We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 31 December 2009

Di Sản “ác chủ ” HCM

Bánh mức và tôm khô củ kiệu đặc sản quê hương.

Subject: Dac san que huong: Banh muc tam kho cu kieu thit heo moi thu deu chua day du tieu chuan ve chat doc,
To: "Hinh Tran"
Date: Wednesday, December 30, 2009, 2:43 AM
Kính thưa quí bạn,
Nhân dịp năm hết Tết đến kính mời các bạn cùng tôi thưởng thức bánh mức và tôm khô củ kiệu đặc sản quê hương. Nếu ăn vào không chết thì tương lại gần cũng vào nhà thương.

http://www.youtube.com/watch?v=5yF58C9SPQA&feature=player_embedded#



Hàng trăm thùng ngâm nguyên liệu dùng để ngâm mứt cáu bẩn bốc mùi hôi nồng cả khu vực chế biến.


Nhiều thùng mứt đu đủ nổi mốc đen quánh.



Mứt cốc sủi bọt


Nhiều thùng mứt đu đủ bị thằn lằn "ị" vào.


Đến vài chục thùng trở thành tổ dòi.


Vô số trứng ấu trùng.


Gần đó, vỏ bưởi mốc đen, bốc mùi hôi như rác đang được thái nhỏ dùng làm mứt.


Khay chậu đựng mứt được đặt luôn dưới nền nhà.


Cơ sở dùng 3 loại phẩm màu xanh, đỏ, vàng để ướp mứt. Tất cả các dụng cụ đều không được che đậy.


Thùng chứa nước đường đầy cặn và cáu bẩn.


Sau khi được tẩm màu tẩm đường, mứt được mang lên mái nhà để phơi.




Di Sản “ác chủ ” HCM

Sách trong nước đăng: Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp

medium_VN_BanPBC_xcafe.jpg

Sách “Thành ngữ - Ðiển Tích - Danh Nhân Từ Ðiển” của Nhà Xuất Bản Văn Học ở Sài Gòn trong đó nói Lý Thụy tức Hồ Chí Minh đã bán nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Pháp.


medium_VN_BiaSach_BanPBC.jpg

Bìa sách "Thành Ngữ-Điển Tích-Danh Nhân Từ Điển" của nhà xuất bản Văn Học ở Việt Nam.
TỘI ÁC HỒ CHÍ MINH:


HÀ NỘI (NV) - Chi tiết Lý Thụy tức Hồ Chí Minh từng lập mưu bán nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Pháp, được đăng trên một quyển sách loại tài liệu khảo cứu do nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội in ấn, theo tin tiết lộ trên diễn đàn X-CafeVN đưa ra hôm Thứ Ba.

Quyển “Thành Ngữ - Ðiển Tích - Danh Nhân Từ Ðiển” của tác giả Trịnh Vân Thanh dầy 1039 trang khổ lớn đã viết như vậy về một trong những điều kiêng kỵ về Hồ Chí Minh. Trang 742, mục nói về Phan Bội Châu của sách nói trên viết: “Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức ‘Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc’, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:

1. Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.

2. Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.”

Cụ Phan Bội Châu là một nhà ái quốc thời đầu thế kỷ 20. Mang cụ về Việt Nam, Pháp kết án tử hình nhưng một phong trào quốc dân khắp nơi đòi ân xá cho cụ, thực dân Pháp không dám giết nên đành đưa cụ về an trí ở Huế. Nhưng tại sao cụ lại bị bắt khi hoạt động cứu nước ở Trung Quốc thì ít có sách đi sâu vào chi tiết. Riêng điều cụ bị Lý Thụy (một trong những bí danh của Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh) bán đứng cho thực dân Pháp lấy tiền được một số sách biên khảo đề cập nhưng sách sử trong nước chưa bao giờ viết như vậy.

Nhà xuất bản Văn Học là một bộ phận của Hội Nhà Văn Việt Nam. Quyển Thành Ngữ - Ðiển Tích - Danh Nhân Từ Ðiển được nhà xuất bản Văn Học xuất bản hồi năm 2008. Những trang đầu của quyển sách có ghi bộ phận biên tập trong đó người chịu trách nhiệm xuất bản là ông Nguyễn Văn Cừ, giám đốc nhà xuất bản.

Chuyện có hay không có việc Lý Thụy bán hay không bán cụ Phan Bội Châu vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh cãi, nhưng việc một nhà xuất bản lớn để lọt một quyển sách như vậy ra thị trường là một điều hiếm thấy.

Một lý do có thể do nguồn gốc quyển sách. Quyển “Thành Ngữ - Ðiển Tích - Danh Nhân Từ Ðiển” thật ra là một tác giả xuất bản tại miền Nam Việt Nam vào thời chiến tranh, in làm 2 tập vào hai năm 1966 và 1967. Tác giả Trịnh Vân Thanh tức Trịnh Chuyết, giáo sư dạy Sử ở trung học, biên soạn và xuất bản. Nay nhà xuất bản Văn Học lấy in lại nguyên văn.

Hồi đầu năm nay, dư luận trong nước bày tỏ phẫn nộ dữ dội khi nhà xuất bản Văn Học cho dịch và bán quyển tiểu thuyết “Ma Chiến Hữu” của Mạc Ngôn, một nhà văn quân đội Trung Quốc. Nội dung quyển truyện ca ngợi những người lính Trung Quốc đã tham gia và chết trong cuộc xâm lăng biên giới Việt Nam Tháng Hai, năm 1979.

Nhìn lại cuộc Đấu tranh kiên cường của Linh mục Nguyễn Văn Lý.

“Tự do Tôn giáo hay là Chết”.

Mùa Giáng Sinh về và những ngày cuối năm 2009, từ thành phố Seattle nhìn về quê hương đau buồn, nhìn về thân phận người tù nhân lương tâm Linh mục Nguyễn Văn Lý nơi trại giam Nam Hà, mặc dù sức tàn, lực kiệt qua cơn tai biến mạch máu nảo, cũng như qua bao năm tháng bị đọa đày trong chốn lao tù công sản , nhưng người tù nhân lương tâm này vẫn hiên ngang với ý chí kiên cường, và luôn khẳng định rằng: tôi không phải là phạm nhân, tôi là tù nhân lương tâm”. Xin hãy cùng nhau nhìn lại cuộc đấu tranh kiên cường của người tù nhân lương tâm này.

***

“CHÚNG TÔI CẦN TỰ DO TÔN GIÁO” “ TỰ DO TÔN GIÁO HAY LÀ CHẾT”, là hai khẩu hiệu được treo ngay tại nhà thờ của Giáo xứ bé nhỏ Nguyệt Biều thuộc Giáo phận Huế vào Mùa Giáng Sinh năm 2000 mà linh mục Thađêô Nguyễn Văn Lý bắt đầu khởi sự cuộc đấu tranh đòi tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Linh mục Nguyễn Văn Lý, là một tù nhân lương tâm, ngài dấn thân vào cuộc đấu tranh đòi Tự do Tôn giáo, đòi Tự do Dân chủ và Nhân quyền cho Việt Nam một cách ôn hòa, bất bạo động tại Giáo phận Huế. Huế là nơi được xây đắp bởi ngọn lửa đấu tranh từ tinh thần đấu tranh bất khuất của TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, là vị Giám mục mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công nhận là vị Giám mục anh dũng của Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Noi theo tinh thần dấn thân, bất chấp nguy hiểm vì lợi ích con người của vị Chủ Chăn Huế, nên Huế đã có nhóm linh mục không sợ tù tội, không sợ bị trù dập, không an phận trong thiên chức linh mục. Những vị này thường lên tiếng đòi hỏi vì Giáo hội bị mất quyền tự chủ, lên tiếng vì con người bị chà đạp nhân phẩm và mất hết mọi quyền để được sống đúng với phẩm giá con người, đó là Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Xin tóm lược về cuộc đời hoạt động đấu tranh của Lm Nguyễn Văn Lý, là một thành viên của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền.

Linh mục Nguyễn Văn Lý sinh ngày 31-8-1947 thuộc giáo xứ Ba Ngoạt, Phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng trị. Lm Lý vào học tại Tiểu chủng viện Hoan Thiện Huế năm 1963, và vào Đại Chủng viện Xuân Bích Huế năm 1966, thụ phong linh mục ngày 30 tháng 4 năm 1974 qua sự đặt tay của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền. Sau khi được thụ phong linh mục, ngài được cử vào Sài Gòn phụ trách Cộng Đoàn Thừa Sai ở Gò vấp từ ngày 17-4-1974 đến hạ tuần tháng 3 năm 1975. Vào những ngày cuối của trung tuần tháng 3 năm 1975, hầu hết người dân Huế vội vã lên đường chạy trốn cộng sản, đoàn người ào ạt nối đuôi nhau di tản từ Huế vào Nam vì có tin thành phố Huế sẽ bị VC tấn công. Từ Sài Gòn linh mục Nguyễn Văn Lý lại tìm mọi cách và dùng nhiều phương tiện lội ngược dòng người đang di tản để về lại Huế theo lời kêu gọi của vị Chủ chăn. Ngày 25-3-1975 Lm Lý có mặt tại Huế, và ngày 26-3-1975, Huế lọt vào tay cộng sản Bắc Việt. Đức TGM Nguyễn Kim Điền bổ nhiệm ngài giữ chức vụ thư ký Toà Giám mục, ngài làm việc tại Toà Giám mục từ ngày 10-4-1975 cho đến ngày 7-9-1977 thì bị bắt. Lý do bị bắt vì tội đã phổ biến 2 bài phát biểu của TGM Nguyễn Kim Điền. Được biết, ngày 15-4- 1977 và ngày 22-4-1977, TGM Nguyễn Kim Điền được Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên mời họp, Ngài đã phát biểu tại các buổi hội nghị này có sự hiện diện của Thượng Tọa Thích Thanh Trí, với lời xác quyết rằng: “không có tự do tôn giáo”, Ngài nhấn mạnh: Có sự phân biệt đối xử đối với người công giáo và nhà nước luôn chủ trương rằng: “Người công giáo là công dân hạng hai “, lời phát biểu có chứng minh rất cụ thể. Lm Nguyễn Văn Lý với sự hợp tác của Lm Hồ Văn Quý đã phổ biến 2 bài phát biểu này khắp nơi và cũng đã tìm cách chuyển ra nước ngoài lúc bấy giờ, nên cha Lý đã bị bắt 7-9-1977. Ngày 24-12-1977 cha Lý được thả ra có lẻ nằm trong thời điểm mà nhà nước csVN đang vận động để xin vào làm thành viên của Liên Hiệp Quốc, ngài bị quản chế tại Nhà Chung cho đến năm 1978. Sau đó, ngài được thuyên chuyển về giáo xứ Đốc Sơ, cách Huế khoảng 5 cây số về hướng Bắc. Tại Đốc Sơ, cha Lý lại bị quản chế từ năm 1981 đến 1983.

Tháng 8 năm 1981, nhân ngày Hành hương La Vang vào dịp lễ Đức Mẹ lên Trời, cha Lý và một số thanh niên giáo dân Đốc Sơ đi hành hương, lúc gần đến Mỹ chánh thì công an chận lại, có cả một số nữ tu và giáo dân đi trên xe hành khách cũng bị mời xuống xe, cha Lý liền yêu cầu đoàn người hành hương quỳ xuống đất, mặt hướng về Thánh địa Lavang để cầu nguyện. Tiếng hát “Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam” vang dội, khiến một số người qua đường, tò mò dừng lại, nên chẳng bao lâu lượng người trên Quốc lộ I càng lúc càng đông. Thấy bất ổn vì xe cộ càng lúc càng nhiều, giao thông bị kẹt, nên công an đành để đoàn hành hương tiếp tục đi La vang.

Nên nhớ rằng, từ khi cộng sản chiếm miền Nam, thì nhà cầm quyền tỉnh Bình Trị Thiên tuyệt đối cấm mọi cuộc Hành hương về Thánh địa La Vang kể cả việc cấm cha Nguyễn Vinh Gioang là cha chánh xứ nơi đây, cũng không được cử hành Thánh lễ tại La Vang. Sau chuyến hành hương về, một số chủng sinh tại giáo xứ Phủ Cam, nhân ngày lễ Bổn mạng của nhóm chủng sinh Hoan Thiện, có trình diễn một hoạt cảnh trong Thánh đường Phủ Cam, mô tả lại cảnh công an chận đoàn hành hương trên Quốc lộ I với đề tài “Dâng con cho Mẹ”. Kết quả công an đã biết được và bắt giam các chủng sinh diễn hoạt cảnh này. Tất cả bị đưa đi lao động khổ sai tại trại tù Bình Điền Huế, trong đó có Lm Phan Văn Lợi.

Qua vụ hành hương này, cha Lý bị răn đe và công an thường xuyên theo dõi nghiêm ngặt. Công an đã nhiều lần ngăn cấm việc cha dạy giáo lý cho các em thanh thiếu niên trong giáo xứ, nhưng cha vẫn thản nhiên thi hành nhiệm vụ của người người mục tử, nên từ sáng sớm ngày 18 tháng 5 năm 1983 công an đã xông vào nhà xứ Đốc Sơ bắt ngài đi biệt tích và sau đó mở phiên xử kết án ngài 10 năm tù ở , 4 năm quản chế. Nhiều người kể lại trong phiên toà cha Lý đã dõng dạc tố cáo âm mưu bất chính của nhà nước cộng sản muốn triệt hạ các tôn giáo, nhiều người tham dự phiên xử án đã vỗ tay tán thưởng.

Ngày 31 tháng 7 năm 1992, cha L ý được thả ra với lệnh quản chế tại Nhà Chung Huế và bị cấm làm nhiệm vụ của một linh mục.

Trong thời gian còn bị giam giữ trong tù, khi hay tin Cố TGM Nguyễn Kim Điền chết vào ngày 8-6-1988, Lm Lý rất búc xúc, nên khi ra khỏi tù vào năm 1992, mặc dù đang bị quản chế tại Nhà chung Huế nghiêm ngặt, Lm Lý cũng đã tìm mọi cách vào Sài Gòn, để tìm hiểu sự thật về cái chết của TGM Nguyễn Kim Điền và sau đó Lm Lý đã viết Lời chứng về cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền. Lm Lý sau khi ra khỏi nhà tù thì bị quản chế tại Nhà Chung Huế từ năm 1992 đến năm 1995, sau đó, cộng sản lại đưa ngài về Quản chế tại giáo xứ Nguyệt Biều. Khi còn bị quản chế tại Nhà Chung nhân ngày lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-1994, ngài phổ biến bản Tuyên Ngôn 10 điểm nói về thực trạng Tôn giáo tại Việt Nam, ngài bị công an quấy nhiễu suốt hai tháng trời nhưng ngài vẫn giữ vững lập trường. Cuối năm 2000, bản Tuyên Ngôn này lại một lần nữa được chuyển tải khắp nơi khi hệ thống siêu xa lộ thông tin được sử dụng trên toàn thế giới và bản Tuyên Ngôn được dùng làm kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh quyết liệt đầy cam go.

Ngày 26-12-2000 ngày Lễ Thánh Stêphanô tử đạo tiên khởi, LM Lý đã đến viếng mộ Cố TGM Nguyễn Kim Điền và ngài đã nằm sấp trên nền mộ mà cầu nguyện khá lâu, ngài kêu xin Đức Tổng phù trợ cho công việc đấu tranh đòi tự do tôn giáo của một nhóm linh mục Huế được thành công theo ý Chúa. Cuộc đấu tranh khởi đầu tại Nguyệt Biều bằng việc đòi lại đám đất trước nhà thờ Nguyệt Biều bị nhà nước chiếm dụng, nhưng khi giáo dân bị nhà cầm quyền đàn áp nên cha Lý đã vì đàn chiên mà đi đến giai đoạn quyết liệt với khẩu hiệu : “Tự do tôn giáo hay là chết”. Nhà cầm quyền tại Huế đã ra tay đàn áp Lm Lý và các giáo dân ủng hộ ngài tại Nguyệt Biều một cách khốc liệt.

Vào hạ tuần tháng 1 năm 2001, Lm Lý lại nhận được Bài Sai của Toà Giám Mục Huế, thuyên chuyển ngài về Giáo xứ An Truyền. Ngày 2-2-2001, TGM Nguyễn Như Thể đã về tại giáo xứ An Truyền để cử hành nghi thức giao chìa khóa Nhà thờ Giáo xứ An Truyền cho Cha Lý với nghi thức rất trọng thể, có cả các Cha Quản hạt thuộc TGP Huế tham dự. Khi về đến An Truyền, Lm Lý tiếp tục lên tiếng đòi Tự do Tôn giáo một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn, nơi đây lại có sự hỗ trợ của Lm Nguyễn Hữu Giải làm quản hạt Hương Phú mà An truyền nằm trong Giáo Hạt của Cha Giải. Ngày 26-02-2001 nhà cầm quyền Thừa Thiên Huế ra Quyết định số 401 ban hành lệnh quản chế và cấm Cha Lý không được làm lễ.Trong khoảng thời gian xuất phát cuộc đấu tranh từ Nguyệt Biều đến An Truyền, Lm Lý đã viết 9 Lời kêu gọi cho cuộc đấu tranh và được loan truyền khắp nơi trên thê giới, trong đó tôi thấy nổi bật là “Lời kêu gọi số 6: Hỡi các giáo sư, giáo viên, sinh viên, học sinh Việt Nam, đừng dạy, đừng học chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, và lý lịch của đảng cộng sản Việt Nam nữa”. Lời kêu gọi này, là một sự xác quyết về nổi đau của cả Dân tộc Việt Nam đã và đang gánh chịu vì phải học, phải dạy cái chủ thuyết bất nhân của chủ nghĩa cộng sản. Toàn dân Việt Nam đang sống trong một trạng thái bất an bởi chế độ công an trị, người dân mất hết mọi thứ tự do là do đảng csVN áp đặt chủ nghĩa cộng sản vào đất nước ta. Mục tiêu của ông Hồ và đảng csVN là quyết đưa đất nước Việt Nam vào quỹ đạo của Đệ tam Quốc tế cộng sản, cho nên chúng đã nhồi nhét và bắt toàn dân phải học chủ thuyết Mác-Lê, ngay cả trong các Đại chủng viện hiện nay, nhà nước cộng sản cũng bắt các chủng sinh phải học chủ thuyết Mác-Lê. Đảng csVN đã ngang ngược bắt người dân “Yêu nước là phải yêu chủ nghĩa xã hội”. Đây là học thuyết phản lại Dân tộc, phản lại các Tôn giáo, nhất đi ngược lại tín lý của Giáo hội Công giáo. Chính chủ nghiã cộng sản này mà đảng csVN đã độc ác ra tay giết hại người Việt qua cuộc đấu tố cải cách ruộng đất, giết hại những nhà trí thức qua vụ án Văn Nhân giai phẩm, giết hại dân lành trong biến cố Tết Mậu thân mà Huế Đô có gần 6 ngàn dân vô tội bị chết thảm, giết hại và đày ải những người phục vụ miền Nam trong các trại tù cải tạo. Tệ hại nhất là cảnh đẩy hàng hàng, lớp lớp thanh niên nam nữ vào chỗ chết với khẩu hiệu “Sinh Bắc tử Nam” và đã tạo nên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn với chiêu bài bịp bợm “Giải phóng miền Nam”. Bởi vậy, Lm Lý đã kêu gọi đừng dạy, đừng học chủ nghĩa Mác –Lê, mới mong loại bỏ được tận gốc nọc độc của sự độc ác, mới mong đưa đất nước đến nền Tự do Dân chủ thật sự. Lời kêu gọi này thật phù hợp với việc Nghị Viện Quốc hội Âu Châu lên án Cộng sản là tội ác của nhân loại, qua Nghi quyết 1481 ký ngày 25-01-2006.

Đầu tháng 5 năm 2001 Ủy Ban Quốc tế tự do tôn giáo của Quốc hội Hoa kỳ đã gởi thư mời Lm Lý điều trần tại Quốc hội ngày 13-5-2001 về “Thực trạng tự do tôn giáo Việt Nam”. Lm Lý đã gởi Bản Điều trần tới Uỷ Ban này vì không đi được.

Ngày 17-5-2001, một lực lượng hùng hậu gồm 600 công an do một tướng công an từ Hà nội vào chỉ huy cuộc vây bắt Lm Lý. Từ sáng sớm công an đã đến bao vây Giáo xứ An truyền. Trong lúc công an bao vây Giáo xứ thì Lm Lý đang nói chuyện điện thoại với người nhà ở Quãng Biên vì mẹ ngài đang hấp hối và Cụ Bà đã vĩnh biệt trần thế khi con mình vào tù, nên chẳng đưọc gặp mặt lần cuối. Ngày 19-10-2001, một phiên toà vội vã đã xử tại Thành Phố Huế để kết án Lm Lý 15 năm tù ở và 5 năm quản chế với tội danh : “Phá hoại khối đoàn kết toàn dân”. Trước vành móng ngựa, Lm Lý đã nhắm nghiền đối mắt, và im lặng để phản đối. Sau phiên xử, công an Huế lập tức đưa Lm Lý về giam giữ tại Nam Hà.

Trước áp lực của Quốc tế càng ngày càng quyết liệt, nhất là việc Việt Nam đã bị Hoa Kỳ đưa vào danh sách các nước đặc biệt cần quan tâm(CPC). Trong khi đó, Việt Nam rất mong muốn được vào WTO, nhưng con đường tiến vào ngưỡng cửa WTO luôn luôn bị Mỹ ngăn chận. Lại thêm việc phái đoàn TNS Sam Browback tìm đến thăm LM Lý tại trại giam Nam Hà là một vấn đề phiền toái cho Bắc Bộ phủ. Trước tình thế khó khăn và đầy phức tạp này, Bắc Bộ phủ đã nghĩ ra một kế sách đổi chác với Mỹ để có những lợi ích thiết thực cho đảng csVN. Linh Mục Nguyễn Văn Lý mà Hoa Kỳ đang chú tâm là vị tù nhân lương tâm tại Việt Nam, là bài toán được Bắc Bộ Phủ nghĩ đến trong việc trao đổi.

Quả nhiên, đầu tháng 2 năm 2005, Lm Lý được thả ra khỏi trại giam Nam Hà và công an Hà nội đã chở Lm Lý về Nhà Chung Toà giám Mục Huế với án lệnh: “Quản chế”. Công an Huế thường xuyên bám sát và theo dõi Lm Lý ngày đêm một cách chặt chẽ trong thời gian bị quản chế.

Lm Lý vốn được hấp thụ bởi truyền thống đấu tranh không biết mệt mỏi theo tinh thần của cố TGM Nguyễn Kim Điền và với ý chí cương quyết trên con đường đấu tranh vì Dân tộc. Sau khi ra khỏi tù năm 2005, Lm Lý đã chuyển hướng cuộc đấu tranh ra khỏi phạm vi Tôn giáo để nhắm đến hướng đấu tranh chung cho cả nước, đó là cuộc đấu tranh đòi: Tự do Dân Chủ cho Việt Nam. Từ tháng 5 năm 2005, Lm Lý bắt đầu tìm mọi cách để liên lạc với một số nhân vật trong nước có tư tưởng tự do dân chủ, muốn đất nước sớm được thoát khỏi sự kềm kẹp của cộng sản. Trong dịp tiễn đưa các người cháu của ngài đi Mỹ vào tháng 9 năm 2005, Lm Lý đã tìm gặp nhiều nhà có xu hướng dân chủ tại Sài Gòn. Ngày 22-11-2005, Lm Lý viết bài “Tẩy Chay bầu cử Quốc hội năm 2007”, kêu gọi toàn dân tẩy chay cuộc bầu cử theo lối đảng cử dân bầu do csVN chủ trương xưa nay. Dựa vào Hiến pháp Việt Nam năm 1992, dựa vào các điều qui định trong Công Ước Quốc tế về Quyền Dân sự Chính trị, ngày 23-2-2006 Nhóm LM Nguyễn Kim Điền ra “Tuyên Bố về Quyền Thông tin, Tự do Ngôn luận”. Để hướng đến việc xây dựng nền dân chủ thật sự, cần phải thực hiện được nguyên tắc đa đảng và có sự tự do tham chính của toàn dân, nên ngày 6-4- 2006 Nhóm đã công bố “Lời kêu gọi cho Quyền thành lập và hoạt động đảng phái”. Điểm nổi bật nhất của cuộc đấu tranh trực diện với đảng csVN là một cuộc vận động tại Quốc nội và đã liên kết được nhiều thành phần trí thức trẻ, cũng như mọi giới, khắp cả Trung Nam Bắc nên ngày 8-4-2006, trước ngày họp Đại hội X của đảng csVN, từ trong nước đã công bố Bản: “Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam năm 2006” với 118 vị cùng đứng tên trong bản Tuyên Ngôn này. Bản Tuyên Ngôn đã được thế giới ủng hộ, cũng như đa số người Việt từ quốc nội đến hải ngoại tham gia đứng tên chung, nên từ đó trở thành KHÔI 8406, kết tụ mọi thành phần yêu chuộng tự do, cùng một lập trường chung: “giải thể chế độ cộng sản độc tài”. Ngày 15-4-2006, trước ngày đảng csVN họp Đại hội X, tờ báo Bán Nguyệt san Tự Do Ngôn luận được ra đời trong nước, cho đến khi công an lục soát và tịch thu toàn bộ các phương tiện làm việc của Lm Lý tại Nhà Chung thì tờ báo đã phát hành số 21 và đến nay vẫn còn tiếp tục phát hành trong nước. Đây là tờ báo được phổ biến tại nhiều tỉnh lỵ trong nước, được giới sinh viên, học sinh tiếp tay, nhiều cán bộ đảng cũng đã tìm đọc. Trong thời gian phát động cao trào đòi dân chủ cho Việt Nam, các đảng phái bắt đầu hoạt động, trong đó gần nhất là Liên đảng Lạc Hồng công bố sẽ ra mắt vào Dịp Tết Đinh Hợi.

Những hoạt động của cao trào dân chủ trong nước trong năm 2006, có tính cách công khai, nổi bật là cách vận động của linh mục Nguyễn Văn Lý khá qui mô, nhưng Hà nội chưa ra tay đàn áp vì muốn chứng tỏ để thế giới lầm tưởng rằng: Việt Nam đã có chiều hướng tốt trong việc cải thiện tự do dân chủ, đi đôi với phát triển kinh tế.

Thật vậy, khi đảng csVN đã đạt được mục đích cứu đảng như: được Mỹ rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, được hưởng Qui chế tối huệ quốc của Mỹ PNTR ban cho, được Mỹ mở cửa cho vào WTO, nhất là được triều yết vị Giáo chủ của Giáo hội Công giáo, để tạo uy thế. Tất cả những gì cần thiết để cứu đảng thì đảng cộng sản đã dùng mọi mưu kế để lừa bịp thế giới được rồi, công việc nín thở để qua sông coi như đã được yên hàn vô sự rồi, bấy giờ là chuyện lật lọng, là chuyện tấn công đàn áp các nhà dân chủ.

Chiến dịch đàn áp được khởi đầu trong ngày Tết Đinh Hợi năm 2007, đó là việc bao vây Nhà Chung Huế, lục soát và bắt linh mục Nguyễn Văn Lý giam tại giáo xứ Bến Củi. Mặc cho ai nói gì thì nói, ai lên án thì cứ lên án. Hà nội cứ theo lối cải cối, cải chày để qui chụp các nhà dân chủ với tội danh : “Tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN/VN”.

Cuộc đấu tranh của Lm Lý đã được Hà nội lái sang chuyện lên án linh mục mà làm chính trị, tức:vi phạm giáo luật. Khi phái đoàn Toà thánh đến VN, Đức ông Pietro Parolin, trưởng phái đoàn có đề cập đến vấn đề Lm Nguyễn Văn Lý thì ông Nguyễn thế Doanh đã mách rằng: “ông này lập đảng chống nhà nước”(sic), tức có ý đứng về phía Giáo hội để lên án Lm Lý làm chính trị. Trong phạm vi bài này, tôi không bàn đến việc làm của Lm Lý có vi phạm giáo luật hay không, vì từ Huế lúc bấy giờ, nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền, ngày 2-3-2007 đã gởi đi Lời Minh Định về việc làm này, Lời Minh Định quá rõ ràng để phản bát lại lối quen thói vu khống của csVN, xin trích một đoạn:” Là những linh mục Công giáo, chúng tôi không được phép, cũng chẳng muốn làm chính trị, nghĩa là không thành lập hoặc tham gia quân đội để tranh đấu vũ trang hay thành lập nhóm hoặc tham gia một đảng phái để đấu tranh nghị trường với bất cứ một tổ chức chính trị nào, nhằm điều hành hoặc cộng tác với bộ máy công quyền. Nhưng chúng tôi thấy cần phải nói lên một thái độ chính trị rõ ràng dứt khoát, do đòi hỏi của Phẩm giá con người. Trách nhiệm công dân và Thiên chức linh mục, trước đại Quốc nạn hầu như vô phương cứu chữa này, chúng tôi phải làm…”

Song song với Lời Minh Định , tôi lại liên tưởng đến câu chuyện về Đức Giáo hoàng Gioan Phaolồ II. Thật vậy khi chế độ cộng sản Liên Sô và khối Đông Âu sụp đỗ, nhiều người cho rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II là vị đóng vai trò quan trọng không nhỏ trong việc giải thể chế độ cộng sản. Xin đơn cử một đoạn phỏng vấn Đức Gioan Phaolo II của Tờ báo nổi tiếng ở nước Ý là tờ nhật báo La Stampa ngày 4-3-1991: Kính lạy Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha có “làm chính trị” Đức Thánh Cha nghĩ sao?

Đức Thánh Cha trả lời:” Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Giáo hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là Nhân quyền, sự tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Giáo hoàng có làm chính trị. Giáo Hoàng luôn luôn đề cập đến con ngưòi. Giáo hoàng bênh vực con người”.

Như vậy, đứng trước đại quốc nạn về vấn đề nhân phẩm của người Việt Nam đã và đang bị nhà nước csVN chà đạp, thì việc làm của Lm Lý và các thân hữu như Lm Chân Tín, Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi là hoàn toàn hợp lý, và không hề bị giáo luật cấm. Trên thực tế, những linh mục đang cộng tác với chế độ cộng sản như tham gia đại biểu quốc hội bù nhìn, tham gia Uỷ ban Đoàn kết công giáo, có vị là đảng viên và những chức sắc đang cộng tác, cỗ vũ, đánh bóng cho chế độ tàn bạo này, mới là chuyện vi phạm giáo luật. Hình ảnh Giáo hội ba Lan là một điển hình.

Việc công an bao vây Toà Giám mục trong những ngày Tết, bao vây phòng ở Lm Lý, rồi dùng quyền lực khống chế cả vị chủ chăn của Giáo phận Huế, áp tải Lm Lý về giam giữ tại chái nhà thờ Bến củi, là một hành động ngang ngược, man rợ chưa có nhà nước nào trên thế giới dám làm. Việc nhà nước dùng nhà thờ làm nhà tù để giam giữ Lm Lý, dùng nơi thờ phụng để thẩm vấn Lm Lý, khi giáo dân đến đọc kinh, thì công an khóa cửa chái nhà thờ lại, để không cho Lm Lý ra cầu nguyện với giáo dân, là một nhà nước thế nào, xin hãy nói cho thế thế giới biết? Chính Lm Lê Dình Du, cha sở coi giáo xứ Bến củi, đã phản đối cấm công an không được vào nơi thờ tự này để thẩm vấn Lm Lý, Cha Du nói với công an: “các ông muốn thẩm vấn thì đem cha Lý đi nơi khác, đây là nhà của tôi”

Từ ngày bị công an lục soát phòng ở, bị tịch thu các phương tiện làm việc, phong tỏa Toà Giám mục, Lm Lý đã tuyệt thực từ chiều 18-2-2007 để phản đối việc làm phi pháp này của Nhà cầm quyền Huế, nhưng khi nhóm thân hữu bàn thảo và yêu cầu, Lm Lý đã ngưng tuyệt thực từ chiều 5-3-2007 và tuyên bố sẽ tuyệt thực mỗi tháng 10 hoặc 14 ngày để phản đổi việc đàn áp các nhà dân chủ, nhất là sẽ tuyệt thực vào dịp kỹ niệm một năm tờ Tự Do Ngôn Luận được xuất hiện trong nước vào 15-4-2007.

Ngày 13-3-2007, công an áp tải Lm Lý đến thôn Bến củi để nghe đọc cái gọi là Văn Bản Kết luận điều tra, có sự hiện diện của công an thành phố, đại diện Viện Kiểm sát và 2 nhân chứng. Đọc xong, công an bắt Lm Lý ký biên bản, ngài không ký và tuyên bố: “bao lâu tôi còn trong tay cộng sản thì tôi không ký bất cứ giấy tờ gì, tôi sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh chính nghĩa cho đến hơi thở cuối cùng”.

Ngày 15-3, công an lại áp tải Lm Lý ra thôn Bến củi để nghe đại diện Viện kiểm sát Thừa thiên đọc Bản Cáo trạng, có sự hiện diện của thiếu tá công an tỉnh, một người quay phim, 7 công an, 2 người địa phương, đọc xong cũng lại bắt Lm Lý ký vào Bản cáo trạng, ngài không ký và tuyên bố: Tôi bắt đầu tuyệt thực lại từ hôm nay cho đến ngày ra tòa để phản đối Bản cáo trạng, phi pháp, gian dối, ngụy biện của các ông và để tiếp tục nuôi dưỡng cao trào đòi Tự do Tôn giáo, Tự do ngôn luận”. Cả hai lần bị áp tải ra thôn Bến củi Lm Lý đều mặc áo dòng đen.( Bản tin FNA từ Huế 16-3-2007).

Ngày 29 -3-2007 công an đến Bến Củi bắt linh mục Lý về trại giam và ngày 30 tháng 3 năm 2007 ngài bị điệu ra toà trong phiên xử án đầy man rợ tại thành phố Huế với bản án 8 năm tù ở. Hình ảnh làm thế giới kinh hoàng nhất, đó là hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị tên công an Nguyễn Văn Tân thuộc PA 34 Sở công an Thừa Thiên Huế đưa bàn tay hộ pháp bịt miệng cha Lý khi ngài hô to”Đá đảo cộng sản Việt Nam” trong phòng xử án. Chỉ trong vài giây, tấm hình bịt miệng độc đáo này được loan truyền khắp thế giới.

Sau phiên xử án man rợ, linh mục Nguyễn Văn Lý lại bị đưa ra giam giữ tại Ba Sao Nam Hà. Ngày 14 tháng 11 năm 2009 vừa qua, ngài bị đột quỵ nặng nên ngày 15-11-2009 công an trại giam đã đưa ngài đến điều trị tại Bệnh Viện Công an ở Hà Nội. Mặc dù đau yếu, nhưng ngài vẫn còn giữ được khí thế bất khuất khi nhìn thấy các y tá mang thuốc đến cho ngài có ghi chữ phạm nhân Nguyễn Văn Lý, ngài đã cự tuyệt và tuyên bố: tôi không phải là “phạm nhân”, tôi là tù nhân lương tâm, nếu các vị cho tôi là “phạm nhân” tôi sẽ từ chối việc điều trị. Các y tá đã phải gạch bỏ chữ phạm nhân, ngài mới chịu nhận thuốc uống.

Chiều ngày 11-12-2009, đúng vào thời điểm Nguyễn Minh Triết gặp Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 tại Vatican, thì công an đã đưa linh mục Nguyễn Văn Lý về lại trại giam Nam Hà, mặc dù ngài còn đang chưa đi đứng một mình vững, cũng như chưa tự ăn uống một mình được.

Nhìn lại cuộc đấu tranh đòi tự do tôn giáo cũng như đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam đầy cam go của linh mục Nguyễn Văn Lý được phát động từ năm 2000, chẳng khác nào cuộc đấu tranh mà Thái Hà, Toà Khâm Sứ, Tam Toà, Loan Lý, Vĩnh Long và nhiều nơi khác đã và đang đương đầu với bạo quyền hiện nay.

Lời mà Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã nói với Uỷ Ban Thành Phố Hà Nội hôm 20-9-2008 : “Tự do tôn giáo là cái quyền chứ không phải là ân huệ của nhà nước ban cho…”đúng với tinh thần mà linh mục Nguyễn Văn Lý đã lên tiếng bằng nhiều cách trong suốt cả một thời gian khá dài trong cuộc đấu tranh của ngài kể từ năm 2000.

Nguyễn An Quý

HỆ THỐNG LUẬT PHÁP VIỆT CỘNG

Xuất hiện ở bất cứ cuộc gặp gỡ cấp cao nào với các nguyên thủ quốc gia, hay trong các diễn đàn quốc tế, hoặc trước ống kính truyền thông trong nước và thế giới, từ chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng và phát ngôn viên Việtcộng, đều có chung một lập luận rằng: Việtnam không vi phạm nhân quyền, mà chỉ xử lý những người vi phạm luật pháp Việtnam. Ngày 13/06/2007, trả lời cuộc phỏng vấn của báo chí Mỹ, Nguyễn Minh Triết chủ tịch nhà nước Việtcộng nói: “Những người chống đối về chính trị đã bị tù đúng theo luật pháp Việtnam”. Rồi còn giải thích thêm “Việtnam xử lý những người vi phạm luật pháp Việtnam. Đó không phải là bất đồng chính kiến”. Có nghĩa là bọn cầm quyền Việtcộng cứ nhân danh thứ Hiến Pháp, Luật Pháp “ăn cướp” do chúng tạo ra, nhằm qua mặt quốc dân và quốc tế, loại hiến pháp và luật pháp này, vốn đã mang chủ đích vi phạm nhân quyền, cướp quyền của công dân Việtnam, giành độc quyền vĩnh viễn lãnh đạo quốc gia cho đảng Việtcộng. Rồi trước công luận quốc tế và quốc nội chúng gân cổ lên cãi rằng, không vi phạm nhân quyền, mà chỉ áp dụng luật pháp nhà nước.

Năm 1977, Việtnam gia nhập Liên Hiệp Quốc, mặc nhiên nhà cầm quyền Việtcộng phải hiểu được định nghĩa phổ cập toàn cầu về Nhân Qưyền, nhất là đối với các hội viên LHQ, và phải cam kết tuân thủ những nguyên tắc trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền- 1948. Năm 1982 Việtcộng lại ký kết Công Ước Quốc Tế vế những Quyền Dân Sự và Chính Trị - 1966. Công Ước Quốc Tế về những quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa -1966. Trong đó có ghi rõ và chi tiết hóa 26 quyền tự do chính trị công dân. Buộc luật pháp các nước ký kết không được trái nghịch với các Công Ước này. Thế nhưng, sau khi ký các công ước quốc tế 1982, bọn Việtcộng gian manh đã cho ra đời bản Hiến Pháp 1992, trong đó có Điều 4 , nhằm cuớp quyền công dân, giành độc quyền chính trị và vị trí lãnh đạo quốc dân Việtnam vĩnh viễn cho Cộng đảng. Tiếp đó cho ra đời bộ luật hình sự hóa những hoạt động chính trị đòi nhân quyền, đòi công lý và đòi quyền tự do công dân của các chủ nhân ông đất nước. Bản Hiến Pháp ăn cướp và Luật Hình Sự chết tiệt này hoàn toàn trái với Tuyên Ngôn Nhân Quyền và vi phạm các Công Ước Quốc Tế.

Đáng lẽ trong nhiệm kỳ Việtnam được giữ ghế Ủy Viên Không Thường Trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và sang năm sẽ ngồi vào vị trí Chủ Tịch Khối ASEAN, Việtcộng phải nhận thấy những sai trái của mình trong vấn đề Nhân Quyền để kịp thời chỉnh sửa. Chính vì cả thế giới đều thấy rõ Việtcộng là một chế độ dổi trá, ngoan cố vi phạm nhân quyền một cách triệt để có hệ thống, được xây dựng trên thứ luật pháp chống lại với các công ước quốc tế, nên dư luận khắp thế giới đều nhắc nhở, lên án với thái độ coi khinh giới cầm quyền Việtcộng. Thế mà mới đây Việtcộng lại tự tố cáo, tự xưng tên là một chế độ chuyên môn xử dụng hệ thống công an, luật pháp, và tòa án làm công cụ vi phạm nhân quyền, đàn áp tiếng nói chính trị đối lập ôn hòa của công dân, qua bản án đổi tội danh từ Điều 88, “truyên truyền chống nhà nước” sang Điều 79 “lật đổ chính quyền nhân dân”.

Ngày 28/12/09, tòa án sơ thẩm tại Thái Bình, khép cựu chiến binh Trần Anh Kim, 5 năm, 6 tháng tù, 3 năm quản chế, vì tội hoạt động nhằm ‘lật đổ chính quyền nhân dân’ theo Điều 79, Bộ Luật Hình Sự. Đây là việc Việtcộng mới học được từ quan thầy Tầucộng, vào ngày 25/12/09, tòa án Trungcộng đã tuyên án 11 năm tù cho ông Lưu Hiểu Ba, đồng tác giả của thỉnh nguyện thư có tên là Hiến Chương 88, về một thứ tội ‘mưu toan lật đổ chính quyền’. Việc này đang bị cả thế giới phẫn nộ lên án chế độ phi pháp Trungcộng. Sắp tới ngày 20-21/01/2010, Việtcộng cũng sẽ đem ra xử các nhân vật bất đồng chính kiến, trong tổ chức Đảng Dân Chủ Việt Nam, cùng tội với Trần Anh Kim là: Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và Trần Huỳnh Duy Thức. Tất cả những người này khi bị bắt đều đã bị khép vào tội ‘tuyên truyền chống nhà nước’, nay bị đồi thành ‘lật đổ chính quyền nhân dân’. Chỉ điều này thôi, cũng thấy chế độ Việtcộng hiện nay, luật pháp tùy tiện ‘tiền hậu bất nhất’. Những người mà Việtcộng bắt đối với công luận quốc dân và quốc tế là vô tội, Việtcộng cũng biết rõ điều đó. Nhưng vì sợ họ là người nguy hiểm, và nhằm răn đe phong trào chính trị chống đối ôn hòa, chúng cứ nhắm mắt bắt bừa. Bắt rồi lại run, nên mới phải dàn dựng ra ‘màn nhận tội’ của những người quá nổi, như luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung và cựu trung tá Quân Đội Nhân Dân, Trần Anh Kim. Những nạn nhân vừa bị ép buộc nhận tội này, Việtcộng liền gán ngay cho tội khác. Đúng là phường gian dối, đểu cáng, không xứng là một chính quyền quốc gia. Chẳng trách gì khi bọn cầm đầu Việtcộng đi công du nước ngoài, đều bị chui ‘cổng hậu’.

Thực ra những cá nhân đồng thuận, hay bất đồng chính kiến, những đoàn thể chính trị độc lập, hay đối lập, hoặc thân chính ở bất cứ chế độ dân chủ nào cũng được coi là những hoạt động hết sức tự nhiên, được luật pháp quốc gia bảo vệ. Và còn là những đóng góp tích cực cho sự thăng tiến dân sinh, phát triển xã hội, cường thịnh đất nước, hoà bình thế giới. Chỉ riêng có dưới chế độ độc đảng, độc tài, độc ác, toàn trị Cộngsản thì những sinh hoạt trên đây mới bị coi là bất hợp pháp, mới bị khép tội “tuyên truyền chống nhà nước” hoặc “âm mưu lật đổ chính quyền”. Vì thứ chính quyền độc đảng, độc tài vốn không phải là của dân, do dân, vì dân, mà chỉ vì đảng, nên chúng mới lo dân lật đổ, còn chính quyền do dân bầu lên theo từng nhiệm kỳ, thì dân không cần lật đổ, chính quyền cũng không sợ bị lật đổ, mà chỉ lo hoàn tất trách nhiệm của mình theo đúng luật pháp dân chủ, để được dân tiếp tục tín nhiệm lựa chọn nữa hay không mà thôi.

Chỗ khó của những người đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ, Nhân Quyền ở Việtnam hiện nay là, cả thế giới hầu như hoàn toàn loại bỏ những hành vi đấu tranh bạo động, với khí giới sát thương, nhằm lật đổ một chính quyền, kể cả chính quyền độc tài khát máu. Nhất là trong thời điểm “Chống Khủng Bố Toàn Cầu” này. Vì mọi cuộc bạo động dù với mục đính nào, cũng dễ bị đồng hóa với “Khủng Bố”. Chính vì vậy mà Nga đã lợi dụng Phong Trào Chống Khủng Bố Quốc Tế, để tiêu diệt cuộc vũ trang nổi dậy của Dân Tộc Hồi Giáo ở Cherchnya thuộc Nga. Trungcộng nhờ vậy, đã dẹp tan được cuộc đòi độc lập của Dân Tộc Uighur Hồigiáo Tân Cương. Rút từ kinh nghiêm ấy, ở Việtnam hiện nay, không ai dại gì lại rơi vào chiếc bẫy đấu tranh vũ trang lật đổ, mà đang đi thẳng vào chủ trương đấu tranh Dân Chủ Hoá Chế Độ. Quốc dân hiểu vậy! Quốc tế thấy vậy! Thế mà Việtcộng lại khép cho những người đối lập chính trị vào tội “lật đổ chính quyền” thì đúng là làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Little Saigon ngày 29/12/2009.

Thánh Thất Cao Đài tại Định Quán bị tấn công

Thanh Quang, phóng viên RFA

2009-12-29

Đài Á Châu Tự Do chúng tôi vừa được tin Thánh Thất Định Quán tại Đồng Nai của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị xã hội đen, công an, bộ đội và một số viên chức chính quyền tấn công liên tục trong mấy ngày nay.

Photo courtesy of Chơn Pháp Cao Đài

Cuộc họp giữa Chính quyền, Hội Đồng Chưởng Quản và Thánh Thất Ðịnh Quán hôm 19-11-2008.

Thanh Quang liên lc vi mt chc sc Đo Cao Đài Chơn Truyn, ông Trn Ngc Thun, Chánh Tr S Gia Canh thuc Thánh Tht Đnh Quán, đ tìm hiu tình hình này.

Hi Đng Chưởng Qun?

Ông Trn Ngc Thun: Thánh Tht Đnh Quán ca chúng tôi là đa s toàn đo t truc ti nay din đo thun tuý, bây gi coi như là phe bên Hi Đng Chưởng Qun đương thi bây gi đến phá cơ ngơi ca chúng tôi nhiu ln, đi khái ngày 22 tháng 10 âm lch năm ri đó, 19 tháng 11 năm 2008 đó, thì chúng tôi đã trình bày dt khoát, nói dt khoát là không có hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun.

Thanh Quang: Thưa, trưc khi ông trình bày tiếp thì xin ông nói rõ ti sao li không hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun?

Ông Trn Ngc Thun: Không hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun là ti vì hin nay Hi Đng Chưởng Qun làm không đúng vi li Chơn Pháp ca Đi Đo thành th ra h sa đi tùm lum, mà Thánh Tht Đnh Quán chúng tôi có t năm 1969 cho ti năm nay thì đây hi trước là Văn Phòng Châu Đo Tc Đo ca Đng Nai, thành th ra h sa vi li nhng người lãnh đo ca Hi Đng Chưởng Qun thường là không có đo đc my, thành ra chúng tôi không chp nhn.

Không hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun là ti vì hin nay Hi Đng Chưởng Qun làm không đúng vi li Chơn Pháp ca Đi Đo.

Ô. Trần Ngọc Thuận

Có ba mt chính quyn t cp tnh tr xung đu chng kiến thì h không có làm vic được. T by lâu nay chúng tôi c b hăm he hoài. Đi khái là hôm 11 tháng 11 va ri Hi Đng Chưởng Qun cho người vô kiếm chuyn gây s đánh ông Hng Th Đc. Ri ti ngày 12 là nó vin c l tiu tường ca v cu chánh tr s Đnh Quán thì bt đu gây s đánh người na.

Liên tục bị tấn công

Thanh Quang: Thưa, ông nói trường hp này là din ra vào Th By và Ch Nht?

Ông Trn Ngc Thun: Th By và Ch Nht va ri nè! D, đó thành th ra h đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là nhng người tu hành thun tuý, mình có đo đc. Nếu mà bây gi lt khăn đóng áo dài mà đi phó vi h thì mình còn gì ra nét đo, cho nên chúng tôi phi nhn.

Trong khi nhn đó thì anh em chúng tôi phi đi cái giá rt đt là tt c đu b đánh b thoi hết. Trong lúc mà bc xúc quá, cùng cc quá, chúng tôi li cu cu vi chính quyn, thì trc tiếp chúng tôi đã ti chính quyn huyn Đnh Quán và chính quyn th trn thì người ta nói rng Thánh Tht Đnh Quán ca các anh t trước ti nay tranh giành quyn lc.

Nói như vy thì chúng tôi rt thy là nhc nhã. Chúng tôi có tranh giành gì đâu, (chúng tôi) không chp nhn làm theo Hi Đng Chưởng Qun và hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun mà thôi, mà bây gi h dùng bo lc, h ti h làm như vy thì bước cui cùng, phút cui cùng mà bí quá thì chúng tôi phi nh ti công lý ca nhà nước hin hành. Nhưng mà chúng tôi kêu rát c, có c công an huyn, trung tá công an huyn và thiếu tá công an huyn, tôi năn n h, tôi van xin h.

H đánh người nhưng mà chúng tôi hoàn toàn là nhng người tu hành thun tuý, mình có đo đc, cho nên chúng tôi phi nhn.

Ô, Trần Ngọc Thuận

Chính tôi nè, là các anh can giùm vic này. Vic gì ni b còn có cách gii quyết ôn hoà ch không phi là thượng tay thượng chân như thế này thì nó không có ra v đo dc, mà hơn na Thánh Tht Đnh Quán người ta nhìn vào người ta nói Thánh Tht Đnh Quán lúc nào cũng cãi ln, gây ln.

Đó, my ba rày xôn xao, tôi cm thy nhc nhã vô cùng, thì chính quyn cũng làm ngơ. Cái này rõ ràng là chính quyn coi như là đ cho h t đng hành hung như thế. Bí quá thì chúng tôi mi nói rng bây gi đ cho yên cái vic này thì tôi giao cái thành tht này cho chính quyn, chính quyn nói không tiếp nhn và chính quyn tr li rng gi giao cho Hi Đng Chưởng Qun.

Chúng tôi không hp tác vi Hi Đng Chưởng Qun làm sao giao? Chúng tôi giao cho chính quyn ri chính quyn gii quyết vn đ đánh người như thế này, cái đo đc ca Hi Đng Chưởng Qun như thế cho ra l đi ri tính sao tính, nhưng mà chính quyn cũng không nhn mà c đ din biến vy mãi cho ti cui cùng thì bà con đng đo k khóc người la, thì tp trung ra ngoài Thánh Tht đ coi h làm, ch gi chúng tôi biết nói sao bây gi!

Thanh Quang: Ngay bây gi thì tình hình ra sao, thưa ông?

Ông Trn Ngc Thun: Ngay bây gi được s bo h ca nhà nước thì bên phe Hi Đng Chưởng Qun chiếm ly Thánh Tht hin ti cho nên anh em chúng tôi bây gi đang nhà.

Thanh Quang: Thánh Tht Đnh Quán như vy là có b đp phá hư hi như thế nào không?

Ông Trn Ngc Thun: Thánh Tht trên Chánh Đin, Đin Th thì không có đp phá, nhưng mà dưới hu đin c tình xô xát thành th ra ri đp ngay c bàn Thánh T, Hin T và đp ca ca Chánh Tr S quyn cai qun Phòng Phước Đc, đp ca ri khiêng ng lôi ra, ôm đ dt ra, t đng h làm. Cui cùng bc xúc qua, đ cho nó im thì chúng tôi đành phi đ cho h t tung t tác ch gi làm sao bây gi?

Kế hoạch ứng phó

Thanh Quang: Như vy thì hin các tín đ Cao Đài Thánh Tht Đnh Quán cũng như nhng tín đ chơn truyn các nơi khác có kế hoch ng phó ra sao trong thi gian có th khó khăn săp ti hay không?

Chính quyn đa phương dường như bt lc, chúng tôi phi nh ti chính quyn ca cp cao hơn. Đó là bn phn chúng tôi làm sp ti.

Ô. Trần Ngọc Thuận

Ông Trn Ngc Thun: Chương trình sp ti thì bây gi chúng tôi đã kêu réo chính quyn đa phương dường như bt lc ri thì chúng tôi phi nh ti chính quyn ca cp cao hơn, thì đó là bn phn chúng tôi làm sp ti, nhưng mà cái công lý như thế này, hin ti trước mt như thế này thì cũng chưa biết ra làm sao na.

Thanh Quang: Như ông va gii thích thì chi phái Hi Đng Chưởng Qun mun chiếm cơ ngơi ca Đi Đo Tam Kỳ Ph Đ?

Ông Trn Ngc Thun: Lý do chính là bây gi h mun chiếm Thánh Tht Đnh Quán cũng như là h đang chiếm Toà Thánh Tây Ninh mà t by lâu nay trên báo đài các anh đu biết đó, thì Thánh Tht Đnh Quán bây gi h quyết san bng cho bng được, h quyết chiếm cho bng được Thánh Tht Đnh Quán cho nên bt c mt th đon nào h cũng có th làm được hết .

Thanh Quang: Thưa, nhân đây ông có mun lên tiếng gì thêm na vi công lun trong và ngoài nước?

Ông Trn Ngc Thun: Bây gi chúng tôi là dng thp c bé ming, chúng tôi ging như con côi lc m vy, yêu cu tt c đng đo khp nơi ng h tinh thn chúng tôi và giúp đ chúng tôi đ mà gi gìn chơn truyn cũng như vt cht.

Thanh Quang: Cm ơn ông Trn Ngc Thun, Chánh Tr S Gia Canh thuc Thánh Tht Đnh Quán.

Võ Nguyên Giáp: Tên đồ tể khát máu của quê hương

Tác Giả : Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền

Lời Giới Thiệu: Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là Giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi (Pediatric Surgery) tại đại học noi tieng McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước. BS Duyên Lãng Hà Thượng Nhât, Nguyễn Tiến Cảnh học cùng lớp...

Nhà văn quân đội nổi tiếng Phan Nhật Nam đã gọi Võ Nguyên Giáp là một thiên tài của quê hương. Tôi chia sẻ ý kiến của ông, nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi.
Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. "Huyền thoại Võ Nguyên Giáp" đã hết còn là một huyền thoại.
Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.
Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.
Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ).. Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.
Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.
Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.
Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.
Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự.. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.
Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.


Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng ---
Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ, Trường Chinh, Đặng Việt

Từ năm 1945 cho đến năm 1991( năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:
- Ủy Viên Bộ Chánh trị
- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng
- Tổng Tư lệnh Quân Đội
- Phó Thủ Tướng
- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.
- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.
Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.

Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:
Ngày xưa Đại tướng cầm quân
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.
Một số sách viết về Giáp như:
- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O'Neil (Australia)
- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )
- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)

Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.
Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng "thiên tài Võ Nguyên Giáp" đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.
Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các "đức tính" đó.
Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69)
Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.
Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.
Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l'Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.
Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.
Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.
Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.
Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ
lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.

Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.
Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.

Giáp là một tên hèn.
Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.
Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.
Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).
Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.
Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.
Chiến dịch biên giới năm 1950.
Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.
Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.
Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..
Chiến dịch Tây Bắc 1952
Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.
Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.
Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.
Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên Phủ
Tháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:
1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng
2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam
3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc

Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.
Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.
Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.
Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.
Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.
Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).
Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-1975.

Sám hối ?
Thay lời kết:
Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng.
Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp. Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển.
Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:
Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.

Bài Xem Nhiều