We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 24 March 2010

"LẦN GẶP BÁC HỒ TÔI BỊ MẤT TRINH"

NHÂN DỊP 19 THÁNG 5
NGHE CHÁU NGOAN BÁC HỒ KỂ LẠI CHUYỆN

Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi.
Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng.
Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.

Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự.


Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai ...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ " của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ...
Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam.

Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.
Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.

Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.

Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.


Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe.


Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của của bác cho đồng bào miền Nam”.



Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - Đà Nẵng 02/09/2005

2 bồ nhí của "Bác" trong chiến khu, Châu & Quyên

ukdautranh.com (vietlyhuong.net)

Monday, 8 March 2010

KÍNH MỜI NGHE NHẠC PHẨM “QUẢNG TRỊ DẤU YÊU” CỦA HUYỀN ANH


KÍNH MỜI NGHE NHẠC PHẨM “QUẢNG TRỊ DẤU YÊU”

CỦA HUYỀN ANH





San Jose, ngày 05-3-2010.



- Thưa quý bà con đồng hương Quảng Trị tại bắc California cũng như hiện định cư khắp nơi trên thế giới.

- Thưa quý vị quan tâm và thân hữu khắp nơi.



Tôi là Hạnh Dương tức Nhạc Sĩ Huyền Anh, sinh ra và lớn lên tại làng Dương Lộc, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Đây là một làng quê nằm giữa vùng đồng bằng thuộc xã Triệu Thuận với ngôi thánh đường có thể soi bóng trên giòng nước cuốn xiết của sông Thạch Hản chảy từ Hạ Lào băng qua dãy trường sơn đi về Cửa Việt để đổ ra biển Đông. Ngày nay ngôi thánh đường đã đổ nát vì chiến tranh, nhưng trong ký ức tuổi thơ còn sót lại của tôi thì cặp chim sáo ngà như vẫn đứng líu lo trên đĩnh Thánh Giá của tháp chuông nhà thờ.





Bìa của Nhạc Phẩm "Quảng Trị Dấu Yêu" do Hạnh Dương trình bày.

Cảnh ngôi Thánh Đường La-Vang của Quảng Trị bị chiến tranh tàn phá.



Tuổi trẻ của tôi là những ngày ê a đi học trường làng, giờ rãnh rỗi thì rong chơi bắt cá, thả diều, chăn trâu và tắm trần với đám trẻ nít trong làng. Có những lúc chiến tranh ập đến làng tôi, nhiều người chết và trường làng không mở cữa nên cha tôi phải dạy tôi dưới hầm trú ẩn về tập đánh vần, viết chữ Việt và cách sống trở thành người lương thiện. Tôi nhớ bài học lịch sử mà cha tôi vẫn dạy về nguồn gốc Quảng Trị quê tôi...



- Từ Thế Kỷ Thứ 10 trở về trước, biên giới nước Đại Việt ở phía bắc kéo đến gần Đèo Ngang giữa Quảng Bình và Nghệ Tĩnh. Năm 1069, Lý Thướng Kiệt xua quân đánh chiếm từ Đèo Ngang vào đến sông Thạch Hản của vùng mà sau nầy đặt tên là Quảng Trị. Lấy con sông Thạch Hản làm biên giới giữa Việt Nam và Chiêm Thành. Đặt tên cửa sông Thạch Hản là Cửa Việt để cảnh báo cho Chiêm Thành biết quyền lực của Chúa Trịnh. Tuy nhiên hai bên vẫn thường xảy ra chiến tranh.



Năm 1306 Vua Chiêm Thành là Chế Mân sợ bị người Việt xâm chiếm nên xin dâng đất của Ô Châu và Lý Châu từ phía nam Cửa Việt chạy vào đến hết Quãng Nam để làm sính lễ cầu hôn nàng Huyền Trân Công Chúa của Vua Trần Anh Tông.



Huyền Trân Công Chúa lúc bấy giờ đang yêu dũng tướng Trần Khắc Chung nên không muốn lấy Vua Chế Mân của Chiêm Thành. Nhưng rồi vì vận nước, muốn cho dân chúng hưởng thái hòa và giang sơn được mở mang bờ cõi nên Huyền Trân Công Chúa đành gạt nước mắt, hy sinh mối tình riêng để theo thuyền hoa về làm vợ của Chế Mân. Kể từ đó người Việt vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình đã di dân vượt sông Thạch Hản tràn vào lập nghiệp tại bờ phía nam Cửa Việt.



Năm 1558, Nguyễn Hoàng từng nắm binh quyền trấn giữ đất Thuận Hóa, đã xin Chúa Trịnh cho đưa binh lực vào đóng quân lập trại tại Ái Tử nằm phía bắc sông Thạch Hản. Ông đã cai trị vùng Quảng Trị đến Quảng Nam được lối 60 năm và chết lúc gần 90 tuổi.



Đầu năm 1802 nhà Nguyễn khởi nghiệp, Gia Long lên ngôi. Ô Châu được đổi tên là Quảng Trị và Lý Châu đổi là Thừa Thiên. Vua cho xây Thành Quảng Trị trước đây bằng đất tại làng Tiền Kiên gần Ái Tử phía bắc sông Thạch Hản. Đến thời vua Minh Mạng đã cho dời Thành Quảng Trị về làng Thạch Hản và xây dựng bằng gạch nung kiên cố thuộc bờ nam sông Thạch Hản cho đến nay vẫn còn.



Quảng Trị là điểm khởi đầu việc xây dựng nước Việt tại Miền Nam thời Nhà Lý; và cũng là điểm chấm dứt chế độ VNCH do chính sự phản bội đồng minh của Hoa Kỳ khi TT Richard Nixon của Hoa Kỳ cử cố vấn Kissinger bí mật qua Bắc Kinh từ năm 1970 để thu xếp các quyền lợi của Mỹ. Vào tháng 2 năm 1972, TT Nixon chính thức thăm Bắc Kinh và thỏa hiệp hất chân Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc để chọn Trung Cộng vào thay thế. Hoa Kỳ cũng thỏa thuận rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam và xóa sổ chế độ VNCH trao lại cho Cộng Sản cai trị để được buôn bán với Trung Cộng.



Ngày 31-3-1972, Trung Quốc bật đèn xanh hỗ trợ Bắc Việt đưa trên 10,000 quân chính qui, xe tăng, đại pháo tấn công ồ ạt vào căn cứ Ái Tử của Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH. Ái Tử thất thủ, VNCH giật sập cầu bắc qua sông Thạch Hản để cố thủ tại Cổ Thành Quảng Trị, rồi dần lùi vào Mỹ Chánh. Tướng Ngô Quang Trưởng được cử làm Tư Lệnh Quân Đoàn I thay Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm; nhưng đã quá trễ ! Quân Bắc Việt chiếm thành phố Quảng Trị, lối trên 10,000 dân chạy dọc quốc lộ 1 vào Huế và chết chồng lớp trên đoạn đường được gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.



Tháng 9-1972, Lữ Đoàn TQLC 258 của Đại Tá Ngô Văn Định được cử giải vây cho Quảng Trị. Ngày 9-9-1972 các Tiểu Đoàn Quái Điểu, Trâu Điên, Thần Ưng của TQLC đã tấn công mãnh liệt vào Cổ Thành Quảng Trị. CSBV cầm cự 5 ngày đêm rồi tháo chạy ra khỏi Cổ Thành và bị truy diệt gần như toàn bộ. Tiểu Đoàn 3 TQLC đã cắm cờ VNCH lên cửa Đông Cổ Thành Quảng Trị vào đúng 12:45pm chiều 16-9-1972. Nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ đúng mật ước, rút hết quân Mỹ để mặc cho VNCH chết tức tưởi vào ngày 30-4-1975 !



Quảng Trị là khởi đầu của việc lập quốc ở phía Nam Việt Nam. Quảng Trị cũng là phần đất hứng chịu trận chiến tranh qui ước lớn nhất lịch sử Việt Nam để chấm dứt phần đất Miền Nam do sự phản bội của đồng minh tháo chạy Hoa Kỳ.

Biến cố “Tháng Tư Đen” năm 1975 đã đẩy hằng triệu người Miền Nam Việt Nam rời bỏ quê hương để lánh nạn Cộng Sản. Hằng chục nghìn người chết dọc đường vượt biên, vượt biển. Gần 2 triệu người Miền Nam đang sống tỵ nạn tại Hoa Kỳ, và trên 1 triệu người Việt tự do khác đang định cư tại nhiều quốc gia; trong số đó có rất nhiều đồng hương gốc quê quán Quảng Trị.



Tôi là người con dân Quảng Trị nên luôn hãnh diện về nguồn gốc lịch sử Quảng Trị của chúng tôi với chiến tích lẫy lừng kinh sử dưới các triều đại từ thời Lý, Trần khởi nghiệp ở Miền Nam. Và trận chiến cuối cùng vô cùng oanh liệt khi TQLC đánh bại đại quân Bắc Việt để đựng cờ VNCH chiếm lại cổ thành Quảng Trị trước khi Hoa Kỳ bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt và Trung Cộng !



Số phận của Quảng Trị cũng như Thừa Thiên Huế hình như luôn vướng vào những bi lụy, có lẽ do dòng lệ cuộc tình chia ly của Huyền Trân Công Chúa phải từ giã tình quân là Trần Khắc Chung để đổi lấy Ô Châu và Lý Châu. Và phải chăng còn khổ đau hơn nữa khi Vua Chiêm Thành băng hà, người ta đưa Huyền Trân Công Chúa lên giàn hỏa táng và Trần Khắc Chung thay Vua Trần Anh Tông đến đọc điếu văn và tìm cách giải cứu người yêu.



Theo luật lệ của Chiêm Thành, khi nhà Vua băng hà thì Hoàng Hậu và các cung phi mỹ nữ của nhà Vua phải bị đưa lên giàn hỏa thiêu để linh hồn họ về bên kia thế giới chung chăn gối với nhà Vua. Để cứu con gái khỏi bị thiêu sống, Vua Trần Anh Tông cho lập kế cứu Huyền Trân Công Chúa. Sứ giả nhà Trần đến xin thọ tang và nói theo tục lệ Việt Nam trước khi bị hỏa thiêu thì Huyền Trân Công Chúa phải được ra sát bờ biển lập đàn chay cúng tế với tổ tiên nước Việt. Thế là Chiêm Thành cho lập đàn chay gần bờ biển vùng Trà Kiệu tỉnh Quảng Nam bây giờ đê Huyền Trân Công Chúa khấn vái trời đất. Một vài ngày trôi qua, bất ngờ đoàn chiến thuyền từ ngoài khơi xông vào và võ tướng Trần Khắc Chung đã cướp Huyền Trân Công Chùa đưa lên thuyền lướt nhanh ra biển. Thuyền lênh đênh tới hai tháng mới đến được Thăng Long. Câu chuyện tình có nhiều nước mắt và rồi trở thành nguyên cớ cho các trận đánh tiếp theo giữa Chiêm Thành và Việt Nam mà Quảng Trị chính là nơi nhuộm máu của hai dân tộc !



Quê Hương Quảng Trị được xây dựng trên câu chuyện tình lãng mạn, bi thương và hào hùng như thế nên khi xa quê, tôi cũng như bao đồng hương Quảng Trị khác đã luôn nghĩ về nơi chôn nhau cắt rốn, nơi mồ mã tổ tiên của chúng tôi còn nằm lại sau lũy tre làng.



Trong nỗi nhớ nhung hoài vọng về quê hương Quảng Trị, những người con dân Quảng Trị xa quê cha đất tổ đã tìm nhau cùng đứng lại để thành lập Hội Đồng Hương và Thân Hữu Quảng Trị. Tôi đã từng là Hội viên của Hội Đồng Hương và Thân Hữu Quảng Trị Bắc Cali.



Nhớ lại ngày Cộng Sản Bắc Việt chiếm Cổ Thành Quảng Trị vào mùa hè năm 1972, lúc đó tôi ở Sài-gòn. Cha mẹ, chị và các em cùng các cháu của tôi bồng bế nhau rời làng quê, băng qua Đại Lộ Kinh Hoàng chạy vào Huế. Tôi nghe tin có người thân đã chết, lúc đó tôi khóc và thương người dân Quảng Trị biết bao. Trong buồn thương đó, tôi sáng tác Nhạc Phẩm “QUẢNG TRỊ DẤU YÊU” và nay tôi nhờ nữ Danh Ca THANH THÚY hát với phần nhạc hòa âm của nhạc sĩ Lê Huy. Tôi xin kính tặng đến bà con Quảng Trị ở Bắc Cali nhân ngày HỘI NGỘ TÂN NIÊN CANH DẦN của Hội Đồng Hương và Thân Hữu Quảng Trị Bắc California sẽ được tổ chức vào Chủ Nhật 07-3-2010 từ 10:00AM đến 3:00PM tại Trường Hellyer School, số 725 Hellyer Avenue, San Jose, CA 95111. Tôi cũng xin kính tặng đến bà con Quảng Trị ở khắp nơi.



Năm ngoái, vào ngày 01-3-2009, tôi là Trưởng Ban Tổ Chức Ngày Đại Hội Quảng Trị Bắc Cali với khoảng 600 đồng hương và thân hữu Quảng Trị khắp Bắc Cali về dự tại Nhà Hàng Grand Fortune Restaurant ở San Jose. Sau sự thành công đó là hoạn nạn của cá nhân tôi. Tôi bị chụp mũ và chính đương kim Hội Trưởng là Gs Lê Đình Cai đã tạo ra trò xuyên tạc tiếp theo để loại trừ tôi ra khỏi Hội Quảng Trị.



Thế nên năm nay, dù tôi đã nhận được giấy mời nhưng tiếc rằng tôi sẽ không đến chung dự Ngày Đại Hội Xuân Canh Dần với bà con đồng hương. Tôi vẫn nhớ đến bà con đồng hương nên xin gởi tặng Nhạc Phẩm “QUẢNG TRỊ DẤU YÊU” của tôi do nữ Danh Ca THANH THÚY hát để quý bà con nghe trong những lúc nhớ về quê hương Quảng Trị đau thương của chúng ta.



Tôi cũng sẽ gởi một THƯ KHÔNG NIÊM đến quý bà con trong Hội Quảng Trị Bắc Cali và Ban Chấp Hành Hội Quảng Trị Bắc Cali để quý vị có thể nhận diện được con người mà trong cuốn sách “Biến Động Miền Trung” của cựu Thiếu Tá Cảnh Sát Liên Thành, nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên - Huế đã có phần mô tả.



Xin hãy nghe Nhạc Phẩm “QUẢNG TRỊ DẤU YÊU” của tôi trước khi sẽ đọc bức Thư Không Niêm của tôi gởi cho Hội Đồng Hương và Thân Hữu Quảng Trị Bắc Cali.



Cám ơn quý vị và kính chúc Ngày Hội Xuân Canh Dần của Hội Quảng Trị Bắc Cali thành công.



HẠNH DƯƠNG

(Nhạc sĩ Huyền Anh)

Cell. 408-591-6574,

Cell. 714-602-1535,

Cell. 415-630-4005.

Fax. 408-493-4574.

Email: VietPressUSA@...

Friday, 5 March 2010

Nghị Quyết 36: VIỆT CỘNG Ra Sức Dụ Dỗ Người Việt Hải Ngoại


Vào ngày 26 tháng 3 vừa qua Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính Trị, Thường trực Ban Bí Thư Trung ương Đảng CSVN đã ký Nghị Quyết số 36 của Bộ Chính Trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài..
Đây không phải là lần đầu tiên mà chế độ CSVN ra chỉ thị cho guồng máy hành chánh trong và ngoài nước của họ về chính sách và chiến lược chiến thuật nhằm lôi kéo và xâm nhập vào cộng đồng người Việt sinh sống ở ngoài VN. Từ đầu thập niên 90, VC đã cho xuất bản cuốn “Về người Việt định cư tại nước ngoài” viết bởi Nguyễn Ngọc Hà, Trưởng Ban Việt Kiều trực thuộc Trung ương Đảng, vạch rõ chủ trương chiêu dụ người Việt hải ngoại. Đến năm 1999, Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải ra Quyết Định số 210/1999/QĐ-TTg, sau đó đuợc bổ sung bằng Quyết Định 114/2001/QĐ-TTg do Phó Thủ Tướng Nguyễn Mạnh Cầm ký năm 2001, qui định nhiều biện pháp cụ thể nhằm lôi kéo người Việt đang sống ở hải ngoại.


Chỉ trong vòng có 4 năm mà CSVN đã đưa ra đến 3 văn bản về chính sách đối với người Việt ở nước ngoài. Điều này chứng tỏ sự chú tâm đặc biệt của họ trong nỗ lực dụ dỗ, lôi kéo khối lượng đông đảo người Việt sinh sống ở hải ngoại, vốn là một nguồn tài chánh béo bở: 2 triệu 700 ngàn người, với số tiền gửi chuyển về VN hiện nay lên tới 2,6 tỷ Mỹ kim (khoảng gần 4 tỷ Úc kim) mỗi năm. Tiềm năng chất xám và trình độ khoa học kỹ thuật cao của trí thức người Việt hải ngoại, đặc biệt là của giới trẻ, cũng là một nguồn tài nguyên lớn mà CSVN thèm muốn lợi dụng. Một điều đáng nói khác là CSVN tỏ ra lúng túng vì đã không tranh thủ được sự ủng hộ của người Việt hải ngoại trong thời gian qua như họ mong muốn, cho nên cần có thêm những biện pháp chiêu dụ mới thể hiện qua Nghị Quyết 36 này.
NGHỊ QUYẾT 36 LẦN NÀY CÓ GÌ KHÁC?
Trong tất cả những Quyết Định, Nghị Quyết đã tung ra từ trước đến giờ, có những điểm cũ rích được nhắc đi nhắc lại để chiêu dụ và trấn an người Việt hải ngoại, ví dụ như ba hoa về chính sách trọng dụng nhân tài, thu hút chất xám, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt kiều đem tiền về đầu tư, kinh doanh trong nước...vv, thiết tưởng ai cũng hiểu bản chất mị dân và giả dối của những lời kêu gọi rỗng tuyếch này, không cần phải bàn thêm.
So sánh với hai Quyết Định năm 1999 và 2001, Nghị Quyết 36 có 8 điểm khác biệt quan trọng, được nêu lên và nhấn mạnh ở phần III với tiêu đề “Nhiệm vụ chủ yếu”:


1- Trong điều 4, “Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài..., khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ...”. Điều này cho thấy CSVN đã nhận ra rằng những hình thức tuyên truyền cũ của họ đã tỏ ra thiếu hiệu quả, và cần phải có những trò khác “đổi mới và đa dạng” hơn để lôi kéo người Việt hải ngoại.
2- Cũng trong điều 4, CSVN lộ rõ ý định xâm nhập và khuynh đảo đối với những người Việt đối kháng với chế độ: “Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người VN ở nước ngoài, kể cả những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta”.
3- Điều 5 cho thấy CSVN đặc biệt chú trọng vào lãnh vực giáo dục tiếng Việt cho con em trẻ người Việt hải ngoại: "Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt". Biết rằng đồng bào ở hải ngoại phần đông đều cho con em học thêm tiếng Việt trong những lớp Việt ngữ cuối tuần, CSVN chủ trương xâm nhập và kiểm soát việc dạy tiếng Việt cho các em ở hải ngoại, tạo điều kiện để khéo léo tuyên truyền cho chế độ ngay khi trí óc các em còn non nớt. Đây là một âm mưu rất thâm độc và nguy hiểm của CS.
4- Cũng trong điều 5, qua câu "Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài", CSVN chủ trương tập trung vào việc tuyên truyền vận động trong giới trẻ VN hải ngoại. Họ biết rõ rằng người trẻ tuy có trình độ khoa học kỹ thuật cao nhưng lại thiếu kinh nghiệm đối với CS, nên dễ bị lợi dụng vì nhiệt huyết và thiện chí muốn góp phần xây dựng đất nước. CS rất khôn ngoan, muốn trước tiên hấp dẫn người trẻ bằng những hình thức vui chơi, mà điển hình là việc tổ chức một trại hè ở VN cho giới trẻ hải ngoại vào tháng 7 tới đây mà họ đang quảng cáo rầm rộ trên internet.


5- Trong điều 5, CSVN nhấn mạnh thêm về nhu cầu tổ chức các hình thức giao lưu văn hóa, gửi văn công VC ra nước ngoài, và đặc biệt là chủ trương mới về chiêu dụ văn hóa của Đảng: "Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn". Nói cho ra vẻ là có giao lưu, nhưng trên thực tế CSVN chỉ cho phép về nước trình diễn đối với một số nhỏ những phần tử đã qui thuận chế độ, khép mình theo sự điều động của Đảng CS.
6- Quyết tâm xâm nhập các cộng đồng người Việt hải ngoại qua những phương tiện truyền thông.
Trong khi hai Quyết Định 1999 và 2001 chỉ nói chung chung là “Đài Tiếng Nói VN, Đài Truyền Hình VN, chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại Giao... mở rộng việc đưa chương trình phát thanh và truyền hình VN ra nước ngoài...”, thì Nghị Quyết 36 lần này lộ rõ ý đồ xâm nhập văn hóa, nói huỵch toẹt chẳng cần giấu diếm âm mưu thao túng CĐ người Việt hải ngoại của họ trong điều 6: “Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền.... Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và internet... Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước... Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài...”. Nỗ lực xâm nhập truyền thông của CSVN thật ra chẳng lạ gì đối với cộng đồng người Việt tại Úc Châu này, và chỉ mấy tháng trước đây, người Việt tại Úc đã thành công trong việc buộc đài Truyền Hình sắc tộc SBS ngưng chiếu chương trình VTV4 của CSVN, bẻ gẫy kế hoạch xâm nhập văn hóa mà họ đã tốn rất nhiều thời giờ và công lao gầy dựng. Qua Nghị Quyết mới này, họ chủ trương công khai mang tiếng nói của họ vào trong các CĐ người Việt hải ngoại bằng cách tung tiền để ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình...vv để tạo xáo trộn và chia rẽ trong cộng đồng, đó là cách mà họ gọi là “đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền...”


7- Răn đe và hăm dọa những tổ chức, phong trào chống độc tài CS, đòi tự do dân chủ cho VN ở hải ngoại qua điều 7: "...có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại."
8- Giao rõ trách nhiệm tuyên truyền vận động trong cộng đồng người Việt hải ngoại cho các tòa Đại sứ, Lãnh sự của CSVN: "Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng... tích cực, chủ động tăng cường tiếp xúc vận động, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới bà con." Đầu tư nhân sự và tài chánh để làm bằng được công tác xâm nhập tuyên truyền: "Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống... Bổ sung kinh phí cho công tác này." Điều này có nghĩa là cơ quan đại diện ngoại giao của CSVN ở các nước sẽ có cán bộ chuyên trách và nguồn tài trợ dồi dào để trực tiếp chỉ đạo và tổ chức công tác xâm nhập truyền thông trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.
NHỮNG GÌ CHÚNG TA CẦN CẢNH GIÁC THEO DÕI TRONG THỜI GIAN TỚI
Đọc kỹ Nghị Quyết 36 của CSVN lần này, chúng ta thấy rằng họ đã nghiên cứu và sửa soạn rất kỹ lưỡng cho đợt xâm nhập tuyên truyền mới này, chắc chắn là sẽ tinh vi, sẽ đa dạng và mạnh mẽ hơn thời gian trước. Người Việt trong CĐ hải ngoại cần phải cảnh giác cao độ, phải hết sức sáng suốt và đoàn kết để chống lại âm mưu xâm nhập và thao túng của CSVN trong đợt tấn công mới của họ.
1- Trong lãnh vực giáo dục, chúng ta phải cẩn thận xem xét các nguồn sách giáo khoa tiếng Việt dùng trong các trường lớp Việt ngữ cuối tuần. Hiện nay, có nhiều nhóm trường, nhóm thầy cô dạy tiếng Việt khác nhau trong mỗi tiểu bang lãnh thổ, ví dụ như ở New South Wales có ít nhất là 3 hệ thống liên trường khác nhau và không mấy liên hệ với nhau. Chúng tôi ước mong rằng các hệ thống liên trường dạy tiếng Việt ở mỗi địa phương ngồi lại với nhau, kết hợp thành một tổ chức duy nhất, và bàn thảo để qui định thống nhất giáo trình cũng như những sách giáo khoa được sử dụng. Có sự đoàn kết phối hợp chặt chẽ như thế, đội ngũ giáo viên tiếng Việt sẽ tạo được sức mạnh và uy tín để liên lạc với chính quyền tiểu bang xin cấp khoản, cũng như sẽ dễ dàng ngăn chặn âm mưu xâm nhập của CSVN vào lãnh vực dạy tiếng Việt.


Các bậc phụ huynh cho con em học tiếng Việt cuối tuần cũng nên để ý đến nội dung những gì các em được dạy tại trường tiếng Việt, để nếu thấy có gì không ổn thì phải liên lạc ngay với trường hoặc với thầy cô để kịp thời điều chỉnh. Trong vị trí của các Ban Chấp Hành CĐ Liên bang cũng như các tiểu bang, lãnh thổ, chúng tôi sẽ cố gắng thu xếp để gặp gỡ với các giới chức về giáo dục trong chính quyền địa phương để trình bày hoàn cảnh đặc biệt của cộng đồng Việt Nam, cho họ hiểu là chúng ta đa số là người tị nạn không chấp nhận chế độ CSVN đương quyền, do đó không chấp nhận cho con em học sách giáo khoa tuyên truyền cho chế độ. Làm được như thế, chúng ta có thể tránh được việc CSVN đi cửa sau, vận động thẳng với Bộ Giáo Dục các TB, LT để chính thức đem giáo viên hoặc giáo trình vào chương trình học tiếng Việt của các trường tiểu học và trung học.
2- Trong lãnh vực văn hóa, cần phải cảnh giác đối với việc CSVN tiếp tục đưa nghệ sĩ từ trong nước ra ngoài trình diễn nhằm nhập nhằng xóa mờ lằn ranh giữa trong và ngoài nước, cũng như gây chia rẽ trong nội bộ CĐ người Việt hải ngoại. Cần nhắc lại rằng Quyết Định năm 2001 đã chỉ thị rõ ràng cho các Bộ, Sở phải “...thực hiện trợ giá đối với cước vận chuyển phim ảnh, sách báo, văn hóa phẩm..., giá vé máy bay cho các đoàn nghệ thuật ở trong nước đi biểu diễn phục vụ cộng đồng người VN ở nước ngoài. Mức trợ giá bằng 50% tổng số giá cước vận chuyển, giá vé máy bay thực tế thanh toán với các đơn vị vận tải... Các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn phục vụ cộng đồng người VN ở nước ngoài phải được Bộ Văn Hóa-Thông Tin hoặc Bộ Ngoại Giao giới thiệu...”. Vì vậy, những buổi trình diễn mời ca nhạc sĩ từ VN qua hẳn phải nằm trong chính sách chung của CSVN, chứ không “vô hại, thuần túy thương mại” như những nhóm tổ chức thường kêu rêu để minh oan.


Trong tương lai, rất có thể CSVN sẽ tổ chức một “show” thật rầm rộ như show “Duyên Dáng VN” gồm cả trăm văn công mà họ đã đăt kế hoạch tổ chức tại Sydney và Melbourne năm 2000 nhưng sau cùng đã phải hủy bỏ khi CĐ sửa soạn một cuộc biểu tình chống đối qui mô.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi đồng hương hãy sáng suốt đừng mắc mưu CS, và tẩy chay không đi xem những buổi trình diễn của văn công CS để vô hiệu hóa âm mưu xâm nhập văn hóa ngụy trang dưới hình thức văn nghệ của họ.
Sách báo, văn hóa phẩm từ VN có thể sẽ được ồ ạt xuất cảng sang Úc, bán giá rẻ để mong chiếm lĩnh thị trường và qua đó, tuyên truyền cho chế độ. Để phá vỡ âm mưu này, chúng ta cần phải vận động với các nhà bán sách, bán băng nhạc, các tiệm tạp hóa...vv để họ từ chối không bày bán những món hàng đó trong tiệm của họ. Về phần CĐNVTD, chúng tôi sẽ cố gắng tiếp xúc với các thư viện nơi có đông người Việt để yêu cầu họ cho CĐ có chân trong tiểu ban tuyển chọn sách báo tiếng Việt cho thư viện, ngăn chận những sách có nội dung bóp méo sự thật, tuyên truyền cho CS. Từ hơn một năm nay, Ban Chấp Hành CĐNVTD Liên bang đã liên lạc nhiều lần với Bộ Ngoại Giao Úc để vận động yêu cầu Úc nêu vấn đề giao thương văn hóa phẩm hai chiều với CSVN như một điều kiện quan trọng trong việc cứu xét đơn xin gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO) của CSVN (nên biết rằng cho đến nay, CSVN vẫn được phép xuất cảng văn hóa phẩm sang Úc, trong khi Úc không được phép xuất cảng sách báo tiếng Việt hải ngoại về VN). Điều này đã được Bộ Ngoại Giao Úc đồng ý, và đã nằm trong văn bản đề nghị của Bộ.


3- Trên phương diện truyền thông, như đã phân tích ở trên, CSVN lần này ra quân công khai, nhất quyết thực hiện bằng được phương tiện tuyên truyền đại chúng bằng cách cài người và tung tiền để ra báo, lập đài phát thanh, đài truyền hình. Chắc chắn là lúc đầu vì sợ bị chống đối họ cũng sẽ rất dè dặt không dám ra mặt ngay, và sẽ ra vẻ là cũng chống độc tài CS, chỉ tìm cách lũng đoạn CĐ bằng thủ đoạn bới lông tìm vết, bôi lọ những người có uy tín, khai thác những mâu thuẫn cá nhân để gây chán nản và làm đồng hương mất niềm tin vào những tổ chức CĐ. Trong tương lai gần, CSVN rất có thể sẽ ra những tờ báo, đài phát thanh mới (hoặc sang nhượng lại báo hay đài PT đã có từ trước), theo chủ trương mà Nghị Quyết 36 đã đề ra. Nói như thế không có nghĩa là bất cứ tờ báo, đài PT nào mới ra cũng là của CS cả! Vấn đề là biết rằng CSVN có thể sẽ làm việc này thì chúng ta phải hết sức cảnh giác, theo dõi cẩn thận cung cách hành xử và nội dung các bài được loan tải để có nhận định chính xác, ngõ hầu có thái độ tẩy chay rõ rệt nếu thấy cơ quan truyền thông đó quả là tay sai của CS.


4- Để thực hiện được Nghị Quyết 36, chắc chắn CSVN sẽ huy động tối đa lực lượng nằm vùng của họ đã cài sẵn từ lâu trong các CĐ người Việt hải ngoại, và ra chỉ thị cho bọn này hoạt động đánh phá, lũng đoạn CĐ dưới nhiều hình thức. Đây cũng là một điểm quan trọng mà mọi người, mọi tổ chức trong cộng đồng chúng ta phải cảnh giác và lưu tâm.

KẾT LUẬN

Trong thời gian tới đây, người Việt hải ngoại trong đó có chúng ta tại Úc Châu sẽ phải đối phó với âm mưu xâm nhập và lũng đoạn CĐ của chế độ CSVN, thể hiện qua nhiều kế hoạch, trên nhiều lãnh vực khác nhau, vì họ đã nêu rõ quyết tâm chiêu dụ lôi kéo người Việt hải ngoại qua Nghị Quyết 36 mà tôi đã phân tích ở trên. Hơn lúc nào hết, mọi người trong CĐ chúng ta cần phải sáng suốt, cảnh giác và đoàn kết để phát giác sớm và chống lại những âm mưu đó, duy trì sự ổn định và sức mạnh của CĐ, tiếp tục góp phần vào công cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền cho tổ quốc VN. Và tôi tin chắc rằng CĐ chúng ta đủ khôn ngoan và trưởng thành để vô hiệu hóa mọi âm mưu của CS./-

BS Nguyễn Mạnh Tiến
Chủ tịch CĐNVTD Liên bang Úc Châu

Thursday, 4 March 2010

Đừng bảo tôi Im !

Một bài viết của một cô gái 16 tuổi viết rất lôi cuốn, căn bản lý luận cao, chúng ta cần học hỏi.



Có đôi khi suy nghĩ, tôi chợt cảm thấy có lẽ mình nên bỏ tất cả. Bỏ tất cả việc viết lách này. Có rất nhiều lý do để tôi không nên tiếp tục viết. Tôi 16 tuổi, ở tuổi này như những người đồng trang lứa tôi nên chú tâm học hành và có những mối quan tâm phù hợp với lứa tuổi. Tôi không bị ép buộc phải lên tiếng, và tôi không đủ tư cách để lên tiếng và kêu gọi người khác phải đứng dậy tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và thay thế 1 chế độ khác với những nhà cầm quyền khác, tôi là kẻ hèn nhát đứng từ xa hò hét kêu gọi, khi có chuyện tôi không phải cam chịu gì cả, và tôi nói gì cũng được, gào gì cũng được.
Có đôi khi tôi cảm thấy nhục nhã và ghê tởm với bản thân. Và có lẽ sự im lặng là lựa chọn tốt hơn cho tôi. Có nhiều lúc tôi cảm thấy như vậy. Dù tôi có viết hàng trăm, hàng ngàn bài, cũng không có điều gì xảy ra. Mọi việc đều diễn ra như vậy. Vô số người đã viết, vô số người đã lên tiếng, vô số người đã đấu tranh và cống hiến cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng cũng không có gì thay đổi. Việc viết lách của tôi nói chung cũng không có lợi gì. Không tạo nên 1 sự thay đổi. Cũng không thuyết phục hay lôi kéo được ai. Rất nhiều người cũng đã bảo VN không cần những người như tôi, và thay vì chê bai chế độ, không đóng góp, có lẽ tôi nên ngậm họng và sống cho đất nước tôi đang sống.
Có đôi khi tôi cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Dĩ nhiên khi ở VN, tôi không viết, ý tôi là tôi có viết về những bức xúc trong xã hội nhưng không viết về chính trị chẳng phải vì tôi sợ, mà trong nước tôi chưa kịp thấy nhiều để ý thức được người dân trong nước không may mắn như thế nào. Chỉ khi được đến 1 đất nước khác và đi 1 số nơi, tôi mới thấy 1 số điều và so sánh, tôi mới bắt đầu viết về chủ đề này. Nhưng có lẽ tôi nói chung cũng vẫn là 1 kẻ hèn nhát to miệng, kêu gọi người dân trong nước đứng lên phản kháng, trong khi mình đã an toàn.
Có lẽ tôi nên im lặng. Và mọi người cùng im lặng.
Chúng ta hãy cùng ngồi yên và chấp nhận hoàn cảnh, với suy nghĩ mọi nước đều có vấn đề, khó khăn riêng, và mỗi chế độ đều có cái tốt cái xấu của nó.
Chúng ta hãy cùng im lặng và lờ đi những vấn nạn của đất nước, với an ủi rằng đất nước dù sao cũng đang tiến bộ.
Chúng ta hãy cùng im lặng và tin tưởng rằng việc im lặng chấp nhận sẽ giúp đất nước bình yên.
Chúng ta hãy dùng từ “nhạy cảm” để né tránh mỗi khi bất kỳ ai đề cập đến vấn đề an ninh lãnh thổ.
Chúng ta hãy tập trung học hành, làm việc và đừng quan tâm đến chính trị.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ kéo sang tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên, hủy hoại môi trường sống, giết chết sinh vật, gây bệnh tật cho đồng bào ta, và từ từ chiếm phần trung tâm của đất nước ta.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ thuê rừng đầu nguồn và chấp nhận tất cả những hậu quả của nó như sự ảnh hưởng đến sinh thái và lũ lụt, và để dân TQ kéo sang VN sống.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, và để đồng bào ta bị đánh cướp hoặc giết chết ngoài biển Đông.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để tấm bản đồ lưỡi bò đi khắp TG, và mọi người dần dần tin rằng biển Đông thuộc về TQ, HS- TS thuộc về TQ.
Chúng ta hãy nhắm mắt lại, và ngưng việc đọc báo đi, để tưởng tượng rằng không có điều gì tồi tệ xảy ra và đất nước vẫn đang phát triển.
Nhưng liệu tôi, và bạn có thể làm được thế không?
Nếu muốn, tôi có thể quên VN đi. Tôi có thể chỉ nên sống cho Na Uy. Và bất kỳ cái gì khác. Bạn cũng vậy. Nhưng liệu chúng ta có thể làm được như thế không?
Mọi chuyện có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều nếu không có những vấn đề với TQ. Bây giờ ai cũng biết tình hình giữa TQ và VN đã nghiêm trọng như thế nào. Không, đừng nói với tôi VN là nước nhỏ. Không, đừng nói với tôi VN xui xẻo nằm quá gần 1 đất nước đầy tham vọng bá quyền như TQ. VN không phải là nước nhỏ duy nhất phải chống chọi với 1 nước lớn. VN không phải là nước duy nhất nằm gần TQ. Tôi biết tôi không thể làm được gì cả. Tôi là 1 cá nhân, và 1 cá nhân chỉ là được những việc nhỏ nhặt trong giới hạn của 1 cá nhân. Nhưng nếu nhiều cá nhân gộp lại? “Don’t wait for leaders; do it alone, person to person.”- Mother Teresa. Nếu VN phải đối mặt với TQ, nếu nhân dân VN phải đối mặt với nguy cơ mất nước, ai sẽ cứu VN ngoài chính người dân VN? Mỹ ư? Ồ không bạn ạ, người Mỹ chỉ làm những gì tốt nhất cho nước Mỹ, đừng quên Mỹ đang mắc nợ TQ, và đừng quên không có lý do cụ thể nào để Mỹ phải giúp đỡ VN. Hay 1 vị Bụt hiện ra hỏi “Vì sao con khóc?” và phẩy cây phất trần biến điều ước trở thành hiện thực? Phật có câu “No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.”
“It’s a dirty world out there, but if no one agrees to do the cleaning, the whole country goes down a shit house.”- Vikas Swarup.
Tôi đủ tỉnh táo để hiểu những bài viết của tôi không đem lại 1 sự thay đổi cụ thể nào. Có 1 số người đã hỏi thẳng, tôi nhận được bao nhiêu tiền để viết. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho họ. Tôi sẽ không giải thích, tôi chỉ đơn giản trích 1 câu của Isabel Allende “How can one not write about war, poverty and inequality when people who suffer from these afflictions don’t have a voice to speak?” Nếu bạn hoàn toàn cho rằng việc viết lách là vô bổ, đừng quên trong chiến tranh không phải ai cũng tham gia chiến đấu, có những người chiến đấu bằng ngòi bút. Có những người đóng góp theo cách riêng của họ.
Mọi người biết việc viết lách không đem lại ích lợi gì nhiều. Vô số người đã viết. Vô số người đã lên tiếng. Không có gì được thay đổi. Bản kiến nghị phản đối dự án bauxite được rất nhiều người ký tên cuối cùng cũng bị bỏ mặc. Những người biểu tình phản đối TQ bị bắt. Blogger bị bắt và bỏ tù. Không có gì được thay đổi. Nhà nước vẫn tiếp tục làm việc của họ. Họ vẫn chặn facebook. Họ vẫn kiểm soát thông tin. Họ vẫn cấm nhắc tên Hoàng Sa Trường Sa trên game online. Họ vẫn treo băng rôn chúc mừng quốc khánh TQ. Họ vẫn xử tù người bất đồng chính kiến. Họ vẫn tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên. Họ vẫn tiến hành dự án điện hạt nhân. Họ vẫn cho thuê TQ thuê rừng đầu nguồn. Họ vẫn.. Họ vẫn…
Nhưng thay vì đặt câu hỏi tại sao tôi lại viết dù biết việc lên tiếng không đem lại ích lợi, tại sao bạn không hỏi vì sao đã rất nhiều người lên tiếng nhưng vẫn không có điều gì thay đổi? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn không quan tâm đến nhân dân? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang không đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống, và cả an ninh, lãnh thổ đất nước? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn blog, chặn website? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ không bao giờ giải quyết? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh không cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích VN không phải là nước tham nhũng nhất TG và quốc gia nào cũng có? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì tai nạn giao thông, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy “lô cốt”, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái không được phép cãi lời và “hàng xóm” không cần can thiệp? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân không biết họ là ai để bầu cho họ? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất kỳ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước đều có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?
Ở đây tôi chỉ muốn nói lên vấn đề ý thức. Tôi không có ý định tung hô nước ngoài như nhiều người sẵn sàng chụp mũ. Tôi chỉ đưa ra 1 vài so sánh. Trong ý thức người dân cũng như người lãnh đạo ở những quốc gia có tự do dân chủ, nhà nước được nhân dân bầu lên, và tồn tại vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Nhân dân đóng thuế nuôi các ông lãnh đạo, và khi các ông làm việc không tốt, các ông phải nghe phê bình, và có thể bị phế truất. Có rất nhiều người vẫn thường lầm lẫn giữa khái niệm yêu nước và yêu nhà nước. Tất cả đơn thuần chỉ là trò chơi đánh tráo khái niệm. 1 kiểu áp đặt thường thấy. Quốc gia dân tộc là cái trường tồn. Nhà nước là cái tồn tại tạm thời. Khi 2 cái đi ngược nhau, tôi không nghĩ tôi nên chọn cái ngắn thay vì cái dài. Có nhiều người sẽ bảo tôi là kẻ vô ơn. Rằng tôi sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, tôi ăn cơm trong chế độ này, tôi đi học trong chế độ này, tôi phải mang ơn thay vì phản chủ. 1 lần nữa phải nhấn mạnh, đây chỉ là vấn đề ý thức. Không biết vì lý do gì, dường như người dân VN có thói quen thường sợ hãi và mang ý thức mình đang mang ơn nhà nước. Trong khi thực tế nhà nước lập ra để lèo lái đất nước, và đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Tôi phải biết ơn à? Tôi đã nhìn thấy các ông lãnh đạo như thế nào. 1 tờ báo chính thức trong nước từng viết, phải mất 175 năm để VN đuổi kịp Singapore, với điều kiện Singapore đứng yên- điều này là không thể. GDP cũng tụt hàng trên TG. Tôi phải biết ơn đất nước vì đã độc lập, tự do, hạnh phúc à? Ta độc lập mà ta không dám nhắc đến mối quan hệ VN- TQ? Ta độc lập mà ta không dám biểu tình chống TQ? Hạnh phúc? Hạnh phúc mà sau này vô số người vẫn tìm cách bỏ đi, bằng cách này hay cách khác, hôn nhân, du học, lao động hợp tác, làm giấy tờ giả…? Hạnh phúc mà đa phần những người đã đi đều không muốn về nước sống?
Tôi sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Tôi không dám ở ngay trong nước hô hào. Tôi thừa nhận, có nhiều lúc tôi đã tự cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Tôi đi. Tôi không ở lại. Nhưng cách đây không lâu, ở trường tôi có buổi giới thiệu về 1 số trường ĐH ở Na Uy và ở những nước khác như Anh, Úc, Mỹ, New Zealand… có 1 tấm bảng có dòng chữ lớn: “Do something for your country: LEAVE.” May mắn được đi, tôi có những quyền tôi không thể có trong nước. May mắn được đi, bằng những bài viết, dù có thể là vô bổ, tôi đóng góp 1 phần nào đó. May mắn được đi, tôi có cơ hội mở rộng tầm nhìn, và so sánh sự khác biệt giữa 2 TG (tôi thích nói là 2 TG). Những người e ngại sự so sánh không thể nhìn thẳng vào những khuyết điểm và hạn chế của bản thân để chỉnh sửa và tiến bộ. So sánh là cần thiết. So sánh dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh giúp phát triển. Thử tưởng tượng, nếu cả 1 khu vực bạn sống chỉ có 1 tiệm giày. Bạn không còn lựa chọn nào khác, dù đẹp dù xấu bạn cũng phải vào đó mua giày. Nhưng nếu có khoảng chục tiệm giày, à không nhất thiết, có 2 tiệm giày thôi cũng được, bạn được quyền lựa chọn vào tiệm A hay tiệm B, và để thu hút khách hàng, mỗi tiệm dĩ nhiên phải cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tương tự với chính trị. Ồ vâng bạn sẽ nghĩ tôi là đứa tâm thần khi so sánh chính quyền với tiệm giày, nhưng tôi chỉ đang phân tích. Nếu có nhiều đảng, các đảng phải cạnh tranh nhau, đưa ra nhiều chính sách vì nhân dân và đất nước, và người dân dĩ nhiên sẽ bỏ phiếu cho cái đảng có nhiều chính sách tối ưu hơn. Nhưng nếu chỉ có 1 đảng duy nhất, và đặc biệt những người lãnh đạo không bao giờ bị bắt lỗi, không bao giờ bị phê bình, không bao giờ bị phế truất, các ông muốn làm bao lâu cũng được, ngồi đó bao lâu cũng được. Không phải rõ ràng là trong trường hợp đó, cái đảng duy nhất này có thể làm bất kỳ điều gì, kể cả những việc có hại cho đất nước sao?
Trong bài viết “Ai không muốn được tự do?”, tôi đã có đề cập đến sự tự do. Vấn đề chỉ là khái niệm về tự do. Khi con người đã sống quá lâu trong 1 xã hội nơi họ không được phép có tư duy độc lập và phát biểu ý kiến thực sự của mình, họ dần dần quên mất lẽ ra là con người, họ nên có quyền cất tiếng nói. Trong nghệ thuật, nếu có khuôn mẫu định sẵn và 1 dây xích kìm hãm, người nghệ sĩ không thể làm việc với toàn bộ khả năng của mình. Thiếu tự do, con người bị kìm hãm, khả năng bị giới hạn. Cũng như trong đời sống. Albert Camus từng nói “A free press, of course, can be good or bad, but most certainly, without freedom, a press will never be anything but bad.” Nói mỗi nước đều có tự do dân chủ, chỉ là chế độ khác biệt nên sự dân chủ có màu sắc khác nhau chỉ là lối né tránh cái thực tế chẳng có tự do dân chủ. Nói mỗi nước đều có vấn đề, không có chế độ nào hoàn hảo chỉ là 1 lối lấp liếm không dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm của mình.
Đúng, không có chế độ nào 100% hoàn hảo. Nhưng cho đến nay, qua thời gian, đến sự tiến bộ hiện nay của loài người, chế độ dân chủ được xem là lựa chọn tốt nhất. Nhưng có lẽ con chim bị nhốt quá lâu trong lồng khi nhìn thấy cửa mở cũng rụt lại không dám bay ra TG rộng lớn bên ngoài. Có lẽ con người sợ hãi sự thay đổi. Thay vì góp sức vào 1 sự thay đổi, thay vì đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính bản thân mình, họ ngồi yên chấp nhận thực tế và họ cách lơ đi những vấn nạn của đất nước. Erich Fried có câu nói nổi tiếng được viết ngay trên phần còn sót lại của bức tường Berlin tôi đã may mắn có dịp thấy tận mắt: “He who wants the world to remain as it is doesn’t want it to remain at all.”
Nếu muốn, tôi có thể đáp máy bay về nước, có thể để bị bắt và ngồi tù, lúc đó mọi người sẽ biết đến tôi, sẽ cuối cùng công nhận tôi chứng minh được những gì mình đang nói thay vì khoác lác phô trương, sẽ cuối cùng ban cho tôi 1 danh hiệu, hay 1 tấm bằng khen để sau này ra tù tôi treo trong nhà và tự hào giới thiệu mỗi khi khách đến, nhưng liệu điều ấy có giúp ích được gì không? Ý tôi không phải bảo việc ngồi tù là vô bổ. Tôi rất nể trọng và kính phục những người đã dám lên tiếng và chấp nhận việc ngồi tù là 1 cái giá của việc tranh đấu của mình. Tôi thực sự rất nể trọng họ. Và cảm thấy những gì mình làm chẳng là chút gì so với những gì họ đã làm. Và nhiều lúc cảm thấy bản thân là 1 kẻ hèn nhát đáng ghê tởm.
Nhưng..
Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy.
Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết.
Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste.
Đừng bảo tôi im vì bạn im.

Joyce Anne Nguyen
2/3/2010
haingoaiphiemdam.com

Tuesday, 2 March 2010

Ngàn nghĩa, vạn tình của Hồ Chí Phèo

Một lá thư từ trong nước chuyển đi cho biết trong đêm Giao Thừa, năm Canh Dần, có mấy đài truyền hình ở Việt Nam chiếu cảnh liên hoan, với bài “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông...” Bài này sáng tác trong thời kỳ Hồ Chí Minh đang cổ võ về “tình nghĩa” giữa hai đảng cộng sản. Cuối bài, một nam ca sĩ người Tầu và một nữ ca sĩ Việt cùng song ca điệp khúc, “Dân Nam ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông” giống như một khẩu hiệu để ghi nhớ mãi mãi.


Người viết lá thư cho đây là một cảnh rất đau lòng, khó tin nhưng có thật. Trong lúc các sinh viên Việt Nam đã biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và bị đàn áp, nhà trí thức đang báo động đồng bào về mối họa các công ty Trung Quốc sang khai thác bô xít ở Việt Nam, các mạng lưới bị phá và nhiều người bị bắt giam, ngay sau khi hai cựu tướng lãnh cảnh cáo việc cho người Trung Hoa thuê rừng trồng cây gây mối nguy về di dân bất hợp pháp, mà các cơ quan tuyên truyền của chính phủ Hà Nội lại ca ngợi những tình nghĩa của giữa ông Mao và ông Hồ, thì đây là một chuyện khó tin thật. Trong dịp Giao Thừa vừa qua, một nhà khoa học Việt Nam còn cho biết những dự án “thuê rừng” của người Trung Quốc có thể che đậy âm mưu tìm và khai thác uranium ở nước ta!
Tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam có thể “vô tri, vô giác” đối với những mối lo của người Việt Nam mà cứ liên hoan Mao Hồ như vậy?
Chỉ có thể đoán đây là một sáng kiến của các đồng chí Trung Quốc và các quan chức cộng sản nước ta không thể từ chối được. Chính phủ Bắc Kinh biết có thể sử dụng hình ảnh Hồ Chí Minh để “động viên” tinh thần của nhiều người Việt Nam thật thà, chất phác, nhiều người sống ở nông thôn vẫn đặt hình ông Hồ lên bàn thờ tổ tiên. Ðem ông Hồ ghép với ông Mao sẽ chinh phục được nhiều người Việt Nam mê ngủ. Vì chính lúc ông Hồ còn sống, ông đã chấp nhận và cho phổ biến những câu Chế Lan Viên viết,
“Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.”


Ðem Hồ với Mao ghép chung trong một câu hát, có thể vong linh ông Hồ còn hãnh diện nữa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó từ chối bài hát giao thừa “hữu nghị” này, vì họ không thể chối cãi được là suốt đời Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở mọi đảng viên rằng họ phải biết ơn đảng Cộng Sản Trung Hoa. Không những thế, còn phải công nhận cả nghĩa lẫn tình với các đồng chí phương Bắc nữa. Xưa nay người Việt Nam thường dùng hai chữ “tình nghĩa” khi nói đến anh em, vợ chồng. Hồ Chí Minh là người thứ nhất sử dụng hai chữ đó trong việc bang giao giữa hai nước.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 tháng 7, năm 1961.
Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng Sản Trung Quốc đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng cách mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác- Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam .” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.
Ngoài ra, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu hoạt động cũng ở bên Tầu và Cộng Sản Tầu còn giúp họ nhiều dịp khác. Ông Hồ lần lượt kể những mối ơn không thể chối cãi được đó.
Hồ Chí Minh đã tóm tắt những công ơn này với hai câu thơ,
Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,
Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!”
Ông Hồ là người nói năng khôn ngoan, đắn đo, cân nhắc từng chữ. Khi viết trên tờ báo chính thức của đảng thì chắc chắn ông còn thận trọng gấp bội. Khi ông nói Cộng Sản Việt Nam “chịu ơn Trung Quốc 100 phần, nhưng còn nặng nghĩa 1,000 lần và có tình đến 10,000 lần” thì chúng ta phải hiểu ông đã đo đếm, tính toán rất kỹ. Chịu ơn, người ta có thể trả ơn, chịu nghĩa cũng có thể đền đáp được, nhưng mối “tình một vạn” thì suốt đời cũng không bao giờ quên được.
Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.” Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chảy máu, nhưng bây giờ lại được các đồng chí Trung Quốc lập lại. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng Sản Việt Nam không thể từ chối được!


Vào năm 1961 đó, Trung Cộng vừa mới thất bại trong chiến dịch “Bước Nhẩy Vọt” của Mao Trạch Ðông, một chương trình kinh tế không tưởng làm hai chục triệu người Trung Hoa chết đói, có nơi nông dân phải ăn thịt lẫn nhau, nhưng Hồ Chí Minh vẫn hết lời ca tụng với Lưu Thiếu Kỳ, “Công cuộc vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của đảng Cộng Sản đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Ðông đã làm gương sáng cho nhân dân Việt Nam chúng tôi.” Ông Hồ cũng nhắc lại, “những thắng lợi cực kỳ vẻ vang của Trung Quốc đã cổ vũ những người cách mạng Việt Nam phất cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin...” Dân miền Bắc Việt Nam thời đó thoát chết vì trong lúc đó Hồ Chí Minh đã bắt đầu chương trình xâm nhập quân đội và vũ khí “chiếu cố miền Nam;” cho nên ông không thể thi hành một “Bước Nhẩy Vọt” ở phía trên vĩ tuyến 17, giống như ông đã theo ông Mao làm cải cách ruộng đất. Nếu ông rảnh tay “xây dựng chủ nghĩa xã hội” theo gương Mao Chủ Tịch thì chắc nhiều nông dân Việt Nam cũng phải chết đói, đoàn kết với các đồng chí Trung Quốc ở dưới suối vàng!
Ðiểm đáng chú ý là Hồ Chí Minh không những ca ngợi tình nghĩa giữa ông ta với cộng sản Trung Quốc, hay tương quan giữa hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc; nhưng ông ta còn kéo cả nước Việt Nam vào trong mối quan hệ đó. Ðây là một chủ trương ngoại giao rất nguy hiểm.
Nhưng Hồ Chí Minh có một tình cảm thắm thiết đối với Cộng Sản Trung Hoa, điều này chính ông đã nói ra. Những tình cảm này rất sâu sắc. Chính vì vậy nên ông mới nói đến “trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình.”
Trong bài viết chúc mừng 40 năm thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1961, Hồ Chí Minh đã viết một trang dài “Riêng về phần tôi...” để kể lại những tình nghĩa cũ càng đó. Ông thuật lại trong những năm 1924-1927, ông đến Quảng Châu, “tham gia công việc do Ðảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó.” Ông cho biết đã “được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc tuyên truyền đối ngoại.” Trong cuốn “Hồ Chí Minh: Những năm còn sót” của bà Quinn Judge, bà cho biết trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lấy những tài liệu được phép thông dịch đó để gửi về báo cáo cho Stalin, coi đó là công tác tuyên truyền của chính mình. Ðó cũng là một mánh khóe để xin tiền của Ðệ Tam Quốc tế.
Khoảng cuối năm 1938, Hồ lại sang Trung Quốc lần nữa, và lần này, chính ông kể lại trong bài báo trên, “Là một người binh nhì trong 'Bát lộ quân' tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó được bầu làm bí thư chi bộ của một đơn vị ở Hành Dương.” Tức là ông Hồ đã từng đi lính cho ông Mao, và làm đến chức binh nhì như ông tự giới thiệu (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, trang 367).


Nhưng công ơn của Cộng Sản Trung Quốc lớn hơn nữa. Cũng trong bài báo trên, Hồ Chí Minh cho biết, “Trong lúc đó, các đồng chí Trung Quốc ra sức giúp tôi chắp liên lạc với trong nước ta. Ðây là một công ơn lớn,” vì ông Hồ kể một đồng chí trong nước đã sang Tầu tìm gặp ông Hồ nhưng đã bị một người bạn xoáy hết tiền, phải quay trở về. May mắn, “Nhưng sau đó, các đồng chí Trung Quốc vẫn giúp tôi chắp được liên lạc để về nước hoạt động.”
Vì vậy cho nên Hồ Chí Minh không những chịu ơn Cộng Sản Trung Quốc mà ông còn cảm thấy có nghĩa và có tình nữa. Có nghĩa, vì chính Cộng Sản Trung Quốc nhận ông làm lính rồi “chắp được liên lạc” cho ông trở về Việt Nam . Có tình, một thứ tình “huynh đệ chi binh” vì ông đã làm binh nhì trong Ðệ Bát Lộ Quân. Một bác sĩ Trung Quốc kể lại nụ cười cuối cùng của Hồ Chí Minh trước khi qua đời là lúc ông yêu cầu được nghe một bài dân ca Trung Quốc, và một cô y tá người Trung Hoa đã hát cho ông nghe. Sau đó, ông mê man, không bao giờ cười nữa.
Trong đoạn kết luận bài báo năm 1961, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh một lần nữa là hai đảng cộng sản “có cảm tình khắng khít thương yêu nhau như anh em một nhà” (Sách trên, trang 368). Ðó chính là nguồn gốc của những mối họa mà các nhà trí thức trong nước, kể cả các vị tướng về hưu, đã báo động.
Trong bang giao quốc tế, một điều ai cũng biết, là các quốc gia không coi nước nào là bạn, mà cũng không coi ai là kẻ thù; họ chỉ nghĩ đến quyền lợi đối với nhau thôi. Khi kéo quốc gia mình, bắt cả nước phải làm bạn “ngàn nghĩa vạn tình” với một quốc gia khác, là tự trói tay trói chân, không cho đồng bào mình tự do hành động nữa. Các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh đã mắc phải lầm lỡ nặng nề này.

Họ gây ra cuộc chiến Nam Bắc trong 20 năm cũng chỉ vì muốn cộng sản hóa cả nước Việt Nam , theo chương trình của cộng sản quốc tế do Nga và Trung Quốc lãnh đạo. Ngày nay, họ vẫn gắn bó với Trung Quốc bằng “16 chữ vàng” cũng chỉ vì đã bị ràng buộc bởi những “ngàn nghĩa, vạn tình,” di sản do Hồ Chí Minh để lại./-

Ngô Nhân Dụng

Monday, 1 March 2010

Trốn Chạy

Cụ ở cùng lều với tôi, tại Subic Bay – Phi luật Tân - từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975, sau khi tôi rời khỏi Sàigòn bằng đường biển vào trưa ngày 30-4-1975 ngay sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng Sản.
Không biết cụ tới đây lúc nào, chỉ biết khi tôi đặt chân lên hòn đảo tuyệt đẹp này thì đã thấy cụ ở đây rồi. Tên cụ là Tường - Lê văn Tường - người huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá, Bắc Việt. Dáng người gầy nhưng trông còn khang kiện, năm đó cụ vào khoảng 65, 66 tuổi với những nét nhăn trên trán, trên má và chòm râu bạc trắng như cước.
Ngày ba bữa cụ rủ tôi đi lấy cơm từ một nhà ăn rộng lớn do Chính Phủ Hoa Kỳ đài thọ, với số người làm bếp đủ để phục vụ mười lăm ngàn đến hai mươi ngàn người trên đảo mà tất cả toàn là người Việt tị nạn, sau khi đã đào thoát khỏi Việt Nam trước hoặc sau ngày 30-4-75. Mỗi buổi chiều, khi lấy đĩa cơm xong, tôi với cụ Tường thường mang ra bờ đá trước nhà ăn, sát chân sóng, vừa ăn vừa nói chuyện, có khi tới tối mịt mới trở về lều. Trong câu chuyện cụ kể cho tôi nghe, có câu chuyện vô cùng thương tâm của chính gia đình cụ mà hôm nay tôi viết lên đây để cống hiến bạn đọc. Và sau đây là lời cụ Tường.
“Thanh Hóa được kể là một trong những tỉnh Chính phủ Cộng Sản Hà nội dùng làm thí điểm trong những đợt người Cộng Sản gọi là “Ðấu tranh chính trị, đấu tố địa chủ, cường hào ác bá” hay “Cải cách ruộng đất” tại Bắc Việt. Trước Hiệp Ðịnh Genève năm 1954, nghĩa là trước khi Cộng Sản hoàn toàn làm chủ đất Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, trong khi những vùng khác không có thì tại Thanh Hoá cũng đã có những cuộc đấu tố, hiến điền rầm rộ rồi. Trong những cuộc đấu tố đó, biết bao nhiêu lương dân đã gục ngã, biết bao gia đình đã tan nát chỉ vì chính sách quá thâm độc, dã man của Cộng Sản. Cộng Sản không muốn bị mang tiếng là cướp ruộng đất của dân nên chúng đánh thuế thật nặng qua những cuộc “lượng giá” ruộng tốt, ruộng xấu để đóng nhiều hoặc ít lúa cho Chính phủ mà những nông dân ngồi bình nghị là chính những người được chúng huấn luyện để làm công việc đó. Vì vậy, nhiều gia đình, nhất là những gia đình địa chủ trước kia, đã phải “lậy” mà dâng ruộng đất cho chính phủ, Cộng sản gọi là “hiến điền”.
Số lương dân bị đấu tố và bị chết trong vùng rất nhiều, tôi không thể nhớ hết. Chỉ xin kể ra vài trường hợp điển hình trong đó có một linh mục Công giáo, cha Phạm Tần - sau này lên Giám mục - và thân phụ tôi, một người tôi kính yêu suốt đời.


Cha Tần ở xứ Phúc Lãng, huyện Quảng Xương, bị Cộng Sản đưa ra đấu tố vì Cộng sản muốn diệt ngài, diệt một người có uy tín với giáo dân, có thể kích động giáo dân nổi lên chống Cộng Sản, chống những sự tham tàn, độc ác của Cộng Sản. Dù là một người không Công giáo, tôi cũng biết rõ điều đó.
Bọn Cộng Sản đánh cha hai trận bằng tầu lá cọ có gai nhọn và cứng dài đến hai đốt ngón tay, đánh từ chập tối đến nửa đêm, cho đến khi cha ngất đi không còn biết gì nữa mới thôi. Trong trận đấu tố này, chúng dùng một đứa con gái tên Chữ, khoảng 21, 22 tuổi. Bố mẹ con Chữ đang là câu, sãi cho nhà xứ Phúc Lãng, từ lâu vẫn sống nhờ sự giúp đỡ của các cha. Bọn cán bộ Cộng sản dạy con Chữ cách căm thù cha Tần. Ðầu tiên chúng nhồi vào đầu óc đứa con gái ngu dại này rằng chính cha Tần và các linh mục trong nhà xứ đã bóc lột sức lao đông của cha con nó từ bao lâu nay. Lẽ ra gia đình nó phải được ăn sung mặc sướng, có nhiều tiền, nhiều thóc như nhà xứ Phúc Lãng. Nhưng vì cha Tần tham lam, không trả công tương xứng nên cha Tần chỉ làm giầu cho chính mình trong khi gia đình nó nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc. Bọn cán bộ còn bắt con Chữ phải dựng đứng câu chuyện bỉ ổi là trước mặt dân chúng, con Chữ phải nói ràng chính cha Tần đã bắt nó phải ngủ với ông bao nhiêu lần, đã trêu ghẹo nó, làm tầm bậy tầm bạ làm sao vv... Cán bộ Cộng Sản cũng bắt con Chữ và mọi người phải gọi là “thằng Tần” chứ không được gọi là cha Tần như trước. Ðến ngày đấu tố, bọn cán bộ vào nhà xứ lôi cha Tần ra trước sân cuối nhà thờ, ở đó dân chúng đã bị thúc đẩy đi dự đấu tố đông nghẹt một sân rộng. Con Chữ đã làm tất cả những gì bọn Cộng sản muốn, kể cả việc nó trùm váy của nó lên đầu cha. Và sau đó là những trận đòn cho đến khi ngất đi.
Cần phải để ý là bọn cán bộ không dùng những người ngoài Công giáo để đấu tố các cha. Chúng dùng ngay những người Công giáo và dùng ngay chính những kẻ xưa nay được tiếng là thân tín với các cha để đấu tố các cha. Như cha Tần, sau khi bị đánh lần thứ hai, chúng tưởng ngài chết rồi nên gọi giáo dân đến khiêng về nhà xứ mà chôn. Lúc ngài được khiêng vào phòng khách nhà xứ, một người đàn ông tên Mạnh và con Chữ quì xuống nắm lấy tay ngài khóc, nói:
“Chúng con bị bọn cán bộ bắt buộc phải đấu tố cha, phải nói dựng đứng những chuyện cha không có. Chúng con đã đấu tố bậy. Xin cha tha lỗi cho chúng con.”
Nhưng cha Tần đã hôn mê, ngài còn biết gì nữa đâu. Tất nhiên sau đó bao nhiêu ruộng của nhà xứ Phúc Lãng mà chúng buộc là của cha Tần, bị xung công gần hết, chỉ còn để lại mấy sào không đủ nuôi vài miệng ăn trong nhà xứ.
Sau đó đến cha Thước, xứ Thổ Ngõa. Cung cách chúng dùng để đấu tố cha Thước cũng y như những bài bảng đã áp dụng cho cha Tàn. Chúng muốn hạ uy tín các linh mục là những cán bộ nòng cốt của Giáo hội để không một giáo dân nào tin tưởng và tuân phục mệnh lệnh các cha và chúng tiến đến dần đến chỗ tiêu diệt tôn giáo.”
Cụ Tường nói một thôi không nghỉ. Giọng cụ lẫn vào tiếng gió và sóng biẻn vỗ vào bờ đá làm tôi có cảm tưởng những linh hồn oan khuất của những lương dân vô tội bị Cộng sản giết oan trong các đợt đấu tố dã man như đang hiển hiện về đây nói cho chúng tôi nghe những căm hờn uất hận khôn nguôi. Cụ Tường ngưng một lúc, lấy trong túi áo ra một cái ví nhỏ xíu như của đàn bà vẫn dùng. Cụ mở ví lấy ra một tờ giấy mỏng, lấy thuốc lá sắp đều lên tờ giấy. Cụ vấn thuốc hút. Tôi phải giúp cụ bằng cách ngồi che gió và bật quẹt cho cụ. Khi điếu thuốc đã cháy, cụ rít một hơi, thở khói, nói:
“Tôi đã bỏ hết quần áo sau khi chuyển qua mấy chiếc tầu nhưng cố giữ ít thuốc vấn vì tôi hút thuốc lá của Mỹ nóng lắm, chịu không được. Ông tính cuộc đời của tôi còn gì. Bố chết phải bỏ nằm đấy mà chạy. Hai lần bỏ vợ, bỏ con. Bây giờ trôi dạt ở đây một thân một mình...”
Tôi an ủi cụ:


“Thôi cụ ạ, vận nước. Vả lại chẳng qua cũng cái số. Cụ có buồn cũng không ích gì.”
“Vẫn biết thế, ông Vũ ! Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy buồn. Buồn cho nước, cho đồng bào bị cái khổ nạn không biết bao giờ mói qua. Buồn cho gia đình, cho thân thế mình, những người liên hệ với mình, cả một cuộc đời long đong lận đận đầy khổ nhục và nước mắt. Rồi mai sau, với cái hiện tại như thế thì con cháu mình sẽ ra sao, sẽ là cả một cuộc đời tăm tối ở trước mặt, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Thôi được, tôi nói tới đâu rồi, hả ông Vũ ?”
“Dạ, thưa cụ đang nói đến chỗ bọn cán bộ đấu tố cha Thước cùng một kiểu như cha Tần ...”
Cụ Tường nâng ly nước vừa lấy từ nhà ăn lên nhấp một ngụm:
“Ờ, ờ, tôi cũng cần phải thêm với ông rằng bọn cán bộ ghép cho các linh mục cái tội “phong kiến” để đem ra đấu tố. Ông có biết sau khi cha Tần bị đánh bằng cái tầu lá cọ , gai đâm vào người cha lấy kìm nhổ ra được gần một chén ăn cơm. Gai đâm khắp mình mẩy, chỉ trừ đầu là chúng chừa ra mà thôi vì sợ đánh vào đầu sẽ chết mau. Ông thấy chúng dã man chưa ? Các linh mục, như tôi nói, chúng dùng toàn người Công giáo để đấu tố; một số địa chủ thì chúng dùng toàn người làm, tá điền và chúng bắt cả con cái phải đấu tố cha mẹ như trường hợp cụ Cai Bái ở làng Gia Ðại. Cụ Bái có hai người con trai, một người làm tới chức Chủ tịch Tiểu khu, người kia là Cán bộ Liên khu 3, thế mà hai người này phải về đích thân đấu tố, chửi bố mẹ là địa chủ phú nông bóc lột vô sản, thậm chí nhổ nước miếng vào mặt bố mẹ, đứng nhìn cho những con vợ tá điền trùm váy vào mặt bố mẹ. Tôi hỏi ông, chủ nghĩa vô luân như thế thì còn trời đất nào không ?”
“ Thưa cụ đúng. Chủ nghĩa nghịch lòng dân, trái đạo trời làm sao đứng vững được.”
Tôi thấy gió bắt đầu lạnh, trời cũng đã muộn muộn mà ông cụ có vẻ không được khoẻ, bèn đề nghị:
“ Nghe chuyện cụ thâu đêm còn muốn nghe, nhưng có lẽ đã hơi lành lạnh. Mời cụ về nghỉ, mai lại xin cụ cho nghe tiếp.”
Thu nhặt chén đĩa giấy, tôi đem bỏ vào một cái thùng phuy lớn gần đó rồi cùng cụ trở về lều. Mặt biển đen thẫm mênh mông trước mặt với vài ngọn núi nhỏ trơ vơ. Tiếng sóng đập vào ghềnh đá bộp bộp thành một âm thanh đều dều nghe thật buồn nản. Nỗi kinh hoàng mới vài tuần trước đây tại Sàgòn khi Sàigòn rơi vào tay Cộng Sản cùng với nỗi đau đớn của cái cảnh quốc phá gia vong làm cho thần trí tôi nhiều lúc mê muội đi không còn nghĩ mình đang sống hay đã chết, hoặc sống nhưng là sống với cái xác không hồn. Một phút bỗng tiêu tan hết, một phút sụp đổ hết. Số phân mình cùng với số phận của đồng bào và cả quốc gia dân tộc. Ðau đớn biết chừng nào ! Những lời an ủi cụ Tường lúc nãy cũng chính là những lời tôi tự an ủi.
Tôi và cụ Tường chui vào lều. Ðám trẻ đã rủ nhau đi coi xi-nê . Mỗi tối, quân đội Mỹ có ba, bốn chỗ chiếu phim để giải trí cho đồng bào tị nạn. Có những gia đình đi được cả vợ chồng con cái, ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng. Họ vui như Tết và có thể họ mang được vàng bạc, đô-la theo. Họ thấy cuộc di tản này quả có lý. Ngày ba bữa, cả gia đình mấy chục người sắp hàng đi lấy cơm ăn xong ra bờ biển chơi, tối xem xi-nê. Họ vừa lòng với cảnh di tản và không có một điều gì phải lo nghĩ. Trái lại, có nhiều gia đình vợ mất chồng, con mất cha, anh em tứ tán. Họ buồn rầu, khổ sở, lo lắng. Có những người ngồi khóc cả ngày. Thậm chí có người sang tới Guam rồi ghi tên xin trở về Việt Nam. Có lần tôi hỏi cụ Tường:
“Người ta kẹt gia đình ở Việt Nam nên có nhiều người xin trở về. Cụ nghĩ sao ?”
Nét mặt rầu rầu, cụ đáp:


“ Tôi bỏ lại nhà tôi và 5 đứa con tại Sàigòn. Tôi cũng đau khổ lắm chứ. Nhưng bảo trở về sống với Cộng sản thì nhất định không. Thà tôi chết dập chết vùi nơi đây còn hơn. Ông Vũ tính coi, tôi đã sống với chúng và chúng đã bắt chúng tôi phải làm tập thể, ăn tập thể. Ðàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Mỗi buổi sáng đánh một tiếng cồng thì ra đồng làm. Trưa đánh một tiếng cồng thì về ăn cơm. Có ban hoả thực riêng lo việc nấu nướng. Chiều lại ra đồng làm rồi tối lại về. Ăn cơm tối xong, họp hành kiểm thảo đến nửa đêm mới được đi ngủ để sáng sớm lại ra đồng. Con người như cái máy chả còn gì là sinh thú của cuộc đời nữa. Vợ chồng thì ba, bốn tháng chúng cho gặp nhau một lần. Chết đem ra đồng chôn. Sống như thế thì ông bảo tôi trở về để làm cái gì ? Tôi quá sợ cái chế độ đó rồi.”
Ngày hôm sau, cụ Tường và tôi đi lấy cơm sớm hơn. Lại ra chỗ cũ ngồi va cụ lại kể tiếp:
“Hôm nay tôi kể cho ông Vũ nghe về cái thảm cảnh của gia đình tôi, cái thảm cảnh mà mỗi lần kể là tôi lại khóc.
Hồi đó, ông bố tôi làm Chánh tổng, tổng Thủy Cơ. Phải biết tỉnh Thanh Hoá có bẩy phủ, bẩy huyện và tổng Thủy cơ. Tổng Thủy Cơ bao gồm tất cả các thuyền bè đậu ở khắp nơi thuộc về tỉnh Thanh Hoá. Nói thế chắc ông Vũ cũng mường tượng ra Tổng Thủy Cơ lớn như thế nào. Dân số trong tổng Thủy cơ rất đông và chức Chánh tổng tổng Thủy Cơ cũng được coi ngang hàng với các chức tri huyện, tri phủ trong tỉnh. Trong đợt đấu tố đầu vào những năm 1950-51, bố tôi thoát được vì ông tìm cách khéo léo với cán bộ xã, huyện để chúng khỏi báo cáo lên cấp trên. Nhưng đến đợt cải cách ruộng đất năm 1956-57 thì chúng đem bố tôi ra đấu tố. Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây là sau Hiệp định Genève tháng 8 năm 1954, dân Thanh Hoá, cả Công giáo và không Công giáo đều muốn di cư vào Nam. Số người muốn ở lại với bọn Cộng Sản đa số là cán bộ hoặc liên hệ gia đình với cán bộ, không có bao nhiêu. Nhưng bọn cán bộ rất tinh quái. Chúng tìm đủ mọi cách để ngăn chặn làn sóng di cư vào Nam, y như nhiều nơi khác. Có những gia đình rục rịch trốn đi, chúng biết được liền cản trở và để tâm trả thù, làm hại. Gia đình tôi muốn đi lắm lắm, nhất là bố mẹ tôi, thế mà không sao đi được. Chúng tôi biết chỉ có vào Miền Nam sống dưới chế độ Quốc gia thì mới có tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. Còn ở với bọn chúng thì mất hết tự do, chẳng những vậy, gia đình tôi bị chúng để ý theo dõi, ngộp thở lắm ông à !
Tháng 9 năm 1956, nhân cái đợt gọi là “Cải cách ruộng đất” do tên đồ tể Trường Chinh phát động, bọn cán bộ đem bố tôi ra đấu tố. Chúng ghép cho bố tôi cái tội là địa chủ bóc lột tá điền, trước kia là Chánh tổng tổng Thủy Cơ ăn hối lộ và bóc lột dân thuyền bè sinh sống trên sông nước. Chúng kể ra cho bố tôi một trăm thứ tội. Nào là ngủ với vợ thằng tá điền này, đánh thằng tá điền kia, không cho vay lúa thóc, bỏ đói những tên tá điền khác. Còn mẹ tôi thì chúng ghép vào tội cho tá điền vay lúa thóc lấy lời nặng, trả công người làm với giá lương quá thấp, chết đói vv... Chúng đem trói bố mẹ tôi vào một cái cọc trước sân đình rồi cho các tá điền trước đây làm cho bố mẹ tôi cứ thế mà chửi rủa, quát tháo, lăng nhục. Con vợ một thằng tá điền tên Cam đã đứng vén váy đái vào đầu bố tôi, còn mẹ tôi thì nó tát cho sưng cả mặt. Chúng định đưa cả tôi ra đấu tố vì chúng đã ghép tôi vào hàng địa chủ. Vả lại, trước kia tôi có giúp đỡ bố tôi trong công việc hàng tổng, lo về giấy tờ hộ tịch mà người ta gọi tôi là hộ lại của Tổng Thủy Cơ. Nhưng hình như có một vài đứa đề nghị sao đó, nói rằng nên để tôi vào đợt sau thì hơn vì đem tôi ra đấu cả đợt này cùng với bố mẹ tôi thì e rằng nhân dân sẽ cho là nhà nước tư thù gia đình tôi, đem tất cả ra mà đấu tố. Nhờ thế mà tôi thoát chết.
Sau khi chúng đấu tố bố mẹ tôi và đánh đập mắng nhiếc suốt một ngày trời thì chúng cho về, bảo rằng sẽ còn đưa ra đấu tố một lần nữa vào một tuần sau. Chúng ra hạn cho bố tôi phải làm bản tự thú hết mọi tội lỗi, những tội tưởng tượng mà chúng đưa ra đều phải nhận hết, đồng thời xin Chính phủ, Ðảng và nhân dân tha tội. Mục đích của chúng là khi đã nắm được bản thú tôi của bố tôi thì mọi chứng cớ đã hiển nhiên, tờ thú tội phù hợp với những lời khai gian, vu cáo của bọn tá điền. Rồi, từ đó, chúng sẽ tịch thu hết ruộng đất, tài sản của gia đình tôi bằng một toà án nhân dân do chúng lập ra.


Sau trận đấu tố đó, bố tôi về mang bệnh nằm liệt giường. Mẹ tôi thì đỡ hơn nhưng ông nghĩ coi, tuổi già sức yếu, các ngài làm sao chịu được những điều khổ nhục đau đớn như thê ? Ngày xưa, mọi người đều gọi bố tôi là cụ Chánh (Chánh tổng), bây giờ chúng bắt mọi người phải gọi bằng thằng. Chúng cô lập gia đình nhà tôi. Ðem đồ đi chợ bán, chúng không cho người ta mua, nếu chúng tôi muốn mua những đồ cần thiết,chúng cũng không bán. Chúng cấm mọi người liên lạc, lui tới. Chúng rình rập đêm ngày và làm mọi cách để khủng bố tinh thần người trong nhà. Chúng cho người ta có cảm tưởng rằng giầu là một trọng tội, dù giầu bằng sự cần cù, chân chỉ, làm ăn lương thiện. Còn ra làm việc dưới thời Pháp thuộc, dù làm để giúp dân giúp nước, làm một cách ngay thẳng thanh liêm cũng là có tôi, có trọng tội đối với chúng. Tôi chỉ lấy làm lạ rằng sao hồi đó Việt cộng ghét thực dân Pháp đến thế mà bây giờ, sau 30 năm kể từ ngày 19-8-45, Việt cộng lại o bế Pháp hơn ai hết, thân thiện với Pháp hơn bất cứ nước nào. Vậy mà trước Hiệp định Genève 1954,người dân nào bị chúng gán vào tội Việt gian tay sai cho Pháp thì chỉ có chết, không cách gì sống nổi. Thật kỳ lạ cho cái miệng lưỡi của Cộng Sản.”
Cụ Tường lại lấy thuốc ra vấn, thông lệ của cụ sau mỗi bữa ăn. Hôm nay gió nhẹ chứ không thổi mạnh như hôm qua. Mặt trời đỏ ối đang từ từ chìm dần xuống mặt biển. Vài chiếc tầu đậu tít ngoài khơi hiện hình trên đám mây trắng trôi nổi trên nền trời xanh. Một đám trẻ hò hét ầm ĩ thả những chiếc tầu nhỏ xíu chúng gấp bằng giấy xuống biển và ngồi trên bờ nhìn cho chúng trôi. Thỉnh thoảng một cái kỳ đen của một con cá lớn chạy dài trên mặt nước làm đám người đứng trên bờ hô hoán lên là kỳ của cá mập.
Tôi móc thuốc lá ra - bao Winston - hút với cụ Tường một điếu cho vui. Ðám người ngồi hóng gió thưa dần. Họ trở về lều hay chuẩn bị đi xi-nê. Chiều xuống lặng lẽ với vài tia nắng mờ nhạt còn thoi thóp trên lùm cây cao phía chân núi. Tôi chìm đắm trong nỗi buòn thấm thía, không biết rồi tương lai của mình sẽ đi về đâu.
Kéo xong vài hơi thuốc, cụ Tường lại tiếp tục:
“ Lẽ ra một tuần sau đó chúng lại đưa bố tôi ra đấu tố một lần nữa như chúng đã nói. Nhưng vì ông bố tôi đau nặng quá không lết nổi, nên chúng tuyên bố hoãn lại cho đến khi nào ông cụ khỏi. Tuy vậy, chúng vẫn cô lập và rình rập gia đình tôi đêm ngày. Mẹ tôi muốn mua bán thứ gì phải nhờ người em họ, chồng cô ấy vốn làm việc cho chúng từ hồi còn bí mật, để cô ấy mua bán giùm những thứ cần thiết và đến tối mới chui bụi tre phía sau đem vào cho chúng tôi. Dạo đó tôi đã có vợ và 4 đứa con. Gia đình tôi ở cách nhà bố mẹ tôi khá xa. Vả lại, như tôi đã nói, tôi chưa phải là mục tiêu của bọn chúng lúc đó vì vậy còn được thong thả đi lại, nhưng cứ nghĩ đến cái tai nạn bố mẹ đang phải chịu, tôi không cầm được nước mắt. Sau ba tháng, bố tôi hồi phục nhờ vì bà cô lén mua thuốc bắc giùm tại một ông lang mãi tận Ba Làng. Sắc thuốc thì phải sắc lén kẻo mùi thuốc bắc đánh sang hàng xóm, bọn công an vào khám được thì tội càng nặng thêm. Ðồ ăn đồ uống có cái gì ngon cũng phải xào nấu lén. Mua đượcmột con gà để nấu cháo cho bố tôi ăn cho chóng khỏi, phải cắt tiết ở ngoài cánh đồng, còn lông thì đem chôn ở góc vườn. Ăn giấu, ăn đút còn hơn là kẻ có tội nữa. Tôi chưa thấy cái chánh sách nào kỳ cục như thế.
Chỉ còn mười ngày nữa là đến tết Ðinh Dậu (1957), bọn cán bộ đến báo cho bố mẹ tôi là chúng sẽ đem bố mẹ tôi ra đấu tố một lần nữa vào đúng ngày hăm ba tháng chạp năm Bính Thân, ngày ông Táo chầu trời. Trước đó, tôi cũng đã dược biết qua một người bạn rất thân đang làm việc với chúng là sau bố mẹ tôi thì sẽ đến lượt tôi. Tội nghiệp bố tôi, nào ông cụ đã khoẻ hẳn đâu cơ chứ. Mới hơi hơi lại người sau một cơn đánh đập tàn ác thập tử nhất sinh, thiếu thuốc, thiếu đồ bồi dưỡng. Ông cụ mới đi đi lại lại được trong sân nhà và từ nhà trên xuống nhà bếp thì chúng lại đưa ra đấu tố nữa. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa vốn xưa kia là tá điền của bố tôi, bố tôi coi chúng như con, lấy tô rất nhẹ lại còn dựng vợ gả chồng cho chúng, cho tiền, cho thóc đối đãi hơn cả cháu ruột. Thế mà giờ này chúng nghe theo lời bọn cán bộ nhất định giết bố tôi cho bằng được. Ðối với chúng, “Trí, Phú, Ðịa, Hào, đào tận gốc trốc tận rễ” còn phải căm thù hơn cả giặc xâm lăng. Chúng muốn cho toàn dân ngu dốt và nghèo đói để chúng dễ cai trị và chỉ có một giai cấp thống trị là bọn chúng.


Chiều hăm hai tháng chạp, bố tôi gọi tất cả con cái tề tựu lại trước bàn thờ tổ tiên. Có vài người chị gái tôi lấy chồng xa không thể đến được, còn thì tất cả đều hiện diện đầy đủ. Vì là gần Tết, bon cán bộ mải đi sám sửa tét nhất nên chúng lơ là việc canh chừng gia đình toi nên mọi người mới tề tựu đông đủ được. Khi con cái đã ngồi trên mấy cái chiếu trước bàn thờ, bố tôi sai tôi đi thắp hương và nến lên. Cụ mặc quần áo trịnh trọng, đội khăn và đi giầy tử tế rồi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn và lễ. Xong cụ đúng bên cạnh để mẹ tôi, rồi lần lượt đến chúng tôi, ai ai cũng đều khấn vong linh ông bà tổ tiên và lạy trước bàn thờ. Mẹ tôi và mấy đứa em gái thấy khung cảnh trang nghiêm và cảm động, lại nhớ đến hoàn cảnh đau đớn của gia đình, bất giác bật khóc. Bố tôi thấy vậy không cho khóc, cụ nói bọn cán bộ nghe được thì chúng giết cả nhà. Vì vậy chỉ còn nghe những tiếng nấc tức tưởi với hàm răng nghiến chặt cho tiếng khóc khỏi bùng ra. Lễ xong, bố tôi bảo mọi người ngồi xuống chiếu, còn cụ thì ngồi ngay chính giữa sập, mẹ tôi ngồi một góc bên cạnh. Cụ dõng dạc nói:
“ Nhà ta từ các cụ cho đến đời bố mẹ đều cố gắng ăn hiền ở lành. Làm việc cho hàng tổng thì bố cố giữ thanh liêm vì nhà ta có bát ăn bát để từ lâu, đâu có thiếu thốn gì mà phải đào khoét của dân. Còn ruộng nương, điền thổ trong nhà là do ông bà để lại, tá điền cấy rẽ thì lấy tô thật nhẹ, nhẹ hơn người ta nữa thế mà từ ngày chánh phủ mới lên, họ khép cho bố những tội tầy đình, nào địa chủ bóc lột, nào cường hào ác bá. Họ đã đem bố ra đấu tố một trận và kết quả là bố tưởng chết ngay sau đó. Bây giờ mới tỉnh dậy được một tí, họ lại đem ra đấu tố nữa. Bố nghĩ trước sau bọn cán bộ cũng sẽ tìm cách giết bố cho bằng được, mà giết một cách khổ nhục, ê chề. Vì vậy, có thể lúc lâm chung bố không còn kịp gặp mẹ và các con, ngày hôm nay bố gặp mẹ và các con một lần cuối.”
Bố tôi nói đến đó thì nghẹn lời, cụ không nói tiếp đuợc nữa vì quá cảm động. Mà mẹ tôi với anh em chúng tôi cũng không cầm được nước mắt, tiếng khóc oà vỡ ra như nước lũ phá bờ đê. Bố tôi thấy vậy, nghĩ là quá nguy hiểm nên khoát tay ngăn mọi người và nói:
“Bà và các con cấm không được khóc. Khóc tụi nó nghe thấy thì còn khổ hơn. Hãy nghe đây! Sau khi bố chết rồi thì cả nhà may ra sẽ được yên với chúng nó hơn, vì cái gai là bố chúng nó đã nhổ được rồi. Chỉ có thằng Tường có ra làm việc với tổng mà lại có tư điền mấy chục mẫu vậy sau bố có lẽ chúng nó để ý dến con. Con liệu xem có cách nào trốn để bảo toàn được cái mạng chứ con ở nhà thì bố chết không nhắm mắt đâu.”
Nói xong, ông cụ bảo mọi người giải tán rồi vào trong buồng nằm. Tôi cũng trở về nhà vì lúc đó cũng gần tối.
Ðêm hôm đó tôi không ngủ được. Phần nghĩ rằng ngày mai chúng sẽ đưa bố tôi ra đấu tố, có lẽ lần này bố tôi chết nên ông cụ đã trối trăn hết tất cả. Cứ nghĩ đến một đời bố tôi lo lắng cho mẹ tôi và chúng tôi, ăn hiền ở lành, người trong tổng Thủy Cơ, ngay cả nhiều nơi trong tỉnh Thanh Hoá cũng quí mến bố tôi vì tinh thần hay cứu giúp người và làm việc nghĩa. Thế mà bây giờ bọn chúng thù ghét bố tôi đến như thế, không muốn để bố tôi sống nữa. Về phần tôi là con trai cả trong gia đình, tôi có bổn phận nhiều hơn các chị và các em tôi để nhang khói cho ông bà cha mẹ. Nhưng tôi biết rõ, sau bố tôi là đến lượt tôi vì vậy bố tôi hết mực khuyên tôi phải cao chạy xa bay thì mới bảo toàn được mạng sống. Tôi có hai người đồng chí cùng muốn trốn với tôi. Người thứ nhất là bạn cùng làm việc trong hàng tổng, giữ chức thư ký, tên anh ta là Các, cũng trạc tuổi tôi, có vợ và năm đứa con. Người thứ hai là ông thầy bên Công giáo vẫn gọi là thầy Ðiền, đang dạy trẻ tại xứ Thổ Ngoã. Từ hôm cha Thước bị đem ra đấu tố vì mỗi cái tội bị ghép là “phong kiến”, ông thầy Ðiền đâm ra sợ hãi quá chừng. Ông tìm gặp tôi vì trước kia ông hay đến nhờ cậy bố tôi và tôi việc hàng tổng. Ông dám nói thật với tôi ý định trốn đi vì ông biết tôi cũng đang tìm đường trốn và có thể tin cậy tôi được. Có lẽ nay mai tôi phải kiếm cách gặp hai người đó để bàn tính ngày lên đường vì nghe đồn đã có ít người trốn được vào Nam rồi.


Hai giờ đêm đó, con bé cháu con cô em tôi (ở chung nhà với bố mẹ tôi) đến báo cho tôi hay bố tôi đã mổ bụng tự sát. Nó nói sau khi con cái về hết rồi, bố tôi đi lấy một con dao đi rừng thật tốt đem ra mài. Cả nhà cứ nghĩ có lẽ tết gần đến, cụ mài dao như mọi năm, để có thái thịt thái rau gì chăng nên chẳng ai để ý. Mài dao xong lại thấy cụ vào phòng nằm. Ðến hai giờ đêm, mẹ tôi nghe tiếng bố tôi rên la nhè nhẹ, liền thắp đèn lên chạy vào thì thấy máu đổ ra hàng vũng lớn trên nền nhà mà bố tôi ruột gan phơi cả ra ngoài, mắt trợn trắng, sắp chết rồi. Khi ông cụ ra dấu cho bà cụ ghé tai vào miệng để ông cụ trối thì bà cụ chỉ nghe được có năm tiếng thì thào gần đứt hơi:” Bảo thằng Tường trốn ngay !” Nói xong câu đó, cụ trút hơi thở cuối cùng. Ngay lập tức, mẹ tôi cho đứa cháu gái len lỏi đi lối tắt đến nhà tôi báo tin dữ, đồng thời bảo tôi liệu mà trốn đi ngay, chớ có thương tiếc gì nữa.
Nghe đứa cháu nói xong, tôi khóc oà lên, thương cho bố tôi quá và cũng cảm phục bố tôi quá can đảm, thà tư giết mình hơn là để bọn cán bộ giết, thà chết như thế còn hơn là sa vào tay bọn chó sói. Nhưng tôi phải bụm miệng ngay lại. Bố tôi đến lúc chết vẫn còn nghĩ dến tôi, mấy lời cuối cùng của cụ là giục tôi trốn đi. Vậy tôi phải cố gắng làm theo ước nguyện của Người để linh hồn Người được mát mẻ nơi chín suối.
Tôi bảo con cháu ra về đồng thời quay dặn vợ tôi vài câu, nhìn qua mặt mấy đứa con đang ngủ, rồi cứ thế, với một bộ quần áo độc nhất trên người và ít tièn trong túi, tôi đến nhà anh Các. Tại đây, tôi bàn kế hoạch trốn đi với anh và anh đồng ý ngay. Tuy nhiên, chúng tôi phải đợi đến đêm hôm sau mới đi được vì còn nhờ người thông báo cho thầy Ðiền. Chúng tôi muốn có bạn đồng hành vì đi toàn đường rừng rất nguy hiểm, người nọ dựa vào người kia, lúc khoẻ đã vậy lúc đau ốm, có bạn cũng đỡ nhiều. Sở dĩ bọn cán bộ không truy lùng tôi ngay vì sau khi bố tôi chết rồi, mẹ tôi không động tĩnh gì hết, cứ mặc quần áo và đắp chăn chiếu cho ông cụ y như cụ hãy còn sống. Mẹ tôi cũng cấm con cháu trong nhà không được khóc và cấm loan tin bố tôi đã chết ra ngoài. Có lẽ mẹ tôi dụng tâm giúp tôi một lần cuối cùng để cho tôi đi thoát vì nếu bọn cán bộ biết bố tôi đã chết, chúng đến nhà không thấy có mặt tôi là truy lùng tôi ngay. Tối hăm ba ông Táo chầu trời, vào lúc vàng vàng mặt trời, bọn cán bộ kéo đến nhà bố tôi cùng với những tên tá điền phản chủ, vô ân bội nghĩa. Chúng vào trong nhà quát ầm ĩ lên:” Thằng Thiềng đâu ? Hãy ra đây cho nhân dân xử tội !” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng. Bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đã chết. Tự sát chết. Dĩ nhiên chúng tra khảo mẹ và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đã chết rồi, chúng có làm gì chăng nữa thì cũng đến thế thôi. Một tên trong bọn sực nhớ đến tôi, liền la lên:”Còn thằng con của nó nữa, thằng Tường.” Thế là cả bọn bàn kế hoạch truy lùng tôi nhưng lúc đó tôi đã cùng hai người bạn vào sâu trong rừng rồi. Sở dĩ tôi biết được các chi tiét xẩy ra sau khi đi vì có mấy người làng sau này cũng trốn được vào Sàigòn kể lại cho nghe. *


Cuộc hành trình xuyên sơn của chúng tôi vô cùng gian khổ. Khởi hành ngày 23 tháng chạp mà đến tháng tư năm sau chúng tôi mới tới được khu vực do quân đội Quốc gia kiểm soát tại Quảng Trị. Từ Thanh Hoá, nếu đi theo quốc lộ I, chúng toi phải đi qua Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng bình rồi mới đến Quảng Trị. Cách Quảng Trị hơn 30 km là cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, ranh giới giữa hai miền Nam Bắc. Sang được bờ phía Nam sông Bến Hải đã là điều mừng lắm rồi. Nhưng chúng tôi đâu có dám đi theo quốc lộ. Con đường chúng tôi đi còn xa và nguy hiểm hơn con đường mòn dọc Trường Sơn bọn cán bộ Việt Cộng sau này dùng để tải bom đạn và người vào quấy phá mièn Nam. Có khi, mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được hơn chục cây số, lại phải nghỉ và trốn vì sợ bọn chúng bắt gặp. Ðã có những nhóm người bị chúng bắt, chúng đem xử tử ngay, không cần phải giải về quê quán. Một lần ba anh em chúng tôi lạc vào một bộ lạc người thiểu số, chẳng biết là Mường hay Mán, ở gần biên giới Lào - Việt. Mới đầu, bọn người này làm rất dữ, tôi tưởng phen này chắc là bị chúng giết vì ngôn ngữ bất đồng, không sao giải thích cho họ hiểu được. Nhưng sau nhờ có một ông già trong bộ lạc đứng ra nói với tên tù trưởng và đưa chúng tôi về nhà, một cái nhà sàn ngay giữa làng. Ông già và vợ con ông ta đối đãi với chúng tôi rất tử tế. Nào cho ăn, cho quần áo thay để tắm giặt, cho uống rượu cần và líu lo với chúng tôi cả ngày nhưng chúng tôi có biết họ nói gì. Ông bà già có một người con gái chừng hai mươi tuổi, xinh xắn, dễ thương. Tên cô là Mây Mali. Cô thường sắp cơm cho chúng tôi ăn, dẫn chúng tôi ra suối và kể cho chúng tôi nghe những chuyện thật dài nhưng chúng tôi hoàn toàn không hiểu, chỉ gật đầu tràn. Chúng tôi lưu lại nhà của Mây Mali một tuần lễ cho lại sức vì cả tháng chỉ toàn ăn đồ khô và ngủ trên cành cây trong rừng. Có mấy viên thuốc cảm đưa đi uống đã hết, chúng tôi chỉ sợ bệnh sốt rét rừng giữa đường thì thật là nguy khốn. Một bữa, ông già ra hiệu bảo với chúng tôi ông sẽ kiếm cho chúng tôi mỗi người một cô vợ. Riên thầy Ðiền trẻ nhất bọn và khá đẹp trai, ông sẽ gả Mây Mali cho. Nghe hai ông bà già nói, chúng tôi cứ cười ngặt cười nghẽo. Hoàn cảnh này mà dám nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy con sao ? Giá có tiên thực chúng tôi cũng không dám. Mạng sống đang như sợi chỉ mành treo chuông còn dám bay bướm sao ? Chúng tôi khoát tay chối từ với ông già nhưng ông không hiểu lại nghĩ chúng tôi từ chối lấy lệ. Và ông làm ngay điều ông định làm. Tối hôm đó, ông già bảo thầy Ðiền nằm riêng ra rồi cho Mây Mali đến nằm cạnh thầy. Còn tôi và Các thì ông dẫn ở đâu đến hai cô con gái khác. Ông nói những gì với hai cô này rồi một cô lại kéo tay tôi và một cô đến kéo tay Các đưa ra cửa. Tôi và Các khựng lại không chịu đi. Hai cô này có vẻ rất ngạc nhiên, nói một tràng với ông già. Ông già lại nói với tôi và Các, và cầm tay tôi và tay Các đặt vào tay hai cô gái. Nhưng chúng tôi vẫn không chịu đi. Rốt cuộc hai cô gái Mường tiu nghỉu ra về trong khi ông già buồn bã lắm. Cuộc “tình duyên” của tôi và Các với hai cô gái không êm đẹp chút nào, nhưng cuộc “tình duyên” của Mây Mali và thầy Ðiền cũng không hơn gì. Sau khi hai cô gái ra khỏi nhà ông bà già, Ðiền lại chổ ba chúng tôi vẫn nằm ngủ và nằm miết ở đó tới sáng. Tội nghiệp cho Mây Mali, cô bị bẽ bàng lại còn bị bố mẹ phiền trách, làm như cô không đủ tài thu hút đàn ông. Sáng hôm sau gặp chúng tôi, mặt cô cứ đỏ nhừ lên.


Dù ông bà già thiểu số tốt cách mấy, chúng tôi cũng phải lên đường. Vả lại, sau khi dàn xếp việc gả mấy cô gái cho chúng tôi không xong, ông bà già không còn mặn mà với chúng tôi như trước và có lẽ muốn chúng tôi đi sớm. Chúng tôi cũng biết điều đó và sửa soạn lại lên đường.
Ngày nhìn thấy bờ sông Bến Hải là ngày vui mừng khôn tả. Chúng tôi nhìn thấy sự sống, nhìn thấy Tự Do, nhìn thấy tương lai sáng lạn. Riêng tôi không khỏi buồn vì trón đi giữa lúc bố chết. Mẹ, vợ, con và các chị em tôi bây giờ ra sao ? Có đỡ bị hành hạ không ? Cứ nghĩ đến đó, lòng tôi thắt lại. Sau khi trình diện toà Tỉnh Trưởng Quảng Trị, chúng tôi được cấp phát giấy tờ và ít tiền làm lộ phí. Sau đó cả ba chúng tôi đều quyết định vào Sàigòn để làm lại cuộc đời mới. Tôi bị cắt đứt với gia đình không liên lạc được. Năm 1960, tại Sàigòn, tôi lại lập gia đình với người con gái một gia đình hết lòng thương tôi như con ruột. Nhà tôi sau đó có với tôi năm đứa con, ba trai, hai gái. Cháu gái lớn nhất năm nay đã 13 tuổi. Cháu đang học lớp 8 trung học.”
Cụ Tường ngưng một chút để nghỉ. Giọng cụ lạc đi khi nói đến người vợ và 5 đứa con thân yêu đang ở bên kia bờ đại dương , không biết sống chết thế nào.
Cụ đứng lên. Tôi biết ý cụ đã muốn về. Trên đường về lều, cụ bảo tôi:
“Tôi biết trước là phải chạy mà không sao thu xếp cho vợ con cùng đi được, ông Vũ ạ. Nhà tôi cũng biết tôi ở lại là chết nên khuyến khích cho tôi đi y như người vợ năm xưa ở Thanh Hoá cũng chỉ nghĩ đến cái mạng sống của tôi mà thôi. Chín đứa con thân yêu, hai lần chạy giặc Cộng, tôi không mang theo được đứa nào để an ủi khi tuổi già xế bóng. Hai người vợ sống chết với mình, cả hai lần bỏ lại. Ông nghĩ đã đau đớn chưa ? Nhưng tôi không làm sao hơn được. Tôi ghê sợ bọn chúng quá rồi, thà tôi chết còn hơn phải sống với Cộng Sản.”
Tôi cứ để cụ nói cho vơi bớt đau khổ. Tôi chỉ nghe và cảm nhận. Càng thấm thía khi chính hoàn cảnh tôi lúc đó không hơn gì hoàn cảnh cụ, cũng như hoàn cảnh xẻ đàn tan nghé của một số đông đồng bào di tản đang ở trên đảo Subic Bay này.


Ngày sang Guam, tôi với cụ Tường cùng đáp một chuyến bay và tôi với cụ lại ở cùng lều tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đình (bị thất lạc), còn cụ đi Camp Pendleton, California và từ đó tôi không còn gặp cụ nữa. /-

Orange County, CA
Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Bài Xem Nhiều