫm chân tại chỗ, tiến trình dân chủ hóa Việt Nam coi như bế tắc, chỉ có lợi cho dã tâm bành trướng của Đại Hán, mà bằng chứng cụ thể là vấn đề biên giới, Biển Đông, bauxite, uranium… rồi việc văn hóa phẩm và hàng hóa Tàu tràn ngập thị trường Việt Nam.

Chúng ta thử ngẫm xem. Sở dĩ nhà Lý và nhà Trần – 2 triều đại vẫn được xem là huy hoàng nhất trong lịch sử dựng nước của dân tộc – tạo cho Đại Việt trở nên cường quốc, uy thế lừng lẫy trong suốt nhiều thế kỷ là nhờ phần lớn vào triết lý chính trị thấm đẫm tinh thần Phật giáo đầy khai phóng (phá chấp, dung hợp được cả Phật, Lão, Khổng), tách rời đường hướng trị quốc ra khỏi hệ tư tưởng Khổng giáo độc tôn chỉ có lợi cho việc cai trị của nhà Hán muốn bành trướng, đồng hóa tất cả dân tộc Bách Việt. Chính nhờ tinh thần Phật giáo góp phần khai phóng mà Đại Việt thoát ly được quỹ đạo Hán hóa của Trung Hoa. Phật giáo là một hệ tư tưởng rất mới mẻ vào thời đó. Người mang đầy tâm huyết, dũng cảm, dám đứng lên dùng sức mạnh tinh thần đẩy lùi bóng đêm đen tối ảnh hưởng của lịch sử cả ngàn năm bị Hán hóa là Thiền sư Vạn Hạnh, quân sư cho triều Lý, khởi công đầu đặt nền móng, mở ra được sinh lộ mới cho dân tộc.

Cái mới trên là thời đại Lý, Trần. Còn ngày nay, chúng ta sẽ tìm được cái mới nào? Có phải lý tưởng Tự do, Dân chủ, Nhân quyền được phản ảnh đầy đủ nơi bản Tuyên ngôn và Công ước Quốc tế về Nhân quyền của LHQ, là sản phẩm trí tụê chung của cả nhân loại? Nếu đúng thế, thì con đường thuận hảo thế giới đã sẵn chọn, có lý do gì mà người Việt Nam chúng ta từ chối, không lấy làm sách lược dựng nước trong thời đại mới này?

Tách rời quỹ đạo kềm chế của Bắc Kinh là điều trước tiên đòi hỏi những người yêu nước phải làm. Thời kỳ Bắc thuộc cả ngàn năm, nếu không có Ngô Quyền bày trận tại Bạch Đằng Giang tiêu diệt quân Nam Hán thì đất nước dân tộc không thể có thời kỳ tự chủ, mặc dù sau đó xảy ra cuộc nội chiến, mà cao điểm nhất là thời Đinh Bộ Lĩnh với 12 sứ quân. Nhưng thà tập trung vào nội trị, thống nhất nhân tâm (nhân hòa), mở ra con đường xây dựng phát triển đất nước (cho các triều đại Lê, Lý, Trần… về sau) vẫn còn hơn sống trong cảnh bắc thuộc, nô lệ, lầm than, tiếp tục bị Hán hóa để dần đi đến mất nước!

Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tế cũng đầy dẫy phe cánh tranh giành quyền lực, quyền lợi, dù nội chiến chỉ mới lan tới xã hội như các vụ án Tổng cục 2, Năm Châu, Sáu Sứ, Năm Cam, PMU18 v.v…, chứ chưa lan ra chiến trường (điều này không có nghĩa là không thể xảy ra trong tương lai!) Chế độ tràn ngập những tham quan kết bè, hống hách, nhũng lạm khắp nơi. Các căn bệnh bất trị này hẳn có khả năng dẫn đến nội chiến còn thảm khốc cho Việt Nam nhiều lần hơn những lo ngại về một chế độ dân chủ đa đảng, có tam quyền phân lập, có hiến định chế tài mọi đảng phái, cá nhân đi ngược lại quyền lợi của quốc gia dân tộc.

Giải pháp nào để đưa dân tộc sớm thoát khỏi vòng đen tối? Có phải cứ giữ mãi chế độ khuyết tật cộng sản hiện tại để luôn bị Bắc Kinh kềm chế, Hán hóa, sang đoạt dần chủ quyền đất nước một cách từ từ, để rồi… mất nước? Hay phải can đảm viết lại trang sử mới trên con đường dân chủ phát triển, khi cả dân tộc cùng đồng lòng (hay ít ra cũng đa số như hiện nay) đòi đảng cộng sản trao trả chủ quyền lại cho toàn dân? Giải quyết được 3 vấn nạn kể trên thì trở ngại cũng đã san bằng đi nhiều, mở được lối đi thênh thang nhiều hứa hẹn cho Việt Nam tốt đẹp hơn, hội nhập vào trào lưu văn minh tiến bộ cùng thế giới tự do dân chủ. Khi ấy, còn có chỗ nào cho nội chiến nảy nở mà lo ngại? Hơn nữa, những lo ngại về nội chiến chỉ là “điểm” phòng xa, dự đoán. Nội chiến không thể lũng đoạn tiến trình dân chủ phát triển “toàn diện” được, mà ngược lại, chắc chắn sẽ bị xóa sổ theo thời gian.



© 2009 Phạm Thiên Thơ

Con Người Thật Của TT. Thích Trí Quang


Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại Học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa một thời gian cho nên một số sinh viên rảnh rỗi, kéo nhau đi tham dự những cuộc biểu tình. Dĩ nhiên trong bối cảnh đó, tôi cũng như hầu hết số sinh viên cùng trang lứa hiểu biết khá nhiều về tình hình của đất nước lúc bấy giờ. Cái kỳ lạ của dân Sài Gòn là dù tiếng súng nổ ầm ầm, xe tăng, quân đội ào ào tấn công vào Dinh Độc Lập, Thành Cộng Hòa (căn cứ của Liên Minh Phòng Vệ Phủ Tống Thống) như thế, nhưng hễ lơi tiếng súng một chút là kéo nhau ra xem, chẳng sợ tên bay đạn lạc gì cả! Tôi cũng nằm ở trong số dân Sài Gòn, đám thanh niên, sinh viên “điếc không sợ súng” này. Chính vì thế mà tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào, bà con buôn bán ở Chợ Bến Thành đã đem cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy Dù khi đài phát thanh loan báo anh em Ô. Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Đã chứng kiến cảnh, đồng bào, thanh niên Sài Gòn dùng giây kéo xập tượng Hai Bà Trưng dựng ở Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ tượng đứt lìa và được đám đông đưa lên chiếc xích-lô, đẩy quanh đường phố, reo hò như một đám rước. Sở dĩ có chuyện này là vì trước đó lâu lắm, người dân đã bàn tán, đây là tượng của hai chị em bà Ngô Đình Nhu chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với tóc con trai (demi-garcon) chải tém và áo hở cổ (decolleté) - kiểu áo quen thuộc của bà Ngô Đình Nhu. Qúy vị, qúy bạn có thể nhìn lại tấm hình lịch sử này ở nơi trang 34 của cuốn The Eyewittness History of the Vietnam War của George Esper and The Associated Press xuất bản Tháng 11,1983 tại Hoa Kỳ, và nơi trang 36&37: Hình ảnh một rừng thanh niên, sinh viên Sài Gòn bu quanh hàng rào Dinh Độc Lập, reo hò hoặc thò qua bắt tay binh sĩ VNCH là những đơn vị đầu tiên đã tấn công vào dinh và lật đổ chế độ.

Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên của các ông tướng và biến cố Miền Trung, năm 1967 Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa ra đời, và sau khi liên danh hai Ô. Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa TT. Thích Tâm Châu và TT. Thích Trí Quang khiến Phật Giáo phải chia đôi… thì chuyện đấu tranh của Phật Giáo năm 1963, chuyện gia đình Ô. Diệm cũng đã trở thành dĩ vãng của lịch sử. Hơn thế nữa áp lực quân sự lúc này rất nặng, đời sống của dân chúng quá khó khăn, với sự hiện diện của hơn 500,000 quân đội Mỹ tại Miền Nam, không ai còn rảnh rỗi “hưởn” để đào sới lại lịch sử năm 1963 và hai anh em Ô. Ngô Đình Diệm cũng đã yên nghỉ ở Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Cho tới ngày 30-4-1975, thật tình tôi chưa hề đọc hoặc xem qua một tài liệu, một bài báo nào nói rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ hoặc đảng viên đảng CSVN. Rồi khi khối 1 triệu người Việt di tản rồi vượt biển tìm Tự Do tôi cứ nghĩ mọi người sẽ bỏ qua những đau thương của quá khứ, thành lập một mặt trận thống nhất để giành lại cơ đồ. Nhưng không! Sự yên bình, đòan kết và cảm thông ở hải ngọai chỉ có được một hai thập niên. Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ “cha già của dân tộc”. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Nếu quả thực TT. Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng” thì điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật Giáo hoàn toàn bịa đặt và do cộng sản giựt giây, lèo lái, hoặc chỉ đạo chứ thực ra dưới thời Ô. Ngô Đình Diệm không chuyện có kỳ thị tôn giáo. Vậy thì chính nghĩa của cuộc đấu tranh năm 1963 nằm ở chỗ tìm hiểu lý lịch của TT. Thích Trí Quang. Bản thân tôi, từ trước đến giờ chưa bao giờ nghĩ rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ cộng sản, nhưng nay thì thấy mình cần phải tìm hiểu lại xem con người thực của TT. Thích Trí Quang như thế nào.
Với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ điện tử, với Google - bộ nhớ của nhân lọai - chúng ta dễ dàng tìm kiếm những dữ kiện liên quan đến TT. Thích Trí Quang. Trong tinh thần tìm hiểu sự thực, không thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch ra Việt Ngữ bốn tài liệu gửi kèm theo đây để quý vị, quý bạn suy nghĩ:

1) Declassified CIA Documents on the Vietnam War/ Thích Tri Quang
(Tài liệu giải mật của CIA về Chiến Tranh Việt Nam/Thích Trí Quang)
Tài liệu này do Viện Đại Học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và phổ biến. Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (Abstract) trong báo cáo của CIA như sau:
“Một cuộc phân tích để xem - liệu Thích Trí Quang có liên hệ/hoặc là cán bộ cộng sản, Con Người và Mục Tiêu Đấu Tranh: Báo cáo tình hình cho tới ngày 27-8-1964 đánh giá rằng Trí Quang không phải là cộng sản, ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền do thần quyền/tôn giáo lãnh đạo ở Miền Nam. Tin tình báo gửi bằng cable, TDCS 314/02342-64. August 28, 1964. 8 trang. Mật/Không phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 Tháng 5, 1976. “

2) “Only Religions Count in Vietnam”: Thich Tri Quang and the Vietnam War
(Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Ở Việt Nam: Thích Trí Quang và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam) biên khảo của James McAllister- Phân Khoa Chính Trị Học, Đại Học Williams, Williamstown, MA 01267, điện thư: jmcallis@williams.edu . Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (abstract) như sau:

“Đã từ lâu, Thích Trí Quang là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả cánh hữu cho rằng Trí Quang có thể/có nhiều khả năng là cán bộ cộng sản họat động dưới sự chỉ đạo của Hà Nội. Còn các học giả cánh tả lại cho rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo đấu tranh bất bạo động/hòa bình cho dân chủ và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Tài liệu biên khảo này cho thấy cả hai lập luận trên đều không có tính thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã công bằng/đứng đắn kết luận rằng không có bằng chứng khả tín nào cho thấy Trí Quang là một cán bộ cộng sản hoặc có thiện cảm với cuộc chiến của Hà Nội hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Rút ra từ những tài liệu rộng rãi còn lưu trữ qua những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, hiển nhiên Trí Quang thật sự chống cộng mạnh mẽ và hoàn tòan hiểu được/cảm nhận được việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa. Yếu tố chính gây mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh của Phật Giáo và bộ tham mưu của Johnson là Trí Quang cương quyết cho rằng những chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù nghịch với Phật Giáo và không có khả năng đưa cuộc đấu tranh chống cộng sản tới thành công.”

3) World: A Talk With Thich Tri Quang (Friday Apr.22,1966) TIME MAGAZINE
Đây là cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề như cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa và việc ứng cử của hai Ô. Thiệu-Kỳ. Vì bài phỏng vấn dài cho nên tôi chỉ phiên dịch phần quan điểm của TT. Trí Quang liên quan tới cộng sản và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam mà thôi.
“ Trong một cuộc phỏng vấn riêng tư bất thường, tương đối hiếm hoi bởi vì Thượng Tọa ít khi dành cho báo giới Tây Phương những cuộc phỏng vấn như vậy, với các phóng viên của TIME như Frank McCullock và James Wilde tại nơi cư trú của Thượng Tọa tại Sài Gòn, trong căn phòng của một bệnh viện điều dưỡng. Thông dịch viên là Thân Trọng Huề, một cộng tác viên người Việt của báo TIME, người đã gọi Thượng Tọa là Venerable cho đúng với địa vị của Thượng Tọa trong Giáo Hội. Trí Quang mặc áo của bệnh viện, quần bà ba trắng và đi dép da.”
Hỏi: Nếu tình hình ổn định trở lại với Việt Nam và cuộc chiến đấu chống cộng thành công, Thượng Tọa có nghĩ rằng cuối cùng ở một chừng mực nào đó sẽ có những cuộc thương thảo với Việt Cộng?
Đáp: Dĩ nhiên, khi đưa ra câu hỏi như vậy là quý vị đã tự có câu trả lời - hiển nhiên bất cứ cuộc chiến nào rồi cũng kết thúc bằng thương lượng. Nhưng những cuộc thương lượng chỉ xứng đáng khi có lợi cho cả hai phe. Nếu qúy vị thương thảo mà không lợi ích gì cho lý tưởng và cuộc đấu tranh thì đó là sự đầu hàng ngụy trang bằng thương thảo. Chắc chắn tôi không đồng ý về bất cứ một cuộc đầu hàng nào như vậy.
Hỏi: Thượng Tọa có tin rằng có những thành phần phi-cộng-sản ở trong hàng ngũ Việt Cộng không?
Đáp: Nếu có những thành phần này thì họ bị lợi dụng và chỉ đạo bởi những người cộng sản, cho nên chúng ta chẳng hy vọng gì vào họ. Còn họ chỉ là những người chạy theo, thì họ cũng chẳng ích lợi gì cho chúng ta. Bị cộng sản lợi dụng hay bị cộng sản sai khiến thì cũng giống như cộng sản.
Hỏi: Thượng Tọa nghĩ gì về bộ phận Việt Cộng?
Đáp: Theo tôi, đây chỉ là cách chơi chữ. Người ta cố tách biệt Cộng Sản Bắc Việt và Cộng Sản Miền Nam. Thật ra không có sự phân biệt như vậy. Cả hai đều là cộng sản. Là một tu sĩ, điều tôi lo lắng là chủ thuyết trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng mà họ cầm trên tay.
Hỏi: Thượng Tọa có ý kiến gì về những lời đồn đãi là việc đầu tiên mà quốc hội lập hiến làm là đòi người Mỹ rút khỏi Việt Nam?
Đáp: Những lời đồn đãi như vậy hòan tòan có tính cách bôi lọ. Hoàn toàn không có cơ sở. Người ta không nên hỏi tại sao người Mỹ phải ở lại Việt Nam. Ai ai cũng đồng ý rằng cuộc chiến đấu chống cộng ở đây phải có sự trợ giúp của người Mỹ. Vậy thì trở ngại chính là làm thế nào để nâng cao giá trị của sự giúp đỡ đó. Cuộc trợ giúp của người Mỹ tại Việt Nam ngày hôm nay đã không được hỗ trợ đầy đủ bởi vì không có những vị đại diện của người dân làm công việc đó. Khi quốc hội được bầu ra, chính quốc hội sẽ làm công cuộc hỗ trợ tinh thần, nâng cao gía trị và chấp nhận sự trợ giúp của người Mỹ.

4) From Wikipedia, the free encyclopedia

“Thích Trí Quang (sinh năm 1924) là một tăng sĩ Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam đã được biết tới qua vài trò lãnh đạo cuộc khủng hỏang Phật Giáo năm 1963 vốn chiếm đa số tại Nam Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh, ông hô hào tín đồ noi gương cuộc đấu tranh bất bạo động của Gandhi, nhìn thấy cuộc chống đối lan rộng chống lại chính quyền Thiên Chúa Giáo của TT. Ngô Đình Diệm và chính sách thân Thiên Chúa Giáo, chống Phật Giáo của ông ta, do ảnh hưởng của người anh cả là Giám Mục Ngô Đình Thục ở Huế. Những cuộc đàn áp biểu tình liên tục của Diệm đã đưa tới sự bất mãn lan rộng trong dân chúng, và đưa tới cuộc đảo chính vào Tháng 11, 1963 lật đổ ông và gia đình ông.
Trong những năm khởi đầu, Thích Trí Quang đi Tích Lan để để nghiên cứu thêm về Phật Giáo. Khi trở về ông tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp để giành độc lập cho Việt Nam (*). Vào ngày 8 Tháng 5, 1963 nhân lễ Vesak, ngày đản sanh của Đức Phật Gotama, Phật tử tại Huế đã chuẩn bị, kể cả việc treo cờ Phật Giáo. Nhà cầm quyền đã dựa vào một nghị định ít khi thi hành để ngăn cấm việc treo cờ. Việc ngăn cấm này đã xảy ra cho dù trước đó một tháng nhân lễ ngân khánh thứ năm của Giám Mục Ngô Đình Thục cờ Thiên Chúa Giáo được treo mà không hề bị ngăn cản. Phật tử Huế không tuân theo chỉ thị và tổ chức một cuộc biểu tình, tụ họp tại đài phát thanh để hy vọng nghe tiếng nói của Thích Trí Quang trong chương trình phát thanh thường lệ. Chính quyền cho ngưng buổi phát thanh và nổ súng vào đám đông khiến 9 người thiệt mạng. Vào ngày 10 Tháng 5, Phật tử bắt đầu chiến dịch tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo, bồi thường cho nạn nhân và trừng phạt những người có trách nhiệm và quyền treo cờ Phật Giáo. Thích Trí Quang nhắc nhở khối người biểu tình không để cộng sản lợi dụng tình trạng bất ổn và chủ trương đấu tranh bất bạo động. Khi cuộc khủng hỏang trở nên sâu rộng, Thích Trí Quang vào Thủ Đô Sài Gòn để thương thuyết và chuẩn bị cho những cuộc xuống đường sau cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức vào ngày 11 Tháng 6. Trước cuộc tấn công của mật vụ và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu vào Chùa Xá Lợi ngày 21 Tháng 8, ông đã trốn vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Ông được Đại Sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge nhận và từ chối không giao ông cho mật vụ của Nhu sau khi lục sóat chùa, nổ súng và đánh đập tăng ni. Tại Huế, 30 người chết vì đã làm hàng rào ngăn cản người của Nhu tấn công vào các chùa.
Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 lật đổ Diệm và Nhu, người ta đồn rằng nhóm quân nhân muốn Thích Trí Quang là một thành viên của nội các nhưng Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ bày tỏ chống đối.
Sau cuộc chỉnh lý năm 1964 của Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh, Khánh ra lệnh giết Đại Úy Nguyễn Văn Nhung là cận vệ của Minh và cũng là người đã giết hai anh em Diệm, Nhu. Điều này gây ra lời đồn đại là những chính trị gia thân Diệm sẽ phục hồi quyền lực khiến Trí Quang ngưng cuộc hành hương Ấn Độ để tố chức những cuộc phản đối (Khánh). Vào cuối năm 1964, Khánh thu hồi quyết định quản thúc các tướng ở Đà Lạt mà đứng đầu là Trần Văn Đôn.
Vào năm 1965 những cuộc biểu tình lại tái xuất hiện khi người chống Diệm là tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư Lệnh Quân Đòan I bị Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cất chức. Vào thời điểm này, Nguyễn Cao Kỳ bắt giữ Thích Trí Quang và ra lệnh quản thúc tại gia (chùa). Khi Sài Gòn xụp đổ và cộng sản tràn vào Nam Việt Nam thì Thích Trí Quang một lần nữa lại bị nhà cầm quyền cộng sản quản thúc tại gia (chùa).”

Nhận Định:
Tại các quốc gia văn minh Tây Phương, việc duyệt xét lại lịch sử, tìm hiểu sự thực của lịch sử diễn ra hằng ngày, hằng tháng và hằng năm bởi các nhà nghiên cứu sử học khi có thêm những dữ kiện mới. Thậm chí trong các lớp học về lịch sử của Hoa Kỳ, người ta còn cho học sinh tổ chức những tòa án giả để xét tội Tổng Thống Jackson, người đã giết hại dân Da Đỏ. Duyệt xét, tìm hiểu sự thực của lịch sử, thậm chí lập tòa án như đã nói ở trên không có nghĩa là các nhà giáo dục Hoa Kỳ dạy cho học sinh căm thù TT. Jackson mà chỉ muốn thế hệ sau tránh vết xe đổ của các thế hệ đi trước. Giả dụ việc làm của TT. Jackson không được các sử gia mổ xẻ, phân tích thì điều đó có nghĩa là TT. Jackson làm đúng và các thế hệ sau “cứ thế mà làm”, như thế tác hại cứ triền miên, không dứt. Do đó, trong tinh thần học hỏi, xây dựng đất nước và nhất là cho thế hệ mai sau, tôi hoan nghênh mọi nỗ lực khoa học, khách quan, đứng đắn để tìm hiểu về con người thực của TT. Thích Trí Quang. Tuy nhiên việc nghiên cứu lịch sử không phải chuyện dễ dàng. Các sử gia đã chỉ cho chúng ta có hai nguồn sử liệu để nghiện cứu:
1) Tài liệu chính yếu (Primary Source) bao gồm các chỉ dụ, đạo luật, sắc lệnh, nghị định hành chánh, mệnh lệnh, biên bản các phiên họp nội các, các báo cáo, tờ trình, các tấm hình, băng ghi âm, các thước phim tài liệu, phỏng vấn có ghi âm/thu hình, công báo là những tài liệu chính xác của lịch sử.
2) Tài liệu thứ yếu (Secondary Source) như thơ, kịch, tiểu thuyết, bài viết, những tâm tình, trao đổi giữa cá nhân, hồi ký liên quan đến một giai đọan lịch sử nào đó. Các tài liệu này mức độ khả tín rất thấp và có khi không đáng tin cậy vì nó có rất nhiều ý kiến cá nhân (yêu ghét, chủ quan) đưa vào đó. Những sử gia đứng đắn không bao giờ bằng cứ vào Secondary Source để viết lịch sử. Ngay cả những cuôc trao đổi riêng tư giữa các nhân vật lịch sử, hoặc những nhân vật có liên quan cũng cần được kiểm chứng qua báo chí, tài liệu lưu trữ, băng ghi âm, nhật ký, văn khố v.v…
Do đó, nếu có vị nào không đồng ý với tài liệu đã giải mật của CIA và coi đó như tài liệu giả hoặc do nhóm thân cộng bịa đặt ra hoặc sự đánh giá của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ hòan tòan sai lạc, có thể viết thư đặt vấn đề với cơ quan CIA. Hoặc tài liệu nghiên cứu của James McAllister, Wikipedia và cuộc phỏng vấn của báo TIME là thiếu vô tư hoặc thân cộng, chúng ta có thể viết thư phản đối hoặc cung cấp cho họ những tài liệu chính xác hơn không ngòai mục đích làm sáng tỏ lịch sử, một nhu cầu cần thiết của một dân tộc muốn tiến lên.
Sau hết, chúng ta nên nhớ rằng một dân tộc man di mọi rợ thì không có lịch sử. Một dân tộc nô lệ thì lịch sử bị ngọai bang bóp méo, cạo sửa, hoặc viết lại. Một dân tộc độc lập và hùng mạnh thì lịch sử phải được học hỏi, nghiên cứu, kế thừa và phê phán trong tinh thần khách quan và hướng về tương lai.
Đào Văn Bình
(Tháng 12, 2009)

Ghi chú: Dấu (*) là trích dẫn trong Tiểu Truyện Tự Ghi của HT. Thích Trí Quang, nguyên là phần phụ lục trong cuốn Bồ Tát Giới của Hòa Thượng in sau năm 1975, do website Trang Nhà Quảng Đức phổ biến, có đọan nói về tham gia kháng chiến như sau: “Thọ Bồ tát giới rồi, không đầy một tháng sau Pháp đổ bộ Đồng Hới, tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bịnh nặng, bốn anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ ba tử trận một tuần sau ngày Pháp đổ bộ, hai người thứ nhất và thứ tư ở xa, tôi ở gần nhà nhất nên phải về nuôi mẹ.”

Tài Liệu Đính Kèm
1) Tài Liệu Thứ Nhất:
University of Saskatchewan
University Library
Declassified CIA Documents on the Vietnam War

We hereby acknowledge the permissions granted by the Gale Group to include in this Database the abstracts provided in the Declassified Documents Reference System CD-ROM and by the Texas Tech University's Virtual Vietnam Archive to provide the links for fulltext documents.
Search:
Advanced search...


Title:
An analysis of Thich Tri Quang's possible communist affiliations, personality and goals
Date of Creation:
August 28, 1964
Date of Declassification:
May 24, 1976
Type of Document:
Intelligence information cable
Level of Classification:
CONFIDENTIAL
Status of Copy:
SANITIZED
Pagination, Illustration:
8 p.
Abstract:
An Analysis of Thich Tri Quang's Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.
Indexing Terms:
THICH TRI QUANGTHICH DUC NGHIEPTHICH GIAC DUCTHICH MINH CHAUTHICH THIEN MINHTHICH TAM CHAUTON THAT XUNG
Declassified Documents Reference System Location:
1976-22E


2) Tài Liệu Thứ Hai

Modern Asian Studies (2008), 42:751-782 Cambridge University Press
Copyright © Cambridge University Press 2007
doi:10.1017/S0026749X07002855
Research Article
‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Tri Quang and the Vietnam War
JAMES McALLISTERa1
a1 Department of Political Science, Williams College, Williamstown, MA 01267 Email: jmcallis@williams.edu
Article author query
mcallister j
Abstract
Thich Tri Quang has long been one of the most controversial actors in the history of the Vietnam War. Scholars on the right have argued that Tri Quang was in all likelihood a communist agent operating at the behest of Hanoi. Scholars on the left have argued that Tri Quang was a peaceful religious leader devoted to democracy and a rapid end to the war. This article argues that neither of these interpretations is persuasive. As American officials rightly concluded throughout the war, there was no compelling evidence to suggest that Tri Quang was a communist agent or in any way sympathetic to the goals of Hanoi or the NLF. Drawing on the extensive archival evidence of Tri Quang's conversations with American officials, it is apparent that Tri Quang was in fact strongly anti-communist and quite receptive to the use of American military power against North Vietnam and China. The main factor that led to conflict between the Buddhist movement and the Johnson administration was Tri Quang's insistence that the military regimes that followed Ngo Dinh Diem were hostile to Buddhism and incapable of leading the struggle against Communism to a successful conclusion.
back to top

3) Tài Liệu Thứ Ba:
World: A TALK WITH THICH TRI QUANG
Friday, Apr. 22, 1966
In an unusual private interview, one of the relatively few he has granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic. The interpreter was Than Trong Hue, a Vietnamese member of the TIME staff, who addressed the monk with the "venerable" title reserved for the Buddhist clergy. Tri Quang was clad in a hospital gown, white pantaloons, and brown leather sandals.
Q. If stability returns to Viet Nam and the war against the Communists is waged successfully, do you believe that eventually some sort of negotiations must be held with the Viet Cong?
A. Of course, in raising such a question you have really answered it yourself—obviously any war must be finally ended by some kind of negotiations. But negotiations are worthwhile only if conditions are favorable for them. If you negotiate without benefit to your cause and struggle, that is a surrender in the guise of negotiations. And I am certainly not in favor of any such surrender.
Q. Do you believe there are non-Communist elements within the Viet Cong?
A. If so, they are completely exploited and led by the Communists, so we can have no hope for them. Even if they are only followers, they can be of no use to us. Being led or directed by Communists is the same as being a Communist.
Q. What do you think of the Viet Cong movement?
A. This is mostly a matter of semantics to me. People try to separate North Vietnamese Communists from South Vietnamese Communists. No such separation exists. They are both Communists. And as far as I am concerned, as a religious man, the ideology they possess is much more dangerous than the guns they possess.
Q. Can you comment on rumors that the first thing a legislative assembly might do would be to ask the Americans to leave Viet Nam?
A. Rumors such as these are sheer libel. No proof or substantiation for them exists. One should not ask whether Americans should remain in Viet Nam. It is agreed by all that the struggle against Communism here must be made with the assistance of the Americans. So the problem is really how to enhance the value of that assistance. American assistance is not now fully supported in Viet Nam because there is no popular representation to give it such support. When an assembly is elected, it will, by giving its moral endorsement to such assistance, enhance its value and its acceptance.Read more: http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,899140-3,00.html#ixzz0ZIyhmbQ5
4) Tài Liệu Thứ Tư:
From Wikipedia, the free encyclopedia
Jump to: navigation, search


Thich Tri Quang in 1963.
Thích Trí Quang (born 1924) is a Vietnamese Mahayana Buddhist monk best known for his role in leading South Vietnam’s Buddhist majority during the Buddhist crisis in 1963.
His campaign, in which he exhorted followers to emulate the example of Mahatma Gandhi, saw widespread demonstrations against the Catholic government of President Ngo Dinh Diem, and its pro-Catholic and Anti-Buddhist policies, attributed to the influence of Diem’s elder brother Archibishop Ngo Dinh Thuc of Hue. Diem’s often violent suppression of the demonstrations lead to widespread dismay among the populace, and resulted in a military coup in November 1963 that removed Diem and his family from power.
In his early days, Thich Tri Quang went to Ceylon to further his Buddhist studies. When he returned, he participated in anti-French activities, calling for the independence of Vietnam.
In 1963, Vesak, the birthday of Gautama Buddha fell on May 8. The Buddhists of Hue had prepared celebrations for the occasion including the display of the Buddhist flag. The government cited a rarely enforced regulation prohibiting the display of religious flags, banning it. This occurred despite the non-enforcement of the regulation on a Catholic event celebrating the fifth anniversary of Ngo Dinh Thuc as Archbishop of Hue less than a month earlier. The Buddhists defied the ban and held a demonstration, and congregated at the radio station expecting to hear an address by Thich Tri Quang, as was routine for such a day. The authorities cancelled the speech and opened fire on the crowd, killing nine.
On May 10, Buddhist campaigns for religious equality, compensation for the victims, punishment for those responsible, and the right to fly the Buddhist flag. Thich Tri Quang urged the demonstrators to not allow Vietcong to exploit the unrest, and exhorted a strategy of passive resistance. As the crisis deepened, he travelled to the capital Saigon for negotiations and further protests after the self immolation of Thich Quang Duc on June 11. Prior to the August 21 raids on the Xa Loi Pagoda by Ngo Dinh Nhu’s secret police and special forces, he sought refuge at the US embassy. He was accepted by the US ambassador Henry Cabot Lodge, who refused to hand him to Nhu’s forces after they had ransacked the pagodas, fired on and beat monks. In Hue, thirty people died as they attempted to blockade the pagodas from Nhu's men.
Following the coup on November 1, 1963 which removed Diem and Nhu from power, it was reported that the military junta wanted Thich Tri Quang to be a part of the new cabinet, but the US State Department recommended against this.
After the 1964 coup by General Nguyen Khanh which deposed the Duong Van Minh junta, Khanh had Captain Nguyen Van Nhung, the bodyguard of Minh and executioner of Diem and Nhu executed. This generated rumours that pro-Diem politicians would be restored to power and prompted Thich Tri Quang to cancel a planned pilgrimage to India in order to organise further demonstrations. In late 1964, Khanh revoked his decision to put the General lead by Tran Van Don from detention in Da Lat.
In 1965, demonstrations occurred again when anti-Diem General Nguyen Chanh Thi, the commander of central Vietnam, was stripped of his position by Prime Minister Nguyen Cao Ky. This time Ky had Thich Tri Quang arrested and put him under house arrest in Saigon. When the communists overran South Vietnam in the Fall of Saigon, Thich Tri Quang was again put under house arrest../. (Hết)

Bài Xem Nhiều