We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 30 November 2010

Núm ruột quê hương

Một góc làng quê Việt Nam. Ảnh minh họa từ Google

Đời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi.
Phạm Duy (Thuyền Viễn Xứ )

Vào những năm đầu của thập niên 1980, khi phong trào vuợt biển tìm tự do lên đến điểm cao nhất ở Việt Nam, người ta hay nghe những “người di tản buồn” nghêu ngao hát bài “Sài Gòn Vĩnh Biệt” – của Nam Lộc:

Sài Gòn ơi tôi xin hứa rằng tôi trở về.
Người tình ơi tôi xin hứa giữ vững lời thề… “

So với những kẻ chạy trốn cộng sản từ miền Bắc – hồi đầu thập niên 1950, và chỉ dám hứa hẹn mơ hồ dè dặt với Hà Nội là “biết đâu ngày đó anh về” – thì cái kiểu hứa (đại) cho đã miệng, của những kẻ túa đi từ miền Nam ra nước ngoài, nghe hơi … láu cá.

Họ chỉ hứa cho vui, cho đỡ kỳ, trước khi đành đoạn quay lưng vậy thôi, chớ “giữ vững lời thề” với người tình (lỡ) – xét vào thời điểm đó – rõ ràng hơi bị khó, và chuyện “ trở về” thì còn khó hơn nhiều.

Mới chạy thoát được ra khỏi nước, hàng triệu “boat people” còn chân ướt chân ráo, chưa kịp bước lên bờ, đã nghe “chủ nhà” tới tấp ném theo những lời nguyền rủa (rất) hàm hồ và (vô cùng) ác độc: “đồ đĩ điếm, trộm cướp, bất hảo; đồ trây lười lao động, sợ khó, ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn …”.

Nghe mà thấy ghê! Phen này kể như là đi … đứt. Về chắc chết, chết chắc.

Tưởng vậy nhưng không phải vậy. Trong lúc giận nên Đảng và Nhà Nước (trót) nói vậy thôi, chứ đã là dân Việt thì dù trôi sông lạc chợ vẫn là “khúc ruột xa ngàn dặm”, và là “một bộ phận không thể tách rời” của quê hương đất nước – như báo và đài của ta, về sau, vẫn thiết tha và ân cần nhắc đi nhắc lại (hoài hoài) như thế.

Được lời như cởi tấm lòng. Thiên hạ quay về nườm nượp. Trong số những người này có ông Nguyễn Cao Kỳ, một nhân vật thuộc hàng ngũ lãnh đạo của chính quyền miền Nam.

Khi được hỏi “ông sẽ nói gì với cộng đồng người Việt ở hải ngoại”, sau khi hồi hương vào tháng 1 năm 2004, ông Kỳ cho biết: “Tôi sẽ nói rằng tôi đã tận mắt chứng kiến những thay đổi lớn lao của đất nước. Nói để cho họ hiểu rằng đừng có ngối cổ mà nhìn lại quá khứ nữa. Cũng đừng có cay cú, cay đắng, chua chát mà làm gì, hãy xóa đi dị biệt hướng tới tương đồng để mà cùng nhau xây dựng đất nước.

Quan niệm tích cực và lạc quan của ông Kỳ về “giấc mơ hồi hương” được chia sẻ (tận tình) bởi một Việt Kiều khác, nhạc sĩ Phạm Duy. Ông cũng vừa từ Hoa Kỳ trở lại Việt Nam, và cũng đã quyết định nhận (lại) nơi này làm quê hương – cho dù có (hơi) khó thương, chút đỉnh.

Khi được hỏi rằng nhà nước CSVN cần phải làm gì thêm nữa không để cho chính sách “đại đoàn kết dân tộc được hữu hiệu hơn”, ngoài chuyện ban hành Nghị Quyết 36, Phạm Duy đã trả lời gọn gàng và dứt khoát – như sau:

Không, Chính phủ VN vừa làm một chuyện hết sức ngoạn mục là Nghị quyết 36. Đó là một cách đưa tay ra với những người thua trận. Thế là đủ rồi”.

Trước cảnh nhân tâm ly tán, và xã hội lầm than, như hiện nay, ở Việt Nam, chủ trương đoàn kết dân tộc để xây dựng quê hương đất nước là chuyện hoàn toàn đúng đắn. Bởi thế, trong thời gian vừa qua – trên rất nhiều cơ quan truyền thông của Nhà Nước CHXHCNVN – nhạc sĩ Phạm Duy, cũng như tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã thường lên tiếng khuyên nhủ những kẻ di tản rằng: ”đừng có cay cú, cay đắng, chua chát mà làm gì, hãy xóa đi dị biệt hướng tới tương đồng để mà cùng nhau xây dựng đất nước”.

Coi như một chương sách đã lật qua. Lá đã rụng về cội. Nước đã chẩy về nguồn. Sẽ không còn ai đi nữa. Tất cả đều đã lục tục trở về. Kể cả mấy cái cột đèn, đã lỡ bỏ đi, cũng sẽ trở lại (y) vị trí cũ – như chưa hề bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra. Mọi người nên đồng lòng xóa bài làm lại. Vietnamese Exodus ended!

Tưởng vậy nhưng (cũng) không phải vậy. “Đêm nay trên bản đồ”, tuy không còn con thuyền nào ra đi nữa nhưng vẫn có những đoàn người bồng bế dắt díu nhau bỏ trốn – hoặc đang bị bắt đưa về lại một cửa khẩu nào đó, ở Việt Nam.

Ông Thắng A Di là một trong những người (không may) như thế. Năm nay 38 tuổi, người sắc tộc Hmong, quê ở Bắc Hà, ông đã đi từ Lào Cai đến Đắc Lắc, rồi vượt biên sang Lào, và từ đó vượt sông qua nước Thái – vào tháng 6 năm 2005.

“Cùng với 6.500 người Hmong khác, cũng chạy nạn từ Lào sang, gia đình ông Thắng A Di bị nhà cầm quyền Thái Lan coi là những di dân bất hợp pháp. Từ ngày 4 tháng 7, họ bị xua đuổi và không còn chỗ nào khác hơn là tập trung trên hành lang dài 2 KM, dọc theo con lộ chính nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng. Họ che những tấm vải nhựa, nhưng rõ ràng là khó vượt qua được cái nóng vẫn còn gay gắt, hoặc những trận mưa đầu mùa ở vùng đông Bắc Thái … Họ đã trải qua bốn ngày điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …” – theo như tường trình của đặc phái viên Nam Nguyên, từ Bangkok, được RFA phát đi hôm 07 và 28 tháng 7 năm 2005.

Cùng với 6.500 người Hmong khác, cũng chạy nạn từ Lào sang, gia đình ông Thắng A Di bị nhà cầm quyền Thái Lan coi là những di dân bất hợp pháp. Từ ngày 4 tháng 7, họ bị xua đuổi và không còn chỗ nào khác hơn là tập trung trên hành lang dài 2 KM, dọc theo con lộ chính nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng. Họ che những tấm vải nhựa, nhưng rõ ràng là khó vượt qua được cái nóng vẫn còn gay ắt, hoặc những trận mưa đầu mùa ở vùng đông Bắc Thái … Họ đã trải qua bốn ngày điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …” – theo như tường trình của đặc phái viên Nam Nguyên, từ Bangkok, nghe được qua RFA trong hai hôm 07 và 28 tháng 7 năm 2005.

Dù đã sa chân tới bước đường cùng, đến nông nỗi phải xin ăn để sống, nơi quê người đất khách, ông Thắng A Di vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng “nếu phải chết em thà chết tại đây” (RFA 2005/07/28).

Nơi mà ông Thắng A Di, cùng toàn gia đình, quyết định ở lại để chết, thay vì trở lại cố hương, là thung lũng Ban Huay Nam Khao (ở phía Bắc tỉnh PhetChabun, giáp ranh giới Thái – Lào) và được gọi một cách rất thơ mộng – theo âm tiếng Việt – là Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng.

Cũng vào thời điểm này, năm trước, người ta cũng đã một tiếng kêu thương (đến xót lòng) tương tự của một người dân sắc tộc miền núi khác – ông Ralanpee, từ Cao Miên: ”Tôi thà chết ở đây, hơn là trở lại Việt Nam” – (BBC NEWS 2004/07/21).

Hai ông Thắng A Di và Ralanpee, rõ ràng, không đủ “tinh tế” để nhìn ra sự “ngoạn mục” của Nghị Quyết 36 – như nhạc sĩ Phạm Duy. Ở tuổi 38, họ cũng không có đủ dĩ vãng để đừng “ngoái cổ lại nhìn mà cay cú và chua chát” – theo như lời khuyên (chí tình) của tướng Nguyễn Cao Kỳ, dành riêng cho đám dân đi tị nạn. Cả hai đều nằng nặc, nhất định không chịu trở về (để “thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc”, và “xây dựng đất nước”) chỉ vì họ biết chắc rằng về là chết (mẹ) thế thôi.

Khi hai ông Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Duy được tặng hoa, và đón tiếp ở phi trường Tân Sơn Nhất thì hàng trăm người như ông Ralanpee phải trải qua “một cảnh tượng vừa kinh hoàng, vừa tuyệt vọng, xẩy ra giữa tiếng than khóc ầm ĩ của những người không muốn trả về và hành động không thể chấp nhận được của một số nhân viên an ninh địa phương” – theo như tường thuật của Khanh Nguyễn và Gia Minh, được RFA phát đi hôm 23 tháng 7 năm 2005:

“Những người bị cảnh sát Cambodia lôi ra xe chở về Việt Nam nằm trong toán chừng 700 người băng rừng từ Tây Nguyên sang xứ Chùa Tháp xin tị nạn chính trị hồi năm ngoái, sau khi họ tổ chức hoặc tham gia biểu tình phản đối nhà cầm quyền Hà Nội lấy đất canh tác hoặc không cho họ được hưởng quyền tụ do tín ngưỡng”.

Lúc hai ông Phạm Duy và Nguyễn Cao Kỳ trả lời phỏng vấn ở Sài Gòn, ca ngợi sự “ngoạn mục” của Nghị Quyết 36, và tính cách “đúng đắn” của chính sách đoàn kết dân tộc thì gia đình ông Thắng A Di đang sống “điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch để uống” – nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng, ở Thái Lan.

Cũng như hai ông Ralanpee và Thắng A Di, phần lớn những kẻ ra đi muộn màng, từ đầu thế kỷ này, đều là dân miền núi. Họ là những đồng bào Thượng, theo như cách nói thân ái của những kẻ ở miền xuôi. Nói vậy nhưng không phải vậy.

Trong ánh mắt của rất nhiều người Việt, chứ chả riêng gì hai ông Phạm Duy và Nguyễn Cao Kỳ, đồng bào Thượng – có lẽ – không phải là đồng bào (thiệt). Chả mấy ai cảm thấy xót xa trước trước những bất công và nỗi đau đớn, đắng cay mà họ đang phải ghánh chịụ cả.

Còn đối với những kẻ đang nắm quyền bính ở Việt Nam thì núm ruột của những sắc dân thiểu số – không tiền, bất kể gần xa – chỉ là thứ ruột thừa, cần cắt bỏ.

Dân tộc Việt sẽ còn gặp nhiều thảm kịch khác nữa – trong tương lai gần, ngay cả sau khi những người cộng sản đã đội nón ra đi – nếu cái nhìn hẹp hòi và thiển cận này không được nhận diện và loại bỏ.

© Tưởng Năng Tiến

Còn ai thương dân tôi

Cô béViệt Nam 17 tuổi bị bán qua Tàu
"Một ngày tôi phải tiếp 15 khách, đến nỗi người không ra người, chảy máu, đau đớn cùng cực. Có khách còn dùng roi điện đánh đến ngất xỉu, rồi cướp hết tiền", cô bé 17 tuổi tâm sự về những ngày lỡ chân rơi vào cạm bẫy của bọn buôn người.

Sinh ra trong một gia đình H'mông nghèo khó ở tỉnh Tuyên Quang, tuổi thơ của Như cũng đầy ắp nước mắt. Bố không lo làm ăn, suốt ngày chỉ rượu chè, cờ bạc, đánh đập mẹ. Không chịu được mãi cảnh sống như thế, mẹ cô đã bỏ nhà ra đi khi cô bé chỉ học lớp một còn em trai thì học mẫu giáo.
Không lâu sau thì cả bố và mẹ đều đi bước nữa, người Nam, kẻ Bắc. Như muốn theo mẹ cũng không được vì dượng thường đánh mẹ, lại có ý đồ xấu, nhắn tin sàm sỡ với cô bé. Thế nhưng ở với cha cũng không xong, cô và em trai thường xuyên bị dì, thậm chí cha đánh.
Bế tắc trước cuộc sống ấy, cô bé đã bỏ nhà xuống Hà Nội tìm việc. Ở đây, cô quen và yêu một người bạn trai qua mạng. Những tưởng cuối cùng hạnh phúc cũng sẽ mỉm cười với cô. Nhưng chỉ sau 3 tháng về sống với nhau như vợ chồng, cả hai đã chia tay. Người con trai ấy đã đưa cô về trả cho bố và dì, mặc cho cô van xin được sống cùng gia đình anh, dù không được anh yêu.
àdf
Đến với Ngôi nhà bình yên, các chị em được tư vấn học nghề. Ảnh: P.N.
"Tôi đã uống thuốc ngủ nhưng rốt cuộc vẫn phải sống. Tôi như điên dại, ngông cuồng, không sợ điều gì hết bởi trên đời này chẳng còn còn gì ý nghĩa nữa. Một lần nữa tôi lại chọn cách bỏ nhà đi", Như tâm sự.
Và số phận đã đưa đẩy cô gặp một người đàn ông tên Minh, đóng vai một người "cứu net". Người này muốn thuê cô lên Lào Cai bán hàng quần áo giúp em gái. Cứ tưởng thật, cô đi theo không ngờ bị vào nhà chứa ở tận Trung Quốc. Mỗi ngày cô phải tiếp đến 15 người khách, đủ mọi hạng người. Bị chảy máu, người đau ê ẩm, bị sốt mà vẫn không được tha. Có lần gặp phải người khách hung dữ, cô còn bị đánh bằng roi điện, máu me be bết rồi bị lấy hết tiền.
"Cơm ở đó họ nấu nhão như cháo, ăn rất đói. Thịt lợn để hàng tháng cứng như đá, bỏ vào nấu chung với các loại rau và đồ ăn hỗn độn, thập cẩm. Ai có ý định trốn thì bị đánh đập dã man. Có lần, tôi chứng kiến một chị bỏ trốn về Việt Nam bị đánh và chém chết bằng một con dào dài một mét", Như kể lại.
Sau đó, cô gái trẻ mắc phải căn bệnh khó chữa. Nhân cơ hội đó, cô xin bà chủ chứa cho về Việt Nam chữa bệnh, nói dối là có vài người bạn muốn sang làm gái. Cũng nhờ thế cô thoát khỏi địa ngục, rồi được đưa đến Ngôi nhà bình yên ở Hà Nội tạm lánh.
"Tôi từng cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng, bóng tối vây quanh và nỗi sợ hãi luôn ám ảnh. Có những khi chạy mãi mà không tìm thấy lối thoát, chỉ thấy con đường mịt mù và xa tít tắp trước mắt. Đó là quãng thời gian tôi sống như địa ngục ở nơi đất khách quê người", Như tâm sự.
Cũng giống như cô bé Như, nhiều nạn nhân của bọn buôn người trở về gặp phải nhiều khó khăn về tâm lý. Nhiều người đêm ngủ thi thoảng vẫn giật mình tỉnh giấc vì mơ thấy mình bị tra tấn dã man, bị đuổi đánh. Có người có những biểu hiện không bình thường, nói những điều không có thật, tự tưởng tượng ra một người để gọi điện thoại..., bà Lê Thị Thủy, đồng Giám đốc dự án Ngôi nhà bình yên (Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) chia sẻ tại buổi tổng kết dự án, diễn ra sáng nay, tại Hà Nội.
Trong năm 2010, dự án đã hỗ trợ cho gần 100 chị em từ 32 tỉnh, thành bị buôn bán. Phần lớn họ do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình hoặc nhẹ dạ cả tin, không biết tự bảo vệ mình nên bị kẻ xấu lừa gạt, sa chân vào cạm bẫy của kẻ buôn bán người.
"Các nạn nhân trở về hầu hết đều có biểu hiện tâm lý phức tạp, thất thường, trầm cảm, bị ám ảnh bởi quá khứ, cảm giác tội lỗi và có cái nhìn bi quan về tương lai. Các em thiếu tự tin, mất hy vọng và cảm thấy cô độc, dễ nổi nóng, coi rẻ giá trị bản thân", bà Thủy nói.
Không những thế, một số em lại có trạng thái tâm lý không ổn định, sống khép kín, có trường hợp bất cần đời, không thích tuân thủ những chuẩn mực chung trong cuộc sống, trong mối quan hệ với người xung quanh. Bản thân các nạn nhân có thời gian sống trong các nhà chứa, quen với các trận đòn roi, dọa dẫm của chủ chứa nên các em có biểu hiện lạnh lùng, vô cảm hoặc thái độ lỳ lợm, thiếu sự hợp tác khi trở về.
Chính vì thế, việc tư tấn tâm lý để giúp các nạn nhân trở lại trạng thái ổn định là một thách thức rất lớn.
"Các chị em cũng được hỗ trợ nơi ăn ở, bảo vệ an toàn, chăm sóc y tế, hỗ trợ về pháp lý. Đồng thời, cũng được tư vấn học nghề, học văn hóa để giúp chị em tái hòa nhập cộng đồng", bà Thủy chia sẻ.
Bên cạnh đó, cũng nhân dịp này một triển lãm mang tên Chốn bình yên sẽ diễn ra tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (Thụy Khuê, Hà Nội). Thông qua đó, những người làm dự án mong muốn đem đến cho người xem cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em tại Việt Nam. Đó là những câu chuyện chân thực, xót xa của các nạn nhân về những nỗi đau mà họ đã trải qua, khát vọng được trở về tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời triển lãm mong muốn gửi thông điệp về sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ của cộng đồng với các nạn nhân.
Đoạn trường đẫm nước mắt của những thiếu nữ bị bán
Bị nhốt vào phòng kín, bỏ đói, đánh đập dã man nếu không chịu tiếp khách, phải giả vờ bị tâm thần để không ai mua..., ký ức về quãng thời gian bị lừa bán sang Trung Quốc đến giờ vẫn còn là nỗi ám ảnh với cô gái 21 tuổi ở Bắc Giang.
Câu chuyện xảy ra cách đây 5 năm, khi ấy Nga mới 16 tuổi nhưng với cô dường như sự việc mới xảy ra ngày hôm qua.
Sinh ra trong một gia đình nghèo ở thôn Hương Mần, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Nga là con út trong gia đình có 4 anh chị em. Vì hoàn cảnh khó khăn nên cô phải nghỉ học, đi làm thêm phụ cha mẹ kiếm tiền từ năm 15 tuổi.
Tháng 9/2005, đang làm trong quán Internet cho bác tại Bắc Giang thì cô tình cờ gặp một người quen cũ tên là Hằng, hơn cô một tuổi. Người này kể đang đi buôn bán ở Lạng Sơn, mỗi chuyến kiếm được rất nhiều tiền và muốn rủ Nga đi cùng.
"Mới đầu vì sợ bị bố mẹ mắng nên em từ chối. Nhưng sau vài lần nghe lời nói ngon ngọt của Hằng, em đã đồng ý đi Lạng Sơn để giúp chị ấy 2 tiếng thôi rồi lại về Bắc Giang. Không ngờ chuyến đi đó lại trở thành nỗi ám ảnh của em cho đến tận bây giờ, em bị đưa sang tận Trung Quốc và đưa vào một nhà chứa", Nga xúc động kể lại.
Một buổi sinh hoạt cậu lạc bộ của những phụ nữ từng bị bán tại Bắc Giang. Ảnh: T.N.
Họ nhốt cô vào phòng kín, đánh đập dã man, không cho ăn uống nếu không chịu tiếp khách hoặc lấy chồng. Khi có người đến hỏi mua, cô đều giả vờ bị tâm thần. Đang trong tâm trạng hoang mang, lo sợ thì một lần có một Việt kiều muốn mua cô.
"Cũng nhờ gặp được con người tốt bụng đó mà em mới có thể được trở về nhà mà không phải trả lại số tiền ông ấy đã bỏ ra mua em. Sau khi nghe em kể chuyện, ông ấy đã đưa em đến một sở công an của Trung Quốc. 4 ngày sau thì bố mẹ sang đón", Nga kể.
Cuộc sống ở nơi đất khách quê người chỉ kéo dài mấy tháng nhưng đối với cô dài như cả thế kỷ. Bị tra tấn về thể xác, suy sụp về tinh thần, đã có những lúc cô nghĩ đến chuyện tự tử để chấm dứt chuỗi ngày sống trong cực hình. Nhưng vì thương bố mẹ, anh chị mà cô đã cố gắng tìm cách để được trở về Việt Nam, Nga bồi hồi kể lại.
Không được may mắn như Nga, sau gần 20 năm bị bán sang Trung Quốc, chị Linh mới trở về nước, làm nghề mua đồng nát ở Hà Nội sống qua ngày cùng cô con gái 19 tuổi bị trầm cảm nặng.
Ngày ấy chị theo một đoàn người đi di tản sang Hong Kong nhưng không may có bầu nên bị trả về nước. Thân gái một mình vác bụng bầu về quê mà không có chồng khiến chị chịu bao nhiêu lời gièm pha, đàm tiếu. Không chịu được cảnh sống như thế, sinh con được một thời gian, chị bồng bế con lên biên giới làm ăn rồi bị lừa bán sang Trung Quốc.
Họ nói rằng đưa hai mẹ con sang đó rồi sẽ xin việc cho, nhưng thực chất là bán chị làm vợ một người nông dân đã hơn 50 tuổi, nhà nghèo. "Lúc đấy, tôi cũng muốn bỏ trốn về nước nhưng rồi lại nghĩ thôi thì thử sống, vì đi đâu bây giờ cũng thế thôi, không ai giúp đỡ", chị Linh buồn bã kể lại.
Nhưng cuộc sống không yên ổn như chị hy vọng. Con gái chị bị cha dượng mắng chửi, đánh đập như cơm bữa. Học hết lớp 10 cô bé đi làm thì bị lạm dụng, sờ soạng ở nơi làm. "Thấy tủi cực quá thế là hai mẹ con trốn về nước", chị chia sẻ.
Về nước, hai mẹ con quyết định ra Hà Nội kiếm kế mưu sinh. Đã ngoài 40 tuổi, lại không có công việc, không tiền bạc nên chị Linh làm nghề thu mua đồng nát, còn cô con gái vốn thành thạo tiếng Anh và Trung cũng đi tìm việc. Thế nhưng đến đâu xin việc họ cũng đòi hỏi giấy tờ, bằng cấp trong khi giấy giấy tờ của hai mẹ con đã thay đổi cả, tên cũng là tên Trung Quốc.
"Giờ lúc nào con gái tôi cũng buồn bã, ở bên kia không sống được hai mẹ con mới về nước, thế mà về rồi lại không kiếm nổi việc làm, thấy bế tắc. Nó nói chỉ muốn chết, đi khám thì bác sỹ bảo bị trầm cảm nặng. Khổ, tôi thương con mà không biết làm sao", chị Linh vừa nói vừa khóc.
Bà Nguyễn Thu Thúy, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Thông tin tư liệu về Bạo lực giới cho biết, những câu chuyện trên đây không phải là hiếm gặp. Tình hình buôn bán người nói chung, buôn bán phụ nữ và trẻ em ngày càng phức tạp.
Trong một buổi hội thảo mới đây nhằm chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về, Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội Bắc Giang cho biết, từ năm 1998 đến nay đã có hàng chục nghìn người ra nước ngoài lao động, sinh sống. Trong đó, hơn 4.000 phụ nữ xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, nhiều người trong số này đã trở thành nạn nhân của tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em.
"Số nạn nhân trở về thường gặp nhiều khó khăn, bị cộng đồng kỳ thị, không có việc làm, thu nhập thấp, bị tổn thương về tinh thần... Nhiều trẻ em khi trở về không có giấy khai sinh, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như giải quyết chế độ, quyền lợi cho các cháu", bà Thúy cho biết.
Vì thế theo bà, các hoạt động tư vấn, hỗ trợ các nạn nhân bị buôn bán trở về tái hòa nhập cộng đồng cũng cần được chú trọng. Các cán bộ làm công tác xã hội cần hiểu thế nào là buôn bán người, cách thức hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân, chế độ chính sách và các địa chỉ hỗ trợ...
"Có rất nhiều chị em trở về nhờ sự hỗ trợ kịp thời và đúng chuyên môn đã có cuộc sống hòa nhập với cộng đồng rất tốt. Tuy nhiên, việc hỗ trợ các nạn nhân không phải trường hợp nào cũng giống nhau. Vì thế, nhiều khi, các cán bộ xã hội có thể bị lúng túng, gặp khó khăn do thiếu chuyên môn, kỹ năng", bà Thúy cho biết.

Nam Phương



NGHỀ BÁN MÁU VÀ NHỮNG NGƯỜI BÁN MÁU Ở THIÊN ĐƯỜNG XHCN VIỆT NAM


Từ xa xưa, không biết từ lúc nào, người Việt nam đã dùng cụm từ " Nghề Bán Cháo Phổi" để ám chỉ cho nghề giáo, nghề dạy học, có lẽ bởi mực lương thấp nghèo trong khi với cái nghề gõ đầu trẻ này thì các thầy cô giáo phải nói sang sảng suốt ngày, suốt quảng đời dạy học, để rồi khi tuổi đã xế chiều thì phần lớn bị suy nhược cơ thể trầm trọng mà phần đa các thầy cô giáo thường ra đi bằng bệnh lao phổi. Nhưng có lẽ ít ai biết được rằng, hiện nay ở Thiên Đường XHCN Việt nam, để trở thành những người bán cháo phổi trong tương lai thì không ít những sinh viên học sinh đã phải bán chính những giọt máu của mình để trang trãi cho các khoản chi phí cho ăn ở, học hành và mọi sinh hoạt khác cho cuộc sống sinh viên, bởi trong thời buổi "củi quế gạo châu" này cha mẹ, anh em của họ ở quê nghèo cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, làm gì có thể chu cấp cho họ đủ đầy trong suốt những năm đèn sách trong thời đại @ này, khiến học sinh sinh viên Việt nam từ trong nam chí ngoài bắc đang cùng các giới nam phụ lão ấu hình thành đội ngũ những người bán máu, và tạo ra một nghề mới ở cái thiên đường XHCN mà bác và đảng đem lại cho muôn dân: Nghề bán máu!

Đàn ông bán máu

Trời chưa sáng hẳn, anh Hùng ở Phú Nhuận đã hối hả lọc cọc đạp chiếc xe đạp cà tàng hướng về Bệnh viện Truyền máu Huyết học ở Quận 1 Sài Gòn. Mấy năm nay anh giấu vợ dối con để đi bán máu. Dù chưa tới tuổi 50 nhưng trông anh chẳng khác nào một ông già 70, da dẻ nhăn nheo, xanh mét. “Gần 7 năm nay, bà ấy bệnh liệt giường, mọi việc trong gia đình đều đổ hết lên vai tôi. Nào tiền ăn cho cả nhà, tiền thuốc men của bà ấy, tiền học của 2 đứa con”, anh tâm sự. Theo quy định của y tế của nhà nước thì 2 tháng mới được hiến máu một lần nhưng tháng nào anh cũng tự nguyện ... bán. Để tránh sự nhận diện của bác sĩ, anh làm 2 thẻ hiến máu, một ở Bệnh viện Truyền máu Huyết học và một ở Quân y viện 175 ở Gò Vấp

“Chẳng qua túng quá nên mới làm liều thôi”, anh Nguyễn Văn Định ở Chợ Gạo, Tiền Giang cũng cùng một nỗi niềm. Anh cũng chỉ mới ngoài 40 tuổi nhưng có tới 9 năm hành nghề bán máu từ Tiền Giang lên tới Sài Gòn đến nhẵn mặt các bệnh viện. Có lúc không còn đường nào khác anh phải ra bến xe đò Miền Đông năn nỉ mấy bác tài cho quá giang ra Hà Nội để … bán máu.

Xếp hàng chờ bán máu tại Trung tâm Truyền máu Huyết học
Đàn bà bán máu

Đàn ông bán máu, đàn bà cũng bán máu. Chị Hạnh ở Xã Xuân Thới Thượng Hốc Môn, tuổi đời chưa ngoài 50 mà đã có đến hơn 20 năm tuổi hành nghề bán máu. Chị bắt đầu đi bán máu từ năm 1989, lúc đó hoàn cảnh gia đình của chị vô cùng khó khăn, không nghề nghiệp lại một nách hai con nhỏ nên thường xuyên túng quẫn. Khi trong nhà không còn một hạt gạo, nhìn đứa lớn nhăn nhó vì đói và đứa nhỏ khóc đòi ăn, chị đành liều thân đi bán máu. Lúc đó 30 ngàn đồng một bịch máu đã nuôi sống gia đình chị hơn một tuần. Kể từ đó, chị dấn thân vào nghề bán máu.
Suốt 20 năm, chị không nhớ bao nhiêu lần mình rút máu ra bán và cũng không nhớ số máu bán ra là bao nhiêu. Hai đứa con đang tuổi còn đi học, không muốn chúng phải bỏ giữa chừng nên mỗi lần cần đóng tiền học hay mua sách vở cho con là chị phải đi bán máu. Quy định của nhà nước phụ nữ bốn tháng mới được lấy máu một lần nhưng vì túng quẫn quá nên có khi một năm chị bán sáu, bảy lần. Cũng như anh Hùng và anh Định, để qua mặt bác sĩ, chị phải làm hai thẻ hiến máu, một ở Bệnh viện Truyền máu Huyết học và một ở bệnh viện 175, sau này cả ở bịnh viện Chợ Rẫy nữa.
Hiện nay, chị sống bằng nghề bán rau ở chợ ở quận 4. Chị không còn thường xuyên đi nữa nhưng thỉnh thoảng cần tiền gấp chị vẫn đi bán. Trong suốt 20 năm qua, các con của chị những tưởng mình được nuôi lớn bằng sữa của mẹ mà không hề biết mình được nuôi lớn từ chính những giọt máu của mẹ. Chị bùi ngùi lo âu: “Lo nhất con cái phát hiện. Mình không làm gì xấu nhưng cái nghề này cũng chẳng hay ho gì. Biết rồi chắc chắn chúng sẽ đau lòng”.

Một trường hợp khác, chị Nguyễn Thị Mỹ Hạnh ở đường Hồ Thị Kỷ quận 10 Sài Gòn, đã gia nhập đội quân bán máu gần 16 năm nay kể từ ngày đứa con trai duy nhất của chị bị bệnh u não. Sau đó chị chuyển sang bán tiểu cầu để được nhiều tiền hơn. Chị bộc bạch: “Cứ đến ngày lấy thuốc cho con là vợ chồng tôi chạy vạy tứ tung, song lần nào cũng bí quá, đành phải bán máu, rồi bán tiểu cầu để lấy tiền. Có tháng túng bấn quá, tôi bán đến 2-3 lần và phải đi 2-3 chỗ, mới đủ tiền trang trải”.
Công nhân bán máu
Uyên, một công nhân ở khu công nghiệp Tân Bình thổ lộ: “Mình ở tận Hải Dương vào đây lập nghiệp, nhưng lương công nhân thấp quá nên mỗi tháng muốn gửi ít tiền cho gia đình mình phải đi bán thêm tiểu cầu mới có thể xoay xở được”. Uyên tâm sự thêm “Công nhân bọn mình, có đứa sống chủ yếu bằng nghề này chứ không phải bằng lương đâu”. Trên gương mặt của cô, một người ốm yếu, là vẻ hao gầy nhợt nhạt của một người thường xuyên bán đi những giọt máu của chính mình, đổi lại là những bữa cơm công nhân đạm bạc và niềm an ủi của cha mẹ nơi quê nhà nghĩ đến sự thành công của đứa con tha phương lập nghiệp.
Học sinh, Sinh viên bán máu
Một bạn trẻ tên Tân, có 6 năm thâm niên hành nghề bán máu cho biết “Mình đi rút máu từ lúc còn học trung học phổ thông. Hồi đó chưa có chứng minh thư nên mượn tạm của ông anh rồi thay tấm ảnh của mình vào, phí cho dịch vụ này không tốn lắm! Còn các chi tiết lưu lại cho bệnh viện khi bán máu thực ra chỉ là thủ tục pháp lý chứ không ai kiểm tra mình bệnh gì trước đó hay sức khỏe như thế nào đâu”. Giọng Tân trùng xuống nói tiếp: “Làm cái nghề này sức khỏe cũng xuống rất nhanh. Có lần rút máu xong, vừa ra khỏi cửa là mình ngã gục xuống. Người nào hành nghề chuyên nghiệp thì sớm muộn cũng làm bạn với đau tim, còn đau đầu hay chóng mặt chỉ là chuyện lặt vặt”. Tân cho hay hiện có rất nhiều người chỉ sống bằng nghề bán máu, thậm chí họ còn chọn bệnh viện làm nơi cư ngụ thường xuyên để dễ dàng hành nghề.
Cả làng bán máu
Người người bán máu, nhà nhà bán máu, làng làng bán máu. Đó là làng nổi với hơn 30 gia đình sống dưới chân cầu Hồng Phú, phường Quang Trung, xã Phủ Lý tỉnh Hà Nam. Cả làng có chung một nghề: bán máu. Họ đến từ các miền khác nhau của đất nước như Sài Gòn, Quy Nhơn, Nam Định và Hải Phòng. Phủ Lý trở thành nơi an cư của họ bởi tiện bề đi lại để bán máu cho các bệnh viện ở Hà Nam, Bắc Ninh, Ninh Bình và Hà Nội. Sở dĩ họ phải làm nghề này vì chẳng còn con đường nào khác kiếm sống. Giá 250cc máu là 150,000 đồng, nhưng thực ra họ không được hưởng toàn bộ số tiền đó. Họ phải chi tiền cho nhân viên giám định để đổi lấy giấy chứng nhận sức khỏe. Ngoài ra, còn phải tiền tàu xe đi lại, nên cứ 250cc máu họ chỉ cầm được chừng 90,000 đồng là nhiều.
Tình hình bán máu
Ở các bệnh viện lấy máu ở Sài Gòn ngày nào cũng có người rồng rắn xếp hàng chờ bán máu. Trung bình mỗi ngày Bệnh viện Truyền máu Huyết học có khoảng 100 người đến bán máu. Do nhu cầu bán máu nhiều, để có thể bán được máu, bắt buộc người bán phải đi thật sớm để xếp hàng. Tại Trung tâm Truyền máu Huyết học ở quận 5 mới 6 giờ sáng đã có cả trăm người đứng, ngồi kéo dài từ cửa trung tâm ra tận vỉa hè.

Những người chờ chực bán máu tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Mỗi lần bán 450ml máu chỉ được 250,000 đồng nhưng phải 2, 3 tháng mới bán được một lần. Còn mỗi lần bán tiểu cầu được 450,000 đồng, chỉ một tháng sau đã có thể bán tiếp. Tiểu cầu là một loại tế bào máu được dùng trong một loạt bệnh lý, có tác dụng cầm máu mà hầu hết các bệnh viện đều rất cần nhưng nguồn cung cấp không đủ cho nhu cầu. Việc lấy tiểu cầu ở trong nước rộ lên chừng 3 năm nay. So với máu toàn phần, tiểu cầu (cách gọi dân dã là máu chọn) có giá cao gấp đôi nên nó có sức hấp dẫn lớn đối với những người bán máu.
Ngành y tế nhà nước quy định mỗi người 3 tháng mới được lấy máu một lần và người hiến máu phải cân nặng trên 45kg và trên 18 tuổi. Nói thì nói vậy nhưng rất nhiều người vì hoàn cảnh khó khăn, cần gấp một khoản tiền đã phớt lờ và qua mặt quy định.
Hiến máu hay bán máu?
Ngày 14 tháng 6 vừa qua là ngày thế giới hiến máu, World Blood Donor Day. Từ năm 2004, Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization), Hiệp hội truyền máu thế giới (International Society of Blood Transfusion), Liên đoàn người hiến máu tình nguyện thế giới (International Federation of Blood Donor Organizations) và Hiệp hội Hồng Thập Tự - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies) đã lấy ngày 14 tháng 6 hàng năm làm World Blood Donor Day. Mục đích của ngày này không chỉ để lôi cuốn những người mới tham gia hiến máu mà chính là nhằm tôn vinh những người đã hiến máu thường xuyên 2, 3 lần hay nhiều hơn trong năm.

Ở các nước văn minh tiến bộ, hiến máu là một hành động nhân đạo, có tính nhân sinh cao và thể hiện sự tương thân tương ái. Ở Việt Nam hiện nay người hiến máu thì ít mà người bán máu thì càng ngày càng nhiều. Năm ngoái, năm 2009, tổng kết cả nước thâu được 632,902 đơn vị máu, trong đó người hiến máu tình nguyện chiếm 79,06%. Như vậy có nghĩa là có đến 1/5 số máu thâu được không do người dân tự nguyện hiến mà là đem thân đến bệnh viện nạp mạng để bán. Những trường hợp bán máu như đã nêu trên gồm đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi thành phần của xã hội. Những mảnh đời đi bán máu ấy khiến ai nghe cũng phải xót xa! Những người này đi bán máu để có tiền duy trì sự sống rồi lại bán đi chính sự sống đó của mình. Cái vòng luẩn quẩn ấy cứ tiếp diễn, chỉ những người thân khi biết chồng, vợ, mẹ, cha mình phải đi bán những giọt sự sống để duy trì cuộc sống của họ là thấy đắng lòng và xót xa cho cái thân phận nghèo.

Vừa qua ở trong nước, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 6, nhà cầm quyền CSVN cũng cho tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi để tôn vinh những người hiến máu với chủ đề “Lễ tôn vinh người hiến máu tình nguyện Việt Nam”. Qua đó, Nhà nước tuyên dương 100 người hiến máu tiêu biểu, có số lần hiến máu cao nhất ở các tỉnh, các thành phố, và các bộ, các ngành. Những người tình nguyện này cao lắm thì cũng chỉ hiến máu đôi ba lần trong năm. Còn những người bán máu như đã nói ở trên thì sao? Nhà nước có quan tâm đến họ không? Có ai tôn vinh họ không? Họ bán hàng tháng và bán dai dẳng hàng chục năm, hàng hai chục năm. Không có tiền cho con đóng tiền học, thiếu tiền nhà, thất nghiệp, … họ đành phải chấp nhận đi bán máu. Nhiều người trở thành kẻ bán máu chuyên nghiệp, thậm chí có người thâm niên 20 năm trong nghề. Những đồng tiền bán máu ít ỏi nhưng là cứu cánh cho nhiều gia đình, giúp bao em nhỏ không phải bỏ học, giữ yên ấm cho biết bao mái nhà. Đó là một việc làm mà chúng ta không khỏi cảm thấy xót xa, ngậm ngùi!

Trớ trêu thay, bên cạnh những mảnh đời bất hạnh đó, bên cạnh biết bao nhiêu người đang vật lộn với cuộc sống để sinh tồn, bán máu để mưu sinh là những cuộc liên hoan xa hoa tốn kém, những bữa chè chén bạc triệu ở các nhà hàng sang trọng khi các cán bộ tiếp khách. Những cuộc rượu chè xa xỉ đua nhau nốc bia rượu cho đến say xỉn không còn biết đường về. Tính ra một lít máu đỏ của người khốn cùng rút từ chính cơ thể của mình đem bán chỉ được vài ba chục đô la, chỉ đáng giá một chai rượu đỏ loại xoàng đủ cho một cấp lãnh đạo loại thường nhấp môi trong 1 buổi tiệc “chiêu đãi”. Máu người còn rẽ hơn rượu!

Dọc đường phố đông đúc của Hà Nội và Sài Gòn ngày nay có lắm người ăn bận quần áo đắt tiền, lái những chiếc xe hơi sang trọng nhất thế giới, và hàng ngày dùng những bữa tiệc no say tại những khách sạn huy hoàng tráng lệ. Việt Nam ngày nay có tầng lớp đại gia với khả năng tài chính vô hạn, có giới tư bản đỏ sống đời xa hoa tậu nhà hàng triệu triệu Mỹ kim ở trong nước cũng như ở ngoài nước, có cấp lãnh đạo nhà nước với tài sản kết xù và có con cháu cán bộ cao cấp đua đòi với những chiếc xe hơi Rolls-Royce, Bentley loại hàng “độc” đắt nhất thế giới.

Chủ nghĩa Cộng Sản ngày trước phát triển mạnh nhờ chiêu bài “xóa bỏ giai cấp” để đưa đến thế giới đại đồng, nhưng ngày nay thực tế cho thấy hoàn toàn ngược lại. Không những không “xóa” mà còn “thêm” để cho sự cách biệt giai cấp ngày càng tồi tệ hơn: giai cấp của tham quan thì giàu nứt vách còn giai cấp của nhân dân thì nghèo mạt rệp. Ở Việt Nam ngày nay người giàu không ít nhưng người nghèo thì quá nhiều và nghèo quá nghèo đến độ không thể nghèo thêm được nữa!. Người nghèo thì nghèo đến khốn cùng còn người giàu thì giàu không thể tưởng tượng nổi. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, dễ dàng nhìn thấy ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước, ngày càng rõ rệt. Đó là “thiên đường xã hội chủ nghĩa”!

Trần Việt Trình & Buồn Thiên Thu

Dưới đây là một bài báo của VẸM tên Việt Nam Net về nghề " cao quý" này ở Việt nam:

HÚT MÁU CỦA NGƯỜI BÁN MÁU

Hiện nay tình trạng cho vay lãi diễn ra ở rất nhiều nơi, nhiều hình thức và nhiều nhiều đối tượng vay cũng như cho vay. Tuy nhiên, việc cho vay nặng lãi diễn ra ngay trong bệnh viện là điều hiếm thấy ở Việt Nam. Tại Bệnh viện nhi TW, hiện tượng cho vay lãi diễn ra khá công khai và tự do… Do nắm bắt được hoàn cảnh của những người đi bán máu, một số đối tượng cho vay ngay tại cửa phòng bán máu.



“Đã vào đây ai chẳng cần tiền, chẳng thiếu thốn”

Vào sáng thứ 2, 4,6 hàng tuần, Bệnh viện Nhi TW tổ chức mua máu phục cho việc cứu chữa bệnh. Cứ vào khoảng 8h sáng các ngày trên, phòng lấy máu có khoảng trên dưới 20 người và đủ thành phần đến bán máu.

Và với nhu cầu máu của bệnh viện, có những người bán máu trở thành “nghề”. Chị M. (quê Đông Anh, Hà Nội) vui vẻ nói: “Chị đi bán thế này ngót ngét cũng được gần 20 năm rồi, bán rồi nó cũng quen đi, lắm lúc như nghiện”.

'Hút máu' của người bán máu
Những giây phút hiếm hoi chờ các con nợ vào bán máu

Có cả những khuôn mặt non bấng, tay cầm cuốn truyện tranh, đến ngồi đọc chờ bán máu. Em Minh là một học sinh đang ôn thi đại học, nói: "Em cũng bán được 4 lần rồi, vì muốn có chút phụ giúp bố mẹ thôi, bố mẹ em không ai biết đâu…”.

Theo như chị M. tâm sự thì những người đi bán máu đa phần là những người lao động có thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đi bán máu những mong kiếm thêm chút ít.

Thấy chúng tôi nói chuyện bán máu rôm rả, chị Hà (nhà ở Định Công, quận Hoàng Mai) cũng hăng hái tiếp chuyện: “Có lần, chị thiếu tiền đóng học cho thằng lớn, chị liều đi bán máu lấy tiền cho đủ. Từ đó quen quen, chị thường xuyên bán máu. Quy định ở bệnh viện là một tháng mới được bán một lần, nhưng có tháng chị bán 4 lần ở những nơi khác nhau".

Những câu chuyện của các chị, các cô đi bán máu khiến ai nghe cũng phải xót xa. Một chị cũng đi bán máu, tên T. bức xúc kể lại: “Đứa nhỏ nhà chị đi học, cô giáo biết mẹ nó đi bán máu nên đã có những lời nói khinh miệt, khiến cháu nó rất buồn…”.

Cả phòng chờ bán máu duờng như có quá nhiều tâm trạng. Những câu chuyện đời, chuyện gia đình, chuyện hoàn cảnh được họ chia sẻ với nhau như những người cùng "chiến tuyến". Tựu chung lại, họ là những người cần tiền, có hoàn cảnh khó khăn.

“Hút máu” kép

Theo tìm hiểu của chúng tôi, tại nơi bán máu xuất hiện ít nhất hai nhân vật khiến cho những người lần đầu tiên đến đây thấy bất ngờ và bức xúc. Đó là những người lợi dụng không gian bệnh viện, hoàn cảnh cũng như tâm lý của người bán máu để thực hiện hành vi cho vay nặng lãi.

“Đồ nghề” của họ là vài cuốn sổ, chiếc bút bi và một ví tiền. Những người này xuất hiện khá sớm tại phòng chờ bán máu tại Bệnh viện Nhi TW. Những động tác của họ như thể khá thân quen ở đây, họ đi lại tự nhiên và thông thạo.

'Hút máu' của người bán máu
Cuốn sổ dày đặc những tên của những con nợ.

Một thanh niên mặt bơ phờ tái nhợt (dáng vẻ như một tay cờ bạc thức đêm) có lời qua tiếng lại với chủ nợ: ”Để lần sau em trả, có gì mà phải ầm lên…”. Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra thì chị bên cạnh có vẻ bức xúc nói một cách đầy đề phòng: “Việc gì phải trả, ăn gì ăn lắm thế, mỗi lần đi bán 250ml được có 150 nghìn chứ có nhiều nhặn gì đâu…”.

Sau một hồi ngập ngừng, tôi hỏi chị T. ngồi ghế bên cạnh: “Những người đó làm gì vậy chị?”. Chị T. tỏ vẻ ngạc nhiên: “Thế lần đầu đi bán hả em? Đó là mấy mụ cho vay lãi đấy…”.

Những chủ nợ vẫn ngồi bình thản, tay cầm cuốn sổ và ví tiền. Thỉnh thoảng lại có người tay kẹp miếng bông cồn qua lấy tiền. Số tiền mà mỗi lần lấy không khi nào lên đến tiền triệu, mà chỉ khoảng 1 đến 2 trăm nghìn.

Theo những người ở đây kể lại, đó là những người đã quá quen với việc vay tiền và có “thâm tình” với các chủ nợ. Những người vay chủ yếu là những người cần tiền gấp, thường là những công nhân, xe ôm, lô đề…

Trong vai một cậu sinh viên cần tiền về quê đến bán máu lấy tiền, chỉ trong giây lát ngơ ngác, tôi đã được bà chủ nợ “chăm sóc” tận tình: “Cần tiền à cháu? Có mang chứng minh thư không? Không có cũng được, cô lo cho nhanh chóng mà lấy tiền về quê không có muộn”.

Sau một hồi đon đả đưa đi làm thủ tục, bà "chủ nợ" gợi ý ngay: “Ở đây không lấy được tiền ngay đâu, phải xét nghiệm xong mới được, còn nếu muốn lấy ngay cô đưa tiền cho, rồi bồi dưỡng cho cô chút ít. Nếu cháu lấy 250ml được 150 nghìn thì cô đưa cho cháu 140 nghìn, còn bồi dưỡng cô 10 nghìn…”. Đây là những "chiêu bài" của "chủ nợ" đối với những người bán máu lần đầu tiên khi không có thẻ hiến máu cũng như "quan hệ".

'Hút máu' của người bán máu
Khung cảnh trước phòng bán máu

Thấy thế, chị M. nói: "Ở đây cho vay lãi rất nặng, có lần thiếu tiền đóng học cho con chị vay có 1 trăm nghìn đồng, sang tháng sau chị phải trả tới 130 nghìn đồng". Chị vừa kể vừa tỏ ra rất bức xúc: “Mấy mụ này trước đây toàn những người đã từng đi bán máu chuyên nghiệp, bây giờ già nên không bán mà làm cái trò này”.

Phòng chờ bán máu ngày một vắng tiếng người, những câu chuyên dần nhạt nhẽo. Để lại trơ trọi 2 nhân vật cho vay lãi lúi húi kiểm tra sổ sách, tiền bạc rồi cũng từ từ ra về. Họ đã hoàn thành công việc “hút máu” của người bán máu.

Bệnh viện thờ ơ hay bất lực?

Trao đổi với VietNamNet, TS Đỗ Thị Minh Cầm - Trưởng khoa Truyền máu (Bệnh viện Nhi TW) cho biết: “Vài năm gần đây cũng có xuất hiện những người như thế này, đã nhiều lần bệnh viện trực tiếp gặp nhưng họ trà trộn vào những người bán máu nên rất khó…”.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi, các chủ nợ cho vay lãi có những hành vi khá công khai, tự do và hơn nữa là ngày nào cũng xuất hiện tại đây. Việc giao tiếp, đi lại với các y tá là rất thân quen và gần gũi. Điều này có thể thấy không thể có chuyện "trà trộn" của các chủ nợ, việc các chủ nợ thực hiện hành vi cho vay là rõ như ban ngày mà ai cũng biết.

'Hút máu' của người bán máu
Chủ nợ tính toán lời lãi sau một ngày "làm việc"

Và sau đó, chính TS Đỗ Thị Minh Cầm cũng thừa nhận: “Đây là chuyện họ vay mượn với nhau, thỉnh thoảng họ có to tiếng nhưng chưa đến mức độ xảy ra xô xát. Chưa đến mức độ phải động đến chính quyền hay an ninh trật tự. Bệnh viện chỉ nhắc nhở…”.

Việc xuất hiện những chủ nợ tại bệnh viện đã khiến không ít người cảm thấy bức xúc và phản cảm. Nhưng theo lãnh đạo của khoa truyền máu, thì việc cho vay lãi tại đây là "đời sống riêng tư của những người bán máu", nếu không vay mượn được thì họ sẽ rất khó khăn, họ không vay chỗ này thì vay chỗ khác…

TS Cầm cho biết, những người bán máu thuộc nhiều thành phần xã hội, họ có những cách “ứng xử” riêng của mình. Trước đây, có một bác sĩ (nay đã về hưu) làm việc khá nghiêm túc và không được lòng những người bán máu nên đã bị đánh, ném. Chính vì vậy mà không ai muốn "động chạm" vào.

Bất luận thế nào, bệnh viện cũng như khoa truyền máu phải có những biện pháp xử lý hành vi cho vay nặng lãi tại đây. Để môi trường bệnh viện luôn sạch và quan trong hơn là những người bán máu không bị “rút máu” sau khi đã bán máu.

  • Theo VNN

DẪN CỌP VỂ THỊT DÊ NHÀ / LÀM ĂN VỚI VIỆT CỘNG LÀ TỰ SÁT

Ai đã đọc bài này mà còn theo cộng sản là người không có đầu. Ai đã đọc bài này mà còn làm theo lời, theo lệnh cộng sản là người không có trái tim (Phỏng lời Cựu Tổng Thống Nga Vladimir Putin)
CSVN dẫn cọp về bắt dê nhà..!

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.


Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.
Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979.

. .
Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?


Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.


Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.


Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.
Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.


Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam , nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam , khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.


Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam , đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.


Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.


Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:

“Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . . ”

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.


Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?


Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.


Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi.


Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.


Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.


Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.
Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.


Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông.

Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.


Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân nhưcác mợ Tầu.
Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nốitiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.


Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?


Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu đểcắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?


Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.
Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọnày đã bôi nhọ mặt chúng ta!”


Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?


Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị.

Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?


Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.
Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.


1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.


2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.


Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.


Nếu như năm 1945, cha anh họlà các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.


Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họlà những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.


Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.

Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”

DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ.

Tại sao lại là hổ và dê?


Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.


Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽthấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phầnsống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.


Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻdựng lên công trình bauxite Tây nguyên?


Bauxite ư? Trò lừa đảo!


Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam , tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thếgiới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?


Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họlà trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.


Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam , Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.


Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộ bây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ.


Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó?

Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Bác chúng em

Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.


Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.


Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.


Tôi chứng minh:


Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từphương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụđã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.


Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợchẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.


Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏmặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết

dần chết mòn!


Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sựchuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.


Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trởthành kẻ thù của nhân dân.


Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệông chủ của nó?


Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉđã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và“Đầu trâu mặt ngựa ào ào nhưsôi”.


Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết.
Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?


Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ?


Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trảlời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứhai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.


Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lênủng hộ gia đình nạn nhân, con số lên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộchưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.


Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thếcăm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.


Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa nhưông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họcũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờtương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ởNga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.


Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cảthì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.


Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗicon người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản đểchủ nghĩa cuồng tín không thểđặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.


Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉđể làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (nhưông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộvà các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổdưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân.

.
Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt


Ai là dân Việt?

Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?
Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?


Ngoài các lý do về nhu cầu bờbiển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.


Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.


Đó là một nhận định sáng suốt.


Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúngủng hộ xâm chiếm Việt Nam . Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.


Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉlàm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổhọng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.


Vì lý do nào mà bộ trưởng bộquốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?


Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam , phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?


Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tựnguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?


Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.


Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi đểchống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.


Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam . Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “ Nam tiến”!


Nam tiến, nam tiến và nam tiến!


Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sựdưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.


Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.


Bây giờ, chúng ta không còn cơ hội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?


Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.


Để giữ được non sông, để có thểlà người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, mộtchính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.


Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.


Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.


Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉluỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộlông của chính nó mà thôi.


Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.
Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại sốphận bi thảm của An Dương Vương.


Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội khôngđứng lên cùng với họ.

Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?

DƯƠNG THU HƯƠNG

Bài Xem Nhiều