We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 14 December 2009

Tâm sự của ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc bắt giữ

"Chúng tôi tăng tốc chạy được khoảng 11 hải lý thì bị họ khống chế, đưa về đảo Phú Lâm", thuyền trưởng Dương Lúa kể về việc bị tàu Trung Quốc truy đuổi hôm 7/12 trên vùng biển Hoàng Sa.
Trong hai ngày 7 và 8/12, ba tàu đánh cá cùng 43 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, lại bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang hành nghề trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Đến tối 11/12, tàu của thuyền trưởng Lê Tân (ký hiệu QNg-96004 TS) cùng 43 ngư dân mới được Trung Quốc thả về đến đảo Lý Sơn. Trung Quốc vẫn còn giữ lại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, hai chiếc tàu của các ông Dương Lúa và ông Lê Văn Lộc. Tất cả tài sản, thiết bị máy móc, ngư cụ của cả ba tàu đều bị phía Trung Quốc tịch thu, với tổng trị giá gần 2 tỷ đồng.
Sau ba ngày trở về với gia đình, nhưng thuyền trưởng Dương Lúa vẫn chưa hết bàng hoàng. "Người đã bình an trở về, nhưng tài sản tích cóp cả đời bị mất sạch, giờ biết lấy gì nuôi sống gia đình trong thời gian tới", ông Lúa nghẹn ngào nói với VnExpress.net.
Ông Lúa bảo rằng, năm ngày đêm bị phía Trung Quốc bắt giữ là khoảng thời gian thật khủng khiếp đối với 43 ngư dân đảo Lý Sơn.
Viên thuyền trưởng kể, sáng 7/12, khi tàu của ông đang neo đậu trên vùng biển Hoàng Sa trong khi đánh bắt cá, thì bất ngờ một tàu sắt màu trắng của Trung Quốc xuất hiện truy đuổi quyết liệt. "Chúng tôi tăng hết tốc độ cố chạy thoát nhưng chỉ chạy được hơn 11 hải lý đã bị đuổi kịp", ông Lúa nói.
Ngư dân Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: Chí Trung

Khi áp sát tàu ngư dân Việt Nam, ba người chịu trách nhiệm cao nhất của tàu Việt Nam bị phía Trung Quốc đưa qua tàu của họ. Những thuyền viên còn lại bị khống chế đưa lên trên mũi tàu. Sau đó, phía Trung Quốc đưa tàu và các ngư dân Việt Nam về đảo Phú Lâm giam giữ.
Thuyền trưởng Lê Văn Lộc góp lời, trưa 8/12, khi các ngư dân trên tàu của ông vừa mới vung lưới đánh bắt (sau 3 ngày neo đậu tránh gió), bất ngờ thấy tàu Trung Quốc đang vây bắt tàu của ông Lê Tân cũng hành nghề, cách tàu ông khoảng 10 hải lý. Hoảng quá, ông Lộc cho tàu bỏ chạy. "Nhưng chỉ chạy được khoảng nửa giờ thì chúng tôi đã bị tàu Trung Quốc áp sát và khống chế, đưa về đảo Phú Lâm, lúc đó khoảng 18h30", ông Lộc nhớ lại..
Các thuyền trưởng cho biết, khi đến đảo Phú Lâm, tất cả ngư dân đều bị người phía Trung Quốc lấy mũ vải đen trùm kín lên đầu. "Vừa đói, vừa mệt, tinh thần chúng tôi càng thêm hoảng loạn. Lúc đó chỉ sợ không còn được về gặp gia đình. Sau đó, phía Trung Quốc dẫn anh em đến nhốt chung vào nhà kho ", ông Lộc nói.
Tiếp lời, ông Dương Lúa cho biết, trong những ngày bị nhốt, các thuyền trưởng luôn bị phía Trung Quốc gọi lên ký vào các biên bản. Sau đó, có một người thông dịch viên đến đưa cho mỗi thuyền trưởng một bản cam kết viết bằng tiếng Việt bắt ký vào. “Với tình cảnh như thế, chúng tôi buộc phải ký vào biên bản chứ chẳng còn cách nào khác”, ông Dương Lúa cho biết.
"Trước khi phóng thích tàu của ông Tân đưa chúng tôi về lại Lý Sơn, người Trung Quốc đưa những bao được cho là thuốc nổ từ trong kho của họ xuống ba tàu. Sau đó bắt mỗi ngư dân chúng tôi phải ôm một bao trên tay để họ quay phim, chụp ảnh nhằm cáo buộc chúng tôi đã sử dụng chất nổ trái phép", ông Lộc bức xúc nói.
Trở về được đến nhà, các ngư dân Quảng Ngãi thở phào nhẹ nhõm, song không khỏi lo toan về ngày mai, khi phải mưu sinh nuôi cả gia đình, trong khi toàn bộ tàu thuyền, máy móc, ngư cụ đều đã bị Trung Quốc giữ ở đảo Phú Lâm.
Thuyền trưởng Lúa bộc bạch: "Về đến đất liền, đoàn tụ với gia đình lòng tôi mới thực sự nhẹ nhõm sau những ngày bị giam giữ. Nhưng nghĩ tới ngày mai, gia đình không biết sẽ sống ra sao khi trong nhà chẳng còn một đồng vốn nào".
Trong thời gian chờ đợi phía Trung Quốc trả tàu, ông Lúa dự định xin đi theo phụ thuê cho các tàu đánh bắt cá khác để lo miếng cơm tạm thời cho gia đình. Còn thuyền trưởng Lộc chép miệng: "Giờ tôi chỉ biết ngồi nhà chờ đợi cơ quan chức năng can thiệp với Trung Quốc, mong lấy được tàu về càng sớm càng tốt để kiếm cách sinh nhai cho gia đình".
Trao đổi với VnExpress.net chiều 14/12, ông Phạm Đình Khối, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi cho biết, UBND tỉnh đang chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục củng cố hồ sơ, làm rõ các chứng cứ, nội dung tường trình của 43 ngư dân để xem xét họ có vi phạm gì không. Nếu họ không vi phạm và phía Trung Quốc bắt giữ tàu không đúng, thì tỉnh sẽ kiến nghị Bộ Ngoại giao có giải pháp can thiệp phía Trung Quốc thả ngay vô điều kiện hai tàu cá của ngư dân.
"Chiếc tàu là tài sản cả đời của ngư dân. Nhà nước không thể để tài sản và chuyện hành nghề mưu sinh của ngư dân cứ bị đe dọa như vậy được", ông Bí thư tỉnh Quảng Ngãi nhấn mạnh.
Trong năm nay, nhiều tàu cá của ngư dân Việt Nam cũng bị Trung Quốc bắt giữ khi đang hành nghề đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Lê Thanh

VẪN LÀ LOẠI "TRÍ THỨC" ẤY (?)


Dư âm của cái gọi là "Đại Hội Viêt Kiều" (hay Đại hội người Việt ở nước ngoài) diễn ra trong ba ngày vào cuối tháng 11 vừa qua (21-23.11.2009) tại Hà-nội còn lại chỉ là một bài viết của Ông Nguyễn Hữu Liêm, một đại biểu từ San Jose, Hoa Kỳ, về tham dự. Bài này tựa là "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an" dài bốn trang được tác giả viết sau "đại hội" và được phổ biến trên blog Talawas.

Như tự giới thiệu nơi phần đầu bài, Nguyễn Hữu Liêm là một cựu quân nhân Quân lực VNCH đã di tản khỏi Việt Nam trưa ngày 30.4.1975, và nay là "chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt – Mỹ". Ông Nguyễn Hữu Liêm còn có tên Mỹ là Henry Nguyen Huu Liem, và có bằng J.D. (1987), bằng M.A. Philosophy (1998).

Vì có bằng cấp về triết học nên hơn phân nửa bài được Ông Nguyễn Hữu Liêm dùng để viết về Hegel, Edmund Husserl, Derrida, Lý Đông A, Paul Ricoer... không ăn nhập gì tới "Đại hội Việt kiều", mục đích không ngoài làm dáng trí thức và biện bạch quanh co cho sự đầu hàng và phản bội.

Sự đầu hàng và phản bội được diễn tả trong phần còn lại của bài viết, mà rõ rệt nhất và trơ trẽn nhất là phần cuối bài:

"Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài ‘Tiến quân ca’ được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước 1963 thì cùng với bài hát buồn cười ‘Suy tôn Ngô Tổng thống’. Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thằng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca hát bài ‘Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng’. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ - đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước".

Thế đấy! Nếu cảnh trên đây diễn ra "từ hồi thế kỷ trước", khoảng giữa thập niên 1940, nó có thể là cảnh thực. Nhưng, năm 2009 của Thế kỷ 21 là cảnh giả - giả từ bên ngoài đến trong tận đáy lòng của mỗi người, do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn gồm những cò mồi và những kẻ xu thời vì nhiều lý do.

Ông Nguyễn Hữu Liêm muốn tỏ ra là một người trí thức, nhưng lại chỉ là loại trí thức mà hàng thế kỷ trước đã được cộng sản dùng làm cảnh ở nhiều nơi để lừa gạt những người khác trên con đường cướp chính quyền và củng cố quyền lực. Trong lịch sử cướp chính quyền và củng cố quyền lực của Đảng Cộng sản VN hơn nửa thế kỷ qua cũng có sự tiếp tay của loại người này mà một tên tuổi lớn được Nguyễn Hữu Liêm nhắc tới trong bài là Trần Đức Thảo. Ông Thảo là một giáo sư Triết tại Paris đã mê chủ nghĩa Mác và nghe lời chiêu dụ của Hồ Chí Minh mà trở về Việt Nam hợp tác với chế độ cộng sản ở miền Bắc để rồi bị vỡ mộng, bị gạt ra bên lề và kéo dài kiếp sống cực kỳ khốn khổ cả về vật chất lẫn tinh thần cho đến lúc nhắm mắt.

So với Trần Đức Thảo thì Nguyễn Hữu Liêm chỉ là một kẻ vô danh nhưng khôn hơn người đi trước. Ông Liêm chỉ đi Việt Nam tham dự "Đại hội Việt kiều" để được đón tiếp long trọng và lễ lạc linh đình, sau đó lại trở về Mỹ mà ông ta gọi là "đi" Mỹ:

"Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để ‘đi’ California – không phải ‘về’ như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước. Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không? Con người tôi vẫn là con người của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc. Tôi chưa phải là con người tự do.

Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!"
<= (ý kiến độc giả: fini-italia-ant cái ông Liêm nì ... bưng bô đi đổ cho sạch thì được rồi, còn nếm chi nữa ??? đúng là dân trí điên !!!)

Bao giờ thì Nguyễn Hữu Liêm "thực sự trở về" để làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Có lẽ không bao giờ, và nhà cầm quyền CSVN cũng không bao giờ hoan nghênh "nhà trì thức" Nguyễn Hữu Liêm trở về VN sinh sống, vì khi ấy ông ta sẽ không còn "hữu dụng" nữa mà có thể còn "gây rắc rối" cho sự trị an - như Trần Đức Thảo đã bị buộc tội hơn nửa thế kỷ trước.

Vậy thì nay Ông Nguyễn Hữu Liêm "đi" Mỹ với tư cách gì?

"Việt kiều"? Không. Ông Liêm không phải là Việt kiều vì ông ta đã trở thành công dân Mỹ. Ông ta chỉ có thể là Việt kiều sau khi từ bỏ quốc tịch Mỹ, và lấy lại quốc tịch Việt Nam.

Nếu không làm như vậy, Ông Nguyễn Hữu Liêm ở trong tình trạng "vịt không ra vịt, ngan chẳng phải ngan". Với những gì đã làm ở Hà-nội và đã viết trong bài báo, ông ta đã mặc nhiên tự coi mình là một công dân của nước CHXHCN Việt Nam. Những hành động ấy đã chứng tỏ ông ta không trung thành với nước Mỹ - đất nước đã dung nhận ông ta và ông ta đã tuyên thệ khi trở thành công dân – mà còn là một sự phản bội đối với những người trước đây đã tin ông ta, đã coi ông ta là "chiến hữu", và những người đã chấp nhận ông ta là một người "tị nạn" cộng sản và cho ông ta cơ hội để trở thành con người như hôm nay.

Nguyễn Hữu Liêm tự nhận là một người "trí thức" và cố viết lách một cách uyên bác, nhái giọng yêu nước của những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước. Nhưng, thế giới của nửa thế kỷ trước đã khác xa với thế giới ngày nay, trong đó các thuộc địa đã không còn, các chế độ cộng sản ngSơn Tùng: Vẫn Là Loại uyên khởi đã hoàn toàn biến mất khỏi Âu Châu, vài chế độ cộng sản còn sót lại – trong đó có Việt Nam – đã trở thành những con quái vật cổ lỗ bị biến dạng đang chờ bị diệt chủng trước phong trào dân chủ ngày một dâng cao.

Một người tự nhận là "trí thức" mà không thấy nổi bức tranh toàn cảnh ấy là thiếu sự minh triết, tự hiến thân làm chậu cảnh cho một bạo quyền cuối mùa là không có trí, không cảm thấy bất bình và không hề nhắc đến sự đàn áp những chiến sĩ dân chủ ở Việt Nam – trong đó có nhiều trí thức chính danh – là không có tâm. Không có sự minh triết, không có trí, và không có tâm thì không phải là trí thức.

Nguyễn Hữu Liêm có vài mảnh bằng đại học nhưng không thể được gọi là trí thức, và thua xa những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước mà trùm Cộng sản Nga Vladimir Lenin gọi là "những tên ngốc hữu dụng", vì dù sao có thể lúc ấy họ cũng là những người thực sự yêu nước và mê chủ nghĩa cộng sản từ trong tháp ngà.

Những giọng điệu yêu nước của người tự nhận là Việt kiều Nguyễn Hữu Liêm thì có thể đọc được trên bất cứ tài liệu tuyên truyền nào phát xuất từ Hà-nội, do bồi bút viết.

Sơn Tùng (8.12.2009)


take2tango.

Tin tức tổng hợp

Sau 34 năm nhà cầm quyền CSVN lãnh đạo và độc tài cai trị đã biến Việt Nam trở thành gần như hoang mạc. Toàn bộ bầu không gian ô nhiễm nặng nề. Rừng, đất, biển, khí hậu, môi sinh bị tàn phá đến nay chưa có tổ chức nào thống kê được sự thiệt hại trên bình diện cả nước.

Trong bản Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu 2010 do tổ chức phi chính phủ Germanwatch công bố hôm qua bên lề hội nghị Copenhagen, Việt Nam là một trong 4 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu khắc nghiệt trong gần 20 năm gần đây, từ 1990 đến 2008.

Theo bản báo cáo này, Việt Nam đi sau ba quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Bangladesh, Miến Điện và Honduras, nhưng đứng trên các nước như Nicaragua, Haiiti, Ấn Độ, Cộng hòa Dominica, Philippines và Trung Quốc. Thống kê cho thấy trong gần hai thập niên qua, tại Việt Nam, các trận bão, lũ lụt và hạn hán, trung bình mỗi năm làm cho 466 người thiệt mạng, gây tổn thất vật chất trên 1,5 triệu đôla.

Riêng cho năm 2008, Việt Nam bị xếp thứ ba trong số các nước bị hiện tượng khí hậu khắc nghiệt làm cho thiệt hại nặng nề nhất. Báo cáo nêu bật tác hại của trận bão Hagupit, đổ ập vào miền Bắc Việt Nam vào tháng 9 năm 2008, với sức gió lên tới 220 cây số giờ. Mưa lũ, đất lở, lũ quét đã phá hủy 30 chục ngàn ngôi nhà, và làm cho hàng chục người thiệt mạng. Trong năm 2008, bị thiệt hại nhiều hơn Việt Nam do thiên tai khắc nghiệt, chỉ có Miến Điện với cơn bão Nargis, và Yemen bị lũ lụt nghiêm trọng.

Vấn đề đáng lo ngại cho Việt Nam là trong thời gian gần hai mươi năm qua, Việt Nam nằm trong diện các nước thường xuyên bị hiện tượng thiên tai khắc nghiệt tàn phá. Tình trạng nhiệt độ trái đất gia tăng, nếu không được cải thiện, sẽ tiếp tục làm cho khí hậu bị lệch lạc, và Việt Nam sẽ tiếp tục bị đe dọa.

Xin nhắc lại là Germanwatch là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực phát triển và khí hậu của Đức. Hàng năm tổ chức này đều công bố báo cáo về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu trên cơ sở tổng hợp và phân tích những thiệt hại do các hiện tượng khí hậu gây ra.

Cộng Việt: "Bão" Lòng Dân đang nổi khắp đó đây

Tỉnh Vĩnh Phúc, khởi đầu là huyện Yên Lạc, xã Đinh Xá tiếp đó là toàn huyện Vĩnh Tường. Những cuộc tranh đấu đòi dân sinh, dân chủ luôn âm ỉ, kéo dài hàng chục năm và sẵn sàng bùng phát mạnh mẽ nhằm chống trả quyết liệt bọn độc tài, tham nhũng từ địa phương tới những tên chóp bu ở Hà Nội

Vụ mới nhất này xảy ra trong hai ngày 07/12 và 08/12 tại xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.

Báo Tiền Phong nói mãi tới trưa thứ Ba 08/12, cảnh sát mới ổn định được tình hình.

Nguyên nhân vụ đập phá trụ sở xã này được nói là do bức xúc về giá điện tăng cao.

Sự việc, theo Tiền Phong, bùng phát vào tối thứ Hai 07/12.

"Khoảng 21h30 phút, hàng trăm người dân xã Nghĩa Hưng kéo đến nhà chủ tịch xã đập phá, ném gạch đá, gây huyên náo cả vùng."

"Sau đó, họ hò hét, rủ nhau lên trụ sở UBND xã đập phá tất cả các cánh cửa, đốt, hủy một bộ máy vi tính, xe máy và đốt nhiều giấy tờ, tài liệu quan trọng của chính quyền địa phương."

Lý do được nói là các hợp tác xã làm dịch vụ cung cấp điện đã nâng giá bán cho người dân cao hơn giá trần do Nhà nước quy định.

Toàn huyện Vĩnh Tường hiện có 30 hợp tác xã làm dịch vụ điện tại 28 xã, thị trấn.

Được biết dân vùng này từng tụ tập vây cổng UBND xã, phá cổng nhà chủ tịch xã, ném gạch đá vào nhà và đánh bị thương ba công an hồi cuối tháng 11 năm ngoái.

Cơ quan chức năng Nghĩa Hưng, Vĩnh Phúc tuyên bố sẽ "xác định rõ lý lịch và hành vi cụ thể của từng đối tượng để nghiêm trị trước pháp luật".

Đây không phải là lần đầu tiên người dân có hành động bột phát phá hoại trụ sở cơ quan công quyền và chống người thi hành công vụ.

Hiện Tòa án tỉnh Đồng Nai đang xét xử 46 người tham gia vụ "gây rối" và đốt trụ sở xã hồi tháng 02/2009.

Hôm 18/02, khoảng 200 người đã kéo tới trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Long Hưng, huyện Long Thành để phản đối việc giải tỏa cho dự án đô thị sinh thái kinh tế Long Hưng.

Đám đông đã tràn vào trụ sở, chiếm toàn bộ tầng trệt, khống chế Chủ tịch và Bí thư Đảng ủy xã, đồng thời chống lại công an bằng gậy, đá, xăng và đốt trụ sở cùng xe của cảnh sát, và bẻ gẫy cột cờ.

Thiệt hại ước tính lên tới 645 triệu đồng.

Trước đó, một vụ khác gây chú ý là vụ đập phá xe mô tô của cảnh sát ngày 02/01/2009 trên quốc lộ 20 từ Đồng Nai đi Đà Lạt.

Hàng nghìn người đổ tới xem khiến giao thông tắc nghẽn nhiều tiếng đồng hồ. Xe cảnh sát bị đập bẹp.

Trong vụ đập phá xe cảnh sát, hồi tháng Bảy tòa án huyện ở Đồng Nai đã xử 13 bị cáo tổng cộng 41 năm tù.

Hàng chực triệu người đang tìm đường bỏ nước ra đi - Trung Cộng Bất Ổn Đang Bao Trùm Lên Cả Nước

Từ khi xảy ra bạo động giữa hai cộng đồng người Hán và người Duy Ngô Nhĩ, chính quyền Trung Quốc đã truy lùng những người mà họ tình nghi là can dự vào các vụ bạo động. Đã có 41 người Duy Ngô Nhĩ bị đem ra toà xét xử, 17 người bị kết án tử hình, trong đó có 9 người đã bị hành quyết.

Theo Tân Hoa Xã, những người này bị bắt tại vùng Tân Cương trong khuôn khổ chiến dịch chống tội phạm hình sự do lực lượng Công An Trung Quốc tiến hành vào tháng 11 vừa qua. Vấn đề là nguồn tin trên không cho biết quốc tịch của những nghi phạm bị bắt giữ.

Xin nhắc lại là từ ngày bạo động giữa hai cộng đồng người Hán và người Duy Ngô Nhĩ xẩy ra vào tháng 7 tại Urumqi, thủ phủ Tân Cương, đã khiến ít nhất 200 người thiệt mạng, chính quyền Trung Quốc đã mở cuộc truy lùng những người mà họ tình nghi là can dự vào các vụ bạo động, đại đa số là người Duy Ngô Nhĩ. Đã có 41 người bị đem ra toà xét xử, 17 người bị kết án tử hình, trong đó có 9 người đã bị hành quyết.

Theo phong trào Duy Ngô Nhĩ lưu vong, bạo động đã bùng lên sau một cuộc biểu tình ôn hòa của người Duy Ngô Nhĩ đòi hỏi chính quyền làm sáng tỏ vụ hai đồng hương của họ bị sát hại trong một nhà máy ở miền Nam Trung Quốc. Chính quyền Bắc Kinh ngườc lại đã tố cáo những thành phấn bị họ gọi là ''phần tử sắc tộc ly khai'' đã gây nên bạo động. Tuy nhiên, chính quyền đã không đưa ra bằng chứng về lời tố cáo này.

Theo AFP, tại Tân Cương, một bộ phận trong cộng đồng 8 triệu ngườI Duy Ngô Nhĩ, chiếm đa số trong vùng, vẫn luôn luôn tố cáo chính quyền mượn chiêu bài chống khủng bố để kỳ thị tôn giáo và văn hoá. Họ cũng lên án việc đưa người Hán từ nơi khác đến ồ ạt định cư tại Tân Cương trong khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế khu vực.

Theo các nguồn tin báo chí và đài phát thanh tại Phnom Penh, có ít nhất 16 người Duy Ngô Nhĩ, một sắc tộc với đa số theo Hồi giáo tại tỉnh Tân Cương, cực tây Trung Quốc đã tìm đường chạy đến Căm Bốt khẩn cầu Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ra tay giúp họ có nơi chốn tỵ nạn chính trị.

Ông Khieu Sopheak, phát ngôn viên bộ Nội vụ Căm Bốt, nói hôm thứ sáu: “Ðầu tiên bộ nghe nói đến có 16 người trong đoàn Duy Ngô Nhĩ chạy tới đây xin tỵ nạn. Nhưng cho đến nay không rõ có bao nhiêu người và cũng chưa có thông tin chính thức từ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc.”

Ðược biết căn nguyên của sự kiện tỵ nạn mới từ một địa phương xa xôi, cách trở với Căm Bốt là do cuộc đối đầu vào tháng 7 vừa qua giữa cộng đồng Duy Ngô Nhĩ địa phương với người Hán chiếm đa số trên ngay quê hương Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ. Biến động đẫm máu giữa các sắc tộc trên lãnh thổ Tân Cương đã làm 197 người chết và hơn 1.600 người bị thương.

Trong khi đó sự kiện người Duy Ngô Nhĩ tìm đến Căm Bốt xin được che chở đã được báo Washington Post tại Hoa Kỳ đưa tin, nhưng với số lượng là 22 người. Tuy nhiên phát ngôn viên Khieu Sopheak lại nói: “Chúng tôi không biết họ đến khi nào. Bây giờ đang dưới sự kiểm soát của văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn. Cao Ủy chưa gởi cho bộ Ngoại giao Căm Bốt bất cứ thông tin gì liên hệ đến vụ việc này.”

Theo tin tức báo chí tại Phnom Penh, trích dẫn từ Washington Post, 22 thành viên Duy Ngô Nhĩ tham gia cuộc biểu tình bạo lực chống lại Trung Quốc vào mùa hè vừa qua, đã xuất hiện tại Căm Bốt. Sự kiện này làm nổi lên ưu tư rằng Căm Bốt sẽ làm ngơ trước yêu cầu xin tỵ nạn và trả họ về Trung Quốc.

Trong đoàn người tỵ nạn có 3 trẻ em. Theo ông Omar Kanat, phó chủ tịch Hội Nghị Duy Ngô Nhĩ Thế Giới - một tổ chức bênh vực quyền được sống có tự do căn bản cho sắc tộc Duy Ngô Nhĩ ở Trung Quốc - thì số người này đến Căm Bốt trong mấy tuần qua.

Vẫn theo ông Omar do Washington Post đưa tin và báo chí tại Phnom Penh trích dẫn thì có 2 người Duy Ngô Nhĩ bị tạm giam tại Việt Nam và có 5 người khác từ Tân Cương chạy vào Việt Nam, nhưng đã biệt tích không ai hay biết.

Ông Omar Kanat cho biết thêm, 7 người đàn ông trong đoàn tỵ nạn đến Căm Bốt đang bị chính quyền Trung Quốc truy bắt.

Qua các thông tin do các tổ chức nhân quyền địa phương và quốc tế trưng ra cũng như nhiều sự kiện được báo chí Phnom Penh loan tin, trong thời gian qua, Căm Bốt không phải là đất dễ nương náu cho những người muốn lánh nạn chính trị.

Tổ chức Human Rights Watch chỉ trích Căm Bốt trong phúc trình năm nay nói rằng có những người tỵ nạn Việt Nam bị gởi trả lại.

Hiện nay Cao Ủy chưa có ý kiến gì về sự kiện người Duy Ngô Nhĩ.

Ðất Căm Bốt là nơi thường được người tỵ nạn ở nhiều quốc gia chọn làm điểm đến. Họ không định cư vĩnh viễn tại đây, nhưng đến đây để yêu cầu Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc che chở và giúp cho họ được đi định cư ở một nước thứ ba.

Cách đây mấy năm, có hàng trăm đồng bào Thượng từ Cao nguyên trung phần Việt Nam chạy sang đây xin tỵ nạn. Hầu hết họ đã được đi định cư ở. Tuy nhiên có một số người bị cho là không đủ tiêu chuẩn tỵ nạn nên phải hồi hương.

Việc người Duy Ngô Nhĩ đến Căm Bốt là sự kiện đầu tiên. Có nhiều người đặt câu hỏi tại sao họ chọn Căm Bốt làm mảnh đất xin tỵ nạn, trong khi phải vượt qua một chặng đường quá dài và gian nan ? Căm Bốt dù hiện nay không còn là vùng đất tốt tuyệt đối cho người tỵ nạn chính trị, nhưng sự hiện diện của văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại đây cũng là niềm hy vọng mỏng manh của những người trốn chạy tìm tự do.

Truyền thông Trung Quốc loan tin tháng rồi có 9 người bị hành quyết liên quan đến vụ bạo động Tân Cương. Ðây cũng là một trong các nguyên nhân thôi thúc người Duy Ngô Nhĩ tìm đến Căm Bốt xin lánh nạn

Bắc Hàn Náo Loạn Sau Vụ: Nhà Nước Bất Ngờ "Cướp Tiền" Của Toàn Dân

Theo hãng tin AFP, chính quyền Bình Nhưỡng đã tăng cường các biện pháp an ninh để phòng ngừa bất ổn. Sau khi chính quyền ra lệnh đổi tiền, thành phần xã hội bị thiệt thòi nhất là lớp trung lưu. Nhưng tuyệt đại đa số người dân cũng rất bất mãn vì họ cảm thấy bị đánh lừa.


Như tin đã loan hôm qua, Bĩnh Nhưỡng đã đột xuất tiến hành đổi tiền từ ngày 30 tháng 11, với tỷ giá 100 đồng won cũ thành 1 đồng won mới, mỗi tờ giấy bạc 1000 won cũ thành một tờ 10 won mới. Việc này đang gây ra một làn sóng phân,x nộ trong dân chúng, bởi lẽ, số tiền tiết kiệm của họ xem như mất sạch.

Theo hãng tin AFP, chính quyền Bắc Triều Tiên đã tăng cường các biện pháp an ninh để phòng ngừa bất ổn. Theo các truyền thông và các nhà ngoại giao tại Bình Nhưỡng, chính quyền gia hạn cho dân chúng phải đổi tiền trong vòng một tuần lễ. Thế nhưng, mỗi người chỉ được quyền đổi tối đa là 150.000 tiền mặt và 300.000 tiền ký gửi trong ngân hàng.

Theo ông Lee Seung Yong thuộc hiệp hội Good Friends, một tổ chức thiện nguyện của Hàn Quốc có liên lạc thường xuyên với người Bắc Triều Tiên, thì thành phần xã hội bị thiệt thòi nhất là lớp trung lưu, bấy lâu đã gom góp được tài sản nhờ buôn bán. Tuy nhiên, tuyệt đại đa số người dân cũng rất bất mãn vì họ cảm thấy bị đánh lừa.

Vẫn theo nguồn tin này, tại các thành phố lớn như Bình Nhưỡng, cửa hàng và quán ăn đóng cửa, xe đò ngừng hoạt động. Một người dân tuyên bố : "Một sớm một chiều, đồng bạc cầm trong tay không cánh mà bay, chỉ còn tờ giấy lộn".

Một người đào thoát khỏi Bắc Hàn cho biết thủ đô Bình Nhưỡng có một mạng lưới các hầm ngầm bí mật mà các quan chức hàng đầu có thể sử dụng làm lối thoát trong trường hợp khẩn cấp.

Ông Hwang Jang-yop nói với đài phát thanh Bắc Hàn Tự do tại Seoul rằng các đường hầm này được xây khoảng 300m dưới mặt đất, kéo dài chừng 50km.

Ông còn kể có một đường hầm dành cho lãnh đạo Kim Chính Nhật dùng để có thể thoát sang Trung Quốc.

Ông Hwang, cựu thư ký đảng cầm quyền Bắc Hàn, đào thoát vào năm 1997.

‘Cỏ xanh’

Ông Hwang nói với đài phát thanh vào đầu tuần này là mạng lưới hầm ngầm dưới mặt đất nối Bình Nhưỡng với một số khu vực chiến lược trong lãnh thổ Cộng sản Bắc Hàn, vốn luôn khép kín với thế giới bên ngoài.

Một trong những đường hầm đó nối Bình Nhưỡng với cảng Nampo, khoảng 40km nằm về phía tây nam thành phố.

Sơ đồ

Ông Hwang còn nói ông Kim và gia đình có boong-ke riêng, nối với các đường hầm dẫn tới Sunchon, cách Bình Nhưỡng 40km về phía bắc, là nơi Nam Hàn nói có một mỏ uranium, và dẫn tới Yongwon, cách chừng 50km về phía tây bắc, nơi cha ông là Kim Nhật Thành có một tòa biệt thự.

Nhân vật đào thoát khỏi Bắc Hàn nói rằng đường hầm Sunchon có nước suối sạch và cỏ xanh.

Ông nói Bắc Hàn bắt đầu xây hệ thống đường hầm này ngay sau khi có thỏa thuận ngừng bắn chấm dứt cuộc chiến Triều Tiên những năm 1950-53.

Bình Nhưỡng có hệ thống tàu điện ngầm nằm dưới mặt đất chừng 150m, vốn có thể được dùng làm nơi trú ẩn cho dân thường trong trường hợp khẩn cấp.

Chiến Sự Afghanistan và chiếc "Chìa Khóa" Bin Laden ?

Tướng McChrystal trong phiên điều trần

Tướng McChrystal đã có buổi điều trần tại Hạ viện

Chỉ huy trưởng quân Mỹ tại Afghanistan nói không thể đánh bại al Qaeda nếu không bắt hay thủ tiêu được Osama Bin Laden.

Điều trần trước Hạ viện, Tướng Stanley McChrystal nói Bin Laden đã trở thành một "nhân vật được sùng bái".

Ông nói rằng việc Tổng thống Barack Obama điều thêm 30.000 quân tới Afghanistan sẽ giúp thắng lợi.

Thế nhưng sứ mệnh tại nước này "rất khó khăn" và 18 tháng tới sẽ hết sức quan trọng.

Tướng McChrystal nói về Bin Laden: "Tôi không nghĩ là chúng ta có thể chiến thắng al Qaeda nếu không bắt hay thủ iêu được ông ta".

"Tôi tin là vào thời điểm bây giờ ông ta đã trở thành một nhân vật được sùng bái và sự tồn tại của ông ta đã khuyến khích al Qaeda trở nên một tổ chức đầu mối với chân rết ở khắp nơi trên thế giới."

Ông cho rằng việc hạ sát hay bắt sống Bin Laden sẽ không chấm dứt ngay hoạt động của al Qaeda nhưng cũng không thể tận diệt phong trào này khi Bin Laden vẫn còn tự do.

Vị thủ lĩnh dân quân được tin đang ẩn náu tại vùng biên giới giữa Pakistan và Afghanistan.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tuần trước tuyên bố rằng đã nhiều năm nay giới chức chưa có thông tin nào đáng tin cậy về nơi Bin Laden lẩn trốn.

Thời kỳ quan trọng

Tướng McChrystal nói tại phiên điều trần rằng thời gian 18 tháng tới sẽ là tối quan trọng cho Afghanistan, nhưng ông sẽ không yêu cầu tăng quân nữa.

Ông nói liên quân đang đối diện "phong trào nổi dậy phức tạp và bền bỉ" và người dân Afghanistan không tin tưởng mấy vào chính phủ của mình.

Ông nhận định trước Ủy ban Quân sự của Hạ viện: "Muốn chiến thắng cần có cam kết và sẽ mất nhiều công của."

Đại sứ Mỹ tại Afghanistan, Karl Eikenberry, cũng ủng hộ cách tiếp cận mới của chính phủ và cho đây là "con đường tốt nhất để bình ổn Afghanistan".

Ông Eikenberry đồng ý với Tướng McChrystal rằng Bin Laden là chìa khóa cho thắng lợi.

Kế hoạch mới của Mỹ bao gồm thời kỳ 18 tháng trước khi lính Mỹ sẽ được rút về nước.

Chỉ vài giờ trước khi buổi điều trần, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đã có hội đàm với Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai ở thủ đô Kabul.

Phát biểu tại cuộc họp báo chung sau đó, ông Karzai cảnh báo rằng sẽ phải mất 15 năm nữa Afghanistan mới có thể bảo đảm được tài chính cho lực lượng an ninh của riêng mình, mà Mỹ muốn mở rộng lên 400.000 quân vào 2013.

Ông nói Hoa Kỳ và Afghanistan cần trở thành đối tác lâu dài.

Về phần mình, ông Gates nói ông Karzai cần mạnh mẽ hơn trong việc chống tham nhũng.

Hội nghị Copenhagen, một văn kiện của nước chủ nhà Đan Mạch gây lo ngại cho nhóm G 77

Nhóm G 77, tức khối 130 nước kém phát triển, nghi ngờ một văn kiện lưu hành nội bộ của Đan Mạch, muốn gạt sang một bên các đòi hỏi của các nước nghèo. Nước chủ nhà bác bỏ tin đồn cho đây là một văn bản bí mật làm cơ sở cho một thỏa thuận tương lai.

Hôm qua, một văn kiện lưu hành nội bộ của Đan Mạch đã gây nhiều lo ngại cho nhóm G 77, tức khối 130 nước kém phát triển. Văn kiện này được phát hiện và bị nhiều tổ chức phi chính phủ lên án là mưu đồ gạt sang một bên các đòi hỏi của các nước nghèo. Lý do là văn kiện này không hề đề cập Nghị định thư Kyoto, được xem như phương tiện mang tính pháp lý duy nhất đối với các nước phát triển cho đến hạn kỳ 2012.

Ủy viên Soudan, nhân danh nhóm G77, đã tố cáo văn kiện của Đan Mạch là "một sự vi phạm nghiêm trọng đe dọa đến sự thành công của tiến trình thương thuyết". Còn theo Đan Mạch, thì văn kiện kể trên chỉ là một dự thảo đã được lưu hành nhiều tuần qua trong nhiều phái đoàn tham gia Hội nghị Copenhagen. Đan Mạch bác bỏ mọi tin đồn cho đây là một văn bản bí mật làm cơ sở cho một thỏa thuận tương lai.


Tây Đức: Biểu Tình chống Việt gian Cộng sản & Trung Cộng, nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10.12.2009

Đồng bào Pháp Quốc và CQN VNCH tại Vương Quốc Bỉ cùng Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Pháp đã đến tham dự biểu tình ngày Quốc Tế Nhân Quyền năm thứ 61 tại công trường Nhân Quyền Trocadéro. Paris 75016 – Métro : Trocadéro (12.12.2009)

Sau đây là một số hình ảnh sơ khởi :
















ALĐ


vietland.net/main/showthread.php?t=10430

Tám Mươi Năm Tội Ác Của Cộng Sản và Hoà Giải Dân Tộc


Nghị Viện Âu Châu Lên Án Các Chế Độ Cộng Sản

Năm 1996, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết số 1906 để đưa ra những biện pháp nhằm tháo gỡ những di sản của những hệ thống cộng sản chuyên chế trước đây. Về phương diện định chế, những di sản này gồm: tập trung quyền hành tối đa, quân sự hoá các tổ chức dân sự, chế độ quan liêu, sự độc quyền và quy luật hoá tối đa mọi sinh hoạt xã hội. Về phương diện xã hội, những di sản này gồm: chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa tuân thủ mù quáng và những khuôn mẫu suy tư độc đoán.

Riêng tại Việt Nam, ngoài các di sản kể trên, cộng sản còn để lại nhiều di sản độc hại khác. Đó là sự phá hoại nền đạo lý và nếp sống theo văn hoá nhân văn, nhân bản truyền thống của dân tộc, và thay thế vào đó bằng một thứ văn hoá xã hội chủ nghĩa rừng rú và phi nhân tính. Những vụ con cái đấu tố cha mẹ, vợ chồng, anh chị em đấu tố nhau… một cách man rợ trong thời kỳ “Cải Cách Ruộng Đất” từ 1953 đến 1956 là những hành vi vô luân vượt ra ngoài sự tưởng tượng của những kẻ vô đạo nhất. Đây là tội phá hoại văn hiến, tội chống lại quốc gia của Hồ Chí Minh. Không có cái công nào có thể chuộc được cái tội này. Những di sản độc hại này đã di căn vào toàn bộ cơ thể xã hội hôm nay, và còn tiếp tục gây tác hại cho tới khi nào cộng sản còn thống trị đất nước.

Tham chiếu Nghị Quyết trên đây, năm 2006, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua thêm Nghị Quyết số 1481 nhằm tố cáo và lên án những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền của những chế độ cộng sản đã cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ 20 và các chế độ cộng sản còn đang tiếp tục thống trị tại bốn quốc gia trên thế giới trong thế kỷ 21 gồm Trung Cộng, Việt Cộng, Hàn Cộng và Cuba. Tất cả những chế độ cộng sản này – không có ngoại trừ – đã có một đặc tính chung là những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền.

Những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản bao gồm những vụ ám sát và xử tử các cá nhân và tập thể, giết người trong các trại tập trung, bỏ đói, bắt lưu đầy, tra tấn, hành hạ, bắt làm lao nô, khủng bố thể chất và tinh thần, bách hại tôn giáo và chủng tộc; vi phạm tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do báo chí và thiếu vắng đa nguyên chính trị.

Nghị Viện Âu Châu nhận định rằng – sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Trung và Đông Âu – đã không có một cuộc điều tra sâu rộng của cộng đồng quốc tế về những tội ác của các chế độ này. Và hơn nữa, những thủ phạm đã gây ra những tội ác cũng không bị mang ra xét xử tại một toà án hình sự quốc tế như trường hợp các thủ phạm đã gây những tội ác khủng khiếp trong chế độ Đức Quốc Xã. Do đó, sự hiểu biết về những tội ác của cộng sản trong công chúng rất hạn chế và những chế độ cộng sản còn sót lại vẫn tiếp tục phạm những tội ác chống nhân quyền.

Nghị Viện Âu Châu tin rằng sự hiểu biết thấu đáo về lịch sử là một trong những điều kiện tiên quyết để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn nữa, việc thẩm định mang tính đạo đức và sự lên án những tội ác mà cộng sản đã phạm giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ trẻ sau này. Quan điểm minh bạch về quá khứ sẽ soi sáng cho những hành động của cộng đồng thế giới trong tương lai.

Những chế độ cộng sản còn thống trị tại vài quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục vi phạm những tội ác chống nhân quyền. Những quốc gia trên thế giới không nên vì quyền lợi của quốc gia mình mà tránh né lên án những tội ác chống nhân quyền của các chế độ cộng sản toàn trị còn hiện hữu trên thế giới. Nghị Viên Âu Châu lên án mạnh mẽ những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản còn sót lại này.

Nghị Viện Âu Châu xác tín rằng quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới khi thảo luận và lên án những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm là một bổn phận của đạo đức và không được trì hoãn lâu hơn nữa.

Nghị Viện Âu Châu cũng tin rằng những quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới đối với những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm sẽ mở ra con đường hoà giải sau này. Và hy vọng rằng quan điểm minh bạch trên đây sẽ khuyến khích các sử gia trên toàn thế giới hãy tiếp tục tra cứu để thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác mà cộng sản đã phạm.

Tám Mươi Năm Tội Ác Của Cộng Sản Việt Nam

Theo tinh thần của hai nghị quyết trên đây, việc thảo luận và lên án những tội ác mà cộng sản Viêt Nam đã phạm đối với dân tộc Việt Nam trong 80 năm nay là bổn phận của lương tri và đạo đức của mọi người Việt Nam. Việc tra cứu và thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác của cộng sản Việt Nam và đưa những chánh phạm ra xét xử trước ánh sáng của công lý là một thể hiện công bằng và minh bạch để đưa đến hoà giải và thống nhất ý chí và tư tưởng của dân tộc đã bị phân hoá và chia rẽ bởi những di sản độc hại mà chế độ cộng sản đã để lại cho xã hội Việt Nam trong gần một thế kỷ kể từ năm 1930 đến nay.

Hệ thống luật pháp quốc gia không dự liệu những tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam bởi vì đây là những tội ác nghiêm trọng có tính quốc tế. Những tội ác của cộng sản Việt Nam thuộc bốn nhóm tội ác đã được dự liệu tại Đạo Luật Rome (The Rome Statute) gồm: 1) Tội Ác Xâm Lược (The crime of Aggression); 2) Tội Ác Chiến Tranh (War Crimes); 3) Tội Ác Diệt Chủng (The crime of Genocide); 4) Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity). Sau đây xin lược kê và phân loại – theo bốn nhóm tội ác nói trên – một số tội ác của Việt cộng trong 80 năm nay.

I – Tội Ác Xâm Lăng VNCH

Theo công pháp quốc tế, Việt Nam Cộng Hoà hội đủ tám tiêu chuẩn để là một quốc gia độc lập:

1- VNCH có một lãnh thổ có biên cương được quốc tế công nhận.

2- VNCH là ngôi nhà chung của 22 triệu người Việt sinh sống trong đó.

3- VNCH có hoạt động kinh tế và có một nền kinh tế thị trường có tổ chức. VNCH có hoạt

động nội thương và ngoại thương và phát hành tiền tệ.

4- VNCH có một bộ giáo dục và một hệ thống giáo dục miễn phí từ bậc tiểu học đến đại học; ngoài ra còn có một hệ thống các trường cao đẳng chuyên nghiệp.

5- VNCH có một hệ thống chuyên chở quốc nội và quốc ngoại gồm đường bộ, xa lộ, thiết

lộ, đường thuỷ, đường hàng không, các bến xe, bến cảng và các phi trường để chuyên chở hành khách và hàng hoá trong nội địa và ra ngoại quốc.

6- VNCH có một chính phủ dân cử gồm ba nghành: hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập và kiểm soát lẫn nhau; có một Quân Lực gồm một triệu quân nhân dưới cờ với Hải Lục Không quân để bảo vệ tổ quốc và một lực lượng cảnh sát gồm hơn 200.000 nhân viên để giữ gìn trật tự và bảo vệ an ninh cho dân chúng.

7- VNCH là một quốc gia độc lập và có chủ quyền tuyệt đối trên lãnh thổ của quốc gia.

8- VNCH đã thiết lập liên lạc ngoại giao với hơn một trăm quốc gia trên thế giới, có toà đại sứ tại tất cả các quốc gia này kể cả tại bốn quốc gia thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Mỹ và Trung Hoa Quốc Gia. VNCH là thành viên của nhiều tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc và cũng đã tham dự nhiều cuộc họp quốc tế.

Chiếu theo tám tiêu chuẩn được công pháp quốc tế công nhận trên đây, Việt Nam Cộng Hoà đương nhiên là một một quốc gia độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, khi cộng sản Miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà bằng vũ lực vào tháng 4/1975, chúng đã phạm Tội Ác Xâm Lăng. Đây là một tội ác có tính quốc tế bởi vì cuộc xâm lăng này được yểm trợ và tiếp vận của khối Đệ Tam Quốc Tế. Điều này xoá bỏ luận điệu cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng của khối cộng sản quốc tế thông qua bọn bán nước, tay sai Việt gian cộng sản.

30 Tháng 4 – 34 Năm Nhìn Lại

II – Tội Ác Chiến Tranh

Khi xâm lăng VNCH, cộng sản Bắc Việt đã phạm rất nhiều Tôi Ác Chiến Tranh được dự liệu tai Điều 8 của Đạo Luật Rome. Sau đây chỉ liệt kê tượng trưng 5 tội ác của chúng:

1 – Tội Ác Giết Người Có Chủ Tâm (Wilful killing)

a) Trong một bài nghiên cứu với tựa đề “Đàn Áp tại Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

Hành Hình và Phối Trí Dân Cư” “Repression in the Socialist Republic of Vietnam: Execution and Population Relocation” được phổ biến năm 1990, tác giả Jacqueline Desbarats đã xử dụng những nguồn tin chính thức của Việt cộng và phỏng vấn hơn 800 người Việt Nam tỵ nạn tại Pháp và Hoa Kỳ trong bốn năm để lấy tài liệu viết bài nghiên cứu này và ước tính rằng đã có ít nhất là 100.000 công dân của VNCH đã bị hành hình một cách phi pháp. “Extrajudicial, or summary, execution.” Tác giả đã nghiên cứu kỹ các hồ sơ và tìm thấy bằng chứng rằng cộng sản đã có một chương trình giết người sau năm 1975.

Sau tháng 4/1975, các uỷ ban quân quản và các toà án nhân dân được dựng lên trong khắp các thành phố tại Miền Nam VN để thi hành chương trình giết người phi pháp mà cộng sản đã hoạch định từ trước. Hai phần ba trong số 100.000 nạn nhân đã bị giết trong ba năm 1975, 1976 và 1977, số còn lại bi giết trong 7 năm tiếp theo. Những nạn nhân bị giết là những nhân viên của chính quyền VNCH gồm: các tỉnh trưởng, các quận trưởng, các thị trưởng, các thành phần cao cấp trong quân đội, các nhân viên cảnh sát, các nhân viên hành chánh và các thành phần tình báo. Những nạn nhân cũng gồm một số các nhà tư sản mại bản, một số các nhà lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo, một số người Hoà Hảo, một số người tìm cách vượt biên và một số lớn những người tìm cách trốn khỏi các trại cải tạo. Cộng sản đã đưa ra lý lẽ mơ hồ như chống đối nhà nước để kết tội và giết người. Ngay cả những người từ chối ghi danh đi cải tạo cũng bị kết tội chống đối và bị giết.

Những vụ giết người có chủ tâm này đã được tính toán từ trước và không có một bảo đảm tối thiểu của một tiến trình luật pháp nào cả. Đây là một Tội Ác Chiến Tranh.

b) Trong tết Mậu Thân năm 1968, cộng sản đã tấn công và chiếm giữ được cố đô Huế trong 25 ngày. Ngay khi chiếm được thành phố, chúng cho bọn nằm vùng đi lùng sục từng nhà, tìm giết những người mà chúng có tên trong sổ đen. Tiếp sau đó, chúng lập những cái gọi là chính quyền cách mạng; chúng ra lệnh cho dân chúng đến trình diện; chúng giam giữ; sau đó chúng mang đi giết và thủ tiêu. Chúng lập những cái gọi là toà án nhân dân để kết án tử hình những người mà chúng cho là “chống đối cách mạng;” sau đó chúng cũng giết và thủ tiêu. Sau hết, trên đường tháo chạy khỏi Huế, chúng bắt một số người đi theo; chúng giết và thủ tiêu những người này. Sau này, dân chúng và chính quyền đã tìm được 22 hố chôn tập thể. Những nơi có nhiều hố chôn tập thể được biết đến nhiều nhất là trường tiểu học Gia Hội, Cồn Thông, Phú Thứ, Bãi Dâu, Khe Đá Mài… Tại Khe Đá Mài, vào tháng 9/1969, đã tìm thấy hơn 400 bộ hài cốt chỉ còn sọ và xương; da và thịt đã bị rã nát và bị nước cuốn trôi đi mất. Thân nhân các nạn nhân đã nhận diện được là nhờ những thẻ căn cước bọc nhựa, các giây chuyền và kỷ vật mang theo.

Tất cả các nạn nhân tìm thấy trong các hố chôn tập thể đều bị trói giật cánh khuỷu bằng dây điện thoại hay dây kẽm gai. Có nhiều nạn nhân chết trong tư thế đứng hay ngồi; điều đó chứng tỏ rằng họ đã bị chôn sống. Tại Huế, có hơn 4.000 gia đình có thân nhân bị giết hoặc mất tích. Con số 5.000 nạn nhân đã bị cộng sản thảm sát và thủ tiêu trong tết Mậu Thân năm 1968 là con số ước tính có xác xuất cao. Đây là những vụ giết người có chủ tâm và là Tội Ác Chiến Tranh.

2 – Tội Ác Tấn Công Có Chủ Tâm Vào Dân Chúng hoặc Những Cá Nhân Không Tham Gia Vào Cuộc Chiến.

a) Trong cuộc hành quân triệt thoái khỏi cao nguyên trung phần vào tháng 3/1975 của Quân Đoàn II trên tỉnh lộ 7B, đã có khoảng 200.000 dân chúng di tản theo quân đội. Cộng quân đã pháo kích và bắn trực xạ vào đoàn người chạy loạn. Chúng đuổi theo, tấn công liên tiếp một cách man rợ vào đoàn người này trong nhiều ngày suốt theo chiều dài của tỉnh lộ 7B. Chỉ có khoảng 40.000 người đã thoát được tầm đạn của chúng. Chúng đã giết 160.000 đồng bào vô tội gồm đàn bà và trẻ nhỏ. Những xác chết này không ai chôn cất, nằm phơi sương nắng ngoài trời, làm mồi cho chim chóc và muông thú. Số nạn nhân này gấp hai lần số nạn nhân của quả bom nguyên tử thả xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản ngày 6-8-1945. Đây là một Tội Ác Chiến Tranh.

b) Trên QL1 giữa Quảng Trị và Huế có một đoạn đường được đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng” vì những tội ác kính hoàng mà cộng quân đã gây cho người dân Quảng Trị. Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, người dân Quảng Trị chạy giặc cộng sản trên đoạn đường này đã bị cộng quân pháo kích như mưa bằng súng cối 61 ly và B40. Trên một đoạn đường dài 9km, nhầy nhụa máu, đầy những xác chết không toàn thây. Khi đi tìm kiếm và lượm xác, người ta đã thấy thi hài một cháu nhỏ đang ngậm vú thi hài người mẹ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng số nạn nhân được ước đoán cũng phải trên mười ngàn người gồm người già, đàn bà và trẻ em. Đây là tội ác tấn công có chủ tâm vào dân chúng và là một Tội Ác Chiến Tranh.

3 – Tội Ác Pháo Kích Vào các Thành Phố, Thị Xã…Để Giết Dân

Trong cuộc chiến xâm lăng VNCH kéo dài 20 năm, Việt cộng đã pháo kích hàng ngàn lần vào các thành phố, thị xã, quận lỵ…để giết dân lành. Điển hình nhất là cuộc pháo kích của Việt cộng vào trường tiểu học Cai Lậy. Buổi sáng ngày 9-3-1973, khi hàng trăm học sinh của trường tiểu học tại thị trấn Cai Lậy đang xếp hàng để vào lớp thì Việt cộng pháo kích vào sân trường bằng súng cối 82 ly. Trận pháo kích man rợ này đã giết chết 34 cháu và làm bị thương cho 70 cháu. Cuộc pháo kích giết các cháu nhỏ một cách dã man này đã gây kinh hoàng và phẫn nộ cho toàn dân Miền Nam. Đây là một Tội Ác Chiến Tranh man rợ của quân cộng sản khát máu.

4 – Tội Ác Phá Hoại Những Di Tích Lịch Sử

Sau ngày 30-4-1975, quân xâm lăng cộng sản đã phá huỷ những di tích lịch sử của VNCH Chúng đập phá và san thành bình địa nhiều nghĩa trang được xây dựng đã hàng trăm năm. Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi tại Saigòn, nơi chôn cất nhiều nhân vật lịch sử của Miền Nam Việt Nam, đã bị cộng sản san thành bình địa và xây trên đó một công viên mang tên Lê Văn Tám, một cái tên do tên cán bộ tuyên truyền Trần Huy Liệu phịa ra để tuyên truyền bịp bợm.

Với thú tính hận thù giai cấp, cộng sản đã phá huỷ hơn 50 nghĩa trang Quân Đội VNCH trong toàn Miền Nam Việt Nam. Chúng đào bới, lấy hài cốt mang đi thủ tiêu và san thành bình địa tất cả các nghĩa trang này.

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là Nghĩa Trang Quốc Gia của VNCH, nơi chôn cất 16.000 anh hùng tử sĩ QLVNCH, cũng bị cộng sản chủ tâm triệt hạ. Nghĩa Trang Quốc Gia này là một tập thể kiến trúc nhất quán đậm vẻ văn hoá truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam từ cổng tam quan đến đền tử sĩ và nghĩa dũng đài cùng với cảnh quan tổng thể. Cộng quân đã không phá huỷ và san thành bình địa Nghĩa Trang này mà chúng tìm cách phá hoại tinh vi hơn. Chúng giật sập và mang đi thủ tiêu Bức Tượng Thương Tiếc, một bức tượng đã đi vào huyền thoại của lịch sử. Chúng không cho thân nhân thăm viếng, tảo mộ. Chúng chủ tâm để cho Nghĩa Trang bị hoang phế. Chúng đập phá các mộ bia, san bằng các ngôi mộ. Chúng đập phá Nghĩa Dũng Đài. Chúng để cho Nghĩa Trang bị lấn chiếm mất hơn một nửa diện tích. Và sau hết, để biến Nghĩa Trang Quốc Gia này thành một nghĩa địa dân sự và cải danh thành nghĩa địa Bình An, ngày 27-11-2006, tên thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định cho nguỵ quyền tỉnh Bình Dương: “Chỉ đạo việc quản lý nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của chính phủ.”

Phá huỷ và triệt hạ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, một Nghĩa Trang Quốc Gia, một di sản lịch sử, không chỉ là Tội Ác Chiến Tranh mà còn là Tội Phá Hoại Văn Vật.

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà – 34 Năm Nhìn Lại

5- Tội Cướp Bóc (Pillaging)

Khi xâm lăng VNCH, cộng sản đã hành sử như một lũ thổ phỉ đi ăn cướp:

a) Chúng cướp 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia của VNCH. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chuyên chỏ số vàng ăn cướp này ra ngoài Bắc và dấm dúi chia nhau.

b) Chúng cướp tất cả kho tàng dự trữ của VNCH và chuyên chở ngày đêm về Miền Bắc bằng đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không trong nhiều tháng trời.

c) Chúng ăn cướp nhà của những người vượt biên và chia cho nhau.

d) Chúng cưỡng bức người dân thành thị đi lưu đày tại những “vùng kinh tế mới” để chúng cướp nhà và chia cho nhau.

e) Chúng bắt người dân phải hiến nhà cho chúng trước khi xuất cảnh.

f) Chúng hạ thấp trị giá đồng tiền của VNCH và tổ chức đổi tiền hai lần để cướp tiền của dân. Mỗi lần đổi tiền, chúng chỉ trả lại cho người dân một số ít để chi tiêu trong một thời gian ngắn và chúng cướp sạch số còn lại.

g) Chúng tổ chức đánh tư sản mại bản để cướp tài sản, cướp cửa hàng và kho hàng của thương gia.

h) Chúng cướp các nhà máy, các xí nghiệp của tư nhân để thành lập các hợp tác xã của chúng.

i) Chúng cướp tiền của dân chúng ký thác tại các ngân hàng.

j) Chúng ăn cướp bất động sản của các tôn giáo.

k) Chúng dùng luật lệ rừng rú của chúng để cướp đất, cướp nhà của dân.

l) Chúng cướp ruộng của nông dân qua thủ đoạn “hợp tác hoá nông nghiệp.”

Tóm lại, bọn cộng phỉ đã cướp trắng tài sản quốc gia của VNCH và của cải của toàn dân Miền Nam Việt Nam đã chắt chiu, dành dụm hàng bao nhiêu đời. Toàn dân Miền Nam đã bị bần cùng hoá. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chia nhau của ăn cướp và chúng đã trở thành những tên tư bản đỏ hàng trăm triệu dollars. Những bức hình chụp những đồ vật trang trí trong “dinh thự” tại Hà Nội của tên đầu sỏ cộng sản Lê Khả Phiêu – mới đưọc đưa lên hệ thống internet toàn cầu – đã tố cáo không thể chối cãi tội ăn cướp của chúng. Toàn là những thứ đi ăn cướp của Miền Nam.

III – Tội Ác Diệt Chủng

Điều 6 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Diệt Chủng là những hành động có chủ tâm tiêu diệt – toàn phần hay một phần – một nhóm dân tộc, sắc tộc, bộ tộc hay tôn giáo; những hành động đó là: (a) Giết các thành phần của nhóm; (b) Gây thương tích trầm trọng về thể chất và tinh thần cho các thành phần của nhóm; (c) Chủ tâm gây tác hại đến điều kiện sống với âm mưu tiêu diệt toàn thể hay một phần của nhóm.

Theo định nghĩa trên đây thì vụ “Cải Cách Ruộng Đất” tại Miền Bắc là Tội Ác Diệt Chủng của Hồ chí Minh nhằm tiêu diệt bốn thành phần – trí, phú, địa, hào – trong xã hội Miền Bắc.

Đầu năm 1950, từ khu rừng núi Bắc Việt, Hồ Chí Minh đã bí mật đi Liên Xô để cầu viện. Tại đây, Hồ Chí Minh đã gặp Stalin và Mao Trạch Đông. Stalin đã ra lệnh cho Hồ phải “Cải Cách Ruộng Đất.” Sau khi trở về Bắc Việt, Hồ đã tự tay viết một báo cáo bằng Nga ngữ về kế hoạch “Cải Cách Ruông Đất” gửi Stalin để xin chỉ thị.

Năm 1953 là năm bắt đầu kế hoạch “Cải Cách Ruông Đất.” Từng đoàn cố vấn Tầu và các đội cải cách – đã được Tầu huấn luyện – đằng đằng sát khí, mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu đổ về các vùng quê để “phóng tay phát động quần chúng” thực hiện kế hoạch giết người. Theo lệnh của cố vấn Tầu, người bị Hồ Chí Minh cho bắn chết đầu tiên trong đợt thí điểm là bà Nguyễn Thị Năm tức bà Cát Thanh Long, một người yêu nước, chủ một đồn điền ở tỉnh Thái Nguyên và là ân nhân của cộng sản. Bà Năm đã từng giúp đỡ tiền bạc, nuôi dưỡng, che giấu những tên đầu sỏ cộng sản như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Hoàng Quốc Việt… khi chúng còn sống chui nhủi trong rừng. Trong cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, những nông dân bị chỉ định ra đấu tố bà Năm không một người nào kết tội người đàn bà phúc hậu và cũng là ân nhân của họ về những tội mà cộng sản bịa đặt cho bà. Nhưng cuối cùng, theo lệnh của cố vấn Tầu, cộng sản vẫn bày trò gian sảo để bắn chết người đàn bà ân nhân của chúng.

Cuộc đấu tố dã man này mà cộng sản gọi là “cuộc cách mạng long trời lở đất” kéo dài từ năm 1953 tới năm 1956 đã giết và bức hại 5% – chỉ tiêu do Mao Trạch Đông đặt ra – của 14 triệu nông dân Miền Bắc tức 700.000 người, những người nông dân chân chỉ đã cả ngàn năm cúi mặt xuống những cánh đồng ngập nước, đổi từng bát mồ hôi lấy những hạt gạo để nuôi cả dân tộc. Khắp nông thôn Miền Bắc ảm đạm, thê lương, trắng xoá khăn tang, đẫm máu và nước mắt.

Trong vụ “Cải Cách Ruông Đất” này, ngoài Tội Ác Diệt Chủng, Hồ Chí Minh còn phạm một tội

đại hình theo luật pháp quốc gia; đó là tội phản quốc, Việt gian.

IV- Tội Ác chống Nhân Loại

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã liệt kê và định nghĩa 11 tội ác chống nhân loại. Trong gần một thế kỷ nay, cộng sản đã phạm ít nhất là 7 trong số 11 tội ác nói trên như sau:

1-Tội Ác Lưu Đầy hoặc Cưỡng Bức Di Dân (Deportation or Forcible transfer of Population)

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Lưu Đày hoặc Cưỡng Bức Di Dân như sau: “Cưỡng bức người ta ra khỏi nơi cư trú hợp pháp bằng cách trục xuất hay bằng những biện pháp bạo lực bất kể đến luật pháp quốc tế.”

Theo định nghĩa trên đây thì cộng sản đã phạm Tội Ác Chống Nhân Loại khi chúng cưỡng bức người dân Miền Nam đi những “khu kinh tế mới.”

Những thành phần mà cộng sản cưỡng bức đi vùng kinh tế mới gồm: 1) những người không có việc làm và có khó khăn về kinh tế; 2) những người có việc làm nhưng tạm thời có khó khăn và không có gì bảo đảm trong tương lai; 3) Gia đình các quân nhân và công chức có thân nhân đã và đang bị cải tạo; 4) những người có phương tiện sản xuất và trang cụ.

Để thực hiện kế hoạch tội ác này, cộng sản vừa phủ dụ vừa cưỡng bức. Cộng sản khoe khoang rằng trong năm đầu tiên, chúng đã đưa được nửa triệu người Saigon đi các vùng kinh tế mới và 80% trong số này là ra đi tình nguyện; như vậy có nghĩa là 100.000 người Saigon đã bị cộng sản cưỡng bức đi lưu đày tại các vùng kinh tế mới. Người dân Miền Nam đã âm thầm chống lại kế hoạch lưu đày này và cộng sản đã đe doạ sẽ bỏ tù hoặc đưa đi cải tạo những người chống đối. Người dân Miền Nam vẫn tiếp tục kiên trì chống đối và cộng sản cũng gia tăng cưỡng bức bằng cách tống xuất khỏi thành phố và tịch biên tài sản. Tuy nhiên, trước sự chống đối âm thầm nhưng cương quyết của người dân Miền Nam, cuối cùng thì cộng sản đã phải chấm dứt âm mưu đưa người dân Miền Nam đi lưu đày tại những “khu kinh tế mới.” sớm hơn theo kế hoặch dự trù của chúng.

Một trong những âm mưu đen tối của cộng sản khi cưỡng bức người dân Saigon đi vùng kinh tế mới là để cướp nhà và đưa gần một triệu người của chúng từ Miền Bắc vào Saigon. Cuối cùng thì cộng sản đã đưa được ít nhất là một triệu người Miền Nam đi lưu đày tại những khu “kinh tế mới.” Đây là Một Tội Ác chống Nhân Loại.

Tội Ác CSVN: Giam Cầm, Cải Tạo, Ly Tán Đồng Bào Miền Nam

2-Tội Giết Người (Murder)

Sau đây chỉ liệt kê một số ít những trường hợp giết người của cộng sản được biết đến nhiều nhất.

* Trong quãng thời gian từ 1945 đến 1954, cộng sản đã giết khoảng 50.000 đảng viên của các đảng phái quốc gia, trong đó có một số người được biết đến nhiều như: Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khải, Trương Tử Anh, Lý Đông A và nhà văn Khài Hưng.

* Hai nhân vật quan trọng thuộc nhóm Bảo Hoàng là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi (cùng với con trai là Ngô Đình Huân) bị giết ngày 6-9-1945.

* Ba nhân vật nổi tiếng của Nhóm Đệ Tứ gồm Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch bị bắt ngày 10-8 1945 và bị mang đi chôn sống tại Bình Thuận. Tạ Thu Thâu bị giết tháng 9-1945 tại Quảng Ngãi.

* Các nhân sĩ và lãnh tụ chính trị của Miền Nam gồm: Ông Bùi Quang Chiêu cùng với bốn người con trai bị bắt tại Chợ Đệm ngày 29-9-1945, bị đem đi giết và bị thủ tiêu mất xác; Ông Hồ Văn Ngà bị bắt trong đêm khuya, bị đâm chết và bị thả trôi sông thuộc vùng Kim Quy, Đá Bạc, Rạch Giá; Ông Hồ Vĩnh Ký bị giết tại Dĩ An, Biên Hoà; Ông Huỳnh Văn Phương bị giết tại Tân An, Long An; Ông Phan Văn Chánh bị giết tại Sông Mao, Bình Thuận.

* Theo nguồn tin của Cao Đài Giáo cho biết thì chỉ trong ba tuần lễ kể từ ngày 19-8-1945, tại Quảng Ngãi, cộng sản đã giết 2791 tín đồ Cao Đài gồm đủ thành phần kể cả đàn bà và trẻ nhỏ. Số tín đồ Cao Đài bị giết trong toàn Miền Nam trong năm 1945 là khoảng 10.000 người.

* Đêm 16-4-1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị cộng sản phục bắt tại Đốc Vàng Hạ; từ đó đến nay không có tin tức gì về Ngài. Theo thống kê của phật giáo Hoà Hảo thì cộng sản đã giết và chôn tập thể khoảng 10.000 tín đồ Hoà Hảo.

* Đêm 11-2-1957, Cô Nông Thị Xuân bị giết bằng búa đập vào đầu tại Phủ Chủ Tịch của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Xác bị thủ tiêu. Hồ Chí Minh là chánh phạm vụ này.

3 – Tội Hiếp Dâm và Ép Buộc Mang Thai “Rape and Forced Pregnancy”

Theo Hiệp Định Geneve 1954, quân cộng sản phải rút về phía bắc vĩ tuyến 17. Trước khi rút khỏi những vùng do chúng kiểm soát, cộng sản đã tổ chức cho cán binh, cán bộ của chúng hiếp dâm tập thể – dưới hình thức hôn nhân giả mạo – tất cả những người con gái độc thân cho tới khi mang thai trước khi chúng ra đi. Khi đến tiếp thu những vùng này, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đã thấy có rất nhiều phụ nữ có con sơ sinh hoặc có thai nhưng không có chồng. Đây là Tội Ác Chống Nhân Loại man rợ của quân cộng sản vô nhân tính.

4 – Tội Ác Bắt Làm Nô Lệ (Enslavement)

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa tội ác Bắt Làm Nô Lệ như sau: Bắt làm nô lệ có nghĩa là xử dụng quyền lực để tước đoạt quyền tư hữu của một người gồm cả việc xử dụng quyền lực để buôn người, đặc biệt là đối với đàn bà và trẻ em.

Căn cứ vào định nghĩa trên, cộng sản đã phạm các Tội Ác chống Loài Người sau đây:

- Xuất cảng hàng trăm ngàn lao động để kiếm lời là một hình thức buôn người

- Tổ chức hàng chục ngàn cuộc hôn nhân trá hình để đưa đàn bà Việt Nam đi làm nô lệ tình dục cho đàn ông nước ngoài để kiếm lời là tội buôn người.

- Bán hàng ngàn trẻ em và thiếu nữ vào các động điếm tại Cam Bốt và các nước trong vùng Đông Nam Á để kiếm lời là tội buôn người.

- Bắt hàng triệu người tù trong các trại cải tạo sản xuất hàng hoá để bán ra ngoài thị trường là phạm tội tước đoạt quyền tư hữu của con người, bởi vì những sản phẩm này do người tù sản xuất ra là thuộc quyền sở hữu của họ nhưng đã bị cộng sản tước đoạt và đem bán. Những người tù này đã bị đối xử như những nô lệ lao động thời trung cổ.

Tệ Nạn Buốn Bán Phụ Nữ, Trẻ Em và Người Lao Động tại Việt Nam

5 – Tội Giam Người hoặc Tước Đoạt Tự Do Thân Thể Một Cách Nghiêm Trọng, Vi Phạm Những Quy Luật Cơ Bản của Luật Pháp Quốc Tế “Imprisonment or severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law”

Theo các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm đã được phổ biến tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam, Cộng sản đã đưa 1.000.000 quân, dân, cán, chính của VNCH vào tù trong 150 trại cải tạo trong rừng núi từ Nam ra Bắc. Có nhiều người đã bị giam cầm tới 17 năm và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đa số thời gian bị giam giữ là từ ba tới 10 năm Đây là một sự giam cầm phi pháp, không qua một thủ tục pháp lý nào cả và là Tội Ác Chống Loài Người.

6 – Tội Thủ Tiêu Mất Tích Người “Enforced Disappearance of persons”

Cũng theo tài liệu nghiên cứu nói trên, trong thời gian giam cầm phi pháp 1.000.000 quân dân, cán, chính VNCH trong 150 trại cải tạo, cộng sản là thủ phạm đã gây ra những cái chết bằng tra tấn, hành hạ, bỏ đói, bắt làm khổ sai quá sức, xử bắn… cho ít nhất là 165.000 người. Cộng sản không thông báo tin tức cho gia đình người chết; giấu kín nơi chôn cất suốt 34 năm nay; không cho thân nhân bốc mộ, mang hài cốt về quê quán. Đây là Tội Thủ Tiêu Mất Tích Người và là Tội Ác chống Loài Người. Ngoài ra, đây còn là môt hành vi vô đạo, phi nhân tính gây đau khổ tinh thần triền miên suốt đời cho thân nhân các người chết mà nghị quyết 1481 của Nghị Viện Âu Châu có nói tới.

7 – Tội Đàn Áp chống Lại Một Nhóm hay Một Tập Thể có Tính Danh về … Tôn Giáo …“Persecution against identifiable group or collectivity on…religious…”

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa đàn áp (persecution) như sau: đàn áp là sự tước đoạt có chủ tâm và thô bạo những quyền cơ bản trái với luật pháp quốc tế.

Căn cứ vào định nghĩa trên đây thì việc nguỵ quyền cộng sản đã và đang đàn áp một cách quy mô và có hệ thống các tôn giáo tại Việt Nam là Một Tội ác Chống Loài Người. Tội ác này đã và đang được cộng đồng thế giới đặc biêt quan tâm. Trên các trang nhà của các tổ chức như: Human Rights Watch, The United States Commission on International Religious Freedom, The Committee for Religious Freedom in Vietnam… đều có theo rõi và phổ biến tin tức về những vụ đàn áp tôn giáo thường xuyên tại Việt Nam.

Năm 2004, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa nguỵ quyền cộng sản vào danh sách “Những Nước Đặc Biệt Quan Tâm” “Countries of Particular Concern – CPC” vì lý do Đàn Áp Tôn Giáo. Nhưng năm 2006, Tổng Thống George W, Bush – vì những quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ – đã rút nguỵ quyền cộng sản ra khỏi danh sách CPC. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, hàng năm Uỷ Ban Quốc Tế về Tự Do Tôn Giáo của Hoa Kỳ (The U.S. Commission on International Religious Freedom) cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa Việt cộng trở lại danh sách CPC.

Ngoài những tội ác trong bốn nhóm tội ác được dư liệu tại Đạo Luật Rome trên đây, Việt cộng còn là thủ phạm của những siêu tội ác vượt ra ngoài sự tưởng tượng của con người. Sau đây là hai trường hợp điển hình: (1) Một cách bán chính thức, cộng sản thu vàng của dân để tổ chức những cuộc vượt biên. Khi thuyền vượt biên ra đến hải phận quốc tế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo, bắn chìm thuyền và giết hết những người đã nộp tiền cho chúng. Tên công an Nguyễn Tấn Dũng là một trong những thủ phạm của những vụ cướp của, giết người dã man này. (2) Sự quyết tâm trả thù một cách phi pháp (extrajudicial retribution) của Việt cộng đối với người dân Miền Nam đã xô đẩy trên ba triệu người Miền Nam phải rời bỏ quê cha đất tổ, lao ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, gây ra những cái chết thảm cho 700.000 thuyền nhân trên Biển Đông và hàng chục ngàn bộ nhân chết trong rừng. Thảm hoạ chưa từng có trong lịch sử loài người này đã gây bàng hoàng và đánh thức lương tri nhân loại từng ngày trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước. Thế giới đã nhìn rõ bộ mặt phi nhân của cộng sản và đã mở rộng vòng tay nhân ái để cứu hàng triệu người Việt Nam chạy trốn cộng sản. Bọn tội phạm Việt cộng đang tìm cách xoá bỏ tội ác này bằng cách áp lực chính phủ Nam Dương xoá bỏ di tích trại tỵ nạn Galang, nơi tạm trú của hơn 200.000 thuyền nhân trước khi được đi định cư tại một nước thứ ba. Đây là chứng tích siêu tội ác của cộng sản đối với đồng bào của chúng mà ngày nay chúng gọi là khúc ruột ngàn dặm và kêu gọi hoà hợp hoà giải với chúng.

Kết Luận

Trúc trên rừng cũng không ghi hết 80 năm tội ác của Hồ Chí Minh và đồng đảng đối với dân tộc Việt Nam. Phần trình bày sơ lược một số tội ác của cộng sản trên đây là để chỉ đích danh từng tội ác của chúng trong bốn nhóm tội ác nghiêm trọng đươc cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Sau này, khi một toà án thụ lý và xét xử những tên chánh phạm Việt cộng, phòng công tố của toà án sẽ điều tra đầy đủ những tội ác của chúng.

Tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không chỉ là những tội ác hình sự mà còn là những tội ác lịch sử. Các sử gia Việt Nam có nhiệm vụ truy cứu và thẩm định những tội ác lịch sử của chúng. Đây là một nhiệm vụ quan trọng để làm sáng tỏ những sự thật lịch sử đã bị những thủ đoạn tuyên truyền gian manh của cộng sản xuyên tạc và bóp méo trong 80 năm nay. Về phương diện pháp lý, những thủ phạm phải bị mang ra xét xử tại một toà án đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế về công lý bởi vì những tội ác của cộng sản là những tội ác mang tính quốc tế.

Lần đầu tiên trên thế giới đã có một toà án hình sự có tính quốc tế đang xét xử bọn tội phạm cộng sản. Đó là Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt có tên Anh ngữ là “Extraordinary Chambers in The Courts of Cambodia” đang xét xử bọn tội phạm cộng sản Khờ Me Đỏ tại Nam Vang.

Năm 1997, chính phủ Cam Bốt đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc trợ giúp thành lập một toà án để xét xử các lãnh tụ Khờ Me Đỏ. Năm 2001, Quốc Hội Cam Bốt đã thông qua một đạo luật thành lập một toà án để xét xử những tội ác nghiêm trọng mà Khờ Me Đỏ đã phạm trong thời gian từ 1975 tới 1979. Chính phủ Cam Bốt nhấn mạnh rằng vì lợi ích (hoà giải) của dân tộc Cam Bốt, toà án phải được mở ra trên lãnh thổ Cam Bốt. Và để đáp ứng được những tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, chính phủ Cam Bốt sẽ mời các thẩm phán và công tố viên ngoại quốc để cùng làm việc với các thẩm phán và công tố viên người Cam Bốt. Tháng 6-2003, Liên Hiệp Quốc và Cam Bốt đã đạt được thoả thuận cuối cùng về cách thức mà cộng đồng quốc tế sẽ trợ giúp và tham dự vào Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt.

Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt được thành lập bởi Chính Phủ Cam Bốt và Liên Hiệp Quốc, nhưng toà án này hoàn toàn độc lập và hoạt động theo những tiêu chuẩn quốc tế. Ngày 31-7-2007, các đồng thẩm phán điều tra ((the co-investigating judges) đã ban hành lệnh bắt giữ đầu tiên và năm thủ phạm đã bị bắt giam gồm những tên sau đây.

*Kaing Guek Eav, Alias Duch, cựu trưởng trại tù S-21, bị kết tội ác chống nhân loại.

*Nuon Chea, cựu chủ tịch quốc hội, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.

* Ieng Sary, cựu bộ trưởng ngoại giao, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.

* Ieng Thirith, cựu bộ trưởng xã hội, bị kết tội ác chống nhân loại.

* Khiêu Samphan, cựu thủ tướng, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.

Phiên toà đầu tiên xử thủ phạm Kaing Guek Eav, Alias Duch đã mở ra ngày 17-2-2009 và vẫn còn đang tiếp diễn. Thủ phạm tiếp theo sẽ bị mang ra xử là Nuon chea.

Tám mươi năm tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam đã hiển nhiên, không thể chối cãi. Và như đã nói ở trên, những di sản độc hại của thứ văn hoá xã hội chủ nghĩa rừng rú đã di căn vào mọi ngõ ngách trong đời sống xã hội tại Việt Nam hôm nay, và còn tiếp tục gây tác hại nghiêm trọng chừng nào cộng sản còn thống trị đất nước. Việc lên án những tội ác của chúng là một bổn phận của lương tri và đạo đức của mọi người Việt Nam.

Việc thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác của cộng sản và đưa những chánh phạm ra xét xử trước công lý là một điều cần thiết bởi vì công lý là một thành tố không thể thiếu trong tiến trình của sự hoà giải dân tộc. Công lý cũng cần thiết trong việc tái lập những quan hệ hoà bình và bình thường giữa những người đã phải sống dưới sự thống trị của khủng bố cộng sản. Công lý xoá bỏ chu kỳ bạo lực, sự thù hận và sự trả thù vô luật pháp. Như vậy, hoà bình và công lý sánh bước cùng nhau. Và sau hết, công lý còn cần thiết để trả lại danh dự cho những nạn nhân còn sống sót và gia đình của những nạn nhân đã chết. Tóm lại, để hoà giải dân tộc, phải mang những kẻ phạm tội ra trước công lý và mang công lý tới cho những nạn nhân.

Sau khi chế độ cộng sản Việt Nam bị xoá bỏ, ngoài công việc rất khó khăn là phải tháo gỡ và tẩy sạch những di sản độc hại do chế độ phi dân tộc, vô tổ quốc này để lại, việc thành lập một toà án hình sự có tính quốc tế – như Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt – trên lãnh thổ Việt Nam để xét xử bọn chánh phạm cộng sản là điều tiên quyết trong tiến trình hoà giải dân tộc. Đó là con đường công chính duy nhất đưa đến hoà giải để thống nhất ý chí và tư tưởng của dân tộc đã bị phân hoá và chia rẽ bởi những di sản độc hại của chế độ cộng sản và để tái xây dựng một Quốc Gia Việt Nam văn minh, dân chủ, pháp trị và đoàn kết để phát triển đất nước và chống lại những âm mưu bành trương ngàn đời từ phương bắc.

Sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác, chế độ phi nhân cộng sản Việt Nam sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát; khi đó, một Đài Tưởng Niệm phải được dựng lên trên đất nước để tưởng niệm năm triệu nạn nhân của cộng sản. Ngoài ra, còn phải xây một Viện Bảo Tàng Tội Ác của Cộng Sản để làm bài học lịch sử cho các thế hệ tương lai. Trong khi chờ đợi, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản lớn nhất trên thế giới tại Hoa Kỳ nên góp công sức để xây – tại một khu Little Saigon – một Đài Tưởng Niệm Năm Triệu Nạn Nhân của Cộng Sản Việt Nam. Đây là một trách nhiệm lịch sử của người Việt quốc gia.

Sau hết, cần phải chính danh một cái danh xưng đã bị lộng giả thành chân suốt 80 năm nay. Những người cộng sản già thường được đồng đảng của họ tung hô là những nhà cách mạng lão thành. Đây là một Nguỵ Danh để che giấu cái bản chất thực của họ. Chính Danh của họ là những tên Việt gian, tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế; những tên tội phạm quốc tế đã đi gây tội ác khắp ba nước Đông Dương dưới cái chiêu bài đi làm “nhiệm vụ quốc tế.” Họ chính là thủ phạm đã phân hoá và chia rẽ dân tộc suốt 80 năm nay. Do đó, những người cộng sản đã cướp và duy trì chính quyền bằng bạo lực cách mạng vô sản – tức bằng khủng bố – tại Việt Nam hôm nay không có tư cách gì để đứng ra kêu gọi hoà hợp hoà giải dân tộc. Chỗ đứng – sớm hay muộn – của các người là trước vành móng ngựa như chỗ đứng của bọn tội phạm cộng sản Khờ Me Đỏ hiện nay. Những người chủ trương hoà hợp hoà giải với cộng sản là những kẻ đồng loã với những tội ác của chúng.

Đỗ Ngọc Uyển

(Khoá 4 Thủ Đức)
Tháng 8 năm 2009
San Jose, California

Bài Xem Nhiều