We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 10 December 2009

Giai đoạn chiến tranh dư luận

Nếu chia cuộc khủng hoảng Biển Ðông thành từng giai đoạn, thì giai đoạn một là giai đoạn cắn răng nuốt nhục, ngư dân chịu đấm, nhà nước ăn xôi, vẫn chưa qua và giai đoạn hai, giai đoạn chiến tranh dư luận đã vừa khởi diễn từ ngày 26.11.2009 ngày Việt Cộng mời trên 50 học giả từ 19 quốc gia đến Hà Nội tham gia cuộc thảo luận về Biển Ðông.

Sở dĩ hai giai đoạn này chồng lên nhau, vì giai đoạn 1, không thể nào dứt được, Trung Cộng sẽ không buông nhả Biển Ðông, không cho ngư dân Việt Nam đánh cá, không cho chính quyền Việt Cộng bán dầu, dù chiến tranh dư luận có biến thành chiến tranh bom đạn, nguy cơ này hiển nhiên, có thể kéo dài miên viễn, và cần được người Việt Nam phân tách, thấu hiểu và tìm cách thoát ra.

Cuộc hội thảo này đương nhiên là một cuộc quật khởi, dù lớn hay nhỏ, và dĩ nhiên Trung Cộng không vừa ý, vì hội thảo về Biển Ðông là đi ngược lại chủ trương của chúng, chủ trương đối phó riêng rẽ với từng quốc gia chúng va chạm quyền lợi, chứ không muốn gặp sức mạnh “bó đũa” của toàn thể các quốc gia mất quyền lợi trên Biển Ðông.
Thái độ Việt Cộng chấp nhận đối phó với sự thịnh nộ của Trung Cộng còn được thể hiện qua việc họ mời cả Ðài Loan lẫn Trung Cộng tham gia hội nghị. Thái độ này mang ý nghĩa Việt Cộng coi Ðài Loan như mọi quốc gia, chứ không như một tỉnh của Trung Hoa, và coi như Ðài Loan có quyền lợi bị va chạm trên Biển Ðông; hành động này coi thường nguyên tắc “chỉ có một nước Trung Hoa’ của Trung Cộng.

Tại sao Việt Cộng lại thay đổi thái độ, không thần phục Trung Cộng nữa? Sử gia Nguyễn Nhã, một chuyên gia về luật Hoàng Việt giải thích là Việt Cộng đang chịu quá nhiều sức ép của dư luận trong nước đòi hỏi chính quyền phải có thái độ mạnh bạo, cứng rắn hơn trong quan hệ với Trung Cộng.

Chỉ được mời vào phút chót, nhưng ông Nhã vẫn phát biểu mạnh mẽ hơn những đại biểu khác của Việt Nam. “Tôi cho đây là cuộc giao lưu của những người quan tâm tới Biển Đông trên khắp thế giới,” ông nói. “Dần dần dư luận thế giới sẽ biết sự thật là như thế nào, và biết cách giải quyết hợp lý. Và như người ta thường nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!". Dĩ nhiên "cái gì" là hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, và "César" là nhân dân Việt Nam.
Sau hai nét đặc thù của cuộc thảo luận Biển Ðông, nét đặc thù thứ 3 là việc Trung Cộng thản nhiên cử phái đoàn đến Hà Nội dự hội thảo, làm như không biết thái độ của Việt Cộng chống đối lại cả hai chính sách Biển Ðông, và chính sách Ðài Loan của chúng.
Hy vọng thái độ giả dại của Trung Cộng sẽ dạy được Việt Cộng cái kinh nghiệm là không nhất thiết phải làm mọi việc theo ý Trung Cộng.

Khai mạc phiên họp, ông Dương Văn Quảng, giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Cộng, nói: "Những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ không hề thuyên giảm ở Biển Đông.
"Ngược lại, những diễn biến gần đây, nhất là các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo các hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên đã làm cho tình hình thêm phức tạp.”

Trên mặt khẳng định chủ quyền, hồi giữa năm nay cả 3 nước Việt Nam, Trung Hoa, và Mã Lai đã nộp văn phòng Liên Hiệp Quốc hồ sơ và bản đồ khẳng định vùng họ coi là thềm lục địa mở rộng của nước họ; theo bản đồ này thì thềm lục địa của Trung Hoa nằm chồng lên thềm lục địa của Việt Nam và của nhiều nước khác.
Hai chính phủ Việt Cộng và Trung Cộng cũng thành lập các đơn vị hành chính trên các hải đảo tranh chấp tạo mâu thuẫn quyền lợi giữa hai bên.

Trong khi đó, các nước trong khu vực Ðông Á và Ðông Nam Á bày tỏ quan ngại trước sự gia tăng hoạt động quân sự với độ mạnh bạo "chưa từng thấy" của Trung Cộng tại Biển Đông, nơi được cho là có nhiều dầu khí và tài nguyên thiên nhiên.
Con đường tìm kiềm một nguyên tắc chung cho các quốc gia có liên quan đến Biển Đông đang bế tắc.

Lập trường của Trung Cộng trên bàn hội nghị
Trung Cộng gửi sáu chuyên gia và học giả đến tham dự hội nghị Biển Ðông; họ đóng góp nhiều bài tham luận về an ninh hàng hải và hợp tác về an ninh.
Giáo sư Lý Quốc Cường, phó giám đốc trung tâm nghiên cứu “sử địa giới” thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Cộng, tỏ thái độ chủ hòa; ông nói với BBC: "Chúng tôi muốn sự hợp tác các học giả thuộc nhiều quốc gia khác nhau sẽ giúp tim ra cách hòa giải bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Muốn đạt được an ninh Biển Đông, các nước phải nỗ lực xây dựng lòng tin với nhau."

BBC bỏ mất cơ hội hỏi ông Cường xem có phải Trung Cộng đang “xây dựng lòng tin” bằng cánh đem chiến hạm ủi chìm ngư thuyền Việt Nam và cho phép thủy thủ đánh đập, cướp bóc ngư dân Việt Nam không.
Nếu phóng viên BBC nêu lên được câu hỏi này, thì cả câu hỏi của BBC lẫn câu trả lời của giáo sư Cường sẽ được truyền thông thế giới phổ biến rộng rãi, vì đó chính là lập trường của Trung Cộng sử dụng sức mạnh quân sự trên Biển Ðông.
Không bị chất vấn, giáo sư Cường tiếp tục nói thao thao, trình bầy là lập trường muôn thủa của Trung Cộng là “giải quyết tranh chấp Biển Ðông bằng cách đàm phán song phương với những nước có quyền lợi bị va chạm. Tuyệt nhiên ông không nói đến những xung đột giữa hải quân Trung Cộng và ngư dân Việt Nam.

Ông còn cảnh cáo Việt Cộng là cuộc hội thảo này chỉ có giá trị “học thuật”, bàn thảo cho vui tai rồi bỏ qua, chứ đừng trông đợi một giá trị thực sự nào hết. Ông Cường cũng bảo mọi quốc gia tham dự hội thảo là đừng mong đợi chứng kiến mọi việc sớm được giải quyết, vì Trung Cộng chủ trương câu giờ hầu việc chiếm lãnh Biển Ðông rơi vào trường hợp “để lâu c.. trâu hoá bùn.”

Xa gần ông nói là sẽ không có chiến tranh trên Biển Ðông, vì lực lượng hải quân Trung Cộng là lực lượng hùng mạnh nhất, không nước nào trong vùng muốn chống lại. Trung Cộng sẽ tiếp tục cấm ngư dân Việt Nam ra biển, cấm nhà nước Việt Cộng không được khai thác dầu mà Việt Cộng không làm gì được chúng cả.
Ông Cường khuyến khích các quốc gia có quyền lợi bị va chạm hãy kiên nhẫn thương luợng tay đôi với Trung Cộng, và đừng trông đợi các cuộc thương luợng có kết quả sớm.

Giáo sư Carlyle Thayer, một trong các đại biểu tham dự hội thảo, nói: "Trước thái độ ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc tại Biển Đông, Chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng cường vận động ngoại giao và đây là một trong các sáng kiến của Hà Nội".

"Tôi nghĩ họ trông đợi hội thảo này sẽ đưa ra được những ý tưởng chung xem các hoạt động của Trung Quốc cần được kiềm chế như thế nào, hoặc chuyển thành cơ chế hợp tác như thế nào, bởi vậy chủ đề chính của hội thảo là hợp tác” (dù hợp tác để mất biển, mất đảo).

"Đây là cách Việt Nam không gây áp lực trực tiếp mà thông qua người khác gây áp lực (với Trung Quốc)."
Quan điểm của Thayer là, tiếng nói Trung Cộng sẽ quyết định về số phận Biển Ðông, vì họ nắm trong tay tất cả các lá bài: có hải quân hùng mạnh nhất, có quyền lực ngoại giao lớn nhất. Một mình Việt Nam không thể làm được gì"
Thayer cũng nhìn nhận là những hoạt động như hội thảo lần này là cơ hội để Việt Nam thu hút ủng hộ của quốc tế cho một giải pháp Biển Đông.
Ông Thayer hoàn toàn có lý khi ông nói số phận Biển Ðông nằm trong tay Trung Cộng; chính Trung Cộng cũng chứng tỏ điều này: song song với việc gửi phái đoàn đến họp tại Hà Nội, Trung Cộng cho tầu “ngư chính” của chúng tuần hành, thị uy quanh Trường Sa, hòn đảo chúng chưa chiếm.

Trang web của Tân Hoa Xã (news.xinhuanet. com) đưa lên mạng hình tàu Ngư Chính 311 và Ngư Chính 303 đang diễu võ, dương oai trên Biển Ðông. Hãng tin Tầu này còn trơ trẽn nói rằng Trung Cộng có nhu cầu tuần tra vì "có hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải" của họ. Họ muốn nói về việc ngư dân Việt Nam tránh bão số 9 tại vùng Hoàng Sa và bị hải quân Tầu ngược đãi bằng tác phong của Giặc Cờ Ðen ngày xưa.
Trong cuộc họp báo ngày 11/27, bà Nguyễn Phương Nga trả lời câu hỏi của phóng viên truyền thông về bản tin Tân Hoa Xã, đã nói, “Việc Trung Quốc cử tàu đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.”

Thông tấn xã Việt Nam còn nói sau khi được tin về 2 tầu “ngư chính” của Trung Cộng phô diễn sức mạnh ngoài Biển Ðông, ngày 11/27 bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hoạt động này.
Tin tưởng vào sức mạnh quân sự của mình, Trung Cộng đang tiếp tục chính sách ngoại giao bằng chiến hạm dưới chiêu bài tuyên truyền, kêu gọi mọi quốc gia quanh Biển Ðông “nỗ lực xây dựng lòng tin của họ vào Trung Cộng.”

Việt Cộng đã nhẫn nhục “xây dựng lòng tin của chúng vào Trung Cộng”, nhưng giờ này chúng phải thay đổi thái độ vì “đang chịu đựng quá nhiều sức ép của dư luận trong nước” như sử gia Nguyễn Nhã nói.
Việc chúng ta cần tìm hiểu là phản ứng của Trung Cộng đối với cuộc hội thảo Biển Ðông; chúng sẽ làm gì để trả đũa Việt Cộng? Việc chúng có thể làm đã được một đại tá không quân Trung Cộng, đại tá Ðới Hy, viết trong một bài đăng trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 3/18, mang tựa đề “Quân đội của chúng ta cần thiết lập căn cứ quy mô lớn tại Nam Sa để bảo vệ việc phát triển nguồn tài nguyên Nam Hải.”

Cuộc thảo luận về Biển Ðông tại Hà Nội có thể giúp Trung Cộng nguyên cớ để thực hiện cuộc tấn công Truờng Sa, hòn đảo vẫn bị chúng khăng khăng nhận là của chúng.
Những kẻ đã coi ngư dân tránh bão là "… hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải" hầu biện minh cho hành động ngược đãi, đánh đập ngư dân, và cướp bóc tư sản của họ, thì chúng cũng sẽ dễ dàng lẻo lự gọi lực lượng trú phòng Trường Sa là đạo quân xâm lăng, cưỡng chiếm hải đảo của Trung Cộng, để dùng pháo hạm và oanh tạc cơ tiêu diệt.

Trước hành vi bạo lực đó, phản ứng của Việt Cộng, của khối Asean, và của Hoa Kỳ sẽ như thế nào?
Tôi không tin được là sẽ có một phản ứng quân sự, và Trung Cộng cũng biết điều này; chúng biết rất rõ là Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất có khả năng quân sự khả dĩ đương đầu được với chúng lại quá bận rộn, quá mệt mỏi với 2 cuộc chiến tranh đang gánh vác tại Trung Ðông; không có hy vọng nào về việc Hoa Kỳ dám gánh thêm một cuộc chiến tranh nữa, nhất là cuộc chiến tranh với Trung Cộng lại to lớn, với tầm cỡ không thua 2 trận thế chiến trong thế kỷ trước.

Dĩ nhiên tôi không muốn, nhưng tôi sợ giai đoạn 3 của cuộc tranh chấp Biển Ðông sẽ là việc chúng ta mất Trường Sa.


Nguyễn Ðạt Thịnh

ÐỪNG DẠY VÀ ÐỪNG HỌC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN


LỜI KÊU GỌI SỐ 6
HỞI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM
ÐỪNG DẠY VÀ ÐỪNG HỌC
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
VÀ LỊCH SỬ ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA!
- Xét rằng: Những điều khoản cơ bản nhất về Nhân quyền về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do thông tin liên lạc, tự do lương tâm, tự do tôn giáo như điều 18, điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10-12-1948 mà Cộng Sản Việt Nam (CSVN) xin gia nhập năm 1977; và đã được lặp lại rõ hơn tại điều 18 và điều 19 trong Công ước Quốc tế về Nhân quyền ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký tên gia nhập ngày 24-9-1982, không bao giờ được CSVN tuân giữ nghiêm túc đầy đủ cả: muốn đọc thư ai là đọc; muốn giữ thư tín ai là giữ; muốn hủy bỏ bất cứ tài liệu gì con người trên hành tinh nầy gửi cho nhau là toàn quyền định đoạt; muốn nghe lén điện thoại ai cũng được; muốn cắt điện thoại, điện thư ai là CSVN ngang nhiên làm mà không hề sợ một Tổ chức Quốc Tế nào can thiệp hết; muốn cấm tài liệu nào lưu hành là cấm, muốn cho phép tài liệu nào lưu hành mới được phổ biến, như ở Việt Nam hiện nay Lời Kêu Gọi nầy làm sao ai dám in ấn, sao chụp? Trong khi Công Ước Quốc Tế Về Nhân quyền của Ðại hội đồng Liên hiệp quốc, ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký kết xin gia nhập ngày 24-9-1982 đã ghi rõ như sau:
Ðiều 19
1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.
2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giơí, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.
(Các Văn Kiện Quốc Tế Về Quyền Con Người, do Trung Tâm Nghiên Cứu Quyền Con Người xuất bản, NXB TP HCM, 1996, trang 117)
- Xét rằng: CSVN đã gieo rắc sự sợ hãi vô cớ quá lâu năm, đã áp bức tư tưởng / thông tin / ngôn luận quá nhiều, khiến lẽ ra mọi công dân văn minh tiến bộ nào của Việt Nam hôm nay đều phải có quyền hiên ngang tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến tương tự như tài liệu nầy, thì trong thực tế: nguyên việc đọc nó mà thôi cũng có thể phải chịu bao nhiêu phiền toái đàn áp rồi; đến nỗi nhiều đảng viên và nhân viên Nhà Nước CSVN hôm nay vẫn không ngờ rằng mọi công dân VN thực sự có quyền như thế nầy. Ôi lạc hậu và bị áp bức bưng bít đến chừng nào!!!
- Xét rằng: Khi đưa ra 3 mục tiêu: độc lập, tự do, hạnh phúc cho Ðất Nước Việt Nam vươn tới, Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) lại dùng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để thực hiện, thành ra người CSVN tự mâu thuẫn ngay từ đầu. Giải pháp độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam đã và sẽ không bao giờ thành tựu bao lâu người CSVN còn mê muội cố bám vào phương pháp xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, bởi vì tự bản chất, 2 chủ nghĩa nầy bao hàm sự độc đoán toàn trị, nên không thể bao hàm ý niệm tự do chân chính và đầy đủ trong đó được. Ngày nay chính nhiều người cộng sản thành tâm thiện chí cũng đã đủ điều kiện để tự khẳng định được điều nầy.
- Xét rằng: Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) và Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH) chỉ là 2 lý tưởng quá cao vời, chúng rất cao đẹp trong lý thuyết, nhưng chúng hoàn toàn ảo tưởng trong thực hành, khiến con người cộng sản thực sự chưa bao giờ xuất hiện trên trái đất, như người ta vẫn nói: "20 tuổi mà không yêu CNXH là người không có con tim, nhưng 30 tuổi mà vẫn yêu CNXH là người không có đầu óc!" hoặc như báo Văn Nghệ VN đã đăng lời than phiền của các bà mẹ nuôi VN từ lâu: "đảng viên thì nhan nhản mà cộng sản không có một người!"; làm cho trên hành tinh nầy hiện nay chỉ còn 4 nước vẫn cố tình ngoan cố đeo đuổi là Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam mà thôi.
- Xét rằng: CNXH không tất yếu là cần thiết và phải đem áp dụng bằng mọi giá vì các nước khác ngay trong vùng Ðông Nam Á nầy hoàn toàn xa lạ hoặc thẳng tay tẩy chay nó, thế mà các nước nầy ngày nay giàu có hơn VN rất nhiều. CNXH cũng không ưu việt chút nào, bằng chứng rõ ràng là hơn 2,5 triệu người Việt đã phải liều chết vượt đại dương, rời bỏ quê hương tìm không khí tự do mà thở!
- Xét rằng: (Cộng Sản Việt Nam) CSVN buộc mọi học sinh, sinh viên phải học và yêu CNXH trong khi hầu như chẳng còn ai thích dạy và cũng chẳng còn ai thích học chủ nghĩa này. Lẽ ra chỉ có 3 triệu đảng viên và 5 triệu đoàn viên cộng sản nên học (nếu còn tin vào CNXH) và đem ra áp dụng nó trong thực tế sao cho hiệu quả về kinh tế, xã hội để dân chúng được no ấm hạnh phúc. Còn toàn dân có quyền nghiên cứu, phê phán xem việc xây dựng CNXH có thực sự đạt đến lý tưởng nó đề ra hay chỉ là ảo tưởng? Chắn chắn buộc mọi mọi công dân phải học và yêu một chủ nghĩa đã phá sản tại quê hương nó là nước Nga và thất bại thê thảm tại Việt Nam là áp bức tư tưởng quá thô bạo rồi!
- Xét rằng: Cách trình bày về lịch sử ÐCSVN như hiện nay trong các sách vở, tài liệu và giáo trình giảng dạy / học tập tại các trường / lớp ở Việt Nam hoàn toàn không trung thực, đầu độc bao thế hệ lớp trẻ Việt Nam. Thực tế đã thật sự xảy ra là:
- ÐCSVN đã góp công giành độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, nhưng sự nghiệp nầy không phải chỉ một mình người CSVN làm cho thành công, mà có sự đóng góp của rất nhiều người Việt và rất nhiều người thành tâm khác, của nhiều đảng phái khác mà ÐCSVN đã tiêu diệt họ để cướp công như thể chỉ có một mình ÐCSVN làm được điều nầy mà thôi;
- ÐCSVN có sai lầm lớn là đem CNCS và CNXH vào Việt Nam, làm cho Việt Nam lạc hậu lùi lại hơn cả thế kỷ, trở nên một trong vài nước nghèo đói nhất thế giới hiện nay;
- ÐCSVN có tội lỗi lớn là dùng mọi thủ đoạn gian trá để thủ tiêu hết các lực lượng yêu nước cùng giành độc lập cho Việt Nam thời thực dân Pháp;
- ÐCSVN đã tiến hành cải cách ruộng đất một cách bạo tàn rùng rợn ở miền Bắc trong những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX làm hơn 300,000 người Việt chết oan;
- ÐCSVN đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam từ 1960 - 1975 để áp đặt cho bằng được CNCS lên toàn Việt Nam, làm hơn 2 triệu thanh niên cả 2 miền Nam - Bắc chết thê thảm mà vẫn cứ lường gạt dư luận thế giới rằng đó là cuộc chiến chống Mỹ cứu Nước giải phóng miền Nam; tàn bạo nhất là giết dân hàng loạt lên đến hàng trăm ngàn trong vụ Tết Mậu Thân 1968 tại Huế bằng cách chôn sống và các hình thức thô bạo tàn nhẫn khác thế mà ở Huế vẫn ngang nhiên có một con đường tên là Xuân 68! CSVN đã dùng súng lớn bắn vào dân để giết chết hàng loạt cũng lên đến hàng trăm ngàn trong vụ đánh chiếm Quảng Trị 1972 trên chặng đường Quảng Tri - Diên Sanh được gọi là Ðại Lộ Kinh Hoàng.
- ÐCSVN đã đàn áp thô bạo và tiêu diệt tàn nhẫn hàng chục vạn những người đối lập khắp cả nước Việt Nam và nhất là trong hàng trăm Trại Tập trung từ Bắc chí Nam từ những năm 1930 đến nay.
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích dối trá, thủ đoạn làm băng hoại các giá trị đạo đức mà các Tôn Giáo và Dân tộc VN ra công bồi đắp giữ gìn bao nhiêu đời, đến nỗi hiện nay ở Việt Nam ai không biết nói dối là không thể sống bình thường được, kể cả một số Chức Sắc cao cấp trong các Giáo hội cũng phải biết nói dối nhiều ít để được xuôi thuận công việc; đặt bút xuống viết một đơn hành chánh đã phải cúi đầu viết dối "tự do - hạnh phúc" mặc dù chính người viết biết rõ làm gì có tự do - hạnh phúc?
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích đấu tố, căm thù, khiến chính các đảng viên xét lại hay sai phạm cũng không chịu nổi sự căm thù của các đồng chí cũ của mình!
- ÐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa đề cao vô thần, khiến một bộ phận dân chúng mất phương hướng để thực hiện chính sứ mạng làm người chân chính của mình.
Vì vậy, nhân danh các quyền chính đáng của mọi con người văn minh tiến bộ trên hành tinh nầy, khi bước vào thiên niên kỷ mới, tôi thiết tha kêu gọi:
HỞI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM
ÐỪNG DẠY VÀ ÐỪNG HỌC
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
VÀ LỊCH SỬ ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA
!
Kêu gọi tại Nhà Thờ Nguyệt Biều - An Truyền - Huế, ngày mồng 3 Tết Tân Tỵ 25 tháng 01 năm 2001.
Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý
Quản Xứ An Truyền

Chỗ yếu của chúng ta: Lĩnh vực văn nghệ

Trong cuộc đấu tranh chống sự xâm nhập của tập đoàn việt-gian-cộng-sản vào cộng-đồng người việt tỵ-nạn, chúng ta đã chứng tỏ có nhiều thắng lợi. Đó là việc vinh danh Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, xây dựng các tượng đài tưởng niệm, đào tạo được một thế hệ tinh anh với vốn chất xám ngang tầm với trình độ quốc tế, có những vị thế đáng được kính nể. Trên lĩnh vực kinh tế, người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản cũng đóng vai trò tích cực ở các nước tạm dung. Không những thế, trong lĩnh vực dòng chính về hoạt động chính trị, người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản cũng có những thành tựu đáng kể. Ngoài ra, thế thế hệ con em của chúng ta đã đóng góp và trưởng thành cả trong lĩnh vực quân sự. Và cần lưu ý rằng, trong mỗi sự thành đạt ở các lĩnh vực nói trên, bao giờ cũng gắn liền với việc vinh danh Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn bị động mà có thể nói rằng phải lùi bước trên mặt trận văn nghệ.

Trước tiên với những hoạt động văn nghệ được ra đời nhằm thỏa mãn sự hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, mang tính dân tộc của cộng-đồng người Việt tỵ nạn chúng ta. Với sự đóng góp, cổ vũ của người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản, các cơ sở hoạt động về văn hóa, văn nghệ đã có những bước tiến, phải nói là tuyệt vời. Không những thỏa mãn được nhu cầu thẩm mỹ văn hóa nghệ thuật của cộng-đồng, mà nó còn có tác dụng giúp cho người dân trong nước Việt Nam “cải tạo” thứ văn hóa nghệ thuật khát máu, lai căng mà tập đoàn việt-gian-cộng-sản đã dùng toàn bộ hệ thống chính trị của chúng để áp đặt, xây dựng và phát triển. Không phải đến nay, năm 2009 này, mà ngay từ những thập niên 90 của thế kỷ trước, các sáng tác văn học nghệ thuật trong Việt Nam đã dần dần bị nền văn hóa nghệ thuật đầy nhân bản và tính dân tộc của Việt Nam Cộng Hòa “cải tạo” lại, đó chính là một điểm son của những người làm công tác văn hóa nghệ thuật trong cộng-đồng người Việt tỵ nạn.

Trước tình hình đó, tập đoàn việt-gian-cộng-sản đã chú trọng tập trung vào các mục tiêu của cộng-đồng người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản trong lĩnh vực truyền thông, văn học nghệ thuật, bằng cách xử dụng các tổ chức đảng phái ma trơi, xử dụng những tụi nặng về lý tài mà không có lý tưởng, để tấn công vào chỗ yếu nhất của cộng-đồng người Việt tỵ nạn. Đó là những người sáng tác, cả thơ, cả văn, cả nhạc, cả ca sĩ, cũng như những nhà sản xuất băng dĩa nhạc, tổ chức trình diễn v.v…

Những trung tâm băng nhạc, đặc biệt là Thúy Nga Paris, trong thời kỳ đầu đã có công lớn đưa đến người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản những món ăn tinh thần lành mạnh, có tác dụng gợi nhớ về nguồn, để giữ gìn được bản sắc của người Việt Nam, của nước Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng từ ngày Thúy Nga Paris có sự cộng tác của Nguyễn ngọc Ngạn, rồi sau đó cặp Nguyễn ngọc Ngạn và Nguyễn cao kỳ Duyên, các sản phẩm của Thúy Nga Paris bắt đầu có những triệu chứng ung thư, và đến nay thì nó đã di căn. Từ chỗ nó là món ăn tinh thần của cộng-đồng người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản, thì nay từng bước một, với hơi hướng của việt-gian-cộng-sản nhúng tay vào, bằng cách này hay cách khác, nó đã trở thành thiu thối, không những hủy hoại đối với sự thưởng thức của thế hệ trẻ mà ngay cả đối với thế hệ già, những nạn nhân trực tiếp và lâu dài của tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Theo bước Thúy Nga Paris, và với những kinh nghiệm của loại con buôn văn hóa văn nghệ, đã xuất hiện những trò biểu diễn mà các cơ sở sản xuất băng nhạc, các nhạc sĩ, ca sĩ, lấy đồng tiền là lý tưởng của cuộc sống. Chúng là những kẻ đầu tiên thực hiện cái bẫy “Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù - Hòa-Giải, Hòa-Hợp” trong lĩnh vực giao lưu văn hóa một chiều.

Tưởng rằng chẳng cần phải nhắc đến nhiều, thì ai cũng có thể thấy kẻ phản bội đầu tiên chính là tên già dê, mắc dịch Phạm Duy, đã lợi dụng cái chết của tên việt gian Trịnh công Sơn để làm lễ tưởng niệm cho tên việt-gian này, đưa tín hiệu mở đầu cho việc thực thi cái gọi là phi chính trị trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Tiếp theo sau là những kẻ như Trịnh Nam Sơn, Đức Huy.v.v… Rồi đến các ca sĩ, mở đầu là Elvis Phương, Hương Lan, Trizie Phương Trinh, Tuấn Vũ, Trịnh Nam Sơn (trong vai trò ca sĩ), Duy Quang,Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ái Vân, Chế Linh, Chí Tài, Phương Hồng Quế, Thiên Kim, Thanh Hà, Giao Linh, Tommy Ngô, Linda Trang Đài, Mạnh Đình, Mạnh Quỳnh, Phi nhung, Jimmy Nguyen, Hoài Linh, Quang Minh, Hồng Đào và v.v… Đồng thời cũng xuất hiện những cò mồi biểu diễn nhằm đưa ca sĩ trong nước ra hải ngoại để hát chung với ca sĩ hải ngoại trong các chương trình biểu diễn. Và tất nhiên, chúng cũng không chỉ để giao lưu giữa ca sĩ với nhau (nghĩa là Hòa-Giải, Hòa-Hợp), mà còn giao lưu cả bài hát của nhạc sĩ trong nước với nhạc sĩ hải ngoại. Những kẻ làm MC đã từng được cộng-đồng người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản tưởng rằng tinh thần “chống cộng” của họ khác hẳn với con buôn văn nghệ Nguyễn Ngọc Ngạn, như Nam lộc và Việt Dũng của trung tâm Asia. Thế nhưng nhóm này đã ma giáo hơn đến mức đứng làm MC cho rất nhiều buổi trình diễn ở hải ngoại, có sự Hòa-Giải Hòa-Hợp của ca sĩ cả trong và ngoài nước cũng như các tác phẩm của cả nhạc sĩ trong và ngoài nước mà còn tìm cách lôi kéo những người nổi tiếng trong cộng-đồng người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản, như Nữ Quân-nhân Hạnh Nhơn, Đại úy Phi công (của Hoa kỳ) Elizabeth Phạm, khoa học gia Dương Nguyệt Ánh… vào cái trò chơi ma bùn nhập nhằng này.

Cho nên giờ đây, nhóm ca sĩ có những kẻ phát ngôn mất dậy như thằng ca sĩ lé Đàm vĩnh Hưng tại buổi trình diễn vừa qua tại Dallas, Fort Worth, Texas, đã được một số bồi bút truyền thông rầm rộ quảng cáo, đáng buồn là có kẻ đã từng đứng chung trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lại đứng ra tổ chức cho chúng trình diễn. Còn số ca sĩ hải ngoại khác về Việt Nam như đi chợ, để hát phục vụ cho những ngày kỷ niệm của tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Ấy vậy mà khi trở ra hải ngoại, chúng vẫn được một số nơi long trọng mời đến giúp vui, thí dụ như cuộc họp thân hữu Đà Lạt vừa qua tại Virginia, đã có sự xuất hiện của Tuấn Ngọc và Ý Lan.

Nêu chuyện này lên, Nam Nhân tôi chỉ có một ước mong duy nhất là nếu chúng ta vẫn còn nghĩ đến tương lai của đất nước và dân tộc Việt Nam, thì hãy tẩy chay những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng-sản. Hãy nhớ bài học vì sao chúng ta phải lưu vong tỵ nạn. Hãy nhớ đến trong cuộc vượt biên, một phần ba trong số chúng ta đã không có cái may mắn để tới được bến bờ tự do, mà phải mượn bụng cá làm mồ chôn.

Quý vị nghĩ gì, khi đọc những dòng tin và nhìn những tấm hình của những người trong cộng-đồng người việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản chúng ta, từ hơn hai mươi năm trước đến nay vẫn còn ôm ấp chút hy vọng, dù chỉ mong manh, kêu cứu mọi người tìm giúp con em của họ còn bị thất lạc trên đường vượt biên tỵ nạn.

Hãy nhổ vào mặt những kẻ lưu manh làm nghề con buôn văn nghệ. Hãy tẩy chay những kẻ không phải là nghệ sĩ như chúng ta tưởng, mà chúng chỉ là lũ “xướng ca vô loài” mà Cha Ông chúng ta đã cảnh báo.

Anh quốc, ngày 09 tháng 12 năm 2009

Nam Nhân



Di Sản “ác chủ ” HCM,

Người Việt khốn khổ tại Paris


Cách Paris chừng 200km về phía bắc, thành phố Lens xuất hiện với những ngọn núi than coke, xa xa trông như những Kim Tự Tháp Ai Cập nhưng lại là màu đen u ám. Đó là xứ sở của những mỏ than miền bắc nước Pháp, một vùng mà tỷ số góa phụ lên rất cao, vì đàn ông ở đây quá lam lũ nên phần nhiều chết sớm. Cách đó không xa, trên con đường hướng về thánh phố Calais, có nhiều khu rừng rậm rạm ít ai lui tới. Xa hơn chút nửa là một vùng đầm lầy ở Saint Omer, nổi tiếng là một khu du lich. Vào muà hè, du khách đến để tìm sự tĩnh mịch hoang vu, có thể mướn những chiếc thuyền nhỏ chèo một mình trên những con lạch ngoằn ngoèo hai bên bờ lau sậy để tìm cái thú cô đơn. Nếu đi đông trên một chiếc tàu có người hướng dẩn thì du khách được yêu cầu giữ im lặng để thưởng thức trọn vẹn những tiếng động của đầm lầy, một sự hòa âm kỳ diệu của loài muôn thú hoang dã.

Trong cái khung cảnh đó, tôi đi tìm những người Việt Nam đang bị bỏ quên. Dưới trời mưa lạnh của miền bắc nước Pháp mà khí hậu thường là ác nghiệt, trong khi vùng Calais đang được báo động đỏ vì bão lụt, tôi lần mò hồi lâu cũng tới được Angres, một làng nhỏ cách Lens chừng 20 km chung quanh toàn là ruộng và rừng. Dân trong làng cũng biết đâu đó đang có những người Việt Nam đang trốn chui trốn nhủi, nhưng họ tỏ ra rất dè dặt, không phải sợ cho họ mà họ sợ cho chính những người sans papier này. Cuối cùng tôi đánh bạo vào Tòa Thị Xã để hỏi thăm. May mắn thay, tôi được đón tiếp tử tế và hướng dẫn rõ ràng. Tôi gặp một nữ nhân viên tên là Laurence Louchaert, tôi phải viết ra đây để vinh danh sự sốt sắng và đầy nhiệt tình của một công chức người Pháp. Bà vẻ cho tôi cái sơ đồ để đi đến chỗ người Việt tập trung. Thấy sơ đồ quá ngoằn ngoèo tôi hơi lúng túng, Bà Louchaert hiểu ý bảo tôi: "Thôi đươc, để tôi đưa ông đi". Tôi chưa kịp vui mừng thì bà nói tiếp: "Ông cho tôi coi đôi giày". Tôi ngạc nhiên nghỉ bụng chẳng lẽ bà nghi mình là shoe terrorist hay sao mà đòi khám giày? Hôm nay tôi mang đôi giày đi rừng và đưa cho bà coi, Bà vui vẻ mỉm cười: "Đường vào đó bùn lầy và trơn trợt lắm, nếu ông mang giày khác chắc đi không nổi đâu".

Tôi theo sau xe bà Louchaert khoảng mươi cây số thì rẽ vào một con đường đất quanh co. Đến rìa một khu rừng thì bà cho mủi xe chĩa vào rừng rồi bóp ba tiếng còi ra hiệu. Một lát sau một số người hiện ra xa xa trong rừng và khi thấy chiếc xe quen thuộc của bà Louchaert, họ yên tâm tiến về phía chúng tôi. Bà Louchaert giao tôi cho mấy người này để họ dắt tôi vào trong rừng sâu, bà chào chúng tôi và lui xe ra về. Mấy người này cho tôi biết bà này là ân nhân, đã nuôi ăn họ và giấu họ ở đây.

Lội khoảng 200 mét sình lầy trơn trợt, sợ tôi té nên hai cậu thanh niên kẹp tôi hai bên, tôi đến được khu lều của những người Việt Nam đang ẩn trốn. Gọi là lều nhưng thật ra chỉ là những tấm nylon chăng ngang chăng dọc, phần nhiều để làm mái còn hai bên bỏ trống, và ngay ở giữa lều cũng là bùn lầy vì nước hai bên bắn vào. Ở giữa căn lều lớn là có một tấm ván để làm bàn, một đống lữa đang cháy, có khoảng chục người đang bu quanh để sưởi, trong đó có hai người đàn bà. Người nào cũng tỏ ra hết sức dè dặt, rụt rè và thận trọng.

Tôi xin phép đươc chụp hình thì mọi người đều đồng thanh là không nên, vì vậy tôi không dám nài nỉ thêm để cho họ yên tâm. Tôi thấy họ như là những con chim bị đạn, sợ tất cả, nghi ngờ tất cả, không biết tin vào đâu, bám vào đâu. Sau khi cắt nghĩa cái lý do tôi tìm đến với họ, họ dần dần yên tâm và kể lể nhiều chuyện với tôi. "Trại" này được lập ra từ tháng Chín 2009. để nhận những người mới và một số người đã sống trong những trại khác từ nhiều năm nay.

Ở đây chỉ có người Việt Nam thôi, hiện có khoảng năm mươi người, con số này lên xuống bất thường, có khi lên đến cả trăm, có khi xuống còn vài người. Ở thời điểm này, "nhập" nhiều vì họ đã ra đi từ mùa hè ấm áp nay mới đến, "xuất" ít vì thời tiết xấu nên những vụ đột kích rời trại cũng rất khó khăn. Những người đến có khi tự tìm đến, có khi do bà Louchaert đem đến, những người đi thì lằng lặng ra đi, không ai biết đi đâu và đi bằng cách nào. Mỗi đêm thường có chừng năm hoặc mười người đi bộ ra bến xe hàng cách đó chừng ba cây số để tìm cách đi qua Anh. Một số đi thoát, một số bị bắt lại thì bị giam trong những trại tù (camps de détention) ở Pháp, Hòa Lan hoặc Đức, hoặc bị trả về nước. Gần đây có một phụ nữ Việt Nam bị bắt và giam ở Hòa Lan tám tháng vừa mới được thả. Chưa có người Việt Nam nào bị đưa về nước vì họ nhất quyết liều chết để được ở lại

Những người này tuy sống chung với nhau trong cùng một hoàn cảnh nhưng cũng xa lạ với nhau và hình như cũng "giữ miếng" với nhau, mặc dù họ đều có chung một tâm trạng là sợ bị bắt và sợ bị đưa về lại Việt Nam. Tất cả đều không biết nói tiếng Pháp, một vài người biết bập bẹ vài tiếng Anh nên nếu có sự giao thiệp với bên ngoài, ngay cả với bà Louchaert thì cũng rất khó khăn. Một lát sau, gần như họ tin tưởng hơn nơi tôi nên câu chuyện có phần cởi mở hơn nhưng cũng không tránh được sự dè dặt rụt rè. Chỉ có cậu trẻ nhất, 19 tuổi, ít thận trọng và bạo phổi nhất nên cho tôi biết tên là Trần Mạnh Hùng đã đi từ Đồng Hới vào khoảng tháng Ba năm nay. Một phần nửa đã có gia đình để lại bên nhà, tất cả đều đi từ Việt Nam bằng đường bộ từ khoảng đầu năm đến nay.

Trước mặt tôi, một "niên trưởng" 47 tuổi (nhỏ hơn tôi gần 30 tuổi!) cho biết là đã đi từ Hòa Bình cách đây năm tháng. Một thanh niên có vẽ lanh lẹ nhất đã đi từ vùng Hà Nội nhưng nhất định không cho tôi biết đích xác là ở đâu. Không có người nào đi từ miền Nam hay phía nam tỉnh Quảng Bình, tức là những người bỏ nước ra đi này đã sống dưới chế độ cộng sản từ xưa đến nay, phần lớn sinh sau năm 1975.

Một đường dây ở Việt Nam buộc những người này phải trả từ 200 đến 300 đô la để đươc chở qua Tàu bằng xe lửa rồi từ đó họ phải tự túc. Họ tiếp tục di chuyển bằng đủ mọi phương tiện, sống bờ sống bụi bằng đủ mọi cách để qua Nga, xuyên qua các nước Đông Âu, Đức rồi cuối cùng đến Pháp mà họ cho là trạm áp chót, vì mục tiêu từ khi còn ở Việt Nam phải là Anh Quốc, thiêng đàng của tỵ nạn theo họ. Vì vậy số phận đã đưa đẩy họ tới vùng sình lầy Calais này, bờ biên giới với nước Anh. Cách đây mấy năm, Pháp phải đóng cửa trạm tiếp đón ở Sangatte ở ngay trên miệng hầm xuyên qua biển Manche, vì nhiều người tỵ nạn bất chấp hiểm nguy đã tìm cách qua Anh bằng đường hầm.

Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày. Khám xét những xe vận tải đầy ắp hàng đi từ nước này qua nước khác làm cho cảnh sát biên phòng phải điên đầu vì không phải là chuyện đơn giản lúc nào cũng làm đươc. Năm ngoái, hải quan Pháp đã khám phá được mười mấy xác chết người Á Châu vì ngột ở trong xe hàng, không biết có phải là Việt Nam không. Ngày nay hải quan ở Calais và ở Douvres có một phương pháp khoa học hơn, là đo lượng khí cac-bô-nic (CO2) thải ra để biết trong xe có người hay không.

Cuộc nói chuyện đi dần tới chỗ thân mật hơn. Một bác đã lớn tuổi cho biết là đã đi từ vùng Nghệ Tĩnh. Tôi buộc miệng pha trò:" Quê hương Bác Hồ". Ông này diềm tỉnh trả lời:" Vâng, tôi sinh ra ở quê hương Bác, nhưng không muốn chết đói ở quê hương Bác." Một người trẻ hơn, đi từ Quảng Bình, cho biết là đã bỏ lại vợ và hai đứa con nhỏ ở lai vì :" Chỉ còn một miếng ruộng nhỏ, cày cấy cho lắm cũng chỉ đủ nuôi một miệng ăn thôi, tôi phải ra đi để bớt đi một miệng".Trong khi đó, mức xuất cảng gạo ở Việt Nam đứng vào hàng nhất nhì thế giới.

Tôi liên tưởng đến truyện "Anh phải sống" của Nhất Linh, vì trong cặp vợ chồng, một người phải chết để cho người kia sống nuôi con. Tôi hỏi anh bạn đi từ Hà Nội: "Nghe nói kinh tế trong những năm sau này phá triển lắm phải không?" Anh trả lời: "Vâng, đúng thế, bây giờ Hà Nội xây nhiều nhà cao tầng, nhiều khách sạn năm sao, nhưng nhà càng cao thì khoảng cách giàu nghèo càng lớn." Nhìn hai cô gái, tuy xơ xác nhưng mặt mày còn xinh xắn, tôi đùa: "Sao không ở lại Việt Nam để lấy chồng mà qua đây làm gì cho khổ thế này?". Cô trẻ, 22 tuổi, ngồi im lặng suy tư, còn cô lớn, độ ba mươi tuổi, có vẻ có trình độ khá, chua chát: "Ở Việt Nam có thể bị bán cho Đại Hàn, cho Đài Loan. Giữa hai cái chết, chúng em lựa cái chết ít nhục nhã hơn." Tôi hối hận vì câu nói thiếu tế nhị của tôi đã gợi trong lòng cô một nỗi ray rứt vô hạn.

Những mẫu chuyện xót xa thực sự trên phải ghép lại thành một cuốn phim dài, thật dài, mới nói hết những gì trong tâm tư họ và những gì đã xảy ra ở Việt Nam sau hơn ba mươi năm hòa bình và thống nhất đất nước.

Gặp người Việt Nam họ vừa mừng vừa sợ. Họ sợ nhất là người của Tòa Đại Sứ Việt Nam, đến điều tra để tao rập đưa họ trở lại Việt Nam. Họ đang cho mình là kẻ thù của nhà nước, có thể bị xử lý. Họ cũng biết thường khi chính phủ Pháp trả về thì cho một ít tiền, không biết có đến tay họ không, hoặc chính phủ Pháp có thể trao đổi bằng một số tiền nào đó để bớt đi một gánh nặng xã hội. Vì vậy họ kín đáo, nghi ngờ và hình như có một thứ kỷ luật vô hình nào đó đang đè nặng lên họ.

Mùa đông tới, khắp nước Pháp đang rầm rộ bắt đầu những biện pháp cứu trợ. Từ những Resto du Coeur cho đến những Samu Social cứu trợ cấp thời, năm nào cũng đươc chuẩn bị chu đáo nhưng vẫn có nhiều thiếu sót. Lẽ tất nhiên là họ cũng lo tới cho những người Việt Nam này, không phải chỉ vì lòng nhân đạo không thôi mà còn là một nghĩa vụ cao quý của con người đối với con người.Tuy nhiên họ găp một trở ngại là những người này không dám ra khỏi rừng, vì lúc nào cũng nơm nớp sợ "ông kẹ" tòa đại sứ VC đến làm thịt. Chính vị ân nhân, bà Louchaert đã thổ lộ với tôi như vậy bằng điện thoại sau khi tôi thăm viếng. Nếu không có những ân nhân đó đem thực phẩm cứu trợ tới thì những người Việt Nam này đã biến thành những Tarzan thực sự của thế kỷ 21.

Vì trời tối, tôi phải về vì đường xa, anh em lịch sự đưa tôi ra và chào hỏi rất nhã nhặn. Trên khuôn mặt sáng sủa của mọi người thấy rõ một ý chí cương quyết vì những quyết định của họ là có suy nghĩ chứ không phải hồ đồ nông nổi. Chỉ có một điều là trong suốt cuộc gặp gỡ, tôi không hề thấy được một nụ cười.

Trên đường về, khi nghe radio nói tới hội nghị Việt kiều ở Hà Nội, tôi ray rứt bởi câu hỏi là những người Việt Nam đang ở trong rừng Angres này có phải là đối tượng của Nghị Quyết 36 không, hay đối tượng của nó là mấy ông Việt kiều có lắm đô la? Họ có còn được gọi là "khúc ruột ngàn dặm" không hay chỉ là một khúc ruột thừa phải cắt đi ?

Paris, ngày 30 tháng Mười Một 2009
Phương Vũ Võ Tam Anh







Người Việt trốn trong xe tải chở hàng từ Calais (Pháp) để sang Anh Quốc
bị nhân viên biên phòng Anh Quốc bắt giữ. (Nguồn:
http://www.dailymail.co.uk)




Người Việt chui nhủi giữa rừng nước Pháp



“Muốn quay về nhưng cách trở núi non/Đường xa lắm em ơi xa ngàn dặm” - đó là hai câu trong một bài thơ nhớ nhà, nhớ quê quay quắt của một người Việt sống bất hợp pháp trong rừng Calais (Pháp) mà nhà báo Việt kiều Võ Trung Dung đã gặp.

Tôi lái ô tô rời thủ đô Paris lúc hừng đông và mất 3 giờ 30 phút vượt đoạn đường 230km để tìm gặp những người Việt di cư lậu đang tìm đường sang Anh. Những ngày cuối tháng 11, nhờ khí hậu vùng biển nên mùa thu ở vùng Calais vẫn còn ấm áp. Đến làng Téteghem, không xa thành phố cảng Dunkerque, thủ phủ của vùng Calais, tôi tìm thông tin bước đầu từ bà chủ tiệm bánh mì ở góc phố.

“Bà có biết những người Việt di cư lậu đang sống ở đâu không?”. Bà chủ tiệm nhanh nhảu: “Có chứ. Hồi sáng tôi còn trông thấy họ cách đây 3km. Thấy họ đang bị lạnh. Tôi có cho họ vài ổ bánh mì. Tôi cũng biết có những người Việt ở Angres, hơi xa hơn. Tôi nghĩ ở đó còn đông hơn. Trông họ tội quá! Sống trong rừng mùa này chắc là cực lắm...”. Thế là tôi lên xe trực chỉ Téteghem, rồi sau đó đi Angres.

Trên đường đi, bên trái là cánh đồng củ cải, bên phải là con đường ngập bùn len lỏi giữa những hàng cây lúp xúp. Nhắm theo hướng những túi nilông, vỏ chai nước vứt lăn lóc bên đường, tôi lái xe xuống con đường mòn, đi vào nơi cách đường nhựa khoảng 300m.

Thấp thoáng phía xa hai bóng người đang ôm mấy bó cây khô làm củi. Trông thấy tôi họ bỏ chạy thật nhanh. Tôi tiếp tục đi ngang qua một cái lều. Bên trong không một bóng người. Hẳn họ cũng không ở xa nơi đây vì còn thấy mấy chiếc bàn chải đánh răng trên một bàn gỗ thấp. 16 chiếc cả thảy. Cũng dễ dàng nhìn ra những cái mền gấp trong góc căn lều tạm bợ.

“Có người đến, có người đến!”. Tôi nghe loáng thoáng tiếng người nói bằng tiếng Việt. Tôi cứ theo hướng có tiếng người mà đi. Trước mắt tôi giờ đây là khu vực có nhiều căn lều tạm bợ. Không một bóng người. Nhưng hai nồi cháo gà nghi ngút khói trên hai cái bếp tạm nấu bằng củi.

“Anh chị ơi, tôi là người Việt mình nè!”, tôi hét lên.

Tiếng bước chân giẫm trên lá khô sột soạt vọng lại. Những bóng người rón rén xuất hiện. Cả nam lẫn nữ. Họ vội lấy tay che mặt khi trông thấy chiếc máy ảnh lủng lẳng trước ngực tôi. Tôi vội trấn an ngay: “Anh chị đừng sợ. Tôi chỉ muốn đến hỏi chuyện. Tôi chỉ chụp ảnh khi nào anh chị đồng ý...”.

Cuộc chuyện trò của chúng tôi thường bị ngắt quãng bởi những đợt ho. Thời tiết lạnh của miền bắc nước Pháp, khí trời ẩm ướt cùng điều kiện sống thiếu vệ sinh đã mài mòn sức khỏe họ nhanh chóng. Thật khó tưởng tượng cảnh người ta phải sống trong những điều kiện tồi tệ thế này ở nước Pháp. Tôi từng thấy những cảnh sống như vậy ở nhiều nơi khác trên thế giới, nhưng là ở những quốc gia đang bị chiến tranh như Sudan, Iraq hoặc Palestine...




Ngày mai sẽ ra sao? Đó là tâm trạng của hai người đàn ông trong ảnh
cũng như nhiều đồng hương khác sống trong rừng Calais - Ảnh: Võ Trung Dung



Một phụ nữ đang nấu cơm cho cả nhóm trên cái bếp tạm bợ
trong khu rừng hoang Calais (Pháp)


Bên ngoài một căn lều vừa tạm bợ vừa dơ bẩn.
Có khoảng 7-12 người Việt ở Téteghem và 27-40 người ở Angres



Họ phải đi lấy nước từ những họng nước công cộng dùng rửa đường, chữa cháy


Một nhóm người Việt trên xe buýt trở về khu rừng hoang Calais sau khi đi siêu thị.
Họ phải tính toán, dè sẻn từng xu



Hai thanh niên phá tung một tấm pallet gỗ tạp để làm củi đốt. Đêm đến họ không có điện,
không có đèn, chỉ có cách đốt gỗ tạp lấy ánh sáng và sưởi ấm



Hai người trong nhóm ôm bánh mì xin được trong làng băng qua cánh đồng về khu lều.
Dân cư trong làng khá tốt bụng, mọi người thường đi ngang đưa đồ ăn cho người Việt



Cộng đồng người Việt ở thành phố Dunkerque biết những người Việt này ít ăn món
Tây nên đem gạo và nước mắm đến cho. Ba người Việt nấu cơm trưa cho mọi người
tại rừng hoang Téteghem



Đàn ông thường giết thời gian bằng những bàn cờ tướng


Ăn mì qua bữa, tối đến họ sẽ đi bộ 3,4km đến khu đậu xe tải rồi tìm đường sang Anh

Võ Trung Dung (Tuổi Trẻ)

Bài Xem Nhiều