We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 22 December 2009

Hãnh diện cho Cộng đồng: Nữ giáo sư gốc Việt nhận giải thưởng Tổng thống

Giáo sư Thảo Nguyễn là người Mỹ gốc Việt duy nhất trong danh sách 100 khoa học gia trẻ được nhận giải thưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong năm 2009. Giải thưởng mang tên Giải thưởng của Tổng thống dành cho các Khoa học gia và Kỹ sư Khởi đầu sự nghiệp (Presidential Early Career Awards for Scientists and Engineers) là một danh hiệu cao quí nhất mà chính phủ Hoa Kỳ trao tặng cho các khoa học gia và kỹ sư trẻ trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu của họ. các khoa học gia và kỹ sư trẻ trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu của họ.

[insert caption here]
Giáo sư Thảo Nguyễn hiện đang giảng dạy tại trường Ðại học Johns Hopkins
Giáo sư Thảo Nguyễn sinh năm 1976 tại Việt Nam trong một gia đình nhà giáo. Gia đình cô tới Mỹ định cư vào năm 1986 theo một chương trình định cư của Liên Hiệp Quốc.

Giáo sư Thảo cho biết cũng giống như nhiều gia đình người Việt tới định cư ở Hoa Kỳ, ban đầu gia đình cô cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng với cô gia đình mình còn may mắn hơn nhiều gia đình khác bởi mẹ cô biết tiếng Anh và đã từng là giáo viên dạy tiếng Anh khi còn ở Việt Nam, và may mắn nhất là ba mẹ cô đã kiếm được việc làm sau một thời gian tham gia một số khóa học ở Mỹ.

Có lẽ nhờ sinh ra trong một gia đình nhà giáo, nên ngay từ nhỏ, Thảo đã tỏ ra là một cô bé ham học hỏi và điều mà cô nhớ nhất về tuổi thơ của mình chính là những ngôi trường mà cô theo học, cũng như những phòng thư viện, nơi mà cô đã dành phần lớn thời gian của mình ở đó.

Giáo sư Thảo cho biết ngay từ khi còn nhỏ ba mẹ cô đã hướng cô vào con đường học vấn bởi họ biết rằng kiến thức là hành trang quan trọng cho con cái trong tương lai. Họ đã tìm cho cô những trường học tốt nhất để cô có thể phát huy được khả năng của mình.

Nhận thấy khả năng đặc biệt về toán và khoa học của con gái, Ba, Mẹ cô đã tìm trường chuyên về những ngành học này để cô được theo học. Và với thành tích xuất sắc ở bậc trung học của mình cô đã được nhận vào một trong những trường đại học danh tiếng của Mỹ là Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) để theo học ngành kỹ sư cơ khí.

Khi được hỏi lý do nào khiến cô chọn ngành kỹ sư cơ khí, là một ngành mà đối với nhiều phụ nữ là ngành học khá hóc búa. Giáo sư Thảo cho biết sự đam mê của cô đối với toán học và vật lý ngay từ nhỏ, cùng sự động viên của cha mẹ và sự khuyến khích của giáo viên trung học đã khiến cô không ngần ngại theo học ngành này ở bậc đại học:

"Tôi học trường chuyên toán và khoa học Van Nuys và tôi rất thích thú với các môn học này, tôi cũng có những giáo viên thật sự tuyệt vời. Tôi rất thích các lớp sinh học, hóa học và vật lý cũng như vi tính. Tôi cũng đã có cơ hội được tham gia vào một số cuộc thi khoa học ở bậc trung học và tôi cũng đi thực tập ở một công ty hàng không vũ trụ khi còn học trung học. Mặc dù tôi chỉ làm những nghiên cứu rất cơ bản, nhưng tôi thực sự thích hoạt động thực tập đó. Giáo viên dạy trung học của tôi cũng khích lệ tôi rất nhiều và ông khuyên tôi nên học tiếp ngành kỹ sư vì ông nhận thấy tôi giỏi môn vật lý. Với nhiều khích lệ ấy cùng với thực tế là tôi rất đam mê những môn học này, nên tôi quyết định học ngành kỹ sư."

Sau đó cô tiếp tục theo học thạc sĩ và tiến sỹ tại trường Stanford, một trường đại học hàng đầu của Mỹ. Hiện tại cô là giáo sư tại Đại học Johns Hopkins ở vùng thủ đô Washington.

Với những thành tích nghiên cứu xuất sắc của mình, năm 2009 giáo sư Thảo đã trở thành người Mỹ gốc Việt duy nhất trong số 100 khoa học gia và kỹ sư trẻ được Tổng thống Obama trao tặng giải thưởng Tổng thống dành cho các Khoa học gia và Kỹ sư ở giai đoạn Khởi đầu sự nghiệp.

Trong công bố về giải thưởng năm nay, Tổng thống Obama nói rằng với tài năng, sự sáng tạo và sự tận tâm của các nhà khoa học và kỹ sư trẻ này, ông tin rằng họ sẽ dẫn đầu trong lĩnh vực của mình với những phát hiện và những bước đột phá mới và giúp cho việc sử dụng khoa học và công nghệ của nước Mỹ và thế giới được nâng lên một tầm cao mới.

Chia sẻ cảm nghĩ của mình khi nhận được giải thưởng cao quí này, giáo sư Thảo Nguyễn nói:

"Tôi cảm thấy khiêm nhường và rất vinh dự khi nhận được giải thưởng này, tôi và gia đình tôi cảm thấy rất tự hào. Tôi cũng rất vui mừng vì giải thưởng này sẽ tài trợ cho một nghiên cứu của tôi trong vòng 5 năm tới. Ngoài ra, niềm vui mà tôi đem lại cho ba mẹ chính là sự đền ơn của tôi đối với họ và sự đón nhận của cộng đồng người Việt ở đây cũng thật đặc biệt, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì điều đó."

Kể về công trình nghiên cứu của mình, giáo sư cho biết:

"Công trình nghiên cứu của tôi là về đặc tính cơ học của vật liệu, đặc biệt là vật liệu mềm. Tôi đang tìm cách phát triển các phương pháp thử nghiệm, các mô hình toán học và công cụ điện toán để phân tích xem vật liệu phản ứng thế nào dưới các tác động của ngoại lực cũng như phân tích độ bền của vật liệu. Nghiên cứu mà tôi được giải thưởng để tiếp tục thực hiện là về một loại vật liệu khá mới mẻ có tên gọi là polyme nhớ hình dạng (shape memory polymer). Vật liệu này có tính năng đặc biệt có thể phản ứng với nhiệt và có thể được sản xuất theo một hình dạng rồi nung nóng và tạo thành hình dạng khác và có thể lưu trữ được trong thời gian dài và tái sử dụng khi cần thiết bằng cách nung nóng. Có nhiều tiềm năng để ứng dụng, ngành hàng không vũ trụ rất quan tâm đến loại vật liệu này ví dụ như để sản xuất bộ phận của cánh máy bay v.v. ngành cơ khí sinh học cũng rất quan tâm đến vật liệu này vì có thể sử dụng để sản xuất những thiết bị y học nhỏ như sten để đặt trong cơ thể."

Giáo sư Thảo nói rằng người mà cô ngưỡng mộ và có ảnh hưởng nhiều tới lựa chọn nghề nghiệp và công trình nghiên cứu của mình chính là vị giáo sư đã hướng dẫn cô trong quá trình viết luận văn bậc đại học.

"Đó chính là vị giáo sư của tôi ở trường đại học MIT, giáo sư Mary Boyce, hiện giờ là trưởng khoa Kỹ sư Cơ khí, bà chuyên nghiên cứu về đặc tính cơ học của polyme. Bà rất tuyệt vời, mặc dù vô cùng bận rộn với rất nhiều sinh viên cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ, nhưng bà đã dành rất nhiều thời gian cho tôi. Bây giờ ở cương vị là một giáo sư tôi hiểu thời gian quí giá như thế nào và khi nhìn lại tôi thấy thật kinh ngạc khi bà đã dành nhiều thời gian đến vậy để chỉ dẫn và tư vấn cho một sinh viên đại học như tôi. Bà ấy là người có rất nhiều ảnh hưởng đến tôi. Thực tế việc nghiên cứu hiện tại của tôi về chất liệu polyme cho thấy bà ấy đã có ảnh hưởng thế nào đối với sự lựa chọn nghề nghiệp của tôi. Vì vậy mà giờ đây khi tôi hướng dẫn sinh viên tôi nghĩ đến những điều tốt đẹp mà bà đã dành cho tôi và những gì mà bà đã làm, và tôi hy vọng tôi cũng là một giáo sư tốt như bà."

Khi được hỏi nếu được đề nghị đưa ra lời khuyên cho các bạn trẻ để khuyến khích họ tham gia vào các công trình khoa học, thì giáo sư sẽ khuyên họ điều gì? giáo sư Thảo nói:

"Tôi sẽ khuyên họ nên nắm bắt mọi cơ hội mà họ có, có rất nhiều cơ hội để bạn tìm hiểu xem mình thực sự thích làm điều gì thông qua các hoạt động hè, hoạt động tình nguyện, thực tập hè chẳng hạn. Nên thử nghiệm những điều mới mẻ và đừng bao giờ nói rằng bạn không thể làm được điều đó bởi bất cứ lý do gì. Vậy nên nếu bạn thấy quan tâm đến một điều gì đó thì hãy cứ mạnh dạn thử nghiệm và xem điều gì sẽ xảy ra, nếu bạn thích thì thật tuyệt vời vì điều đó sẽ mở ra cho bạn một cuộc sống mới đầy hứng khởi, còn nếu không thích hoặc chưa thành công thì bạn vẫn nên tiếp tục cố gắng và nhiều phần chắc là bạn sẽ thành công."
( VOA)

Trận Mưa Bom Giáng Sinh Năm 1972

Sau trận tổng công kích Tết Mậu Thân Tổng thống Johnson quá mệt mỏi vì cuộc chiến tranh Việt Nam và nhất là vì cuộc chiến tại đất nhà, war at home ngày một lan rộng vì sự thổi phồng của truyền hình báo chí. Ngày 31-3-68, ông tuyên bố không tái tranh cử và tạm thời cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ Bắc Việt từ vĩ tuyến thứ 20 trở lên, ông kêu gọi Hà Nội hãy tỏ thiện chí hoà đàm nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. Một tháng sau Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) nhận lời đàm phán.
Hội nghị được tổ chức tại khách sạn Majestic, thủ đô Ba Lê nước Pháp khai mạc ngày 10-5-1968 (có tài liệu nói ngày 13-5), ông W. Averell Harriman đại diện phía Mỹ, Xuân Thủy phía Hà Nội. Ðây là một hội nghị được quốc tế chú ý nhất từ trước tới nay có hơn 3,000 phóng viên các nước tới theo dõi lấy tin. Phía Xuân Thủy đề nghị BV nói chuyện với Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà nói chuyện với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Phía VNCH cực lực phản đối cho đó là thái độ hỗn xược, hai phía mất 9 tuần để thảo luận về cái bàn hội nghị cuối cùng họ thoả thuận cái bàn hình tròn. BV lợi dụng bàn hội nghị để tuyên truyền chống Mỹ, rêu rao tội ác chiến tranh của Mỹ gây ra cho nhân dân miền Bắc, họ một mực đòi Mỹ phải ngưng oanh tạc toàn diện miền Bắc .
Ngày 31-10-1968 Johnson nhượng bộ cho ngưng dội bom trên toàn miền Bắc. Ðúng năm sau, kỷ niệm ngày khai mạc 1969 các ký giả quốc tế kỷ niệm Hoà đàm và đặt tên là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc” vì hai bên lập trường đối chọi nhau hoàn toàn, suốt một năm dài không có kết quả nào đáng kể, BV vừa đánh vừa đàm.
Mấy năm trôi qua, theo cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối VNCH) vào tháng 6, 7, 8 -1971 tất cả các đề nghị của Hoa Kỳ đều bị từ chối dù Hoa Kỳ cố gắng thay đối theo ý muốn của BV.

“Ðến lần nói chuyện vào tháng 9 thì Hoa Kỳ mới mới hiểu ý định thật sự của cộng sản: Họ muốn Hoa Kỳ trao miền Nam cho họ trước khi Hoa Kỳ rút quân. Phải cần đến ba năm dài thương lượng Hoa Kỳ mới thấy được ý đồ của Cộng Sản!”
(Trang 33)

Cuối tháng 3-1972, BV đem đại binh tấn công qui mô trên toàn lãnh thổ VNCH, tổng cộng 10 sư đoàn chính qui có xe tăng, đại bác phòng không yểm trợ đánh ba tỉnh lớn Bình Long, Kontum, Quảng Trị… cho tới giữa tháng 9-1972 VNCH tái chiếm cổ thành Quảng Trị và cuộc chiến được gọi Mùa hè đỏ lửa chấm dứt. BV bi thiệt hại nặng khoảng từ 70 cho tới 100 ngàn cán binh, phía VNCH vào khoảng 30 ngàn người, không quân và Hải quân Mỹ yểm trợ tối đa, người Mỹ muốn VNCH phải thắng để lấy ưu thế tại bàn hội nghị. Người Mỹ đã mở lai các cuộc oanh kích miền Bắc để trả đũa BV, họ gọi là Operation Linebacker bombing, chiến dịch oanh tạc Linebacker bắt đầu từ 10-5 đến 23-10-1972 .

Cuối năm 1972 Hoa Kỳ mở chiến dịch Linebacker II (Linebacker thứ hai) đây là chiến dịch oanh tạc của không quân nhằm vào BV trong giai đoạn chót của Mỹ trong chiến tranh VN từ 18-12 tới 29-12-1972, cũng được gọi vui là Christmas bombing, cuộc oanh tạc vào dịp Giáng sinh. Ðây là cuộc oanh tạc lớn nhất của không quân Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai, nó là sự tiếp tục của Chiến dịch Linebacker kể trên, điều khác biệt là Linebacker II oanh tạc bằng B-52 chứ không bằng máy bay chiến thuật như Linebacker.
Ngày 8-10-1972 Kissinger và Lê đức Thọ gặp nhau ở Ba Lê để thảo luận về những đề nghị mới của hai phía tìm kiếm hoà bình. Lê Ðức Thọ đề nghị kế hoạch mới của BV: Ngưng bắn tại chỗ, Mỹ rút quân, trao đổi tù binh, BV, VNCH, Chính phủ lâm thời của Mặt trận giải phóng, giữ nguyên, BV không đòi Thiệu từ chức , Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho VNCH, cả Hà Nội và Mỹ đều được tiếp tục viện trợ cho đồng mninh trên căn bản đồng đều nhau, BV sẽ không xâm nhập, Mỹ sẽ tái thiết BV. Thành lập Hội đồng quốc gia hoà giải dân tộc, thực hiện bầu cử tại miền Nam VN, sẽ có ba quyền lực: Chính phủ Sài Gòn, Mặt Trận giải phóng, Thành phần thứ ba gồm đại diện cả hai bên. Cả ba phải có sự nhất trí, mọi hành động của hội đồng mới phải có sự đồng ý của TT Thiệu.
Ngày 11-10-1972 toà đại sứ Pháp tại Hà Nội bị thiệt hại trong cuộc ném bom của Mỹ, Ðại sứ Pháp Pierre Susini bị thương nặng Lê Ðức Thọ phản đối với Kissinger, Hoa kỳ ngưng oanh tạc 23-10. Ngày 16-10 Kissinger trở lại Paris họp với Xuân Thuỷ trong khi Lê Ðức Thọ đang về Hà Nội. Hai bên lại họp ngày 17-10-1972, họ bất đồng ý kiến hai điểm: Việc thay thế định kỳ vũ khí của miền nam VN, thả tù binh CS do VNCH giam giữ. BV muốn ký hiệp định trước tháng 11-1972, họ tin rằng Nixon sẽ nhượng bộ trước kỳ bầu cử Tổng thống sắp tới hơn là sau. Kissinger đồng ý những điều khoản mới, ông cho Nixon biết và được Nixon chấp thuận.
Sơ thảo Hiệp định sẽ được ký tại Hà Nội ngày 31-10-1972. Kissinger bay đến Sài Gòn ngày 18-10 để gặp TT Thiệu, VNCH không đồng ý với bản hiệp định mới và không hài lòng với Kissinger cho là đã phản bội, ông Thiệu đòi sửa 129 điều khoản trong đó đòi khu phi quân sự phải coi như biên giới quốc gia, không còn là ranh giới tạm thời, VNCH phải được coi như một quốc gia biệt lập. Sử gia Stanley Karnow chua chát nói:

“Mỹ chiến đấu bảo vệ nền độc lập của miền nam VN bây giờ lại phủ nhận tính hợp pháp của nó”

Ngày 26-10 ông Thiệu tiến thêm một bước, công bố bản dự thảo đã được sửa khi ấy giới lãnh đạo miền Bắc cho rằng Kissinger đã đánh lừa họ, họ bèn công bố một số phần của thoả ước cho người ta cảm tưởng rằng thoả ước phù hợp mục đích của Hoa Kỳ và chính phủ VNCH. Kissinger muốn tạo niềm tin cho cả hai miền, ông quả quyết với BV rằng mình thật tình và với Sài Gòn rằng Mỹ đã gây hiểu lầm. Kissinger họp báo tại toà Bạch ốc tuyên bố ta có thể tin hoà bình đang ở trong tầm tay (We believe that peace is at hand).
Ngày 20-11 những điều khoản tu sửa của VNCH và 44 điều khoản thay đổi do Nixon yêu cầu đã được Kissinger trao cho phái đoàn CSVN. Những khoản yêu cầu gồm: Khu phi quân sự được coi như ranh giới quốc tế giữa hai nước, quân đội CSBV rút về Bắc, BV bảo đảm ngưng bắn lâu dài tại Ðông Dương, một lực lượng quốc tế giữ gìn hoà bình sẽ được thành lập để quan sát ngưng bắn. Khi đọc xong, phía BV rút những nhượng bộ và mặc cả thêm khiến Kissinger bèn nói dậm chân tại chỗ rồi. Cuộc nói chuyện dự trù 10 ngày chấm dứt ngày 13-12 với thoả thuận của hai bên bắt đầu thương thảo, chuyên viên hai phía bàn về thảo ước ngày 14-12, trong khi BV đưa ra một bản tiếng Việt liên quan đến tù binh gồm vài thay đỏi lớn mà Hà Nội đã không đạt được trong những phiên họp chính. Trong một phiên họp của các chuyên gia ngày 16-12, BV gây trở ngại từ đấu chí cuối, cuộc đối thoại tan vỡ hôm ấy, phái đoàn Hà Nội từ chối không chịu tiếp tục đàm phán..
Nixon đang định kỳ hạn cho ngày ký Hiệp Ðịnh tháng 1-1973, lời tuyên bố của Kissinger khiến dân Mỹ tin tưởng, kỳ vọng ở thoả hiệp. TT Nixon lo phiên họp Quốc hội thứ 93 sẽ bắt đầu ngày 3-1-1973, ông sợ các nhà lập pháp Dân chủ sẽ ban hành luật chấm dứt chiến tranh trước khi ông thực hiện cam kết hoà bình trong danh dự của ông. Phía BV đánh hơi thấy phiên Quốc hội trong tháng 1-1973 có thể ban hành luật chấm dứt chiến tranh Ðông Dương đến lúc ấy thì bất chiến tự nhiên thành. Ðó là một lỗi lầm tai hại của họ đưa tới trận đòn te tua nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh VN.
Tổng thống Nixon quan tâm trước hết chi phí chiến dịch Linebacker, máy bay, nhân lực gửi tới Ðông Nam Á đè nặng lên ngân sách Ngũ giác đài, tổng cộng 4 tỷ vào giữa mùa thu và Bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair đã khẩn khoản đề nghị Nixon xin Quốc hội một ngân khoản để trang trải. Kissinger và Nixon được biết lập pháp sẽ có thể nắm cơ hội để đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến.
Kissinger từ Paris về ngày 14-12 ông bàn với Nixon sau đó gửi tối hậu thư cho Hà Nội đe doạ nếu BV không trở lại bàn hội nghị trong 72 giờ đồng hồ (3 ngày) sẽ đưa tới hậu quả nghiêm trọng. Cũng trong ngày Nixon ra lệnh phong toả cảng Hải Phòng bằng máy bay thả mìn và lệnh cho Bộ tư lệnh không quân nghiên cứu kế hoạch oanh tạc trong giới hạn 72 giờ. Thời hạn tối hậu thư đã qua, hai hôm sau ngày 16-12 đã qua, Mỹ ném bom Hà Nội. Các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến Ðông Nam Á đồng ý với quan điểm của Nixon cho rằng BV ngoan cố không chịu trở lại phòng họp. Hai bên đã muốn thương thảo nhưng BV lại từ chối trở lại, họ chờ phiên họp sắp tới của Quốc Hội. Mục đích của TT Nixon không phải để thuyết phục BV mà để thuyết phục ông Thiệu, Nixon cho biết dù điều khoản của hiệp định ngưng bắn như thế nào, VNCH có thể tin vào lời hứa của ông sẵn sàng yểm trợ cho miền Nam khi BV vi phạm hiệp định.
Sau chiến dịch Linebacker, Hoa Kỳ có 207 B-52 dành cho chiến trường Ðông Nam Á, gồm 54 chiếc (mẫu B-52-D) đóng tại phi trường U-Tapao Thai Land và 153 chiếc khác tại căn cứ Andersen, đảo Guam (gồm 55 chiếc B-52 D và 98 B-52G).
Chiến dịch coi như xử dụng một nửa số máy bay B-52 của Không đoàn oanh tạc cơ Mỹ, các vị chỉ huy của của Bộ chỉ huy chiến thuật không quân miễn cưỡng chấp nhận sự xử dụng những máy bay đắt giá và những phi hành đoàn huấn luyện tốn kém. Sự huy động một lực lượng máy bay B-52 lớn chưa từng thấy trong cuộc chiến và dự án tấn công đại qui mô quanh Hà Nội 20 km cho thấy thể hiện sự thay đổi lớn trong viêïc huy động lực lượng không quân.

“Không Lực Hoa Kỳ, qua chỉ thị thẳng từ Nixon, phải dùng B-52 đánh thẳng vào Hà Nội và Hải Phòng … “để lần này đối phương không còn giỡn mặt”
(Nguyễn Kỳ Phong, Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 299).

Nhiều vị trong Bộ chỉ huy cũng đồng ý với chiến dịch bay vào màng lưới phòng không dầy đặc của BV hy vọng chứng tỏ các oanh tạc cơ có khả năng vượt qua hệ thống hoả tiễn tinh khôn địa không SAM (surface-to-air missiles) do Nga chế tạo cũng như súng phòng không và máy may nghênh chiến MIG. Lý do chính phải dùng B-52 cho chiến dịch thay vì phi cơ chiến thuật vì tháng 12 thuộc mùa mưa tại miền Bắc VN, thời tiết xấu gây khó khăn cho các phi cơ chiến thuật vì các máy bay này cần quan sát bằng mắt, B-52 có khả năng tham chiến dù thời tiết xấu cũng như tốt nên đã được chọn giữ vai trò then chốt cho chiến dịch này. B-52 đã được trang bị hệ thống bom vận hành theo radar và các máy bay yểm trợ. Các pháo đài bay này có thể tấn công mục tiêu hoặc với những bom có tia laser hướng dẫn khi thời tiết tốt hoặc dùng hệ thống oanh tạc do radar hướng dẫn.
Chiến dịch này lấy tên Linebacker II được phác hoạ tại Bộ chỉ huy không quân tại Omaha, Nebraska, vì giới hạn thời gian chỉ có ba ngày và qua kinh nghiệm của chiến dịch trước (Linebacker) theo đó máy bay MIG nghênh chiến sẽ là mối đe dọa cho oanh tạc cơ Mỹ. Các vị chỉ huy lên kế hoạch cho máy bay tới Hà Nội làm ba đợt vào ban đêm, mỗi đợt cùng đi một đường, cùng cao độ, các oanh tạc cơ bay theo đội hình ba chiếc (gọi là cells) để tăng hiệu quả.
Mỗi khi ném bom xong các máy bay sẽ quay về phía tây mà Bộ tham mưu gọi là chuyển hướng sau mục tiêu (post-target turns, gọi tắt PTT), sự chuyển hướng này sẽ có hai hiệu quả không thuận lợi cho các oanh tạc cơ B-52 có thể hướng vào cơn gió mạnh ngược chiều, nó sẽ làm giảm tôc độ còn 185 km/giờ và sẽ kéo dài thêm thời gian ở tại mục tiêu có thể làm giảm hiệu quả đội hình cũng như trở thành bia cho radar của hoả tiễn SAM dưới đất.

b52 bGiai đoạn sơ khởi.
Trong ba nhiệm vụ của chiến dịch như Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra trong ba đêm liên tiếp bắt đầu từ 18-12, đêm đầu tiên 129 máy bay được tung vào chiến dịch, trong đó 87 chiếc từ Guam, 39 chiếc yểm trợ thuộc Bộ tư lệnh không lực 7 (The seven air force), Lực lượng đặc nhiệm 77 Hải quân, và Thủy quân lục chiến yểm trợ các oanh tạc cơ B-52 qua sự cung cấp các máy bay F-4 hộ tống, F-105 Wild Weasel để tiêu diệt hoả tiễn SAM của BV, máy bay EB-66 thuộc không quân và EA-6 thuộc hải quân, máy bay chaff plane, loại máy bay thả những miếng kim loại dát mỏng (chaff) để gây rối loạn radar đối phương, (chaff= tiny strips of metal foil that are dropped to confused radar), KC-135 tiếp tế nhiên liệu trên không, và các máy bay giải cứu phi hành đoàn .
Mục tiêu của đợt thứ nhất là phi trường Kép, Phúc Yên và Hoà Lạc, một nhà kho tại Yên Viên trong khi đợt thứ hai và thứ ba tấn công các mục tiêu quanh Hà Nội. Ba máy bay bị rớt do khoảng 220 hoả tiễn SAM của BV, trong số này hai chiếc B-52G từ Guam và một B-52-D từ U-Tapao Thái lan, ngoài ra hai B-52 D từ Guam bị thương nặng cố lết về U-Tapao sửa chữa, chỉ có một phi hành đoàn của ba máy bay bị hạ được giải cứu, cũng tối hôm ấy một F-111 của không quân bị bắn hạ trong khi ném bom đài phát thanh Hà Nội.
Khác với chiến dịch Linebacker đã được thực hiện từ tháng 5 tới tháng 10-1972 để trả đũa BV trong trận tấn công Mùa hè đỏ lửa 1972, Tổng thống Nixon không lên tiếng với nhân dân trên đài truyền hình để giải thích lý do leo thang. Nhưng trong khi ấy theo chỉ thị Nixon, Kissinger họp báo lên án Lê Ðức Thọ đã kéo lùi lại một số khoản đã thoả thuận từ tháng 10-1972.
Ðêm thứ hai (19-12) có 97 phi vụ do oanh tạc cơ B-52 tham dự, mục tiêu gồm sở Hoả xa Kinh No và kho hàng lân cận, nhà máy nhiệt điện Thái Nguyên cũng như nhà ga Yên Viên. Mặc dù có khoảng 185 hoả tiễn SAM do BV phóng lên và một số oanh tạc cơ bị hư hại vì trúng đạn nhưng không cái nào bị rớt. Bộ chỉ huy hy vọng đêm thứ ba, tức đêm cuối của chiến dịch cũng sẽ tốt đẹp như lần trước .
Mục tiêu thứ ba ngày 20-12 do 99 oanh tạc cơ thực hiện gồm ga xe lửa Yên Viên, nhà kho Yên Mô, nhà máy điện Thái Nguyên, địa điểm bốc rỡ hàng tại Bắc Giang, nhà ga Kinh Nơ, kho nhiên liệu săng dầu tại cũng như gần Hà Nội .
Vì thấy đợt hai bị thiệt hại nhẹ, đợt ba được tiến hành y như trước, đó là một lỗi lầm tai hại, phía Mỹ ra chiều tự mãn với phương thức trước. Trong đêm thứ ba BV cũng học được kinh nghiệm qua phương thức ấy, pháo đài bay B-52 khi tiến vào Hà Nội thấy MIG ở xa xa nhưng chúng không nghênh chiến mà chỉ để báo cáo cho dưới đất biết cao độ và tốc độ của máy bay Mỹ. Thế là hoả tiễn địa không và đại bác phòng không BV bắn xả láng lên các máy bay Mỹ, lộ trình tái diễn, ngựa quen đường cũ đã đưa tới thảm bại cho Mỹ, 6 B-52 bị bắn rơi trong đêm thứ ba (gồm hai B-52D và bốn B-52G), sự thiệt hại nặng của những B-52 trị giá 8 triệu khiến Quốc Hội và người dân phẫn nộ, họ yêu cầu chấm dứt oanh tạc. BV muốn ngừng đàm phán đợi tới kỳ họp Quốc hội tháng 1-1973 hy vọng Quốc hội ban hành luật chấm dứt chiến tranh VN là khoẻ re khỏi phải đàm phán.
Vì đợt ba tái diễn như hai lần trước khiến phòng không BV đã có kinh nghiệm và phóng 300 quả lên mục tiêu sáu B-52G và ba B-52D bị thiệt hại trong đợt tấn công thứ nhất và thứ ba, một B-52D quay về Thái Lan bị rớt ở Lào. Chỉ có hai trong số tám người của phi hành đoàn được cứu thoát. Chiến dịch gây phản ứng dữ dội, Bộ chỉ huy không quân bị áp lực nhiều phía: “Chấm dứt cuộc tắm máu này!”, nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy không quân cho rằng ta có thể mất nhiều oanh tạc cơ và thuyết ưu thế của không quân có thể vô nghĩa.
Vấn đề chính ở chỗ chiến thuật của Bộ chỉ huy không ghi nhận sự đe doạ của máy bay MIG trong ba đợt của chiến dịch. Chiến thuật không thay đổi vể đường bay, cao độ, đội hình, thời gian. Các vị chỉ huy giải thích sự không thay đổi ấy sẽ thuận lợi cho các phi hành đoàn B-52 không có kinh nghiệm bay vào một trận địa nguy hiểm. Nhà sử gia về không quân Earl Tilford lại có ý kiến khác:

“Sau nhiền năm oanh tạc những khu rừng không phòng ngự và thói quen phác họa kế hoạch chiến tranh nguyên tử đã nuôi dưỡng một định kiến trong tư tưởng các vị chỉ huy suýt đưa tới tai họa … chiến thuật nghèo nàn kết hợp với tính tự tin quá cao đã khiến cho mấy đợt bay tấn công đầu tiên của chiến dịch thành cơn ác mộng cho các phi hành đoàn B-52”
(Operation Linerbacker II).

Tổng thống Nixon cho lệnh tiếp tục sau ba ngày kể trên. Thay đổi thứ nhất ta thấy được do các vị chỉ huy tại Mỹ phân biệt sự khác biệt giữa các cơ phận radar của các mẫu B-52 (B-52G, B-52D), thiết bị trên mẫu G được xử dụng để ứng phó với các dàn phòng không tinh khôn, tối tân do Nga chế tạo, nó không phải để ứng phó với các hoả tiễn SAM-2 xưa cũ và hệ thống radar của BV. Các vị chỉ huy không quân tại Omaha nhấn mạnh chỉ có máy bay tại U-Tapao được trang bị các bộ phận tinh khôn mới được đưa vào trận địa tại BV. Do đó các đợt tấn công bị cắt giảm về tầm vóc (số lượng máy bay) mặc dù chiến thuật không thay đổi.
Tối thứ tư 21-12 của chiến dịch, 30 chiếc oanh tạc cơ từ U-Tapao đến thả bom kho hàng thuộc địa phận Hà Nội, Văn Ðiển, phi trương Quảng Tề. Hai oanh tạc cơ bị hoả tiễn SAM bắn rớt. Ðêm hôm sau 22-12 mục tiêu được chuyển từ Hà Nội xuống Hải Phòng nhắm vào kho săng dầu nhiên liệu. Lần này cũng 30 máy bay tham dự trận đánh, không bị thiệt hại về B-52 nhưng một F-111 bị bắn rớt xuống nhà ga Kinh Nơ.
Ngày 22-12 một cánh của bệnh viện Bạch Mai ngoại ô Hà Nội bị một chuỗi bom lạc đánh trúng. Sự thiệt hại đã khiến BV và các nhà phản chiến Mỹ làm ầm lên, bệnh viện này cách đường bay của phi trường Bạch mai 100 m và một kho quân sự chỉ cách đó chưa tới 200 m, bệnh nhân đã được di tản nhưng không may 28 bác sĩ, y tá, dược sĩ bị thiệt mạng.
Hai ngày trước Giáng Sinh, các vị chỉ huy không quân đưa các căn cứ SAM và các phi trường vào danh sách mục tiêu, máy bay F-111 của Không quân được đưa tới trước khi oanh tạc cơ đến để giảm mối nguy của máy bay địch lên nghênh chiến. F-111 đã rất thành công trong chiến dịch tiêu diệt các dàn hoả tiễn địa không của BV.
Ðêm thứ sáu 23-12 các oanh tạc cơ cũng tránh Hà Nội và tấn công các vị trí hoả tiễn địa không tại phía bắc thành phố và ga xe lửa Lạng Ðăng. Không bị thiệt hại máy bay nào, đêm hôm sau cuộc hành trình may mắn (cũng tránh Hà Nội) tiếp tục. 30 oanh tạc cơ B-52 được 69 phi cơ chiến thuật yểm trợ tấn công nhà ga Thái Nguyên và Kép, không có máy bay nào của Mỹ bị mất trong chiến dịch này.
Mặc dù B-52 đảm nhiệm vai trò chính nhưng các phi cơ chiến thuật cũng rất tích cực trong việc yểm trợ. Trong khi các pháo đài bay và phi cơ F-111 thực hiện các phi vụ trong ban đêm, trung bình 69 máy bay chiến thuật của Không quân, Hải quân Thủy quân lục chiến tấn công ban ngày, trung bình gần 100 phi xuất một ngày. Sự thiệt hại của những phi cơ này rất nhẹ, chỉ hơn mười chiếc trong toàn bộ chiến dịch, lý do cũng không có gì khó hiểu vì phòng không BV chỉ đợi ban đêm mới chống trả dữ dội các mục tiệu xuất hiện
Sau trận oanh kích ngày 24 -12 , chiến dịch ngưng 36 giờ để mừng Giáng Sinh 1972, trong khi đó các nhà kế hoạch gia không quân làm việc, họ duyệt lại chiến thuật cho giai đoạn kế tiếp tức giai đoạn chót. Vì bị thiệt hại ở giai đoạn đầu nên họ dự trù một cuộc tấn công dữ dội vào các phi trường BV khi bắt đầu tấn công trở lại. Giai đoạn này cũng cần thiết, từ Giáng Sinh hầu hết các mục tiêu chiến thuật của BV đã bị phá tan nát hết. Sau đó các vị chỉ huy đã giao kế hoạch chiến thuật cho thuộc cấp tại Không Lực tám (Eighth Air Force) đóng tại Guam, tại đây người ta nhanh chóng duyệt lại chiến thuật đã có nhiều thiệt hại trước đây.
Nay thay vì tấn công nhiều đợt, các oanh tạc cơ có thể đánh và rút tại mục tiêu trong vòng 20 phút, các pháo đài bay này có thể đến từ nhiều hướng và nhiều cao độ khác nhau. Các oanh tạc cơ có thể tùy nghi muốn rút theo đường nào thì rút, kế họach rút về hướng tây (Post-target turns) trước đây bị loại bỏ. Các pháo đài bay đến từ bẩy địa điểm khác nhau sẽ tấn công mười mục tiêu trong phạm vi Hà Nội, Hải Phòng, trong đó có bốn địa điểm từ vịnh BV.
Ngày 26 -12, 120 oanh tạc cơ cất cánh ném bom ga xe lửa Thái Nguyên, Kinh Nơ, đường xe lửa Ðức Nội, Hà Nội, Hải Phòng và khu nhà ga Vân Ðiển , 78 oanh tạc cơ xuất phát từ Anderson (Guam), đó là trận oanh tạc trong một lần lớn nhất trong lịch sử của Bộ chỉ huy chiến dịch, 42 chiếc khác từ Thái Lan. Các oanh tạc cơ được 113 máy bay chiến thuật yểm trợ như: thả những miếng là kim loại dát mỏng phá rối radar BV, hộ tống, phá huỷ các dàn hoả tiễn địa không …
Hệ thống phòng không của BV mặc dù còn hữu hiệu nhưng bị tràn ngập bởi số lượng máy bay lớn cũng như rất khó tìm ra máy bay trong khoảng thời gian ngắn và bị màn dầy đặc của các miếng kim loại dát mỏng do máy bay chiến thuật thả xuống. Trước đây BV đã bắn lên khoảng 950 hoả tiễn, kho nay đã gần cạn, họ chỉ bắn lên được 68 SAM trong chiến dịch này. Một B-52 bị hạ gần Hà Nội, một cái khác bị hư hại nặng quay đầu về U-Tapao bị hủy hoại, chỉ có hai người trong phi hành đoàn sống sót. Tối sau 27-12, 60 oanh tạc cơ tiến hành chiến dịch, một số tấn công các vị trí hoả tiễn địa không, số còn lại đánh phá đường xe lửa Lạng Ðăng, Ðức Nội, Trùng Quang và Văn Ðiển. Một B-52 bị thương nặng khiến phi hành đoàn nhẩy dù xuống Lào được cứu thoát, một chiếc khác không may khi oanh tạc ga xe lửa Trùng Quang bị trúng đạn. Trong chiến dịch ban đêm hai F-4 và một máy bay trực thăng cấp cứu HH-53 bị bắn rơi.
Ngày thứ 10 (28-12) tổng cộng có 60 B-52 trong đó 15 chiếc loại G và 15 loại D từ Anderson, Guam, và 30 chiếc loại D từ U-Tapao, các máy bay tấn công năm mục tiêu làm sáu đợt, trong đó bốn đợt đánh vào các mục tiêu thuộc địa phận Hà Nội (gồm cơ sở cung cấp hoả tiễn địa không), trong khi đó đợt năm đánh ga xe lửa Lạng Ðăng ở Tây Nam Lạng Sơn, một số lớn các tuyến đường vận tải từ Trung Cộng. Không có máy bay nào bị rớt trong chiến dịch này.
Ngày thứ 11 (29-12) là trận oanh tạc chót cùng, chỉ còn mộ ít mục tiêu chiến lược còn lại tại BV đáng lưu ý, tuy nhiên còn hai kho hoả tiễn SAM tại Phúc Yên và ga xe lửa Lạng Ðăng có thể oanh tạc được. Tổng cộng 60 chiếc máy bay lại tiến về Bắc nhưng thay đổi việc chọn lựa loại, mẫu. U-Tapao lại cung cấp 30 mẫu D, lực lượng từ Anderson thay đổi, đưa 12 mẫu G và 18 mẫu D trên không phận BV, cuối cùng 30 B-52D làm nhiệm vụ oanh tạc trên vùng cán chảo BV và Nam VN, lần này cũng không có máy bay nào bị phòng không, máy bay MIG của BV hay hoả tiễn bắn hạ
Ngày 22-12 Hoa Kỳ kêu gọi Hà Nội trở lại bàn hội nghị đển bàn thảo những khoản đã đề ra từ tháng 10. Ngày 26-12, Hà Nội báo cho Hoa Thịnh Ðốn họ muốn nhấn mạnh cho Nixon biết oanh tạc không phải là lý do để quyết định, Bộ chính trị BV cho biết ngưng oanh tạc không phải là điều kiện tiên quyết cho cuộc đàm phán. Nixon trả lời ông muốn các cuộc đàm phán về kỹ thuật, thủ tục bắt đầu ngày 2-1-1973 và ông sẽ ngưng oanh tạc nếu BV đồng y. Họ đồng ý và Nixon ngưng chiến dịch dội bom trên vĩ tuyến 20 từ ngày 29-12. Kế đó ông báo cho Kissinger chấp nhận những điều khoản từ tháng 10 để ký Hiệp Ðịnh. Thượng nghị sĩ Henry Jackson (Dân chủ, Washington) khuyên Tổng thống Nixon nói chuyện trên truyền hình cho nhân dân biết chúng ta oanh tạc BV để buộc họ trở lại bàn hội nghị.
Nay vấn đề trở ngại là sự đồng ý của TT Thiệu, Nixon cố gắng trấn an ông bằng lá thư ngày 5-1-1973 rằng:

“Xin cam kết với ông chúng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ trong thời gian sau khi ký kết và sẽ trả đũa hết mình nếu BV vi phạm thoả hiệp” (“You have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam” – Operation Linebacker II)

Tuy nhiên lúc này đang bị Quốc hội chống đối, địa vị Nixon không cho phép ông hứa như vậy, thí dụ nếu đưa yêu cầu này ra Quốc hội ông sẽ chẳng hy vọng gì được chấp thuận. Tuy nhiên ông Thiệu vẫn không chịu, ngày 14-1-1973, TT Nixon phải hăm dọa:

“Tôi đã nhất quyết tiến hành ký Hiệp Ðịnh vào ngày 23-1-1973. nếu cần tôi sẽ đơn phương ký với họ (I have therefore irrevocably decided to proceed to initial the agreement on January 23, 1973… I will do so, if necessary, alone).

Ngoài ra ông còn hăm doạ cắt hết viện trợ, một ngày trước thời hạn, TT Thiệu đành phải chấp thuận thoả ước, không làm gì hơn được.
Ngày 9-1-1973 Kissinger và Lê Ðức Thọ trở lại Paris, thoả thuận giữa Mỹ và BV về cơ bản chính là cái hai bên đã đạt được từ ba tháng trước (tức từ tháng 10-1972). Những yêu cầu do Mỹ thêm vào từ tháng 12-1972 đã bị loại bỏ, nói khác đi bất lợi cho Mỹ. John Negroponte, một trong những phụ tá của Kissinger đã gay gắt nói trong khi hai bên thương lượng như sau:

“Chúng ta oanh tạc BV để họ phải chấp nhận sự nhượng bộ của chúng ta” (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions – Operation Linebacker II)

Khu phi quân sự do Hiệp định Genève ấn định từ 1954 không được coi là biên giới giữa hai nước. Việc yêu cầu quân đội BV rút khỏi miền Nam VN về Bắc không thấy ghi một tí nào trong Hiệp định, tuy nhiên Lê Ðức Thọ có hứa miệng với Kissinger sẽ rút 30,000 quân CS về Bắc.
Yêu cầu ngưng bắn cho toàn cõi Ðông dương không được ghi trong Hiệp Ðịnh, một lần nữa Kissinger lại hài lòng với lời “thoả thuận miệng” (verbal understanding) rằng ngưng bắn tại Lào sẽ được thực hiện cùng lúc hoặc sau VNCH một chút. Thỏa thuận về Cam bốt không được đặt ra vì tại nơi đây BV không có tí ảnh hưởng nào đối với Khmer đỏ.

Hiệp Ðịnh Paris được ký tại khách sạn Majestic tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973.
Trong chiến dịch Linebacker II tổng cộng có 741 phi xuất B-52 để oanh tạc Hà Nội và 729 phi vụ đã thực hiện xong. Có 15,237 tấn bom đạn đã được ném xuống 18 mục tiêu về kỹ nghệ và 14 mục tiêu quân sự kể cả tám căn cứ hoả tiễn địa không (SAM), trong khi đó các máy bay chiến thuật cũng đã ném xuống 5,000 tấn bom đạn. Cùng thời gian này có 212 phi vụ B-52 được thêm vào tại Nam VN để yểm trợ cho các chiến dịch dưới đất, 10 B-52 đã bị bắn rớt ngoài Bắc và năm chiếc khác bị thương rớt ở Lào hoặc Thái lan, 33 quân nhân thuộc các phi hành đoàn B-52 đã bị thiệt mạng hoặc mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ, 33 người khác bị bắt làm tù binh và 26 ngươi khác đã được cứu vớt. Bắc Việt cho biết họ đã bắn hạ 34 chiếc B-52, 4 chiếc F-111 trong suốt chiến dịch.
769 phi vụ phụ thêm do Không Lực và 505 phi vụ do Hải Quân và Thủy quân lục chiến để yểm trợ cho các pháo đài bay B-52, có 12 máy bay bị thiệt hại trong chiến dịch gồm: Hai F-111, ba F-4, hai A-7, hai A-6, một EB-66, một trực thăng cấp cứu HH-53, một thám thính RA-5C, trong chiến dịch này mười phi công bị thiệt mạng, tám bị bắt, mười một được cứu thoát.
Toàn thể thiệt hại của chiến dịch là 27 chiếc gồm 15 B-52 và 12 máy bay chiến thuật: Không quân mất 15 B-52, hai F-4, hai F-111, một EB-66 và một trực thăng cứu nạn HH-53. Hải quân mất hai A-7, hai A-6, một RA-5, và một F-4. Trong số tất cả máy bay bị bắn rơi có mười bẩy chiếc bị bắn rớt vì hoả tiễn SA-2, ba chiếc bị máy bay MIG của BV bắn rơi ban ngày, ba chiếc do đại bác phòng không, bốn chiếc không rõ nguyên do. Tổng cộng có tám máy bay MIG bị bắn rớt trong đó hai chiếc do đại liên phòng không ở đuôi B-52 hạ.
Thiệt hại về vật chất hạ tầng cơ sở của BV rất nặng nề: Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons săng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị phá hủy. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160,000 tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Ðến tháng 1-1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30,000 tấn, vào khoảng năm lần. Mặc dầu Hà Nội la làng “Mỹ đã trải thảm bom lên nhà thương, trường học, các khu dân cư, phạm vào những tội ác man rợ đối với nhân dân ta”, nhưng chính họ đã cho biết chỉ có 1,624 người thường dân bị thiệt mạng.
Với khoảng 20,000 tấn bom được thả xuống Hà Nội, Hải Phòng, sự thiệt hại dân sự tương đối nhẹ, chỉ có 1,318 người tại Hà Nội và 306 người tại Hải Phòng thiệt mạng, nếu so sánh với chín ngày oanh tạc thành phố Hamburg, nước Ðức năm 1944, chỉ có vào khoảng chưa tới 10,000 tấn bom được ném xuống mà có tới 30,000 người bị giết.
Nhiều giới chức trong Không quân (theo Linebacker II bombing Raid) cho rằng nếu năm 1965 mà cũng đánh cho BV te tua như Giáng Sinh năm 1972 thì đã thắng rồi, họ sai lầm ở chỗ năm 1972 chiến tranh đến thời kỳ kết thúc và trận oanh tạc này chỉ là cú đấm cuối cùng. Ngoài ra bang giao cũa Mỹ với Nga, Trung Cộng đã thay đổi nhiều trong những năm có hoà đàm với BV, oanh tạc mạnh năm 1965 có thể lôi kéo CS quốc tế vào cuộc chiến và cũng có thể leo thang đi tới chiến tranh nguyên tử, nay kỳ hạn hoà bình đã thay đổi và Hoa Kỳ không còn muốn chiến thắng nữa, họ chuyễn sang rút bỏ.
Như vậy trận mưa bom Giáng sinh long trời lở đất năm 1972 có mục đích chính là để đưa BV trở lại bàn hội nghị. Sau ngày 30-4-1975 nhiều người ở miền Bắc vào Nam cho biết nếu Mỹ ném bom thêm một tuần nữa thì BV sẽ phải đầu hàng vì chịu không nổi. Gần đây có nguồn tin một cựu nhân viên FBI tên Ted Gunderson tiết lộ rằng một sĩ quan lãnh sự Mỹ lãnh sự tại VN đã nghe vào đầu xuân năm 1973 từ phòng truyền tin tại Sài Gòn lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt trong trận oanh tạc của Mỹ đầu xuân 1973 (tức trận oanh tạc Giáng sinh 1972), thế nhưng CIA đã thay thế toàn bộ nhân viên của phòng truyền tin và ém nhẹm đi tin này để cho sự điều đình giữa Tổng thống Nixon và Mao được xúc tiến và dâng miền Nam cho CS qua Hoà đàm Paris.
Tin đồn do những người ngoài Bắc đem vào Nam và tin của Ted Gunderson hoàn toàn sai lạc vô căn cứ, trước hết TT Nixon cho oanh tạc BV là để đưa họ trở lại bàn hội nghị như đã nói ở trên, họ chỉ muốn ký hiệp định rồi rút quân về nước sống chết mặc bay (The terms of peace had also changed as the United States went from wanting victory to settling for an easy exit – Linebacker II bombing raid).
Ông Nguyễn kỳ Phong đã nhận xét:

“Nhưng ý định của Hoa Kỳ trong cuộc dội bom phủ đầu năm 1972 không còn ý nghĩa quân sự nữa mà cuộc dội bom chỉ là một thái độ chính trị: Hoa Kỳ chỉ muốn CSVN trở lại hội nghị, kết thúc cuộc chiến trên giấy tờ, để Hoa Kỳ có thể rút khỏi Việt Nam – dù hiệp ước đó có bất lợi cho Hoa Kỳ và VNCH đến đâu. Và Hoa Kỳ đã đạt được ý định sau 11 ngày dội bom”
(Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 300).

Ngoài ra đối với BV, Mỹ không có tư cách để buộc họ phải đầu hàng như đã buộc Nhật đầu hàng năm 1945. Ðối với VN, Mỹ tham chiến chỉ là để trợ giúp VNCH tự vệ chống CS, giữ toàn vẹn lãnh thổ miền Nam chứ không phải để chiếm miền Bắc. Chúng ta cũng cần lưu ý mặc dù bị các pháo đài bay B-52 cho ăn đòn nhừ tử thừa sống thiếu chết, các hạ tầng cơ sở BV bị đánh phá tan tành xú oách gần như sập tiệm thế mà họ vẫn đòi được Mỹ phải nhượng bộ tại bàn hội nghị như đã nói ở trên. Hiệp định ký kết vẫn chỉ là những thoả thuận cũ từ tháng 10-1972. BV lỳ lợm như thế thì thử hỏi đến bao giờ họ mới chịu hàng, cho dù cuộc oanh tạc có tiêu diệt hàng trăm nghìn người thường dân vô tội hoặc hơn thế họ cũng chẳng quan tâm, trong thời gian chiến tranh Lê Duẫn đã từng nói sắn sàng nướng thêm một hai triệu người nữa để tiếp tục chiến đấu.
Năm 1989 tác giả bài viết này có dịp nói chuyện với một trung tá CSBV đã giải ngũ về cuộc oanh tạc Giáng sinh 1972, ông ta nói: Bây giờ hết coi là bí mật thì tôi mới dám nói, ngay hôm máy bay Mỹ ném bom dữ dội, các đường dây diện thoại bị đứt hết, trung ương mất liên lạc với địa phương, sau mười ngày oanh tạc, hai bên cùng đuối và rồi Mỹ phải ngưng cuộc tấn công. Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình) do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa thập niên 80, về đoạn nói về Mỹ ngưng ném bom như sau: Cuối tháng 12-1972 Hoa Kỳ ngưng ném bom BV, không phải vì bị thế giới lên án, cũng không phải vì người dân Mỹ biểu tình chống đối mà vì sự thiệt hại nặng của không quân trong chiến dịch này.
Cả ý kiến của cựu trung tá CS và nhận định của cuốn phim trên đều không đúng sự thật, sự thiệt hại 15 máy bay B-52 và 12 máy bay chiến thuật không có gì là lớn lao so với thiệt hại về hạ tầng cơ sở của BV. Như đã nói ở trên phòng không của BV cuối tháng 12 đã “hết xú oách” rồi, họ đã kiệt quệ về hoả tiễn địa không nên phải xin chịu ngồi vào bàn hội nghị, họ thấy “Chiến thuật Lì” không còn hiệu lực nên đành phải trở lại Hoà đàm. Vả lại Mỹ ngưng oanh tạc cũng vì các mục tiêu để đánh phá cũng không còn, hạ tầng cơ sở BV đã bị oanh tạc tanh bành té bẹ, không còn gì để triệt hạ nữa. (The final two days of Linebacker II encountered only one problem: a lack of suitable targets – Linebacker II bombing raid).
Có giả thuyết cho rằng nếu Nixon còn làm Tổng thống thì miền Nam chưa chắc đã bị mất về tay CS, giả thuyết này dựa trên tinh thần yểm trợ nhiệt tình của TT Nixon cho VNCH trước ngày ký hiệp định Paris. Sự thực cho dù Nixon còn làm Tổng thống thì VNCH cũng chỉ có một chút hy vọng mong manh, chưa chắc ông đã làm gì hơn được vì như đã nói ở trên khi TT Nixon hứa với ông Thiệu sẽ thẳng tay trả đũa BV nếu họ vi phạm Hiệp định, ông chỉ hứa miệng qua một bức thư riêng mà không dám hứa công khai vì sợ Quốc Hội chống đối, họ sẽ không cho phép ông hứa như vậy, người ta đã quá chán cuộc chiến tranh Ðông Dương. Ngay cả thời gian chưa ký Hiệp định mà tình hình còn bi đát như thế huống hồ hai năm sau. Vả lại chính Nixon cũng không còn tinh thần để tiếp tục cuộc chiến với một kẻ thù lì lợm.
Theo ông Nguyễn Kỳ Phong ngày 1- 5-1972 Quảng trị thất thủ vào tay BV, hôm sau Lê Ðức Thọ và Kissinger gặp nhau ở Paris tiếp tục đàm phán, khi ấy ba sư đoàn BV đang tiến về Huế, tại Kontum, Bình Long quân đội VNCH bị bao vây nguy khốn, Lê Ðức Thọ tỏ ra đắc thắng vì họ đang có ưu thế ở chiến trường

“Nhưng hơn một tháng sau, tình thế mặt trận chuyển hướng theo sự cuồng nộ của Nixon “Nam Việt Nam có thể thua, nhưng Hoa Kỳ không thể thua, nghĩa là, dù chuyện gì xảy ra ở Việt Nam, chúng ta sẽ hủy diệt bắc Việt Nam”. Nixon tuyên bố với những phụ tá thân cận”
(Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 504).

Như thế nếu đại quân của CSBV chiếm được miền Nam bằng vũ lực trong trận Mùa hè đỏ lửa 1972 thì Nixon sẽ oanh tạc san bằng hủy diệt BV, thể hiện thái độ “không được ăn thì đạp đổ”, với tình hình năm 1972 ông có thể làm như vậy, nhưng gió đã xoay chiều, những năm sau 1973, 1974, 1975 ông không thể làm gì hơn vì Quốc hội đã thực sự trói tay hành pháp.
Nửa năm sau ngày ký Hiệp định Paris, tháng 6-1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Ðông Dương, ngày 1-7-1973, TT Nixon miễn cưỡng phải ký thành đạo luật áp dụng từ giữa tháng 8-1973 cấm mọi hoạt động quân sự Mỹ trên toàn cõi Ðông Dương. Tháng 10-1973 Quốc Hội ra đạo luật hạn chế quyền Tổng thống về chiến tranh (War Power Act), Tổng thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến. Như thế đối với tình hình Ðông Dương lúc ấy hành pháp Hoa Kỳ đã bị trói tay gần như hoàn toàn, không cựa quậy vào đâu được.
Trên thực tế Nixon cũng quá chán nản để có thể tiếp tục trừng phạt BV bằng oanh tạc trả đũa. Từ đầu thập niên 70, phong trào phản chiến đã tạo sức mạnh của họ bằng lá phiếu và đã thành công, Quốc Hội nằm trong tay phản chiến, trong tay đảng Dân chủ sẵn sàng thực hiện nguyện vọng của họ để cắt quân vịên bỏ Ðông Dương. Vả lại chúng ta cũng không nên quên một yếu tố quan trọng là thuyết Domino đã lỗi thời khi bước sang thập niên 70, vào những năm 1965, 66, 67 còn có thể coi là có giá trị. Vị trí Ðông Dương nay không còn quan trọng đối với Mỹ.
Hoa Kỳ ký Hiệp Ðịnh Paris ngày 27-1-1973, rút quân và đem về nước 587 tù binh, ông Nguyễn Ðức Phương đã nhận xét:

“Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam không được chú trọng đến. Một chuyên viên về du kích chiến, Sir R. Thompson, khi thảo luận về việc ký kết hiệp định Ba Lê đã viết “ Sự sống còn của miền Nam VN bị đe doạ chỉ vì để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. Một điều trái ngược ở đây là miền Bắc VN bị bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị tại Ba Lê không phải để tự cứu họ mà là để cứu nước Mỹ”. Vì lý do vừa kể nên mặc dù có quá nhiều khuyết điểm, hiệp định Ba Lê vẫn phải được phê chuẩn với bất cứ giá nào”
Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 811.

Người mình thường kết án Kissinger hoặc chỉ trích TT Nixon ký Hiệp Ðịnh Paris bán đứng VNCH cho CS, họ lý luận Hiệp định là một bản án tử hình. Sự thực không phải như vậy, việc Nixon phải nỗ lực để ký thoả ước đem quân về nước là chuyện ắt phải làm ở cương vị ông, không thể làm gì hơn được vì như chúng ta đã biết, phong trào phản chiến và Quốc Hội đã luôn gây sức ép dữ dội đối với hành pháp buộc phải rút quân về nước bằng mọi giá. Không phải hành pháp Hoa Kỳ, tổng thống Nixon hay Kissinger bỏ VN mà Quốc Hội đã cắt giảm quân viện đến xương tuỷ khiến VNCH không còn đủ hoả lực để tự vệ, theo GS Nguyễn Tiến Hưng

“Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà:
- Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
- Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)
- Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).”
(Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, trang 223)

Tháng 2-1974 đạn tồn kho chỉ còn đủ xài cho một tháng, tháng 4 năm 1975 đạn chỉ còn đủ đánh hai tuần
(Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối VNCH trang 92)

Nay chính người Mỹ cũng phải công nhận Quốc Hội Hoa Kỳ đã bức tử miền nam VN, cắt viện trợ đạn dược, tiếp liệu trong khi BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào
(The United Stated did not lose the war in Viet Nam, the South Viet Namese did after the U.S Congress cut off funding. The South Vietnamese ran out of fuel, ammunition and other supplies because of a lack of support from Congress while the North Vietnamese were very well supplied by China and the Soviet union – History.com, Statistics about the Vietnam war).
Sự thực không phải Hiệp định Paris hay Nixon, Kissinger đã bức tử miền Nam VN. Mặc dù BV không rút hết quân về Bắc nhưng nếu Quốc hội tiếp tục viện trợ quân sự cho VNCH trong các tài khoá 1973-74 và 1974-75 bằng hoặc hơn mức viện tài khoá 1972-73 (tức 2 tỷ 100 triệu) thì VNCH vẫn đủ sức tự vệ chống lại BV mặc dù các nước đồng minh đã rút đi. Nay vấn đề đã quá rõ ràng, lập pháp đã bức tử VNCH chứ không phải hành pháp.
Trong trận oanh tạc khủng khiếp long trời lở đất mùa Giáng Sinh năm 1972, Nixon đã một công đôi chuyện, vừa bắt BV trở lại bàn hội nghị và vừa đánh phá tan tành xú oách các hạ tầng cơ sở miền Bắc như đã nói ở trên: phi trường, nhà ga, kho hàng, tiếp liệu bị hủy hoại. Nixon đã đánh cho BV sập tiệm để sau khi Mỹ rút đi họ sẽ không có khả năng xâm lược miền Nam, như thế ông ta cũng đã làm hết sức mình để cứu vãn sự sụp đổ của VNCH.
Theo ông Nguyễn Kỳ Phong tháng 6-1973 dưới áp lực của Quốc Hội Nixon phải chấp thuận luật không cho phép chính phủ xử dụng bất cứ ngân khoản nào cho các hoạt động quân sự tại Ðông Dương. Tháng 10-1973 Quốc hội biểu quyết chấp thuận luật mới giới hạn quyền Tổng thống trong chiến tranh (The War Power Act). Nixon lập tức dùng quyền tổng thống phủ quyết, nhưng một tháng sau Quốc hội biểu quyết lại với đa số phiếu và hiệu lực hoá bộ luật theo Hiến pháp.

“Không còn ngân khoản để yểm trợ trực tiếp hay gián tiếp cho Việt Nam, không còn quyền hạn để tuyên chiến lâu dài trong trường hợp phải đối phó với sự gây hấn của CSBV, giá trị của bản hiệp định đình chiến và giá trị của những hứa hẹn cá nhân của Nixon đối với VNCH bây giờ hoàn toàn nằm trong tay người khác: Trong tay của CSBV và Quốc hội Hoa Kỳ”
(Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 518)

Tổng thống Nixon đã hết lòng với sự tồn tại của Ðông Dương chứ không phải ông ta phản bội và bức tử đồng minh như nhiều người nghĩ.
Trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972 kể trên BV đã đủ sức chống trả và gây thiệt hại đáng kể cho không lực của một siêu cường thì ta mới thấy CS quốc tế đã viện trợ cho BV dồi dào như thế nào, có người cho rằng Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hôi chủ nghĩa anh em đã viện trợ quân sự cho BV để đánh nhau với Mỹ chứ không phải để đánh nhau với VNCH.
Theo bản tin BBCvietmamese.com ngày 10-5-2006: Trong buổi hội thảo của Viện Lịch Sử Quân Sự CSVN tổ chức tại Sài Gòn ngày 14 và 15-4-2006, hai “đồng chí” Lê Quang Lạng và Trần Tiến Hoạt đã công bố nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN anh em cho CSVN trong cuộc chiến tranh 1964-1975. Họ cho biết về Tên Lửa Liên xô đã viện trợ 10,169 quả, về máy bay chiến đấu Liên Xô viện trợ 316 chiếc, Trung Quốc anh em 142 chiếc. Trong giai đoạn 1969-72, BV đã nhận được 684,666 tấn hàng viện trợ vũ khí và trang bị kỹ thuật, giai đoạn 1973-1975 BV nhận được 649,246 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật như thế CS quốc tế vẫn viện trợ cho BV dồi dào từ đầu tới cuối cuộc chiến.
Mặc dù bị Nixon cho ném bom đánh phá tan nát hạ tầng cơ sở tại miền bắc, nhưng CS quốc tế đã yểm trợ tái thiết cho BV nhanh chóng. Sau khi ký Hiệp Ðịnh Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay Hành làng 613 song song với đường mòn Hồ chí Minh nhưng nằm trong lãnh thổ VNCH, BV đã xử dụng hằng nghìn xe máy ủi, hàng vạn bộ đội, dân công, thanh niên xung phong… ngày đêm, phá núi san đèo, xây cống, làm đường, dựng cầu…. Tới 1975 thì hoàn tất công trình, tuyến đường rộng 8 m, dài 1200 km, đường dẫn dầu từ Quảng Trị tới Lộc Ninh, chiều dài toàn bộ 5 hệ thống trục dài 5,500 km, 21 trục ngang 1,020 km, hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km. Nhờ hệ thống xa lộ Ðông Trường Sơn mà BV đã vận chuyển vào Nam một khối lượng rất lớn súng đạn.
Khi thấy Mỹ quẳng miếng xương Ðông Dương đi sau khi ký Hiệp định Paris vào đầu năm 1973, CS quốc tế cũng như Hà Nội vội nhanh tay ra chụp lấy.
Người Mỹ thực sự nhập cuộc và leo thang chiến tranh VN từ 1965 cho tới 1972, có thể chia làm hai giai đoạn 1965-1968 thời Johnson – McNamara và 1969-1972 thời Nixon – Kissinger.
Chính phủ Johnson được nhiều thuận lợi, mặc dù có biểu tình phản chiến nhưng số người ủng hộ chính phủ ở tỷ lệ tương đối cao 60%, 50% vào những năm 1965, 66. Qua năm 1967 số người ủng hộ chính phủ giảm còn 45%, 46%… trong khi số phản chiến tăng lên 50, 51%… Năm 1968 sau trận Tổng công kích Tết Mậu Thân tỷ lệ người ủng hộ giảm dần xuống còn 38%, tỷ lệ phản chiến vượt lên trên 50%. TT Johnson được Quốc hội ủng hộ cho tăng quân đều đều hàng năm từ 184,300 người năm 1965 lên 385,000 năm 1966, lên 485,600 năm 1967 và 536,100 năm 1968.
Mặc dù được nhiều may mắn Thiên thời, địa lợi, nhân hoà nhưng Johnson đã không thắng được CS, chẳng làm lên cơm cháo gì trong suốt bốn năm 1965-1968, ông đã khiến cho số lính Mỹ tử thương ngày một nhiều: 1,863 người năm 1965; 6,143 người năm 1966; 11,153 người năm 1967 và 16,592 ngưới năm 1968. Sai lầm lớn lao nhất của TT Johnson là đã giao toàn bộ kế hoạch quân sự cho McNamara, một người dân sự không có tí kinh nghiệm nào về quân sự, bị các tướng lãnh, giới chức quân sự coi thường. McNamara bất tài, thiếu tư cách, nắm toàn quyền chiến thuật, chiến lược đã là nguyên nhân chính cho sự sụp đổ Ðông Dương sau này. Chính sách đánh cầm chừng “vừa đánh vừa run” của cặp Johnson – McNamara đã đẩy phong trào phản chiến lên cao thượng đỉnh đưa cuộc chiến Ðông Dương dần dần tới chỗ sụp đổ tan tành.
TT Nixon thừa hưởng một gia tài đổ nát của Johnson – McNamara, chính phủ trước đã để lại cho ông một căn nhà dột nát, ông phải chống chọi, che đỡ ba bề bốn bên, mặc dù được coi là vị Tổng thống đã có một sự nghiệp chính trị ngoại hạng nhưng ông cũng không tài nào cứu vãn nổi tình thế. Khi Nixon lên nhậm chức thì phong trào phản chiến do cặp Johnson – McNamara để lại đã lên quá cao, từng bước một phong trào từ từ nắm vững quốc hội trong tay bằng lá phiếu, và rồi gió đã đổi chiều….
Nixon từ chức ngày 8-8-1974 vì vụ Watergate, ông đã đem theo tất cả những lời hứa hẹn với người bạn đồng minh xuống dưới tuyền đài.

Viết trong mùa Giáng Sinh năm 2009
Trọng Ðạt

Thái độ đáng buồn

Tôi buồn vì hôm 15 tháng Chạp cô phát ngôn viên khả ái của bộ ngoại giao Việt Cộng đã làm một việc đáng trách: cô dấu không cho phóng viên truyền thông thế giới biết là Trung Cộng đang chuẩn bị một cuộc, bố ráp rộng lớn trên mặt Biển Ðông, nếu không nói là một cuộc tàn sát ngư dân Việt Nam.

Trong cuộc họp báo hàng ngày, cô bảo những phóng viên quốc tế là Việt Cộng đã yêu cầu Trung Cộng trả lại ngư dân Việt Nam toàn bộ 2 chiếc tầu cá, mọi thiết bị đánh cá của hai con tầu này, và tư sản của ngư dân Việt Nam làm việc trên tầu, mà chúng đã cưỡng chiếm. Thật đẹp: chính phủ can thiệp cho ngư dân bị hà hiếp; chứ không nói gì đến mưu toan khủng bố hoặc cuộc mưu sát khổng lồ mà Trung Cộng đang chủ trương.

Sau khi thất vọng với đám Triết, Dũng, Mạnh, tôi có vô số lý do để đặt kỳ vọng vào những người trẻ như cô Phương Nga và buồn vì cô nói dối một cách rất dễ tin.

Phát ngôn Phương Nga khả ái - thay Lê Dũng - của chế độ Việt Cộng khả ố

Ðiều nói dối thứ nhất của cô Phương Nga là cô làm cho người Việt Nam, nhất là ngư dân Việt Nam tưởng rằng Việt Cộng đang bênh vực họ, đòi Trung Cộng trả lại tầu cá cho họ. Cô còn nói là Việt Cộng yêu cầu Trung Cộng thôi đừng hà hiếp ngư dân nữa.

Bộ Ngoại giao Việt Cộng xác nhận những việc xẩy ra trong ngày 8 tháng Chạp là Trung Cộng bắt giữ 3 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đang hoạt động bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, giữ lại 2 tàu cùng thiết bị, hải sản, và tư sản của ngư dân, dồn toàn bộ 43 ngư dân vào 1 tàu rồi thả họ về Việt Nam.

Phương Nga nói đây là "hành động sai trái, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Câu chuyện nghe hiền khô như việc một cảnh sát viên viết tích kệt cho anh tài xế chạy quá tốc độ; nhưng thật ra câu chuyện không “hiền” như vậy.

Một trong 43 ngư dân Lý Sơn bị nạn hôm mùng 7 và mùng 8 tháng Chạp, anh Lúa, kể:

"Ngày 28/11, tàu anh cùng 2 tàu khác mang biển số QNg-96004-TS do ông Lê Tân làm thuyền trưởng và QNg-66119-TS do ông Lê Văn Lộc làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng rời cảng cá Lý Sơn ra vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa để đánh bắt cá như thường lệ.

Cả 3 tàu cùng đánh bắt trên vùng biển thuộc tọa độ 16 độ 45’N và 112 độ 32’E. Các tàu anh em đánh bắt trong khu vực vẫn thường liên lạc với nhau qua ICOM. Đến 7 giờ sáng ngày mùng 8, đang đánh bắt cá thì anh em trên tàu phát hiện một chiếc tàu màu trắng từ xa chạy đến.

Biết có chuyện chẳng lành, thuyền trưởng Dương Lúa bảo anh em vứt lưới bỏ chạy. Càng chạy, chiếc tàu sắt công suất lớn càng đuổi.

Thuyền trưởng Dương Lúa kể lại nỗi kinh hoàng khi tàu bị bắt giữ.

Rượt bắt chúng tôi hơn 3 giờ đồng hồ, chiếc tàu lạ bắt đầu thả xuồng bay rượt theo và ra lệnh chúng tôi dừng tàu để kiểm tra. Biết không thể thoát, nên tui đành phải dừng tàu. Thế là bọn chúng từ dưới tàu với súng ống, roi điện nhảy ào sang khống chế toàn bộ anh em đưa sang tàu của chúng và đưa tàu về đảo Phú Lâm", anh Lúa kể.

Theo anh, đến cảng Phú Lâm, toàn bộ 14 anh em trên tàu bị bịt mắt đưa lên tàu sắt chở đi hơn 5 giờ đồng hồ, rồi bị đưa về nhốt trong một căn nhà trên đảo. "Lúc tháo băng bịt mắt, anh em tụi tui mới biết số anh em trên 2 tàu của anh Lộc và Tân cũng cùng chung số phận bị bắt giữ trước đó đưa về nhốt tại đây. Tổng cộng có 43 người trên 3 tàu".

Đến ngày mùng 9, 43 ngư dân được một số người mặc sắc phục đưa một tờ giấy viết sẵn bằng tiếng Trung Quốc. Theo người phiên dịch, đó là biên bản vi phạm vùng biển của Trung Quốc, bắt buộc phải ký vào. Ai không biết chữ thì lăn tay.

Nhiều tàu đánh bắt của ngư dân Lý Sơn nghe tin tàu bị đánh cướp
tại đảo Hoàng Sa đành phải nằm bờ không dám ra khơi.

Lúc đó sợ quá, lại không biết tiếng. Họ có súng, roi điện lăm lăm trong tay. Biểu ký thì ký. Nhiều anh em không biết chữ thì lăn tay. Nếu không ký và lăn tay thì bị đánh và dí roi điện vào người", anh Lộc kể lại.

Vẫn chưa hết, đến sáng 10/12, một số người mặc sắc phục hải quân Trung Quốc đến đưa tờ giấy viết sẵn bằng tiếng Việt "các anh đã vi phạm vùng biển Trung Quốc, dùng thuốc nổ để đánh cá nên bị bắt giữ…" và bắt 43 ngư dân viết lại nguyên văn và ký tên.

Từ lúc bị bắt giữ đến khi đưa về đảo Phú Lâm, những người trên tàu sắt của Trung Quốc không hề phát hiện thuốc nổ trên tàu của bà con tui. Thế mà lại bắt anh em tụi tui phải viết vào tờ khai nhận dùng thuốc nổ đánh bắt. Thật là vô lý, nhưng không viết thì bị đánh đập", thuyền trưởng Lê Văn Lộc kể.

Toàn bộ 43 anh em sau đó bị bịt mặt đưa ra xe, chở xuống cảng nơi đang giữ 3 con tàu cá. Lúc được mở băng bịt mặt, 43 người đã thấy đông người bận sắc phục hải quân và kiểm ngư Trung Cộng.

Những người có vũ trang ra lệnh cho 3 thuyền trưởng của 3 tàu lần lượt bưng một khay thuốc nổ khoảng 28 kg đưa xuống tàu để quay phim, chụp ảnh từng tàu một.

"Hết tàu này đến tàu khác, hết người này đến người khác, họ bắt tụi tui bưng khay thuốc nổ "đóng phim" cho họ quay phim chụp ảnh suốt từ 8 giờ sáng đến 1 giờ chiều ngày 10/12", vẫn lời anh Lê Văn Lộc.

Ngư dân sau đó bị bắt đứng xếp hàng, nghe những người bận sắc phục đọc biên bản bằng tiếng Việt cho nghe: "Các anh đã sử dụng thuốc nổ để đánh bắt cá trên vùng biển Trung Quốc nên bị bắt giữ. Vì vậy, chúng tôi tịch thu 2 tàu QNg 66398-TS và tàu QNg-66119-TS. Cho tàu QNg-96004 để đưa các anh trở về…".

Toàn bộ tài sản trên tàu, 5 tấn cá cùng 3 tấn dầu, lương thực, thực phẩm đều bị thu giữ. Sau đó họ đưa toàn bộ 43 ngư dân xuống tàu của ông Lê Tân cho về.

Không lương thực, nhiên liệu, thiết bị định vị, máy liên lạc, chỉ với chiếc la bàn, tàu của ông Lê Tân đưa 43 ngư dân vượt sóng, lênh đênh trên biển hơn một ngày đêm mới về được đảo Lý Sơn lúc 19 giờ tối 11 tháng Chạp; mọi người đều đói khát, quần áo tả tơi...

Anh Lúa than, “Hết rồi, trắng tay rồi. Nợ một núi không biết lấy chi để trả. Mất tàu, thất nghiệp nằm bờ, chắc chết đói. Một mình tui đã đành. Còn cả chục anh em ngư phủ, cùng hàng trăm người khác là vợ con, cha mẹ trên bờ. Kiểu ni chắc chết chùm quá bà con ơi…"


Tôi buồn vì đã là phát ngôn viên, cô Phương Nga không thể ngậm hột thị trước nỗi khổ đau oan ức, to lớn của 43 đồng bào ngư dân; trước anh Lúa, nhiều chủ ngư thuyền khác cũng đã bị Trung Cộng bắt người, giữ thuyền, phá ngư cụ, và bắt nộp tiền phạt.

Yếu tố mới trong lần bắt bớ này là chúng bắt các chủ thuyền khiêng thuốc nổ xuống ngư thuyền để quay phim, chụp hình.

Nếu chúng đưa những tấm hình này ra biện minh một cuộc ruồng xét lớn lao, hay một vụ bắn giết ngư phủ Việt Nam bên cạnh xác một chiếc ngư thuyền Trung Cộng đã hư hỏng vô dụng, để biện minh là chúng giết ngư phủ Việt Nam vì những người này tấn công một ngư thuyền Tầu, thì dư luận sẽ phê phán như thế nào; nhất là sau ngày mùng 1 tháng Bẩy 2010, ngày mà theo một đạo luật đã được quốc hội Việt Cộng thông qua, chúng võ trang cho ngư phủ và bắt họ tự vệ?

Nếu trong buổi họp báo ngày 15 tháng Chạp, hoặc trong những buổi họp báo khác sau này, Phương Nga gợi ý mời phóng viên ngoại quốc vào Quảng Ngãi thăm ngư dân gặp nạn và nghe họ kể chuyện thì những bài báo họ viết lên sự thật có thể khiến việc giết ngư dân sau tháng Bẩy không xẩy ra.

Ðành rằng Phương Nga không được lệnh mời phóng viên ngoại quốc vào Quảng Ngãi tìm hiểu sự thật, nhưng khi các lãnh tụ đảng không dám chống Trung Cộng thì việc cần làm đó cũng vẫn phải làm thôi; như Nguyễn Tấn Trung đã làm, Lê Công Ðịnh đã làm.

Nguyễn Ðạt Thịnh

Bài Xem Nhiều