We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 6 September 2010

VN Sẽ Mất Hoàng Sa, Trường Sa Và Phần Lớn Vịnh Bắc Việt Về Tay TC, Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam Tiếp Tục Cầm Quyền

Hội Luận Về Biển Đông Do Hà Nội Tổ Chức Chỉ Là Hỏa Mù:
VN Sẽ Mất Hoàng Sa, Trường Sa Và Phần Lớn Vịnh Bắc Việt Về Tay TC,
Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam Tiếp Tục Cầm Quyền

LS. Nguyễn Thành


Thông Báo của Liên Hiệp Quốc

Ủy Ban Thềm Lục Địa LHQ [từ đây gọi tắt là Ủy Ban = Commission] đã kết thúc khoá họp 24 về thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lý tại trụ sở LHQ ở New York vào ngày 11 tháng 12 năm 2009. Bản tường trình rất dài của Ủy Ban [Statement of Commision CLCS/64] đã được phổ biến trên trang nhà “UNCLOS” và chúng tôi xin tóm lược một số điều cần biết hay liên quan tới Việt Nam dưới đây.

1. Ủy Ban cho biết đã nhận được 35 hồ sơ mới của 41 nước ven biển nộp cho khóa họp thứ 24 của Ủy Ban, từ 10/8/2009 đến 11/9/2009. Tuy là khóa họp 24 của Ủy Ban nhưng là khóa họp đầu tiên về thềm lục địa mở rộng sau hạn kỳ nộp đơn 10 năm, tính từ 13/5/1999 đến 13/5/2009. Vì số lượng hồ sơ quá nhiều nên Ủy Ban đã phải kéo dài khoá họp thêm 2 lần, mỗi lần 1 tuần lễ vào đầu tháng 11 và 12/2009. Nhưng Ủy Ban vẫn chưa giải quyết được gì về 35 hồ sơ mới, trong đó có 2 hồ sơ của Hà Nội.

2. Ủy Ban đã dành gần hết thời gian khoá họp để giải quyết 5 hồ sơ cũ [của Pháp, Barbados, Anh+North Ireland, Indonesia, Nhật] tồn đọng từ các khóa họp trước. Dù cả 5 hồ sơ này đều đã được các Tiểu Ban [Sub-Commission] thành lập bởi các khóa họp cũ để xem xét và đề nghị khuyến cáo, Ủy Ban chỉ giải quyết dứt điểm được 1 hồ sơ của Pháp nộp từ hơn 2 năm trước. Bốn hồ sơ cũ còn lại, Ủy Ban có giải quyết được thì sớm nhất cũng là năm 2010 [và rất có thể còn trễ hơn nữa].

3. Ủy Ban cũng cho biết đã nghe đại-diện 18 nước trình bầy về 15 hồ sơ xin mở rộng thềm lục địa [trong số 35 hồ sơ mới], trong số này đại diện Hà Nội [Huỳnh Minh Chính, Phó Ban Biên Giới, Bộ Nhoại Giao] đã trình bầy về hồ sơ nộp với Mã Lai ngày 6/5/2009 liên quan tới Nam Biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa và trình bầy về hồ sơ 7/5/2009 liên quan tới Bắc Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt.

Điều cần lưu ý ở đây là:

-Ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lý. Tuy Hà Nội tuyên bố trên báo chí và trong lời mở đầu hồ sơ ngày 6/5/2009 là xin “mở rộng” thềm lục địa VN
nhưng thực ra thì Hà Nội chỉ xác nhận lãnh hải VN có 200 hải lý trong c hồ sơ nộp Ủy Ban.

-Vùng biển rộng 200 hải lý này, theo Luật Biển LHQ, là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế mà các nước ven biển đương nhiên được hưởng, không cần phải đăng ký với Ủy Ban và chính Hà Nội cũng đã đăng ký Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý này từ ngày 12/11/1982 rồi.

-Theo Các Qui Tắc về Thủ Tục của Luật Biển thì Ủy Ban sẽ không cứu xét và phê chuẩn hồ sơ nếu có sự phản đối hay tranh chấp. Cả 2 hồ sơ của Hà Nội đều được rêu rao ầm ĩ là bị Trung Cộng và Phi Luật Tân phản đối ngay sau khi nộp nhưng vẫn được Ủy Ban cứu xét và rất có thể sẽ thông qua.

4. Về Thủ Tục Cứu Xét, muốn mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lý, nước ven biển phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban. Thời hạn nộp hồ sơ là 10 năm và hạn kỳ chót là ngày 13/5/2009 [như đã nói trên] và gồm các bản đồ kỹ thuật với toạ độ và cách tính để qui định đường ranh thềm lục địa ngoài 200 hải lý theo qui định của Luật Biển LHQ. Tổng Thư Ký LHQ phải thông báo bằng văn bản cho các nước hội viên Luật Biển khi nhận được hồ sơ. Văn bản thông báo này cũng phải được phổ biến trên trang nhà UNCLOS.

Để giải quyết 1 hồ sơ, Ủy Ban trước hết phải chỉ định 1 Tiểu Ban 7 người để xem xét hồ sơ. Tiểu Ban họp riêng khi xem xét hồ sơ và có thể yêu cầu nước nộp hồ sơ cung cấp thêm tài liệu hoặc thay đổi hồ sơ, nếu cần. Tiểu Ban phải thông báo cho nước liên hệ biết kết luận về hồ sơ của Tiểu Ban và phải đọc cho nước này biết các khuyến cáo [Recommendations] của Tiểu Ban trước khi đệ trình Ủy Ban.

Trong lúc Ủy Ban hội họp để thận trọng duyệt xét các khuyến cáo do Tiểu Ban đệ trình, nước liên hệ có quyền yêu cầu để được trình bầy quan điểm của mình về khuyến cáo của Tiểu Ban. Ủy Ban cũng có thể yêu cầu nước liên hệ thay đổi một phần hay toàn bộ hồ sơ cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Luật Biển LHQ. Nếu Ủy Ban không có ý kiến khác thì khuyến cáo của Tiểu Ban sẽ là quyết định của Ủy Ban. Quyết định của Ủy Ban có giá trị chung quyết và ràng buộc nước đệ trình hồ sơ.

Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa khoá họp thứ 24 [vừa kết thúc] do Đại Hội Đồng các nước hội viên Luật Biển LHQ [họp từ 14 đến 15/6/2007] bầu ra, gồm 21 ủy viên, với nhiệm kỳ 5 năm, từ 16/6/2007 đến 15/6/2012. Như thế, Ủy Ban chỉ có thể thành lập tối đa là 3 Tiểu Ban và đó là lý do khiến việc giải quyết hồ sơ rất chậm, thường mất nhiều năm. Các thí dụ sau đây chứng tỏ điều này: 1] Hồ sơ của Brazil nộp ngày 17/5/2004, Ủy Ban giải quyết ngày 9/4/2008, mất 4 năm. 2] Hồ sơ Barbados nộp ngày 8/5/2008, Ủy Ban hẹn sẽ giải quyết vào năm 2010. 3] Hồ sơ Cuba nộp ngày 1/6/2009 [tức sau 13/5/2009 17 ngày], Ủy Ban quyết năm 2030 mới giải quyết, tức 20 năm nữa.

Một điều đáng lưu ý nữa là trong số 21 ủy viên của Ủy Ban có đại diện Trung Cộng, Bắc Hàn và Nga.

Như thế, Hà Nội vừa ở lợi thế cầm quyền và hội viên Luật Biển nên có thể nộp hồ sơ cho Ủy Ban về thềm lục địa mở rộng rồi có thể bổ túc hay thậm chí thay đổi toàn bộ hồ sơ sau khi nộp; thêm vào đó trong số 21 thành viên của Ủy Ban đương nhiệm [nhiệm kỳ 5 năm nên quyền hành còn kéo dài tới năm 2012] có đại diện của Nga và nhất là Trung Cộng và đàn em Bắc Hàn; Hà Nội gần như “muốn sao được vậy;” Hà Nội [và Bắc Kinh] biết rất rõ những điều trên đây nên đã và đang lợi dụng tối đa những lợi thế này để “hoàn tất” những gì 2 Đảng CS đã thỏa thuận ngầm từ bao năm nay. Vì thế, Đảng CSVN còn cầm quyền thì Việt Nam [chí ít] sẽ mất và mất vĩnh viễn Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt vào tay bành trướng Bắc Kinh bằng chính Luật Biển LHQ.

[Dưới đây là tóm lược bài phân tích 2 hồ sơ của Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa vào ngày 6 và 7/5/2009. Người viết thực hiện bài phân tích này vào đầu tháng 7/2009 [tức 1 tháng trước khi Ủy Ban Thềm Lục Địa khai mạc khoá họp 24 vào ngày 10/8/2009 và 5 tháng trước khi Ủy Ban phổ biến Thông Báo nói trên] để thuyết trình tại 2 buổi Hội Luận “Tìm Phương Cứu Nguy Đất Nước” do TS Nguyễn Thanh Liêm [cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH] tổ chức ở Little Sàigòn, Thủ Đô của Người Việt Tị Nạn CS ở Hoa Kỳ, vào 2 ngày 25 và 26/7/2009, được trực tiếp truyền hình toàn Hoa Kỳ]

Nhận Định

1. Để có một nhận định chính xác về 2 hồ sơ của Hà Nội, trước hết cần lưu ý một số điều sau đây:

-Ngày13/5/2009 là hạn kỳ chót để các nước ven biển nộp hồ sơ mở rộng thềm lục điạ đến tối đa 350 hải lý theo Luật Biển LHQ, không phải là ngày chót để xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý.

-Việc Hà Nội bỏ phí suốt 10 năm [từ 13/5/1999 đến 7/5/2009] và chỉ còn vài ngày là hết hạn mới nộp 2 hồ sơ là một dấu hiệu cần phải lưu ý.

-Ai cũng biết hiện nay Đảng CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng CSTH; do đó nếu không có sự đồng ý hay dàn dựng của Bắc Kinh thì Hà Nội không khi nào dám nộp hồ sơ.

-Trước khi Uỷ Ban nhóm họp, các nước hội viên Luật Biển LHQ đã họp trước, cũng tại trụ sở LHQ, để thông qua chương trình khóa họp của Uỷ Ban.

-Khoá họp 24 này của Ủy Ban sẽ không thể giải quyết hết hồ sơ mới cũ được vì hồ sơ của Russia nộp từ 20/10/2001 mà ngày 1/6/2009 mới được giải quyết.

2. Theo Luật Biển LHQ, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lý thuộc chủ quyền tuyệt đối và đương nhiên của các nước ven biển, không cần phải đăng ký.

-Nếu xảy ra tranh chấp ở vùng này thì có thể nhờ Toà Án Quốc Tế Hamburg hay Toà Án Quốc Tế La Hague phân xử hoặc đưa ra trước Hội Đồng Bảo An LHQ nếu có xâm lăng.

-Hà Nội ký Luật Biển ngày 10/12/1982, phê chuẩn ngày 25/7/1994, tức rất sớm tất biết rõ như trên. Khi Trung Cộng lấn chiếm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý, bắn giết ngư dân VN hành nghề hợp pháp trong vùng và xâm lăng Trường Sa, Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước các cơ quan thẩm quyền để phân xử, trừ khi đã thỏa thuận ngầm với Bắc Kinh nên Trung Cộng mới lộng hành như vậy.

-Luật Biển LHQ rất phức tạp, ngoài 320 điều khoản, 9 phụ bản, còn có những thoả thuận riêng. Nếu việc gì Luật Biển LHQ không qui định thì giải quyết theo tập tục và qui tắc tổng quát của Luật Quốc Tế.

-Điều 8 Luật Biển LHQ qui định:

a. Đường căn-bản [baseline] là lằn nước thuỷ triều xuống thấp nhất tại các nước ven biển
b. Nội-hải [historic water] là vùng biển bên trong đường căn-bản
c. Lãnh-hải [territorial sea] là vùng biển ngoài đường căn-bản, xưa là 3 hải lý, nay thường là 12 hải lý
d. Hải-phận [contiguous sea] là vùng biển 12 hải lý bên ngoài lãnh-hải
e. Vùng đặc quyền kinh tế [exclusive economic zone] rộng 200 hải lý, tính từ đường căn-bản ra khơi
f. Thềm lục điạ [continental shelf] rộng 200 hải lý, cũng tính từ đường căn-bản ra khơi, có thể mở rộng đến 350 hải lý và gọi là Thềm Lục Địa mở rộng [extended continental shelf].

3. Biển Đông rộng gần 1 triệu 100 ngàn hải lý vuông, Vịnh Bắc Việt chiếm hơn 1/3 diện tích Biển Đông, VN nằm sát bên Biển Đông và bờ biển dài 3,260 km, trải qua 13 vĩ độ, từ vĩ độ 21 N đến vĩ độ 8 N.

-Vì bờ biển VN rất dài [so với diện tích đất liền] nên Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý của VN có diện tích gần gấp 2 diện tích 329,600 km2 đất liền. Nay nếu Thềm Lục Địa VN mở rộng ra 350 hải lý theo qui định của Luật Biển LHQ thì lãnh hải VN rộng gấp 4 lần đất liền và bao gồm luôn Hoàng Sa Trường Sa vì khi đó hai quần đảo này nằm gần trọn trên Thềm Lục Địa “mở rộng” 350 hải lý của VN và lãnh thổ và lãnh hải VN sẽ rộng tới 1, 329,560 km2.

-Nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có một phần nhỏ nằm cách bờ biển VN 200 hải lý, hầu hết các đảo của hai nhóm này đều nằm rất xa ngoài khơi, có nơi cách bờ biển VN tới 400 hải lý. Hà Nội biết rõ điều này nên khi xác nhận thềm lục điạ VN 200 hải lý và không xin mở rộng ra 350 hải lý là phải có ý đồ? Hay đã đến lúc Bắc Kinh tăng tốc chiếm VN và buộc Hà Nội phải công khai hóa những gì đảng CSVN và CSTH đã thoả thuận ngầm từ lâu, như hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000?

Hà Nội dâng Trường Sa cho Bắc Kinh qua hồ sơ nộp với Mã Lai ngày 6/5/2009?

1. Như đã nói trên, ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ mở rộng thềm lục địa đến tối đa 350 hải lý theo qui định của Luật Biển LHQ, không phải ngày xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý. Nhưng hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội không những không xin mở rộng thềm lục địa cho VN đến tối đa 350 hải lý mà VN có đầy đủ điều kiện để được hưởng mà chỉ xác nhận lãnh hải VN có 200 hải lý và bản đồ kỹ thuật kèm theo hồ sơ thì cố ý gạt hầu như toàn bộ nhóm đảo Trường Sa ra ngoài lãnh hải VN.


[Bản đồ trong hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội, đường ranh 200 hải lý của VN né đụng tới Trường Sa]

2. Trung Cộng ký Luật Biển LHQ ngày 10/12/1982 và phê chuẩn ngày 7/6/1996 nhưng chưa bao giờ tôn trọng Luật Biển LHQ. Hơn thế nữai, Trung Cộng còn tự ban hành Luật Biển riêng và tự công bố bản đồ lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông, bất chấp các qui định của Luật Biển LHQ.

-Bản đồ lưỡi bò lấn sát bờ biển VN, có nơi chỉ cách bờ biển VN 40 hải lý [tức vi phạm trầm trọng Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý của VN], chạy dài xuống tận đảo Natuma, Nam Dương, tức cách xa lục địa Trung Hoa khoảng 1000 hải lý, trong lúc Luật Biển LHQ qui định Thềm Lục Địa mở rộng không được vượt qúa 350 hải lý.

-Trung Cộng chỉ cho đại diện tại LHQ gửi công hàm ngày 8/5/2009 cho Tổng Thư Ký LHQ để yêu cầu Ủy Ban không cứu xét hồ sơ của VN-Mã Lai. Kèm với công hàm là bản đồ lưỡi bò mà Trung Cộng biết rằng Uỷ Ban sẽ không thể nào chấp thuận được vì nó không theo một qui tắc nào của Luật Biển LHQ cả.

3. Uỷ Ban Thềm Lục Địa LHQ không có thẩm quyền phân định ranh giới biển. Nguyên tắc của Uỷ Ban là khuyến khích các nước liên hệ tự giải quyết việc phân ranh với nhau. Nếu có tranh chấp giữa 2 hay nhiều nước thì Uỷ Ban có thể không chấp thuận hồ sơ của cả 2 hay nhiều nước.

-Điều cần lưu ý ở đây là đường ranh giới 200 hải lý của Mã Lai mới thực sự lấn chiếm nhiều đảo của Trường Sa. Nên Trung Cộng phản đối hồ sơ 6/5/2009 là nhắm vào Mã Lai hơn là VN vì đường ranh 200 hải lý VN không ảnh hưởng bao nhiêu đến Trường Sa nếu không muốn nói là không ảnh hưởng gì đến nhóm đảo này vì hầu hết các đảo của Trường Sa đều nằm ngoài ranh giới 200 hải lý của VN. Trung Cộng phản đối ồn ào là để che đậy âm mưu “công khai hoá” và “hợp pháp hoá” hiệp ước 25/12/2000 trong đó Hà Nội đã lén lút dâng cho Bắc Kinh 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và nay dâng Hoàng Sa qua hồ sơ ngày 7/5/2009.

-Nới khác đi, hồ sơ 6/5/2009 chỉ là “diện” và hồ sơ 7/5/2009 mới là “điểm” vì hồ sơ này liên quan tới Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa và nhằm mục đích công khai hoá và hợp pháp hóa những gì đã dấu kín nhiều năm kể từ khi ký hiệp ước về Vịnh Bắc Việt 25/12/2000.

4. Tuy nhiên, vấn đề chưa hẳn kết thúc ở đây. Các nước liên hệ còn quyền đưa vấn đề ra trước Toà Án Quốc Tế chuyên về biển ở Hamburg, Đức-quốc hay Toà Án Quốc Tế ở La Hague, Hoà Lan.

Đưa ra Toà Án Quốc Tế La Hague [1945] thì cũng như không, chẳng giải quyết được gì vì theo quy chế của Toà này thì hai bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của Toà cho dù chính họ nhờ Toà phân xử. Trái lại, phán quyết của Toà Án Quốc Tế Hamburg [1996] chuyên về Luật Biển thì có gía trị chung quyết và các bên tranh tụng phải chấp hành.

Do đó, vấn đề là liệu Hà Nội có dám tiến tới hay không? Điều này rất khó xảy ra lúc này vì ai cũng biết đảng CSVN hiện nay hoàn toàn lệ thuộc đảng CSTH. Bắc Kinh bảo sao thì Hà Nội cúi đầu làm vậy.

Hà Nội âm mưu hợp pháp hoá hiệp ước 25/12/2000 qua hồ sơ ngày 7/5/2009


Bản đồ trong hồ sơ 7/5/09 của Hà Nội-Hình tam giác ngược
đỉnh nhọn ở dưới, đáy nằm nghiêng ở trên, vĩ tuyến 15N067

1. Ngày 7/5/2009, Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa hồ sơ liên quan đến phía Bắc Biển Đông, tức liên quan đến Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa. Tuy lời mở đầu hồ sơ này có nói Hoàng Sa và Trường Sa là của VN và nói tới việc mở rộng Thềm Lục Điạ VN ra ngoài 200 hải lý nhưng phần chính văn bản cần xác định chủ quyền VN đối với Hoàng Sa hiện do Trung Cộng chiếm giữ bất hợp pháp bằng võ lực, vi phạm Luật Biển LHQ, thì Hà Nội không nói gì tới Hoàng Sa nữa và bản đồ kèm theo hồ sơ thì rõ ràng là Hà Nội cố ý gạt Hoàng Sa ra ngoài đường ranh 200 hải lý của VN.

-Đường ranh giới 200 hải lý của VN màu đỏ [trong bản đồ của hồ sơ 7/5/2009 trên đây] đi từ vĩ độ 10 N lên phía Bắc, khi gặp quần đảo Hoàng Sa ở vĩ độ 15 N thì đột ngột dừng lại.

-Đường vẽ trong bản đồ trên không chính xác. Hà Nội cố ý vẽ đường ranh 200 hải lý này nhô lên vĩ độ 16 N, trong lúc hồ sơ ghi rõ là đường ranh này dừng lại ở vĩ độ 15 N 067, tức chỉ nhô khỏi vĩ độ 15 N một chút, chứ không thể tới vĩ độ 16 N được. Đường ranh 200 hải lý của VN này dừng lại khi gặp Hoàng Sa..

-Vùng biển Hà Nội xin mở rộng ra ngoài 200 hải lý trong hồ sơ 7/5/2009 có hình tam giác ngược, đỉnh rất nhọn phía dưới và ở vĩ tuyến 10 N 798, cạnh đáy hơi nghiêng nằm chếch ngang phía trên, cạnh phía Đông có đỉnh ở vĩ tuyến 15 N 067, và cạnh phía Tây với đỉnh ở vĩ tuyến khoảng 15 N 200.

-Điều cần lưu ý là đỉnh hình tam giác ngược này nằm ở vĩ tuyến 10 N 798, cách rất xa quần đảo Trường Sa như cố tránh đụng nhóm đảo Trường Sa. Cạnh đáy nằm chếch ngang ở phía trên khi chớm đụng nhóm đảo Hoàng Sa là dừng lại ở vĩ tuyến 15 N 067, trong khi nhóm đảo Hoàng sa chỉ nằm từ vĩ độ 15 N này lên hết vĩ độ 17 N, tức cố ý gạt cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa ra ngoài vùng biển hình tam giác ngược mà Hà Nội nói là xin mở rộng cho VN.

-Nói khác đi, vùng biển Hà Nội xin mở rộng ngoài 200 hải lý mang hình tam giác ngược chỉ là một vùng nước biển, dưới cố ý tránh đụng Trường Sa, trên cố né chạm Hoàng Sa, tức chẳng ảnh hưởng gì tới phần chính của hai quần đảo này hay có đụng chạm đôi chút đến quần đảo Trường Sa thì cũng chỉ là một vài đụn hay đá không giá trị bao nhiêu.

Tóm lại, tuy lời mở đầu hồ sơ 7/5/2009 có nói Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của VN nhưng phần chính hồ sơ thì lờ đi và đường ranh giới 200 hải lý thì gạt Hoàng Sa ra ngoài Thềm Lục Điạ VN 200 hải lý với mưu toan xác định Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt đã được giải quyết qua hiệp ước lén lút phân định lại Vịnh Bắc Việt ngày 25/12/2000.

2. Hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt giữa Đảng CSVN và Đảng CSTH ký ngày 25/12/2000, cho đến nay vẫn được dấu kín nhưng dư luận đã ầm ĩ từ trong nước ra hải ngoại việc VN mất trên 11 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt. Đến khi 1 bản đồ trong hơ sơ mật của Hà Nội bị phát hiện thì mọi ngưới mới hay Hà Nội đã hiến cho Bắc Kinh tới 20 ngàn km2 Vịnh Bắc Việt, không phải chỉ 11 ngàn km2.

Trong số 21 điểm qui định trong bản đồ đính kèm hiệp ước 25/12/2000 [dưới đây], ngoại trừ điểm 1 nằm ở vĩ tuyến 21 độ Bắc, tức cửa sông Bắc Luân ở ranh giới tỉnh Móng Caí/VN và tỉnh Quảng Đông/TH, các điểm mốc từ số 2 đến số 21 đều lấn sâu vào bờ biển VN. Như điểm mốc 17 cách bờ biển VN 44 hải lý và cách Hải Nam 73 hải lý; tức sự phân chia vùng biển không đồng đều như Luật Biển qui định mà phía TH vượt trội phía VN tới 29 hải lý.


[Bản đồ Hà Nội trong hiệp-ước Phân Định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000]

Theo các nhà nghiên cứu và giới hiểu biết vấn đề thì Hà Nội đã để cho Bắc Kinh lấy bằng hết vùng thủy tra thạch cửa sông Hồng VN, nơi có tiềm năng dầu khí.

3. Trước dư luận lên án đảng CSVN lén lút dâng biển cho đảng CSTH ngày càng dữ dội, ngày 28/1/2002 Lê Công Phụng -Thứ Trưởng Ngoại Giao và Trưởng Ban đàm phán về biên giới và phân định lại Vịnh Bắc Việt, lên tiếng thanh minh thì lại lộ ra chẳng những Đảng CSVN đã bán nước cho Đảng CSTH từ lâu rồi mà chính Phụng cũng dối gạt dân chúng về cả Luật Biển LHQ.

Theo lời Phụng thì chính TBT Đỗ Mười [năm 1993] và TBT Lê Khả Phiêu [1997] đã sang Bắc Kinh để “thoả thuận các nguyên tắc căn bản về biên giới và lãnh hải” với TBT Giang Trạch Dân. Phụng còn dám dối gạt rằng y đã “căn cứ vào các qui định của Luật Biển LHQ và các nguyên tắc quốc tế và tập quán” trong lúc đàm phán với Bắc Kinh. Sự thực trái ngược hẳn lời Phụng tuyên bố và sau đây là vài thí dụ:

-Theo Luật Biển LHQ, nếu 2 bên không thỏa thuận được với nhau thì phân chia lãnh hải theo “đường trung tuyến” [median line]. Đường trung tuyến trong trường hợp này là đường giữa đảo Bạch Long Vị của VN và đảo Hải Nam của TH; khoảng cách phải bằng nhau giữa 2 đảo này. Nhưng Phụng đã bất chấp điều luật này và chấp thuận đường phân chia cách Bạch Long Vĩ 15 hải lý và cách Hải Nam 55 hải lý, tức là phiá TH vượt trội phía VN 40 hải lý. Luật Biển LHQ cũng qui định đường trung tuyến phải chạy giữa 2 đường bờ biển hay giữa 2 giữa 2 đảo; Phụng đã bất chấp qui định này và chấp thuận đường truong tuyến giữa đảo Hải Nam với bờ biển VN, hy sinh luôn đảo Bạch Long Vĩ của VN.

-Toà Án Quốc Tế, án lệ Lybia vs. Malta [1985], đã phán quyết đảo dù lớn đến đâu cũng không bình đẳng với lục địa được và không cho đảo Malta được có lãnh hải bằng lục địa Lybia. Phụng đảo ngược Án Lệ Lybia khi cho đảo Hải Nam có lãnh hải hơn hẳn lục địa VN.

Theo giới am hiểu vấn đề thì cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều không có một lý do nào để phân định lại Vịnh Bắc Việt. Hiệp ước Constans ký kết tại Bắc Kinh ngày 16/6/1887 giữa đại diện Pháp [đô hộ VN lúc đó] và đại diện nhà Thanh [đô hộ TH] vẫn còn hiệu lực và phù hợp với Luật Biển LHQ mà Hà Nội và Bắc Kinh đều đã ký kết. Ngày 12/11/1982, chính Hà Nội đã công bố lãnh hải VN vùng Vịnh Bắc Việt phải theo hiệp ước 16/6/1887, tức 63% diện tích Vịnh Bắc Việt thuộc về VN. Bắc Kinh không chịu, buộc Hà Nội phải phân định lại vùng này và đảng CSVN đã cúi đầu khuất phục và lén lút ký hiệp ước 25/12/2000.

Hậu qủa của hiệp ước 25/12/2000 là VN đi từ 63% diện tích cũ xuống còn 53%. Thực tế còn bi đát hơn nữa: Trung Hoa chiếm tới 55% và VN 45% là tối đa, tức VN mất 20% hay khoảng 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng qua việc phân định lại Vịnh Bắc Việt. Vì mất mát quá nhiều như thế nên Hà Nội đã dấu kín hiệp ước suốt bao năm qua.

Đôi dòng kết luận

1. Với sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN, Bắc Kinh đang từng bước chiếm VN mà không cần phải động binh vừa hao người tốn của lại bị thế giới xúm vào lên án. Sau việc cho nhập cảnh không cần chiếu khán, đảng CSVN đã rước Trung Cộng vào ngồi ngay trên “mái nhà” VN giả danh khai thác bauxite bất chấp sự phản đối quyết liệt của người dân. Nay, lợi dụng việc xin mở rộng Thềm Lục Địa, đảng CSVN mưu toan dâng Trường Sa, Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt tức “nền nhà” VN cho Bắc Kinh qua hai hồ sơ nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009. .

2. Đất nước đã đến bờ vực thẳm! Bắc Kinh đang chiếm VN bằng “diễn tiến hoà bình” với sự đồng loã công khai của Hà Nội và với đà này thì VN sẽ lâm vào tình trạng Tân Cương và Tây Tạng một ngày không xa. Xin chớ nghĩ rằng VN từng bị ngàn năm Bắc-thuộc mà vẫn vùng lên giáng cho quân xâm lược những đòn chí tử vì kẻ thù ngày nay thâm độc và tàn ác gấp ngàn lần; nhìn gương Tây Tạng và Tân Cương thì rõ. Và cũng đừng ngây thơ mà trông chờ, tin tưởng vào bất cứ ai vì chén đắng 30/4/1975 còn nguyên trước mặt.

3. Ngoại xâm đang ngang nhiên cấu kết với nội xâm và đang tăng tốc để thực hiện những bước cuối cùng chiếm trọn VN. Nếu đồng bào quốc nội không mau tỉnh giấc để nhận ra tình huống vô cùng nguy hiểm của chính mình, người thân và dân tộc mà can đảm nhất loạt đứng lên thì rồi đây sẽ rơi vào số phận đáng thương người Tây Tạng và Tân Cương! Nếu đồng hương hải ngoại không gạt bỏ tị hiềm phe phái, vô tình hay cố ý lôi kéo mọi người vào những việc làm trình diễn hay chưa cần thiết và ngoảnh mặt làm ngơ trước tình thế cực kỳ mong manh của đất nước và dân tộc hiện nay thì sẽ phải trả giá với lương tâm và với lịch sử một ngày không xa!

Ls Nguyễn Thành
Coordinator, “Justice & Peace Committeee for Paracel & Spratly Islands of Vietnam”

Tài liệu tham khảo:

-United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982
-Joint Submission by Malaysia & VN- in the So.part of the So.China Sea and VN – in No. Area
-Vũ Hữu San, Địa Lý Biển Đông với HS-TS, 2007;
-Nguyễn Thành, Đưa Việt Cộng ra trước LHQ, Toà Án các Quốc Gia và Toà Án Hình Sự Quốc Tế 2002?, tạp chí Tiếng Vang, Sacramento, Hoa Kỳ, số tháng 5 và tháng 6/2002.

Chú thích:

[1] 8 hồ sơ của Russia; Brazil; Australia; Ireland; New Zealand; hồ sơ chung của France, Ireland, Spain, United Kingdom; Norway; Mexico. [Hồ sơ về thềm lục địa của cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn không thấy liệt kê trong số 51 hồ sơ này].

[2] Nguyên văn điều 76 Luật Biển LHQ: “An Exclusive Economic Zone extends for 200 nautical miles [370km] beyond the baselines of the territorial sea, thus it includes the territorial sea and its contiguous zone. A coastal nation has control of all economic resources within its EEZ, including fishing, mining, oil exploration, and any pollution of those resources. However, it can’t regulate or prohibit passage or loitering above, on, or under the surface of the sea, whether innocent or belligerent, withinthat portion of its EEZ beyond its territorial sea.”

[3] Toà Án Quốc Tế chuyên về Luật Biển [International Tribunal for the Law of the Sea = ITLOS] do Luật Biển LHQ 1982 thiết lập, hoạt động từ năm 1996, trụ sở ở Hamburg, Đức, có quyền xét xử tranh chấp giữa các hội viên của Luật Biển LHQ và độc lập với LHQ hơn là Toà Án Quốc Tế La Hague.
Toà Án Quốc Tế [International Court of Justice=ICJ] La Hague, Hoà Lan, thiết lập năm 1945 bởi LHQ. Đến nay, đã 54 năm nhưng Toà này chỉ xét xử được 144 vụ vì quá lệ thuộc vào LHQ và nhất là “bất lực.”

[4] Nguyên văn điều 77 Luật Biển: “The continental shelf of a coast al nation extends out to the outer edge of the continental margin but at least 200 nautical miles from the baselines of the territorial sea margin does not stretch that far. The outer limit of a country’s continental shelf shall not stretch beyond 350 nautical miles of the baseline, or beyond 100 miles nautical miles from the 2,500 meter isobath.


Trung Quốc vừa dạy đời vừa răn đe Hà Nội

Trung Quốc vừa dạy đời vừa răn đe Hà Nội

Wang Chi-WenNguyên Hân lược dịch


Sự cấu kết của Mỹ - Việt làm gia tăng sự căng thẳng trong vùng biển Nam Hải


Hoa Kỳ và Việt Nam đang cấu kết lẫn nhau một cách khắn khít và gia tăng mối quan hệ quân sự với mũi nhọn chĩa thẳng vào Trung Quốc, từ đó làm phức tạp vấn đề biển Nam Hải, làm trầm trọng chuyện tranh chấp chủ quyền, và biến biển Nam Hải thành thùng thuốc nỗ châm ngòi cho một sự xung đột quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trung Quốc nên đối xử những nước liên quan vấn đề biển Nam Hải một cách khác nhau để tìm kiếm một điểm đồng thuận, nhằm giải quyết ý đồ gieo mối bất hoà của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ là nước siêu bá chủ trên thế giới, trong lúc Việt Nam không những chỉ luôn muốn thống trị toàn Bán đảo Đông dương mà còn cho rằng họ “làm chủ” toàn bộ tính chủ quyền của hai quần đảo Xisha (Hoàng Sa) và Nansha (Trường Sa) của Trung Quốc. Việt Nam đã thẳng tay trong việc phát triển vũ khí và kéo bè kéo bọn với các cường quốc ngoại quốc trong một nỗ lực hão huyền là chiếm hầu hết các đảo đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Trung Quốc và vùng lãnh hải lân cận đó.

Việt Nam đã chia khu vực biển chung quanh đảo Trường Sa của Trung Quốc mà Việt Nam đang chiếm giữ thành 100 khu vực đấu thầu dầu và khí đốt, và đã ký những hợp đồng khai thác dầu khí liên tục từ hợp đồng này qua hợp đồng khác với Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Đức và những nước khác trong những năm qua, trong một cố gắng dùng lợi ích kinh tế từ dầu và khí đốt để quyến rũ, thu hút và chiếm được cảm tình của những cường quốc nói trên, nhằm hậu thuẩn cho sự chiếm đóng tiếp tục hầu hết các đảo đá ngầm thuộc đảo Trường Sa của Trung Quốc cũng như vùng biển chung quanh đó. Cho đến nay, ngoài Hoa Kỳ là nước đã bắt đầu cấu kết với Việt Nam, thì Nhật Bản và Pháp cũng bày tỏ sự hậu thuẩn của họ dành cho Việt Nam.

Hoa Kỳ đang ve vãn Việt Nam như đồng minh

Ở buổi hội thảo chiến lược giữa Nhật Bản và Việt Nam hôm tháng Bảy năm nay, Nhật Bản hứa giúp Việt Nam xây dựng quân lực, trong lúc Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản ông Katsuya Okada liên tục nhấn mạnh rằng Nhật Bản không thể thờ ơ và tiếp tục duy trì tình trạng dững dưng đối với vấn đề tranh chấp ở biển Nam Hải. Tháng Bảy năm nay, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp tuyên bố ở Việt Nam là Pháp sẽ thỏa mãn nhu cầu cho tất cả các loại vũ khí cho Việt Nam.

Hoa Kỳ âm mưu dùng vấn đề biển Nam Hải để trở lại Đông Nam Á châu

Hôm 23 tháng Bảy, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton tuyên bố ở diễn đàn an ninh vùng Á châu ở Hà Nội là chuyện giải quyết sự tranh chấp chủ quyền của những quần đảo trong vùng biển Nam Hải sẽ đồng nghĩa với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Trong những nước liên quan đến vấn đề biển Nam Hải, Việt Nam có sự mâu thuẫn lớn nhất, rõ rệt nhất và có mối tranh chấp lâu dài nhất với Trung Quốc và về mặt quân sự lại mạnh nhất. Vì lý do này, Hoa Kỳ đã chọn Việt Nam như là bàn đạp cho sự kình chống Trung Quốc và cũng có cớ để quay về lại Đông Nam Á châu. Hoa Thạnh Đốn cho rằng biển Nam Hải là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, mà thực ra đó là những lợi ích bá quyền. Để can thiệp vào vấn đề biển Nam Hải, Hoa Kỳ đã hăm dọa là không loại bỏ sự can thiệp bằng quân sự. Hoa Kỳ đang có ý định phát triển Việt Nam thành một đồng minh mới của họ.


Vừa là đồng chí: Từ trái, Trường Chinh, Hồ Chí Minh, cố vấn quân sự Trung Quốc Trần Canh và La Quý Ba (07/1950). Nguồn: english.pladaily.com.cn
Hôm 5 tháng Tám, Hạm trưởng soái hạm USS Blue Ridge của Đệ thất Hạm đội nói một cách đe dọa: Hải quân Trung Quốc nên ứng xử thận trọng trong việc “tranh chấp” lãnh hải ở biển Nam Hải. Ngày 8 tháng Tám, hàng không mẫu hạm George Washington ghé thăm thành phố Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam và đón một phái đoàn quân sự Việt Nam ra thăm tàu trong lúc tàu thảo neo gần Đà Nẵng.

Ngày 10 tháng Tám, khu trục hạm USS John McCain ghé vào cảng Việt Nam. Khi hạm trưởng người Mỹ gốc Hàn ông Jeffery Kim và thủy thủ đoàn vào cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng, họ nhận được sự tiếp đón nồng hậu từ phía Hải quân Việt Nam. Chiến hạm này rời bến sáng hôm sau, cùng với Hải quân Việt Nam, tiến hành bốn ngày huấn luyện trong các lãnh vực phòng không, sửa chữa và bảo trì khẩn cấp, và chống hỏa hoạn. Hàng không mẫu hạm George Washington cũng tham dự trong cuộc huấn luyện này. Phát biểu về cuộc huấn luyện này, một viên chức của Bộ Quốc phòng Việt Nam nói một cách đê mê, ngất ngây: Trong thời gian gần đây, Việt Nam đặc biệt bị quấy rầy bởi “tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc”. “Sự có mặt của chiến hạm Hoa Kỳ ở các hải cảng Việt Nam có một ý nghĩa chiến lược to lớn.” “Tôi tin rằng Hoa Kỳ có thể đóng một vai trò quan trọng hơn trong vùng này.”

Cả hai bên đều có lợi ích chiến lược

Rõ ràng cuộc viếng thăm Việt Nam của hàng không mẫu hạm và chiếc khu trục hạm hôm 8 và 10 tháng Tám cũng như cuộc huấn luyện chung với Hải quân Việt Nam là đang chĩa mũi nhọn vào Trung Quốc và tung một đòn làm ảnh hưởng nghiêm trọng cho quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam và Trung Quốc – Hoa Kỳ.

Hôm 5 tháng Tám, báo Wall Street Journal của Hoa Kỳ tường thuật: Cuộc thương thảo giữa Hoa Kỳ và Việt Nam về việc chia sẻ kỹ thuật và nhiên liệu hạt nhân đã đi vào giai đoạn cuối. Hoa Kỳ ngay cả cân nhắc đến chuyện cho phép Việt Nam tự làm giàu chất uranium. Bản tường thuật cho hay: Theo sự hợp tác hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, giới doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ được phép bán lò phản ứng và thiết bị hạt nhân cho Việt Nam. Năm 2001, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận cung cấp nhiên liệu hạt nhân và phát triển năng lượng hạt nhân cho mục đích dân sự. Giám đốc Viện Nguyên tử lực Việt Nam ông Vương Hữu Tấn nói: Hai bên đã đạt được sự thỏa thuận tạm thời về hợp tác hạt nhân trong tháng Ba năm nay, và hy vọng sẽ hoàn tất vào cuối năm. Đây là một bằng chứng cụ thể nữa cho thấy một Hoa Kỳ một mặt hai lòng dành cho những nước tự làm giàu uranium cho chính họ.

Cuộc Chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975. Năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ làm lành và thiết lập mối quan hệ ngoại giao. Kể từ khi chiếc chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ ghé thăm thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào năm 2003, mối quan hệ quân sự giữa hai bên ngày càng sâu đậm, bao gồm những cuộc họp và huấn luyện sĩ quan cao cấp. Năm 2009, hàng không mẫu hạm USS John Stennis và soái hạm USS Blue Ridge của Đệ thất Hạm đội, cùng với khu trục hạm USS Lassan đã lần lược ghé thăm Việt Nam. Hoa Thạnh Đốn muốn biến Việt Nam thành điểm tựa cho việc Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á châu, trong lúc Việt Nam hy vọng dựa dẫm vào sức mạnh của Hoa Kỳ để bành trướng quyền lợi trên mặt biển, và gia tăng sự mặc cả của Hà Nội để được tham dự vào vai trò to lớn hơn trên đấu trường quốc tế. Những lợi ích chiến lược chung như thế đã trở thành động lực chính cho sự phát triển nhanh chóng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm gần đây. Trong thời gian đầu khi mối quan hệ song phương mới được thành lập, mối quan hệ này giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ thuần tập chú vào cấp cứu mang tính nhân đạo. Kể từ khi bước vào thế kỷ mới, mối quan hệ song phương đã đi vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Hoa Kỳ giúp Việt Nam vào WTO, mậu dịch song phương tăng 38.5 lần từ 400 triệu đô-la ở thời điểm hai nước thiết lập mối ngoại giao giờ tăng lên 15.4 tỉ trong năm 2009; Hoa Kỳ hiện giờ là nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, và số sinh viên Việt Nam du học ở Hoa Kỳ từ con số 800 trong thời gian đầu giờ tăng lên 13.000 hiện nay, tăng 16.25 phần trăm.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa lấy làm thỏa mãn với mối quan hệ song phương chỉ bao gồm trong các lãnh vực kinh tế, mậu dịch, văn hoá và giáo dục. Hơn thế nữa, Hà Nội mong muốn gia tăng sự hợp tác với Hoa Kỳ trong hai lãnh vực quân sự và quốc phòng. Cùng lúc quan đội Hoa Kỳ và Việt Nam thường có những cuộc thăm viếng ở cấp cao, thì quân đội hai nước có kế hoạch nhằm cũng cố sự hợp tác này. Hoa Thạnh Đốn có ý định hổ trợ sự huấn luyện quân sự cho sĩ quan Việt Nam, trong lúc Việt Nam cũng hy vọng gởi sĩ quan đi học ở các học viện quân sự của Hoa Kỳ. Trong cuộc viếng thăm Việt Nam vào tháng Bảy năm này, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đã trao đổi quan điểm với giới lãnh đạo Việt Nam về mối hợp tác, trao đổi quân sự trong lãnh vực phòng thủ.

Biển Nam Hải trở thành thùng thuốc nỗ

Tóm lại, Hoa Kỳ và Việt Nam đang cấu kết lẫn nhau một cách khắn khít và gia tăng mối quan hệ quân sự với mũi nhọn chỉa thẳng vào Trung Quốc, từ đó làm phức tạp vấn đề biển Nam Hải, làm trầm trọng chuyện tranh chấp chủ quyền, và biến Biển Nam Hải thành thùng thuốc nỗ châm ngòi cho một sự xung đột quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.


Vừa là anh em 16 chữ vàng: Hồ Chí Minh cùng Trần Canh bàn kế hoạch chiến tranh biên giới. Nguồn: Truyen-thọng.org
Chiến lược mới của Hoa Kỳ nhằm bao vây Trung Quốc, gia tăng nỗ lực ngăn chận sự phát triển của Trung Quốc, và lợi dụng vấn đề tranh chấp ở biển Nam Hải hòng gây chia rẽ mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước trong Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á châu (ASEAN). Cùng lúc với việc giải quyết ý đồ gây nên mối bất hoà của Hoa Kỳ và bảo vệ quyền lãnh hải ở biển Nam Hải, Trung Quốc nên duy trì mối quan hệ hợp tác và hữu nghị với ASEAN, đây là một thử thách cho sự khôn khéo của giới lãnh đạo Trung Quốc. Khối ASEAN bao gồm những nước quan trọng đối với Trung Quốc, cả Trung Quốc lẫn khối ASEAN nên gìn giữ, ấp ủ mối quan hệ hợp tác và thân hữu này.

Sự mong muốn làm con lính tốt cho Hoa Kỳ của Việt Nam sẽ đưa Việt Nam vào một tình huống bội phản. Mời một ông thần vào nhà thì dễ nhưng mời ông ta ra đi thì khó. Sẽ quá trễ để hối tiếc khi nền độc lập bị đánh mất. Nếu (Việt Nam) nhớ “vừa là đồng chí vừa là anh em,” thì không nên đáp lại cái ơn (của Trung Quốc) bằng một thái độ vô ơn bạc nghĩa.

Các nước liên quan đến vấn đề tranh chấp ở biển Nam Hải không phải là một khối thuần nhất. Khi Việt Nam thúc đẩy tính quốc tế hoá vấn đề biển Nam Hải, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phi Luật Tân ông Romulo đã công khai phải đối sự can thiệp của Hoa Kỳ và vấn đề biển Nam Hải. Trung Quốc nên đối xử các nước liên quan đến vấn đề tranh chấp này khác nhau để tìm kiếm một sự đồng thuận nhằm hoá giải ý đồ gây chia rẽ của Hoa Kỳ.





Nguồn:

(1) "US-Vietnam collusion" behind tension in South China Sea.Bài của tác giả Wan Chi-wen, được đăng trên trang mạng Ta Kung Pao, Hong Kong, ngày 20 tháng Tám năm 2010.
(2) Tựa đề do NH đặt.

Nhớ rừng

Nhớ rừng

Sáng nay, trong lúc

ngồi ăn bánh mì, uống trà, tôi nhìn ra ngoài vườn ngắm lũ chồn và thỏ nhảy nhót, đùa giỡn nhau trong nắng. Mấy con sóc chạy đi chạy lại trên thảm cỏ xanh mướt rồi trèo lên cành cây gần cửa sổ, giươ

ng mắt nhìn tôi. Một chú chim đỏ rực ở đâu bay tới, sà xuống bậu cửa sổ, cạnh bàn làm việc của tôi, nghiêng nghiêng cái đầu bé xíu, tò mò nhìn ngó vào trong nhà. Một ả mèo hoang lông trắng ngày nào cũng nằm ườn, lười biếng phơi nắng bên gốc cây cạnh lối vào khu vườn. Mỗi chiều thấy tôi đi học về, ả mèo thường vươn vai đứng dậy, ngoái đầu nhìn bằng đôi mắt xanh lè khi tôi gọi “meo… meo…”, ngáp dài một cái rồi lững thững bỏ đi. Nơi tôi ở là thành phố nhưng cây cối chỗ nào cũng rậm rạp và tươi tốt, động vật hoang dã sống hài hoà, bình yên cùng con người.

Ở đây, bang nào cũng có vài công viên quốc gia được bảo tồn bằng ngân sách liên bang. Đó là những khu rừng với vô vàn cây cao vút, gốc cây vài người ôm không xuể, có lẽ được trồng đã vài trăm năm. Những khu rừng này được chính quyền dùng làm nơi tham quan, thu tiền của khách du lịch, và tiền đó là để bảo dưỡng, quản lý khu rừng. Không những các loài động vật hoang dã được bảo tồn, người ta còn nghiên cứu, tìm cách đem những loài động vật -như loài chim lông đuôi đỏ rất đẹp mà tôi vẫn thấy hàng ngày- từ những quốc gia khác, có môi trường thiên nhiên tương tự về Mỹ, cho chúng sống hoà bình với động vật sẵn có ở đây và làm cho hệ sinh thái thêm đa dạng, phong phú.

Trong khi ấy, Việt Nam ta bắt sạch chim én và những loài động vật hoang dã làm thịt, rồi nhập từ Trung Quốc hết ốc bươu vàng phá luá lại đến loài rùa đỏ ăn thịt rùa nhà, làm mất cân bằng sinh thái và môi trường bị phá hoại nhanh chóng. Một bài báo* trên Internet nói rằng ở Việt Nam giờ đây, chẳng còn rừng để cho lâm tặc phá nữa. Thế mà mọi sự thiệt hại, tàn phá thiên nhiên từ trước tới giờ người ta đều đổ tại chiến tranh cả. Anh bạn ở Lào Cai bùi ngùi kể cho tôi nghe, khi anh còn nhỏ, vào những năm đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, mọi kỷ niệm tuổi thơ của anh đều gắn với rừng. Nhà anh nằm ngay tại bìa rừng. Rừng ở khắp nơi, ở hai bên đường và bao phủ những ngọn núi, quả đồi. Bây giờ, nhà anh vẫn ở đó mà có đi xe máy mấy ngày đường cũng chẳng còn thấy rừng đâu nữa.

Suốt chiều dài đất nước, những cánh rừng bạt ngàn trước đây, giờ chỉ còn trơ trụi. Một số chủ công ty kinh doanh gỗ kể với tôi, gỗ khai thác từ rừng Việt Nam được lén chở sang Lào, rồi từ đó được đưa trở lại nhập khẩu vào nước ta một cách đàng hoàng với đầy đủ giấy tờ pháp lý. Thế là gỗ khai thác lậu được hoá phép thành gỗ nhập khẩu, nghiễm nhiên xuất hiện lưu thông trên thị trường.

Tôi nghĩ, không thể trách người dân phá rừng được. Bần cùng mới sinh đạo tặc. Họ không có công ăn việc làm, đói kém, chẳng còn cách nào hơn thì chuyện phá rừng để sinh sống là đương nhiên. Dường như người dân Việt Nam mấy chục năm nay đều phải tự xoay xở tìm kế sinh nhai vì chính quyền không những bỏ mặc, chẳng quan tâm đến họ mà còn tạo ra những bất công trong xã hội. Rất nhiều bài báo, phóng sự điều tra nói rằng lâm tặc làm giàu được là nhờ kiểm lâm. Buồn thay, các cán bộ kiểm lâm, bảo vệ rừng lại giúp họ phá rừng chuyên nghiệp, bài bản và có tổ chức hơn. Âu đó cũng là hệ quả tất yếu của một chính quyền vô trách nhiệm với dân. Kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc, Hải quan tiếp tay cho buôn lậu, Công an tiếp tay cho tệ nạn xã hội, Toà án tiếp tay cho tội phạm… Một xã hội trong đó mạnh ai nấy sống, thực dụng và hỗn loạn.

Bao nhiêu trận lũ lụt, hạn hán, lở đất ngày càng trở nên thảm khốc hơn vì rừng mất; sông hồ không bị ô nhiễm thì cũng bị khai thác cát sỏi làm xói mòn, thay đổi dòng chảy; đồi núi nham nhở vì bị đào xới, bị nổ mìn để khai thác quặng. Sự trả thù của thiên nhiên bằng thiên tai nặng nề, bằng khí hậu khắc nghiệt làm cho người dân vốn đã nghèo, lại còn bị đẩy vào một cuộc sống cùng cực hơn.

Nếu trước đây, trải qua bao cuộc đổ máu, Việt Nam là một bãi chiến trường ngổn ngang, tan hoang và đầy nước mắt thì nay đất nước chẳng khác nào một sa mạc khô cằn được Đảng gán cho cái tên mỹ miều là “đô thị hoá và hiện đại hoá”. Hỡi ôi, còn đâu màu xanh của cây cối, còn đâu những khu rừng nhiệt đới tầng tầng lớp lớp, còn đâu những đầm lầy, rừng ngập mặn Nam bộ với muôn loài thú hoang dã, còn đâu “rừng vàng, biển bạc” với đa dạng sinh học như sách giáo khoa vẫn miêu tả cho con trẻ? Thay vào đó, Việt Nam trở thành một thị trường nhập khẩu vô tội vạ hàng hóa công nghiệp, những máy móc cũ nát và công nghệ lỗi thời, độc hại thải ra từ nước khác để tự nguyện biến mình thành một bãi rác công nghiệp của thế giới.

Đảng ta khoe khoang sự phát triển bằng những con số tăng trưởng vô nghĩa, bằng những công trình xây dựng đồ sộ rỗng tuyếch, bằng những khẩu hiệu dối trá. Trong khi môi trường bị huỷ hoại, tài nguyên đất nước cạn kiệt, con người bị tha hoá, bị bần cùng và lưu manh hoá thì làm sao thống kê được đây? Cho dù môi trường thiên nhiên và xã hội Việt Nam có được phục hồi thì cả trăm năm sau cũng chưa chắc chúng ta có thể lấy lại được những gì đã mất hôm nay. Đau xót thay!

Không ai khác, Đảng chính là thủ phạm tàn phá môi trường thiên nhiên, tàn phá đạo đức xã hội và lòng tin của bao thế hệ người Việt Nam, tàn phá những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta để lại. Bộ máy chính quyền do Đảng dựng nên đã biến đất nước thành một lãnh địa khai thác cho lòng tham vô đáy của giai cấp lãnh đạo mà không đếm xỉa đến cuộc sống của người dân. Chỉ khi nào thủ phạm đó bị loại trừ khỏi bộ máy cầm quyền thì bình minh mới có thể ló rạng trên những cánh rừng quê hương xứ sở, màu xanh mới trở lại trên đất nước đau thương và mùa xuân mới đến được với con người Việt Nam.

Nước Mỹ, ngày…tháng…năm…

Nền Đệ Nhất Cộng Hòa Sụp Đổ: Miền Nam Tự Do Sụp Đổ

Nền Đệ Nhất Cộng Hòa Sụp Đổ: Miền Nam Tự Do Sụp Đổ

Chí Sĩ Ngô Đình Diệm: Tổng Thống dân cử đầu tiên của Nước Việt Nam.

« Tứ Bất Tử » là lời của cổ nhân đã dạy, từ thuở xa xưa, tất cả nhân loại ở trên mặt địa cầu này ai cũng đều đã biết: con người sinh ra rồi ai cũng phải chết, mỗi cái chết đều khác nhau. Nhưng, cổ nhân đã khẳng định có bốn cái chết để rồi vẫn sống mãi mãi với thời gian, đó là « Tứ bất tử », và trong bốn cái chết ấy gồm những bậc có công nghiệp như sau:

1- Có sự nghiệp lớn;

2- Có đạo đức lớn.

3- Có công ơn lớn ở người đời.

4- Có văn chương truyền được lâu dài.

Vậy, hôm nay, nhân dịp tưởng niệm lần thứ 46, kể từ ngày 01-11-1963, ngày vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân cùng với nhị vị bào đệ là Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn. Và cứ như theo lời của cổ nhân đã dạy, thì chỉ cần một chữ « Có » thì đã trở thành Bất Tử rồi. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì đã chiếm được đến ba chữ « có ». Bởi, tất cả các vị anh hùng ở trên thế giới này, họ thường chỉ được từ một đến hai chữ có. Nhưng riêng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì theo tôi, chỉ trừ chữ có thứ bốn là « Có văn chương truyền được lâu dài » thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm chưa có tác phẩm văn chương nào để lại cho hậu thế, nhưng Người đã chiếm đến ba chữ « Có » trong « Tứ Bất Tử »:

1 – Sự nghiệp lớn: Đó là sự nghiệp đã khai sinh ra Thể Chế Cộng Hòa, tức đã khai sinh ra Nước Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời đã xây dựng được một Miền Nam Tự Do và phồn thịnh, mà không phải do được các cường quốc viện trợ tiền rừng bạc biển.

2- Có đạo đức lớn: Người đã nêu cao đạo đức về nhiều phương diện đối với người dân. Cả cuộc đời Người không màng đến cao lương mỹ vị, không chăn ấm nệm êm, Người đã quên mình để chỉ ưu tư cho Tổ Quốc và Dân Tộc.

Vậy chúng ta hãy nghe những lời của Thiếu Tá, sau là Đại Tá Nguyễn Duệ, tác giả cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngày 1-11-1963, Ông là Tham Mưu Phó, Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, đã đề nghị Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho xử dụng Thiết giáp và Bộ binh đánh thẳng vào Bộ Tham mưu, sào huyệt của phe « cách mạng », bắt sống toán đảo chính. Tổng Thống nghe nhưng không có ý kiến gì. Khi được tin Đính đã thực sự theo phe đảo chính, Tổng Thống Ngô Đình Diệm than với Đại úy Bằng, Sĩ quan Cận vệ, là « Cháy nhà mới ra mặt chuột ». Và « Khi lục soát tử thi, người ta tìm thấy trong tử thi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm nửa bao thuốc lá Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt!!! »

« Lúc gần sáng Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã ra lệnh buông súng, vì không muốn binh sĩ đổ máu vì Ông, tôi thấy rã rời, thất vọng. Nhưng vẫn còn chút hy vọng mong manh, là Ông sẽ được đối xử tử tế bởi các tướng lãnh làm đảo chính, vì hầu hết những người này đều do Ông gắn sao cho họ. Chẳng bao lâu, được tin Ông chết. Nghĩ mà thương cho Ông, vì sợ anh em vì bảo vệ cho Ông mà đổ máu, sợ anh em giao tranh với nhau mất tiềm lực chống cộng, mà Ông bị làm nhục, phải chết trong tay những kẻ vũ phu, trong một xe thiết giáp ».

Trên đây, là những dòng của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ đã viết trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nơi trang số 169, thì chắc hẳn mọi người đều đã thấy được: cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, giữa lúc tử - sinh, mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn không muốn có một người chiến sĩ nào phải đổ máu để bảo vệ cho mình. Ôi! một tấm lòng cao cả: ngất ngưỡng như ngọn Hy Mã Lạp Sơn, và mênh mông như Ngũ Đại Dương góp lại.

Tôi cũng xin nói thêm là tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà tôi đã đưa lên trên của bài viết này là tấm hình của bìa cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, theo Đại tá, thì Ông viết cuốn sách này, mục đích là để tặng cho những người còn giữ được lòng trung thành với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chứ không có mục đích thương mại. Trước đây, lúc Ông còn khỏe Ông vẫn thường xuyên viết trên Văn Nghệ Tiền Phong, Ông đã ký tên: Nhật Lệ Nguyễn Hữu Duệ. Và Ông đã từ Hoa Kỳ gửi sang Pháp quốc, với những dòng chữ mà chính tay Ông đã viết tặng tôi vào ngày 24-11-2003. Phía sau bìa sách, Ông có chú thích tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là của Bác sĩ Giáp Phúc Đạt cho Ông được xử dụng. Hôm nay, tôi đưa tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên trên bài viết này cũng cùng như ý Nguyện của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ và của Bác sĩ Giáp Phúc Đạt, nghĩa là để cho các vị: những người còn giữ được nguyên vẹn một tấm lòng trung nghĩa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để các vị được thấy lại hình ảnh của Vị Anh Hùng của Dân Tộc. Vậy, tôi rất mong quý vị trên các diễn đàn chớ lấy tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cho những mục đích khác. Đặc biệt, đối với những kẻ đã từng hạ bút viết những lời lẽ xúc phạm đến thanh danh của Tổng Thống, thì tuyệt đối không được lấy tấm hình của Tổng Thống, bởi những bàn tay đó, đã vô cùng bẩn thỉu khi dám viết lên những lời lẽ xuyên tạc, đầy ác ý, để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và cả dòng họ Ngô Đình.

Và bây giờ tôi phải trở lại với chữ « Có » thứ 3 của « Tứ Bất Tử »:

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có công ơn lớn với tất cả mọi người dân miền Nam: Kể từ sau ngày 20-7-1954: Đó là: Công Cuộc Xây Dựng Tự Do - Thanh Bình - Phồn Thịnh Tại Miền Nam.

Chúng ta là những người dân của miền Nam, có lẽ nào lại quên rằng: Vào những năm từ 1954, đến đầu thập niên 1960. Dưới ánh sáng mới của Chính Thể Cộng Hòa. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Là những người Việt Nam đã từng sống vào thời kỳ ấy. Tất cả đều đã thấy được một Miền Nam Thanh Bình-Tự Do-no ấm thực sự.


Ngày ấy, nếu những ai đã từng sống với những cảnh đêm về, dưới ánh trăng lành, trên khắp nẻo đường quê, bên những lũy tre làng rộn rã những bước chân của lớp người trai trẻ, với hình ảnh hiền hòa, chân phác. Họ đã đến với nhau trong những lần sinh hoạt của thanh niên, cùng nhau hòa lời ca với tiếng đàn Mandoline, với những bài hát ca ngợi quê hương dưới cảnh thanh bình. Bởi vậy, tôi vẫn nhớ dù không đầy đủ những bài ca, có bài tôi chỉ còn nhớ một đôi câu, hoặc một vài điệp khúc như sau:


“Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mau no lành. Có tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh. Quê hương anh lúa ngập khắp bờ ruộng xanh. Lúa về báo nhiều tin lành, từ khắp đồng quê cùng kinh thành …


Đây phương Nam, đây tình Cần Thơ êm đềm. Có lúa tốt quanh vùng nuôi sức dân thêm. Quê hương em bóng dừa ấp ủ dịu êm. Những chiều trăng rọi bên thềm, vọng tiếng khoan hò về êm đềm …


Ai vô Nam, ngơ ngẩn vì muôn câu hò. Những tiếng đó khơi lòng vui sống ấm no. Trăng phương Nam sáng tỏa khắp bờ Cửu Long. Nước chảy con thuyền xuôi giòng, vọng tiếng khoan hò làm ấm lòng… ».


Trên đây là những lời quê mà tôi muốn ghi lại, để các vị cao niên đã từng sống, từng chứng kiến những cảnh thanh bình nơi cố lý, của một thời đã mất, và sẽ không bao giờ còn tìm gặp lại, dù chỉ một lần nào nữa.!!!

Và đó, là « Có công ơn lớn ở người đời »; bởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Người đã tận hiến cả cuộc đời từ thuở còn trai trẻ, cho đến giờ phút cuối cùng đã Vị Quốc Vong Thân.


Nhưng rồi những cảnh thanh bình ấy, đã bị bức tử khi cái gọi là « Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam » ra đời. Mà ác hại thay, những người công khai lãnh đạo cái mặt trận này lại là những « trí thức » đã được ăn cơm Quốc Gia nhưng lại thờ ma cộng sản, và những « nhà tu hành » của Phật giáo Ấn Quang. Những « nhà sư » đó sau ngày 30-4-1975, họ là « Hòa Thượng- Thượng tọa » đã được cộng sản Hà Nội trao gắn đầy những tấm Huân chương, Huy chương, là những bằng chứng về những hành vi và cũng là tội ác đã từng làm giặc, mà sư sãi Ấn Quang không có cách nào chạy chối cho được.


Chính những kẻ « tu hành » bất nhân, thất đức như Thích Đôn Hậu – Thích Trí Quang – Thích Đức Nhuận
- Thích Huyền Quang – Thích Quảng Độ v…v… và những tên đâm thuê, giết mướn như: Dương Văn Minh – Nguyễn Khánh - Trần Thiện Khiêm - Đỗ Mậu - Nguyễn Chánh Thi – Trần văn Đôn - Dương Hiếu Nghĩa v…v… chúng đã nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chính những kẻ này, đã làm cho Miền Nam Tự Do phải sụp đổ, khiến cho hàng triệu Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa phải chịu cảnh đọa đày trong các « Trại tù cải tạo », với những cực hình dã man, tàn bạo nhất, có người đã chết ở bên bờ kẽm gai oan nghiệt của nhà tù. Và đã không biết bao nhiêu người đã chết nơi rừng thiêng, nước độc ở các « vùng kinh tế mới »; và đau thương nhất là những em bé gái đã chết dưới những bàn tay của những tên hải tặc, đã làm mồi cho cá, cho thú rừng, hay đã vùi thây trên ngàn dưới biển trên đường chạy trốn ngục tù cộng sản?!!!


Ngoài những thảm cảnh đó. Chính những kẻ này đã đẩy lớp trẻ vào bước đường cùng, thương luân, bại lý!!!

Riêng Đỗ Mậu, vốn là một tên gian manh, phản phúc, nên chẳng những đã nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà sau đó, hắn còn bắt giam rất nhiều vị, chỉ vì không ủng hộ đảo chính, trong đó có Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ. Song cũng chưa thỏa mãn, mà cho đến mãi sau này, khi đã chạy sang nước Mỹ, Đỗ Mậu cũng đã gian manh khi đã vẽ vời ra những câu chuyện láo khoét, rồi hắn đã nhờ đến mấy tên tay sai của Việt cộng, đã viết cho hắn cái cuốn: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi; mà nội dung, thì ngoài những lời kể của hắn, lại được mấy tên lưu manh này dàn dựng thêm vô số những chuyện trên trời, dưới đất, mục đích để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cả dòng họ Ngô Đình, và tên khố xanh Đỗ mậu, hắn cũng đã về Việt Nam để công khai tái bản cuốn « Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi » và hắn đã chết sau những tháng ngày ngồi trên chiếc xe lăn tại « quê hương » của hắn. Nhưng có một điều là bọn này không biết rằng: Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, một tờ báo sống thọ nhất, kể từ lúc mới ra đời từ năm 1956, ông đã tìm hiểu, và đã biết được những tên đã núp ở phía trong cái quần của tên lính khố xanh Đỗ Mậu, để hoàn thành cái cuốn sách rác rưởi đó. Do đó, mà ông Nguyễn Thanh Hoàng đã cho mấy tên này ra rìa khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong.

Song nói đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà không nói đến Ông Ngô Đình Luyện là một điều vô cùng thiếu sót; bởi ông Ngô Đình Luyện cũng là một người đã hết lòng phụng sự cho Quốc Gia và Dân Tộc. Song cả một đời của ông Ngô Đình Luyện cũng không hề được hưởng sự giàu sang phú quý, như những lời của những kẻ bất lương xuyên tạc. Vậy, một lần nữa, tôi xin trích một đoạn ngắn những lời kể của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ trong thời gian gặp gỡ ông Ngô Đình Luyện tại Mỹ như sau:

« Trên máy bay, khi từ toilets ra, dây lưng bị đứt, khiến quần ông muốn tụt ra, vì ông mặc đồ cũ từ ngày xưa, nay ông ốm hơn nhiều. Tôi phải tháo dây lưng của tôi cho ông dùng. Tôi cảm thấy thương ông, vì ông nói rằng cả chục năm nay, ông chưa mua quần áo mới và thay dây lưng.

Ông nắm tay tôi và chảy nước mắt, làm tôi cảm động.

Khi về Pháp, ông viết cho tôi một lá thư khá dài để cám ơn, nhắc lại cái dây lưng, và nói sẽ giữ suốt đời để làm kỷ niệm ».

Ôi! Suốt cả cuộc đời của các Huynh–Đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã sống trong thanh khiết, chỉ biết đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết.

Còn gì đáng kính phục, đáng thương hơn, đau lòng hơn, khi một vị Tổng Thống sau khi bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết, khi lục lọi cả tử thi của Người mà chỉ tìm được vỏn vẹn chỉ nữa gói thuốc Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt còn vương đọng những giọt máu thiêng của vị Anh Hùng của Dân Tộc: Chí Sĩ Ngô Đình Diệm!!!

Ôi! Không có một ngôn từ nào của nhân loại để có thể diễn đạt cho vừa những trang sử đầy đau thương và đẫm máu này???!!!

Riêng tôi, khi viết lên những dòng này, tôi đã phải bao lần bị đứt quãng, vì không cầm được nước mắt, và mỗi lần như thế, những dòng nước mắt của tôi đã rơi xuống trên chiếc bàn phím này. Đây không phải là lần đầu tiên, mà mỗi lần nhìn tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nước mắt của tôi lại cứ ứa ra, những giọt nước mắt của một con dân Việt đã khóc cho Người, khóc cho một Nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị sụp đổ, song không phải sụp đổ vào ngày 30-4-1975, mà nó thực sự bắt đầu sụp đổ vào ngày 1-11-1963. Nhưng có một điều mà trước đây, ít ai nghĩ đến, là ngày đó Tổng Tổng Ngô Đình Diệm đã bị giết chết. Nhưng, Vị Tổng Thống đã Hồi Sinh ngay sau đó, và đã trở thành Bậc Anh Hùng Bất Tử.

« Nhân-Quả »


Viết đến đây, tôi muốn nói đến những kẻ đã từng tham dự vào vũng máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị bào đệ. Những kẻ đó, có người đã chết. Nhưng trước khi chết, họ đã sống trong những tháng ngày đau khổ từ thân xác đến tinh thần, bởi bị chính lương tâm của họ kết tội. Có kẻ hàng ngày đau đớn ngồi trên chiếc xe lăn. Cũng có người đã bị chính vợ và con của họ đày đọa. Có kẻ trước khi chết đã bị chính con trai ruột của mình đã đuổi ra khỏi nhà giữa đêm đông giá buốt của Trời Âu. Và đó, là cái « Quả » mà họ đã phải gặt từ cái « Nhân » mà họ đã từng gieo trước đó. Riêng những kẻ đã từng núp trong cái khố xanh của Đỗ Mậu hiện vẫn còn sống, nhưng tôi tin rồi sẽ có một ngày chúng cũng sẽ ngồi trên chiếc xe lăn trước khi gục chết như tên Đỗ Mậu.


Ngoài ra, một số tên vẫn còn sống trong những thứ hư danh, những kẻ đó, có lẽ nào trong suốt bao nhiêu năm qua, mà không một lần nữa đêm tỉnh giấc, vì hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cùng nhị vị bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn, với thân xác nhuộm đầy máu. Hoặc hình ảnh của một vị Tổng Thống với ánh mắt nhân từ, đã từng thân ái cài lên ngực áo của họ những chiếc lon từ cấp Úy, Tá, Tướng, để từ đó họ bước lên đài danh vọng. Và để rồi sau đó, họ đã lấy oán trả ân, bằng dã tâm thua cả loài lang sói. Chúng đã giết chết chính người đã thi ân cho chúng, chúng đã mất cả lương tri, thua cả một con chó, vì loài chó dù cho có đói đến đâu, nó cũng đành chịu chết, chứ chúng không bao giờ ăn thịt của đồng loại (chó). Chúng cũng không bao giờ cắn chủ, kể cả người đã cho nó ăn, dù chỉ một lần.


Đến đây, tôi muốn nói tới Tướng Nguyễn Khánh. Bởi ông ta cũng là một kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất lương, Nguyễn Khánh đã vô cùng tàn ác, khi xuống tay giết chết một người vô tội là ông Ngô Đình Cẩn là bào đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nên biết, những người dân chân thực tại miền Trung, họ đều biết về ông Ngô Đình Cẩn là một người Đại Hiếu- Tận Trung và Nhân Từ, không như những kẻ đâm thuê, giết mướn với lòng dạ bạc ác, bất nhân đã cố tình tuyên truyền, xuyên tạc với những chuyện động Trời như: « Ông Cẩn giết các nhà sư rồi chôn dưới gốc cây cam, mỗi gốc cây cam trong vườn của ông Cẩn là một xác nhà sư ». Và cũng nên biết, trước khi ông Ngô Đình Cẩn bị xử bắn, thì một « Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đình Nhà Ngô » đã được thành lập, và ủy ban này đã đến tận nơi, đã đào tận gốc rễ của từng gốc cây cam. Lúc ấy, mọi chuyện đều đã sáng tỏ, là không hề có một xác người hay vật gì dưới những gốc cây cam.

Sau đó, mặc dù « Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đình Nhà Ngô » đã lập biên bản với nhiều chữ ký của các vị trong « Ủy Ban » này, và đem trình lên các cơ quan hữu trách. Nhưng tướng Nguyễn Khánh đã không thèm ngó tới, không cần đến sự thật, mà đã cương quyết phải giết chết ông Ngô Đình Cẩn cho bằng được. Nguyễn Khánh thật vô cùng tàn ác, khi xuống tay để giết chết ông Ngô Đình Cẩn trong lúc ông đang bệnh nặng, nằm liệt giường tại khám Chí Hòa, vì thương Mẹ già, vì đau xót về cái chết thảm của nhị vị bào huynh. Nguyễn Khánh nên nhớ, khi ông ta giết ông Ngô Đình Cẩn, là ông đã giết cùng lúc thêm hai mạng người nữa, vì ngay sau đó, Cụ Bà Thân Mẫu của ba vị đã vì quá đau đớn, nên cũng đã chết theo ba người con. Ôi! ai đã từng « Tre già khóc măng » thì mới thấu được nổi đau đớn của Mẫu Thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm!!!

Và cũng trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, ông đã viết về ông Ngô Đình Cẩn nơi trang số 118 - 119, như sau:

« Ông Khánh lãnh đạo Quốc Gia, mà hành động như một thằng hề, trái hẳn với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông Khánh rất sợ báo chí, sinh viên, nhất là các thượng tọa, như sợ cha đẻ vậy. Tôi bất bình nhất là ngày ông « chỉnh lý » ông chê « ông Minh đã giết anh em ông Diệm một cách dã man » rồi ông kể lể làm như thương và phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm lắm, để lấy lòng anh em chế độ cũ. Nhưng khi ra Huế gặp thượng tọa Trí Quang là sợ ngay, là ký giấy hành quyết ông Cẩn là người độc nhất còn ở Việt Nam. Vả lại ông Cẩn đang bệnh tật nặng ở khám Chí Hòa, và chả có tội gì rõ ràng để bị xử bắn.

Sau này anh Tuyên là em của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, là cháu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm kể với tôi rằng: ông Khánh cho người liên lạc với gia đình đòi một số tiền để giữ mạng sống cho ông Cẩn, số tiền là tám mươi triệu. Nếu đủ sức thì cả dòng họ sẽ đóng góp để lo, nhưng nhiều quá thì chạy đâu ra. Anh Tuyên hiện đang ở Hoa Kỳ. tôi thấy « gian hùng như Tào Tháo » mà mọi người vẫn gán cho ông là quá đúng ».

Thực ra, ngoài chuyện Nguyễn Khánh đã đòi tiền chuộc mạng, ông Ngô Đình Cẩn cũng đã chết vì đặt lòng tin vào những tên thầy chùa của Phật giáo Ấn Quang như: Thích Trí Quang - Thích Đôn Hậu v …v… Nên biết, vào thời đó, ông Ngô Đình Cẩn đã nuôi các sư sãi Ấn Quang trong nhiều chùa tại miền Trung, đặc biệt là các chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Từ Hiếu v …v… tại Huế, chính ông Ngô Đình Cẩn đã từng lo hết sức chu đáo cho mấy chùa này từ gạo, tương v…v…và cung cấp cả tiền bạc, phương tiện di chuyển, Ông đã xem Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu là thượng khách. Nhưng rồi ông Ngô Đình Cẩn đã chết về tay của chính Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu. Và tướng Khánh đã giết ông Ngô Đình Cẩn, còn vì lời giao ước với Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Nhưng Nguyễn Khánh còn một hành vi tàn ác nữa, là đã xử bắn ông Phan Quang Đông, là người chịu trách nhiệm lo cho những vị mà do ông Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn đã đưa họ trở về miền Bắc ngay khi họ vừa vào Nam, hoặc sau đó. Nên nhớ, khi giết chết ông Phan Quang Đông là Nguyễn Khánh đã chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về của các chiến sĩ đã được đưa ra miền Bắc để sống trong lòng địch. Và bởi không có đường về, nên họ đã phải tự tìm cách để sống còn trong mỏi mòn chờ đợi, cho đến ngày 30-4-1975, thì họ đã hoàn toàn tuyệt vọng. Vì thế, nên có người đã phải chết trong uất hận khôn nguôi!!!

Song rồi cuối cùng Nguyễn Khánh cũng đã biết, đã thấy rõ là Phật giáo Ấn Quang không bao giờ giữ lời giao ước với bất cứ một ai, kể cả tôn giáo, đảng phái hay người của một cường quốc.


Bởi, Ấn Quang chỉ lợi dụng tất cả những « chính khách » hoặc cá nhân cũng như đoàn thể, kể cả ngoại nhân. Đồng thời cũng lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt, để tóm thâu « Sơn Hà Xã Tắc » vào trong lòng bàn tay độc nhất, và chỉ riêng là của Ấn Quang mà thôi.


Với cuồng vọng ấy, Ấn Quang đã, đang và sẽ không từ bất cứ một thủ đoạn nào, kể cả giết hại người thân yêu, cốt nhục. Vì Phật giáo Ấn Quang đã học tập, đã thấm nhuần và đã quyết tâm lấy « Cứu cánh để biện minh cho phương tiện ».


Nhưng, như lời Đức Phật đã dạy về luật « Nhân-Quả ». Vì thế, tất cả những kẻ đã gieo những « Nhân » nào, thì tất nhiên phải có một ngày sẽ phải gặt lấy cái kết « Quả » ấy.

Riêng về việc “Vinh Danh”, Tổ chức Lễ giỗ, tạc tượng, lập đền thờ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì bất cứ ai muốn núp dưới ánh hào quang của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì muốn nói, muốn viết và muốn làm gì cũng được, vì chẳng có ai cấm. Nhưng, tất cả phải nên nhớ cho rằng: Những lời nói, những bài viết mà những kẻ đó đã viết ra bằng giấy trắng mực đen, tất cả vẫn còn lưu giữ trên sách, báo, trên mạng lưới toàn cầu, chúng sẽ không bao giờ bôi xóa cho hết được. Đừng có mơ rằng sẽ lừa bịp được thiên hạ.

Và nhân đây, tôi muốn nói với những kẻ ấy rằng: Tại sao ông Ngô Đình Quỳnh, thứ nam của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, năm nay đã gần sáu mươi tuổi, mà vẫn sống độc thân, không lấy vợ, ông có học vị Tiến Sĩ Kinh Tế, đang làm đại diện cho nhiều công ty của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, ông không không thiếu tiền bạc, song ông không bỏ tiền ra để xây mộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn, mà tất cả tiền lương của ông, ông chỉ dành chút đỉnh để sống, còn tất cả Ông đã đem dâng hiến cho các cơ sở từ thiện???

Nên biết, ba ngôi mộ của ba vị tại Lái thiêu, Việt Nam, chỉ khắc mỗi ngôi mộ với chữ “Huynh” và “Đệ”, là không phải do các con, các cháu của ba vị, hay của các vị trong dòng họ Ngô Đình đã bỏ công, bỏ của ra để xây ba ngôi mộ đó.

Ôi! ba ngôi mộ không khắc ghi tên tuổi, chỉ vỏn vẹn có chữ “Huynh”và “Đệ”, song hiện nay, tại Việt Nam, cứ mỗi ngày sự linh thiêng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm càng vang vọng, và mỗi ngày càng tăng thêm con số của những người dân từ khắp nơi đã đổ về Lái Thiêu, để tìm đến ba ngôi mộ, để cầu xin những điều mà chính con người và khoa học không thể làm nổi, nhưng chỉ cần đến thắp một nén hương cắm lên ba ngôi mộ, với những lời cầu xin chân thành, thì Anh Hồn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sẽ cho họ được toại nguyện.

Mọi người cũng cần phải biết rằng: Việc tạc tượng hay lập đền thờ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của một tổ chức hay của một nhóm người. Mà việc đó phải do một chính phủ, một chính phủ phải do mọi người dân bầu ra, rồi chính phủ ấy bắt buộc phải trả lại công đạo cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào đệ là ông cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn, và sẽ được quyết định bởi Quốc Hội của một Thể Chế.

Và sau khi đã được sự đồng thuận, Quốc Hội sẽ công bố một định luật, thì ngay trên đất nước Việt Nam sẽ có những Đại Lộ Ngô Đình Diệm – Đại Lộ Ngô Đình Nhu – Đại lộ Ngô Đình Cẩn, đồng thời sẽ có những Đền Thờ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào đệ, và một trang sử mới cũng sẽ được khắc ghi thêm tên tuổi của ba vị anh hùng đã cương quyết để bảo vệ Tổng Thống, mà chính bọn Hội Đồng Gian Nhân Phản Loạn đã biết chắc chắn, là phải bước qua xác chết của cả ba người thì mới giết được vị Tổng Thống. Chính vì thế, mà bọn chúng đã giết cả ba vị, đó là: Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê Quang Tung cùng người em ruột là Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Và rồi những Bảo Tàng Thư và những con đường sẽ được mang tên của nhiều vị Anh Hùng của Dân Tộc đã Vị Quốc Vong Thân.

Những kẻ bán buôn chính trị hãy nhớ cho thật kỹ những điều đó.

Tạm thay lời kết:

Như Nhân loại đã từng chứng kiến, kể từ thời Sáng Thế, từ Đông sang Tây. Lịch sử đã chứng minh, hể cái gì nó đã trở thành chân lý, thì con người có dùng mọi thủ đoạn gian manh đến đâu, cũng không bao giờ thay đổi chân lý đó cho được.

Bởi vậy, mà cho dù bao nhiêu năm qua, đã có rất nhiều kẻ manh tâm đã từng dùng những ngụy bút, ngụy sách, ngụy báo, để cố tình bịa đặt, xuyên tạc, để bôi nhọ, mục đích là để hạ thấp uy danh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để mong làm tróc thủy* phần nào của một tấm gương, nhưng dù cho đến ngày tận thế, thì bọn chúng cũng đừng hòng được toại ý, vì tấm gương ấy quá toàn bích.

Chính vì thế, mà tôi đoan chắc rằng: Không phải riêng đối với những tên gian manh kia, mà cả trên quả địa cầu này, cũng không một ai có thể làm nổi chuyện đó, bởi lịch s vốn công bằng, bởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm Người đã có Công Nghiệp Vĩ Đại là đã khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Hòa. Đã một thời xây dựng được một Miền Nam Tự Do Thanh Bình thực sự. Và với Tài-Đức, Liêm-Khiết, Nhân-Từ: Người đã tận hiến cả đời mình cho Quốc Gia và Dân Tộc, với chân lý đó, thì:

Đời Đời hình ảnh của Chí Sĩ Ngô Đình Diệm: Bậc Anh Hùng đã Vị quốc Vong Thân vấn mãi mãi uy-nghi, ngời sáng và Bất-Tử trong tâm trí của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

------------------------------------------




Người thứ 2 : Nguyễn Khánh




Đỗ Mậu

Đỗ Mậu là phản tướng

Ông ta tự cho mình là: "Sinh vi tướng, Tử vi thần" (sống thì làm tướng, còn khi chết thì làm thần)

Nhưng theo ký giả Lê Triết (báo Văn Nghệ Tiền Phong) thì Đỗ Mậu là "Sinh vi tướng cướp, tử vi thần trùng"

Vì bất mãn, không được TT Diệm cho lên tướng, mà Đại tá Đỗ Mậu tham gia đảo chánh !

rồi lại viết lách biện minh cho hàng động gian trá của mình

Đỗ Mậu là một kẻ luồn cúi, phản phúc, hèn hạ, và vô cùng háo danh. Cuối đời, Đỗ Mậu đã về Việt Nam và được Việt Cộng cho lên đài phát thanh của nhà nước vgcs để ca tụng công đức của tên giặc già Hồ Chí Minh đối với dân tộc, nhắc lại công lao của CSVN đối với đất nước, và kêu gọi hoà hợp hoà giải dân tộc.


Cựu thiếu tướng Đỗ Mậu, sinh quán Quảng Bình, đi lính Pháp từ đầu thập niên 40, và đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền miền Nam.


Thời chiến tranh Việt Pháp, ông Đỗ Mậu từng là tham mưu trưởng Liên Đoàn Chiến Thuật Lưu Động ở miền Bắc, Tư Lệnh Phó Phân Khu Duyên Hải, có lúc là Tùy Viên Quân Sự Việt Nam tại Pháp.


Thời Việt Nam Cộng Hòa, ông Đỗ Mậu cũng là nhân vật then chốt trong hai cuộc đảo chính. Năm 1963, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, với cấp bậc Đại Tá, ông Đỗ Mậu được chế độ của Tổng Thống Diệm cử làm giám đốc Nha An Ninh Quân đội. Chính với quyền hành của ngành an ninh, ông đã liên lạc thuyết phục vị tướng thân cận nhất của anh em Tổng Thống Diệm là trung tướng Tôn Thất Đính, tư lệnh quân đoàn Ba kiêm tổng trấn đô thành Saigon, tham gia đảo chính ngày 1 tháng 11/1963 do tướng Dương Văn Minh cầm đầu, lật đổ nhà Ngô.


Ngay sau cuộc đảo chánh thành công, ông Đỗ Mậu được thăng thiếu tướng ngày 2 tháng 11/1963 và được bầu vào Hội đồng Quân nhân Cách mạng với chức vụ ủy viên. Đầu tháng 1/1964, được cử làm tổng trưởng bộ Thông tin của nội các cải tổ do ông Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng.


Ba tháng sau, ngày 30 tháng 1/1964, tướng Đỗ Mậu xuất hiện cạnh trung tướng Nguyễn Khánh, loan báo cuộc “chỉnh lý”, bắt giam các tướng lãnh Đôn-Kim-Xuân-Đính. Sau đó, ông Đỗ Mậu tham gia Hội đồng Quân đội Cách Mạng và là một trong 3 phó chủ tịch, từng giữ chức vụ Phó thủ tướng đặc trách Văn hóa-Xã hội từ tháng 2 đến tháng 8/1964, trong nội các do trung tướng Nguyễn Khánh làm thủ tướng. Tháng 12/1964, ông Đỗ Mậu bị tướng Khánh đưa đi biệt giam tại Pleiku hơn một tháng và từ năm 1965, ông bị buộc giải ngũ.


Định cư tại Hoa Kỳ từ 1975, ông Đỗ Mậu là tác giả tập hồi ký bán chạy nhất và cũng gây nhiều tranh cãi nhất, do việc ông kết án chế độ Ngô Đình Diệm.

Tác phẩm:


Việt nam máu lửa quê hương tôi
Bản in ở Việt Nam có tựa đề "Tâm sự tướng lưu vong"



Vũ Văn Mẫu (trái) viếng thăm Hoành Linh Đỗ Mậu (phải) tại Văn Phòng Phó Thủ Tướng



http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_NenDeNhatCongHoaSupDo_MienNamTuDoSupDo.htm

Bài Xem Nhiều