We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 20 December 2009

Những Câu Chuyện Tù

Cai tù Việt Cộng - Phần 1
Cai tù Việt Cộng - Phần 2
Đường ra Vĩnh Phú
Viết lên không trung
Chuồng người
Cái chết của sử gia Phạm Văn Sơn
Tôi vượt ngục Long Giao - 1
Tôi vượt ngục Long Giao - 2
Trại tù Xuân Lộc - Phần 1
Trại tù Xuân Lộc - Phần 1
Chuyện tù cải tạo
Những bài ca tôn vinh trong lao tù
Thiếu-tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG biểu tượng bất-khuất và kiêu-hùng của một sĩ quan QLVNCH
Đêm Thánh Vô Cùng
Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh
Nhà Ri
Chuyện Trong Tù
Chuyện "Vui" Trong Tù
Tưởng Nhớ Anh Nguyễn Ngọc Trụ
Ký sự của Nguyễn Quang Hữu
Thấp một nén nhang cho FM Đầu Bạc hay Trung Tá Bạch Văn Hiền
Hồi tưởng về một mùa Giáng Sinh không an bình
Địa Ngục
Bạn Tù Sơn La
Người Tù Kiệt Xuất
Thăm Trại Tù
Giấc Mộng Kinh Hoàng
Những ngày cuối cùng của Đại tá Sơn Thương
Hồi ký Cải Tạo
Có Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên
Anh Hùng Vô Danh
Người tù trại Phong Quang
Yên Bái Hoàng Liên Sơn
Thăm nuôi
Một chuyến tải hàng
Tư ờng càng cao, chí càng cao
Vượt ngục trong tù
Mùi Đất Ẩm, Tiếng Đàn Bầu
Ngày Trở Về
Đại úy khinh binh
Cổng Trời Cắn Tỷ
Tết ở Trại Cổng Trời
Về Một Người mang Tên Trương Văn Sương
Biệt Kính Dù VNCH: Những người tù bất khuất
Niềm Đau Không Nguôi
Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ trong trại cải tạo
Quê Hương và Tình Mẹ
Trại cải tạo của CSVN sau năm 1975
Bửa cơm tình nghĩa của người dân Bình Tây - Hòn Khói
Trong lao tù cộng sản
Những biến động ở trại Nam Hà (1980, 1981)
Ảnh Tượng Mẹ
NOEL: Lễ Cô Đơn
Bản trường ca thăm nuôi
Thêm đôi dòng về thấy TrE1n Văn Tuyên
Như Chuyện Không Tưởng
Nhân Năm Rồng, kể thêm về Cố Thượng Tọa Thanh Long
Người tù chăn bò ở Gia Trung
Hồi ký bạn tù
Đê m xuân trong trại tù Cao Lãnh
Nhà tù Conex
Ngày Nắng Hiếm
Muộn Màng - Phần 1
Muộn Màng - Phần 2
Muộn Màng - Phần 3
Trại Z30C - Tù Cải Tạo Cải Hoá Cán Bộ Trại Giam
Mưu Sinh Trong Trại Tù Cải Tạo
Tù Trong Tù
Tết Trong Tù
Trại Cải Tạo A-20, Xuân Phước
Lời thề trên sông
Trại nữ tù X.H.C.N - Z30A
Lên núi tìm chồng
Cái Muỗng
Câu Chuyện Đồng Nghiệp: Y khoa miền Bắc XHCN
Cuộc vượt ngục tù cải tạo trại tù Bùi Gia Phúc
Đổi Đời
Con đi ngoài bắc thăm ba
3 năm tủi nhục 28 tháng tù cải tạo
Những thàng con của má nuôi
Xà lim Chí Hoà
Khai từ
Người bạn tù
Chân Dung Một H.O.: Trần Văn Cả
Câu Chuyện Thầy Lang: Hành Hạ, Tù Đầy và Sức Khoẻ
Lá thư cho Ba
Chén Cơm Chờ Chết
Lương Y Như ... Từ Mẫu
Thượng tọa Thiên Lương
Chết trong lao tù cộng sản
"Anh Nuôi"
Đời Sống Người Tù Cải Tạo
Nhãn Tiền
Nữ tù nhân "cải tạo" ở Z30D
Con gà trống của người lính tù tuẫn nạn
Cái lạnh ngoài trại tù Yên Bái
Thân Phận Người Lính Gãy Súng (Vĩnh Khanh - 11/2006)
Về Nam (I) (Nguyên Huy - 04/1993)
Về Nam (II)(Nguyên Huy - 04/1993)


motgocpho.com

Đảng MONG mà Dân không MUỐN

Chiến dịch đốt phá di tích đền, chùa , miếu , của nhà cầm quyền CSVN kể từ năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 tại miền Nam đã thành công trong công việc phá tan những di tích lịch sử của tổ tiên để lại để thay vào đó hình tượng của Marx , Lenin biến những vị nầy trở thành những thần linh trong nền văn học Việt Nam dưới thời Cọng Sản.

Tôi còn nhớ vào ngày 30 tháng 04 năm 1975 một anh bộ đội đi ngang ngôi chùa quê tôi , anh nầy thấy pho tượng Phật Thích Ca bằng thạch cao sơn màu đen đặt giửa sân chùa, anh ta liền rút cây xẻn trên ba lô và đánh mấy cái vào đầu pho tượng làm pho tượng vỡ nát và chửi rằng : ĐM ! chúng nó giờ nầy mà còn thờ thằng Mỷ đen ! vì vậy khi nhìn cảnh những công an giả danh phật tử để đánh quý Thầy quý Cô tại tu viện Bát Nhã thì không có gì lạ lắm trong tâm thức tôi , nhưng tôi thiết nghỉ rằng vào lúc bấy giờ họ vừa thoát thân từ những lùm cây những bụi rậm , chẳng lẽ 35 năm sau họ vẫn hành xử như thế thì có khác gì chăng ? Sau đó họ đã biến chùa để sử dụng ra ngoài mục đích vốn có. Người ta biến chùa thành nơi đóng quân. Tôi thấy bộ đội xếp đầy súng đạn và ngủ kín trong chùa và Chùa biến thành kho chứa lúa, ngô, khoai, đậu của hợp tác xã, biến thành nơi trông trẻ, thành lớp học , thành nơi họp xã viên, họp Đoàn, họp Đảng, thành nơi tổ chức đám cưới...

Ngày nay CSVN trắng trợn áp dụng lại các phương pháp Ngu dân, vì lý do chính trị hay sợ mất thế quyền vì quý Sư theo thần quyền,vì thế nhà cầm quyền CSVN đã khủng bố, bách hại và tàn sát quý Thầy trong qúa khứ, thay vì cải tổ để có một xã hội an bình và người dân được ấm no hạnh phúc , thì nhà cầm quyền CSVN chỉ nhắm vào cũng cố quyền lực với bất cứ giá nào. Không kể các cực hình , điển hình trong vụ dùng quần chúng tự phát đàn áp quý Tăng Ni tu viện Bát Nhã trong những ngày vừa qua.

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm trong các vụ trấn áp chùa chiền, nếu có lính thì không có thành phần quần chúng tự phát. Nay công an tới với bọn quần chúng tự phát . Lính hồi ấy tới và không mang quần chúng tự phát đi theo như công an ngày nay. Nay công an tới và mang theo quần chúng tự phát . Vì không có xích mích giửa qúy Sư và phật tử mà chỉ có đối nghịch giữa Tăng Ni Bát Nhã và CSVN. Cho nên quần chúng tự phát phải gọi là thành phần được điều động hay Công An gỉa dạng. Quần chúng tự phát tự do hành hung một cách man rợ đối với những kẻ không liên quan gì tới họ và trước bất động , đứng nhìn của công an và chính quyền. Cũng nên nhớ rằng tại VN hiện nay, mọi sự tu tập qúa một số quy định nào đó đều phải có giấy phép ghi chép rõ ràng mục tiêu của tụ họp. Nhưng “Quần Chúng Tự Phát” không cần giấy phép. Một điều trái ngược nguyên tắc của CSVN ngày nay CSVN đã a dua với quần chúng tự phát đánh đập trước khi bắt và đem về giam. Ngay lập tức cả hệ thồng truyền thông nhảy vào đấu tố. Sau đó nhà cầm quyền ra thông cáo xử lý. Như thế quần chúng tự phát có cả hệ thống truyền thông và hành chánh hùa theo, một số người bảo quần chúng tự phát là xã hội đen nhưng xã hội đen hành động để cướp tiền hay vì ân oán. Tại Bát Nhã tiền của quý thầy , quý Cô không có và ân oán với Phật tử cũng không. Do đó quần chúng tự phát không phải là xã hội đen theo đúng định nghiã của nó.
Trong các trại giam , các nhà dân chủ và các dân oan khiếu kiện bị giam chung cùng vời các tội phạm hình sự. Theo sự tiết lộ của nhà văn Điếu Cày đã bị tội phạm tự phát đánh và anh cho biết là có người đã bị tội phạm đánh đập tới chết hay bị tật nguyền. Một phương thức khác mà Công an có thể dùng quần chúng tự phát ném đá hay xông vào Công an để tạo cớ cho lực lượng Công an dùng vũ lực tràn vào đánh các Thầy như họ đã áp dụng tại Bát Nhã trong những ngày vừa qua .

Trong xu hướng văn minh hiện nay của nhân loại nhà cầm quyền CSVN không thể đi ngang về tắc như họ đã hành xử của những thập niên trước đây ,cho nên họ đã có một tầm nhìn ngắn ngủi khi Bộ chính trị đảng CSVN đưa ông Nguyễn Minh Triết sang tiếp kiến Đức Giáo Hoàng nhằm xoa dịu những vụ đàn áp mới đây đối với các tôn giáo mà điển hình là Thái Hà, Tam Toà ,Loan Lý và Bát Nhã, sao đảng không dám mở mắt nhìn thẳng để ngồi lại giải quyết vụ Bát Nhã ? phải chăng đảng chỉ nhìn thấy thế lực nổi mà không thấy thế lực chìm ? Vì đảng MONG sao được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để giử vững quyền lực nhưng thật sự người dân thì không MUỐN.


Lĩnh Nguyên

Mùa Giáng Sinh


(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 34 năm từ ngày miền Nam thất thủ) Những năm "cải tạo"ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn. Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.

Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu. Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình:
Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang". Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi
đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:

- Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?

Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.

Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó. Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc.. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.

Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng uống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghemấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:

- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.

Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.

Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.

Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra
mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.

Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. Biết là anh em tùbị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no.


Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-

Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.

Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:

- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng.. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm.

Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình.

Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.

Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.

Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ NghĩaLộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.

Một buổi sang sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức
dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.

Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Na-uy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore , chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Na-uy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.

Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.

Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi,lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.

Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.

Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho
biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tạiđây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi.

Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.

Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.

Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.

Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.

Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.

Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp ắm.. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.

- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ..

Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà,Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.

Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.

Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.

- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm gì?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.

Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.

Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesalãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Na-uy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.

Anh và tôi học tiếng Na-uy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.

Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.

Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, emcủa Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.

Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.

**** *
"Các Anh thân quí,


Khi ngồi viết những dòng nàycho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàng cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: "Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.

Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôibiết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.

Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới .Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không
đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.

Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại BaLan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.

Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."

* * *


Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấptrong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

Phạm Tín An Ninh Vương Quốc Na-Uy

VUI BUỒN THẾ SỰ


*Chuyện Ruồi Bu * Khôn Ba Năm Dại Một Giờ * Một Đổi Đời, Hai Cuộc Sống*


Có nhiều người, một là vô tình vướng vào cái bẫy kiều vận của cộng sản, hai là suy nghĩ quá nông cạn rồi làm chuyện ruồi bu bôi xấu mặt cộng đồng… Trước đây một năm, hai cô gái gốc Á Châu bị thanh toán, chết trước cửa nhà ngay tại Paris thì chỉ vài giờ sau, bà A.Đ, con nuôi của cựu Tổng Thống Jacques Chirac đã lớn tiếng chỉ trích bộ nội vụ Pháp thiếu trách nhiệm và cộng đồng người Việt tại Pháp thì im lặng không lên tiếng bênh vực ! Trong lúc đó giới truyền thông Pháp đã cho biết sơ khởi họ là gái điếm gốc Thái Lan ! May mắn thay tại Pháp không có những cá nhân cũng như hội đoàn nào nông cạn vội vàng nhảy vào ăn có, xưng tên tuổi để dính phần đánh bóng những chuyện ruồi bu ! Người Việt Tự Do tại Paris có lý khi họ giữ im lặng, vì hai cô điếm nầy không có một chút liên hệ gì với cộng đồng trong lúc họ bị thanh toán vì cạnh tranh nghề nghiệp, hay bị thủ tiêu bởi các băng đảng tội phạm quốc tế…Nếu không may vội vàng lên tiếng thì chắc chắn đã làm trò cười cho người Pháp cũng như các tổ chức cộng đồng bạn khác !
Mới đây tại Bắc Cali lại xảy ra chuyện tương tự, một du học sinh con cán bộ gộc của chế độ Hà Nội bị cảnh sát Mỹ còng tay và gây thương tích trong lúc hành sự. Chuyện vừa xảy ra chưa biết những gì bí ẩn đàng sau nhưng đã có một số ít người cũng như hội đoàn của người Việt Tỵ Nạn đã ồn ào lên tiếng kêu gọi cộng đồng phải có thái độ, biểu tình chống cảnh sát Mỹ đàn áp người Việt. Tôi ở xa, chỉ theo dõi sự việc qua nhiều tin tức nhưng cũng hiểu được được phần nào : Cậu du học sinh nầy có chuyện xích mích với một người bạn rồi xảy ra xung đột đến đổi cảnh sát Mỹ phải can thiệp. Với thái độ phách lối của đám ‘con ông cháu cha’ như ở Việt Nam, đồng thời phát ngôn thiếu văn hóa đối với những người thi hành luật pháp cũng như chống lại cảnh sát khi họ hành sự thì đối với cảnh sát bất cứ xứ nào, họ cũng phải nặng tay để khống chế những thành phần bất hảo. Do đó đã đưa đến tinh trạng thương tích cho du học sinh cộng sản con nầy ! Nếu cần phải lên tiếng thì chính lãnh sự quán Việt cộng ở ngay tại đó phải lo cho kiều dân hay ‘con cưng’ của chúng trước. Tại sao nhóm người Việt Tỵ Nạn lại ‘xí xọn’ nhảy vào làm việc không công để rồi làm trò cười cho bọn cộng sản và tạo sự khinh thường đối với chính quyền cũng như dân chúng Mỹ về hành động chính trị non nớt (có thể gọi là trẻ con) của nhóm người nầy ! Nhưng lạ thay, một người Việt Tự Do biểu tình tại Texas chống buổi văn nghệ do việt cộng tổ chức đã bị bọn côn đồ đánh bị thường thì nhóm người nầy lại im lặng ? Thế mới có chuyện để nói và để đánh giá về trình độ kiến thức cũng như chính trị của một số bất tài vô tướng trong cộng đồng của chúng ta.

* Khôn ba năm dại một giờ !


Tôi không tin anh em cựu sĩ quan Thủ Đức cũng như vài ông có chân trong các cộng đồng người Việt tại New Orléans là cộng sản nằm vùng hay ăn tiền của Hà nội để giúp đở, hướng dẫn và tạo điều kiện cho đoàn quay phim Việt Nam làm phóng sự về sinh hoat của người Việt dọc theo sông Mississippi. Đây chỉ là chuyện muốn làm nổi cá nhân (hay gọi là đánh bóng) một cách thiếu suy nghĩ. Quý vị trong anh em SQTBTD cũng như cộng đồng địa phương đã đánh mất một phần nào hào quang mà bấy lâu nay quý vị đã đạt được trong hàng ngũ chống cộng, tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.. Sau ‘ba năm’ khổ công quý vị đã gầy dựng được một số vốn tranh đấu nhưng nay thì bị tiêu tùng trong ‘một giờ’ ! Thật tiếc…Nhưng có vị trong ban tổ chức chương trình đón tiếp đoàn việt cộng quay phim đã chữa cháy một cách vụng về rằng : Vào hang hùm thì mới bắt được cọp !!! Tôi nói vụng về vì quý vị cho rằng quý vị vào hang cọp để bắt cọp. Thực ra quý vị đâu có vào tới hang ‘để bắt’ cọp mà chỉ ‘ăn bám’ theo đuôi đám cọp con ra nước ngoài quay phim để được dịp được đi cùng xe, ngủ chung phòng, ăn một mâm, để được chụp hình, để được ‘đóng phim với đám cọp con’ hầu đưa về Việt Nam trình diện với khóm phường làng xóm. Xem qua đoạn phim, chưa ai thấy quý vị bắt cọp ở chỗ nào mà chỉ biết quý vị đã diễn được khá trọn vẹn các vai điếu đóm, dẫn đường đưa lối cho đám cọp Việt cộng con qua Mỹ quay phim theo lệnh của bộ văn hóa của chúng ! Một ngày nào đó, quý vị sẽ ‘tóa hỏa tam tinh’ khi khám phá ra bọn cộng sản sẽ sửa đổi, cắt nối, đổi trắng thay đen những gì quý vị đã nói, đã làm và theo đuôi đám cọp con nầy trong suốt thời gian hộ tống và quảng cáo cho bọn chúng làm phóng sự về sinh hoạt dọc theo dòng sông Mississippi. Hãy chờ xem những DVD mà cộng sản sẽ cho chiếu tại Việt Nam, ở các xứ cộng sản hay ngay cả trên một vài quốc gia tự do nào đó thì quý vị sẽ thấy kết quả ‘một giờ dại dột’ của quý vị.

* Một đổi đời, hai cuộc sống.

Bất cứ quốc gia nào cũng có kẻ giàu người nghèo, nhưng hình thức giàu nghèo của người dân đều có những nguyên nhân khác nhau. Nhìn chung, tình trạng giàu nghèo của người dân có thể nói rằng đa số là do kết quả của sự làm việc, tích trữ và cần kiệm, nghĩa là do kết quả của trí óc và bàn tay của từng cá nhân, gia đình, dòng họ một….Nhưng tại Việt Nam là thiên đường của ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ thì trái lại, bọn ăn cướp càng giàu bao nhiêu người người dân lương thiện lại nghèo bấy nhiêu ! Trên ba triệu cướp núi gồm cán bộ đảng viên và những tên sống bám vào gấu quần cộng sản thì giàu có một cách thần thánh. Từ 35 năm qua chúng dùng kẽm gai, súng đạn cướp một cách công khai từ tài nguyên quốc gia, tiền của mồ hôi nước măt của dân cho đến hộp sữa cứu trợ cho bé sơ sinh trong cơn bão lụt chúng cũng khônh bỏ sót. Hàng vạn tên cướp trong băng đảng cộng sản thì tiền của vừa nổi vừa chìm lên đến cả tỷ dollars, trong lúc người dân lương thiện trong nước vần vật suốt ngày mà từ năm nầy tháng khác vẫn khoai sắn dằn bụng và trên người chỉ đủ mảnh vải che thân. Đảng cộng sản vừa kéo băng đảng từ rừng xuôi Nam để ‘giải phóng’ và ‘thống nhất đất nước’, ba triệu cướp núi đã dùng kẽm gai súng đạn để vơ vét tài nguyên quốc gia và lột trần người dân từ đầu xuống đến chân. Đó là hành động của loài thú đói, dã man, ăn không ngừng, tham lam vô độ trong lúc đời sống của dân nghèo càng ngày càng tồi tệ mà chúng vẫn tiếp tục hút đến giọt máu cuối cùng không buông tha. Sau những thiên tai bão lụt người ngoại quốc mới sáng mắt ra trước hành động vô nhân đạo của bè lũ cộng sản và bọn tỷ phú đỏ tại Việt Nam. Tập đoàn cộng sản chẳng những không giúp gì cho nạn nhân thiên tai mà còn lợi dụng cơ hội để cướp giật từng ký gạo, chiếc mền, viên thuốc đến những hộp sữa nhân đạo của người Việt hải ngoại cũng như từ các cơ quan từ thiện quốc tế gởi về cứu trợ.
Chế độ bình đảng mà cộng sản đã ồn ào tuyên truyền sau ngày Miền Nam ‘được giải phóng’ là ‘làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít’ để đánh bóng cái thiên đường xã hội chủ nghĩa của chúng. Nhưng thực tế là một chế độ ‘đảng bóc lột người’ với những cuộc sống trái ngược hẳn nhau, tôi xin đưa ra hai trường hợp điển hình :

* Đại diện cho gần một nữa dân số nghèo khó từ Ải Nam Quan xuống đến Mũi Cà Mau : Cụ Bà Trần Thị Sang, 83 tuổi ở xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Sau trận bão lụt vừa qua, nhà cửa của cụ hoàn toàn bị nước cuốn trôi. Không nơi nương tựa, không giường chiếu, không nồi niêu soong chảo…Cụ sống lang thang với cái gia tài còn lại là chiếc nón lá rách và thoi thóp bằng 5 gói mì ăn liền do các cơ quan từ thiện quốc tế cứu trợ trong suốt thời gian bão lụt…Cụ Sang là người dân Miền Nam, thật thà chất phác, suốt đời cần cù vui sống với vườn rau, luống cà, con gà, đàn vịt… Cụ có thể là mẹ già đã ân hận vì sai lầm che giấu, đùm bọc những tên nằm vùng phá hoại Miền Nam trước kia. Cụ cũng có thể mẹ chiến sĩ đã hãnh diện cống hiến cho nền Cộng Hòa những người con thân yêu để bảo vệ đất nước và màu cờ tự do…Nhưng dù ở trong hoàn cảnh nào cụ cũng thuộc thành phần lương thiện, đã đóng góp mồ hôi nước mắt cho luống rau xanh, vườn cây trái để giúp xóm làng phát triển, cho quê hương đất nước ấm no phồn thịnh. Nhưng sau 35 năm ‘giải phóng’, hàng chục triệu người đã đói rách lại càng đói rách hơn nữa, trong lúc…

* Đại diện cho đảng ‘ăn cướp’ và ‘ăn có’ gồm có ba triệu tên từ rừng chui ra và hàng chục triệu việt gian chui vào đáy quần cộng sản để ăn có, chúng mượn hàng rào kẽm gai súng đạn của bọn cướp để dính máu ăn phần và ngay nay trở thành bọn tỷ phú đỏ. Trong một danh sách được phổ biến rộng rải trên các cơ quan truyền thông, người ta ghi nhận được 190 tên cộng sản và vài tên ăn có với số tiền cướp được như sau : Tên cướp nhiều nhất gồm 2 tỷ mỹ kim với 7 tấn vàng (số vàng chở ra Bắc trong các ngày đầu vào Nam ăn cướp) và tên có ít tiền nhất trong dánh sách là 15 triệu Mỹ kim. Đọc kỹ danh sách nầy, người ta thấy toàn bộ những tên cộng sản ăn cướp gộc với một số ít là các tay dính máu ăn phần mà trong đó tên tuổi được nêu rõ ràng có ba người thuộc giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh : Thích Trí Tịnh (250 triệu Mỹ Kim), Thích Đức Phương (200 triệu Mỹ Kim), Thích Nữ Ngoạt Liên (200 triệu Mỹ Kim). Một người thuộc Giáo Hội Cao Đài Quốc Doanh : Nguyễn Thị Nguyệt (264 triệu Mỹ kim) và một Mục Sư Tin Lành Quốc Doanh : Hoàng Kim Phúc (100 triệu Mỹ kim). Vậy chỉ cần lấy một đảng viên cộng sản đã cướp được tài sản nhiều nhất, đại diện cho tập đoàn ăn cướp, bóc lột và tham nhũng để cho thế giới khinh tởm ! Đó là tên Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nhà nước với gia tài gồm 2 tỷ Mỹ Kim và 7 tấn vàng !

Tên nầy lai ai ? Đó là tên cướp gộc đã có thời thay phiên giữ chức chủ tịch nước. Hắn xuất thân từ thành phần bần cố nông, thất học, theo phò tên bán nước tên Hồ để đưa cái chủ nghĩa vô thần, vô tôn giáo, vô tổ quốc của Nga Tàu về đè lên đầu lên cổ dân Việt Nam. Đó là một trong những tay sai của Hồ đã bán đứng những nhà yêu nước chân chính cho Tây cho Nhật và nhuộm đỏ đất nước Việt Nam đồng thời xua quân vào chiếm Miền Nam giết hại dân lành... Gia tài của hắn trước ngày ‘giải phóng’ chỉ có cái quần xà lỏn, đầu đội nón cối và chân mang dép râu nhưng sau ba chục năm thì tiền của cất giấu mà cả gia đình dòng họ của nó ăn đến cả trăm đời không hết. Tiền đó của ai ? Đó là tiền ăn cắp của quốc gia, tiền tham nhũng và tiền bóc lột của người dân. Tính đổ đồng, chỉ riêng tên nầy cướp một ngày 182648 dollars trong lúc người dân lao động kiếm được 1 hay 2 dollars mỗi ngày ! Đây đúng là thiên đường của bọn cướp !

Đinh Lâm Thanh

Bài Xem Nhiều