We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 28 February 2010

Bên Dòng Sông Vàm Cỏ Đông

1. Mấy tên Việt Cộng Bắc Việt không biết gì về địa danh và lòng dân ở miền Nam mà tuyên truyền láo khoét bảo rằng dân quê miền Nam vùng Bến Lức thuộc tỉnh Long An ủng hộ đòan quân xâm lược Bắc Việt vào Nam. Vì không rỏ địa danh và lòng dân ở đây nên những người Cộng Sản chưa đủ khả năng để tuyên truyền trên Internet cho những Internet users tin dân quê Bến Lức ủng hộ chế độ Cộng Sản. Các cây viết tuyên truyền của Cộng Sản tưng bốc chế độ hiện tại mà không cần đến sự thật cho nên lòi ra sự kém hiểu biết của họ. Do lời viết thiếu sự thật hay bịa chuyện mà hậu quả của sự dối trá làm cho bài viết của tên Cộng Sản này mang tính chất tuyên truyền biạ đặt hơn là diễn tả sự thật câu chuyện của chiến tranh.







2. Tác giả của bài phúc đáp này kể cho Vẹm nghe về Sông Vàm cỏ Đông mà không nói về sông Vàm Cỏ Tây trong bài này. Sông Vàm Cỏ Đông chảy ra biển Nam Hải bằng cửa Vàm Láng, Cầu Nổi. Nó chạy qua quận Cần Đước, Tân Trụ, Bến Lức, Hậu Nghĩa, Tây Ninh và qua Cambodia. Tại Cần Đước và vùng phụ cận như Cần Giuộc là vùng hoạt động của Trung Đòan 46 Bộ Binh. Bến Lức là quận lỵ thuộc tỉnh Long An, nơi đây là Bản Doanh Bộ Chỉ Huy của Trung Đòan 50 thuộc Sư Đòan 25 Bộ Binh, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Bến Lức ráp gianh với quận Tân Trụ, quê hương của Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, Trần Thiện Khiêm. Bến Lức cũng là nơi mà đoàn 759 xâm nhập từ cửa Sộng Vàm Láng dọc theo Sông Vàm Cỏ Đông vào Mật Khu Ba Thu, Kampuchia hay mật khu Lý Văn Mạnh để vào Chiến Khu Đ chờ dịp tấn Công vào Sàigòn. Tuyến đường xâm nhập của Bắc quân bắt đầu nhộn nhịp từ năm 1961 đến năm 1969.






3. Khách thập phương qua Bến Lức thì được ngửi mùi thơm của những trái khóm Bến Lức tại trạm ngừng xe của tuyến đường xe đò Sàigòn-Lục Tỉnh trước khi qua cầu Bến Lức. Dân quê vùng này ghét Cộng Sản miền Bắc xâm nhập vào đây cho nên khi họ biết được bộ đôi qua làng là họ thông báo cho sư đoàn 25 Bộ Binh biết để tiêu diệt Cộng quân Bắc Việt. Sau năm 1964 đa số lính của sư đòan 25 Bộ Binh là thanh niên tình nguyện của tỉnh Long An, Hậu Nghĩa và Tây Ninh. Và vì sinh mạng của con em đi lính cho Sư Đòan 25 Bộ Binh cho nên quân đội Bắc Việt xâm nhập vào vùng này là bị khám phá ngay bởi những người thân của các anh lính Cộng Hòa. Chính vì thế mà vùng Bến Lức, Phước Vân, Đám Lá Tối Trời, Tân Trụ xãy ra nhiều trận chiến từ năm 1962 đến năm 1969 và bọn Việt Cộng bị đẩy ra khỏi các mật khu nhỏ này. Tháng tư năm 1970, Chiến Đòan 325 của quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công và tiêu hủy mật khu Ba Thu cho nên tình hình quân sư tại vùng Bến Lức trở nên yên tịnh hơn.






4. Nếu quý vị không tin bài viết này thì hãy bắt đầu từ Sàigòn đi xe đò dọc quốc lộ 4 về miền Tây, Lục Tỉnh, dừng lại trạm xe ở chân cầu Bến Lức. Quý khách đừng quên uống nước mía, ăn ỏi, mận, xoài tượng, và khóm ngọt của Bến Lức. Quý vị có thể dùng thuyền hay đi bộ vào Lương Hòa Thượng và Lương Hòa Hạ thuộc quận Đức Hòa. Quý vị tìm lại di tích chiến tranh chống Cộnq quân xâm lược miền Nam vừa qua, Một nhà thờ cổ xưa bị đổ nát chỉ còn vỏn vẹn sườn nhà và sườn của mái ngói. Quý vị có thể hỏi ông già bà lảo trong ấp Lương Hòa để biết tinh thần chống Cộng ở đây trong thời chiến tranh như thế nào?






5. Riêng Lương Hòa Thượng thì vẫn nguyên vẹn và sung túc. Đây là ấp chiến lược của người Công Giáo sinh sống từ thời xa xưa. Việt Cộng đã tấn công vào ấp này nhiều lần nhưng thất bại vì tinh thần chống Cộng của dân quê ở đây quá cao. Sau này, Lương Hòa cũng là bản doanh của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 thuôc Trung Đòan 50, Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa cho nên dân Lương Hòa có đời sống an ninh hơn. Nếu quý vị đi xa hơn vài cây số nữa lên miệt Tây Ninh bên trái của quý vị là dư âm Khu Trù Mật Đức Huệ được xây dựng trong những năm đầu của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và quý vị thấy phong cảnh vùng Bến Lức rất hữu tình với nhiều vườn dừa bên dòng sông Vàm Cỏ Đông. Qúy vị cũng được kể lại về những kỷ niệm lịch sử của thời Nguyễn Ánh lưu linh qua vùng cây “bần quì” ven sông.






6. Từ nay trở đi mấy chú Vẹm đừng bao giờ viết xạo về những trận đánh trong miền Nam nữa nhé! Đã qua 34 năm rồi mà còn nói láo về địa danh và lịch sử của chiến tranh trong Nam thì chỉ làm trò cười cho dân Nam mà thôi. Nếu các chú Vẹm không hài lòng thì cứ viết vài trận đánh trong Nam nữa đi để tác giả có dịp đáp lễ cho các chú thấy sự thật của chiến tranh tại miền Nam.






By Minhh Thành






27- 02-2010

Friday, 19 February 2010

Cuối năm tản mạn về chữ TẶC

Cuối năm tản mạn về chữ TẶC




"Tặc" theo tiếng Hán có nghĩa là giặc, kẻ trộm.
Với mớ kiến thức không đầy chai dầu gió Nhị Thiên Đường, Đạt Lang tui hổng biết chữ "Tặc" có từ bao giờ, nhưng chắc phải từ thời tiền sử hay đời tám hoánh nào rồi, từ hồi loài người còn ăn lông, ở lỗ, nói theo kiểu của các "đỉnh cao trí tuệ" loài người là hồi còn chế độ cộng sản "nguyên thủy" khi của cải, vật chất, phương tiện sản xuất… chưa tập trung vào một số ít người (trong đảng cộng sản VN) như hiện nay.
"Tặc" thời kỳ xa xưa đó chỉ là những cá nhân hay một nhóm ít người vì đói khát, túng bấn mà làm liều, đi lấy trộm vài củ khoai, con gà, cái trứng… hoặc cùng lắm giết hại, cướp bóc vớ vẩn.
Theo thời gian, xã hội loài người phát triển, văn minh dần lên thì "Tặc" cũng theo đó mà sinh sôi nẩy nở hay hệ thống hóa thành nhiều loại khác nhau như: đạo tặc, hải tặc, không tặc, gian tặc, dâm tặc, cẩu tặc, lâm tặc, đinh tặc, tin tặc, khẩu tặc…
Nhân dịp cuối năm, có chút thời gian rảnh rỗi, Đạt Lang tui ba điều, bốn chuyện về chữ "Tặc".
Nói về các loại tặc, xin được kể theo thứ tự từ loại gây thiệt hại nhẹ đến nặng.
Loại tặc ít gây hại nhất có lẽ là "Dâm tặc." Bạn bè nhiều lúc đùa giỡn, cũng hay chửi nhau là đồ dâm tặc khi có người trong bọn, quen thói trăng hoa, gặp cô nào, bà nào có tí nhan sắc, mum múp chút đỉnh là giở trò tán tỉnh, thả dê.
Kế đến là "Cẩu tặc". Hồi nhỏ, lúc còn học tiểu học, lọ mọ đọc mấy truyện kiếm hiệp của Kim Dung, thấy mấy nhân vật trong truyện chửi địch thủ là loài cẩu tặc, Đạt Lang tui cứ tưởng cẩu tặc là loại người gian hùng, mê ăn… thịt chó nên hay lén đi đánh bã chó về mần thịt… nhậu, sau mới hiểu là hổng phải, cẩu tặc chỉ là chữ sỉ nhục những người hay đánh lén, cắn trộm người khác như chó.
Loại tặc thứ ba là "Đinh tặc". Đinh tặc có lẽ chỉ mới chào đời tại Việt Nam sau khi chế độ Cộng Sản mở cửa, bung ra làm ăn kinh tế thị trường. Số xe gắn máy nhập cảng tăng lên đến chóng mặt, nhất là ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ…
Đinh tặc tức là giặc… rải đinh ra đường. Các loại xe chạy qua chỗ đinh tặc phục kích, cán đinh, bể bánh, thế là phải đem vá ở một tiệm sửa xe nào gần đó do đinh tặc làm chủ.
Đinh tặc là tệ nạn xuất hiện bởi đời sống quá cùng cực, nghèo khổ, túng thiếu. Tác hại của đinh tặc thật ra không nặng nề cho lắm, bởi chỉ do những cá nhân, vì sự sống mà phải làm càn. Người bị đinh tặc hãm hại chỉ mất công đẩy xe tới chỗ, trả ít tiền ngồi chờ vá. Nặng lắm thì thay vỏ, ruột.
Loại tặc thứ tư là "Đạo tặc". Đạo tiếng Hán là đường, vậy đạo tặc là cướp đường hay là quân trộm, cướp giữa đường. Vậy còn mấy thầy, sư, linh mục, cha… trong đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành… làm bậy phải gọi bằng chi hỉ? Tôn tặc hay giáo tặc? Nghe không hợp lỗ nhĩ lắm, cứ như là dùi đục chấm mắm nêm.
"Hải tặc" thì Đạt Lang tui cũng như mọi người, chắc ai cũng biết. Hải tặc Thái Lan một thời đã gieo kinh hoàng cho người Việt vượt biên bằng đường biển từ cuối thập niên 70 đến khi chuyện vượt biên bằng tầu bè chấm dứt.
Còn "Không tặc" chắc ai cũng nhớ vụ tấn công vào Twin Towers ở New York ngày 11 tháng 9 năm 2001 với khoảng 3.000 nạn nhân.
Việt Nam hiện có một loại tặc mới rất đặc biệt mà ít nước nào trên thế giới có là "Lâm tặc".
Lâm là rừng, lâm tặc là giặc rừng hay lũ phá rừng, ăn trộm gỗ. Gỗ nặng thấy ông bà, ông vải. Cưa, chặt xong đem bán cũng phải có đầu mối, đường dây tiêu thụ, dù để nguyên cây cho thợ mộc làm bàn, ghế hay xẻ ra làm củi đốt, lại phải có phương tiện chuyên chở nữa. Lâm tặc vì vậy phải cần nhiều người để lập thành một tổ chức hẳn hoi. Lâm tặc có hai loại, bất hợp pháp và hợp pháp.
Lâm tặc bất hợp pháp là loại làm ăn cò con với quy mô nhỏ, vài anh thợ làm rừng tụ họp lại, lén lút đốn cây lậu, kiếm chiếc xe be hay xe máy cày, chở đi bán cho các xưởng cưa, đóng bàn ghế. Loại này thỉnh thoảng đụng độ với kiểm lâm của chế độ cộng sản, có khi đi đến đổ máu vì chung, chia không đều.
Lâm tặc hợp pháp là loại sừng sỏ, ăn chia với đảng viên, cán bộ cộng sản cao cấp, chính quyền địa phương. Cũng có thể chúng chính là thân nhân ruột thịt, gia đình của bọn này. Loại lâm tặc này là giặc có giấy phép phá hoại rừng, phá hoại môi trường, tài nguyên đất nước.
Chúng phá hoại rừng bằng cách cưa, chặt bất kỳ cây cối nào có thể bán được. Những loại gỗ qúy như cẩm lai, bằng lăng cườm , cẩm liên, cẩm thị, giáng hương, huỳnh đường, mun sừng, mun sọc… thì bọn chúng cho xẻ ra làm bàn ghế, đồ mỹ nghệ, chạm khảm… xuất khẩu. Loại thường thì đóng bàn ghế trong nước hay cưa thành củi để bán. Nhiều loại gỗ quý của rừng Việt Nam đang có nguy cơ diệt chủng vì lòng tham của bọn này.
Vì có giấy phép nên chúng coi trời bằng vung, phá rừng không cần biết đến hậu quả là có thể gây sụt, lở đất, lũ, lụt… cho các vùng chung quanh, nhất là ở các tỉnh cao nguyên.
Vụ lâm tặc gây xôn xao thủ đô Hà Nội xẩy ra vào năm 2007, bắt đầu với 3 cây gỗ sưa nằm trong sân UBND một xã ở Vĩnh Phúc, được cưa đi vì chắn lối trong khi xây dựng lại trụ sở. Khi xã rao bán cho dân, chẳng hiểu sao người dân lại ùn ùn kéo đến để mua, xã phải đấu giá, cuối cùng bán được cả tỉ VNĐ (50.000 USD).
Ngay sau đó, giá gỗ sưa tăng lên vùn vụt từ vài trăm ngàn/kg lúc ban đầu đến 1 triệu rồi 2 triệu/kg một cách lạ lùng, không ai hiểu được.
Thế là tin đồn gỗ sưa có thể trị được bá bệnh, từ ung thư đến tiểu đường, lan truyền râm ran trong dân chúng như xuyên tâm liên trước đây.
Nhiều gia đình ở Hà Nội có cây sưa trong nhà nghe tin đó mà sững sờ, bấy lâu nay trong nhà có một gia tài lớn mà họ không biết. Thế là họ thi nhau gọi bán gỗ sưa. Dân các làng quê thì đem đồ đạc, bàn ghế bằng gỗ sưa ra phát mãi. Cả Hà Nội và các vùng quê phụ cận lên cơn sốt vì gỗ sưa.
Khi gỗ sưa ở các vùng quê đã bị đốn sạch, các con buôn gỗ (ùn ùn) tiến về Hà Nội như đoàn quân giải phóng năm 1945. Họ thuê bọn lâm tặc bất hợp pháp đi mua, mua không được thì rình rập, lén lút cưa, chặt, bất cứ chỗ nào có cây sưa.
Thử đọc một vài đoạn tin về lâm tặc hay "sưa tặc" này ở blog Hà Nội Xanh:
"Lạ kỳ hơn nữa, khi cây sưa trăm tuổi trong công viên gò Đống Đa bị chặt hạ không phải do bàn tay và những nhát cưa của "sưa tặc". Báo chí và dư luận đã một thời bức xúc khi chính những người quản lý ở đây đốn cây sưa đó, với lý do "cây mục, tránh gây ảnh hưởng đến người dân".
Những người liên quan đã bị cơ quan công an khởi tố, nhưng nhiều câu hỏi vẫn được đặt ra. Tại sao chính những người bảo vệ cây xanh, bảo vệ văn hóa của Thủ đô lại làm ngược lại với những gì được giao? Tại sao lòng tham dễ dàng lấn át được trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ mà họ mang trong mình? Không biết những người quản lý thành phố có biết được rằng khi những người được giao sứ mệnh bảo vệ cây xanh, bảo vệ văn hoá lại ngang nhiên tàn phá những thứ họ phải bảo vệ thì chuyện gì sẽ xảy ra?"


Nguồn: Blog Hà Nội Xanh.

Và đây là phản ứng của chính quyền khi "sưa tặc" lộng hành:
Cuối cùng, dư luận đặt ra câu hỏi thường… khó trả lời nhất. Đó là câu hỏi về trách nhiệm. Ai cũng biết, "sưa tặc đời 2009" manh động hơn hẳn "sưa tặc đời 2007". Nếu như năm 2007, chúng chỉ dám cưa trộm thì hiện nay, chúng sẵn sàng cướp trắng cây theo kiểu buộc dây thép vào cửa nhà dân, rồi dùng kiếm đe dọa; hay ngang nhiên cưa cây giữa phố phường đông đúc người qua lại…
Trước sự liều lĩnh của sưa tặc, một người dân sẽ rất sợ, hai người dân vẫn rất sợ chúng. Nhưng 3 triệu người dân Hà Nội với chính quyền và các cơ quan chức năng hùng hậu của mình không thể "sợ" một nhóm lâm tặc, dù chúng có manh động như thế nào!
Chính Bí thư Thành ủy Hà Nội đã đặt ra câu hỏi này: "Ai cũng thốt lên: sao lại có kẻ nỡ làm chuyện phá hoại ngang nhiên như vậy? Và rồi, một câu hỏi khác: thế chính quyền, các cơ quan chức năng, thanh tra giao thông, thanh tra xây dựng, công an thành phố, công an khu vực… và những người dân Thủ đô yêu quý cây xanh không lẽ chịu thua, chẳng lẽ để lâm tặc mặc sức hoành hành giữa lòng Thủ đô Hà Nội?".
Không chỉ là trách nhiệm quản lý đô thị, đích thân Bí thư Hà Nội đã kêu gọi, khơi dậy trách nhiệm của cả xã hội cùng tham gia bảo vệ cây sưa, bảo vệ tình yêu đối với những hàng cây xanh như là một giá trị văn hóa của Thủ đô. Nếu mỗi người dân cùng có chung một ý thức bảo vệ, chắc chắn, "sưa tặc" sẽ không còn đất để hoạt động…"


Nguồn: Blog Hà Nội Xanh.

Mẹ ơi! Con mắt các ngài lãnh đạo chế độ CSVN ở Hà Nội bị bù lạch ăn rồi chắc? Tại sao họ gai mắt vì cây thánh giá dựng ở Đồng Chiêm đến độ phải huy động 600 - 700 công an, quân đội, với đầy đủ vũ khí trấn áp, súng ống, lựu đạn cay, dùi cui, xe cơ giới… để nhổ cây thánh giá và trấn áp dân lành, nhưng lại khoanh tay, chịu thua những tay lâm tặc bất hợp pháp trang bị cưa, đục, búa… đi ngời ngời trên đường phố mấy tháng trời? Mãi đến khi bí thư thành ủy Hà Nội "bức xúc" quá, chính thức lên tiếng, mới bắt được chừng chục tên lâm tặc với vài cái cưa gỗ cầm tay chỉ trong vòng một ngày.
Thiệt đáng nể công an và quân đội nhân dân VN anh hùng, luôn Trung với Đảng (cộng sản), hiếu với dân (lâm tặc hợp pháp) khó khăn nào (dù là trấn áp, khủng bố dân lành…) cũng vượt qua, kẻ thù nào (ngoại trừ Tầu cộng) cũng chiến thắng.
Một loại Tặc khác, nguy hiểm và gây tác hại hơn lâm tặc nhiều lần vì tầm hoạt động của chúng không chỉ giới hạn vào cá nhân, trên bình diện xã hội, mà còn ảnh hưởng đến quốc gia và quốc tế. Đó là "Tin tặc".
Tin tặc chỉ bắt đầu có mặt hậu bán thế kỷ 20, khi Personal Computer được phát minh.
Computer virus, được Fred Cohen, tốt nghiệp đại học ở Southern California nghĩ ra vào tháng 11 năm 1983, sau đó đã được các tay tổ về software nhanh chóng phát triển thành phương tiện tấn công, phá hoại các hệ thống computer trên thế giới. Danh từ Hacker bắt đầu xuất hiện và Việt Nam ta gọi là "Tin tặc".
Vụ tin tặc nổi tiếng thế giới lần đầu tiên xẩy ra đầu tháng 5 năm 2000, thủ phạm đã dùng một computer virus có tên I Love You, tấn công và làm tê liệt hàng trăm ngàn computer ở khắp các lục địa qua hệ thống email.
Tin tặc có thể là một cá nhân (thủ phạm của I Love you virus là một sinh viên 19 tuổi), một nhóm, một tổ chức của một quốc gia, đặc biệt là các nước cộng sản còn sót lại trên thế giới như cộng sản Tầu, Cộng Sản Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba.
Đối với thế giới tự do, tin tặc là một loại phạm pháp nghiêm trọng (Schwere Verbrechen) nhưng lại được nhà cầm quyền các chế độ độc tài dùng như một vũ khí để chống lại dân chúng và các phong trào đòi hỏi dân chủ, tự do.
Internet ngày nay đã trở nên phổ biến trong dân chúng, các website cá nhân phát triển rầm rộ, các Blogs mọc lên như nấm, tin tức được truyền đi bằng tốc độ ánh sáng. Một việc làm bậy, môt hành động sai trái của một viên chức chính quyền, chỉ trong vài giây đã phổ biến khắp thế giới.
Không ngăn chận được trào lưu tiến hóa của văn minh, khoa học, chế độ độc tài các nước trên phải tìm cách bưng bít thông tin bằng cách khác. Họ lập tường lửa, ngăn chận người dân có computer sử dụng internet vào các website hay blog mà họ thấy có ảnh hưởng xấu cho chế dộ. Song song với việc đó họ thành lập các đội hacker chuyên nghiệp, tìm cách đánh phá các website, blog, ăn cắp thông tin cá nhân mà họ cảm thấy nguy hại cho chế độ.
Việc nhà cầm quyền Việt Nam luôn tìm cách đánh phá các diễn đàn tự do và mới đây nhất là trang Bauxite Việt Nam của giáo sư Nguyễn Huệ Chi là những bằng chứng hùng hồn nhất để kết luận nhà cầm quyền CSVN hoặc đứng sau lưng hoặc cấu kết với Tầu Cộng về các vụ tin tặc nói trên.
Xin đọc một đoạn trích từ thư của giáo sư Nguyễn Huệ Chi gửi bạn đọc vào trang Bauxite Việt Nam:

"Quả thật từ khi ra đời đến nay, trang Bauxite Việt Nam đã bị đánh phá ác liệt đến không dưới 5 lần, bởi những nhóm người lạ mặt. Không ai dám chắc đây là một nhóm vì họ đánh bằng nhiều cách. Có khi họ xâm nhập trang quản trị mạng và thay đổi hẳn phần hình ảnh trong một bài nào đó bằng hình ảnh của hải quân Trung Quốc. Có khi họ khống chế để bạn đọc không tài nào vào được trang chủ, biến trang chủ thành trang trắng. Lại có khi họ thay đổi mật mã khiến anh chị em biên tập viên "mất dấu". Nhưng lần này là tệ hại nhất: họ chưa vội làm gì ngoài việc khóa chặt một số bài không cho bạn đọc truy nhập và đặt trang quản trị mạng dưới sự giám sát 24/24, có lẽ để ngầm chuyển nội dung về một trung tâm nào đó. Họ quả có nhiều thủ đoạn khó lường.
May thay, chúng tôi đã kịp phát hiện và nỗ lực lấp các "lỗ hổng" trong vòng một tuần lễ để "thoát vòng vây". Sở dĩ thành công là do có nhiều bạn bè chí tình chỉ bảo và giúp sức, mặt khác cũng do biết đứng vững trên chủ kiến: Bauxite Việt Nam không phải là một trang chính trị đối lập mà chỉ là một trang mạng của trí thức lên tiếng góp ý xây dựng đối với đất nước, cũng không phải nhân danh một tập thể đứng trong tổ chức mà chỉ là một cá nhân chịu trách nhiệm cùng với nhóm cộng sự, nên chúng tôi giữ được lòng tin.
Vì vậy, xin kính báo để bạn đọc xa gần đều mừng và cùng nhau trở lại với các bài viết cùng lời bình ngắn thường ngày. Dưới đây, xin trân trọng đăng một trong số rất nhiều lá thư chia sẻ nỗi lo với chúng tôi trong suốt những ngày qua, do GS Vũ Cao Đàm thay mặt Nhóm giảng viên Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐHQG Hà Nội gửi đến" .


Khi tôi viết những giòng chữ này thì trang Bauxite Việt Nam lại bị đánh gục, không vào được.
Một loại tặc khác cũng nguy hiểm không kém tin tặc là "Khẩu tặc", tức bọn đánh giầy bằng lưỡi. "Khẩu tặc" thường là bọn người có ăn học, bằng cấp dắt sau lưng hai ba cái, nói chuyện, viết lách điều gì cũng phải đưa ra vài cái tên như Karl Marx, Engels, Sigmund Freud, Friedrich Nietzsch, Jean Paul Sartre… để hù thiên hạ. Đi đi về về Việt Nam như đi chợ, gặp gỡ toàn những cớm chóp bu như Tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng hay ủy viên trong bộ chính trị đảng CS Việt Nam để… xin chữ ký.
Loại khẩu tặc này sử dụng kiến thức, sở học của mình làm shoe creme để đánh giầy bằng lưỡi, chuyên rót những lời ngọt ngào vào tai các ngài lãnh đạo đất nước Việt Nam, nên đã được tham dự phiên tòa xử 4 người đấu tranh cho dân chủ, tự do là Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long trong khi phóng viên báo chí ngoại quốc và ngay cả thân nhân các bị cáo bị cho chầu rìa.
Loại khẩu tặc này luôn tự hào là "biết cách nói" cho người cộng sản nghe… tai này đi qua tai kia rồi ra ngoài, đồng thời lẻo lự, ngụy biện cho những hành động trái với lương tâm, đạo đức của mình.
Bọn khẩu tặc này rất thạo nghề đánh giầy bằng lưỡi cho bọn tặc cuối cùng, nguy hiểm nhất, gian ác nhất, lưu manh nhất cho xã hội, cho dân tộc, đất nước… là bọn "Quyền tặc".
Khi một chế độ, một chính phủ có quyền lực, tiền bạc, quân đội, công an, vũ khí, phương tiện trong tay lại đi cấu kết với giặc ngoại xâm là Tầu cộng để củng cố địa vị, tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, đàn áp dân, giam giữ, tra tấn, kết tội những người dân yêu nước lên tiếng phản đối thái độ hèn nhát, nô lệ, phá hoại đất nước của mình, không gọi là "Quyền tặc" thì gọi là gì?
Do bởi có quyền lực trong tay, lũ quyền tặc này sử dụng bọn đạo tặc du thủ du thực, đầu trộm đuôi cướp… để trấn áp dân chúng qua những vụ Bát Nhã, Đồng Chiêm…
Dùng bọn lâm tặc hợp pháp để làm giầu, ăn chia với nhau bằng cách khai thác gỗ trên rừng vô tội vạ, không có kế hoạch tái thiết, gây ra hậu quả người dân phải gánh chịu là lũ lụt, thiên tai.
Dùng bọn tin tặc để bảo vệ chế độ bằng cách thiết lập các hàng rào lửa, ngăn chặn những thông tin bất lợi cho chúng, thả virus đánh phá các diễn đàn, website cổ vũ dân chủ, tự do đang phanh phui và tố cáo những hành vi bán nước của bọn người lãnh đạo.
Dùng khẩu tặc để đánh bóng chế độ, để lừa bịp người dân, che mắt thế giới qua những bài viết ca tụng chế độ là dân chủ, tự do, tòa án xử luôn đúng thủ tục tố tụng.
Như thế Quyền tặc tại Việt Nam hiện nay là loại tặc nguy hiểm nhất trong các loại tặc của xã hội cũng như trong lịch sử dân tộc, vì chúng là tổng hợp các loại đạo tặc, lâm tặc, tin tặc, khẩu tặc… kể trên.
Độc giả nào thích, cũng có thể gọi chúng là bọn "Quốc tặc"...



Thạch Đạt Lang


(Người Việt Năm Châu)

Thursday, 18 February 2010

Võ Nguyên Giáp: Tên đồ tể khát máu .



Lời Giới Thiệu: Bác Nguyễn Lương Tuyền là giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi tại đại học McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước.

Nhà văn quân đội nổi tiếng Phan Nhật Nam đã gọi Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương. Tôi chia sẻ ý kiến của ông, nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi.

Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. “Huyền thoại Võ Nguyên Giáp” đã hết còn là một huyền thoại.

Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.

Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.

Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ). Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.

Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.

Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.

Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.

Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.

Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.

Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng  Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng --- Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ,  Trường Chinh, Đặng Việt

Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng --- Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ, Trường Chinh, Đặng Việt

Từ năm 1945 cho đến năm 1991( năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:
- Ủy Viên Bộ Chánh trị
- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng
- Tổng Tư lệnh Quân Đội
- Phó Thủ Tướng
- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.
- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.
Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệng Quân độ là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.

Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

Ngày xưa Đại tướng cầm quân
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.

Một số sách viết về Giáp như:
- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O’Neil (Australia)
- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )
- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)

Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.

Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng “thiên tài Võ Nguyên Giáp” đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.

Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các “đức tính” đó.

Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69)

Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.

Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.

Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l’Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.

Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.

Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.

Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.

Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ
lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.

Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.

Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.


Giáp là một tên hèn.

Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.

Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.

Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).

Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.

Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.

Chiến dịch biên giới năm 1950.

Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.

Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.

Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..

Chiến dịch Tây Bắc 1952

Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.

Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.

Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.

Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên Phủ

Tháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:

1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng
2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam
3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc

Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.

Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.

Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.

Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.

Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.

Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).

Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-1975.

Sám hối ?

Sám hối ?

Tuesday, 9 February 2010

NGƯỜI “MAY ÁO QUAN”.




Viết thay nén hương đưa tiễn một Người Lính.
Tôi là lính ra tù không manh áo
Vượt qua bao lửa máu tìm bình an,
Mưu sinh nghề đánh bóng những áo… quan
Đổi bát gạo nuôi đàn con nheo nhóc.
Mỗi chiếc “áo” làm ra tôi đều khóc
Nhớ bạn bè đất Bắc da bọc xương
Chiếu rách tìm, dù nhỏ hẹp tầm thường
Cũng không có bọc xác thân cùng cực.
Tay xóc dằm, gò từng manh… ký ức
Đóng, đục, cưa cho người lạ nằm vừa,
Lót vải êm bao hòm gỗ cài hoa
Và nước mắt cứ ứa… ngày bi lụy.
Tôi sáng, tối gò từng manh gỗ quý
Thương bạn thân, những thằng đã ra đi
Xót vợ hiền tần tảo bao hiểm nguy
Nuôi con dại chờ chồng, không thấy mặt.
Ngày em mất, trời mưa râm bi đát
Hai thằng con ráp những mảnh ván giường
Giữa ruộng nương “kinh tế mới”, thắp hương
Nhường mẹ… ngủ bình an nơi cõi Phật.
Tôi may áo, áo cho người hoàn tất
Mà dân tôi áo rách đỏ “thiên đường”
Người lạ xa, thân được tẩm thơm hương
Xong một áo, áo nào tôi cũng khóc!
Tôi may áo bằng mưu toan đại cuộc
Buộc thân tàn phải âm ỷ lòng son
Dạy các con: -Chiếc Áo Mộng chưa tròn
Còn ấm áp, phải yêu hoài Tổ Quốc!
Ý Nga, 2.1.2010.

Bài Xem Nhiều